1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn kháng nghị phúc thẩm vụ Án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở dữ liệu thực tiễn Địa bàn tỉnh hà giang

120 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở dữ liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang
Tác giả Đặng Ngọc Thanh
Người hướng dẫn GS.TSKH. Lê Văn Cắm
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Giang
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lý luận phải làm rõ được phương pháp luận của việc tiếp cận vấn đề, phái đi sầu phân Lích để t: cần thiết phải giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình trong Luật hình sự động vào n

Trang 1

DẠI HỌC QUOC GIA HA NOT

KHOA LUAT

DANG NGOQC THANH

MOT Số VẤN DE CO BAN

DE GIAM VA TIEN TO! XOA BO HINH PHẠT TỬ HÌNH

TRONG LUAT HiNH SU VIET NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NGI - 2016

Trang 2

BAIIIOC QUOC GIA IIA NOT

KHOA LUAT

DANG NGQC THANH

MOT Số VẤN DE CO BAN

ĐỂ GIAM VA TIEN Tél XOA BO HINH PHẠT TỬ HÌNH

TR0NG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

3ä số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Căn bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẮM

HÀ NGI - 2016

Trang 3

LOI CAM DOAN

Téi xin cam đoan Luận van vé dé tai “Mét sé van đề cơ bản

đỀ giảm và tiễn tới xoá bộ hình phạt từ hình trong la

lật hình sự Việt

Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong

Luận văn chưa được công bỏ trong bắt lỳ công trình nào khác

Các số liệu, vi dụ và trích dẫn trong Luận văn đâm bảo tính

chỉnh xác, tin cập và trung thực Tôi đã hoàn thanh tat cd các môn học và đã thanh todn tắt câ các nghĩa vụ tài chink theo qu định

của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi viết Lời cam đoạn nău, để nghị Khoa Luật xem xót, lạo

điền kiện dễ tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cắm ơn!

Người cam đoan

Đặng Ngọc Thanh

Trang 4

MUC LUC

Trang

Trang phy bia

Loi cam doan

Mục lue

Danh mue tr vidl tắt

Danh muc bang,

Chương 1: MỘT SO VAN DE LY LUAN VE HINH PHAT TU

1.1 Các nghiên cứu hiện nay về hình phạt tử hình - 14 1⁄2 Hình phạt tứ hình và cơ sử nhằm giám và tiễn tới xuá bé hình

phạt này trong luật hình sự Việt Nam " 2S

1.3.1 Đối tượng hạn chế (không) áp dụng hình phạt tử hình - 36

1.3.2 Pham vi han chế (không) áp dụng hình phạt tử hình đối với một

số tội đanh trong Bộ luật hình sự 45

Chương 2: THỰC TRẠNG NHỮNG QUY PHẠM CỦA PHÁP

LUAT TINIE SU VIỆT NAM VỀ HÏNII PIẠT TỬ IÏNH VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN NAY co eiereerreereirov ST

2.1 lách sử hình thành các quy định về hình phạt tử hình trong

51

hình phạt tử hình 51

Trang 5

2.12 Cav quy định của luật hình sự Việt Nam giai đoạn 1985 — 1999 về

phat tứ hình ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế

Chương 3: CÁC LUẬN CỨ NHẰM GIẢM VÀ TIẾN TỚI XOÁ BÒ

HINH PHAT TỬ HÌNH TRÔNG VIỆC HOÀN THIỆN

CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

3.1 Một số định hướng ch việc hoàn thiện pháp luật

tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam

3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm giảm và tiễn tới xoá bỏ hình

phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam

3.2.1 Giải pháp hoàn thiên pháp luật hình sự

3.2.2 Một số giải pháp pháp luật về mặt kinh tế, xã hội

90

91 a1

99

« 100

101

~ 105

Trang 6

DANII MUC TU VIET TAT

Trang 8

MO DAU

1 Tỉnh cắn thiết của dễ tài

Trong xu thể toàn cầu hoá và hội nhập quốu tế ngày cảng sâu rộng hiện nay của đất nước ta, đặc biệt khi chủng ta dang tiến hành công cuộc xây dựng,

hà nước Pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa do Dại hội Dáng cộng sản

Việt Nam lần thứ TX, lần thứ X chỉ ra vả tiếp Lục khẳng định tại báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ XI "?Tấp tục dấu mạnh việc xây dựng và hoàn

thiện Nhà nước phản quyên xã hội chủ nghĩa, đảm bảo Nhà nước ta thực sự

là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân” |31, tr 246], với định hướng,

rất rõ ràng đó la: Nâng cao nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyên

XIICN, tần trọng và bảo vệ quyên con người Còn lai Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 đã chỉ ra: “Công tác tư pháp còn nhiều bạn chỗ: Chính sách hình sự

còn nhiều bắi cập, chậm được sửa đỗi bỗ sung; Vẫn còn tinh trạng oan, sai

trong điều tra, bắt, giam giữ, tuy tố xét xử ” [S] do đó nhiệm vụ cải cách

Tư pháp phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ, phù hợp với hoàn cảnh nude la va yêu cầu hội nhập quốc tế, đáp ứng được xu thế phát triển của xã

hội trong tương lai Trong đó Nghị quyết đưa ra phương hướng cụ thể đó là:

hải hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự , tôn trọng

và bảo vệ quyền con người, Ơoi trọng việc hoàn thiện chính sách

hình sự , đề cao hiệu quả phỏng ngừa và tính hướng thiện

trong việc xử lý người phạm lội, Hạn chế áp dụng hình phat ti

hình theo hướng chỉ áp dụng dối với một số ít loại tội phạm đặc

biệt nghiêm trọng [ 74, tr 2]

To đó việc nghiên cứu một số vẫn dễ cơ bản dễ giảm vả tiến tới xoá bỏ

hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam để từ đỏ đưa ra những quan điểm

phan tích mang tính khua học, có chiều sâu và xác đáng góp phần Iloàn thiện

Trang 9

chính sách, PLHS Việt Nam là rất cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trong cả

về mặt chỉnh trị xã hội, mặt lập pháp, mặt lý luận và về mặt thực tiễn Bởi vì

Ngay lại Thén pháp nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Việt Nara nắm

2013, được quắc hội thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực thi hảnh từ ngày

01/01/2014 cfing đã quy định rất rõ tại Điều 19 đó là: “Ađpi người có quyền

sống Tinh mang con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoại tính

mạng trái luật” [65, Điều 19] Đây chỉnh là nguyên tắc hiến dịnh rất quan

trọng về quyền con người, Chính vi vậy việc sửa đổi pháp luật nói chung, chính

sách pháp luật hình sự nói riêng là rất cần thiết để phủ hợp với nguyên Lắc này

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "A1ột số vấn đề cơ bản đỗ giảm và

tiên tới xoá bỗ hình phạt tũ bình trong Luật hình sự Liệt Nam” có ý nghĩa hết

sức quan trọng trang việc đưa ra những phân tích mang tính khoa học có chiều

sâu và xác đáng được thể hiện trên một số bình điện cụ thể như sau:

1.1 LỄ góc độ chính trị- xã hội

Khi nói dến một NNPQ đích thực nảo thì các quy dịh của pháp luật

tình sự cũng đều phải nhằm bảo vệ một cách hữu hiệu các quyền và tự do của

con người và của công dân, trong đó có quyền cao cá nhất lá quyền được sống,

an toàn trong hoà bình Đây là một ÿ nghĩa vá giả trị xã hồi cao quý nhất dược

thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại; mặt khác các quy định của pháp

luật hình sự trong một Nhả nước nhu thé nao (có hay không cỏ hình phạt tử

hình trong pháp luật hình sự quốc gia và nều có thì việc quy định như thế nào,

áp đụng có phủ hợp không, việc thực hiện ra sao? Có vi phạm các điều cấm

của quốc tế hay không, có phù hợp với xu thế hội nhập trong tương lai khi

quốc gia đó tiếp tục hội nhập với các tổ chức của quốc tế ) đó là những tiêu

chí căn hắn để từ đó cộng đồng quấc tế (Tổ chức Liên hợp quốc) đánh giá

"mức độ dân chủ và nhân đạo, pháp chế và nhân văn" của mỗi quốc gia đó

như thế nảo [18, tr 2]

Trang 10

1.2 LỀ góc độ lập pháp

Nhìn chung ở hầu hết các NNPQ có tỉnh dích thực thì các chế định của pháp luật trong lĩnh vực Tư pháp hình sự (TPIIS) nói chưng và PLIIS nói

riêng chính là để bảo về các quyền và tự do của con người về mặt cốt lỗi phải

phủ hợp với những quy định và những nguyên tắc được thừa nhận chưng của

pháp luật quốc tế (Công ước quốc tế) trong lĩnh vực Tư pháp hình sự Xuất

phát từ lý do này, dé dán ứng tốt trong xu thể hội nhập quốc tế, năm 2009

Quốc hội đã tiến hành tháo luận Dự thảo luật sửa đỗi bể sung một số điều của

Bé luật hình sự (BLII8) Việt Nam năm 1999 theo hướng nhân đạo hoá (xoá bớt một số cấu thành tội phạm quy định mức hình phạt tử hình) 13o đó ngày

19/6/2009 Quốc hội chính thức thông qua Luật số 37⁄QI112 "Về sửa đổi bd

sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999" đã giảm bớt cấu thánh tội

phạm (CLIP) từ 29 CTIP xuống còn 23 CŒLIP ở 22 điều luật có quy định

hình phạt tử hình Vĩ vậy, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nền kinh tể nước

1a đã có sự phát triển dáng kể, xu thế hội nhập ngày cảng tích cực,

âu rộng và

aes 4 “= căng đã Ác tẾ cũ 4 + wide cA; od Ä chế

có trách nhiệm trước cộng đồng quốc †ê của nước ta thì việc cải cách thê chê

pháp luật, trong đó cỏ PLHS cho phù hợp là rất cần thiết

1.3 Lê gác độ khaa học- thực tiễn

liiện tại có hai nhóm quan điểm trái ngược nhau, chủ yếu xoay quanh

một số vấn dẻ là: có nên tiếp tục quy dịnh hình phạt tử hình trong hệ thống, Trình phạt của PLHS quốc gia hay không? Và nêu có thì cần hạn chế ở mức độ

nào? Tay là phải xoá bỏ ngay hinh phạt đặc biệt nghiêm khắc, thiếu tỉnh nhân

đạo nhất này ra khỏi hệ thống hình phạt của PI.HS quốc gia Hoặc nếu lả tiến

tới xoá bỏ hình phạt tử hình thi tiến tới đến khi nào? Do đó những đòi hỏi đặt

ra chủ các nhà khoa học-luật gia, các cán bộ đã và đang làm việc trong lĩnh vực TPHS của đất nước một nhiệm vụ quan trạng đó là cần phải nghiên cứu

