Khi xem xét đến các quy định liên quan đến phụ nữ qua các quy định về quyền hồn nhân va gia đỉnh và quyên tải sân trong Bộ Dân Luật Bắc Kỷ 1931, có thể nhận thấy những thay đỗi dáng kể
Trang 1DATITOC QUOC GIA TIA NOT
KHOA LUẬT
TRAN HOANG ANH
NHUNG CHUYEN BIEN VE QUYEN HON NHAN VA TAT SAN CUA PITU NU VIỆT NAM THỜI CẬN DẠI TỪ GÓC
DO PHAP LUAT QUA HOANG VIET LUAT LE VA
DAN LAT BAC Ki 1931
KHOA LUAN TOT NGHIEP
NGANH LUẬT HỌC
HA NOL, 2020
Trang 2
DATITOC QUOC GIA TIA NOT
KHOA LUẬT
TRAN HOANG ANH
XIIỮNG CIIUYÊN BIẾN VE QUYEN TION NHÂN VÀ
TÀI SÂN CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM THỜI CẬN ĐẠI TỪ GÓC
DO PITAP LUAT QUA HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ VÀ
Trang 3LOL CAM DOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả ghỉ trang niên luận hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bổ
Các quan điểm, ý kiến của các tác giả khác được nêu trong khóa luận đã được
Trang 4MUC LUC
DANH MỤC TU VIET VAT 0000.00 cesssssssssccsssseeeseseeessansenssnssseesssee
4.Phạm vị nghiên cửu HH TH HH HH” HH TH HH HH tr heo na re 3
Chương 1 VÀI NÉT VỀ HOÀNG VIỆT LUẬT LE VÀ BỘ DÂN LUAT BAC Ki
Chwong 2 TW HOANG VIET LUAT LE BEN DAN LUAT BAC Ki 1931 —
BƯỚC CHUYỂN BIẾN RO RET VE QUYEN TION NIIAN VA TAI SAN CUA
NGƯỜI PHỤ NU VIỆT NAM THỜI CẬN BẠI - 555cc T3
2.1.3 Quyền li hôn ¬ 16
2.2.1, Tai sam trong quan hệ hôn nhẫn snnerereeeorrririereee 21
2.2.2 Tài sản trong quan hệ thừa kế - - - 23
Chuong 3 NGUYEN NHAN CUA SU CHUYEN BIEN VE QUYEN HON NHAN
VA TAT SAN CUA NGUOT PHY NU? VIET NAM THOT CAN DAT 3
a
Trang 53.1 Nguyễn nhân của sự chuyển biến về quyền hôn nhân vả tải sản của người phụ nữ
27
Việt Nam thời cận đại "
3.2 Những giá trị khoa học khi nghiên cửu về quyển hôn nhân v
phụ nữ Việt Nam thời cận đại dưới góc độ pháp luật trong việc hoán thiện hệ thống
Trang 6DANH MUC TU VIET TAT
lloàng Việt Luật Lệ
Dân luật Bac Ki 1931
Xã hội Chủ nghĩa
hà nước quyền
Nha xuat ban
iv
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý đo nghiên cứu đề tài
Phu ni Việt Nam là nguồn nhân tổ quan trọng dỗi với sự phát triển toàn diện
của xã hội Việt Nam Lịch sử đã và luôn minh chứng sự hiện diện của phu nữ
trong các vai trò quan trọng của xã hội Địa vị của người phụ nữ Việt Nam
thường xuyên biến đổi thăng trầm trong mỗi thời kỳ lich sử lrong các triều đại
phong kiến nước la quyền và địa vi cơ bản của người phụ nữ chịu rất nhiều han
chế, pháp luật thời kỳ này cũng thường dưa ra rẤL nhiều những quy dinh ngặt
nghèo về người nam và người nữ trơng gia đình và xã hội Một xã hội mang tính
lẳng cấp (nam lôn nữ
phụ quyển trong đỏ xác định rõ ràng giữa nam và nữ
tì), quyền lye (nam chủ nữ tòng), phạm vi hoạt động (nam ngoại, nữ nội) kèm
theo đó là một loạt hạn chế về quyền lợi cũng như những đôi hỏi bất bình đẳng
dối với nữ giới về tam tỏng tứ dức, về tiết hạnh và phục tùng Những quy định
này khiến người phụ nữ phong kiên phải chịu thiệt thỏi về mọi mặt của đời sống
trong tương quan với ram BIỞI
Lịch sử cận đại Việt Nam được đánh dấu bằng sự kiện thực dân Pháp nỗ sung tấn cong xâm lược Việt Nam năm 1858 Đây là một giai đoạn khá ngắn so với
các giai đoạn lịch sử khác trong tiến trinh lịch sử của nước ta vả là một trong
