1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn một số vấn Đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật việt nam và pháp luật một số nước

121 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề pháp lý về chào bán chứng khoán ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước
Tác giả Phạm Thị Thanh Hương
Người hướng dẫn TS. Nụng Quốc Bỡnh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nguyên tắc của IOSCO Các nguyên tắc của IOSCO đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Nguyên tắc về hoạt động gõng bố thông tín của tổ chức phát hành Nguyên tắc đối xứ

Trang 2

DAI HOC QUOC GIA HA NOL

KHOA LUAT

PHAM THI THANH HUONG

MOT 86 VAN DE PIIAP LY

VE CHAO BAN CHUNG KHOAN RA CONG CHUNG TIIEO PHÁP LUAT VIET NAM VA PIIAP LUAT MOT SO KUGC

Chuyên ngành : Luật quắc tế

Trang 3

KHOAN RA CÔNG CHUNG

Khái niệm chung

khái niệm về chứng khoản và thị trường chứng khoán

Khai niệm về chảo bán chứng khoán ra công chúng

Vai trò và đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán

ra công chúng

Vai trỏ của hoạt động chào bán chứng khoản ra công chúng

Các đặc điểm cơ bản của hoại động chào bán chứng khoản

ra công chúng

Chủ thể chào bán chứng khoán ra công chúng

Phạm vi và dối tượng chào bản chứng khoán

'Về cách thức chảo bán chứng khoán

Về pháp luật điều chính

Cac hinh thức chào bán chứng khoản

'Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán OSCO)

Sự hình thánh, phát triển của IOSCO

Trang

Trang 4

Các nguyên tắc của IOSCO

Các nguyên tắc của IOSCO đối với hoạt động chào bán

chứng khoán ra công chúng

Nguyên tắc về hoạt động gõng bố thông tín của tổ chức

phát hành

Nguyên tắc đối xứ công bằng

Nguyên tắc kế toán, kiểm toán theo thông lê quốc tế

Việt Nam và IOSCO

Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÉ CHÀO BẢN CHỨNG

KHOĂN RA CÔNG CHÚNG TRONG TƯƠNG QUAN

SO SÀNH VỚI QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT

SỐ NƯỚC

Khung pháp lý của một số nước và của Việt Nam về chảo ban chứng khoán ra sông chúng,

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chao bán chứng khoán

ra công chúng của một số nước

Nhóm văn bản pháp luật chung về chứng khoản vả thị trường chứng khoán

Nhóm văn bân pháp luật chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứng khoản

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoản

ra công chủng của Việt Nam

Một số nội dung cơ bản của pháp luật về chảo bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam và một số nước

Thương thức quản lý đối với hoạt động chào bán chứng

khoán ra công chúng,

Điều kiện chào bán chứng khoán ra oông chúng

'Thú tục thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng,

4

47

Trang 5

Hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng

Một số nhận xét về pháp luật chào bán chứng khoán ra

công chúng của Việt Nam sơ sánh với pháp luật của một số

nước

Về hệ thông pháp luật

một số nội dưng cơ bản của pháp luật chào bán chứng, khoán ra công chủng

Chương 3: TIỰC TRẠNG THỰC THỊ PHÁP LUAT VE CHAO

BAN CHUNG KHOAN RA CONG CHUNG TAI VIET

NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOẢN THIỆN

PUAP LUST VE CHAO BAN CHUNG KILOAN RA

Yêu cẦu hoàn thiện hệ thống pháp luật về chảo bản chứng

khoán ra công chang

DANH MỤC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TÁC GIÁ hà THAM GIA

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANII MỤC CÁC TỪ VIẾT TAT

SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán

TTCK Thị trường chứng khoản

UBCKNN :Ủy ban Chứng khoản Nhà nước

Trang 7

DANI MỤC CÁC BẰNG

bảng

21 sơ sánh về đặc điểm của hoạt động chảo bán chứng khoán 31

Ta công chúng và hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ

2.2 Bang so sánh các cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt 65

động chào bán chứng khoán ra công chủng

Trang 8

MO DAU

1 Tính cấp thiết của việc nghién ctu dé tai

Thị trường chứng khoán (TTCK) dang ngày cảng đóng vai trỏ là kênh

dẫn vốn, huy động vến quan trọng trong phát triển kinh tế Lễ án phát triển thị

trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đặt ra mục tiêu tổng quát, đó là phải

Phái triển nhanh, dồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt

Nam, trang đó thị trường chúng khoán đóng vai trò chủ đạo; từng bude dua thi iruong vốn trẻ thành một cầu thành quan trong cha thi

trường tài chỉnh góp phân đắc lực trong việc busy động vốn cho dan

tự phát triển và cdi cách nên kinh tễ; từng bước nâng cao khả năng

cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế [10] Luật Chứng khoán được Quốc hôi thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006

đã đánh dẫu một bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng khung pháp

ly cho hoại động của TTCK Việt Nam nói chung và hoạt động phát hành, chào bán chứng khoán huy động vốn của các loại hình doanh nghiệp nói Tiêng Với phạm vi điêu chỉnh rộng, Luật Chứng khoản quy định hoạt động

chảo bán chứng khoán ra công chủng của các dối tượng là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp có vẫn

đầu tư nước ngoải chuyển đỗi thành công ty cỗ phần tạo ra sự thông nhất

trong quản lý nhà nước đối với hoạt động chảo bán chứng khoán ra công

chúng IẦn dầu tiên tại Iuật Chứng khoán dã quy dịnh cho phép các doanh

nghiệp Việt Nam được chảo bán chứng khoán huy đông vốn trên FCK quốc

tế Với quy định này, một mặt mở ra kênh huy động vốn vô cùng quan trong cho doanh nghiệp ViệL Nam, mặt khác, oững tạo điêu kiện cho các nhà đầu tư

nước ngoài được tham gia góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam, phủ hợp với các cam kết của Việt Nam trong hội nhập thị trường vốn quốc tế

Trang 9

Tuy nhiên, thực tế thi hành pháp luật về chứng khoán và TTŒK trong

thời gian qua chà thấy pháp luật về chào bán chứng khoản ra công chúng đã

bộc lộ nhiều điểm hạn chế, vướng mắc, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong quả trinh chảo bản chứng khoán huy động vốn, cụ thể như: [Luật Chứng,

khoán mới chỉ giới hạn điều chỉnh về hoạt động chảo bán chứng khoán ra công chúng, chưa quy định thế nào là hoạt động phát hành riêng lẻ Các quy

định về khái niệm, về điều kiện, thủ tục chảo ban chứng khoán ra công chúng, hiện nay chưa 15 rang và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Mặc đù pháp luật

dã bước dầu diều chỉnh về hoạt động chảo bán chứng khoản ra nước ngoài

song mới chỉ dùng lại ở các quy định mang tính nguyên tặc đỏi hỏi phải có

những quy định hướng dẫn cụ thể về điều kiện, về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư

nước ngoài và ngay cả việc giải quyết xung đột pháp luật khi doanh nghiệp Việt Nam tiển hành chảo ban phửng khoán ra nước ngoài hay doanh nghiệp nước ngoài chảo bán chứng khoán tại Việt Nam

Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về chảo bán chứng khoán ra công,

chúng phải được tiến hành trên cơ sở tổng hợp, dúc kết kinh nghiệm thực tiễn

hoạt động của TICK Việt Nam và dựa trên cơ sở ứng dụng một cách khoa

học của quá trình nghiên cứu kinh nghiệm về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn

của thể giới vào hoàn cảnh và điều kiện oụ thể của Việt Nam

Trước những yếu cầu của lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên

cứu luân văn với đề tài "Một số vẫn để pháp lj về chào bản chứng khoản ra

công ching theo pháp ludt Viet Nam và pháp luật một số nước" là một đòi

hồi mang tính cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao

2 Tình hình nghiên cứu vẫn để này ở Việt Nam và ý nghĩa lý luận

Trang 10

nghiên cứu riêng lẻ liên quan đến việc chào bán chứng khoán ra công chúng

sơng những nghiên cứu này mới chỉ đừng lại ở mức độ các vẫn đề mang tính

nguyên tắc Hiện nay, cũng chưa có một để tài nào nghiên cứu toản diện về nội dung này, đặc biệt là dưới góc độ so sánh với quy định pháp luật về chảo

bản chứng khoán ra công chúng cúa một số nước để rút ra kinh nghiệm cho

Việt Nam Các văn bản, tài liệu về kinh nghiệm của nước ngoài trong hoạt động chảo bán chứng khoán ra công chúng hầu hết đều chưa được dich ra

tiếng Việt Do vậy, việc nghiên cứu hiện văn với đề tài “Mật sá vẫn đề pháp

lý về chào bản chứng khoản ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và

phúp luật một số nước” là thực sự cần thiết, góp phan xây dựng và hoàn thiện

các quy định pháp luật của Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

Để tải luận văn hướng dến các mục tiêu sau:

- Góp phần làm sáng tổ cơ sở lý luận và thực Liễn của pháp luật về

chào bán chứng khoán ra công chúng,

- Nghiên cứu pháp luật về chảo bán chứng khoán ra công chúng của

một số nước nhằm rút ra cơ sở lý luận va bai hoc cho việc quy định vấn dé

nảy tại Việt Nam;

- Đánh giá, phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chào hán chứng

khoán ra công chúng tại Việt Nam; phân tích những mặt bắt cập, hạn chế của

pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng để từ đó để xuất

một số giải pháp hoản Ihiện các quy định pháp luật nhằm khuyến khích phat triển hoạt động nảy trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm ví nghiên cứu của để tài

Dé tai được giới han trong khuôn khổ nghiên cứu, so sánh một số nội

dưng cơ bản của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước nhu Toa Ky,

Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan về hoạt đông chào bán chứng khoán ra

