1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu một số quy Định pháp luật quốc tế và việt nam về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông

100 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Nghiên Cứu Một Số Quy Định Pháp Luật Quốc Tế Và Việt Nam Về Cạnh Tranh Trong Lĩnh Vực Viễn Thông
Tác giả Nguyễn Mạnh Hà
Người hướng dẫn PGS. TS Đinh Ngọc Vương
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm này dược thể hiện trong các chính sách chung cũng như các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin - viễn thông Việt Nam đến năm 2010

Trang 1

PAI HOC QUOC GIA HA NOI

KIIOA LUẬT

NGUYỄN MẠNH HÀ

NGHIÊN CỨU MỌT SỞ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VẼ CẠNI TRANH

TRONG LĨNH VỰC VIÊN THÔNG

T.UẬN VĂN THẠC 8Ÿ TUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2009

1

Trang 2

PAI HOC QUOC GIA HA NOI

KIIOA LUẬT

NGUYEN MANH HA

NGHIEN CUU MOT SO QUY DINH PHÁP LUAT QUOC TE VA VIET NAM VF CANII TRANIT

TRONG LĨNH VỰC VIÊN THÔNG

Chuyên ngành: luật quốc tế

Mã số: 60 38 60 T.UẬN VĂN THẠC 8Ÿ TUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC:

PGS TS Dinh Ngoc Vuong

HÀ NỘI - 2009

2

Trang 3

MUC LUC

1, Tỉnh cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.1.1 Pháp luật chống canh tranh không lành mạnh: 15

1.1.2 Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền) 17 1.2 Các quy định của pháp luật quốc tế về cạnh tranh 19 1.2.1 Các hệ thắng pháp luật cạnh tranh điển hình 19

1.2.2 Quy dinh về chẳng cạnh tranh không lành mạnh 24 1.2.3 Quy định về chống hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền) 26

1.2.4 Một sẽ điều ước quốc tế về cạnh tranh 27

1.3 Quả trình hình thành và pháp luật của Việt Nam về cạnh tranh 30

1.3.1 Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và các biểu hiện cạnh tranh 30

CHƯƠNG 2 THUC TRANG PHAP LUAT QUOc TE VA PHAP LUAT VIỆT NAM VE CANH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 63

2.1 Pháp luật quốc tế về canh tranh trong lĩnh vực viễn thông 1 63

Trang 4

2.1.2 Các cam kết liên quan đến cạnh tranh viễn thông của Việt Nam khi

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẺ CẠNH TRANH

3.1 Thực hiện các diều ước quốc tế về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cạnh tranh trong lĩnh

3.2.1 Xu hướng oanh tranh trên thị trường viễn thông Việt Nam 83

3.2.2 Một số kiến nghị nhằm phát triển thị trường cạnh tranh có hiệu quả

Trang 5

PHAN MO DAU

1 Tính cấp thiết của đê tài nghiên cửa

Các nước đang phát triển tiến hành cách mạng viễn thông đều nhận thức

dược rằng viễn thông la ding lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và phát

triển Bằng chứng trong hơn hai thập kỹ qua trên thế giới cho thấy công nghệ

thông tín thúc đẩy phát triển, thúc đây tăng trưởng kinh tế giúp cải thiện cuộc

sống cho người nghèo, cải thiện chất lượng giáo dục, tăng hiệu quả và sự

minh bạch của chỉnh phủ, đưa chính phủ đến gần với người đân hơn, và giúp

các quốc gia cỏ khả năng cạnh tranh cao hơn, hội nhập sâu hơn vào nền kinh

tế toàn cầu Cải cách mạnh mẽ, tăng cường canh tranh trong lĩnh vục viễn thông là nhân tố quan trọng nhất thúc đây xã hội và chính phủ sử đụng công

nghệ thông tín và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung

Thập kỷ qua đã chứng kiến sự phát triển nhanh chỏng và mạnh mẽ của

dịch vụ và công nghệ viễn thông cũng như thương mại quốc tế về dịch vụ

Điều đó đã buộc các doanh nghiệp cung cấp địch vụ viễn thông phải cạnh

tranh ngày cảng quyết liệt với nhau dễ giảnh thị phần vả theo đỏ các tổ chức

'Theo cách hiểu đơn gián nhất khu vực viễn thông của nên kinh tế có

năng lực cạnh tranh và hiệu quả nếu có sự cạnh tranh trong nội bộ ngành viễn

thông Tuy nhiên, sự tần tại của hai hoặc nhiều nhà cưng ứng địch vụ viễn

thông chưa có nghĩa là đã tồn tại cạnh tranh thực sự Cạnh tranh tồn tại khi:

- Tất cả hoặc một số lượng lớn khách hàng được tự do lựa chọn giữa các

loại giá, địch vụ và chất lượng do nhiều (hơn 2) nha cung ứng địch vụ cung

cấp,

- Người tiêu dùng có thể lựa chon, nhu cầu của họ được cưng cấp và đáp

ung,

Trang 6

Cạnh tranh để thu hút khách hàng, thông qua phát triển và điều chỉnh các

lựa chọn vả giá cả của các địch vụ cung ứng lả lực lượng điều tiết cơ bản

trong ngành,

Nếu ngành viễn thông đáp ứng các điều kiện trên thì được cơi là có canh

tranh Như vậy ngành viễn thông có khả năng cạnh tranh khi môi trường kinh

doanh vi mô của ngành thuận lợi cho việc lắng năng suất nhanh chóng nhờ

cạnh tranh đem lại Cuộc đua tranh mạnh mẽ hơn do cạnh tranh thúc đây làm

cho việc cung cấp địch vụ viễn thông hiệu quả hơn Đó lá đối với những

doanh nghiệp dang có khá nẵng cạnh tranh, còn có cạnh tranh được hay

+không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường hoạt động của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng hóa và địch vụ trao đổi trên thị

trường quốc tế là rất quan trọng vì nó đấm báo cho hàng hóa dịch vụ có thé

chiếm lĩnh khách hàng của các hàng hóa và địch vụ hiện có trên thị trường thé giới Nếu giá cả, chất lượng và chủng loại hàng hóa dich vụ của một nén kinh

tế có ưu thể hơn thi thị trường sẽ có nhu cầu về hàng hóa vả địch vụ của quốc

gia dé và hàng hóa địch vụ của họ sẽ được tiêu thụ tết hơn so với hàng hóa

dịch vụ của các nước khác

Quan điểm về tự do hoá viễn thông của Việt Nam là thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế vào khu vực viễn thông, chuyển doanh nghiệp viễn

thông truyền thống thuộc sở hữu nhà nước sang kinh doanh và từng bước mở

réng cạnh tranh Quan điểm này dược thể hiện trong các chính sách chung

cũng như các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua

Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin - viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của Bộ Bưu chính viễn thông năm

2003 | 9 | dã khẳng định: tạo thuận lợi cho tất cá các thành phần kinh tế tham

gia phát triển viễn thông trong môi trường cạnh tranh công bằng vả minh

bạch Cụ thể, các đoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông được đa

dang hoá, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, nhả nước

10

Trang 7

nắm giữ cỗ phần thống lĩnh hoặc đặc biệt, hoặc doanh nghiệp thuộc các thành

phần kmh tế khác Chinh sách này dược khẳng định trong Pháp lệnh Đưu

chính Viễn thông

'Tuy nhiên, nức đồ tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực bưu chính

viễn thông là rất khác nhau giữa các hoại động viễn thông Các doanh nghiệp

kinh doanh mạng, trong dé có các doanh nghiệp IXP, phải là doanh nghiệp

100% vốn sở hữu của nhà nước hoặc có cổ phần thống Tĩnh hoặc đặc biệt của

nhà nước, trong khi đó các doanh nghiệp cưng cấp dịch vụ viễn thông có thé

là doanh nghiệp Việt Nam thuộc tất cả các thành phần kinh tế, trong đỏ có các

doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ISP và OSP Chính sách này được áp đụng

dối với hầu hết các địch vụ giả trị gia tăng

Chính sách phat triển ngành viễn thông đã khẳng dịnh sự chuyển đổi

viễn thông từ độc quyên sang cạnh tranh, nhưng khu vực kinh tế nhà nước có

vai trò chủ đạo Cụ thể, thị phần của các đoanh nghiệp mới dự kiến sẽ đạt 25- 30%% vào năm 2005 và 40-5032 vào năm 2010 Cũng theo kế hoạch, đến năm

2005 sẽ có thêm 3 đến 5 nhà cung cấp IXP, 30 dén 40 ISP và nhiều nhả cung

cấp OSP dược cung cấp địch vụ Internet Cách tiếp cận chung dối với tự do

hoá viễn thông là mở rộng thị trường cạnh tranh củng với tăng cường vai trỏ

chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước; cho phép các doanh nghiệp trong nước

có điều kiện, chủ yếu là các đoanh nghiệp nhà nước, cung ứng các địch vụ giá

trị gia tăng cũng như dich vụ cơ bản và từng bước mở của khu vực viễn thông, cho các nhà đầu tư nước ngoài theo các cam kết quốc tế; hoạt động cung cấp

dịch vụ sẽ dược tự do hoá mạnh hơn kinh doanh mạng viễn thông

- Tim hiểu về quy định pháp luật quốc tế về cạnh tranh trong lĩnh vực

viễn thông

- Nghiên cứu tình bình cạnh tranh trong lĩnh vục viễn thông tại Việt Nam thời gian gần đây, xu hướng cạnh tranh sẽ diễn ra giữa các doanh nghiện

Trang 8

viễn thông Việt Nam và quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đánh giả

hiệu quá điểu chính của pháp luật về cạnh Iranh của Việt Nam hiện nay

- Phân Lích các điểm hạn chế trong pháp luật về cạnh tranh và đề xuất

một số giải pháp nhằm hoàn thiên hê thống pháp luật về canh tranh tại Việt

Nam

3 Phạm vi nghiên cứu:

Để tải sẽ nghiên cứu về quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam về cạnh

tranh trong kinh doanh các dịch vụ viễn thông, các vướng mắc và hướng giải

quyết

3 Phương pháp luân và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận khoa học được vận đụng trong luận văn này là hệ thống lý

luận của học thuyết Mác — Lê nin, các lý thuyết về khoa học kinh tẾ và quan diém của Đảng, chính sách của Nhà nước về ngành viễn thông,

Phương pháp nghiên cửu được sử dụng để thực hiện để tài này là

Phương pháp đuy vật biện chúng, duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, thông

kê, sơ sánh, dự bán Từ đây dưa ra các giải phán để hoại dộng cạnh Iranh

viễn thông được tốt hơn

4 Ba cục của luận vẫn

Dễ thực hiện muc tiêu nói trên, luận văn bao gồm ba chương sau đây:

CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬT VẺ CẠNH TRANH: - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ

LUẬN

- Khái quát chung

- Các quy định của pháp luật quốc tế về cạnh tranh

- Quá trinh hinh thành và pháp luật của Việt Nam về cạnh tranh

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUỐC TẺ VẢ PHÁP LUẬT

VIET NAM VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIÊN THÔNG

12

Trang 9

- Pháp luật quốc tế về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông

- Thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam CHƯƠNG 3 HOÀN TIHTÿN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẺ CẠNH TRANH

TRÔNG LĨNH VỰC VIÊN THÔNG

- Thực hiện các điều ước quốc tế vẻ cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông,

- Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông phủ hợp với các cam kết gia nhập WTO

‘li xin tran trong cam ơn các thay cô giáo Trường Dại học Quốc gia

TIả Nội, nhất là các cán bộ, giảng viên Khoa Luật và Khoa Sau Đại học đã

giúp đỡ và tạo điều kiện hoàn thành bản luận văn nảy Đặc biệt tôi xin trân

trọng cẩm ơn PGS5 T8 Dinh Ngọc Vượng đã tận tình hướng dẫn tôi trong việc

nghiên cứu và thực hiện luận văn

'Tãi cũng xim trần trọng cảm ơn các cán bộ thuôc Bưu diện TP Hà Nội

và Tập đoàn Buu chỉnh Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã hỗ trợ, giúp đỡ thu

thập thông tin, tải liêu phục vụ cho luân văn Xin cám ơn bạn bẻ, dồng nghiệp

và gia đình đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên

cứu để hoàn thành luận văn này.