những giai đoạn lịch sử để lại nhiều điểm lắng nhất, thời điểm mà Việt Nam dần
bước từ cải gũ sang cái mới, thời diễm địa vị và vai trỏ của người phụ nữ có
những chuyển biển mạnh mẽ và sâu sắc trong xã hội Những chuyến biển này đã
bước đầu tạo nên một bước ngoặt trong quan niệm xã hội về quyền lợi, dia vi va
vai trỏ của người phụ nỡ
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu xoay quanh để tài phụ nữ Việt Nam thời
trung đại Luy nhiên, các nghiên viru về để tải nảy ở thời cận đại không có nhiều
lắm Irong để tài nghiên cửu của mình, tôi muốn hướng đến sự chuyển biên về
Trang 8địa vị của người phụ nữ trên phương điện pháp luật Khi xem xét đến các quy
định liên quan đến phụ nữ qua các quy định về quyền hồn nhân va gia đỉnh và
quyên tải sân trong Bộ Dân Luật Bắc Kỷ 1931, có thể nhận thấy những thay đỗi
dáng kể so với các quy định dành cho phụ nữ Việt Nam thời phong kiến ĐỀ làm
rõ những thay đổi này, nghiên cửu sẽ tiến hành so sánh nội dung tương ứng trong
bộ “Dân luật Bắc Kỳ” với “Hoàng Việt Luật LỆ” nhằm tìm hiểu quan niệm về quyền phụ nữ đã có những biến chuyển như thế nào trong tư duy pháp luật ở
nước ta thời cận đại, coi đây là một tắm gương phản chiếu những chuyển biến
trong quan niệm chug về phụ nữ Việt Nam trong giai doan nay
2 Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu vẻ quyền lợi của người phụ nữ trong thời kỳ phong kiến nhà
Nguyễn và thời cận đại Việt Nam đã được đặt ra từ lâu nhưng kết quả vẫn còn khiêm tốn, nhất là sự chuyển biến về quyền và địa vị của người phụ nữ trong thời
ý dến Cụ thể là chưa có công trình nào nghiên cửu
kì nảy hầu như chưa cỏ ai dễ
về vấn đề này, nếu có, chỉ có thể tìm được một số công trình nghiên cứu về một
khía cạnh nào đỏ liên quan dến hôn nhân, tải sẵn của một trong hai thởi kì nếu
trên
Dưới thời phong kiến chưa thấy có công trình nghiên cứu nào về pháp luật
triều Nguyễn, đặc biệt là Hoàng Việt mật Lê Chỉ đến thời Pháp thuộc, cùng với
việc dịch thuật hộ bộ luật nảy ra tiếng Pháp, một số tác giả đã chú giải nó và
nghiên cứu về Hoáng Việt Luật Lệ mới bắt đầu Tuy nghiên nghiên cứu riêng về người phụ nữ hoản toàn không có
Đến mãi đầu năm 2005, trên cơ sở để tải nghiên cứu khoa học cấp Bộ, TS
Huynh Céng Ra đã xuất bản tac phim: Hén nhdn va gia đình trong phảp luật
triểu Nguyễn Quyền của người phụ nữ Việt Nam trong vấn đề hôn nhân cũng
được dé cap ở nghiên cứu này
Năm 2013, bài viết “Vị trí của người phụ nữ trong Hoàng Việt Luật Lệ” của
Trang 9TS Nguyễn Thị Thu Thủy được đăng trên Tạp chí nghiên cứu đông á cũng đề
cập đến quyền của người phụ nữ thời kỳ này
Vấn đề quyền lài sân của người phụ nữ trong Bộ Dân Luật Bắc Ki 1931 được
dé cập đến trong bài viết “ Một số ý kên vé quyền sỡ Hữu tài sản của vợ chẳng”
của tác giải Nguyễn Thị Lan, khoa Luật Dân sự, trường đại học Luật Hà Nội
Tác giả này dã nếu ra một số quy phạm pháp luật liên quan đến quyền về tải san của người vợ qua tác nhằm này
Để cập đến quyên quan hệ hôn nhân và gia đình trong cã Iloảng Việt Luật Lệ
va Ba Dan Luat Bắc Kì 1931 còn có quyển “Pháp luật về hôn nhân và gia đình
truớc và sau cách mạng tháng Tám” của tác giả Ngõ Văn Thâu