Trang 11

công chúng (về phương thức quản lý đối với hoạt động chào bán chứng khoán

ra công chúng, về điều kiện, thủ Lục chảo bản chứng khoán ra công chúng),

đánh giá tinh tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước nêu trên và với các nguyên tắc của TẾ chức quốc tế các Ủy ban Chứng khoán

(OSCO) trong hoạt đông chào bán chứng khoản ra công chúng: tìm hiểi và

phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chảo bán chứng khoản ra công, chúng tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam về hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng,

§ Cơ sử pháp lý và thục tiễn của đề tài

* Cơ sô pháp lý

- Tổng thể ác quy phạm pháp luật của Việt Nam về chảo bán chứng

khoán ra công chúng: Luật Chứng khoán năm 2006 và Nghi đmh số 14/2007/NĐ-CP sủa Chính phú hưởng dẫn chỉ tết thủ hành một số điều của

Imật Chứng khoán dặt trong mắi quan hệ hài hèa tổng thể với hệ thông pháp

luật có liên quan của Việt Nam, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,

- Pháp luật vẻ chứng khoán và TTCK của một nước trên thế giới gồm:

Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan

- Các nguyên tắc của IOSCO trong hoạt động chào bán chứng khoán

Trang 12

- Phương pháp đọc tải liệu, trích lọc và tổng hợp: Dây là phương pháp

nghiên cứu chủ đạo và được sử dụng xuyên suốt quá trình xây dựng luận văn

nảy Phương pháp này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu và

giải quyết các vấn đề đặt ra tại Chương ! của luận văn Trên cơ sở đọc, nghiên cứu, tổng hợp oáo tải Hiệu trong và ngoài nước, tác giá đã khải quái hóa

một số vấn đề có tỉnh lý luận chung về chứng khoán và TLCK, về chào ban

chứng khoán ra công chúng, về các nguyên tắc của IOSCO về hoạt động chảo

°bán chứng khoán ra công chúng, gáp phân hướng tới mục tiểu làm sáng tổ cơ

sở lý luận của pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chứng,

- Cũng giống với phương pháp dọc tài liệu, trích lọc và tổng hợp,

phương pháp so sánh và phân tích cũng được tác giả sử dụng một cách triệt để

†ại luận văn này Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này mang lại hiệu quả

cao nhất khi xử lý các vấn dé đặt ra tại Chương 2 của luân văn Thông qua so

sánh một số nội đưng cơ bản của pháp luật về chảo bán chứng khoản ra ông,

chúng theo pháp luật Việt Nam vả pháp luật một số nước như Hoa Kỳ, Nhật

Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan , luận văn đã làm rõ những điểm

gidng và khác nhau cơ bản giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước

để tù đó phân tích, đánh giá, rút ra các nhận xét về hệ thống pháp luật về chào

bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam

- Nếu như ở lại Chương 1 và Chương 2 oủa luận văn chỉ sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu nhất định thì tại Chương 3 của luận văn lại là sự

kết hop nhuan nhuyễn của tổng hợp các phương pháp nghiên cửu bao gồm rà soát thống kê, trích lọc, so sánh, phân tích và tổng hợp Việc kết hợp các

phương pháp nghiên cứu này lại Chương 3l, một chương có thể nói là quan

trọng nhất của luận văn này, dã dem lại một số kết quả chính cho luận văn này

đỏ là: đánh giá được thực trạng thực thi pháp luật về chảo bán chứng khoán ra

công chúng tại Việt Nam, nêu bật những điểm vướng mắc, hạn chế của hệ thẳng pháp luật này tại Việt Nam, từ đó luận vẫn đưa ra một số đề xuất nhằm

hoan thién pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng của Việt Nam

Trang 13

” Những đóng gúp mới của luận văn Với việc tập trưng nghiên cứu một lĩnh vực mới, chưa được nghiền

cứu sâu tại Việt Nam, đó là một số vấn đề pháp lý về chảa bán chứng khoán

ra công chúng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước, luận vấn đã

có một số đóng góp nhất định, cụ thể như sau:

Thứ nhất, từ việc phân tích về các khái niệm, định nghĩa về chứng khoán

và TTCK cũng như các đặc điểm cơ bản của TTCK, tác giả đã chỉ rõ một số

diễm khác biệt giữa TTCK thời kỳ sơ khai và TTCK trong nền kinh tế hiện

đại, đồng thời đưa ra định nghĩa về chứng khoán và 1'FCK xuất phát từ bản

chất và các đặc điểm của TTCK

Thứ hai, luận văn đã khái quát hóa một số vẫn đề lý luận về chảo bán

chứng khoản ra công chúng, phân tích, làm rõ các đặc điểm của hoạt động

chao bản chứng khoán ra công chúng thông qua việc so sảnh những điểm giống vả khác nhau cơ bản giữa hoạt đông chào bán chứng khoán ra công

chúng và hoại động chảo bán chứng khoán riêng lé

Thứ ba, luận văn đã nghiên cứu đúc kết được một số đặc điểm cơ bản của khung pháp lý điều chỉnh hoạt động phảo bán chứng khoán ra sông chúng,

của Việt Nam và một số nước trên thể giới, chỉ rõ những điểm giống và khác

nhau cơ bản giữa quy định pháp luật của Việt Nam và của một số nước về chảo bán chứng khoán ra công chủng dễ từ đó, đánh giá tính tương thích, sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước cũng như với thông

lệ quốc tế về chảo bán chứng khoán ra công chúng,

Thứ tư, luận văn đi sâu phân tích thực trạng thực thi pháp luật về chào

bán chứng khoản ra công chúng Lại Việt Nam trong thực tiễn, chỉ rõ những

diễm vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam về chào ban

chứng khoán ra công chủng

Thứ năm, luận văn đưa ra một số đề xuất hoàn thiện cdc vin ban pháp

luật chung về chứng khoán và TTCE và các văn ban pháp luật chuyên ngảnh

Trang 14

về chứng khoán và TTCK, đặc biệt là Luật Chứng khoán Các đề xuất này

vừa có tỉnh thời sự, vừa có tính ứng đựng cao trong thực tiễn đo hiện nay

Quộc hội đang xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoản nhằm khắc phục

các vướng mắc, hạn chế trong quy định hiện hành, đáp ứng yêu cầu đặc thủ và

thực tẾ của hoạt động chứng khoán và TTCK cũng như xu thể hội nhập với

'TTCK các nước và khu vực

Với các đóng góp có tính mới nêu trên, tác giả cho rằng luận văn vừa mang giá trị thời sự, có thê ding lim tai liệu nghiên cứu cho các cán bệ trong

ngành chứng khoán trong hành trang trí thức hội nhập kinh tế quốc tê, vừa có

giá trị ứng dụng trong thực tiễn

8 Kết cầu của luận văn

Ngoài phan mở đầu, kết luận và đanh mục tải liệu tham khảo, nội

dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Một sô vẫn đề lý luận về chào bán chứng khoán ra công chúng

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về chào bán chứng khoán ra công chúng

trong Lương quan so sánh với quy định pháp luật của một số nước

Chương 3: Thực trang thực thì pháp luật về chào bản chứng khoán ra

công chúng tại Việt Nam và một số dễ xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về

chào bán chứng khoán ra công chủng

Trang 15

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN

VỀ CHÀO BẢN CHỨNG KHOẢN RA CÔNG CHUNG

1.1 KHÁI NIỆM CIIUNG

Tiện nay có rất nhiều cuốn sách cũng như công trình khoa học nghiên

cứu về lịch sử hình thành và phát triển của TICK Theo Từ diễn Bách khoa

toàn thư Việt Nam, TTCK ra đời từ thế kỷ 17 và vai trò của nó ngày càng được

nâng cao củng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản [44] Tuy nhiên, có nhiều

tai liệu nghiên cứu cho ring, TTCK ban dầu xuất hiện vào giữa thế kỹ 15 ở

Phương Tây một cách rất tự phát vả sơ khai Lúc đầu chỉ là một nhóm nhỏ các

thương gia thường tụ tập lại tại các quán cả phê để trao dổi mua bán các vật

phẩm hàng hóa, sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuỗi thế kỷ

15, khu chợ trở thành "thị trường" và hình thành nên các quy tắc có giá trị bắt

buộc chung cho mọi thành viên tham gia "thị trường" Phiên chợ riêng đầu

tiên được điễn ra năm 1453 tại gia đình Vanber & Bruges (Bi) dé trao đổi,

mua bán kỳ phiểu nước ngoài hay các loại giấy tờ cú giá khác Tại dây, người

ta treo một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp là "Dourse", có nghĩa là "Mậu dịch thị trường" hay "Sở giao dịch" [15, tr 25]

Thị trường thời kỳ sơ khai này có một số đặc điểm cơ bản đó là

- Thị trường được hình thành một cách tự phát với sự tham gia của các

nhả đầu cơ, chưa có sự tham gia của công chúng dau tu

- Hoạt động của thị trường clưa có sự quản lý bởi cơ quan nhả nước

cũng như chưa có sự diều chỉnh bởi hệ thống pháp lý nào Trong quá trình

giao dich mua ban, cdc thánh viên thdng nhất với nhau các quy ước và dần

dần những quy ước này trở thành những nguyên tắc chung có tính bắt buôc

đối với các thành viên tham gia thị trường,

Trang 16

- Các giao địch được điễn ra ở ngoài trời, phương thức giao địch rất đơn

giản với những ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng,

- Hàng hóa giao dịch trên thị trường đơn giản và it ching loại, chỉ bao

pồm kỳ phiểu nước ngoài, khế ước nợ và trải phiếu Chính phủ, dược gọi

chung là chứng khoán

Chứng khoán thời kỳ nảy được hiểu đơn giản là loại tài sản mang lại thu nhập cho người sở hữu và khi cần người sở hữu có thế bán để thu tiền về

Chứng khoản có dầy đủ các đặc trưng của tài sản, dó là các quyền chiếm hữu, sử

dụng và định đoạt Tuy nhiên, biểu hiện của các quyển năng trên rất khác nhau,

tùy thuộc vào mục đích của người sở hữu chứng khoản và loại chứng khoán

Thị trường chứng khoán cảng ngày cảng phát triển đến mức không thể

thiểu trong nên kinh tế của các nước theo cơ chế thị trường Ở các nước có

nền kinh tế phát triển, mỗi TTCK lại cỏ nhiều Sở giao dịch chứng khoản

(SGDCK) khác nhau Ví dụ như ở Mỹ LICK Mỹ xuất hiện từ năm 1792

nhưng đến năm 1800, SGDCK đầu tên mới được thành lập và sau đó hàng,

loạt các 8GI2CK dược thành lập trên khắp nước Mỹ Hai SGDỚK lâu dời

nhất và nổi tiếng nhất Mỹ là SGDCK NewYork (NYSE) (nay đổi tên là

NYSE Buronext) va SGDCK NASDAQ Tai Nhat cé § SGDCK trong đó lớn nhất là các 8GDCK Tokyo, Osaka, Nagoya, Kyoto 15, tr 28-30]

TTCK nyay nay cũng có nhiều tên gọi khác nhau phụ thuộc vào từng loại hình TCK vả từng quốc gia như: Security Market, Stock Market,

Stock Exchange

Vậy TTCK là gì? TTCK trong nền kinh tế hiện đại có gì khác so với

thị trường chứng khoán thời kỳ sơ khai trước đây?