để đưa ra những luận chứng, những nội dung phân tích có tính tích cực, khách

Trang 11

quan, khoa học để đóng góp ý kiến xác đáng với nhà làm luật nhằm khắc phục

và loại bỏ những bắt cập-hạn chế nhất định tronp thực tế áp dụng đó là

Nếu xét đưới góc độ thực tiễn về mục đích của hình phạt (nói chung)

thì hình phạt sẽ có 4 mục dích đó là: 1) phục hồi lại công lý- sự công bằng xã

hội, 2) ngăn ngừa riêng, 3) ngăn ngừa chung, 4} hỗ trợ chơ cuộc đấu tranh

phòng và chẳng tội phạm Vì vậy khi áp dụng hình phạt tử hình được cói là

hình phạt đặc biệt nghiêm khắc nhất so với tất cả các loại hình phạt khác

trong hệ thống hình phạt PLIIS Việt Nam thì đương nhiên loại bổ l trong 4

muc dich day ý nghĩa của hình phạt (nói chung) - mục đích "ngăn ngừa

riêng" Bởi vì, khi đã áp dụng hình phạt tử hình đối với một người bị kết án

thì sinh mạng của người đó đã bị tước bổ vĩnh viễn cho nên người đó sẽ

không bao giờ oòn có cơ hội để

rãi lạo- giáo dục, sửa chữa lỗi lầm trong nha

tủ được nữa Do đó hình phạt tử hình (nói riêng) chỉ còn lại có 3 trong 4 mục

đích chính của hình phạt (nói chung) mà tôi vừa đề cập ở trên [87, tr 190]

Mặt khác, trên thực LẾ các quan diễm quốc tẾ trong thời kỳ dương dại

thiện nay được thừa nhận cho thấy trong các NIPQ là các nước văn minh phát

triển cao trên thế giới thì việc áp dựng hình phạt trong pháp luật hình sự về

mặt cơ ban đều có mục dich hưởng đến không nhằm gây nên những dau đớn

về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người

Như vậy, cá về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật được dé cập trên, déu dat ra yêu cầu cân thiết nghiên cứu đề tài *Một sé vin dé co ban

aé giảm và tiễn tới xoá bỗ bình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam”

Đó chính là lý do thôi thúc tác giả lựa chọn đề tải này để nghiên cứu làm luận

văn thạc sỹ của minh trong nhiều năm qua

2 Tỉnh hình nghiên cứu đề tài

'Trong những năm gần đây, Đảng vả Nhà nước ta rất quan tâm đến công,

tác cải cách tư pháp, trong đé đặc biệt quan tâm đến cải cách về thể chế pháp

Trang 12

luật nói chưng va pháp luật hình sự nói riêng Tuy nhiên việc nghiên cửu đề

tài: “Một số vẫn dé co bản để giấm và tiến tới xoá bú hình phạt tứ hình trong Luật hình sự Liệt Nant” là một chuyền để còn mới cho nên chưa được quan tam ding mức, những công trình khoa học nghiên cứu về chuyển đề nảy

của các nhà khoa học- pháp luật trong nước cỏn khá khiêm tấn (mang tính

chung chung) Cụ thể, cho đến thời điểm hiện nay chỉ có một số ít cuốn sách, công trình khaa học, dễ tài chuyên khảo, một vài luận văn tiến sỹ và một số pai báo viết về lĩnh vực tứ hinh trong Luật hình sự đó là:

2.1 Cúc sách nhự

1) Hộ huật hình sự của nước Công hoả xã hội chủ nghĩa (CHXHCN)

Việt Nam năm 1999, XXD Chính trị quốc gia, Ià Nội

2) Phạm Văn Lợi, Nguy:

3) T§ Phạm Văn Lợi (chủ biên) sách chun

hình phạt tứ hình và thị hành hình phạt tử hình”, Nhà xuất bản Chinh tri

Quốc gia Hà Nội, 2006;

4) TS Phạm Văn Lợi (chủ biên) “Chính sách hình sự trong thời kỳ dội

mới ở Việt Nam”, NXXD Tư pháp Tà Nội, 2007

5) Hội luật gia (Sách tham khảo) “Hình phạt từ hình trong Luật quốc

16", KXB Hing Ditc, 2008;

6) Ths Vii Thi Thuy, (Sach chuyén khdo) ‘“‘Hinh phat ti hình trong Luật

hình sự Viét Nam”, NXB Dai học Quốc gia thành phé Hé Chi Minh, 2010,

ên khảo “Môi

7) Nguyễn Đăng Dung - Phạm [lồng Thải - Vũ Công Giao - La Khanh

“Tùng, (Sách tham khảo) “Vhững điều cân biết về hình phạt tử hình”, NXB

lao động - Xã hội, 2010;

8) GS.TSKII Đào Tri Ức - PGS.TS Vũ Công Giao - PGS.TS Trương

Trang 13

Thị Hồng Hà, (sách tham khảo) “Quyền sống và Hình Phat tit hinh", NXB

chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội 2015

3.3 Các luận án tiên sỹ, luận văn thạc sỹ

1) Pham Vin Peo (2007) "Hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt

am" Viện Nhà nước và Pháp luật - luận án Tiên sỹ luật hoc,

2) Trần IIữu Nam (2003), “Zfinh phạt từ hình trong luật hinh sy Viét

Nam”, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội - Luận văn ‘Thac st | ait hoc.;

3) Trần Thu Huyền (2006), Một số vấn đề lử luận và thực tiễn về hình

phại tử hình trong Euật hình sự Việt Nam, khoa luật Đại học Quốc gia TIà Nội

- luiận văn Thạc sỹ luật học.;

4) Viên Nhà nước và Pháp luật (2004), Luật hinh sự và tổ tụng hình sự

các nước trên thế giới, Nguyễn Quốc Khánh (2004), “Một số vấn đã pháp Wi,

nhân đạo về hình phạt từ hình và công tác tủ hành hình phạt tử hình”, Tap

chí Dân chủ pháp luật (7);

5) Vu Diệu Giang (2002), "Tác dựng trừng phạt và cái tạa của hình

phạt tử hình", Tap chí Luật học (5);

6) G8.TSKII Lê Văn Cam’, Nguyén Thị Lan “#inh phạt tử hình trong

pháp luật hình sự Việt Nam: Giữ nguyên hay dần giảm và tiến tới loại bó?” (Hài

viết được đăng trên tạp chí khoa học ĐIIQGIIN, Tập 30, số 3 (2014) 1-14;

7)" Sửa đối Bộ luật ITình sự: IIạn chế Lử hình?“ bài đăng trên Báo Pháp

luật ngảy 16/3/2015,

8) Trần Văn Độ (2005), "Thi hành hình phạt tử hình ở một số nước trên

Trang 14

thế giới vỏ vẫn đề hoỏn thiện phõp luật về thợ hỏnh hớnh phạt tứ hớnh ở Việt

Nam", Nhỏ nước phõp luật, (3) tr.66

9) Đặc biệt trong 6 năm gần đóy, từ 2009 2015 đọ cụ một số cõc bỏi

bõo, bỏi nghiởn cứu khoa học ở cõc cấp đừ khõc nhau về vẫn đề hớnh phạt tử

hớnh vỏ bạn chế õp đụng hớnh phạt tử hớnh được đăng trởn cõc Tạp chợ Tỏa õn

nhón dón thuộc Túa õn nhón đón tối cao, Tạp chợ Viện kiếm sõt nhón dón, Bõo

bao vệ phõp luót thuộc Viởn kiểm sõt nhón dón tối cao đụ lỏ: 1) Đinh Xuón

Thảo (2009) “AZ@: sổ gụp ý về dự thảo luột sửa đỗi, bỗ sung một số điều của

Bộ luật hớnh sự”, Tạp chợ kiểm sõt (10), tr 33; 2) TS Dỗ Dức Hồng Hỏ

(2009), “Hoỏn thiện hệ thừng hớnh phạt trong Bộ luật hớnh sự Liệt Nam, qua tham khảo bộ luật hớnh sự Trung Hoa", Tap chi kiểm sõt (21), tr 44 -47, 3)

‘Ths Dờ Manh Quang (2013) “Cẩn nghiởn cứu thu hep phạm vớ cõc tội danh

cụ qig: định hớnh phạt tứ hớnh trong Bộ luật hớnh sự”, Tap chỉ kiểm sắt (4), tr

28 32, 4) Thư Huỳnh Quốc Hủng (2013) “Cẩn quy định rử trong Bộ luật

hớnh sự cõc chế định phạm tội nghiởm trọng trong trường hợp nghiởm trọng,

rất nghiởm trọng vỏ dặc biệt nghiởm trọng”, Tạp chỉ kiểm sờt (4), tr 33, 5)

TS Pham Minh Tuyởn “Ađờt số vẫn đề về xờt xử tội phạm khủng bồ vỏ tỏi trợ khủng bổ theo điều 230a vỏ điều 230b của Hộ luật hỏnh sự vỏ thực tiễn Gp

dung”, Tap chi kiểm sõt (4), tr 32 — 59; 6) ThS Đỏm Cảnh Long (2014),

“Cón hoỏn thiện cõc quy định phõp luật về thả hỏnh õn hớnh sự nhằm nóng

cao hiệu quả cừng tõo thớ hỏnh õn hớnh sự của Túa õn", Tạp chỉ kiểm sat

(20), tr 45, 46, 7) TS Mai Đắc Biởn (2015) “Tội phạm hụa vỏ phợ lội phạm

hỏa trong phõp luật hớnh sự ở nước ta hiện nay”, Lap chợ kiểm sõt (Xuón)

thang 01 2015, tr 47, 63; 8) Bui Văn Hưng (2015) “Vai nờt về chế dộ từ hớnh

ở Hỏn Quốc vỏ một số liởn hệ với Luật hớnh sự Việt Nam", Tạp chỉ kiểm sắt

(6), tr 54- 63, 9) Đắc Thõi (2015) “Xóy dựng Bộ luật hớnh sự (sửa đừi) gỷp

phón tịch cực vỏo sự nghiệp xóy dựng vỏ bảo vệ vững chắc TỔ quốc Việt Nam

“KHCN bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyởn cừng dón", Bảo bọo vệ phõp