VỀ thành Lưu Các nhiên cứu trồn đã để cập đốn khía oạnh quyền lợi và địa vị của người phụ nữ trong thời kì nhà Nguyễn và thời kỉ Pháp thuộc ( thời kỉ cận
đại củ nước ta) Các nghiên ctu nay hữu ích đối với những người nghiên cửu,
giảng dạy lịch sử nhả nước vả pháp luật cũng như những người dang lảm công,
tác xây dựng pháp luật
Tuy nhiên, chưa có công trính nào nghiên cứu diy dit va có hệ thống về sự
chuyên biến quyền và địa vi của người phụ nữ trong quá trình chuyển giao giữa
triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam và thời kì Pháp thuộc của nước 14
qua HVI.I và bộ I21.BK 1931
3 Dối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cửu của dễ tải nay 1A BS Hoang Việt Luật Lê và Bộ Dân
Luật Bắc Kỳ 1931 Trong đỏ đặc biệt nghiên cửu các quy định của pháp luật thể
hiện đặc trưng cơ bản liên quan đến quyển và địa vị của người phụ nữ việt nam
thông qua các quy dinh về hôn nhân và gia đỉnh, các quy dịnh liên quan dén
quyền sở hữu tài sẵn,
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các đặc trung cơ bản của hai bê luật Hoang
Trang 10Việt Luật Lệ cúa triều Nguyễn vả Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 về những quy định
liên quan đến lĩnh vực hôn nhân gia đình và tài sản gắn Hền với quyền lợi của
người phụ nữ Từ đó đánh giá và rút ra những bài học lịch sử và chỉ ra những giá
trị khoa học của nó có thể tiếp thu trong quá trình xây dựng pháp luật vả quyền
lợi của người phụ nữ Việt Nam hiện nay
S$ Ý nghĩa và thực tiễn
Những kết quá nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan
trong sau:
VềỀ mặt lý luận: Niên luận này là công trình nghiên cứu chuyên khảo phân
tích có hệ thống và chỉ ra được những chuyến biển về quyên hôn nhân và tài sản
của phụ nữ Việt Nam thời oân đại thông qua hai bộ luật nỗi tiếng của nước ta là
HVLL và Bộ DLBK 1931
Về mặt thực tiễn: Niễn luận góp phần đánh giá lịch sử pháp luật Việt Nam
trong qué trinh chuyển giao giữa lịch sử trung dại vả cận dai Gop phan chi ra
những giá trị khoa học của hai bộ luật này trong việc bảo đảm quyền lợi của
người phụ nữ và nâng cao bình đẳng giới trong quá trình xây dựng vả hoàn thiện
pháp luật củ nước ta hiện nay
6 Bồ cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, [anh mục tài liêu tham khảo và I3anh mục các
từ viết tắt, nội dung của luận văn gềm 3 chương:
chuyển biển rõ rệt về quyền hôn nhân và tải sản của người phụ nữ Việt
Nam thời cận đại
-_ Chương 3: Nguyên nhân của sự chuyển biến về quyền hôn nhân và tài sản
gủa người phụ nữ Việt Nam thời cân đại
Trang 11Chương 1
VÀI NÉT VE HOANG VIET LUAT LE VA BO DAN LUAT BAC Ki 1931
1.1 Hoang Viel Luat Lé
Triều Nguyễn được thiết lập vào đầu thế kỉ XIX và tồn tại cho đến năm 1945,
là triều đại cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiến nước La Nhà Nguyễn sử
dụng nho giáo với tư cách là độc tôn duy nhất trong quản lý, xây dụng đất nước
hay nói cách khác triều đại này uai trị đất nước chủ yếu đựa vào đức trị và nhân
trị ( quan điểm trị nước của nho giáo) Tuy nhiên, để bảo về vương quyền và xây
dụng một nhà nước phong kiến trung tương tập quyển chuyên chế cao độ, buộc
ðL Luật Lệ
nhả Nguyễn phải sử dựng dến yếu tố pháp trị Sự ra dời của Hoàng V
chính là minh chứng rõ nét nhất cho phương pháp cai trị này Hô luật này có sự