Có nhiều khái niém vé TICK Gido winh TICK - Truong Đại học

Ngoại thương dưa ra dịnh nghĩa về TICK dó là "một thị trường mà ở nơi đó

người ta mua bản, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoản nhằm mục đích

kiếm lài" [26] Bach khoa toàn thư mở Wikipedia lại đưa ra khái niệm "Thi

Trang 17

trường chứng khoản là nơi diễn ra các hoại động giao dịch mua bắn các loại chứng khoản Việc mua bán dược tiễn hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ

cấp, do vay thị trường chứng khoán là nơi chứng khoản được phát hành và

trao đãi" [45] Giáo trình Những vẫn dé cơ bản về chứng khoan va TUCK do

Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Dảo tạo chứng khoán - UBCKRN biên

soạn mặc di qua nhiều lần chính sửa nhưng TTCK vẫn dược dịnh nghĩa là

"noi dién ra các hoại động trao đối mua bản, chuyển nhượng các loại chứng

khoản, qua dé thay déi các chủ thê nắm giữ chứng khoán "[15, tr 33]

Củng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học

phương thức giao dich trén TTƠK đã dược cải tiễn ngày cảng hiện đại, chuyển

dần từ giao dịch thủ công kết hợp với máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ

thống giao dịch điện tử Do vậy, TTCK không còn chỉ là một nơi, một địa điểm nhất định mà tại đỏ chứng khoán được giao dịch, mua đi bán lại Lừ người nảy sang người khác TTCE còn có thể là bất cử hình thức nào tập hợp người mua

và người bán chứng khoán và chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán

Theo Luật Chứng khoán Việt Nam, khái niệm về TTCK đã được

mô rộng, theo đỏ, "thị (rường giao địch chứng khoản là địa điểm hoặc bình

thức trao đổi thông tin đề tập hẹp lệnh mua, bán và giao dịch chứng

khoản" [20, khoản 18 Điều 6]

Mặc dù vậy, các định nghĩa mới chí ra được mặt hình thức của TTCK

ma chưa chí ra được bản chất của TTCK Xét về mặt bản chất, TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm Dễ huy động vốn cho đầu tư,

những người thiểu vốn phát hành ra các công cụ tải chính như cổ phiếu, trải phiếu Những người có vốn nhàn rỗi thay vi đầu tư vào máy móc thiết hị, nhà

xưởng để sẵn xuất hàng hóa hay cung cắp dịch vụ thì sẽ đầu tư vào các chứng

khoán được phát hành bởi những người cần huy đông vốn Như vây thông qua TTCK, nguồn vốn được dẫn trực tiếp từ người cung vến sang người cầu

vốn mà không phải qua bất kỳ tổ chức trung gian nào Thông qua TTIOK,

những người có chứng khoản có thể mua đi, bán lại các chứng khoán đã được

10

Trang 18

phát hành theo giá cả thị trường sau một thời gian nhất định nhằm mụo đích

kiểm lời Tuy nhiền, việc mua bản, trao dổi các chứng khoán thực chất chỉ là sự

thay đổi các chủ sở hữu nắm giữ các chứng khoản đó, còn giá trị thực của

chứng khoán lại được biểu hiện đưới dạng các nguồn vốn như tiền mặt tư liệu

sẵn xuất, sản phẩm, bán thành phẩm tồn tại trong tổ chức phát hành chứng, khoán dé va gia tri này có thể tăng hoặc giảm tủy thuộc hiệu quả của hoạt động kinh đoanh, sản xuất của tổ chức phát hành Vi vậy, Các Miác còn gọi “chứng,

ân chất

khoán" mua bán trên thị trường là "tư bản giả" [25, tr 11-12] Do đó,

của TICK không chỉ phấn ánh các quan hệ mua, bán chủng khoán mả còn

biểu hiện quyền sở hữu và quyền sứ dựng các nguồn vốn trong cáo tổ chức

'TTCK là nơi

phát hành dưới dạng tư liệu sân xuất và vốn bằng tiền Như ví

mua, bán các quyền sở hữu vốn đưới dạng các chứng khoán [25, tr 12]

Về bản chất, TTCK ngày nay không có gì khác so với thời kỳ sơ khai trước đây nhưng lai cỏ nhiều đặc điểm riêng biết thể hiện sự phát triển ngày cang cao cla TICK

Trước đầy, nói đến thị trường nói chung hay TTCK nói riêng, người ta

thường hình dung đến một địa diễm hay một không gian nhất định và tại day

người ta có thể mua hay bán các loại hàng hóa, các loại chứng khoán nhất định Ngày nay, với sự phát triển bủng nỗ của công nghệ thông tin và thương, mại diện tử, việc mua, bán chứng khoán dược thực hiện thông qua nhiều

m cu thé nao ca

G giai doạn dầu, TTCK có tổ chức đơn giản, không có sự quản lý của

cơ quan quản lý nhà nước, hoạt động của TTCK chỉ được điều chỉnh bởi các quy tắc do thành viên thị trường dặt ra mà không phải là các quy dịnh pháp lý

do nhà nước ban hành Ngày nay, TTCK có cơ câu tổ chức chặt chế, phức tạp,

có cơ quan quản lý điều hành Hoạt đông của TTCK phái tuân theo những

quy tắc nhất định do pháp luật từng nước quy định vả phải phủ hợp với quy

luật khách quan của nên kinh lế thị trường cũng như thông lệ quấc tế

11

Trang 19

'Về khái niệm "chứng khoán", củng với sự phát triển của TTCK, khái

miệm "chứng khoán" cũng ngày càng mở rộng Trước đây, Luật Chứng khoản

của nhiều nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống luật lục địa/luật La mã, đưa ra khái niệm "chứng khoản" theo nghĩa hẹp với một danh mrrụe cụ thể các công cụ Những danh mục nảy giới hạn một oách rõ rằng quy mô của Luật,

nhưng cũng tạo ra khả năng lĩnh hoạt nhất định để dáp ứng sự phát triển, thay

đổi của thị trường tải chính Theo đó, một loạt các công cụ tải chính, bao gdm

cä các công cụ có độ rủi ro cao, không được điều chỉnh

Mức độ và tắc độ thay đổi của thị trường tài chính trong vòng hai thập

kỷ qua dã pia tăng dáng kế yêu cầu phải có một dịnh nghĩa linh hoạt hơn về

chứng khoán Diéu này được thể hiện trong công cuộc cải cách thị trường tải chỉnh ở nhiều quốc gia trong 10 năm vừa qua Công cụ chứng khoán luôn

được thay đổi và có xu hướng ngày cảng phát triển, đa dạng các loại sản

phẩm, đặc biệt là sản phẩm phải sinh Do vậy, pháp luật của nhiều nước,

ngoài việc quy định các chứng khoán mang tính phổ biển, đễ xác định (như cễ

phiếu, trải phiếu, chứng chỉ quỹ .) còn quy định các nguyên tắc, bản chất của chứng khoán dễ trên cơ sở dó cơ quan quản lý có căn cứ điễu chỉnh linh hoạt

đối với các loại sản phẩm mới

Ví dụ như tại Dạo Luật chứng khoán năm I933 của Hoa Kỳ, tại

phần 2(a) đưa ra khái niệm về chứng khoán theo cách thức liệt kế, theo đó

"Thuật ngữ "chứng khoán" có nghĩa là bất cử giấy tờ, cổ phiểu, có phiếu quỹ,

công cụ chứng khoán tương lai, trái phiếu, giấy nợ, bằng chứng về công nơ,

chứng nhận về lợi ích hay tham gia bất cứ thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận nào,

chứng chỉ tín thác - cầm cổ, chứng nhận hay đăng ký tham gia thành lập tổ

chức, cổ phiểu chuyển đổi, hợp dồng dầu tư, chứng nhận bỏ phiếu, chứng

nhận đặt cọc vê chứng khoán, lợi ích không thể phân chía liên quan đến đầu,

khí hay bất cử quyền gì về khoáng sản, bất cử quyền mua, bán, hop ding chứng khoán hai chiều, quyền mua hay đặc quyền đối với chứng khoán,

chứng nhận tiền gửi, hay nhóm các chỉ số hoặc chỉ số chứng khoán (bao gồm

12

Trang 20

bat cứ lợi ích liên quan hay trên cơ sở các giả trị đó), hoặc bắt cứ quyền mua,

ban, hop đồng chứng khoản hai chiều, quyền mua hay đặc quyền về chứng

khoán quốc gia liên quan đến ngoại tệ, hoặc nói chung là bắt cứ lợi ích hay công cụ nào được hiểu là "chứng khoán", hoặc bất cứ chứng chỉ lợi ích hay sự

tham gia, kế cả tạm thời, đưới đạng giấy biên nhận, giấy bảo lãnh, hay chứng quyền, quyền mua hay quyền đặt mua những công cụ nói trên