Trang 10

CHƯƠNG 1 PHÁP LUẬTI VẺ CẠNH TRANH

- MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN

1.1 Khải quất chung

Cho dén hiện nay đã có nhiều học thuyết về cạnh tranh, song không có

sự xác định về mặt pháp lý nội hàm của khái niệm cạnh tranh Các hợc thuyết

về cạnh tranh chỉ thống nhất với nhau ở chỗ phải ngăn cẩn và cấm đoán

những hành vi gây rối, ngăn cần hoặc hạn chế cạnh tranh mà thôi Xuất phát

từ sư bắt lực của pháp luật khi điều chỉnh các bảnh vi canh tranh mạng tỉnh

tích cực (cạnh tranh hợp pháp), các nhà làm luật Irang lịch sử đều tiếp cận từ

mặt trái của những hành vi cạnh tranh (cạnh tranh không lành mạnh) Vì vậy,

pháp luật cạnh tranh không thé đưa ra được những đâu hiệu để xác định cạnh

tranh hợp pháp và vì vậy không có khải niệm cạnh Iranh bất hợp phap ma chi

có hành vi cạnh tranh không lành mạnh (hiểu theo nghĩa rộng)

'Thứ hai, cạnh tranh là hoạt đông, hành vi của các chủ thể hoat động theo

luật tự, trong khi đó việc cắm đoán, ngăn cẩn những hành vi cạnh tranh của

pháp luật có khi lại phải được thực hiện theo phương pháp của luật công, Hơn

thế nữa, hình thức và phương pháp cạnh tranh là “luật chơi” riêng của thương

trường Trong khi đỏ, trong cơ chế thị trường con người được Lự do va sang

tao nên lại không thể có luật chơi cụ thể cho mọi thành viên trong moi diéu kiên và hoản cánh (mả pháp luật phải cụ thể) Trong thương trường, không

thể áp dụng luật chơi và thước do thành tích như trong thé thao, bởi nếu

không, con người lại phải hành động theo một khuôn mẫu thống nhất, mà

theo đó họ bị hạn chế khả năng sáng tạo Tuy nhiền, tự do cũng chỉ là sự nhận

thức quy luật và quyền tự do nảo cũng có diểm dừng của nó Điểm dừng nảy

phụ thuộc vào nhiều yếu tổ và chính vào lúc này, Nhả nước và pháp luật xuất

hiện Vì vậy, tiến cận từ mặt sau và không triệt để về tính xác định của nội

dung là dặc điểm căn bản của pháp luật về cạnh tranh Đây lả những dấu hiệu

14

Trang 11

của phân biệt pháp luật về cạnh tranh

với những lĩnh vực pháp luật khác như

luật công ty hay luật hình sự Có lẽ vì lý do đỏ mà ở nhiều quốc gia phương

Tây đều coi pháp luật cạnh tranh là chế định pháp luật cơ bản của luật l:inh tế

6 cde quốc giá có sự Ên định Lương đối về pháp luật cạnh tranh, mặc dù cỏ cơ

cầu của hệ thống pháp luật cạnh tranh khác nhau, song khi xem xét các cầu

thành cụ thể, họ đều chia pháp luật cạnh tranh thành hai lĩnh vục khác biệt

Đó là phán luật chẳng cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (hay còn pọi là chống độc quyền hay kiểm soát độc quyền) Sở

đĩ có sự phân biệt như vậy là vị, như đã trình bảy ở trên, tính chất của hành vi,

mức độ của hành vi và mức dộ nguy hại của chúng đổi với thị trường va theo

đó là phương thức và tính cương quyết trong sự “trừng trị” của pháp luật đối với hai nhóm hành vi này là khác nhau Tuy rằng, suy cho cùng chúng đều làm hại dẫn sự vận động bình thường của thị trưởng,

1.1.1 Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh:

Canh tranh không lánh mạnh là những hành vi cu thể của một chủ thể,

nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (chú không

chỉ là trải pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một dối thú cạnh tranh hay bạn hàng cụ thể © day, tính không lành mạnh cứa hành vi cạnh

tranh lệ thuộc vào nhiều yếu tố của quan hệ thị trường và luôn được diều

chỉnh bằng phương thức của luật tr Tức là người bị ảnh hưởng, bi thiệt hai

hay có nguy cơ bị thiệt hại chừng nào chưa đưa ra sự phần đối và khiêu kiện

thì pháp luật và Toà án chưa thế vào cuộc Chế tài pháp luật ở đây là bị buộc

đình chỉ hành vị vĩ phạm và bồi thường thiệt hại nếu cá thiệt hại xáy ra

'Theo kinh nghiệm của các nước, thể hiện qua nội dung của pháp luật

cạnh tranh không lành mạnh, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh

được chia lam 5 nhóm

1L Thâu tôm khách hàng: Dao gồm những phương pháp cạnh tranh trái

với tập quản dễ tác động lên khách hàng va ban hang, "Tính trái với tập quần ở

15

Trang 12

đây thể hiện ở chỗ nó gây ảnh hưởng đến sự tự đo trong quyết định của bạn

hang hay khách hảng Nó biểu hiện trong những đạng cụ thể như

2 Ngăn căn: Được thực hiện dỄ chống dối thủ cạnh tranh về giá, tẩy

chay nói xâu hay phân biệt đối xử ở day, van 48 không chí là ở chỗ gây ảnh

hưởng tới đối thủ mà chính là ở chỗ tính không đúng đắn trong cạnh tranh

3 Bóc lột: Loại hành vi này cũng có mục đích chồng lại đối thủ song chủ

yếu lại không nhằm vào sản phẩm của dỗi thủ Thực ra vẫn dé nảydược giải

quyết chủ yếu trong pháp luật về sở hữu công nghiệp Song tính không lành

mạnh ở đây thể hiện sự lợi dụng trái với lập quản những sản phẩm của người

khác ƠI

Jing han nha: bat chước kiểu dáng công nghiệp, man trả về nguồn

gốc của sản phẩm hay đựa đẫm vào uy tin của sản phẩm khác (đặt tên giéng

với sẵn phẩm của người khác) hoặc lôi kéo khách hảng hoặc người lâm công,

của đối thủ

4 Pi phạm pháp luật Những vi phạm loại này thường diễn ra trong lĩnh vực luật kinh tế hay luật thuế song chỉ bị coi là không lành mạnh khi hanh vi

vĩ phạm có chủ ý oan thiệp trái phép đến đối thủ cạnh tranh Ngoài ra những,

vi phạm pháp luật khác cũng có thể đồng thời bị coi là cạnh tranh không lành mạnh (thí dụ: lừa đão) Những vi phạm hợp đẳng cũng có thế đồng thời vỉ

phạm pháp luật cạnh tranh nếu nó gắn liền với việc phá vỡ niềm tin cạnh

tranh hoặc lạm dụng lòng tín của bạn hàng

5 Gây rối tị trường: Loại hành vi này không nhằm vào một đổi thủ

cạnh tranh nảo, song nỏ có tác động chung pây rỗi thị trường Chẳng hạn,

doanh nghiệp lớn ha gid sin phim làm ảnh hưởng đến những doanh nghiệp

nh; hay một doanh nghiệp quảng cáo giật gân gây tâm lý chung hoằng sợ

16

Trang 13

1.1.2 Pháp luật chống bạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền)

Trong khi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nhằm vào từng

hành vị, từng quan hệ thì pháp luật chỗng hạn chế cạnh tranh lại nhằm vào hiện tượng có tính chất độc quyền bất kế đó là độc quyên hành chính hay độc quyền tự nhiên, là độc quyền hay độc quyền nhóm - những hiện Lượng làm

thay ddi cơ cấu thị trường và thco nghĩa đó, pháp luật chéng han chế cạnh

tranh (chỗng độc quyển) là pháp luật bảo vệ cơ cầu và tương quan thị trường,

vì vậy có liên hệ mật thiết với pháp luật về gia nhập thương trường

Néu xéL vé mire độ gây thiệt hai cho tử trường thi han chế canh tranh,

tao thế độc quyền có mức hại cao hon so với canh tranh không lành mạnh vả,

bị xử lý nghiêm khắc hơn về mặt pháp luật Tuy nhiên, chúng không phải là

cấu thành tội phạm va chỉ được xử lý chủ yếu bằng công cụ hành chính (pháp luật hành chỉnh kinh tế) Theo nghĩa đó, một hảnh vi hạn chế cạnh tranh khi bị

phát hiện bất luận có phải bởi đối thủ cạnh tranh hay không, đều có sự xuất

hiện của pháp luật và các quyết định hành chính bắt buộc Cac kha ning của việc áp dụng các chế tài ở đây là mạnh mẽ, đa dạng và nghiêm khắc như cắm,

buộc từ bö, tuyên bố vô hiệu, phạt hành chính và bồi thường thiệt hại

Thông thường, hạn chế uạnh tranh hình thành từ 3 hướng,

1 Các hợp đồng, thoả thuận hay nghị quyết má theo đó hình thành nên cartel, xanh-đi-ca, tờ-rớt, những thoả thuận nảy có thể hình thành theo chiều

ngang hay chiêu đọc của các quy trình kinh doanh Những thoả thuận này có

thể tồn tại ở bất cứ hình thức nào và tác hại của chúng là thủ tiêu sự cạnh

tranh giữa các thành viên tham gia thoả thuận và loại bỏ khả năng tham gia

của các đối thủ cạnh tranh khác vào khu vực thị trường nảy Nội đung của

những thoả thuận nảy có thể liên quan dén nhiều van để khác nhau như về giá,

hạ giá, điêu kiện mua bán, bảo vệ khách hảng và phân chia thị trường V: ằ

nguyên tắc, những thoả thuận kiểu nảy đều bị pháp luật cấm và khi xuất hiện

Trang 14

chúng bị tuyên bổ vô hiệu Tuy nhiên, ở các nước khác nhau có những dạng

khác nhau về ngoại lệ của việc cầm này,

2 Việc sáp nhập (MI&A) của nhiều doanh nghiệp là con đường nhanh nhất dé tạo khả năng độc quyền của một doanh nghiệp mới Dây là vẫn để