kết hợp giữa pháp trị với đức trị, nhân trị của nhe học và là cơ sở để các vị vua
của triều Nguyễn sử dụng nhằm thực hiện quyền cai trị tuyệt đối của minh
Năm 1802, Nguyễn Ảnh lên ngôi vua lập ra triều Nguyén Bén cạnh việc tổ
chức bộ máy nhả nước chuyên chỗ trung ương lập quyền, triều Nguyễn quan tam
xây dựng luật pháp để bảo vệ quyền thống trị của triểu đại, quản lí các mặt của
đất nước Năm 1811, vus Gia Long ra chỉ dụ cho Nguyễn Văn Thành soạn thảo
một bệ luật, đến năm 1815 hoàn thành Bộ luật có tên là Hoảng Việt luật lễ, gồm
398 điều, chia thành 22 quyển gồm 21 quyển chính và một quyển phụ lục Bồ
cục các quyển như sau:
- Quyén 1: Biểu kẻ các luật lệ
-_ Quyển 2 và 3 (45 điều) : Danh lệ (Quy tắc định lật
~_ Quyển 4và 5 (27 diều): Lại luật (Luật hánh chính)
- Quyén 6, 7 va 8 (66 điêu): Hộ luật (Luật dân sự)
-_ Quyển 9 (26 điều): Lễ luật (lễ tục)
- Quyén 10 và 11 (5 điểu): Binh luật
Trang 12-_ Quyển 12, 13, 14, 15, 16, 18, 19, 20 (166 điều): Hình luật
- Quyén 22 (30 điều): Luật so sánh
hà Nguyễn rất quan tâm tới pháp luật trong quá trình trị nước, yếu tế hình
luật được đề cao, bộ luật mang tỉnh hả khắc rất cao và thể hiện đậm nét muc dich
bão vệ quyền lợi và địa vị của vương triểu Trong 398 điều cúa Hoàng Việt luật
Lệ, có tới 166 điều về hình luật Không những vậy, hầu hết tất cá các điều này
đều quy định về chế tài hình phạt và mức cao nhất của chế tải hình phạt ấy
thường là án tử hình (treo cỗ, chém dầu, lăng trì, .) Tuy nhiên, Hoàng Việt
Luật Lệ vẫn được xây dựng dựa trên một hệ thống các nguyên tắc khá dây đủ và
chỉ tiếu Có thể kể đến như: Nguyên
luật định; nguyễn tắc so sảnh luật,
nguyên tắc xét xử theo luật mới, nguyễn tắc chiếu cố; nguyên tắc người thân
thuộc được che giấu Tội cho nhau, nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hinh sự,
nguyên tắc luận tội thco tang vật; nguyên tắc chuộc tôi bằng tiền
Tiện nay, khi đánh giá về giá trị lịch sử của Iloàng Việt Luật Lệ Các nhà
nghiên cứu lịch sử luật pháp vẫn dang có nhiều ý kiến khác nhau về bộ luật này
Có ý kiến cho rằng bộ luật nảy gần nhu không có ý nghĩa lich sử nào trên
phương điện pháp luật nhưng ý kiến khác lại cho rằng bộ luật này đã có những
điều chỉnh mới cũng cổ các phong tục, tập quán cỗ truyền tốt đẹp của dân tộc
cùng với nhiều định chẻ rất tiến bộ
Đối với luỗng quan diểm phú nhận giá trị của Hoảng Việt Luật Lệ, các nhà
nghiên cứu cho rằng bộ luật này chỉ đơn thuần lả sao chép Dại Thanh Luật Lệ của triều Mãn Thanh đang thống trị Trung Quốc Bay giờ không có điểm sảng tạo
vả mới mẽ Thậm chỉ Vũ Văn Mẫu còn nhận dịnh trong tác phẩm “ Cd ludt Viét
Nam lược khảo " rằng “Bộ luật Gia Long mắt hết cá tính một nên pháp chế Việt
Nam ” và cho nó là “một sự suy đôi bắt ngờ trong lịch sử tiễn hóa của nên lập
pháp Việt Nam”
Trang 13Đôi với luéng quan diém khẳng định giá trị tích cực oủa Hoàng Việt Luật Lộ,
những người ủng hệ luồng quan điểm này tuy không phú nhận ảnh hưởng của
pháp luật nhà Thanh đến bộ luật này nhưng xét trên góc độ loàn điện những chỉ
tiết không phủ hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam thời diểm bấy giờ đã dược hủy
bỏ Có thể liệt kê đến những yếu tổ tích cực mang tỉnh nhân văn của Hoàng Việt