Trang 15

luật (70) thứ 3 ngày 01.9.2015, tr 9, 10, 10) Hoang Anh Tuyén (2015),

"Những nội dụng cơ bản sửa đổi, bỗ sung trong dự thảo Bộ luật hình sự sửa

di”, Rao bảo về pháp luật (70), thứ 3 ngảy 01.9.2015, tr 11, 14, 11) Th§

Đào Tới Anh (2015) “Vài nét về hình phạt tử hình trong pháp luật của mội số

nước trên thê giới và đề xuất hoàn thiện Hộ luật hình sự Việt Nam”, ‘Vap chi

kiểm sắt (21), tr 43, 47, 12) T8 Trần Công Phan (2014) “Mat sd dinh hướng

xửa đối, bộ sung Bộ luật hình sự đáp ứng xây dựng Nhà nước pháp quên xấ

hội chủ nghĩa liệt Nam”, "Lạp chí kiểm sát (16), tr 2- 12; 13) Ban biên tập Tap chi Téa án nhân dân (2010) “7.4m chết tử từ có phạm đội?”, Tạp chỉ Tòa

án nhân dân (23), tr 30 - 34; 14) GS T8 Nguyễn Ngọc Anh (2010) “Giảm

hình phạt từ hình trong Bộ luật hình sự thê chế hóa quan diễm nhân dạo của

Đăng và Nhà nước la”, Tạp chỉ Tòa án nhận dân (12), tr 15 - 19: 15) Th$

Pham Van Bau (2012) “Hinh phat tit hình trang Luật hình sự Việt Nam", Tạp chí Tòa án nhân dân (12), tr 2§ — 37; và một

Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể thì các oông trình khoa học và những

ố bài viết khác có liên quan

chuyển đề, bài viết nêu trên chỉ nghiên cứu ở chững mực nhất định, chung

chung về vấn để tử hình trong Luật hình sự mà chưa đưa ra được cơ sử lý luận

thực tiễn chuyên sâu, đặc biệt là chưa đưa ra được cơ sở lý luận và thực tiễn

để giảm vả tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình trong Luật hình sự Việt Nam Dễ

từ đó để xuất hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam chu phù hợp với xu thế

hội nhập Quốc tế ngày càng sâu rộng, phủ hợp với tỉnh hinh phát triển của đất nude, dap tmg được công cuộc cải cách Lư pháp mả Nghị quyết số 08/NQ-

TW và Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chỉnh trị về chiến lược cải cách Tư

pháp đến năm 2020 đã chỉ ra

3 Mục dích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận van

Luận văn tập trung nghiên cửu một số vẫn dé cơ bản mang tính lý luận

để giảm và tiễn tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong l.uật hình sự Việt Nam Vì

Trang 16

vậy luận văn phải đưa ra những lập luận, phân tích một cách sâu rộng, xác

đáng, khoa học và có tính biện chứng góp phần nhỏ cho các nhà làm luật, các

đọc giả quan tầm đến việc góp ý sửa dỗi hoàn thiện chính sách pháp luật hình

sự Việt Nam theo định hướng của Đảng và Nhà nước với tỉnh thần hướng,

thiện, đám bảo quyền con người trong đó có quyển được sống hướng tới

mục dích để giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tứ hình trong Tật hình sự Việt

Nam trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

1) về

vấn để cơ bản để giảm và tiến tới xoá bỗ hình phạt từ hình trong Luật hình

mặt lý luận, luận văn phải đưa ra nhận thức đầy du về “Một số

sự Việt Nam” lý luận phải làm rõ được phương pháp luận của việc tiếp cận

vấn đề, phái đi sầu phân Lích để t:

cần thiết phải giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình trong Luật hình sự

động vào nhận thức của cộng đồng về sự

Việt Nam; Phải phân tích các quy dịnh trong BI.HS năm 1999 dược sửa dỗi

bổ sung một số điều năm 2009 vẫn oòn (én Lại một loạt nhược điểm cơ bản

Từ đó, đưa ra sự nhận thức đúng đắn sát thực với chủ trương cải cách tư pháp

của Đăng và Nhà nước la trong giải doạn hiện nay vả trong tương lai

2) Về mặt thực tiễn, luận văn phải làm sáng tổ những vấn đề mà qua thực tiễn xét xử, thi hành hình phạt tử hình và thực tiễn áp dụng các quy định

của PLHS về hình phạt tứ hình để làm mình chứng đáng tín cây, từ đó đưa ra

một số vấn dé co bin để giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hinh trong Luật

hình sự Việt Nam

3) Về mặt lập pháp, trên cơ sở lý luận và thực tiễn luận văn đã chỉ ra mội

số điểm còn tồn tại, bất cập về hình phạt tử hình để góp ý kiến, đề xuất với các nhà làm luật có thể hoàn thiên các quy định của PLHS nước ta sao cho phủ hợp các quan hệ xã hội đang tần lại trong giai đoạn đương đại và sẽ phát triển trong

tương lai, đặc biệt trơng giải đoạn hiện nay chứng ta đang xây dựng “Nhà mước

Pháp giuền XHCN của Nhân dân, da Nhân dân và vì Nhân dân" [37, tr #5]

Trang 17

Và cuối cùng, luận văn phải đưa ra đề xuất về hoàn thiện PLHS Việt Tam phủ hợp với xu thể hội nhập quốc tế và sự phát triển của đất nước trong

tương lai để đến năm 2020 khi nước ta di co ban trở thành nước Công nghiệp

hiện dại, trong dó quyền con người được đắm bảo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu “Äfôt số vin dé co ban dé gidm va tien

tới xaá bá hình phạt từ hình trong Luật hình sự Việt Nam” lrên cơ sở

nghiên cứu này để đưa ra lý luận nhằm hoàn thiện chỉnh sách PLIIS về hình

phạt tử hình, mà cụ thể là các quy định của BLIS hiện hành trong thời gian

tới nếu được sửa đối cho phù hợp với Hiến pháp 2013, cũng đồng thời phù

hợp với sự phát triển của đất nước cả về kinh tế, chính trị và xã hội theo

hướng hiện đại hoá hội nhập quéc 16, nang cao vị thế trên trường quốc tế

Phạm vi nghiên cúu chủ yếu đi sầu phân tích một cách khoa học nhằm

làm sáng tô những vấn để lý luận cơ bản để các nhà làm luật và các nhà khoa học-pháp luật di dến tính thông nhất cao trong quan điểm dễ trong thời gian tới

sẽ đặc biệt quan tầm đến vẫn dé nay và cụ thể hoá vấn dé này, nhằm đáp ứng

với xu thể hội nhập quốc tế và cũng đồng thời thể hiện tính khoan hồng, nhân

đạo của chính sách hình sự Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và phát triển

Nhìn chung qua nghiên cửu cho thấy: hình phạt tử hình lä một vấn đề

cé tinh da dang phức tạp vả rộng lớn đã dược nhiễu nhả nghiên cứu khoa

học đánh giả dưới nhiều góc độ khác nhau Bản thân tác giả hiện đang công tác trong ngành Thi hành án dân sự, do vậy nhận thức về việc nghiên cứu

khoa học về “Mộ¿ số vẫn dé cơ bản dễ giảm và tiễn tới xoá bố hình phạt

từ hình trong Luật hình sự Việt Nam” còn có những hạn chế nhất định, tắc giả rất mong nhận được các ý kiến chỉ bảo, góp ý của các chuyên gia,

các thầy cô giáo và các hạn đồng nghiệp đế đề tải này có thé được nghiên

cứu chuyên sâu hơn.

Trang 18

5 Cơ sử phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, lý

luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và Pháp luật, về tội phạm học, xã hội học, về quan điểm của Đáng và Nhà nước ta về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020 Phép duy vật biên chứng là phương pháp luận để nhận thức bản chất của vấn để lý luận và thực tiễn áp dụng để giảm và tiến tới xoá

bỏ hình phạt tứ hình trong 1uật hình sự Việt Nam Quan diểm duy vật lịch sử

được coi là cơ sở phương pháp luận để nhận thức quy luật phát triển của xã

hội cia thoi dai ma ching ta hướng tới để xây dựng (xã hội XIICN tiến tới

chủ nghĩa công sản) Nhờ đó, người nghiên cứu làm rõ những nét đặc thù và

giá trị kế thừa có chọn lọc phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh, trong từng

thời kỳ để việu áp dựng các quy định của BLHS đối với một số cấu thành tội

phạm trước đây và hiện tại đang ở khung hình phạt tử hinh thì nay theo định

hướng về hạn chế và tiến tới xoá bố hình phạt tử hình trong tương lai khi đất

nước phát triển theo hướng Công nghiệp hóa hiện đại hóa

Bên cạnh đó đề tải được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp với một số

phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như phương pháp thống kê, phân tích,

so sánh, tổng hợp Nhờ sử dụng các phương pháp nói trên, luận văn có một số

đánh giá về những tên tại hạn chế và những điểm còn bất cập chưa phủ hợp

với thực tế áp dụng trong giai doạn hiển nay và giải doạn tiếp theo khi đất nước phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế sâu rộng, để từ đó có

hướng để xuất hoàn thiện PLIIS Việt Nam hiệu quả nhất đáp ứng được cả

trong hiện tại vả tương lai

6 Những cái mới về mặt khoa học của luận văn

Thứ nhất, Luận văn đưa ra được luận chứng về sự cần thiết phải giảm

và tiến tới xoá bó hình phạt tử hình trong I.uật hình sự Việt Nam

Thứ hai, Luận văn đưa ra những quan điểm mang tính định hướng đúng

Trang 19

phủ hợp với lộ trình hội nhập quốc tế, Luật pháp quốc tễ cã hiện tại và trong tương lai mà Việt Nam chủng ta dã và dang tiến hành ký kết, tham gia một

cách đây đủ và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế

Thứ ba, Luận văn cũng dã dưa ra dễ xuất cụ thể về thời diễm phủ hợp

để giảm và tiến tới xoá bẻ hình phạt tử hình đối với một số câu thành tội

phạm không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế đang trên

đã phát triển, nhận thức xã hội có nhiều dấi thay mang tính tích cực Đồng,

thời đưa ra một số kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chính sách pháp luật hình sự đầm bảo tính nhất quán về mặt chủ trương thể hiện tỉnh nhân đạo,

nhân văn cao cả của Đăng vả Nhà nước ta nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả

của việc quân lý xã hội

7 Ý nghĩa lý luận vã thực tiễn của luận văn

DB tai co ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu

chính sách pháp luật hình sự Việt Nam Kết quả nghiên cửu của luận văn góp

phần phát triển lý luận về một số vấn đề cơ bản dễ giám vá tiến tới xoá bỏ

trình phạt tử hình trơng Luật hình sự Việt Nam Dễ từ đó đưa ra những luận

cứ khoa học lâm cơ sở cho việt nghiền cứu có chọn lọc nhằm thể chế hoá

chính sách nhân đạo của Nhà nước trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình

sự quy định về hình phạt tử hinh

Bén cạnh đỏ, kết qua nghién cứu dễ tài có thể phục vụ cho việc trang

bị kiến thức chuyên sâu về mặt lý luận để tùng bước thay đỗi nhận thức đổi

với cán bộ pháp luật, các học giả, các nhà quản lý và hoạch định chính sách phap luật để góp một phần nhỏ trong lĩnh vực hoàn thiện chính sách

pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, tạo tiền đề thuận lợi cho

công cuộc xây dựng “Nhà mước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì

Nhân dân” [65, Điều 2].