‘Tai Nhật Bản, luật công cụ tài chính và Sở giao địch (F]HI,) thay thế cho Luật Chứng khoản và Sở giao địch năm 2007, kế thừa phiên bản trước,

Điều 2 (Định nghĩa thuật ngữ) FIEL cũng đưa ra một danh mục các sản phẩm

diễn chỉnh - chứng khoán và công cụ phải sinh - tuy nhiễn đã mở rộng pham

vi điều chỉnh ra đối với hơn 20 chứng khoán bao gồm trái phiếu Kho bạc, trái phiếu công ty, chứng chỉ cễ phiếu, chứng chỉ quyền lợUlợi ích đối với quỹ tín

thác Ngoài những công cụ được liệt kê trong danh mục, câu cuối cùng của

Điều 2 cho phép bao quát các chứng khoản hay chứng chỉ khác nếu "cần thiết

để đâm bảo lợi ích hay để bảo vệ nhà đầu tư"

Luật về chứng khoán và Sở giao dich cia Hin Quốc, Chương l, Tiểu 2

(Định nghĩa thuật ngữ) trong phiên bản sửa đổi năm 2002 quy định: Thuật ngữ "chứng khoản" trong luật này có nghĩa là những công cụ dưới dây: Trải phiếu Chính phủ; Trái phiếu chính quyên địa phương, Trái phiếu phát hành

bởi công ty được thành lập theo Đạo luật cụ thể, Trái phiếu công ty; Các

chứng chỉ tham gia/đóng gop phát hành bởi công ty dược thành lập theo Đạo luật cụ thể; Chứng chí cổ phiêu hay các công cụ đai diễn cho quyền mua ưu tiên, Các chứng chỉ hay công cụ do doanh nghiệp nước ngoài phát hành, có

cùng bản chất với các công cụ được liệt kê Lừ khoản 1 đến khoản 6 Điều này;

Chứng chỉ lưu ký chứng khoán phát hành bởi đối tượng dược quy dinh trong, Nghị định (Presidential Decree) trên cơ sở chứng chỉcông cụ gốc do doanh nghiệp nước ngoài phát hành và Các chứng chữcông cụ khác được quy dinh trong Nghi dinh (Presidential I3eeree) có tính chất tương tự hay liên quan đến các công cụ liệt kê từ khoản 1 đến khoản 8 Diéu nay

13

Trang 21

Ở Việt Nam, trước năm 1998, chưa có khái niệm "chứng khoán" mả

chỉ có các khái niệm về "cỗ phiếu" và "trái phiếu" Các khái niệm này ra đời

năm 1993 cùng với sự ra đời của Luật Công Ly cho phép doanh nghiện được

phép phát hành cỗ phiếu và trái phiêu để huy động vấn Nhằm khuyến khích việc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong nước và nước ngoài,

ngày 11/7/1998, Chính phú dã ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng, khoản và TTCK Tại văn bản này, khải niệm "chứng khoản" lần dầu tiên được xuất hiện và được định nghĩa "/à chúng chỉ hoặc bút toán ghỉ số, xác nhận

các quyên và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoản đối với tài sản hoặc vốn của tỗ chúc phát hành Chúng khoán bao gầm: cỗ phiểu; trái phiểu: chứng chỉ quỹ đầu tu vd các loại chứng khoán khác"

Chứng khoán, theo định nghĩa tại Luật Chứng khoán Việt Nam năm

chủng chi quit; (4) quyén mua cé phan; (5) chứng quyền; (6) quyên

chon mua, quyén chon bén; (7) hợp đồng tương lại; (8) nhóm

chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán [20, khoin 1 Điều 6]

Luật Chúng khoán Việt Nam năm 2006 đưa ra định nghĩa về 7 loại

chứng khoán trong số 8 loại chứng khoán néu trên, cụ thể như sau:

~ Cả phiêu: CÃ phiểu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích

hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cố phần của tổ chức phát

hành (khoản 2 Diễu 6) Cỗ phiểu được phát hành khi công ty cỗ phần huy động vẫn dé thành lập công ty hoặc trong khi công ty cô phần huy động thêm vốn phục vụ cho hoại động sẵn xuất kinh doanh Số vốn đó được chỉa thành nhiều phần bằng nhau gọi là số phần Người sở hữu cỗ phiếu gọi là sổ đông

14

Trang 22

Trái phiếu: Ngoài cỗ phiếu, trái phiếu có thể được phát hành để vay

vốn phục vụ cho việc mở rộng phát triển hoạt động sẵn xuất kinh đoanh của

doanh nghiệp hoặc cho nhu cẩu chỉ tiêu của Chính phủ Trái phiếu có thể do công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cỗ phần phát hành Người nắm giữ

trái phiếu là chữ nợ cũa tổ chức phát hành, được gọi là trái chủ và không có

quyền sở hữu công ty như những cổ dông Trái phiếu là loại chứng khoán xác

nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ng- ời sở hữu đối với một phần vốn nợ của

tổ chức phát hành (khoản 3 Điều 6),

- Chứng chỉ quỹ đân (_ là loại chứng khoán xắc nhận quyền sử hữu

của nhà dầu t- đối với một phần vốn góp của Quỹ đại chúng (khoản 4 Điều 6)

- Quyên mua cố phân: là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát

hành kỡm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung, nhằm đảm bảo cho cổ đông

hiện hữu quyển mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã đ-ợc xác định

(khoản 5 Điều 6)

- Chứng quyền: là chứng khoán đ- ợc phái hành phát hành cũng với

việc phát hành trái phiếu hoc cổ phiếu -u đãi, cho phếp ng- ời sở hữu chứng,

khoán đ-ợc quyền mua một khối l-ợng cổ phiếu phổ thông nhất định theo

mức giả đã đ- ợc xác định tr- ớc trong thời kỳ nhất định (khoản 6 Điều 6)

- Quyển chọn mua, quyên chọn bán: là quyền d- ợc ghi trong hợp đồng

cho phớp ng- ời mua Iya chon quyén imnua hoặc quyển bán ruột số l-ợng chứng

khoán đ- ợc xác định tr- ớc trong khoảng thời gian nhất định với mức giá đ- go xác định †r- ớc (khoản 7 Điều 6)

lợp đồng ¡ống lai: là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán,

nhóm chứng khoán hoặc chí số chứng khoán nhấi định với rnột số l-ợng và mức giá nhất định vào ngày xác định tr- ớc trong t- ơng lai (khoản 8 Điều 6)

Mặc đủ mỗi nước đều đưa ra các định nghĩa nhau về hứng

khoán, tay thuộc vào trình độ phát triển của thị trường cũng như năng lực

quản lý của mỗi nước nhưng về bản chất chứng khoán là các loại giấy tờ có

15

Trang 23

giá hoặc là bằng chứng xác nhận quyền lợi ch hợp của người nắm giữ đối với

một loại tài sản nhất định mà để trở thành chứng khoán phải đáp ứng các điều

kiện sau: (1) Là bằng chứng xác nhận quyền sở hữu đổi với tài sản đó; (2) Có khả năng giao địch và (3) Được pháp luật thừa nhận

Chứng khoản bao sằm 5 nhóm chỉnh là cổ phiếu, trải phiểu, chứng chí quỹ dầu tư, các công cụ chuyển đỗi và ác công cụ phải sinh Căn cử vào tỉnh chất các chứng khoản được giao dịch, TTCK có thể được chia thành thị trường cễ phiếu, trải phiểu và thị trưởng các công cụ phải sinh

- Thị trường cỗ phiêu là thị trường nơi các cỗ phiếu được phát hành và

giao dich Thị trường cỗ phiếu gồm có thị trường cổ phiểu sơ cấp và thi trường cỗ phiểu thứ cắp

- Thi trưởng trải phiêu là thị trường nơi các trải phiếu dược phát hành

và giao địch, thị trường trải phiếu cũng gầm có thị trường trái phiếu sơ cấp và thị trường trái phiêu thứ cấp

~ Thị truồng các công cụ phái sinh bao gồm thị trường các hợp đồng tương lai chứng quyền, các quyền chon mua, chon ban

Căn cử vào sự luân chuyển các nguồn vẫn, TTƠK dược chia thanh hai

thị trường: thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch

(thị trường thử cắp)

~ Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi các chứng khoán lần đầu tiên

được phát hành Việc phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp nhằm huy

động vốn cho tổ chức phát hành, qua thị trường nảy những nguồn vốn nhàn

rỗi trong công chúng và các tố chức kinh tế xã hội có thé chuyển thành vốn

dẫu Lư dài hạn cho Lỗ chức phát hành chứng khoán

- Thị trường chứng khoán tĩnr cấp là nơi mua di ban lại các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp vì vậy còn gọi là thị trường giao dịch Việc phát hành chứng khoán đem lại cho chỉnh phủ vá các công ty

16

Trang 24

những nguồn vốn lớn, nhưng sẽ không thể tiếp tục phát hành ngảy cảng nhiều loại chứng khoản nếu việc huy động vốn chỉ dùng lại ở việc sở hữu chứng khoán Nếu những người nắm giữ chứng khoán có thể đễ dàng chuyển nhượng chứng khoán để thu hồi vốn bất kỷ khi nào họ muốn thi họ sẵn sảng tiếp tục mua

chứng khoán mỗi khí có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư Khi chứng

khoán đã có đủ hai công dụng là tính sinh lãi và tính đễ chuyển nhượng - tức là

tính thanh khoản - thi mới thực sự trở thành hàng hóa Vì vậy xuất hiện nhu cầu

cần có cơ chế mua bán chứng khoán trên thị trường, co ché này là thị tường mua bán lại các chứng khoán đã phát hành - thị trường thứ cấp [27, tr 12-14]

Giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mỗi quan hệ tương táo

gắn bó chặt chẽ với nhau Nếu l‹hông có thị trường sơ cấp thì không có hàng hóa để lưu thông trên thị trường thứ cấp Có thị trường sơ cấp nhưng chưa có

thị trường thử cấp thì cũng chưa có TTCE TTCK chỉ ra đời sau khi đã có thị

trường thứ cấp, nếu không có sự tổn tại của thị trường thứ cấp thi thị trường,

sơ cấp cũng khó có thể phát triển và hoạt động có hiệu quả Thị trường sơ cấp

tạo ra hàng hóa cho thị trường thứ cấp, thị trưởng thứ cấp phát triển, có tính thanh khoản cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn ở thị trường

sơ cấp và định giá chứng khoán theo cơ chế thị trường

Xuất phái tử băn chất và các đặo điểm của chứng khoản va TTCK, có

thể rút ra định nghĩa về chứng khoán và TTCK như sau: Chứng khoán là các loại giấy lò có giá hoặc bằng chứng xác nhận quyên lợi ich hop của người

năm giữ đối với một loại tài sản nhất định và được cơ" quan nhà nước cá thấm quyên thừa nhận nó là chúng khoản cho phép giaa dịch trên thị trường

chứng khoản Còn TTCK là nơi huy động và phân phối các nguồn vốn cho cóc doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nên kinh tê quốc dân, là nơi

điền ra các hoạt động mua và bản chứng khoán hoặc là bắt cứ một hình thức

nào tập hợp những người mua và bán dé giao dịch chúng khoản theo các

nguyên tắc của thị trường nhằm mục dich kiếm lời

17

Trang 25

1.1.2 Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng Khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng lả vẫn để vô cùng quan trọng, nó xác định phạm vì quân lý của nhà nước, xác định ranh giới giữa một bên là được coi là chào bán chứng khoán ra công chủng và một bên được coi là chào bán chứng khoán riêng lẻ

Chào bán chứng khoán riêng lẻ lả việc chủ thể phát hành chảo bán chứng khoản của mình trong pham vi một số người nhất định (thông thường

là cho các nhà đầu tư có tổ chức, các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp

(các ngân hàng thương mại, công ty cho thuê tải chính, các tổ chức kinh

đoanh bảo hiểm, tế chức kinh doanh chứng khoán ) có ý định nắm giữ

chứng khoán một cách lâu dài chứ không phát hành rông rãi ra công chúng

đầu tư như đối với hình thức chảo bán chứng khoán ra công chủng Còn chảo

ban chứng khoản ra công chúng là việc chảo bán trong dé chứng khoán có thể

chuyển nhượng dược bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người dầu tư nhất định (trong dó phải dành một tỷ lệ cho các nhà dầu tự nhỏ) và

khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định

Việc phân biệt chào bán chứng khoán riêng lê vả chào bản chứng, khoán ra công chủng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công,

chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt déng sản xuất kinh

doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà

đầu tư nhỏ thiểu hiểu biết Dồng thời, đây cũng là điều kiện để xây đựng một

'TTCK an toàn, công khai và có hiệu quả

Dưới góc độ kinh tế thì hoạt ding chào bán chứng khoản bao gằm các

hoạt động chính lả chảo mời, bán và phát hành chứng khoán cho công chúng Các chú thể muễn huy động vốn trên TTCK thì phải tiên hành các hoạt động

chào mời các nhà đầu tư góp vốn bằng cách mua cỗ phiếu, trái phiếu hay cdc

chứng chi do các chủ thể đó phát hành Còn dưới gác độ pháp luật, chảo bán

chứng khoán là một chế định pháp luật gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật

18

Trang 26

quy định điều kiện, thủ tục chao bán chứng khoản và điều chỉnh cấc quan hệ phát sinh giữa các chữ thú trong quá trình chảo bán chứng khoán

Chào bán chứng khoán ra công chúng là một trong những nội đụng co

bắn và chủ yếu được pháp luật chứng khoán các nước quy định Tuy nhiên,

mỗi nude cé cach dat van dé khac nhau va có quy định khác nhau về chảo ban

chứng khoán ra công chúng Có nước sử dụng cách quy định miễn trừ, tất cả những trường hợp chào bán không thuộc phạm vì miễn trừ thì đều được coi là chào bán chứng khoán ra công chủng (diễn hình lá Hoa Kỷ), có nước lại sử

dụng cách liệt kê dể đưa ra định nghĩa về chảo ban chứng khoán ra công

chúng; có nước quy định theo giới hạn về vốn, cỏ nước quy định theo giới

hạn về số người dầu tư (Pungaria, Anbanic ), có nước lại vừa sử dụng cách

liệt kê vừa sử dụng cách quy định miễn trừ

Tham khảo một vải quy dinh của một số nước, vi dụ luật Chimg khoán Bungaria 1999 quy định những trường hợp được coi lá chảo bán chứng khoán ra công chúng như sau: "Chảo bản chứng khoản ra công chúng là việc

chào bản để trao đổi chứng khoản hoặc đề nghị mua lại chứng khoản trong trường hợp tối tiểu 50 người, hay mỘI số lượng người xác định, bao gdm ca

việc thông qua các phương tiện thông tin dại chuing "[19, Điều 4]

Anbanic la nước quy định phạm vi quản lý đơn giản nhất, theo đó Luật Chứng khoán Anbanie quy dịnh chảo bán chứng khoản ra công chúng là việc chảo bản cho trên 50 người [37, tr 18]

Luật Chứng khoán Pháp quy dịnh: Việc chào bản chứng khoán ra công, chúng, được hiểu là việc che phép một công cụ tài chính dược mua bán trên thị trường có quản lý hoặc là việc phát hành hay nhượng bán công cụ tải chính ra công chúng có sử đụng quảng cáo, vận động hoặc thông qua các t chức trung

gian Số người cụ thể do Ủy ban Chứng khoán quy định là 300 người [37, tr.17|

Tuuật Chứng khoản Ta Lan 1997 quy định chào bán chứng khoán ra

công chúng là “để nghị chào bán hoặc việc bán chứng khoản được phát hành

19

Trang 27

theo đạt thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông qua hình

thức khác nêu như việc chào bản nói trên là nhằm mục đích bản cho hon 300

người hoặc cho số lượng người mua không được nêu rỡ" [28, Diều 2]

Truật Chứng khoán Công hỏa Belarus (Điều 8) quy định:

“Chao bán chứng khoản ra công chúng lò trường hợp tỖ chức phát hành thông báo việc chào bán hoặc khi việc phát hành

đáp ứng được í nhất một tiêu chí sau: Chúng khoán được phát hành cho những đối tượng không thê xác định trưộc, bao gồm các pháp nhân và cá nhân; Chứng khoản được chào bán cho hơn 100 pháp nhân và cả nhân ” |3]

Luật Chứng khoán Trung Quốc sửa đổi bổ sung năm 2005 phân định

rỡ thế nào là phát hành rộng rãi ra công chúng: (1) V-ợt quá 200 nhà đâu t- hoặc (3) Khảng đạt 200 nhà đâu 1- nh- ng có đăng quảng cáo để phát hành (sử dụng thông tin đại chúng) [37]

Theo thông lệ quốc tế, chảo bán chứng khoán ra công chúng là quả

trình bắt đầu từ việc tổ chức phát hành chào mời người đầu tư mua chứng, khoán của mình và kết thúc băng việc phát hành chứng khoán Hoạt động

phát hành chứng khoán chỉ là một khâu trong quá trình mời chào, phát hành

và bán chứng khoán Để bảo vệ công chúng đầu tư và đuy trì lòng tín đối với

TTƠK, luật pháp về chứng khoản trên thể giới dều có những quy định quản lý

hoạt động chảo bán chứng khoán ra công chúng thông qua việc yêu câu và giám sát tổ chức phát hảnh thực hiện công bố thông tin ngay từ khi bắt dau chào mời công chúng đầu tư mua chứng khoán [24, tr 85]

Ở Việt Nam, Nghị định 48/1998/ND-CP và Nghị định 144/2003/ND-CP

trước đây không sử dụng khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng mà

sử dụng khái niệm "phát hành chứng khoán ra công chúng", theo đó, phát hành chứng khoán ra công chủng là việc chảo bán một đợt chứng khoán có

thể chuyển nhượng được thông qua Lỗ chức trung gian cho ÍL nhất 50 nhà đầu

Trang 28

tư ngoài tổ chức phát hành Dịnh nghĩa này chưa phù hợp với chuẩn mực

quốc lễ và trong thực tiễn đã tạo nên nhiều kế hở để gác tổ chức phát hành lách luật đế không phải tuân thủ các quy định về phát hành chứng khoán

Định nghĩa phát hành chứng khoản ra công chúng theo quy định tại Nghị định

48/1998/NĐ-CP và Nghị định 144/2003/NĐ-CP bao gầm gã hai Liêu chí ”S0

nha dầu tư ngoài tổ chức phát hành” và “thông qua tổ chức trung gian" Như

vậy, doanh nghiệp có thể phát hành cho trên 50 nhà đầu tư nhưng không

thông qua tễ chức trung gian để không phải đăng ký phát hành với UBCKNN

Ngay cá khái niệm "nhà dầu tư ngoài Lễ chức phát hành" cũng không rõ rằng

Liệu nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hảnh có phải là nhà đầu tư không trực tiếp

tham gia góp vốn và quản lý doanh nghiệp bay không? [24, tr 85-86]

Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua năm 2006 đưa ra định

nghĩa về chào bán chứng khoán ra công chúng thco các phương thức liệt kế,

oy thé

Chào bản chứng khoản ra công ching là việc chào ban

chứng khoản theo mỘi trong các phương thức, đó là thông qua

phương hện thông tin đại chúng, kế cả Internet; chào bản chứng

khoản cho từ một trăm nhà dẫu tự trở lên, không kế nhà dầu tư

chứng khaán chuyên nghiệp; hoặc chào bản cho một số lượng nhà

đu tứ không xác định [20, Khoản 12 Điều 6]