T.uật Tê như:
-_ Hảo vệ quyền lợi của người giả, cô quả tản tật và trẻ em: Người già, cô
quả, tản tật và trẻ em khi phạm tội đều được hưởng ưu đãi của pháp
luật, cho phép được nộp tiền chuộc dé giầm nhẹ hình phạt khi thi hành
hoặc miễn thi hành hình phạt
- Bao vé quyén loi nhất định của những người phạm tội: Những người
dân khi đã phạm tội vá trở thành tù nhân tùy từng trường hợp cụ thể
cũng được hưởng những ưu tiên của pháp luật, như: đân thường khi
dã phạm tội, nếu xét thấy hoàn cánh gia đình đặc biệt thì cho phép ở nhà nuôi dưỡng người thân, được xét ân xá thường kỳ, người tủ bị mắc bệnh thi không được tiễn hảnh tra khảo, không được đảnh tủ nhân vô cớ
-_ Bảo vệ dân thường: Những người đân thường có hoàn cảnh khó khăn
(nghèo khó, bệnh tật ) đều được pháp luật bảo vệ, các quan lai va
người dân ở địa phương thiếu trách nhiệm biết mà không trình báo lên
trên đều bị trừng trị nghiêm khắc Pháp luật cũng bảo vệ những người
dân thường và tầng lớp dưới (như né ti) chéng lại sự ức hiếp, sách
nhiễu của cường hảo, quan lại
Đặc biệt, người phụ nữ trong xã hồi đã dành được một vị trí nhất dinh
trong bộ luật Về nghĩa vụ, người phụ nữ phạm tội phải chịu sự trừng phạt theo
quy định của pháp luật Nhưng, khi thực thì hình phai, phụ nữ có thể nộp tiền
chuộc để giảm nhẹ mức hình phạt hoặc thay thể cho việc thủ hành hình phạt
Trang 14Trước pháp luật, người phụ nữ cũng được bảo vệ những quyên lợi cơ bản, như
quyền bảo vệ thân thê, quyên thừa kế tài sẵn, quyền tự đo hôn nhân, quyền tử bỏ
hôn ước và quyền ly dị chồng
Hoàng Việt luật lệ là một bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiển Việt Nam Có thể nói day là một bộ luật dầy đủ vả hoàn chỉnh nhất của nền cỗ luật
Việt Nam Tuy hình phạt triều Nguyễn hà khắc hơn nhưng nội dung, ý nghĩa và
cách áp dụng được giải thích rõ ràng Bên cạnh đó bộ luật cũng thể hiện được sự công bằng, nhân đạo
1⁄2 Bộ Dần Luật Bắc Kì 1931
Ngày 01/09/1858, để quốc Pháp nỗ sung tấn công vào bán đảo Sơn Trà (
Đà Nẵng), mở dầu cho thời kì xâm lược và thẳng trị thực dân ở Việt Nam Đến ngày 25/08/1883 nhả Nguyễn kí hiệp ước thừa nhận nên thống trị của Pháp trên
toàn lãnh thổ Việt Nam Ngày 06/06/1884, Pháp buộc nhả Nguyễn kí hiệp ước
mới với nội dung co ban là khẳng định lại nội dung hiệp trớc năm 1883 Cũng như trước đây ở Nam Ki, trong quá trình đánh chiếm đất Bắc, Pháp đã xác lập dần bộ máy chính quyền thuộc địa ở Bắc Kiva Trung Ki
Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp ra Sic lénh thành lập “Liên bang Đông Dương” thuộc Pháp Sắc lệnh này củng với một số sắc lệnh dược ban hành sau đó quy dịnh về Toàn quyền Đông Dương là những văn bản tạo ra cơ sở pháp
lý cơ bản để hoàn thiện và cũng cố chính quyền thuộc địa ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Khi mới thành lập, Liên bang Đông Dương bao
gồm Việt Nam và Campuchia Sắc lệnh ngày 19/4/1889 đưa Lào vảo Liên bang
Đông Dương và thêm Quảng Châu Loan ( vùng đất mả Pháp chiếm được của
‘Trung Quốc) Liên bang Déng Dương do Bộ thuộc địa Pháp trực tiếp quản lí
Về quy chế chính trị, toàn liên bang Đông Dương la dat thude dia của
Pháp, là lãnh thổ hải ngoại cuà nước Pháp Liên bang Đông Dương gồm các xứ với những quy chế chính trị khác nhau Trong đó, pháp chia Việt Nam thành ba