Trang 20

8 Kết cầu của luận văn

Trong khuôn khổ hạn chế của luận văn với mục dích thực hiện những nhiệm vụ trong phạm vi một số vấn đề cơ bản của việc nghiên cứu đề tài Do

đó, bên cạnh Lời nói dau, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn còn có 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hình phạt tử hình

Chương 2: Những quy phạm cúa Pháp luật hình sự Việt Nam quy dịnh

về hình phạt tử hình từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay

Chương 3: Các luận cứ nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam

theo hướng giảm và tiến tới xoá bỏ hình phạt tử hình

Trang 21

Chương 1

MỘT SỐ VẬN ĐỀ LÝ LUẬN VẺ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH

TRONG LUẬT IIÌNII SỰ VIỆT NAM

1.1 Cúc nghiên cứu hiện nay về hinh phạt tử hình

Ở Việt Nam chúng ta do điều kiện hoàn cảnh đất nước bị đô hộ nhiều

năm của ché dé ‘Thue dân phong kiến và Để quốc Mỹ, chúng ta phải trải qua

hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tôc chéng lại hai cường quốc mạnh vảo

hang nhất thế giới là Thực dân Pháp và Đề quốc Mỹ trong nhiều năm, cho nên nén kinh tế cũng còn gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, khoa học luật Hình

sự Việt Nam ra đời rất muôn so với các nước tiễn bộ trên thể giới Với những

điều kiện, bối cảnh đất nước như vậy thỉ việc nghiên cửu lý luận về hình phạt

nói chung và hình phạt tử hinh nói riêng không có sự quan tâm phát triển Vảo những năm trước đây (khoảng thập niên 90 của thế ký X3), chưa có một tài

liệu nào mang tính chất nghiên cửu về hình phạt tử hình ở nước ta giai doạn

nảy, mà hình phạt tử hình chỉ có thể tìm thấy hoặc được dé cập rất ít, mang

tính chất tìm hiểu ở một vải giáo trình của các cơ sở đảo fạo luật trong nước

Trong những năm gần đây nền kinh tế của dất nước đã có sự đổi mới và

phát triển, các quan hệ pháp luật cũng từng bước được quan tâm của xã hội, do

đó một số các nhá nghiền cứu khoa học pháp luật hình sự trong nước đã bước

dầu có sự quan tâm dến vấn để hình phạt tử hình trong hệ thống pháp luật hình

sự Việt Nam Cụ thể như: Tác giả Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng, hai tác giả cũng dã nghiên cứu về hình phạt tử hình vả chơ rằng, viếc duy trì hình

phat tir hinh ở nước ta hiện nay là một yêu cầu khách quan trong cuộc đầu tranh

phòng chống tội phạm đang diễn ra phức tạp Tuy nhiên hai tác giả cũng đã đề

cập đến việc không, ngừng hoản thiện nó cho phù hợp với tỉnh hình thực tế Hai

tác giả này cũng đã đưa ra hướng hoàn thiện hình phạt tử hình đó là: “đổ; mát

Trang 22

hình thức thi hành án từ hình và hạn chế hình phạt tứ hình trong Tư pháp hình

sự thông qua quá trành phí hình sự boả" |96, tr 119 - 124; 18, tr 23]

Tac giá Trần Quang Tiệp trong bai “326: số vấn đề ‡ÿ luận và thực tiễn

về thì hành hình phạt từ hình”, tác giả đã tập trung phân tích một loạt các vướng mắc trong quá trình thi hãnh hình phạt tử hình "Theo ông, hình phạt tử

hình là một hình phạt nghiềm khắc nhất tước đi mạng sống của người bị kết án

Bên cạnh đó ông còn se luc li

Nam về thi hành hình phạt tử hình, đối chiếu với các quy định về thi hành hinh

sử các quy định của pháp luật hình sự Việt

phai tử hình của các nước trên thế giới, tác giả đã đưa ra một số vẫn đề về thí

hành hình phạt tử hình ở nước ta cần hoàn thiện, như: “Zhởi hạn xót đơn xin ân

giảm án tứ hình của Chủ tịch nước, hình thức xử bắn gây tốn kém và gây ức

chế về mặt lâm lÿ cho những người tham gia đội bắn; việc cho phép thân nhân

tử tội nhận xác sau khi thì hành hình phạt tử hình” v.v [73, tr 43] Chính vì vậy, sự điều chỉnh của pháp luật về thi hành hình phạt tử hình cần phải đảm

báo Linh chặt chế, thận trọng, chính xác tuyệt đối

Tác gid Tran Van Dé, khi bản về vấn để tử hình có quan điểm cho rằng

việu duy trì hình phạt tử hình hiện nay ở nước Lx là cần thiết nhằm đầu tranh

phòng chẳng một số loại tội phạm dặc biệt nghiêm trong Tuy nhiên, theo tác

giả, phạm vi áp dụng hình phạt tử hình nên được thu hẹp lại và chỉ cần giữ

hình phạt này đỗi với các tội giết người, hiếp đâm trẻ em, cướp tài sẵn, một số

tội về ma tuý Bên cạnh đỏ, tác giả còn để nghị luật nên bỗ sung một sô nội đung theo xu hướng nhân đạo và giảm bớt áp lực hơn về mặt tâm lý cho cả

phạm nhân và người thực thì nhiệm vụ như: “cho phép hoãn thì hành án tử

hình đếi với các rường hợp có khả năng ân giảm, quy định thủ tục bảo đảm

thi bành án từ hình nhanh chồng đễ tránh tâm lý nặng lễ, cân thay đối hình

thức xử bắn và bộ sung hình thức tiêm thuắc độc đổi với tử tôi ” [38, tr 66]

Khi nghiên cứu về hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam chứng

Trang 23

ta phai ké dén tác giả Phạm Văn Lợi và cộng sự đã nghiên cứu một cách khá chỉ tiết về hình phạt này được thể hiện tại cuốn sách chuyên khảo: “Một số

vấn đề về hình phạt tử hình và thi hành hình phạt tử hình” Tại đây, tác giả đã

phân tích chỉ tiết khái niệm, đặc điểm, mục dích và bản chất của hình phạt tử hình, đồng thời tác giả cũng đã sơ lược về lịch sử các quy định của pháp luật

hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình, phân tích những quy định của pháp

luật hình sự hiện hành về hình phạt tử hình và thì hành hình phạt tử hình Trên

cơ sở của việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tử hỉnh và thi hành

tình phạt tử hình ở Việt Nam, nghiên cứu những xu hưởng chung quy định

của pháp luật hình sự các nước trên thế giới Tại phần nghiên cửu hình phạt tử

hình theo quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới tác giả

cũng đã để cập đến quan điểm uủa các nước đó lả cỏ nên duy trì hình phạt tứ

hình hay xóa bỏ hình phạt tử hình? Nhiều người theo quan điểm đòi phải hủy

bỏ hình phạt Lử hình cho rằng:

Sự sống của con người là cải quỷ giá nhất mã tạo hoa đã ban

cho, con người không nên sử đụng pháp luật để tước đi cái đó Ngoài

ra họ côn lập luận rằng, Töa án có thể mắc sai lâm trong việc quyết dinh hỉnh phạt tứ hình, mà khi đã thi hành xong hình phạt tứ hình thì

không sửa chữa được nữa Mặt khác, xu thế chung của toàn cầu có

thể nhận thấy là Công đông quốc tế đã nhất trí hưởng tới một thể giới

không có hình phạt tử hình Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hinh

sự của nhiều nước, việc hủy bd hình phạt tử hình trong hệ thông hình

phạt sẽ gó xu hưởng tăng lên [53, tr 80- 81]

Tổng quát chung cho thấy các nghiên cứu trong nước về hình phạt tử

hình không nhiều và hầu hết đều tập trung khẳng định rằng hình phạt này là

còn cần thiết ở nước ta Tuy nhiên theo xu thế tiến bộ vả nhân đạo, các tác giả

đều cho rằng nên thu hẹp phạm vi hình phạt tử hình trong BLIIS Bên cạnh

Trang 24

đó, cần hoàn thiện pháp luật về thi hành hình phạt tử hình nhằm đảm bảo tính

nhân dạo và mục dích răn đe, giáo dục của hình phạt nảy Nhưng về mặt thực

tế các tác giả chỉ mới đề cập đến vấn đề nhân đạo và một số bất cập trong quá

trinh áp dụng và thì hành hình phạt tử hình mả chưa di sâu phân tích đưới các góc độ khác nhau để thấy rõ những điểm còn hất cập, tần tại; đồng thời chưa chỉ ra được những đổi thay của nên kinh tế, sự tiến bộ rõ rệt của xã hội trong, thời kỳ dỗi mới vả hội nhập quốc tế sâu rộng của dat nước ta dễ từ đó dựa ra

các giải pháp trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự theo hướng giảm và tiến

tới xóa bỏ hình phạt tử hình

“rong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu, bài viết đi sâu

phân tích theo xu hưởng giảm và tiễn tới xóa bỏ hình phạt tử hình đỏ là: tác

hình phạt tứ hình

giá Vũ Thị Thúy, với nghiền cứu một cách kha chi wot

trong luật hình sự Việt Nam được thể hiện tại cuốn sách chuyên khảo: “Một

sé van đề về hình phạt tử hình và thì hành hình phạt tử hình” do nhà xuất bản

Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2010 Tại dây, lac

giả cũng đã phân tích chỉ tiết những quy định của pháp luật hình sự hiện hành

về hình phạt Lử hình và thí hành hình phạt tử hình Trên cơ sở của việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng, hình phạt tử hình vả thì hành hình phạt tử hình ở Việt

am, nghiên cửu chỉ tiết hai xu hướng trên thế giới bản về duy trì hình phạt

tứ hình hay xóa bỏ hình phạt tử hình Sau khi phân tích dễ cập một loạt các

vin dé tac giả cũng đưa ra quan điểm: “7heo xu hướng chung của thế giới,

đựa trên cơ sở điều kiện kinh tắ- xã hội của đất nước và tình hình tội phạm,

chủng ta cần thu hẹp phạm vì áp dụng hình phạt từ hình trong Bộ Luật hình

sự Việt Nam” [72, tr 193]