12 VAI TRO VA BAC DIEM CUA OAT BONG CHAO BAN CIEUNG

KHOAN RA CONG CHUNG

1.2.1 Vai trò của hoạt dộng chào ban chứng khoản ra công chúng

Nói đến 'TICK, người ta thường nhắc đên SGDCK nơi diễn ra các

hoạt động mua, bản giao dich chứng khoản mà ít ai nhắc dén hoạt đông chào

bán chứng khoán Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động chảo bán chứng khoản

lại có vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở các mặt như sau

21

Trang 29

- Thông qua việc phát hành chứng khoán, các đoanh nghiệp có thể huy

động vẫn từ những nguồn vốn nhản rỗi trong công chúng và các tô chức kinh

tế xã hội để có thể chuyên thành vén dau tu đài hạn đưa vào hoạt động sản

xuất kinh đoanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Chính phủ và

các chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các khoản vễn nhàn rỗi thông qua phát hành các loại trái nhiều Chính phủ, trái phiểu chính quyền

địa phương để phục vụ cho mục đích đầu tư, phát triển hạ tầng kinh tế, phục

vụ cho các chương trình, dự án đầu tư

- Hoạt động chao ban, phát hành chứng khoản của các chủ thể (doanh

nghiệp, Chính phủ, chỉnh quyền dịa phương ) lâm hinh thành nên TTCK sơ cấp, nơi diễn ra các hoạt động mua bán các chứng khoán lần đầu tiên được

phát hành

- Nếu không có hoạt động phát hành chứng khoản thi cũng không có

hàng hóa để lưu thông trồn thị trường thứ cấp, nơi mua đi bán lại các chứng,

khoán đã dược phát hành l2e vay, hoạt dông chào bán, phát hành chứng, khoán chỉnh là tiễn để cho sự ra đời và phát triển của TTCK (gôm TTCK sơ cấp và thứ cấp)

1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của hoạt động chào bán chứng khoán

ra công chúng

Như trên đã nói, có hai hình thức chào bán chứng khoản trên TTCKK

đó là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán riêng lẻ Hai hình

thức chảo bán này có những đặc điểm giống và khác nhau cơ bản Thông qua

việc phân tích những điểm giống và khác nhau giữa hình thức chào bán chứng

khoán ra công chủng và hình thức chào bản riêng lẻ, luận văn sẽ làm rõ những,

đặc điểm cơ ban của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng

1.3.3.1 Chủ thể chào bán chứng khoản ra công chúng

Chủ thể chào bán chứng khoản nói chung là các tổ chức thực hiện các hoạt động chào bán chứng khoản để huy động vốn Các chủ thể chảo bán

Trang 30

chứng khoán ra công cứng bao gồm Chỉnh phủ, các doanh nghiệp và các quỹ

đầu tư chứng khoản Các chủ thể này được gọi chung la 14 chức phát hành

a) Chinh phit

Có thể nói Chính phủ là chủ thé quan trọng nhất của hoạt động chảo bán chứng khoản Giống như các nước khác, ở Việt Nam, hoạt dộng chao ban chứng khoán của Chính phủ không được điều chỉnh bởi Luật Chứng khoán

ma dược diễn chỉnh bởi các văn bản pháp luật dưới dạng Nghị dịnh hay Thông tư do Ngân hàng nha nước và Dộ Tài chính ban hảnh Loại chứng

khoán đuy nhất mà Chính phủ phát hảnh để huy động vốn đó là trái phiểu

Chinh phủ phát hành trải phiêu nhằm huy động vốn vay từ dần chứng dễ dẫu

tư cho các dự án lớn, các dự án trọng điểm hoặc để bú dip bội chỉ ngân sách

vi vậy, việc chào bán trái phiếu Chính phủ không phải tuân thủ các điều kiện chào bản hay thủ tục đăng ký chảo bán như dối với hoạt động chao bán chứng, khoán của các loại hình doanh nghiệp khác

b) Doanh nghiện

Luật I2oanh nghiệp năm 2005 và Luật Chứng khoán Việt Nam năm

2006 đã loại trừ đối tượng là các cá nhân được phép thực hiện chào bán chứng

khoán Trong số 5 loại hinh doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp

năm 2005 chỉ có 3 loại hình doanh nghiệp được phép chảo bán chứng khoán

là doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Các doanh nghiệp tư nhân vả công ty hợp danh là các loại hình doanh nghiệp

còn lại tại Luật Doanh nghiệp không được thực hiện chảo bán bất cứ một loại

chứng khoán trên TLCK uy nhiên, do hoạt động chào bán chứng khoán ra

công chúng là hoại động có điễu kiện, vì vậy, không phãi doanh nghiệp nao

miêu trên cũng được chảo bản chứng khoán ra công chúng để huy động vốn Các doanh nghiệp muốn thực hiện chảo ban chứng khoán ra công chúng phải

đáp ứng đây đủ các quy định của pháp luật về điều kiện chào bán và trình tự

thú tuc chào bán cổ phần ra công chúng

23

Trang 31

Theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước và

công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được phép chào bán trái phiêu còn công ty cỗ

phan va cdc doanh nghiệp cổ phần hỏa mới dược chảo bán cổ phiếu Huy

động vốn bằng phương thức chào bán cổ phiếu là một quyền năng co bản, đặc

thủ của công ty cỗ phần, được quy định tại khoản 3 Điểu 77 Luật I2oanh nghiệp 2005 Căn cử vào hình thức chao ban cé phần ra công chúng thì chủ

thể chảo bán cổ phần ra công chúng - công ty cd phần, gồm các loại sau:

- Công ty đại chủng

Công ty đại chúng lá loại hình doanh nghiệp đã tổn lại từ lâu trên thế

giới Thông th- ng, khái niệm công ty đại chúng đ- ợc quy định trong Latật Công ty, cồn luật Chứng khoán chỉ quy định nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng Tuy nhiên, đối với những n- ớc mà các luật liên quan ch- a quy định thì Iuật Chứng khoán cổ quy định cụ thể về công ty đại chúng

Luật Chứng khoán Bungana: “Công ty đạt chúng là công ty: đã phát hành cổ phân của công ty theo các điêu kiện của việc phát hành ra công

chúng lân đâu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban Chứng khoán về việc phát hành

chẳng khoán với mục dich tham gia giao dich igi thi tr- òng chứng khoán d- ọc quản lý" [29, Điệu 110]

Luật chứng khoán Ba Lan: "Công ¿y đại chúng là công (y có cổ phiếu

của ít nhất một lần phái hành đợc chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng”

|28, Khoản 9, Điều 4]

Xem xét khái niệm vẻ công ty đại chúng ở luật Chứng khoán các nde thay rằng, các n-ớc th-ờng dựa vào mnội số tiêu chí nhất định để xác

định một công ty đại chúng, bao gồm:

(1) Là tổ chức thực hiện việc chào bán chứng khoán ra công chúng; (2) TR tổ chức có chứng khoản đ- ge niêm yết tại Sở giao dịch; (3) Là tổ chức phát hành có số I- ợng lớn nạ- ời sổ hữu chứng

khoán [24, tr 104]

Trang 32

Theo chuẩn mực quốc tế của IO8CO cũng như gác nguyên tắc quần trị

công ty được áp dụng phổ biến trên thế giới, các công ty có chứng khoán

được công chúng sở hữu rộng rãi và các bền liên quan phải thực hiện việc

công bố hông tín thường xuyên về cáo sự kiện quan trọng nhằm đấm báo

quyền lợi của người đầu tư Luật Chứng khoán các nước thường đưa ra những nguyên tắc cơ bản để dim bdo tinh minh bach eta các công ty đại chúng, bao gém cả các quy định về các giao dịch nhạy cấm, về chào thầu công khai nhằm

ngăn ngừa việc thâu tóm, sáp nhập các công ly đại chúng một cách không,

công bằng [24, tr 104]

© Việt Nam, loại hình công ty nay mới chỉ xuất hiện cách dây vải năm

và được ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Chứng khoán năm 2006

Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Chứng khoản, công ty đại chúng thuộc một trong các trường hợp sau: (ï) Là tổ chức thực hiện chảo bán

cỗ phiếu ra công chúng; (1) Là tổ chức niêm yết tại SGDCK (ii) Là công ty

cổ phần có trên 100 cổ đông, không kế nhà đầu tư chứng khoán chuyên

nghiệp và có vốn chủ sở hữu từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên

'Theo quy định nêu trên thì về bản chất, công ty đại chủng chính là công

ty cổ phân vì ngoại trừ điểm đi nêu trên thi một trong các điều kiện tiên quyết

dé dược thực hiện chảo bán cổ phiếu ra công chứng (ï) và được niêm yết trên

SGDCK (ii), đó là chủ thể chào bán phải là công ty cỗ phân Tuy nhiên, đó

không phải là công ty cổ phần thông thường, mà dó là công ty cổ phần dai chang

có quy mô và số lượng cỗ đồng lớn tức là công ty đó phải được sở hữu bởi số

đông các nhà đầu tư, mà íL nhất phải là trên 100 cổ đông, không kế các nhà

đầu tư chuyên nghiệp theo như quy đinh tại diém (iii) néu trên Do vậy đế

bảo vệ quyền và lợi ích của số đông các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ, pháp luật quy định ngoài việc phải tuân thủ các nghĩa vụ như dối với công ty cỗ phân theo như quy định của Luật Doanh nghiệp, công ty đại chúng cỏn phải tuân thủ các nghĩa vụ được quy dịnh riêng cho công ty dại chúng

theo quy định tại Luật Chứng khoán như nghĩa vụ báo cáo, công bồ thông tin,

25

Trang 33

nghĩa vụ phải thực hiện kiểm loán báo cáo lài chính năm hay nghĩa vụ phải

thực hiện dăng ký, lưu ký chứng khoản tại Trung tâm lưu kỷ chứng khoán

- Công ty cổ phần chưa đủ diễu kiện là công ty đại chúng,

Với dịnh nghĩa về công ty dại chúng tại luật Chứng khoán nêu trên thì công ty cổ phần chưa đủ điều kiện là công ty đại chúng chính là các công

ty cỗ phần có vốn dưới 10 tý dồng hoặc lả các công ty cổ phần mặc dù có vốn

chủ sở hữu lớn nhưng tổng số cỗ đồng tại công ty lại chưa đến 100 cổ đông,

không kể các nhà dầu tư chứng khoản chuyền nghiệp

- Công ty cổ phần tiễn thân lá có vốn dầu tư nước ngoài Ngoài chủ thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dã chuyển