kỉ với những quy chế chính trị như sau:
Trang 15-_ Bắn Ki( từ Ninh Bình trở ra): Quy chế “bảo hộ: ( trừ hai thành phê Hà
Nội và Hải Phỏng theo quy chết "thuộc dia”)
- Trung Ki ( từ Thanh Hóa trở vào tới Binh Thuận): Quy chế “bảo hộ” (
trừ Đà Nẵng theo quy chế thuộc địa)
Te quy chế chính trị khác nhau nhưng thực chất dễu là thuộc dịa Vì hưởng các quy chế chính trị khác nhau, nên các Ki này có những hình thức tổ chức
chính quyền và các quy chế pháp lý khác nhau
‘Trong thời kì này, thực dân Pháp đã tiến hành tìm hiểu phong tục tập quán,
lịch sử phát triển cua dân tộc Việt Nam và đi đến nhận xét”
“Ching ta thay ở đây cũ một nền văn mình, kỆ cà khoa học pháp i0 Nhà nước đều đã phái triển mạnh mẽ Luật pháp, cỗ phong, tôn giáo, văn học, rất cả đã
hoàn chỉnh và hòa hợp với nhau, tải qua bao nhiên thê kỷ đã được điều hòa và
ngày cảng hoàn hảo thêm Những vết tích man rợ đã mắt dì từ rất lâu, dân tộc
này đã sống trong một xã hội thiân thục có tễ chức trong kh những người
phương Tây còn tình trạng bản khai Yêu mễn quên hương, quyên luyễn gia din, tôn kinh tÔ tiên, yêu chuộng công lý, tôn trọng chính ngiữa, ham thích khoa học,
coi trọng lời thánh biển, yêu thương nói giống, lôn kính lẽ phải, ghét xa hoa
không hảm tiển tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ hụ sinh; đó là những
dike tinh ran day trong sách Thánh hién, hau lai va ghỉ thành lập pháp ”
Vi vây, người Pháp nhận thức được vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống
xã hội nước ta Sau khi xâm chiếm Việt Nam vả để bước đầu thực hiện được quyền quy địmh cái gọi là “ LHện ước hỏa bình và hữu nghị” ngày 05/06/1862
thực dân Pháp dã tổ chức bộ máy cai trị của chủng vả ban hành những bộ dân
luật đầu tiên ở Việt Nam phù hợp với chỉnh sách nham hiểm “chia để trị”
Các bộ luật dân sự được ban hành ở ba xứ Bắc Kì, trưng Kì, Nam Ki Các bộ
luật này quy định các quan hệ về khế ước (hợp đồng) và trái vụ ( nghĩa vụ của
Trang 16các bên tham gia hợp đồng), về sở hữu, về hôn nhân gia đình, thừa kế, trách
nhiệm dân sự Lắt cả đều nhằm đảm bảo quyền lợi của các tập đoàn tư bán
Tháp và địa chủ phong kiến bản xử ở mức độ nhất định, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp củ người dân Nỗi bất nhất trong dẻ là bộ Dân Luật Bắc Ki dược pháp
ban hành ở xứ Bắc Kì năm 1931 với tên đầy đủ của bộ luật này là “Bộ dân luật thì hành tại các tỏa Nam án Đắc KỈ”
Phương châm xây dựng bộ luật này được thể hiện trong tờ trỉnh của Hội đồng
tiên tập dự thảo Bộ Dân luật các tỏa Nam án ắc Kì:
*“Trong việc biên tập luật lệ nàu, dại khái chú ý không xâm phạm dễn những
chế độ cốt yêu của xã hội Uiệt Nam, mà lại châm chước cho thích hợp với phong tục cùng trình đỗ của người dân ân Nam ""
'từ phương cham nay có thé thấy rằng nguyên tắc xây dựng cơ bản nhất của
Bộ Dân Luật Bắc Kỳ 1931 chỉnh là việc kế thừa nhiều quy định của Bộ Luật
Hằng Đức thời Lê Sơ và Hoàng Việt Luật I.ê thời nhà Nguyễn dỗng thời tiếp thu
về kĩ thuật làm luật, cơ cầu bộ luật, hình thức pháp lý và một số nội dung của Bộ
luật Tân sự Napolcong của Pháp Chính vì vậy, bô luật này dã bước đầu phan
ảnh các tục lệ truyền thống của người Việt Nam, đồng thời có những quy định