Còn G8.TSKII Lê Văn Cảm, Nguyễn Thi Lan “Hinh phạt ti hành

trong pháp luật hình sự Việt Nam: Giữ nguyên hay cần giảm và tiễn tới loại

bổ?”, Tại nội dụng bài viết tác giá cũng đã đi sâu phân tích nhiều vấn để,

Trang 25

nhiễu khía cạnh trên nhiều bình điện khác nhau như: 1) về mặt nhận thức xã hội; 2) về mặt lập pháp, 3) về mặt thực tiển, 4) về sự cần thiết bảo vệ quyền sống của

con người, bởi lễ theo tác giả đây là quyền cao quý nhất trong hệ thống các

quyển trong lĩnh vực tư pháp hình sự, 5) về quan hệ đối ngoại, tác giá cho rằng

“trong bối cảnh xu thể hội nhập quốc tỄ hiện naụ, để có thê xây dựng thành công

NNPQ thi Diệt Nam không thễ đứng ngoài xu thê db Theo tinh toán của tỗ

chức ân xả quốc lê thì trong pháp luật hình sự của mình có 7 quốc gia (rong đó

có Việt Nam) thuộc nhóm có số từ tà bàng năm cao nhất” [1%, tr 3-11] Từ đó

tắc giả đưa ra quan điểm cần giảm và tiến tới loại bỏ hình phạt tử hình trong

Luật hình sự Việt Nam

Đặc biệt trong thời gian gần đây, để cụ thể hóa lIiến pháp năm 2013 di

vào cuộc sông, đây mạnh triển khai thực hiện chính sách pháp luật hình sự theo tình thần Nghị quyết 49-NQ/IW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến

lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Trong đó “đề cuo hiệu quả phòng ngừa

và tỉnh hưởng thiện trong việc xứ Ïÿ người phạm tội: Hạn chế úp dụng hình

phat ti hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt

nghiêm (rọng” |§, tr 1-2| Do đỏ, Đăng và Nhà nước tá chủ trương lấy ý kiến rộng rãi của nhân đân vá đặc biệt là đội ngũ trí thức góp ý vào dự tháo sửa dối

Bộ luật hình sự cho phủ hợp với tình hình thực tế và thực tiễn áp dụng Việc sửa đổi bổ sung lần nảy trong đự thảo Độ luật hình sự có một số vẫn để cỏ liên quan đến hình phạt tử hình đã nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội và

của các học giả, các nhà luật gia với nhiều quan điểm khác nhau xung quanh việc có nên bỏ hẳn án tử hình hay không? Giảm bao nhiêu tội và những tội

niảo? Trong bài viết “Giảm hình phạt tử hình trong dự tháo Bộ luật hình sự sửa

đổi: từ góc nhìn của công chúng và chuyên gia” của T8 Trương 1Š Hải Tại

bài viết này tác giả đã để cập đến quyền sống theo các quy định của pháp luật

quốc tế, pháp luật Việt Nam; các quan điểm về việc giảm số lượng tội danh có

Trang 26

xmức án tử hinh tại các cuộc hội thắo nghiên cứu hoàn lhiện Bộ luật hình sự sửa dỗi của các chuyên gia, để từ đó dưa ra quan diểm

Tĩình phạt tử hình quy định trong luật hình sự liên quan đến quyền sống của con người Ở mỗi quốc gia, việc quy định hình phạt tử hình là khác nhau,

phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội và chính trị ở mỗi nước IIiện trên thể

giới đã có rất nhiều nước bỏ hình phạt tử hinh trong luật hình sự, những nước

còn quy định thi hạn chế về số lượng và thi hành án tử hình cũng khác nhau

Có nước thi hành với số lượng ít, có nước có tuyên án tử hình nhưng cho hoãn

không thi hanh [87, tr 110]

Khi nói dén quyền sống, thì theo các quy dịnh của pháp luật quắc tế và

trong hệ thông pháp luật Việt ham cũng quy định rất rõ ràng đó lả: Tuyên ngôn toàn thé giới về nhân quyển (UIDHR) năm 1948 là tuyên ngôn đâu tiên

chính thức dược khẳng dinh: Quyển sống lả quyền tự nhiên, cơ bản của con

người Còn tại khoản 1, điều 6 của Công ước quốc tế về các quyển dân sự

chính trị năm 1966 (ICCPR) đã cụ thể hóa những quy định của UI)HR như:

“Mới người đều có quyên có hữu dược sông Quyên này Phải được pháp luật

bảo vệ Không đi có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện” [40, tr 255]

Theo đó việc áp dụng hình phạt tử hình không được trái với những quy dịnh

của ICCPR và của Công ước về ngăn ngừa và trửng trị tội diệt chúng;

không được viện dẫn Diều 6 để trì hoãn hoặc ngăn cẩn việc xóa bỏ hình phạt

tử hình Ở Việt Nam, quyền sống được phi nhận tử rất sớm, ngay trong tuyển

ngôn độc lập năm 1945 HỀ Chủ tịch đọc tại Quảng trường Ba đỉnh lịch sử

Mặc dù trong các bản Hiển pháp 1946, 1259, 1980, 1992 quyên sống không

được để cập trực tiếp nhưng được quy định gián tiếp thông qua các quyền bất

khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của

công dân Đến Hiến pháp năm 2013, quyển này mới được nêu trực tiếp trong

Điều 19: “Mới người có quên sống Tỉnh mạng con người dược pháp luật

bảo hộ Không ai bị tước đoạt tỉnh mạng trải luật” [65, Điều 19] Như vậy,

Trang 27

với những quy định này chúng ta nhận thấy ở Việt Nam chúng ta hiện vẫn là

một trong những nước trên thể giới duy trì hình phạt tử hình Nhưng qua mỗi

giai doạn sửa đổi, số lượng tôi đanh có mức án tử hình cũng tăng giăm khác

nhau, tuy nhiên lần sửa đổi gần nhất của Bộ luật hình sự 1999 vào năm 2009

hình phạt tử hình đã giảm xuống còn 22 tôi danh; đến thời điểm hiện tại

(27/1 1/2015) Quấc hội đã thông qua dự án luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình

sự năm 2015 đã giảm bởi, hiện chỉ còn 18 Điều Về nguyên tắc, mặc đủ việc

áp dụng hình phạt tử hình đã tương thích với các tiêu chuẩn của luật pháp

quốc tế, nhưng phạm vi áp dụng hinh phạt này còn nhiều hơn so với các nước

trên thế giới

Irong khi đó tại một nghiên cứu khá chỉ tiết của PG5 'U8 Trịnh Quốc

Toân về “IIình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam”, tác giả đã đi sâu

phân tích khá chì tiết đồng thời dưa ra quan diém:

“tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hinh phạt của

hả nước, tước đi quyền quan trong và thiêng nhất của con người, đó là

quyền sống Xuất phát từ quan điểm hình phạt tứ hình (cho da thể thức thị

thành nó trong thực tế như thể nào cũng là một hình phạt đã man, phi luân lý,

vô Ích, không có Lác dụng răn đe người phạm tội) Việc duy trì hình phạt này

không có tác dụng làm giảm tôi pham kế cả các tôi phạm đặc biệt nghiêm

trọng [87, tr 148]

Trong thực tiễn nhiều năm áp dụng cho thấy, hình phạt nghiêm khắc

thái quá chưa thể hiện rố nét có tác dụng tích cực trong đấu tranh phòng,

chống tội phạm Đổi lẽ mục đích của hình phạt phải là giáo duc con người

lầm lỗi trở thành người có ích cho xã hội Đặc biệt khi pháp luật đóng sập

cảnh cửa cho việc hoàn lương đối với người phạm tội đều không có ý nghĩa

phỏng ngừa lich cực Chính vì lẽ dé mà không phải ngẫu nhiên mà Nghị

quyết số 49-NQ/TW đã khẳng dịnh tính hướng thiện của hình phạt “hạn chế

Trang 28

ap dụng hình phạt tử hình” Đây có thể coi đó là một chỉ đạo định hướng vỏ ý

nghĩa hết sức quan trọng trong đổi mới tư duy, dỗi mới nhận thức về chính

sách hình sự trong chiến hược cải cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020

Rén canh do có ý kiến cho rằng: quyển sống của kế phạm tội có thể thay thể bằng biện pháp khác có thể tiêm thuốc lâm mất khả năng phạm tội,

không nhất thiết phải tước đi quyền sống của kế phạm tội mả vẫn đạt được

mnục tiêu ngăn ngừa tái phạm, rần de tôi phạm chung

Việc dé xuất bỏ án tử hình [87] một số quan điểm còn đựa trên lập luận

cho rằng: mức độ nguy hiểm cho xã hội mà một số tội gây ra như: (lội san

xuất buôn bán hàng giả lả lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc

phong bệnh, chỗng mệnh lệnh va đầu hàng địch) Bởi trong thực tế nhiều năm

chủng 1a chưa áp dụng hỉnh phạt tứ hình cho nhỏm tội danh này Quan điểm

này cũng được nhiều chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật đồng tình Còn các nhóm về xâm phạm an ninh quốc giá các quan điểm cũng đồng tình nên xóa

bỏ với những lập luận đó lả chế độ chính trị của nước ta tương đổi ấn dịnh

Cùng với chính sách nhân đạo thì trong xu thế hội nhập quốc tế, chúng ta đã

có những biện pháp chống lại âm mưu diễn biển hỏa bình, nói xấu chế độ nên

các hành vi phạm tôi xâm phạm an ninh ít xảy ra hoặc tỉnh chất, mức độ, hậu

quả thường chưa đến mức phải phạt tử hỉnh Tương tự một số tội thông

thường cũng như vậy (Vi dụ: tôi cướp tài sản, buôn lâu )