cảng ngày cảng trở nên trạng lâm của pháp luật chống hạn chế cạnh Iranh Vì

vậy hoại động kiểm tra, giảm sát, cắp phép, ngăn cắn vả thậm chỉ cưỡng bức

phân chia đoanh nghiệp là mối quan tâm ngày càng lớn của các cơ quan chap

pháp Sáp nhập doanh nghiệp được nói ở đây có thể được thực hiện theo chiều ngang, chiều dọc vả hỗn hợp của các doanh nghiệp theo dấu hiệu về các quy

trình kinh doanh Việc sáp nhập doanh nghiệp có thể dẫn đến hậu quả và sự

xuất hiện dột ngột (không thông qua sự gia tăng của hiệu qua kinh tế hay ting

trưởng kinh tế hay mở rộng kinh doanh) của một doanh nghiệp độc quyền hoặc một đoanh nghiệp lớn đến mức mà đột nhiên các doanh nghiệp khác mắt

di năng lực cạnh tranh Miặc dù, tự do khế ước và tự do lập hội là nguyên tắc

căn bản của cơ chế thị trường song để duy trỉ cạnh tranh, mọi sự sáp nhập

doanh nghiệp đều phải được giám sáL Sự giám sát đó có thể được thực hiện ở

Tiêu chí cơ bản để áp dụng các hình thức piám sát đó lả tỷ lệ thị phần

(tính theo doanh số hàng nãm) hoặc sự lạm dụng sức mạnh kinh tế của đoanh

nghiệp hinh thánh đo sáp nhập trong thương trưởng,

3 VỀ lý thuyết cũng như thực ên thương trưởng sẽ có những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và phát triển không ngừng mà không cần có sự

18

Trang 15

trợ giúp đặc biệt của quyền lực công cộng, của chụp giật và của sự thiểu lành

mạnh chúng cũng trở thành những doanh nghiệp khẳng lồ hoặc có vị thế dộc

quyền Dương nhiên, pháp luật không thể cắm hay hạn chế sự phát triển lành mạnh đó Song dưới giáo độ của cạnh tranh thì pháp luật phái tính táo trước

nguy cơ lạm dụng sức mạnh cuả những doanh nghiệp nảy và phải xuất hiện

như một sức mạnh vô hình để làm đối trọng với sức mạnh kinh tế và năng lực

cạnh tranh của loại hình doanh nghiệp nay để bảo toàn (như có thể) năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp yếu Irong bếi cảnh như vậy, ngoài việc

giám sát về sự lạm dụng sức mạnh linh tế của các doanh nghiệp có vị trí độc

quyền, Nhà nước cần phải tạo điều kiện dé nhiều đoanh nghiệp mới pia nhập

thương trường nhằm tìm cách phá vỡ thể mất cân sức trong cạnh tranh Chính tại đây, người ta nói tới chức năng và nhiệm vụ kiểm soát độc quyền của Nhà

nước và pháp luật

'Tóm lai, ngoài một số quy dịnh về cơ chế áp dung pháp luật và dịa vị

pháp ly của loại cơ quan đặc thủ có trách nhiệm áp đụng pháp luật cạnh tranh

thì những nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh (theo nghĩa rộng) bao

gồm phán luật chống cạnh tranh không lành mạnh (vì ra đời trước trong lịch

sử nên được gọi là pháp luật cạnh tranh cỗ điển hay theo nghĩa hẹp) và pháp

luật chống hạn chế cạnh tranh hay oòn gọi là chống hoặc kiểm soát độc

quyền

1.2 Các quy định của pháp luật quốc tế về cạnh tranh

1.2.1 Các hệ thống phán luật cạnh tranh điển hình

1.2.1.1 Hệ thỗng pháp luật cạnh tranh của Mỹ

Theo điểu 1 của Dạo luật Sherman (Sherman Act) năm 1890, các thoả

thuận nhằm hạn chế thương mại sẽ bị cấm Các thoả thuận có thể thể hiện

dưới bắt kỷ hình thức nảo, bộc lộ hoặc ngụ ý giữa hai hay nhiều người dễ hạn

chế cạnh tranh, một sự liên kết là sự tiếp tục hợp tác trong việc hạn chế

19

Trang 16

thương mại và xuất hiện một âm mưu khi hai hay nhiều người cùng chung

mục dich để hạn chế thương mại sẽ bị cắm theo luật này

Có hai sự kiện đáng chú ý, mà theo đó Toà án lối cao Mỹ đã giới thiệu cho nước Anh lý thuyết nguyên tắc hợp lý “Rule of Reason” vao nim 1911,

theo đó, bị đơn muốn được miễn trừ việc áp dụng pháp luật chẳng hạn chế

cạnh tranh theo nguyên tắc Rule of Reason phải cá nghĩa vụ cung cấp các

băng chúng chứng minh hành vi của mình là “hợp lý”

Bên cạnh đó, một số nhóm hành vi như Cartel giá, Cartel quota rõ rằng

chống lại cạnh tranh, không thể biện hộ bằng bấL cứ lý do nào sẽ được áp

dụng theo nguyên tắc tự dang (Perse Rule) Bất cứ nhà kinh doanh nào chỉ cần có hành vi được mô tả trong luật đều bị xử lý bởi pháp luật chống hạn chế

cạnh tranh với nghĩa vụ chứng minh thude vé các cơ quan công quyền |24,

24]

1.2.1.2 Tệ thống pháp luật cạnh tranh của Châu Âu

+ Các hệ thông trung thành với nguyên tắc cắm đoán

Khuôn mẫu của pháp luật chống hạn chế canh tranh trong những năm

gan đây theo mẫu của Điều 85 và 86 của Hiệp dinh EC duge thấy ở Bỉ, Ily

Lạp, Ai Len, Italia, Tay Ban Nha

Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh của các nước này hầu hết phù hợp

với điều 85 và 86 của Hiệp định HC ở nguyên tắc áp dụng pháp luật, theo đó,

cáo hoạt động hạn chế oạnh tranh thể hiện đưới các hình thức: Các thỏa thuận,

các nghi quyết, các quyết định của các hiệp hôi kinh doanh đều bị cầm và vô

hiệu ngay lập tức Các ngoại lệ của sự cấm đoán được chấp nhận hoặc mang

tính riêng lẻ trang hoạt đồng áp dụng pháp luật của cơ quan cạnh tranh hoặc

được tập hợp lại trên cơ sở phân loại các thoả thuận hiện tại Sự lạm dụng vị

trí thống trị thị trường được đánh giá rất khát khe, bị pháp luật cắm và không

có bất cử ngoại lễ nảo

20

Trang 17

+ Các hệ thông trung thành với các nguyên tắc lạm đụng

Trong khi các quốc gia được đề cập ở trên - ít nhất cũng đã mở rộng

phạm vi - cẩm đoán hạn chế cạnh tranh bằng pháp luật và theo đó có thể nói

ring là trung thành với nguyên tắc cắm đoán thi một số các quốc gia trong EU

như Đan Mạch, Anh, Hà Lan lại đựa vào việc mở rộng sự kiểm soát lạm

dụng Trong hệ thẳng pháp luật cạnh tranh của họ, sự cắm doán chỉ dược áp

dụng đối với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh hiện tại mà nên tảng của nó có

liên quan đến cổ định giá

+ Cáo hệ thẳng phối hợp cả hai nguyên tắc

Sự phối hợp phức tạp của nguyên tắc cắm đuán và nguyên Lắc lạm dụng được tìm thấy trong pháp luật chống hạn chế cạnh tranh của Ðức 'Irong khi

pháp luật của Đức cắm hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang - các thoả thuận

và các hành động có liên quan kháo * lạo ra một mục đích chưng” | Điều 1/1

của Luật chồng han chế cạnh tranh 1990, abbr GWE] - thì nó lại bộc lệ sự

phần ứng đễ dãi hơn đổi với các hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc Trong đó,

chỉ có sự cố định giá và han chế điều kiện giao địch bị cắm doản một cách

ngặt nghéo (Diéu 15) Các trường hợp hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc

khác, chẳng hạn như các hợp đồng phân phối cỏ điều kiện loại trừ chỉ là đối tượng của sự kiểm sot lam dung Sự phối hợp giữa hai nguyễn tắc này cũng

được đưa ra liên quan đến việc kiểm soát các đoanh nghiệp có địa vị thống trị

Xem xét pháp luật chông hạn chế cạnh tranh theo trình tự thời gian và bỏ

qua nước Philipincs - một quốc gia đã có luật về vấn để nảy vào năm 1925,

21

Trang 18

thi chúng ta thdy ring An Dé6 va Pakistan đã dé cập và xây dựng luật vào khoảng những năm 70, sau đó là Thái Lan, Hàn Quốc 1980 va Srilanka 1987 Cho đến những năm 1990, ở những nước nảy đã xuất hiện sự đột phả trong

việc xây dựng pháp luật về chẳng hạn chế cạnh tranh và sau dé Bai Loan đã

ban hành luật vản năm 1991 8ự chuyển đổi của các nước xã hội chủ nghĩa

sang hệ thống kinh tế thị trường dẫn tới việc ban hành luật về cạnh tranh ở

một số nơi như: Trung Quốc, Mông Cả vào năm 1993 và một số nước thuộc

Liên Xô cũ như Kazaxtan, Uzbekistan, Azetbaijan và Kyzgistan tir nam 1991 đến 1994 Hơn nữa, những nước ban hành pháp luật về chống bạn chế cạnh

tranh đã tích cực sửa đỗi luật của họ Nhìn tổng thể, dã có nhiều biến động

trong việc ban hảnh và sửa đỗi pháp luật canh tranh ở châu Á vào đầu những, năm 80 và từ đó cho đến nay, có một xu hướng ỗn định là cổ gắng củng cố lĩnh vực pháp luật này - một hiện tượng trở nên có ý nghĩa đặc biệt trong những năm 90

Các quốc gia này hoặc là đã trải qua một thời kỳ làm thuộc địa của các

nước thực dân trong lịch sử hoặc là có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường hoặc là phát triển kinh tế thị trường ở trình độ thấp Bởi vậy, pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh của họ được xây dựng theo khuôn mẫu của cáo nước phát triển ð Châu Âu hoặc là

Mf (Philipines, Hàn Quốc) l2o đó, họ cũng sử dụng nguyên tắc cấm đoán và

kiểm soát lạm dụng để chống lại các hiện tượng hạn chế cạnh tranh mặc dù sự

phổi hợp giữa hai nguyên tắc này ở các nước lả rất khác nhau

Vì là các quốc gia di sau cho nên trong pháp luật của các quốc gia Châu

Á về hạn chế cạnh tranh có những quy định khéng tim thay trong pháp luật về

hạn chế oạnh tranh của các quốc gia có nền kinh tế phát triển

Ở gác nước đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, trong pháp luật chống hạn chế cạnh tranh của họ còn có

những quy định hạn chế sự can thiệp chống lại cạnh tranh từ phía các cơ quan

22

Trang 19

hành chính Có thể nói, những quy phạm pháp luật được xây dựng để cám độc

quyền hành chính và lạm dụng quyền lực hành chỉnh là sản nhấm lập pháp

Tiêng có của các quốc gia nảy

Pháp luật về chống hạn chế canh tranh ở các nước nảy nghèo nàn vả

không hiệu quả khi so sánh với pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh của

chính họ,

Thông qua việc phân tích chính sách cạnh tranh và phân loại các hệ

thắng pháp luật chồng hạn chế cạnh tranh ở một số quốc gia điển hình ở trên,

chúng La có thể nhận định:

Mot ld: [an ché cạnh tranh là hiện tượng mang tính quy luật ở tất cả các

nước có nền kinh tế thị trường Bởi vậy, nguyên tắc cẫm đoán va nguyên tắc

lạm dụng đều được các quốc gia này sử dụng làm nên tảng cho thái độ ứng xử

của mình trước các hành vi han chế cạnh tranh, thê hiện thông qua hai nguyên

tắc kỹ thuật trong pháp luật về chông hạn chế cạnh tranh- nguyên tắc tự dang

(Perse Rule) va nguyên tắc hợp lý (Rule of Reason) Song cing chinh vi phai đối mặt với hiện tượng hạn chế cạnh tranh trang các bối cảnh khác nhau nên

mức độ kết hợp giữa nguyên tắc cắm đoán và nguyên tắc lạm đụng trong

chính sách cạnh tranh, giữa nguyên lic lr dang (Perse Rule) và nguyên lắc hợp lý (Rule of Reason) trong pháp luật về chống han chế canh tranh cũng

khác nhau nên đã hình thành các hệ thống pháp luật cạnh tranh theo khu vực

địa lý do các diều kiện kinh tẾ tương đồng và dồng thời tạo bản sắc riêng

trong pháp luật về chéng hạn chế cạnh tranh của từng quốc gia

Bởi vậy, trước xu hướng toàn cầu hoá của hoạt động thương mại quốc tế

đã làm xuất hiện nhu cầu tất yếu phải có một chính sách cạnh tranh toàn cầu

và theo đỏ là một “luật chơi” chung trong hoạt động thương mại quốc tế Do

đó, xây dựng pháp luật cạnh tranh nói chưng vả pháp luật chống hạn chế cạnh

Trang 20

tranh trong khuôn khổ cuả WTO là có cơ sở khi thiết lập không gian kinh tế

chung đôi hỏi sự thông nhất Irong tính da dạng

Hai là: Nếu nhìn từ thực tiễn áp dụng pháp luật về chéng han chế cạnh

tranh thỉ pháp luật của Mỹ và của các nước Tây Âu không có sự khác biệt lớn

Điều đáng chú ý là, nếu như ở các quốc gia Tây Âu sự phân hoá điều chỉnh

pháp luật đối với các sắc thái của độc quyền được thể hiện trong luật vật chất

thì ở Mỹ sự phân hoá điều chỉnh pháp luật đổi với các sắc thái của đệc quyển

được thể hiện trong luật hình thức

.Ba là: Trừ Nhật Bản, Hàn Quốc và Philpine có pháp luật chống hạn chế

cạnh tranh theo mô hình của Mỹ, các nước Châu Á khác có pháp luật chống

hạn chế cạnh tranh theo mô hình của Châu Âu

1.2.2 Quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh

Pháp luật cạnh tranh không lành mạnh hiện đại đã được xây dựng vào

giữa thế ký XIX bang cdc an lệ của pháp luật nước Pháp với tính cách là mat

loại hình mới của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoải hợp đồng trên cơ sở

những điều khoản chung của Bộ luật dân sự

Bằng một loạt những điều được bổ sung, Công ước Paris về quyển sở

hữu công nghiệp [33] dã thiết lập các biện pháp bảo hộ quốc tế chống lại các

hành vi canh tranh không lành mạnh Liến trình này đã được bắt đầu bing

việc áp dụng nguyên lắc chế độ tối huệ quốc Bước tiếp theo là, việc xáo định nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm xử lý các hoạt động,

cạnh tranh không lành mạnh một cách có hiệu quả Bước phát triển thứ ba là,

trong mẫu hình pháp luật hiện đại, phải bao gồm các điều khoản chưng vả liệt

kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh quan trọng nhất phải bị cắm

Diều cốt yêu của sư điều chỉnh pháp luật đã được thể hiện trong Diễu

10bis Công ước Paris Nội đụng của ná đã trở thành một định nghĩa quốc tế

“Bất cử hành vi cạnh tranh nảo đi ngược lại các hảnh động trung thực, thiện

24

Trang 21

chỉ trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hảnh vi cạnh tranh không

lành mạnh”

Điều khoán chung được bỗ sung bằng một loại những chi dẫn có nêu rõ

3 nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh quan trọng nhật -đó là:

- Cac hành vị gây rồi (lộn xôn)

- Các hành vi bôi nhọ, nói xấu

- Các luận điệu lừa đối

iều 10bis đã thiết lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên cam kết có những biện pháp pháp lý thích hợp để kiểm soát các hành vi cạnh tranh không

lành mạnh và chấp nhận Hiệp hội các nhà công nghiệp, các nhà sản xuất hoặc

các thương gia từ các quốc gia thành viên khác có thể khởi kiện tại Toà án

như các Hiệp hội của quốc gia đó

Các quy định cũa Công ước Paris đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phái

triển gủa các thiết chế trong mỗi quốc gia chống lại các hành vi cạnh tranh

không lành mạnh trên toàn thế giới Các quốc gia hiện nay như Vương quốc

Bi, Italia trong thap ky 20 va 30 d& chấp nhận điều 10bis Công ước Paris như

thé no là một bộ phận của pháp luật quốc gia và được sử dụng như pháp luật quốc gia để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nó được tuyên bố

như vậy là vì khi áp dụng nó không chí đem lại lợi ích cho người nước ngoài

ma cén dem lại lợi ích cho chính công dân nước sở tại

Theo ảnh hưởng này,nhưng không mâu thuẫn với quan điểm trong các

Tải liệu pháp luật, Điều 10bis Công ước Paris là một điều khoản tự hành một

cách trực tiếp thông qua việc thừa nhận các tiêu chuẩn tối thiểu trong việc xử

lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thậm chí ở các quốc gia kém phát

triển Công việc này dương nhiên chỉ dược tiển hành ở các quốc gia thành

viên- nơi mà Công ước quốc tế nảy đựoc áp dụng không cần thông qua quá trình chuyển hoá vào “nội luật” của từng quốc gia

25

Trang 22

Dinh nghĩa cỗ điển về cạnh tranh không lành mạnh của Công ước Paris

dến nay không còn phù hợp với tính cách lả chuẩn mực chung của Cộng đồng

quốc tế nếu chúng ta xem xét sự cần thiết thực tế cho việc bảo vệ lợi ich

người tiêu dùng vả lợi ích công được đưa vào pháp luật cạnh tranh không lành

mạnh như một công cụ cơ bản trong việc kiểm soát các hảnh vi thị trường

Hiệp định TRIPS dường như được dựa trên và củng hướng tiếp cận với Công

ước Paris, xa hơn nữa, chỉ là khía cạnh bên lễ của pháp luật canh tranh không;

lành mạnh Đến nay, tiến trình hiện đại hoá pháp luật dược xây dựng trong,

quá trình hiện đại hoá pháp luật được xây đựng trong quả trình hài hoà hoá pháp luật của từng khu vưc

1.2.3 Quy định về chống hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền)

Hạn chế cảnh tranh trong thương mại quốc tế là thoả thuận kinh doanh

hoặc dàn xếp giữa các bên thuộc các nước khác nhau để gây ảnh hưởng bất

lợi đến nễn kinh tế của một nước cụ thé nào đó

Thông thường, hạn chế cạnh tranh trong thương mại quốc tế biểu hiện

qua

dạng cơ bản sau

- Thiết lập Cartel quốc tế: Với sự tham gia của nhiều doanh nghiện mang,

nhiều quốc tịch khác nhau

- Áp đặt giá bán lẻ,

- Bán phá giá hoặc đặt giá độc quyền,

- Phân biệt đối xử,

- Ký hợp đồng mua bán riêng rẽ nhằm phân chia thị trường,

- Thoả thuận mang tính chất ràng buộc theo đó việc mua một loại sản,

phẩm nhất định lại phụ thuộc vào sản phẩm khác,

- Từ chối cung ứng sản nhầm,

- Áp đặt các điều kiện hạn chế trong các hợp đồng Lixăng,

26

Trang 23

- Sáp nhập nhằm mục đích độc quyền,

- Các hợp đồng hạn chế xuất khẩu trên cơ sở phân chia thị trường nhằm

tránh những hạn chế về thú tục,

~ Thành lập các xí nghiệp liên doanh với xu hướng độc quyền

Han chế cạnh tranh quốc tế là hiện tượng tiêu cực bởi chúng lảm lệch lạc các nguyễn tắc cơ bản cuả thị trường tự do - nguyên tắc cơ bản của nền

thương mại quốc tế Đây cũng là lý đo nhiều quốc gia đã ban hành pháp luật

về chống hạn chế cạnh tranh quốc tế Mục đích của việc ban hành này là ngăn

chăn tỉnh trạng han chế canh tranh nhằm thâu tóm thị trường theo thoả thuận

giữa các công ty trong nước và nước ngoài

Mỹ là nước đi đầu trong việc ban hành pháp luật về chống hạn chế cạnh

tranh có phạm vị áp dụng mang tính trị ngoại pháp quyền dựa trên thuyết ảnh

hưởng dây chuyền Các Toà án của Mỹ cho phép áp dụng pháp luật chống

hạn chế cạnh tranh trong nước lrên trường quốc tế để chống lại mọi hoạt động,

có ảnh hưởng xấu đến thương mại của Mỹ

Liên minh Châu Âu có Hiệp ước HC - với tính cách là một trong hai

lIiệp ước nền tảng - đã chứa đựng nhiêu điều khoản về chỗng hạn chế cạnh

tranh trong thị tường Châu Âu Liên minh Châu Âu cỏn có Bản quy tắc kiểm

soát việc hợp nhất giữa các doanh nghiệp trong công đồng vả can thiếp có

điều kiện vào hoạt động nay

1.2.4 Mật số điều ước quốc tế về cạnh tranh

Vào ngày 5/12/1980, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết

36/63 về Hộ nguyên tắc và quy tắc bình dẳng được thoả thuận da phương về

các hoạt động hạn chế kinh doanh (gọi tắt là Bộ quy tắc) Có thể nói rằng, Bộ

quy tắc nảy vẫn là khuôn khổ da phương dầy dủ và duy nhất về hoạt động,

cạnh tranh tại thời điểm hiện nay Tuy nhiên, Bộ quy tắc nàycủa Liên hiệp

Trang 24

quốc có đặc điểm là một “đạo luật mềm” chỉ đóng vai trò khuyến nghị đối với

các quốc gia

UNCTACD, WB va OECD đã rất lich cực trong viẹc ph biến các

nguyên tắc về chính sách và luật canh tranh trên thế giới trong khi các cơ

quan quần lý cạnh tranh ở các nước thành viên cũng rất tích cực trong hoạt

dộng nảy, cả trên bình diện đơn phương lẫn Irong việc hợp tác với các lỗ chức

quốc tế Diễu này thể hiện ở số lượng các ân phẩm về cạnh tranh của các tổ

chức quốc tỄ này ngày cảng gia Ling

Ngày nay, việo xây dựng một Đạo luật về cạnh Iranh quốo tế như là một

Hiệp ước thương mại đa bién GATT / WTO Ia diéu mong mỗi của công đồng quốc tế trước xu hướng toàn cầu hoá Kế từ năm 1991, một nhỏm các chuyên

giá dã soạn tháo “Dự tháo luật cạnh tranh quốc tẾ”