đặc thù khác với luật của các nước phương Tây và Trung Quốc
Bộ Dân Luật Hắc Kì 1931 là một vi du điển hình cho sự kết hợp giữa văn
hóa bản địa và văn hóa phương Tây Bộ luật nảy chính là kết quả rổ rệt nhất
của sự kế thừa văn hỏa chỉnh trị pháp lý của các khu vực, cũng chính nó
chứng minh cho hoàn cảnh lịch sử tấy yếu mà Việt Nam buộc phải trải qua
khi bị thực dân Pháp đô hệ
Bé DLBEK 1931 gồm có thiển dầu và bốn quyển, mỗi quyền lại được chia
thành nhiều thiên, mỗi thiên được chia thành nhiều chương ngắn, tổng cộng có
1455 điều
- Thiên đầu, nêu các nguyên tắc cơ bản của dân luật như nguyễn tắc
10
Trang 17ông bố luật, nguyên tắc bất hồi tố, nguyên tắc bình đẳng, tự do cá
nhân và tôn trọng quyền tư hữu,
-_ Quyển thứ nhất: Nói về người, bao gồm các quy định về quốc tịch hộ
tịch ( khai sinh, khai trừ, tra quan, that tung — mắt tích”
- Quyén thứ bai: nói về tài sản, bao gồm các quy định về phân biệt các
tài sẵn ( động sản và bất động sản), về quyền sử hữu, về các hình thức
sở hữu, về quyền sở hữu của chủ sở hữu, về chuyển dich sở hữu
- Quyén thir tr: Koi vé cach viện chimg, ban gém cdc quy dịnh về cách
thu nhận, đảnh giá, và viện dẫn các chứng cứ trong các vụ kiện dân sự
Là bộ luật nỗi bật nhất trong số các bộ luật được người Pháp soạn tháo ở Việt
am, bộ DLBE 1931 có ý nghĩa như sau
Thứ nhất, Bộ Dân Luật Bắc Ki 1931 đã kế thừa và phát huy được những điều
vấn có của văn hóa Việt Nam ( ở miễn Bắc) nhằm hoàn thiện pháp luật nước ta
lúc bấy giờ mà không xa rời với đời sông xã hội
Thứ hai, Bộ DỊ.BK 1931 đã học tập và tiếp thu được các yếu tố tiến bộ của
pháp luật Phương Tây trong việc xây dựng pháp luật vì vây có những điều khoản quy định trong bộ luật này là tiên tiến và dự báo rước được thời đại
Những chế định về hôn nhân và gia đình, chế định thừa kế trong bộ luật
này là những chế định có liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội Việt Nam
hững chế dịnh này có sự tiếp thu và đổi mới so với luật thời phong kiến của
nước ta, giúp nâng cao quyên lợi và địa vị của người phụ nữ trong xã hội, kéo
ngắn khoảng cách tiến đến bình đẳng giới ở nước ta thời điểm bẩy giờ.
Trang 18Kết luận chương 1
Tư tưởng pháp luật truyền thông Việt Nam là sự thể hiện tiếp nối truyền
thông tư tưởng của dân tộc dược kết tĩnh qua hàng ngăn năm trong suất chiểu dài
dựng nước và giữ nước Trong khi đỏ tư tưởng pháp luật Pháp là tỉnh hoa tiễn
tiến gủa văn hoa nhân loại Iloàng Việt Luật Lệ và Bộ dân Luật Bắu Ki 1931 có
sự giao thoa và tiếp nỗi lẫn nhau Hai bộ luật này đai diễn cho hai thời kì nối tiếp
nhau trong lịch sử nước ta Sự khác biệt của Bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 so với
Hoàng Việt T.uật T.ệ chính là sự phán ánh rõ nét cho sự phát hiện của xã hội ở cuối thời Trung Dai va thoi can đại của Việt Nam,
Trang 19Chương 2
TU HOANG VIET LUAT LE DEN DÂN LUẬT BẮC KỈ 1931— BƯỚC
CIIUYEN BIEN RO RET VE QUYEN IGN NITAN VA TAI SAN CUA
NGUOT PHY NU VIET NAM THOT CAN DAT
2.1 Quyền về hôn nhân
Quyền hôn nhân của người phụ nữ Việt Nam trong Bộ Lân Luật Bắc Kì
1931 có nhiều điểm tiễn bộ so với Iloàng Việt Luật Lệ Điều này được thể hiện ở
các điểm sau
2.1.1 Quyển đính ước và kết hân