Còn quan điểm về việc giảm số lượng tội danh có mức án tứ hình thì

TS Trần Công Phàn-chuyên gia nghiên cứu chỉnh sách pháp luật cũng đều

cho rằng hiển tại Bộ luật hình sự hiển hành của chúng ta vẫn còn 22/272 tôi

có mức án tir hinh, chiếm tỷ lệ 8% trong tổng số các tội đanh có trong Bộ luật

hình sự như hiện nay là cao vì thế cần thu hợp phạm vỉ áp dụng hình phạt tử

hình [57, tr 10]

Củng quan điểm trên, tại hội thảo nghiên cứu hoàn thiện BLIIS do

Trang 29

chương trình phát triển của liên hợp quốc (UXDP) và Bộ Tư pháp lễ chức vào

tháng 11/2014, các chuyên gia đã để xuất giảm 09 tội danh, bao gồm (Hiếp

dâm trẻ em; cướp tài sẵn; sản xuất, buôn bán hàng giả lả lương thực thực

phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bộnh; tảng trữ vận chuyển trái phép chất

ma túy: phá hủy công trình phương tiên quan trong về an ninh quốc gia; tham

õ tải sẵn, nhận hỗi lộ; chống mệnh lệnh vả tội dầu hang dịch Đặc biết là tại

cuộc hội tho lấy ý kiến sửa đổi Bộ luật hình sự do Ủy Ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức tại thành phổ Hồ Chí Minh, các chuyên gia cũng đã tập trung vào

một số vấn dề như bỏ hình phạt tử hình ở một số tội, bỏ hẳn nhiễu tôi thực Lễ

chưa bao giờ áp dụng, thu hẹp hành vi trong mệt số tội danh Theo ông Trần

Công Phàn- Phó Viên trưởng Viên kiểm sát nhân dân tối cao cho biết: hiện

nay, có 22 lội danh có khung hình phạt cao nhất lả tứ hình Qua tổng kết thi

hành Bộ luật hình sự cho thấy có một số tội danh rất ít khi tòa án xử phạt đến

tử hình, thậm trí có tội chưa bao giờ tòa áp dụng mức hình phạt cao nhất này Đặc biệt tại cuộc hội thâu này PGS.TS Trịnh Quốc Toản - Quyền chủ nhiệm

khoa luật Dai hoc Quéc gia Hà Nội đã đưa ra dẫn chứng một cách cụ thể có tinh thuyết phục về những tội danh có khung hình phạt tứ hình nhưng chưa

bao giờ áp dụng trong thực tiễn đó là: các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Tội phản bội tổ quốc; Tội hoạt động nhằm lật đỗ chính quyền nhân dân, Tội bạo

loạn; Tội hoạt động phi, Tdi pha hoại cơ sở vật chất của Nhà nước cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tội

chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy, lội chống mệnh lệnh; lội hủy hoại vũ khí quân dựng, phương tiện, kỹ thuật quân sự: các tội phạm quốc tế Do đó tác giả cho rằng, đối với Việt Nam trong giai đoan hiện nay, việc duy trì hình phạt tử hình là cần thiết, nhưng nên cân nhắc tiếp tục loại bỏ hình phat nay đối với

một số tội phạm khác, trong đó bao gầm cả những tội phạm mả trong thực

tiễn xét xử từ năm 1993 đến năm 2010 đã không bị áp đụng hình phạt tử hình

(đã xóa bỏ trong thực tiễn áp dụng) [87, tr 122-123]

22

Trang 30

1.2 Ilinh phạt tử hình và cơ sở nhằm giảm và tiến tới xoá bỏ hình

phạt này trong luật hình sự Việt Nam

1.3.1 Khải niệm về hình phạt từ hình

Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của

luật hình sự do Nhà nước áp dụng đối với người phạm tôi đặc biệt nghiêm

trọng (thường được gọi là tội tử) để loại trừ vĩnh viễn người đó ra khổi đời

sống xã hội Quan niệm về tôi phạm như thế nảo là đặc biết nghiềm trong va

có thể áp dụng hình phạt tử hình không giống nhau ở những thời đại khác

nhau cũng như ở những quốc gia khác nhau Ilình phạt tử hình là việc “?ước

bỏ tính mạng của một người, còn theo nghĩa thì chữ: "tứ hình” là có ngudn

gốc từ 'Tián Việt, có nghĩa là hình phạt chết” [40, tr 12]

Các nước theo hệ thống luật Anglo - Saxon, hình phạt tử hình trong luật

hình sự được định nghĩa lả một hình phạt tước đi mạng sống của người phạm

tội, được áp dụng đối với những người phạm tôi nghiêm trong (felony)

Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi năm 2009 của Việt Nam tại Diéu 35 có quy định: “Tỉ lính là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với

người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” |64, Điều 35]; Còn tại Bộ luật hình sự

2015 thông qua ngày 27/11/2015 tại khoản 1 Điều 40 có quy định

Tử hình là hình phạt đặc biệt chi 4p dung đổi với người phạm

tôi đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm

an ninh quốc gia, xâm phạm tỉnh mạng con người, các tội phạm về

ma túy, tham những và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác

do Hộ luật nảy quy dịnh [66, Điều 40]

Với tư cách là một loại hình phạt đặc biệt trong hệ thống hinh phạt của luật hình sự Việt Nam Tinh chất dặc biệt của nó sẽ dược phân tích trong phần

các quy định của luật bình sự Việt Nam hiện hành về hình phạt tử hình ở

Chương 2 của luận văn này Tuy nhiên, khi nghiên cứu đặc điểm, khái niệm

Trang 31

hình phạt tứ hình trong BLHS Việt Nam hiện hảnh, chúng tôi thấy khái niềm

của xnột số cầu thành chưa phủ hợp với đặc điểm kinh tế và tình hình hội nhập

trong giai doạn hiện nay và trong tương lai Đó là: theo quy định trên thì hình

phạt tử hình “chỉ áp đụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”

‘Trong khi đó khoản 3 điều 8 BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 (khoản 4

Điều 9 BI.HS năm 2015) quy dịnh: tội phạm đặc biết nghiêm trọng lả tội phạm

có mức cao nhất của khung hình phạt là “trên 15 năm tù, tù chương thân hoặc tử

hinh” [64, Dida 8]; [66, Điều 9] Như vậy, khái niệm này chưa phải thực chất

của tính đặc biệt nghiểm trọng, khái niệm còn quá rộng, để hiểu nhằm Vì vậy,

theo quan điểm của tôi, đoạn này nên được sửa lại là hình phạt tử hình “chỉ áp

dung đối với người phạm tội có tính chất đặc biệt nguy hiểm cao cho xã hội”

Thứ han, khái niệm hình phạt tứ hình trong ĐLHS hiện hành cũng không biểu

hiện nội dung của hình phạt này Nội dung của hình phạt tử hình là tước đi

mạng sống của người phạm tội Nội dung nảy luôn dược thể hiện trong các

khái niệm hình phạt tử hình dù là dưới góc độ văn hoá hay pháp luật

Vì vậy, từ những phân tích các đặc điểm của hình phạt tử hinh va

những nội dung phân tích trên chủng ta có thể đưa ra khải niệm về hình phạt

tử hình như sau: “Tử hình là hình phạt đặc biệt nghiềm khắc trong hệ thông

hình phạt của luật hình sự Việt Nam, tước di quên sống của người phạm tội

bị kết ăn và chỉ được áp đụng đối với những người phạm tội có tính chất nguy

hiểm đặc biệt cao cho xã hội, được qup định trong Bộ luậi hình sự”

1.3.3 Các đặc điểm của hình phạt tứ hình

Ilinh phạt tử hình, với tu cách là một loại hình phạt đặc biệt trong hệ

thống hình phạt của luật hình sự, vì vậy hình phạt tử hình có đầy đủ các đặc điểm chung của hình phạt và đồng thời cũng có cả những đặc điểm riêng biệt mang tính tàn khắc của hình phạt này

Đặc điểm chung

1) Hình phạt tử hình được quy định trong Độ luật hình sự

24

Trang 32

Luật hình sự với nhiệm vụ quan trọng đỏ là đấu tranh phòng ngừa và

phòng chống tội phạm mả công cụ để thực hiện nhiệm vụ nảy là hình phạt

De đé, hình phạt là một trong những chế định quan trọng nhất được quy định

trong BI.HS Hình phạt khi dược áp dụng nghĩa lả tước bố hoặc hạn chế

quyền và lợi Ích của người phạm tôi Chỉnh vì vậy để tránh tuỳ tiện trong áp

dụng hình phạt thì việc áp dụng hình phạt cũng như xác định tội phạm cần

phải dược BI.HS quy dịnh, có giá trị pháp lý chỉ sau Hiến pháp quy dinh

Điều 26 BLIHS hiện hành nêu 16: “Hinh phat la biện pháp cưỡng chế nghiêm

khắc nhất Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và đo Toà án

quyét dink.” [62]; [64, tr.18] Quy định này chính là biếu hiện của sự tuân thủ

triệt để nguyên tắc pháp chế trong xây đựng vả áp đụng luật hinh sự, đồng

thời biểu hiện sự quản triệt của chính sách hính sự nước ta trong việc quy

định và áp dụng hình phạt 'Lĩnh thần đó thể hiện ở chỗ ngoải những hình phạt

được quy định trong DLIIS, không một biện pháp cưỡng chế nào được áp dụng với tính cách là hình phạt

Với đặc điểm là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt

xiên trong BLHS, hình phạt tứ hình được quy định ở cả phần chung và phần

các tôi phạm Ở phần chưng, Điều 35 (Điều 40 BI.HS năm 2015) quy định hình phạt tử hinh với tư cách là hình phạt chính với các nội đụng: khái niệm

hình phạt tứ hình, các trường hợp không duoc ap dụng hình phạt tử hình,

không được thi hành hình phạt tử hinh và trường hợp người bị kết án tử hình

được ân giảm 6 phan các tội phạm, hình phạt tử hình được quy định là chế tải lựa chọn kẻm theo các tội phạm cụ thể ‘Theo BLHS hiện hành, hình phạt

tử hình được quy định tại 22 điều luật va BLIIS nim 2015 thông qua ngảy

27/11/2015 quy định 18 điều luật

2) Hình phạt tử hình do 'Toả án nhân danh Nhà nước quyết định

Điều 102 Iliễn pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân đắn là cơ quan