Du thao Dao luật cạnh tranh qué

Š như là một hiệp ước thương mại da

biên trong khuôn khổ GŒA'TT/ WTO được xây dựng trên những nguyên tắc:

- Nguyên tắc không lựa chọn luật thông nhất nhưng để pháp luật chồng

độc quyên quốc gia phô biến hơn Một tham vọng thấp hơn thống nhất pháp

luật là hài hoà hoá pháp luật Sự hài hoà hoá pháp luật tồn tại ví dụ như, kết

quả của sự thực thi của Diều 220 Hiệp định EC

- Nguyên tắc thứ hai ca Du thao nảy được đưa ra từ những Công ước

lớn — Công ước Paris 1883 và Công ước erne sửa đổi 1886 Đó là nguyên

tắc chế độ đãi ngô quốc gia (national treatment) cfing duce ap dung trong,

pháp luật chống độc quyền quốc tế GATT cũng dựa trên cơ sở của nguyễn

tắc nảy Trong ngữ cảnh hiện tại, nó có nghĩa là Luật cạnh tranh quốc gia va

Luật cạnh tranh quốc tế không có sự đổi xử mang tinh phân biệt

- Nguyên tắc thứ ba cũng có nguồn gốc từ những Công ước lớn từ năm

1883 — 1886 Đó là nguyên tắc của những Liêu chuẩn tối thiểu Nếu thiểu vắng

nguyên tắc của những chuẩn mực tối thiểu này, nó chỉ dơn thuần là Luật quốc

28

Trang 25

gia và chế độ đãi ngộ quốc gia Nó ngụ ý là người nước ngoài bị điều chính

bởi Luật quốc gia như người trong nước

Tuy nhiên, sự kháo biệt trong pháp luật của cáo quốc gia số ngăn cán cáo chuẩn mực quốc tế hiện tại Theo đó, các chuẩn mực quốc tế tối thiểu sẽ được

các quắc gia thành viên lĩnh hội đến mức nó sẽ trở thành các quy định quốc tế

tương dương tôi thiểu

- Nguyên tắc thứ tư đỏi hỏi sự giải nghĩa một số thuật ngữ Ba nguyên

tắc được để cập ở trên được biết tới như những công cụ trong các Hiệp định

quốc tế Nguyễn tắc thứ tư mang lại những điểm mới œu bản Nếu chúng ta

nghĩ về Công ước Paris và Công ước sửa đổi Berne, các nguyên tắc tiếp theo trong hàng ngũ các nguyên tắc nền tảng cho các Công ước lớn này là đặc

diém sự tự thì hành của chứng Đặc điểm sự tự thi hành của các Công ước

không được quy cho nó bởi hầu hết các thánh viên, tới Hiệp định GATT Do

đó, chúng ta phải đối đầu với một sự thật là, hầu hết các thành viên của GATT

dã không tôn trọng các quy tắc của GATT như pháp luật của quốc gia ho

Bằng một cuộc họp về đự thảo nảy, người ta đã tìm thấy một nguyên tắc

giống với công cu lac động hiệu quả như nghĩa vụ tự thi hành Nguyễn lắc mới ấy người ta đặt tên nó là “ nguyên tắc bắt dầu thủ tục tố tụng quốc tế

(Principle of International Procedural Initiative) viét tit 1a IPL Moi quốc gia

thành viễn áp dụng luật chẳng độc quyền của quốc gia họ Cáo luật chống độc

quyên này có thể đề cập đén các tiêu chuẩn tôi thiểu Nếu nó được áp dung dưới chế độ đãi ngộ quốc gia, là khẳng có sự phân biệt giữa người trong nước

và người nước ngoài Thêm vào đó, ở dó sẽ có các tổ chức quắc tế dược giao

phỏ việc bảo vệ sự áp đụng pháp luật quốc gia, dưới những điễu kiện, trong

các trường hợp khi mà các quốc gia thành viên không bắt đầu thũ tục của họ

Nguyên tắc thứ 5 cũng rất đơn giản Dự thảo này được xây dựng để áp

dụng cho các trường hợp vượt ra bên ngoài biên giới quốc gia Những hoạt

động hạn chế cạnh tranh nảy sinh trong lãnh thô của quốc gia này sẽ thuộc

29

Trang 26

thấm quyền tài phán tuyệt đổi của quốc gia đỏ Tuy nhiên, các trường hợp

vượt ra ngoài biên giới lãnh thể được đặt duéi nhiệm vu cia GATT / WTO

Kế từ khi có sự gợi ý của nhóm chuyên gia này, WTO từ khi được thành lập cũng đã có những nỗ lực to lớn trong việc xây dựng một chính sách cạnh

tranh toàn cầu Tuy nhiên, vẫn đang có những xung đột gay gắt giữa các quốc

gia công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển Hay nói khác đi, bảo

hộ mậu dịch, hạn chế cạnh tranh ty do, sắp nhập để triệt tiêu đối thủ cạnh

tranh đường như đang được sử dụng như những công cụ hữu hiệu nhằm duy

trì sự phụ thuộc kinh tế trên quy mô toàn cầu

1.3 Quả trình hình thành và pháp luật của Liệt Nam về cạnh tranh

'Tử Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ VI, Nhà nước ta chủ trương phát

triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã khởi đầu cho hoạt động cạnh tranh thực sự công khai và mở rộng trong nền kinh tế nước ta Trước hết, phải

kế đến sự canh tranh giữa doanh nghiệp Nhà nước với doanh nghiệp tư nhân

và cáo doanh nghiệp thuộc các thành phân kinh tế kháo

Cạnh tranh thực sự gay gắt bắt đầu vào giữa năm 1989, khi Nha nude thi

hành hàng loạt các chính sách về chống lạm phát, xoá bỏ bao cấp qua giá và

một phan qua vốn chủ yếu đối với khu vực kinh tế quốc doanh Sự cạnh tranh

diễn ra ngay giữa các xí nghiệp trong củng mội ngành, trong củng một Hộ hay

trong một địa phương, trong cùng một hình thức sở hữu, cạnh tranh giữa hàng,

nội và hàng ngoại Cạnh tranh bắt đầu đưa lại sức sống mới cho nên kinh tế

xã hội

Giần đây, với việc ban hành các chính sách đổi mới quản lý kinh tế, đã

giảm dần những tu đãi về đầu tư về tín dung và thưc hiện bình đẳng nghĩa vụ

nộp thuế giữa các doanh nghiệp Nhà nước với các doanh nghiệp thuộc thành

phần kinh tế khác, tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế

30

Trang 27

quốc dân Cạnh tranh trên thị trường thực sự đã đem lại nhiều kết quả tích

cực, dương nhiên dỏ phải là cạnh tranh lành mạnh

Như vậy, động lực để điêu tiết trong một nền kinh tế thị trường là sự

cạnh tranh Nêu không có cạnh tranh, sẽ xuất hiện độc quyển va hệ thông kinh

tế thị trường hoạt động sẽ không có hiệu quả Nếu không có cạnh tranh, người

tiêu dùng không có cách lựa chọn ma phải mua bắt cử giá nảo mà người sẵn

xuất đòi hỏi Nều không cỏ cạnh tranh, người sản xuất không có động lực để

áp dụng công nghệ mới và sản xuất hàng hoá với giá rẻ và chất lượng tốt hơn

Qua một số năm thực hiện nền kinh tế thị trưởng, nền kinh tế Việt Nam

đã có những khởi sắc đáng mừng, hàng hoá trên thị trường đổi dào và phong

phú, đời sống dan cu được cải thiện từng bước, người na, người bán dược tự

do lựa chọn hàng hoá và thoả thuận giá cả trong trao đỗi hing hoá Các doanh

nghiệp đã tự vươn lên đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng hàng hoá cho phù hợp với nhu cầu để đứng

vững trong cạnh tranh

Song, những khuyết tật vốn có của thị trường không thể không bộc lộ

trong thực tiễn Bên cạnh những kết quả tích cực của thị trường hảng hoá

cạnh tranh điỄn ra một cuộc cạnh tranh sôi động không cân sức và không bình

dẫng giữa hàng ngoại nhập vào với hang sản xuất trong nước Những yếu tố

canh tranh không lành raạnh đã nảy sinh trên nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế

nước ta

Tinh trang không cân sức biểu hiện & chỗ: Hàng nhập ngoại cá mẫu mã,

kiểu cách, màu sắc phong phủ, đa dạng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có chất lượng và tính sẵn sàng cho tiêu dùng cao hơn và hợp với yêu

cầu sử dụng, trong khi đó trình độ công nghệ sản xuất trong nước chưa cho

phép đạt được điều đó Không bình đẳng biểu hiện ra ở mức giá rễ của hàng ngoai nhập do trốn lậu thuế nhập khẩu IIơn thế nữa, các doanh nghiệp nước

ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài đã không ngần ngại sử

31

Trang 28

dụng các thủ pháp cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường để dành tru thé

nhận thấy các thủ pháp cạnh tranh không

cho sẵn phẩm của mình Có thể

lành mạnh sau đã trở nên phd biển trên thị trường Việt Nam:

* Quảng cáo quá nức và không trung thực:

Mặc nhiên, ai cũng hiểu tầm quan trọng của quảng cáo đổi với người tiêu dùng, nhưng ở nước ta không ai kiếm soát các thông tin mà các doanh nghiệp

đưa ra sai sự thật như quảng cáo của hãng P & Œ, nảo là tiêu chuẩn mới về độ

trắng của TIDE nhưng thực ra không hơn hàng nội như LIX va TICO 7.C6

phải Viện Pastcur thành phố Hồ Chỉ Minh chứng mình chất lượng diệt khuẩn

của SafeGuard hơn hẳn các xã phỏng khác? Bột giăt VIC chất lượng cao dược sắn xuất với công nghệ tiên tiền của Unilever nhưng thực ra chất lượng

thấp hơn bất cử loại bột giặt nào của Việt Nam có trên thị trường được sẵn

xuất theo đây chuyển cũ do Việt Nam thiết kế và chế tạo tại cdc nha may

TICO, NET, Đức Giang

* Hàng giả đanh nhãn hiệu thương phẩm

Từ khi Việt Nam tiến hành chính sách mổ cửa, hàng giả danh bắt đầu

phát triển rằm rộ Đầu tiên là các loại mỹ phẩm với sản phẩm nhái Camay,

Pamolive, Zest sau dén các sản phẩm nước ngọt bắt chước kiểu dáng của

Coocaoola, Depsicola bây giờ là phong trảo được phẩm, nước tnh khiếL ở

khu vực được phẩm, các vụ vi phạm đối với dược phẩm chiếm không dưới

30% tổng số các vụ vi phạm và phần nhiễu đo các xí nghiệp được phẩm phía

Nam thực hiện: họ có nhiều cách nhái: nhái tên, nhái tên sản phẩm, nhái mẫu

mã, bao bị Ví dụ nỉrư trường hợp của Decoagen, Defacoagen, Devicogen tập trung ở Miền nam với mẫu mã hình thoi nổi giống hệt Các sin phẩm mới

tỉnh khiết cũng vậy, trên thị trường trong nước đã xuất hiện gần 30 dạng sẵn

phẩm “ nhái” theo kiểu dáng công nghiệp của công ty Lavie Một số cơ sở làm đề can giả cố công moi tiền khách hàng và phá vỡ hình tượng của Lavie

bằng cách dặt cho hàng giả những tên la quen tai như: Covie, I.al.avie, Bavi,

32

Trang 29

Lavierge Việc làm này không chỉ là mỗi hiểm hoạ đến nguồn doanh thu của céng ty Lavic, ma cin de doa dén sức khoẻ của khách hàng