Thủ nhất, việc kết hôn giữa người con trai vá người con gai trong cá Hoàng Việt Luật Lệ và Hộ IJân Luật Bắc Kỉ 1931 đều phải có sự đồng ÿ của gia đình
nhà trai và nhà gái Tuy nhiên, trong bộ Dân Luật Bắc Kì 1931 người phụ nữ
dược hưởng một phần quyển tự quyết cho hôn ước vả hồn nhân của mình (* Kắt
1931 gó quy định cu thể về độ tuổi kết hôn cụ thể về độ tuổi kết hôn cụ thể sửa
nam và nữ (“Phàm con trai chưa đây mười tám tuổi và con gái chưa đậu mười
lăm tuổi thì không được kết hôn”- Điều 73) Bộ luật này cũng tính đến trường
hop bắt dắc đĩ ( “có duyén of dich dang") két hén trước tuổi nhưng trường hợp nay phải có sự chấp nhận của quan tỉnh và không được dưới mười lăm tuổi đối với con trai và dưới mười hai tuổi dỗi với con gai
HVI.1 quy định việc hôn nhân (được quy định tại quyến 7: “Hộ luật hôn
nhân”) hoàn toàn là sự sắp đặt, đồng ý của cha mẹ Tuy Luật này cũng đã có để cập đến vẫn dễ nam và nữ không mong muốn kết hồn nhưng chỉ đừng lại ở việc
yêu cầu công khai định hôn ở hai gia đình Diễu này cho thay phy nữ thời nhả
Nguyễn ( và oắ nam giới) đều không được lựa chọn đối tượng kết hôn của mình
Luật này quy định còn trai, con gái phải đến tuổi quy định mới được kết hôn
Trang 20nung không có quy định cụ thé
Yhứ hai, đối tượng phụ nữ được phép kết hôn được mở rộng hơn ao với thời nhả Nguyễn Theo HVLL, có rất nhiều trường hợp phụ nữ không được phép kết
hôn, cụ thể là: phụ nữ đã có chồng và chỗng còn sống, phụ nữ củng họ dồng tông,
với đối tượng kết hôn; con gái chưa mãn tang cha mẹ; vợ câ chưa mãn tang
ching: con gải riêng của mẹ không được lấy bộ dượng; chị và em gái con của đì
họ, con nhà họ mẹ không được lấy con trai của mẹ, chị và em gái con của cô họ,
bác gái họ của bế không được lây cơn trai của bể; cô họ của đi ruột, của đì họ
không được lẫy cháu trai, đì họ và đì họ xa không dược lấy cháu trai; chị em gái
không được lấy anh trai cùng cha khác mẹ; con gai của chị họ bên ngoại không,
được lấy con của ho hàng bên ngoại có hệ để tang người phụ nữ ( bao gỗm cả
phụ nữ chưa chồng, phụ nữ đã lây chồng nhưng bị đuổi đi, phụ nữ đã cải giá) không được lẫy người con quan hệ để tang trong tông tộc; vợ bé của bố, của ông,
của chủ bác (bất luận bị duổi di hay cái giá) dễu không được lẫy con riêng của
chồng, cháu, cháu họ; chị dâu, em dâu sau khi chồng mắt cũng không được lây
anh chẳng, em chỗng: phụ nữ tron phủ, châu, huyền không dược lẫy quan phú,
châu, huyện khi quan đang trong nhiệm sở; phụ nữ không được phép kết hôn với
Wing dav; con gái nhà lương thiện không được phép lấy nộ bộc của nhà khác; ( Hoàng Việt Luật Lệ, quyễn 7- Hộ Luật Hôn Nhân ) Có thể thấy, những trường, hợp phụ nữ bị cắm kết hôn như trên, có một số là hợp lý để đảm bảo sự phát triển về đông giống về mặt sinh học, song cũng cỏ một số trường hợp khá vô lý
như khêng cho phụ nữ nhà lảnh kết hôn với nô bộc, cắm quan không được kết hôn với người trong phủ, châu, huyện khi quan đang trong nhiệm sở Sở dĩ như
vậy, bởi vi những diễu luật nảy được dưa ra nhằm bảo vệ chế độ phân tầng piai
cấp khắc nghiệt của chế độ phong kiến
Tiến thời cận đại, DIBK 1931 cũng đưa ra khả nhiều đối tượng phụ nữ không, dược phép kết hôn: phụ nữ chưa đủ mười lầm tuổi va không được sự déng ý của
14