Mục đích: Làm rõ một số vẫn để lý luận về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và phân tích những bất cập, khe hở của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đỗi,
Trang 1GO VIET NAM HIEN NAY
LUAN VAN THAC Si LUAT HOC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TIÀ NỘI
KHOA LUAT
VÕ TRÍ HẢO
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÂY DỰNG VÀ BAN HANH VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUAN VAN THAC ST LUAT HOC
Chuyén nganh: Ly luan va lich sit Nha nude va phap luật
Người hướng dẫn khoa hoc:
PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế
HA NOI-NAM 2003
Trang 3
MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG VÂN ĐỀ LÝ LUẬN VÉ XÂY DỰNG BẠN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHAM PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.2 Hoạt đông xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật 18
2.1 Thủ tục xây dựng, thấm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật
ban hành văn bản quy pham pháp luât(Đã được sửa đổi, bổ sung) 48
2.1.1 Thủ tục xây dựng ban hảnh Luật, Pháp lệnh 49
2.12 Thủ tuc xây dựng ban hành Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ 53
Trang 42.2 Thưc tiễn xây dưng ban hành văn bản quy pham pháp luât từ 01/011/1997 đến
ngày có hiêu lực của Luât ban hành văn bản qu:
Kết luận chương 2 62
Chương 3: HOÀN THIÊN PHÁP LUẬT VÉ XÂY DƯNG VÀ BẠN HÀNH VĂN BẢN QUY
3.2.1 Nhà nước pháp quyền và việc lấy ý kiến nhân dân trong quá trình xây dựng, ban
hành văn bản quy phạm pháp luật
67
3.2.2 Thực tiễn lấy ý kiến nhân dân trong quá trình xây dựng bạn hành văn bản văn bản
quy phạm pháp luật ở Việt Nam Một số kiến nghị 69
3 3 Công bó, truyền đạt toàn văn bản quy phạm pháp luật 78 3.3.1 Công bố truyền đat văn bản quy pham pháp luât - môt chế đỉnh cần hoàn thiên trong
tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyên và hôi nhập quốc tế 78
3.3.2 Thực trang công bó truyền đạt văn bản quy pham pháp luật ở Việt Nam: 81
Kết luân chương 3 90
Trang 5oo | MO DAU
1 Tinh cap thiel cia dé tai
Bước sang thời kỳ đổi mới, Nhà nước ta xác định “quản jý xã hội bằng
pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” (Diều 12 Hiến
pháp 192) Pháp luật trong xã hội dân chủ phải trở thành công cụ dé cho moi
chủ thể thực hiện và bão vệ các quyền và lợi ích chính dáng của mình mà không
làm tốn hại đến quyền và tự do của người khác Dáp ứng yêu câu nảy, trong
mười năm dỗi mới Nhà nước Việt Nam dã ban hành rất nhiễu văn bản quy phạm
pháp luật Khi hoạt đông lâp pháp cũng như hoạt động ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật nói chung được đẩy mạnh thi ban thin hoạt động đó đòi hồi phải
được pháp diễn hoá
Luft Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 và tiếp theo sau đó Luật
số 02/2002/QH11 ban hành ngày 16 thang 12 năm 2002 sửa đổi bễ sung một số
điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 là sự thế hiện của việc
dap ứng yêu cầu nêu trên Nhưng Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ
là sự ghi nhân một thực trạng chưa hoàn thiện của hoạt dộng xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật trước đó mả chưa đóng được vai trỏ định
thượng, vai trỏ vượt trước cho hoạt động này
Các đề tài, công trình nghiên cứu về mặt nội dung của hoạt động xây dung
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã dé cập khá nhiều đến thẩm quyền
của các chủ thể trong quả trình xây dựng và ban hành nhưng còn để nghỏ nhiều
vấn để cần được tiếp tục hoàn thiện như quy trình thông qua luật tại Quốc hội;
việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cúa địa phương, việc thẩm định dự
thảo, dự án; vai trò của ban soạn thảo; các cơ chế dân chủ để nhân dân tham gia
vào việc xây đựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc céng bế văn bán
Trang 6quy phạm pháp luật để đám báo đảm tính mình bạch của pháp luật nói chưng,
cũng như bảo đảm yêu cầu của hội nhập quốc tế; các biện pháp để thực hiện các nguyên tắc căn bản của hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật
Mặt khác Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như các để tài
khoa học luận chứng cho Luat ban hảnh văn bản quy phạm pháp luật chỉ mới
quan tâm tao ra sản phẩm là các văn bản quy phạm pháp luật mả chua đặt nó
trong bối ảnh xây đựng nhà nước pháp quyền; chưa thể hiện các tiêu chí, đặc trưng của pháp luật trong nhả nước pháp quyền Nghị quyết đại hội đại biểu
Dang toàn quốc lần thứ IX đã chính thức xác định việc xây dựng nhả nước pháp
quyền dời hỏi phái dân chủ hóa hơn nữa hoạt động xây dựng và ban hành văn
bản quy phạm pháp luật Miặt khác, chúng ta đang ở trong thời đại toàn cầu hoá
các vấn đề kinh tế, xã hội vả Việt Nam đang chủ động, tích cực gia nhập vào
khuynh hướng nảy Quả trình hội nhập này dòi hỏi tính minh bạch của pháp luật
Vì vậy, đề tài: “Toản thiện pháp luật về xây dựng và ban hành văn bắn
quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan
trọng phục vụ công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa và
đáp ứng những đôi hỏi bức bách của hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu:
[1 Trong thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu liên quan để tài
như: Để tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Một số cơ sở lý luân và thực tiễn đối mới quy trình, nâng cao chất lượng, xây dựng luật, pháp
lệnh — Mã số: 95-98/111/ĐÐT đo Bộ Tư pháp chủ trí
ñ Thông tin chuyên 48 cha Bộ tư pháp về luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, IIà Nội 1996
Trang 7Nhung các công trình nói trên để cập việc nâng cao chất lượng hoạt động
xây dụng văn bản quy phạm pháp luật nói chung mà chưa chú trọng, đến thủ tục xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt những khái
niệm, vẫn dề lý luận của hoạt thủ tục xây dựng vả ban hành vẫn bản quy
phạm pháp luật chưa có công trình nào hệ thông hoá hay để cập một cách sâu
sắc
3 Mục đích:
Làm rõ một số vẫn để lý luận về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật và phân tích những bất cập, khe hở của luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật (đã được sửa đỗi, bd sung) và các văn bản pháp luật liên quan,
dưa ra những kiến giải lập pháp theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyển, dân chủ hoá quả trình lập pháp và đáp ứng những đỏi hỏi bức bách của hội nhập
quấc tế
Luận văn có các nhiệm vụ:
- _ Phân tỉch làm rõ các vẫn để lý luận liên quan hoạt động xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luat,
-_ Dánh giá và phân tích các pháp luật về hoạt đồng xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, thực tiễn xây dựng và
ban hảnh các văn bản quy phạm pháp luật từ nằm 1996 lại nay;
- Duara một số bất cập của các quy định pháp luật hiện hảnh, và
phương hướng hoản thiện các quy dịnh pháp luật đó theo dịnh
hướng xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quắc tế
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Trang 8Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lenin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích: Đề tài tập trung phân tích một số chế định, các điều
luật cụ thể