Trang 33

xót xứ của nước Cộng hoà xã hội chit nghia Viel Nam, thee hién quyén te

pháp ” |65, Điều 102] Didu 26 BLHS hién hành (Điều 30 BI.HS năm 2015)

quy định: IIình phạt “đo Toà án quyết định”, quy định nảy phủ hợp với

nguyễn tắc Hiển dmh Mit khác các quy định của luật tổ tụng cũng đã thừa nhận điều đó, bởi lẽ một số lĩnh vực khác (không phải hình sự), không bắt

buộc Toà án phải giải quyết (chẳng hạn lĩnh vực kinh tế, dân sự, hành chính),

những lĩnh vực nảy các dương sự có thể lựa chọn cách giải quyết khác, không, thông qua Toả án Duy nhất, trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án

buộc phải thông qua gác khâu tổ tung được quy định hết sức chặt chế và nghiềm ngặt Diéu nay xuất phát từ hậu quả pháp lý của việc giải quyết vụ án hình sự có ảnh hưởng rất lớn đối với người phạm tội, biểu hiện cụ thé qua

việu quyết định hình phạt Vì thế, Nhà nước đã giao cho các cơ quan trong Bộ

máy Nhà nước, đại diện mình, thực hiện các khâu trong quá trình tế tụng đảm bảo chặt chế từ điều tra (Công an), truy tổ (Viện kiểm sáU Đối với hoạt động

xót xứ và quyết định hình phạt Nhà nước giao cho Toà án Trong đó, khâu

xết xử và quyết định hình phạt được xem là quan trọng nhất, bởi vì: tại Diễu 9

BLTTHS 2003 quy định: “không ai bị cơi lã có lội kju chưa có bản án kết lội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” |61, Điều 9|

Do tinh chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của

hình phạt, Nhà nước dã trao cho Téa an toan quyền quyết định hình phạt một

cách độc lập mả không chịu sự chỉ phổi của bắt kỳ cơ quan nảo mả chỉ tuân theo pháp luật Trong việc quyết đỉnh hình phạt tử hình cũng không ngoại lệ

Việc Chủ tịch nước xem xét dơn xin ân giảm của người bị kết án tử hình không

phải là hoạt động xét xử và việc chip nhận hay bác đơn xin ân giảm cũng

không phải là hoạt động quyết định hình phạt Quyết định hình phạt tử hình của

‘Téa án là hoạt động trên cơ sở căn cứ vào hành vị phạm tội được thực hiện, đối

chiếu các quy định của BLIIS, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân

Trang 34

thân người phạm tội và các tình liết giảm nhẹ, tăng năng trách nhiệm hình sự

dé tuyén phạt tử hình đổi với người phạm tội sao cho dũng người, đúng tội Việc xét đơn xin ân giảm án tử hình của Chủ tịch nước là một thủ tục mang tỉnh chất nhãn dạo chứ không phải là việc xét lại bán án tử hình dã có hiệu lực pháp luật Vì thế, khi Chủ tịch nước chấp nhận đơn xin ân giảm án tử hình

không có nghĩa là hủy bản án tử hình do Tỏa án quyết định mà chỉ chấp nhận

không thi hành án tử hình vì mục dich nhân đạo, thể hiện bản chất tru việt của

hà nước việt Nam xã hội chủ nghĩa “của dân, do đân và vi dân”

3) 1Tình phạt tử hình chỉ có thể được áp dựng đối với người phạm tội

Hình phạt với tính chất là một biên pháp trách nhiệm, hậu quả pháp lý

của việc thực hiện hành v1 phạm tội “C?ỉ người nào phạm một tội đã được

Bộ luội hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" |64, Điều 2|,

nghĩa lả trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh cho một cá nhân khi họ đã thực

hiện hành vi phạm tội Đặo điểm nảy xuất phát từ nguyên tắc trách nhiệm

hình sự cả nhân Như vậy, hình phạt tử hình ũng là một loại hình phạt cho

niên chỉ được áp dụng đổi với người phạm tội

Đặc điểm riêng

Tiên canh những điểm dặc trưng của một hình phạt, hình phạt tứ hình

còn chứa đựng những đặc điểm riêng vốn có của nó Bởi lẽ, nó lả một hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thông hình phạt, vì vậy chúng ta cần di sâu

phân tích để tùm ra những tồn tại bắt cập đó là:

1) Hình phạt tử hình có một đặc tính riêng biệt đó là hình phạt nghiêm

khắc nhất tước di mạng sống của người phạm tội Đặc diễm này chỉ phù hợp

đối với những người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội,

với mục đích tước bổ tuyệt đối khả năng Lái phạm của người phạm tội này,

Bởi lẽ, một người đã cổ ý phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã

hội thì thông thường họ sẽ không có tính người, không phân biệt được đúng

bà 3

Trang 35

sai, ý nghĩa nhân đạo mà xã hội lên án (chẳng hạn giết người diệt khẩu, giết nhiều người có tính chất giã man, côn đề ) Do đó, hình phat nay dâm bảo được việc thực hiện mục đích phỏng ngửa riêng Tức là kẻ phạm tội này buộc phải đỗi điện với hình phạt tử hình, vi khi dã mất tính người thì kẻ phạm tôi nảy sẽ không thể giáo dục được nữa

2) Do hình phạt có đặc điểm nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình

phat va chi được áp dụng dỗi với người phạm một tội có tỉnh nguy hiểm đặc

biệt So với các biện pháp trách nhiệm pháp lý khác dù rất nghiêm khắc

nhưng cũng chỉ có thể với nội dung lả tước đi quyền tự do của người phạm tội Người bị áp dụng hình phạt tử hình sẽ bị tước đi tất cả mọi quyền và lợi

ích, kể cả quyền được sống Do đây là loại hình phạt nghiêm khắc nhất nên

chỉ dành cho những tội phạm oó tính đặc biệt nguy hiểm ao nhất trong số các

tội phạm được quy định

Tuy nhiên, khi đối chiếu với các mục đích của hình phạt thì dương nhiên

sẽ mất đi một trong bến muc dich của hình phạt nói chung (mục địch ngăn

ngừa riêng) Bởi lẽ khi áp dụng hình phạt tử hình thì sinh mạng của người bị

kết ạn đã bị tước bỏ vĩnh viễn nên người đó đương nhiên sẽ không cỏn cơ hội

dé cai tao - giáo dục trong nhà tủ dược nữa Chính vì vậy, hình phạt tử hình chỉ

cén lại có 3 trong 4 mục đích của hình phạt nói chung [§7, tr 190] Do đó, hình phạt tử hình với ý nghĩa là hình phạt dặc biết và nghiễm khắc nhất so với tất

cả các loại hình phạt khác trong hệ thống hình phạt của PLHS Viét Nam chi phù hợp đối với những tội phạm có tính đặc biệt nguy hiểm như (giết người

diệt khẩu, piết nhiều người, piết người phi tang ) Bởi vì áp đụng tử hình đối

với kẻ phạm tội này chính là để răn đe người phạm tội không phạm phải

Trong thực tế chúng La thấy: có rất nhiều vụ án gũng có thể người nhạm tội do

lỗi võ ý dẫn đến chết người, hoặc lỗi cố ý dẫn đến chết người nhưng đo sự

hiểu biết đơn thuần quy định của pháp luật về tứ hình cho nên họ hay tìm cách

3%

Trang 36

chốn chảnh, bịt đầu mỗi để tránh cải chết do án tứ hình khi phải đổi mặt với

cơ quan pháp luật Vì vậy khi dã giết một người do vô ý nhưng có người khác

nhìn thấy họ tiếp tục thực hiện hành vi giết tiếp để bịt đầu mếi tránh sự khai

báo của người nảy trước cơ quan pháp luật; mặt khác kẻ phạm tội thưởng có

tâm lý nghĩ rằng đẳng nào họ cũng pham vào tôi có khung hình phạt tử hình

thì đủ giết một người hay nhiều người thì cũng vẫn là khung tử hình, do vậy

thả phạm tội tiếp để bịt dầu mối sẽ có cơ hội tránh sự phát hiện của cơ quan

bảo vệ pháp luật Từ đó dẫn tới một số cái chết oan rất thương tâm của người

vô tình nhìn thấy hoặc chứng kiến vụ việc (Ví dụ gần đây nhất đó là vụ thảm

sát 6 người của gia đình anh lê Văn Mỹ tại Hình Phước) Trong vụ việc này

nếu không có ý định giết người điệt khẩu thì không hà cớ gì kế phạm tội lại

giối nhiều người đến như vậy Vụ việc đã được đấu tranh làm rõ đối với hai

nghi can, tuy nhiên về mặt khách quan néu la mục đích cướp tải sản thì những

người bị hại đã bị khống chế hoàn toan không thể chẳng cự; con nếu mục đích

giết người vì tư thủ cá nhân thỉ hai dừa cháu nhà ông Mỹ hoán toàn không có

tư thù vi chúng chỉ là hai đứa cháu đến chơi nha Ong My

Do vay hình phạt tử hình chưa chắc đã là có giá trị răn đc cao nhất mà

trái lại nó côn gây tâm lý cho kế phạm tội để cố tỉnh bưng hit cho hành vi sai

trái của minh đã xây ra trước đó Từ đó tội lỗi, lại trằng chất tội lỗi và những

người bị hại không phải là mục dích cho việc phạm tội ban dầu cũng phải bị

chết oan một cách không đáng cỏ Dây là một trong những điểm hạn chế tổn tại mà đang cần phải bàn để làm sao hạn chế một số cấu thành có khung phạt

tử hình dé hạn chế bớt những cai chết thương tâm như vừa phân tích trên

Những cấu thành này có thể chuyển thành phạt tủ chung thân nhưng không

được ân xá, miễn giảm (trừ trường hợp lập công lớn hoặc lập công chuộc tội)

Khi nói đến vấn dé thay thế hình phạt tử hình bằng hình phạt khác,

quan điểm của Beccaria cũng cho rằng hình phạt tử hình không ảnh hưởng

Trang 37

sâu sắc đến cảm giác của con người bằng các hình phạt khác như tủ giam và bắt buộc lao động khổ sai Bởi lễ, sự tác dộng của mỗi hình phạt năm ở thời

gian tồn tại của nó chứ không phải ở cường độ của nó Ông cho rằng: “xúc

cảm cúa con người không phối sự trừng trị nghiêm khắc nhưng diễn ra chóng vánh mà nó chỉ bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sự trừng trị mang tính lặp đi lặp

lại của hình phạt" |3, tr 8]