đổi thành công ty cỗ phân, Luật Chứng khoản năm 2006 còn mở rộng cho

phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình chuyén đổi thành công ty cổ phần dược kết hợp thực hiện chảo bản cỗ phần ra công chủng,

Trong khi trước đây các hoạt động này phải được tiến hành theo hai giai đoạn

khác nhau, tức là đoanh nghiệp có vốn đầu Lư nước ngoài phải chuyển đổi

xong, trở thành công ty cỗ phần rôi thi mới được tiến hành các hoạt động chảo

bán chứng khoán ra công chúng Quy định tại Luật Chứng khoán đã tạo điều

kiện hết sức thuận lợi cho các doanh nghiệp có vễn đầu tư nước ngoài (công

ty trách nhiệm hữu hạn) có thể vừa thực hiện thủ tục chuyển đổi thành công Ly

cễ phần vừa có thể thực hiện các hoạt động chảo bán chứng khoản ra công,

chúng để huy động vốn, tăng vốn điều lệ hoặc thay đổi cơ cầu sở hữu trổ thánh công Ly đại chứng theo quy định của Luật Chứng khoán

- Công ly cỗ phần được thánh lập mới trong lĩnh vực cơ sở hạ Lằng và

công nghệ cao

Công ty cỗ phần được thành lập mới trong lĩnh vực cơ sở ha tầng và

công nghệ cao cũng là một chủ thể đặc biệt được phép thực hiện chào bán

chứng khoán ra công chúng và sẽ là thiểu sót nếu như không dễ cập đến quy

định này như là một điểm mới tại Luật Chứng khoán năm 2006 Lại sao lại lá

Trang 34

chủ thể đặc biệt trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng khi bán

chất của doanh nghiệp này vẫn là công Ly cổ phần?

Xuất phát từ quy định về điều kiện chào bán chứng khoán ra công

chúng tại Điều 12 Luật Chứng khoán thì các công ty cổ phần mới thánh lập

nói chung sẽ không được chào bán chứng khoán ra công chúng do bị giới hạn

ở điều kiện “hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng lỷ chào bản

phải có lãi" (điểm c khoản I Điều 12 Luật Chứng khoán) Như vị

„ những

công ty cô phần mới thành lập sẽ không thé đáp ứng được diéu kiện này và đương nhiên sẽ không được thực hiện chào bán chứng khoản ra công chủng

‘Tuy nhiên, với quan điểm khuyến khích thành lập các công ty hoạt động hay

thực hiện các dự án trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghệ cao, Luật Chứng khoán cho phép các doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực cơ sở

ha tầng và cổng nghệ cao được thưc hiên chảo bán chứng khoán ra công chúng mả không phải tuân thủ các quy đỉnh chặt chẽ về diéu kiện chao ban như đối với công ty cỗ phần thông thường

- Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước cỗ phần hóa, bản chất cũng là công ty cỗ phần nhưng hoạt đông chào bán chứng khoán ra công chúng của chủ thể này không, thuộc sư diéu chỉnh của pháp luật về chứng khoán và TTCK mà thuộc sự điều

chỉnh của pháp luật về cỗ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Sở dĩ có quy định

đặc thà như vậy là bởi doanh nghiệp nhà nước cỗ phần hóa được thành lập theo

Luật doanh nghiệp nhà nước và đến trước khi thực hiện cô phần hỏa vẫn hoạt

đông theo Luật doanh nghiệp nhà nước trừ những nội dung do Luật doanh nghiệp 2005 diều chỉnh (Điều 166 Tuật doanh nghiệp 2005) Tuật doanh nghiệp

2005 quy dịnh các doanh nghiệp nhả nước dược thánh lập theo quy dịnh của

Taật doanh nghiệp nhà nước 2003 phải chuyển dỗi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Mục dích của sự chuyển dỗi doanh nghiệp nhà nước thánh công ty cổ phần khác với mục dích chuyển đổi của công ty trách

27

Trang 35

nhiêm hữu hạn thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp chuyển đối thành

công ty cỗ phần Đó là để thực biện mục tiêu thu hẹp tối đa lĩnh vực thuộc diện nhả nước độc quyền xóa bỏ doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, giảm

gánh nặng cho ngân sách, tạo điều kiện cho người lao động trong công ty tự

mình chịu trách nhiệm về hoạt đông của doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước

cỗ phần hóa thực hiện hoạt đông cỗ phần hóa va chào bán cỗ phần ra công chúng theo chủ trương của Nhà nước, do vậy, có tính đặc thù riêng và được điêu chỉnh

bởi các văn bản pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

6) Quỹ đầu tư chứng khoản Quỹ đầu tư chứng khoản là một loại chủ thể đặc biệt được thực hiện chào bán chứng khoản ra công chúng và được ghi nhận trong Luật Chứng

khoán Quỹ dầu tư chứng khoản phát hành chứng chỉ quỹ dễ huy động vốn từ

các tổ chức, cá nhân nhưng không giông các chủ thể khác như Chính phủ hay

các doanh nghiệp có thể trực tiếp đứng ra thực hiện các thủ tục chảo mời, phát

hành va ban chứng khoán ra công chúng thì việc chào bán chứng chỉ quỹ do

Quỹ đầu tư chứng khoán phat hành lại được thực hiện bởi một chủ thể khác,

dó là công ty quản lý quỹ dầu tư chứng khoán Miột diễm khác biệt nữa khiến

quỹ đầu tư chứng khoán được coi lá chủ thế đặc biệt, đó là, các chủ thể khác

khi chào bán chứng khoán, được trực tiếp sử dụng số tiền thu được từ đợt

chào bán để phục vụ sẵn xuẤt kinh đoanh nhưng dối với quỹ đầu Lư chứng

khoán, công ty quản lý quỹ sẽ đứng ra quản lý và sử dụng số tiễn thu được

theo các mục đích đầu tư được quy định tai điều lê quỹ và nhằm mục tiêu tạo

lợi nhuận cho quỹ [15, tr 98-100], [24, tr 58-61]

1.3.2.3 Phạm vì và đỗi tượng chào bản chứng khoán

Đối với chào bản riêng lẻ, việc chào bán riêng lễ giới hạn trong pham

vi một số người nhất định, thông thường là bán cho các nhà đầu tư có tổ chức,

các nhà dầu tư chứng khaản chuyển nghiệp (ngân hàng, quỹ dầu tư, công ty

chứng khoán .) hoặc nếu bán cho cán bộ công nhân viên trong công ty hay

Trang 36

các cả nhân, tổ chức khác thì số lượng tham gia đợt phát hành không được

quá một số người nhất định Tại Việt Nam, Nghị định số 01/2010/NĐ-CP

ngày 4/01/2010 của Chính phủ về chảo bán cỗ phần riêng lẻ quy định: "Chdo

bản cỗ phần riêng lê là việc chào bán cỗ phan hoặc quyên mua cỗ phần trực

tiếp và không sử dụng oác phương tiện thông tin đại chứng cha mội (rong các

doi tượng sau: (a) Các nhà dẫu tư chứng khoản chuyên nghiệp; (b) Dưới 100

nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp "Ï L21

Khác với chào bán riêng lẻ, đối tượng trong đợt chào bán chứng khoán

ra công chủng là một số lượng lớn công chúng dầu tư (thco Luật Chứng

khoán Việt Nam là trên 100 nhà đầu tư, không kể các nhà đầu tư chuyên

nghiệp |20, khoản 12 Điều 6|) Do tính chất rộng rãi của hình thức chảo bán chứng khoán ra công chủng nên trong đợt chảo bán chứng khoán ra công

chúng tổ chức phát hành phải dành một số lượng chứng khoán nhất định bán

cho các nhà đầu tư nhỏ Ngoài ra, Luật Chứng khoán Việt Nam cũng như Tuuật Chứng khoán của một số nước như Đa Lan {giao dịch chứng khoán nơi công chúng, sau đây gọi là "giao dịch nơi công chúng" là đề nghị chào ban hoặc việc chan ban chứng khoán nhằm mục dich bin cho người mua không, được nêu rõ (Điều 2 Luật Chứng khoán Da Lan)} đều quy định trường

hop chao ban chứng khoán cho một số lượng các nhà dầu tư không xác định

(không xác định về đối tượng cụ thể hay số lượng nhà đầu tư tham gia đợt phát hành) cũng được coi là chảo bán chứng khoán ra công chúng,