- Phương pháp tông hợp: Đề tài tỗng hợp những kết quả đã phân tích hình thành cái nhìn tổng quan từ đó thấy được những bất cập giữa các chế định, các quy phạm với nhan, giữa luật thực định và thực tiễn cuộc sống
- Phương pháp trừu tượng: Dé tai phân tích các van dé và đưa ra các kiến giải
theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc td vi way cd thé
trùu tượng hoá vẫn dé tam thời có định "các biển số" khác để làm bật định hướng
trên
- Phương pháp so sánh: ĐỀ tài tìm hiểu và so sảnh các vẫn đề liên quan với pháp
luật một số nước để khẳng định những điểm chung của nhân loại và tìm kiếm
những giải nhấp mà trong lịch sử xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật Việt Nam chưa có
5 Giới hạn phạm vỉ nghiên cứu:
Hoàn thiên pháp luật về hoạt đông xây dưng và ban hành vấn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay là một van đề rất lớn muốn giải quyết phải
có một giải pháp tổng thể mà chúng tôi chưa dủ thời gian dỄ giái quyết một cách
hệ thống, toàn điện Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu
nội đung cơ bản về:
- Làm rõ một số khái niệm liên quan xây dựng vả ban hành văn bản quy
phạm pháp luật,
Trang 9- Nêu và phân tích một số yêu cầu, đặc trưng cúa pháp luật trong nhà nước
pháp quyền và trong bối cảnh hội nhập quốc tê,
- Đánh giá tổng quan pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động
xây dựng và ban hảnh văn bản quy phạm pháp luật,
- Phân tích thực trạng lấy ý kiến nhân dân và kiến nghị giải pháp:
- Phân tích một số bất cập trong chế dịnh công bó, truyền đạt văn bản quy
phạm pháp luật, sơ sánh với pháp luật một sô nước và đưa ra các giải pháp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
luận văn góp phần phân tích một cách có hệ thông những vấn để lý:
luận về hoạt động xây dựng và ban hành văn bắn quy phạm pháp
luật;
Luận văn phân tích, so sánh các quy định của pháp luật hiện hành
điều chỉnh hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật với các tiêu chí của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và các
điều kiện hội nhập quốc tể Phát hiện vả đưa ra các giải pháp cho
các vẫn đề bất oập của các quy định pháp luật hiện hành, góp phần
hoàn thiện pháp luật về hoat đông xây dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật theo định hướng xây dựng nhà nước pháp
quyển và các đường lối chính sách của Láng và Nhà nước đã dễ ra
7 Kết cầu luận văn:
Trang 10Chương 1
NIIỮNG VẤN BẺ LÝ LUẬN VẺ XÂY DỰNG, BAN ITANIL
VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT
1.1, VANBAN PHAP LUẬT VÀ VĂN BẢN QUY PHAM PHAP LUAT
Có lúc văn bản pháp luật được hiểu là tất cả những loại văn bản chứa đựng
quyền lực Nhà nước và buộc tắt cả các chủ thể mà văn bản hướng tới phải tuân
theo
Vi du: Công văn hướng dẫn của Toà án tối cao, báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát Nhân dân tối cao
Có quan điểm cho rằng hợp đồng dân sự du các bên thoá thuận xác lập
các quyền và nghĩa vụ dân sự phù hợp với quy định của pháp luật Nhà nước thì
sẽ trở thành luật giữa hai bên, hơn nữa nó cũng có tính pháp lý làm cho phát
sinh, thay déi, chim đứt một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể nên nó cũng là một
loại văn bắn pháp luật |1, tr 35]
Có lúc khái niệm văn bản pháp luật còn bị hiểu sai lệch đồng, nhất với tẤt
cả các loại văn bản phát sinh trong hoạt động của cơ quan Nhà nước hao gồm cả
báo cáo, lịch tuân
'Trong hoạt động của các cơ quan Nhả nước sẽ phát sinh nhiều loại văn
bắn khác nhau: văn bản mang tính pháp lý và văn bản không mang tính pháp lý hay còn gọi là văn bản hành chính thông thường.