Theo ké

qua cudc khdo sal “ Hinh thai thị trường các doanh nghiệp Việt Nam” cho thay ring trong một số ngành kinh doanh 6 nuéc ta tinh trang canh

tranh không lành mạnh đang diễn ra Ví dụ cụ thể trong ngành kinh doanh

xuất khẩu cả phê: có lúc số lượng kinh doanh cả phê lên tới 100 doanh

nghiệp, nhưng thực chất chỉ có vài chục doanh nghiệp gắn bó với cây cà phê,

lấy ngành cà phê làm ngành kinh doanh chính Số doanh nghiệp này xuất khẩu được 80 — 8534 tổng sản lượng ca phê xuất khẩu Trong số các doanh

nghiệp còn lại không ít doanh nghiệp thực chất chỉ đứng tên cho tư thương trong nước vả nồng ty nước ngoài múp bóng dễ lợi đụng kinh doanh cả phê

trường ở Việt Nam được xây dựng trong bối cảnh của sự bất thành của cơ chế

kế hoạch hoá, nơi mà độc quyển Nhà nước là một đặc tình căn bản của đời

sống kinh tế

€ó thể nói rằng, hình thức độc quyền Nhà nước ra đời trong nên kính tế

của các nước XHƠN trước đây và ở Việt Nam không phải do kết quả của quá

trình cạnh tranh gay git ma đo quyền lực Nhà nước xác lập Dộc quyền Nhà

nước thể hiện hết sức đa đạng trước hết là chế độ quán lý hành chính, mệnh

lệnh tập trung đối với việc phân bế các tư liệu sản xuất, kết quả lao động, hoạt

động kinh đoanh, lưu thông, phân phối Trên phạm vi toàn bộ xã hội cũng

như từng khâu của nền kinh tế, có thể nói Nhả nước nắm độc quyền kmh

doanh, quản lý đổi với hầu hết hoạt động kinh tế của dất nước Nhà nước vừa

33

Trang 30

là chủ thể của quyền lục công cộng vừa là chủ thể trực tiếp hoạt động kinh

doanh

Hầu hết các doanh nghiệp độc quyền ở Việt Nam được hình thành không

phải do kết quả của quá trình tích tụ vả tập trưng vốn và các yếu tổ sản xuất

mả là sẵn phẩm của cơ chế kinh tế lập trưng hoá sẵn xuất của Nhà nước

Chỉnh vi lẽ dó ma cdc doanh nghiệp độc quyền ở nước la nhìn chưng chưa thể

thực hiện được tính ưu việt của các sân xuất quy mô lớn mà ngược lại còn bị

thua kém các doanh nghiệp khác trong khu vực kinh lẾ lư nhân, gây nên mộL gánh năng cho ngân sách Nhà nước

Nhìn một cách khả: quát trên quy mô toàn xã hội, các doanh nghiệp Nhả

nước chiêm tới 90 %% giá trị tài sản cế định, sử dụng trên 80 % vốn đầu tư tập

trung của ngân sách Nhà nước, gần 8O % lao động kỹ thuật vả khoảng 80%

tín dụng ngân hàng nhưng chỉ tạo ra 40 % tổng sản phẩm xã hội va thu nhập quốc dân

Độc quyền ở nước ta mang tính bao trùm lên toàn bộ nên kinh lễ quốc

dân Có thể hình dung rằng, nền kinh tế Việt Nam cho dến năm 1986 và thực

tế kéo dải đến năm 1988 là một đoanh nghiệp khổng lồ Sản xuất ra cái gì, với

sẵn lượng bao nhiêu? sản xuất ở ngành náo ? ban cho ai cai voi giá bao nhiều?

lời lỗ như thế nảo đều dược phát ra tử một trung tâm Chính phủ, các bộ các

ngành va Uy ban nhân dân các địa phương vừa làm nhiệm vụ quản lý hành

chính vừa đóng vai trỏ quản trị kinh đoanh Trên thực tế, các doanh nghiệp ở

các ngành khác nhau trở thành các chỉ nhánh bộ phận của doanh nghiệp độc

quyền khống lồ đó Thị trường cạnh tranh hầu như bị xoá bỏ, phần lớn giao

dich trao dỗ trên thị trường chỉ mang tính hình thức, ước lễ

Có lẽ vì chân dung của nguyễn tắc kinh tế quốc doanh piữ vai trò chủ

đạo với tính cách là một nguyên tác Hiến định chưa được đặc tả thì độc quyền

Nhà nước không chỉ được hiểu là sản phẩm của cơ chế kinh tế cũ cần phải

xem xét để điều tiết mà là hiện tượng bình thường, thậm chí còn phải tạo cơ

34

Trang 31

sở pháp lý để bảo vệ chúng Hàng chục Tổng công ty Khả nước theo Quyết dinh 90 va 91/ TTg của Thú tướng Chỉnh phú ngày 7/3/1994 không được diều

tiết vận hành theo nguyên lý của cạnh tranh Mặc dù, khi thiết lập những tập doan kinh tế (với tên gọi là TỔng công ty), người Lá cũng nhắc đến nguyễn tắc

tự nguyện, song thực chất, đây lại là sự liên minh, sắp nhập tho thể thức

hành chính Diều cần nhấn mạnh là, thế độc quyền của các tập đoàn kinh

doanh (doanh nghiệp Nhả nước) được thiết lập theo kiểu hành chính đưới dang: Sap nhập để thống lĩnh thi trường Từ dây, có một vấn dễ cần phải được

xem xét và giải quyết triệt để là: bản thân các điều lệ của các Tổng công ty

cũng như sự chỉ dạo chung của Tổng công ty đỗi với các doanh nghiệp thành

viên có mang dầu hiệu hay bản chất kinh tế và pháp lý của những Cartel công

khai hay không 2 Dởi vì, khi tham gia Tổng công ty, các doanh nghiệp thành

viên, về căn bản, vẫn tần tại dộc lập nhưng chúng dường như không cần và

không thể cạnh tranh với nhau được nữa

Tưới góc độ về hình thái thị trường, độc quyền Nhà nước được biểu hiện

dưới hai hình thái R độc quyền và độc quyên nhóm

Trong hình thái thị trưởng độc quyển, doanh nghiệp dộc quyền là doanh

nghiệp Nhà nước và nhiệm vu sản xuất kinh doanh của nó dược Nhà nước giao Song Nha nước vin xét duyét gid cd mua bán Các ngành kinh tế có hình thái thị trường này ở nước ta là: Điện, nước máy, xăng dầu

Trong hình thái thị trường độc quyền nhóm, các doanh nghiệp Nhà nước

trong hình thải nảy là các doanh nghiệp khi chuyển đổi sang cơ chế mới sẵn

có ưu thế về vốn được Nhà nước đâm bảo từ trước, với hệ thống co sé vat

chất - kỹ thuật dã có và thị trường truyền thống, nên vẫn giữ dược vị trí của

mình trên thương trường Các ngành kinh tế có hình thái thị trường này ở

nước ta là: Xăng dầu, xi măng, kim khí, than, vận lai đường sắt (rên một số tuyến)

35

Trang 32

Với những đặc tính trên, có thể nói rằng cho đến nay độc quyển Nhà

nước không chỉ gây ra những tác đông tiêu cực dến quả trình cạnh tranh mả

nghiêm trọng hơn là nó tạo ra sức ÿ đôi với bản thân các đoanh nghiệp độc

quyền, làm tê liệt cạnh tranh dẫn tới sẵn xuất và thị trường bị trì trệ, vẫn đề

toan dụng lao động, tiền lương, thư nhập vả công bằng xã hội bị vi phạm

Tuy nhiên, sẽ là thiếu di sự khách quan, thận trọng và tỉnh táo nếu cho

rằng cần phải xoá bỏ ngay độc quyền Nhà nước trong đời sống kinh tế của

nước ta hiện nay Cũng cần thiết phải chí ra rằng, độc quyền Nhà nước hình thành mang tỉnh tất yếu khách quan trong một số ngành kinh tế doi hỏi quy

mô đầu tư lớn và thậm chí là rất lớn nhưng thời hạn thu hồi vến rất chậm như

ngành điện, nước sạch, căng biển dã không thu hút được các doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế khác nhập cưộc Mặt khác, sự hình thành độc

quyền Nhả nước cũng có những tác động tích cực thúc đẩy quá trinh tích tụ và

tập trung các nguồn lực dé phát triển tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn,

luôn đi đầu về mặt kỹ thuật, công nghệ Trong điều kiện hiện tại của nền kinh

tế nước La trước xu hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, độc quyền Nhà

nước cỏn có tác dụng nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị

trường quốc tế, củng cố thị phần trên các thị tường cũ và thâm nhập vào các

u khách quan,

thị trường mới ớ khía cạnh này, độc quyền Nhà nước lá tất y

là nhân tế đâm bảo cho sự n định và phát triển kinh tế bền vững,

¡ tất cả những điều đã được trình bày ở trên, chính sách canh tranh va pháp luật về chắng hạn chế cạnh tranh cần phải có sự phân hoá đối với các

sắc thái khác nhau của độc quyền Nhà nước: Độc quyền tự nhiên hay là độc

quyền là hậu quả của thủ pháp cạnh tranh Hơn thể nữa, ngay cả trong trường

hợp độc quyền là hậu quả của (hủ pháp cạnh tranh cũng cần phải duy trì trong,

một số trường hợp trước yêu cầu tăng trưởng kinh tế

- Lạm dụng quyền lực thị trường của các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam

36

Trang 33

Kế từ khi Dẳng vả Nhà nước ta phát động và thực hiện công cuộc đôi

mới, thể hiện khát vọng làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới trên tỉnh

thần bình đăng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thế

của nhau, Việt Nam đã thu hút được một số lượng lớn đầu tư nước ngoài true

tiếp của nhiều đoanh nghiệp nước ngoài tử nhiều quốc gia trên thể giới

Sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài, doanh

nghiệp nước ngoài đã làm cho nễn kinh tế nước ta ngày cảng trở nên sôi động

đã và đang hữa hẹn một nhịp độ tăng trưởng cao Hơn thế nữa, nhiều nhà nghiên cửu nước ngoải còn nhận dịnh rằng, mặc đủ cuộc khủng hoảng tiền tệ