.3.2.8 LỄ cách thức chào bún chứng khoán Việc chảo bán chứng khoán riêng lẻ thường được tiến hảnh trong nội

bộ của doanh nghiệp và không được công bế thông tin trên các phương liện

thông tin đại chúng Còn chảo bản chứng khoản ra công chứng phải được tiền

hành công khai, mình bạch, phải dim bio théng tin về dợt phát hành dén được các nhà đầu tư một cách đầy đủ và công bằng do vậy, Luật Chứng

khoán các nước đều quy định nếu đợt chào bán được thực hiện thông qua

phương tiên thông tin đại chúng, kế cả internet thì dù số lượng nhà đầu tư

29

Trang 37

tham gia đợt chảo bán đỏ đưới 100 người thì đạt chảo bán đó vẫn được coi là

chào bán chứng khoán ra công chúng

1.2.2.4 Lễ pháp luật điều chỉnh

Theo thông lệ quốc tế hoạt động chảo bán chứng khoán riêng lễ được điều chỉnh bởi Luật Công ty hay Luật Thương mại |16, tr 13| Củn đối với hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, Luật Chứng khoản các nước ngay tại các

diều dầu tiên đều khẳng định phạm vi diều chính đối với hoạt động nay

Tai I.uật Chứng khoán Trung Quốc quy dịnh: ""/uất này được ban hành nhằm mục đích quy định phạm vì điều chỉnh các hành vi phải hành và giao dich

chứng khoán, bảo vệ quyên lợi hợp pháp của người dẫu tr, dụy tì trật tự kinh tễ

xã hội và lợi ích chung của xã hội, thúc đẩy sự phát triển của nên kinh tê tử

trường xã hội chủ nghĩa" [34, Điều 1] "Luật này dp dụng trong phạm vì lãnh

thô Trung Quốc đối với việc phải hành cỖ phiếu, trải phiếu công ty và các

chứng khoản khác ảo Quốc vụ viện quy dịnh theo pháp luật" |34, Điều 2}

Luật Chứng khoán Ba Lan, ngay tại Diễu 1 quy định "Luật này điểu

chỉnh hoại động giao dịch chứng khoán nơi công chúng, đồng thời cũng bao

gồm các nguyên tắc về việc thành lập, tô chức và giảm sát các chủ thể thực

hiện các hoat động liên quan đến giao địch chứng khoản ra công chẳng" [28]

Điều 1 Luật Chứng khoán Bungaria cũng quy định: “Luật nảy quy định tiệc phái hành chứng khoản ra công chúng và kinh doanh chứng khoản” [28]

Theo quy định tại Diều 2 Luật Chứng khoản Dài Loan thì phạm vỉ diều chỉnh của Luật lá "hoạt động quản lý và giảm sát việc chào bản, phát hành ra công chúng và giao địch chứng khoán

Cũng giống như các nước, Luật Chứng khoán Việt Nam, tại Điều 1 khẳng định hoạt đông chảo bán chứng khoán ra công chúng thuộc phạm vi

điều chỉnh của luật "uất nảy quy định về hoạt động chào bản chứng khoản

ra công chủng, niêm vết, giao dịch, kinh doanh, dầu tư chúng khoản, dich vu

về chứng khoán và thị trường chứng khoản " [20]

Trang 38

1.2.2.5 Các hình thức chào bản chứng khoản

Hoạt động chảo bán chứng khoản ra công chủng gồm hai hình thức cơ

ban là chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng và chào bán thêm chứng

khoán ra công chúng,

Chào bán lần đầu ra công chứng hay người ta vẫn thường gọi lả IPO là việc chào bản mà chứng khoản được bán rộng rãi ra công chúng nhằm mục

đích huy động vốn cho tổ chức phát hành hoặc để trở thành công ty đại chúng

Còn chảo bán thêm ra công chúng là việc chào bán bổ sung chứng khoán của

công ly dai chúng cho công chúng dầu tư nhằm muc dich ting vốn diễu lệ

hoặc chỉ nhằm thay đổi cơ câu sở hữu của công ty đại chủng

Dưới đây là bắng so sánh về đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng và hoạt đồng chào bán chứng khoán riêng lẻ

Bang 2.1: so sánh vệ đắc điểm của hoạt động chào bán chứng khoản

ra công chẳng và hoạt động chào bản chứng khoản riêng lễ

Tiêu chí Chân bản chứng khoán Chân hắn chứng khuẩn

Cchào bản Chảo bán rộng rãi cho công chứng đầu tu, gồm các đôi tượng:

- Trên 100 nhà đầu từ (không kế nhà

đầu bư chứng khoản chuyên nghigy)

- Chảo bản cho một số lượng nhà

đầu tư không xác định

Chào bản trong phạm vi hẹp hoặc trong nổi bộ doanh

nghiện, gồm các đôi tương:

- Dưới 100 nhà đầu tư (không

kể nhà đầu tư chứng khoản|

chuyên nghiệp)

Cich thie chio ban|

jchimg khoan liên thông tin đại chủng, kế cả Được {luc hiện thông qua phương

rlernzl

Không được công bỗ thông tin

trển các phương tiện thông tin

cơ bản là chảo bản chứng khoản lần

đầu ra công chúng và chào bản

lthẻm chứng khoán ra công chững

Chào bán chững khoán lan dau

va chao ban thêm chứng khoán

Diễn kiện chao ban Diễu kiện chặt chế (về vn, hoạt

động kinh doanh phải có lãi ) Không quy định điều Kiện hoặc nếu có thì rất don giản

Thi tue chao bản

có thẩm quyền Chỉ phải báo cáo cơ quan nhà

nước có thẩm quyền:

Trang 39

1.3 TỔ CHỨC QUỐC TẾ CÁC ỦY BAN CHUNG KHOÁN (IOSCO)

1.3.1 Sụ hình thành, phát triển cha IOSCO

Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khoán (IOSCO) duge thành lập từ

nam 1983 tai Ecuador véi 11 thành viên bàn đã , nay có 190 thánh viên, bao

pm: những nhà diều tiết, quản lý thị trường tài chính từ hơn 100 quốc gia và

cả các SGDCK, các tổ chức tự giám quấn cho thị trường

Mục tiêu chính của IOSCO là nhăm thiết lập và thúc đẩy các tiêu

chuẩn cấp cao với quan điểm nâng cao tinh minh bach vả hiệu quả của TTCK,

bão vệ các nhà dầu lư và tăng cường hợp tác giữa cáo co quan quần lý nhằm

ngăn chặn tội phạm kinh tế

1OBCO tạo ra diễn đàn về điêu hành hoạt động và kỹ thuật cho các

thành viên nhằm †ạo ra các nguyên tắc chung giúp điều hỏa các nguyên tắc

điều tiết thị trường,

Nam 2002, IOSCO dưa ra Đán phi nhớ Đa phương (MOU) nhằm thúc day việc tuân thủ (luật pháp) và trao đổi thông tin giữa các cơ quan quản lý TICK Dén nim 2005, IOSCO bd sung Ban ghi nhớ Đa phương làm tiêu

chuẩn cho su hop lic quốc tẾ giữa các cơ quan quản lý TTCK và đặt ra các mục tiêu chiến lược nhằm mở rộng mạng lưới các thành viên tham gia ký kết

vào năm 2010

Cơ cầu tổ chức và thành viên ra nhập 12SCO, gồm:

- Thành viên chính thức: Các Ủy ban Chứng khoán, Các cơ quan quản

lý tài chính - chứng khoán, trong trường hợp không có, các SGDCK có thể

xin ra nhập như thảnh viên chỉnh thức

~ Thành viên liên kết: Cơ quan quản lý về phân ngành khác nhau cho TICK trong trường hợp cơ quan quản lý cấp quốc gia đã là thành viên chính

thứ; cơ quan kháo có thẩm q|

- Thành viên phụ trợ: Là các tổ chức, các công ty tự quản hoặc tổ chức quốc tế: sở giao địch, các hiệp hội nghề nghiệp, các cơ quan trọng tài hay hỏa giải

Trang 40

1.3.2 Các nguyên tắc của FOSCO

Nhằm mục tiêu bảo vệ nhà dầu tu, dim bảo rằng các thị trường hoạt động công bing, hiệu quả và mình bạch và giảm thiểu các rủi ro hệ thống, dựa

trên nguyên tắc hoạt động của 1'LCK, IOSCO đã để ra 30 nguyên tắc quy định

trong 'ICK, bao gồm các nguyên tắc: về cơ quan quản lý (5 nguyên tắc), về

tổ chức tự quản (2 nguyên tắc), về hoạt động c- ðng chế thực thi (3 nguyên

tắc), về hợp tác quản lý LTCK (3 nguyên tắc), về tổ chức phát hành chứng

khoán (3 nguyên tắc), về quân lý quỹ đầu t- tập thể (4 nguyên tắc), về quần lý

các trung gian thị tr- ờng (4 nguyên tắc), về quản lý thị tr- ờng giao dịch chứng

khoán (5 nguyên tắc) và nguyên tắc về hệ thống thanh toán và bù trừ chứng

khoán (1 nguyên tắc)

Dễ có thé quản lý, điều hành 1 ICK hoạt đông an toàn và hiệu quả,

1OSCO đưa ra nguyên tắc yêu câu về tính độc lap trong hoạt đông của cơ quan

quan lý 'I'ICK Tiêu chí để đánh giá tính độc lập của cơ quan này đ- ợc thể hiện ở

các mặt sau: (L) Vẻ mặt hoạt động, cơ quan quản lý cần phải độc lập: (2) Việc ra quyết định về các vấn để kỹ thuật hàng ngày của UBCKNN không cần phải

xin chấp thuận hoặc phải cố ý kiến từ phía cơ quan quần lý nả o bao gồm việc đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, cấp phép cho các thành viên thị tr- ðng, kiểm tra, giám sát, tiến hành các hoạt động c- ðng chế thực thi

Cơ quan quấn lý cần có đủ thẩm quyền, nguồn lực phủ hợp và khả năng thực hiện dùng chức năng và thẩm quyền của mình, dẳng thời phái chị trách

nhiệm trong việc thực thi các chức năng và thẩm quyền của minh Cơ quan quản

lý cũng cần có thẩm quyên day dé trong các hoạt đông thanh tra, kiểm tra, giám

sát và cưỡng chế thực thi để đảm bảo thị trường hoạt động công khai, minh

bach và có thể bảo vệ tốt nhất quyên vả lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư

Về tổ chức tự quan, IOSCO dé ra ede nguyên Lắc yêu cầu nháp luật về chứng khoán và TTCK các nước phải xây dựng cơ chế quản lý phù hợp để sử

dụng, một cách hợp lý các tổ chức tự quản chịu trách nhiệm pidm sắt trực tiếp

Ngày đăng: 28/05/2025, 19:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w