3) Với tính chất là tước di mạng sống của người phạm tội cho nên Hình

phạt tử hình không còn ý nghĩa giáo dục, cải tạo người phạm tội Bởi vị, khi đã

thi hành hình phạt nảy thì người phạm tội sẽ không bao giờ còn có cơ hội ăn

năn, hối cải, sửa chữa lỗi lầm mả họ đã gây ra Đây cũng là một trong những

điểm bắt cập tôn tại gây khó khăn cho công tác phá án, bởi lẽ trong thực tiễn có

một số vụ án người phạm tội che đấu đồng phạm nếu chưa có đủ thời gian suy

nghĩ để ăn năn hối cải thi họ đã phải bị thi hành án tử hình, thì đương nhiên

những manh mối tội phạm sẽ đi vào dĩ vãng cùng cái chết của người bị kết án

Chẳng hạn như vụ án Xiêng Phênh trong dường dây mua bán ma tuy năm 1996

trong thời gian hoãn thi hành án tử hình, Xiêng Phênh đã tỏ ra ăn năn hối cải,

tự nguyện khai báo để cơ quan Công an điều tra làm rõ người phạm lội quan

trọng là Vũ Xuân Trường đễ triệt phá tân gốc vụ án |74 tr 30|

4) Hinh phạt tử hình sẽ không mang lại lợi ich trực tiếp cho xã hội nó

khác biệt hoản toàn các hình phạt khác như hình phạt tiền, cải tao không giam

giữ, tủ giam có thể mang lại các lợi ích nhất định cho xã hội từ sự đóng góp

của người bị kết án trong quá trình chấp hành hình phạt, lao động cải tạo Xét

ở góc độ kinh tế, đỏ là một nhược điểm lớn Hởi lẽ, khi mắt đi một cá nhân là

rất đi một phần đóng góp vào thu nhập quốc dân hảng năm của quốc gia; về sức mạnh của đất nước cũng sẽ giảm đi bởi mắt đi một cá nhân Trong khi đó

để phát triển dất nước chúng ta dang rất cần nguồn nhân lực Mặt khác tại

nghiên cửu về thi hành án hình sự của tác giả Đàm Cảnh Long đã nhận định

30

Trang 38

“Thi hành hình phạt tử hình bằng hình thức tiêm thuắc độc đang gây tồn kém,

lãng phí về chỉ phi cho việc thì hành án tử hình” [5S, tr 45]

5) Đặc tính của hình phạt này lá tước di mạng sống vĩnh viễn của con

người mà không có thể thay đối, đây là một đặc điểm quan trọng nhất hiểu hiện

sự nhược điểm của hình phạt tử hình Mó khác hắn với các loại hình phạt khác

một khi đã chứng minh được người bị áp dụng hình phạt bị oan sai hoặc bị áp

dụng hình phạt một cách tùy tiện thì hình phạt đó còn có thể sửa chữa được Bởi

lẽ, tất cả các hệ thông 'IPHS đều tổn tại những vẫn để và khả năng sai sót, không

có hệ thống nào có thể tự cho là hoàn thiện, vi vậy nguy eơ người vô tội bị kết án

tử hình và bị rước bỏ tính mạng là sai lầm không thể lấy lại được Theo một nghiên cứu công bố năm 1987 trên tạp trí S#anford Lau Review “ở Hoa kỳ cha

thấy rằng ở nước này trong giai đoạn 1000 đến 1985, có ít nhất 350 trường hợp

người vô tội bị cáo buộc phạm những tội có thể bị kết án tử hình Trong số đỏ,

139 người dã bị tuyên án và 23 người bị hành quyết” |45, tr 38]

6) Ilinh phạt tử hình chửa đựng tính cứng nhắc, duy nhất chỉ có một

nức độ không thể tăng lên hay giảm xuống trơng những trường hợp tính nguy

hiểm cho xã hội của tội phạm khác nhau Vì thế, khi ké phạm tội đã phạm

phải một tội có thể bị áp đụng hình phạt tử hỉnh, họ chẳng ngần ngại gì khi thực hiện tiếp theo hàng loạt các tội phạm khác cho đến khi bị sa lưới pháp

luật, Bởi vì, khi đó Tòa án cũng không thể áp dụng mức phạt nảo khác cau hơn so với khi kẻ đó chỉ phạm một tội ban đầu Đây lả một nhược điểm của

hình phạt tử hình, cần đặt ra cho các nhà lam luật bàn đến việc sửa đối chính

sách pháp luật hình sự làm sao cho phủ hợp, hạn chế việc áp dụng khung hình

phạt tử hình đền thời có chính sách khoan hồng đối với kế phạm trọng tội

nhưng có thái 46 an nan héi cải trước cơ quan pháp luật và không lẫn tránh

hoặc gây thêm tôi lỗi tiếp theo

Trong việc tranh luận về vẫn để có nên duy trỉ hình phạt tử hình trong,

hệ thống hình phạt hay không, các nhà lý luận cũng như các chỉnh trị gia

31

Trang 39

thường dựa vao ede dic diém néng cia hinh phat tr hinh dé dua ra quan diém

của mình Quan điểm ủng hộ hinh phạt tử hình đưa ra những lý lễ chứng minh

những đặc tính tích cực của hình phạt tử hình là có thật Trong khi đó các

quan diém hạn chế và tiễn tới xỏa bỏ hình phạt tử hình luôn dễ cấp đến những điểm còn tổn tại trong thực tế để đưa ra những luận cứ chứng minh một cách

khoa học đảm bảo cả góc độ lập pháp, kinh tế, nhân đạo và phủ hợp với xu

thé chung của thời dai

Về vẫn để này thì theo chúng tôi hiện nay đất nước ta đã có sự phát triển

nhất định, do đó chúng La cần có chính sách pháp luật hình sự làm sao cho phủ

hợp với chính sách nhân đạo khoan hồng để phục vụ tốt chơ sự phát triển kinh

tế nhưng vẫn giữ vững được an ninh chính trị, trật tự an toản xã hội, phù hợp

với xu thế hội nhập mả Đăng và Nhà nước đã đề ra tại Nghị Quyết số 49-

NQ/LW ngày 02/6/2005 của Hộ chính trị đó là '2/oàn thiện chính sách pháp

luật linh sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện Hạn chỗ án dụng hình phạt tứ hình ” |8, tr 2]

1.2.3 Hản chất của hình phạt từ hình

Ban chất của hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng đều

xuất phát từ các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, hệ tư tưởng, dao đức lối sống của hình thái kinh tế - xã hội đó quyết định Khí bàn về bản chất

của hình phạt, C.Mac viết: “linh phạt không phải là một cái gì khác ngoài

phương tiện đỀ bảo vệ mình của xã hội chống lại sự ví phạm của các điều

kiện tốn tại của nô” [72, tr 19] Như vậy, hinh phạt thực chất là sự phản img

của Nhà nước đối với hãnh vi phạm tdi nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống

trị của xã hội Nếu hành vi nguy hiểm cho lợi ích của giai cấp thống trị và

của xã hội cảng cao thì thái độ phản ứng của Nhà nước cảng mạnh mẽ Mà thái độ phản ứng của Nhà nước đối với người phạm tội được thể hiện chính là

thông qua hình phạt Tuy nhiên sự phần ứng này nó cũng tùy thuộc vào từng

Trang 40

thời kỷ lịch sử, tùy vào sự phát triển và tiến bộ của xã hội cũng như khả năng,

tự vệ của xã hội Qua thực tiễn cho thấy, nếu khả năng tự về xã hội yếu thì

tính nghiêm khắc của hình phạt cao để trấn ấp, răn đe người phạm tội, ngược

lại nếu khả năng tự vệ của xã hội cao thì tính nghiêm khắc của hinh phạt

giảm, bởi lẽ khi đó Nhà nước có thể áp dụng các biên pháp tác động khác

nhằm hạn chế tinh hinh tội phạm, hoặc người phạm tội tự ý thức hơn khi thực hiện hành vi phạm tội Chẳng han trong thoi ky dau của xã hội loài người, hình phạt tử hình được coi là sự báo thủ của Nhà nước đối với hành vi phạm

tội, nên việc áp dụng né mang tinh chất tản khốc, đã man được phổ biển trong

luật hình sự Khi xã hội phát triển hơn, nhà nước xây dựng được cơ chế kiếm

soát hành vi con người có hiệu quả nên phạm vỉ áp dụng hình phạt tử hình sẽ

dần được thu hợp Theo quy luật phát triển thì đến một thời điểm nhất định,

nén kinh tế chỉ thức phát triển, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân nâng

cao, nhà nước thiết lập được mội trật tự xã hi An định, có cơ chế kiểm soát

hành vỉ của con người hiệu quả, khả năng tự vệ cúa con người cao thì khi

đỏ có thể tiền tới xóa bổ hình phạt tử hình Nói tóm lại khi xã hội cảng tiễn bộ

thi các phương tiện tác động đến hành vi của cơn người cảng đa dạng, phong,

phú, do đó hình phạt không cỏn chiếm vị trí độc tôn Chỉnh vì vậy, dễ diều

chỉnh hảnh vi người phạm tội nó thường mang tỉnh nhân bản và “hướng tới

mạc tiêu cải hóa người phạm tội ” [72, tr 20]

Hinh phat xudt hiện là vì có sự tổn tại của tội phạm trong xã hội Giữa hình phạt và tội phạm có mỗi quan hệ chặt chế với nhau, đó là méi quan hé

nhan - qua ‘Tay nhiên hinh phạt nó cỏn có tính xã hội thông qua cơ sở, nền

tảng tấn tại của nó; trong khi đó Pháp luật xuất phát từ các quy luật phát triển

khách quan của xã hội, từ toàn bộ hệ thẳng sáo quan hệ trong từng hình thái

kinh tế - xã hội cụ thể uy rằng các quy luật khách quan va các nhu cẦu xã

hội không phải ảnh hướng trực tiếp đến nội dung của pháp luật mà phải thông

33

Ngày đăng: 28/05/2025, 19:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  phạt  tử  hình......     51 - Luận văn kháng nghị phúc thẩm vụ Án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở dữ liệu thực tiễn Địa bàn tỉnh hà giang
nh phạt tử hình...... 51 (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w