Châu Á có làm cho tốc độ đầu tư nước ngoài và mức tăng trưởng của Việt

Nam có chậm lại song đây lả một thị trường dầy hứa họn của tương lai Mặc

du vay, ching ta vin phải thừa nhận một sự thật là các doanh nghiệp cỏ vốn

đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp nước ngoài đang lạm đụng quyền lực

thị trường đễ thôn tính các thị trường ở nước ta và dang dẫn các doanh nghiện

nội địa của chúng ta trước bở vực của sự phá sản Không chỉ dừng lại ở đó,

trên thị trường Việt Nam cũng đang diễn ra sự giảnh giật thị phần gay gắt giữa các hãng đa quốc gia của nhiều nước có nền kinh tế lớn mạnh như: Mỹ

Nhat, EU, Trung quéc, [an quéc Trong bối cảnh ây, các đoanh nghiệp nội

địa Việt Nam với tiềm lực thự có của mình đang bị loại bỏ dần khỏi đời sống

Các doanh nphiệp có vẫn dầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài

đều bù lỗ hoặc dùng hàng tân kho ở thị trường khác đem chào bán vào thị trường Việt Nam với giá giảm 75% giá bình thường như các hàng mỹ phẩm

cia P & G (Procte & Gamble) Hing Colgate - Pamolive nhap khdu kem danh

37

Trang 34

răng chỉ khai bán giá thấp hơn kem đánh răng Dạ Lan nội địa Hãng Coca-

Cola đem hàng trăm lấn sản phẩm biểu không hoặc bán hạ giá thông qua

chiến lược “ thêm 50% nhưng giả không đổi” đã “thanh toán” đút điểm các

hãng nước ngọt trong nước Các hăng bia, rượu ngoại như Tiger, Heincken, Remy, Hcncsay đã chiếm hơn 80 % thị trường bia rượu tại Việt Nam, đã làm cho hai doanh nghiệp sản xuất rượu lớn nhất ở Việt Nam: Một doanh nghiệp

bị đóng cửa (Nhà máy rượu Bình Tây nghỉ sẵn xuất từ năm 1996) một phải

thu hẹp tối da công suất (khoảng 2 triệu lỉt một năm tương dương với 10 %4

công suất của nhà máy)

- Quảng cáo và tiếp thị nhằm độc quyền hoá

Quảng cáo và tiếp thị nhằm độc quyền hoá là một thủ pháp được các

doanh nghiệp có vốn dầu Lư nước ngoài đặc biệt ưa chuộng dễ chiếm lĩnh thị trường tại Việt Nam Liên doanh P&Œ Việt Kam đã chỉ 70 % doanh thu cho

quảng cáo trong khi công ty mỹ phẩm DASO của Việt Nam chi dim chi 7%

Thời gian quảng cdo dải công với công nghệ quảng cáo tiên tiến đã giúp

người Việt Nam yêu hàng ngoại nhiễu hơn là hàng nội và đồng thời đây chỉ

phí gia nhập ngành lên rất cao

- Giao dịch nhằm mục đích loại trừ

Rất nhiều đại lý bật giặt trước đây bán TICO, NET, DASO nay chuyển

thanh nha phân phối chỉ bán bột giặt của P& G và Unilever Bởi vị, họ ký hợp đồng phân phối độc quyền chỉ bán bột giặt của hãng này và cắm không được

phép bán hàng cho hãng nội địa lrong nước và lợi nhuận được chiết khẩu cao

gấp 5 lần hàng Việt Nam, được các hãng nảy cho nợ hàng tỷ đồng tiền hàng

và được trốn thuế Trên các hoá don van ghi hoa hồng được chiết khấu thấp

hon hang Việt Nam nhưng cuối tháng các hãng đều thưởng lại hoặc làm phiểu

thư thêm 5% tiền, nhưng thực ra không thu, chỉ lâm giấy tờ hợp thức

Các hãng được phẩm của nước ngoải cũng nâng tỷ lệ hoa hồng cho các

bệnh viện mua thuốc của họ lên dến 10% để chiểm thị trường của c

38

ng ty

Trang 35

được Việt Nam Do đó, các bệnh viện của ta hiện nay chỉ sử dụng 5-7% được

phẩm nội để chiếu lẻ, củn 93% là được phẩm ngoại Có thể nói rằng, với sự

trửa hẹn lợi nhuận rất lớn, các nhả phân phối của Việt Nam đã vui vẻ chấp

nhận các điều kiện loại trừ của cáo đoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,

doanh nghiệp nước ngoài để quay lưng lại dối với các doanh nghiệp của chính

mình

- Hạn chế phát triển kỹ thuật và công nghệ và đăng ký Patent nhằm hạn

chế cạnh tranh

Qua các con số thống kê đã cho thấy, khoáng 80 % đến 90 % công nghệ

sit dung ở Việt Nam là công nghệ nhập ngoại Từ đầu năm 1987 trở lại đây, việc chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp đã tăng đáng kể, đạt

mức 2,2 tỷ USD trong năm 1996, rong đó khoảng 40% dành cho các mục

tiêu công nghiệp Trong năm 1997 vả 1998 đầu tư nước ngoài đã giấm đi, áo vậy, có sự giảm tương ứng trong nhập khẩu công nghệ

Việc nhập khẩu công nghệ nước ngoài góp phần nâng cao chuẩn mực

công nghệ của Việt Nam, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của

ngành sản xuất sử dụng công nghệ đó Tuy nhiên, cũng cần phải nhin nhận

một sự thật là, hiệu quả chuyển giao công nghệ ở nước ta hiện nay lá rất hạn chế Ngoài việc các công nghệ dược chuyển piao không phải là loại dạt tiêu

chuẩn hàng đầu quốc tế, hiệu quả chuyển giao công nghệ còn bị hạn chế bởi

các mục đích sử dụng vả chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp có vẫn dau tư nước ngoài và doanh nghiệp nước ngoài

Nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ vào Việt Nam đã có những điều khoản hạn chế việc nghiên cửu và phát triển công nghệ được chuyển giao,

khống chế phạm vi sử dụng của sông nghệ hoặc có những quy định có tỉnh

chất tước đoạt các giải pháp kỹ thuật và công nghệ như buộc bên Việt Nam

phải thông báo kiến thức hoặc khái niệm mới đạt được có liên quan Mặt

khác, nhiều doanh nghiệp có vốn dẫu tư nước ngoài đăng ký Patent nhằm mục

39

Trang 36

đích bạn chế cạnh tranh Có thể nói Tằng, những hiện tượng nói trên là lực cản

mạnh mẽ đối với quá trình công nghiệp hoá và hiện dại hoá ở nước La hiện

buộc phải đoạn tuyệt với cơ chế cũ, chủ trương xây dựng trên đất nước ta mộL

nén kinh tế thị lrường Tỉnh chất quá dộ dó của nền kinh tế đã ãnh hưởng dến

tính chất của cả hệ thông pháp luật về quản lý kinh tế Và đo đó phải chấp

nhận một sự thật lá chủng ta không thể cá ngay một hệ thẳng pháp luật kinh

tế với chất lượng hoàn toản mới - Pháp luật của nền kinh tế thị trường

Có thể nói rằng, pháp luật kinh tế của chúng ta đang được hình thành

trên một số nguyên tắc phân ảnh đặc trưng mang tính quy luật trong sự vận

động khách quan của các quan hệ kinh tế Đó là: Nguyên lắc về tính da đạng

của chế độ sở hữu, nguyên tắc tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do giá cả, nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các

chủ thể kinh doanh

- Nguyễn tắc về tỉnh da dang của chế độ sở hữu đã được thể hiện một

cách nhất quán trong các văn bản pháp luật kinh tế được ban hành ngay sau

khi Đăng la chú trương triển khai công cuộc đối mới, như Luật đầu tư nước

ngoài tại Việt Nam, Luật công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân .và sau này là

Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Bộ luật

dân sự, Luật hợp tác xã Cho dến khi Hiển pháp 1992 ra đời thì nó trở thành

một nguyên tắc Hiến định (điều 15) Như vậy, từ một nên kinh tế thuần nhất với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, pháp luật đã thừa

nhận dịa vị pháp lý binh đẳng của các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác

40

Trang 37

- Nguyên tắc tự do kinh doanh

Lần đầu tiên, nguyên tắc này được quy định trong Luật doanh nghiệp tư

nhân (Điều 3), Luật oông ty (Điều 4) và sau này trở thành nguyên tác Hiến đính (Diều 57- Hiển pháp 1992)

Nội dung của nguyên tắc này rất rông, nó bao hảm nhiều lĩnh vue như:

Tự de lựa chọn ngành nghề, hình thức và địa điểm kinh đoanh, quyền tự do

thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, tự do hợp đồng, liên kết, tự do

lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp Thực tế cho thấy,

thời gian qua, nguyên tắc nảy được thé hiện khá nhất quản trong nhiêu văn

bản pháp luật quan trong như: Luật đất đai, Luật khuyến khích đầu tư trong

nước, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Nghị định về tổ chức và hoạt động của

trọng tải kinh tế

- Nguyên Lắc tự da hình thành giá ca

Nội đưng của nguyên tắc này là việc hình thành giá cả trên thị trường

phải được quyết định bởi sự vân động của quy luật cung cầu, phù hợp với sư

phát triển của sẵn xuất trong từng giai đoạn Nếu chỉ thuẫn tuý xét về mặt văn

bản thì tói thời điểm hiện tại chưa có văn bản pháp luật nảo của ta quy định

Song trên thực tế, thi cơ chế hình thành giả cả ở nước ta trong những năm gần

đây đã áp dụng nguyên lễ

nảy(vi dụ như các quy định trong Pháp lệnh hop đồng kinh tế) Cụ thể là, trừ một số loai sản phẩm, tư liêu sản xuất cơ bản va

một số sắn phẩm phục vụ tiêu dùng thuộc chỉnh sách xã hội, đa Nhà nước

định giá (hoặc quy dịnh khung giá), tuyệt đại da số các sản phẩm và vật tư

khác đoanh nghiệp tự định giá hoặc thông qua sự thoả thuận với khách hàng, trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị và quy luật cung - cầu Đây là một trong

những nội dung đổi mới hết sức quan trọng, đánh dầu bước chuyển dỗi rất căn

bắn từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chê tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm

của các chủ thể kinh đoanh

- Nguyên Lắc bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh

41

Trang 38

Diéu đỏ có nghĩa là, trong các quan hệ sản xuất kinh doanh các chủ thể

thuộc các thành nhần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, không phân biệt về

quy mô, hình thức, lĩah vực và phạm vi kinh doanh đều có quyền và nghĩa vụ

như nhau Đây cũng là một nguyên tắc Hiển định (Điều 21 Hiến pháp 1992)

vả từng bước được cu thé hoá khá nhất quán trong những văn bản pháp luật

được ban hành trong những năm vừa qua Chẳng hạn như các biện pháp

khuyến khich và báo hộ dầu tư theo luật khuyến khích dẫu tư trong nước, căn

cứ tính thuế theo các luật về thuế, chế độ sử dụng lao đông, bảo hiểm, cơ chế

giải quyết phá sản doanh nghiệp, tài phán trong kinh doanh đều phải tôn

trọng nguyên tắc này Tuy nhiên, vi nhiều lý do khác nhau, việc bảo đảm thực

hiện nguyên tắc nảy trên thực tế không hoàn toàn đơn giản Song ý nghĩa sâu

xa của nguyên tắc này là nó định ra tiểu chí pháp lý trong việc ban hành các

quy dịnh cụ thể để điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể với nhau

cũng như xây dựng các phương án va giải pháp cụ thể về bảo đảm quyển và

lợi ich của các bên có liên quan

- Nguyên tắc bảo đầm cạnh tranh

Cũng như các nguyên tắc trên, dây là một nguyên tắc đặc trưng của nền kinh tế thị trường Bản thân nó bao gỗm hai khia cạnh: Một mặt là tạo ra

những tiền đề để khuyén khich cạnh tranh, và mặt khác là nghiêm cấm các

hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh Cũng cần thiết

phải chỉ ra rằng, vấn đề báo đâm canh tranh cũng liên quan đến rất nhiều lĩnh

vực như: chẳng làm hàng giả, trên thuế, giải thể và phá sản man trá, bảo vệ

nhãn hiệu hàng hoa, ding ký chất lượng sản phẩm, quảng cáo Như vậy, tuy

chưa phải là đầy đủ và đồng bộ nhưng có khá nhiều vẫn đề liên quan đền việc

thực hiện nguyên lắc báo đám cạnh tranh đã được pháp luật kinh tế điều

chỉnh

Qua việc phân tích các nguyên tắc với tính cách là điều kiện khung của

khung pháp luật kinh tế Việt Nam trong bước chuyển sang kinh tế thị trường,

42

Trang 39

chúng ta có thể thấy rất rõ trong hệ thông pháp luật kinh tế của Việt Nam

dang từng bước định hình một bộ phận pháp luật mới - pháp luật về cạnh

tranh

1.3.2.2 Quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam về cạnh tranh

Luật Cạnh tranh 2004:

Luật Cạnh tranh đã được thông qua ngày 3/12/2004 và có hiệu lực thị

hành từ ngày 1/7/2005 Luật Cạnh tranh được áp dụng đối với IẤU cả các doanh nghiệp dủ là doanh nghiệp nhả nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh

nghiệp do nhà nước kiểm soát, doanh nghiệp được cô phần hoá hay đoanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và áp dụng cho cả các hiệp hội ngành nghề (Diéu 2)

Luật Cạnh tranh công nhận quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và

bảo vệ quyển cạnh tranh trong kinh doanh Luật Cạnh tranh câm các hanh vi

hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh Luật cũng ngăn cẩm các

cơ quan quản lý nhà nước thực hiện một số hành vị nhất định, như buộc các

doanh nghiệp, tổ chức hay cá nhân mua hoặc bán hảng hoá hoặc cung ứng

dich vụ với các doanh nghiên dược cơ quan này chí định (trừ cáo lĩnh vực độc

quyển nhà nước hoặc trong các trường hợp khẩn cấp); phân biệt đối xử giữa

các doanh nghiệp, ép buộc các doanh nghiệp hoặc các hiệp hội ngảnh nghề

phải liên kết với nhau để loại trừ, hạn chế hoặc căn trở các doanh nghiệp khác

cạnh tranh trên thị trường; vả thực hiện các hảnh vi khác cẩn trở các hoạt

động kinh đoanh hợp pháp của doanh nghiệp

Các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cẩm trong luật bao gỗm các thúa

thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thông lĩnh thị trường, lạm dụng vị

trí độc quyền và tập trung kinh tế (Điều 8)

Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:

43

Trang 40

- Các thoả thuận Ấn định giả hàng hoá, địch vụ một cách trực tiếp hoặc

- Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ hay hạn chế đâu tư,

thoả thuận áp dặt các diễu kiện mua hoặc bản hàng hoá hoặc dịch vụ dối với

các doanh nghiệp khác hoặc ép buộc các doanh nghiệp khác chấp nhận các

nghĩa vụ không có liên quan trực liếp đến đối tượng của hợn đồng,

- Theä thuận ngăn can, kim hãm hoặc không che các doanh nghiệp khác

tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh,

- Thoá thuận nhằm loại bỏ khôi thị trường các doanh nghiệp không phải

là các bên của thoả thuận; và thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận

thẳng thầu trong việc cunp cấn hàng hoá, cung ứng dịch vụ

Ba loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh cuối cùng nêu trên lả các thoả

thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối Các loại khác bị cẩm nếu thị phần

kết hợp trên thị trường liên quan của các bên tham gia thoả thuận chiếm trên

30%, trừ trưởng hợp quy dịnh tại điều 10

Hảnh vi lạm dụng vị trí thống trị dược quy định tại Điều 13 của Luật nảy

và hành vi lạm đụng vị trí độc quyền được quy định tại Diều 14

Tập trung kinh tế (sát nhập, hợp nhất, mua lại, liên đoanh và các hành vi

tập trung kinh tế khác) bị cắm theo Điều 18 nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiểm trên 509% thị trường liên quan,

tuy nhiên có 3 trường hợp ngoại lệ: (1) sau khi thực hiện các doanh nghiệp vẫn

thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật (Điều 18), GÒ

một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế dang trong nguy cơ bị giải thể

44

Ngày đăng: 28/05/2025, 19:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đan Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (2006), Báo cáo về việc gia nhập WTO, Hà Nỗi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về việc gia nhập WTO
Năm: 2006
3. Bộ Bưu chớnh Viễn thụng (2007), Củủỉ j số 07CT-BBCET của ngày 7/7/2007 về Định hướng Chiến lược nhái triển Công nghệ thông tin và Truyénthông Uiệt Nam giai đoạn 2011 2020 (gọi tắi là “Chiến lược Cắt cảnh”), HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Củủỉ j số 07CT-BBCET của ngày 7/7/2007 về Định hướng Chiến lược nhái triển Công nghệ thông tin và Truyénthông Uiệt Nam giai đoạn 2011 2020
Tác giả: Bộ Bưu chớnh Viễn thụng
Năm: 2007
4. Bộ Thông lăn và Truyền thông (2009), Báo cáo tống kết năm 2008 và triển khai nhiệm vụ năm 2009, Hà Nồi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tống kết năm 2008 và triển khai nhiệm vụ năm 2009
Tác giả: Bộ Thông lăn và Truyền thông
Năm: 2009
5. Bé Thuong mai (2005), Thông tr số 19/2005/TT-BTM hưởng dẫn một số nội dùng guy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tr số 19/2005/TT-BTM hưởng dẫn một số nội dùng guy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP
Tác giả: Bé Thuong mai
Năm: 2005
6. Chỉnh phủ (1997), Nghị định số 109/1907/NĐ-CP về bưu chính và viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 109/1907/NĐ-CP về bưu chính và viễn thông
Tác giả: Chỉnh phủ
Năm: 1997
7. Chính phủ (2004), Nghị định số 160/2004ND-CP qiọ định chỉ thiết Ủu hành một số điều của Phán lệnh Hưu chính viễn thông về Viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 160/2004ND-CP qiọ định chỉ thiết Ủu hành một số điều của Phán lệnh Hưu chính viễn thông về Viễn thông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
8. Chính phủ (2004), ghị định số 142/2002/NĐ-CP về xử phạt vì phạm hành chính trong lĩnh vực BCVT, IIà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghị định số 142/2002/NĐ-CP về xử phạt vì phạm hành chính trong lĩnh vực BCVT
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
9. Chỉnh phủ (2005), Nghi định số 116/2005ND-CP quy định chỉ tiết thì hành một sé diéu của Luật Cạnh tranh, Hà Nồi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi định số 116/2005ND-CP quy định chỉ tiết thì hành một sé diéu của Luật Cạnh tranh
Tác giả: Chỉnh phủ
Năm: 2005
10. Chính phủ (2005). Nghị dịnh sả 120/2005/NĐ-CP về xử lý vì phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị dịnh sả 120/2005/NĐ-CP về xử lý vì phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
11.Chỉnh phủ (2006), Nghị định số 05/2006/NĐ-CP về việc thành lập và gup định chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn và cơ cầu tổ chức của Hội đồng cạnh 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2006/NĐ-CP về việc thành lập và gup định chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh
Tác giả: Chỉnh phủ
Năm: 2006
12. Chính phủ (2009), Tờ trình về dự án Luật Viễn thông, LIà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình về dự án Luật Viễn thông
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
13. Thủ tướng Nguyễn Tắn Dũng (2006), “Gia nhập W TO, cơ hội - thách thức và hành dộng của chúng ta”, bdo Nhâm dan ngdy 07/11/2006, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia nhập WTO, cơ hội - thách thức và hành động của chúng ta
Tác giả: Nguyễn Tấn Dũng
Nhà XB: báo Nhân dân
Năm: 2006
14. Đăng Công sản Việt Nam (2000), Chi thi sé S&/CT-TW vé ddy manh ing dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, I1à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi thi sé S&/CT-TW vé ddy manh ing dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Nhà XB: Đăng Công sản Việt Nam
Năm: 2000
15. GATS (2000). Iliệp định chung về thương mại địch vụ GATS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iliệp định chung về thương mại địch vụ GATS
Tác giả: GATS
Năm: 2000
16. Học viện Bưu chính viễn thông (2007), Tham luận lại buổi tọa đầm về Cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thong do Cuc Quan ly cạnh tranh Bộ Thương mại tổchức, Hà Mội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận lại buổi tọa đầm về Cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thong do Cuc Quan ly cạnh tranh Bộ Thương mại tổ chức
Tác giả: Học viện Bưu chính viễn thông
Năm: 2007
18. Dễ ‘Trung Tá (2003), Ngành tiễn thông Liệt Nmi trên đường hội nhập - Bảo cáo tại Hội thão Việt Nam gia nhập WTO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành tiễn thông Liệt Nmi trên đường hội nhập - Bảo cáo tại Hội thão Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: Dễ ‘Trung Tá
Năm: 2003
19. Thủ tưởng Chính phủ (2003), Quyết định số 217/2003/TTg về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, viễn thông. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 217/2003/TTg về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, viễn thông
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2003
20. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 39/2007/QĐ-TTg về quan ly gid cước địch vụ Bưu chỉnh Viễn thông, Là Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 39/2007/QĐ-TTg về quan ly gid cước địch vụ Bưu chỉnh Viễn thông
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
21. Mai Liêm Trục (2003) Tiền tới xâu dựng chiến lược ngành công nghệ thông tim viễn thông Việt Nam — (ham luận tại Hội nghị bản tròn về Phái triển ngành công nghệ thông tìn viễn thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tới xâu dựng chiến lược ngành công nghệ thông tim viễn thông Việt Nam
Tác giả: Mai Liêm Trục
Năm: 2003
22. Trung tâm Thông tin Bưu diễn (2007), Tham luận tại buổi toa dam vé Canh tranh trong lĩnh vực viễn thông do Cục Quản {Ý cạnh tranh Bộ Thương mại tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận tại buổi toa dam vé Canh tranh trong lĩnh vực viễn thông do Cục Quản {Ý cạnh tranh Bộ Thương mại tổ chức
Tác giả: Trung tâm Thông tin Bưu diễn
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w