Trang 11Tính pháp lý thể hiện ở hệ quá pháp lý của nó Hệ quả dó thể hiện ở chỗ
nó có khả năng dem lai su thay déi tong cơ chế điều chỉnh pháp luật Tức nó có
thể làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật, đặt cơ sở cho sự thay đổi hệ
thống quy phạm pháp luật hoặc quan hệ pháp luật [21, tr 297]
Các văn bản hành chính thông thường như báo cáo, công văn, biên bản
có thể là sản phẩm hoặc làm tién dé cho việc ban hành văn ban mang tính pháp
lý Như vậy, khái niệm các văn bản mang tính pháp lý như trong mật số giáo
trình về kỹ thuật soạn thảo văn bản [14, tr 35] gần như trùng khít với khái niệm
văn bản pháp luật
Theo chứng lôi, văn bản pháp luật có những đặc trưng khác với tác phim văn học, thư Lir
- Đặc trưng về chủ thế: Văn bần pháp luật do các co quan Nhà nước,
người có thấm quyền soạn thảo và ban hảnh Chỉ những văn bản do người đúng
thẩm quyển ban hành mới có ý nghĩa pháp lý
- Đặc trang vé muc dich ban hành: Văn bản quan ly dược ban hành nhằm xnục đích thực hiện các nhiệm vụ chức năng của Nhà nước
- Đặc trưng về trình tự ban hành, hình thức văn bản: Văn bản pháp luật
đ
bản sẽ bị coi là vỗ hiệu
phải được xây dựng, ban hành theo những thủ tục định trước, trái lại văn
- Đặc trưng về bảo dâm thi hành: Văn bản pháp luật mang tính quyền lực
Nha nue, bat bude các chú thể khác phái thực hiện và được dâm bảo thực hiện
bởi Nhà nước như hoạt động tổ chức trực tiếp hoặc cưỡng chế
- Dặc trưng về văn phong: Văn bẫn pháp luật nhằm mục dich truyền đạt thông tin, mệnh lệnh từ chủ thể quản ly sang đối tương quản lý một cach day da,
chính xác nhất Nö không cần biểu cảm nên nó mang đặc trưng văn phong riêng,
khác với văn phong nghệ thuật Văn bản pháp luậi thường mang tính phổ quát,
đại chúng và không cần quả chỉ tiết như văn bản khoa học
Trang 12Văn bán pháp luật lả một trong hai ngôn bản của quyết dịnh pháp luật nên
nó cũng có đầy di cdc tính chất cia quyết dịnh pháp luật Đó là tính ý chí, tính
quyên lực Nhà nước, tính pháp lý
Qua quả trình phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm: “ăn bản pháp
luật là một hình thức thể hiện quyết dịnh pháp luật do các chủ thể có thẩm
quyền ban hành thao thủ tục luật định, làm thay dội hệ thống quy phạm pháp
luật; hoặc đặt cơ sở cho sự thay đỗi hệ thông quy phạm pháp luật; hoặc làm
trực tiếp phát sinh, thay đôi, châm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng cả Nhà nước”
Da sé các học giá dều thống nhất văn bản pháp luật mang tỉnh pháp lý
nhưng như thế nào lả mang tỉnh pháp lý? Văn bản chú đạo như Nghị quyết của
Chỉnh phủ chúa đựng các đường lối chỉnh sách chung chua đặt ra các quy tắc hành vi cu thé, chưa trực tiếp làm thay déi hệ thẳng quy phạm pháp luật có
được coi là văn bản pháp luật không? |21, tr 303 Từ đó có hai quan mêm
Thứ nhất, văn bản pháp luật bao gồm văn bản quy phạm pháp luật vá văn bản cả biệt cụ thể
Thứ hai,văn bản pháp luật bao gồm: văn bản chủ đạo, văn bắn quy phạm
va vin bản cá biệt [17, tr 97-136]
theo chúng tôi, văn bản chủ đạo là một loại văn bản pháp luật bởi
Thứ nhất, nó chữa dựng các chủ trương, chính sách, định hướng tương tự như các văn kiện của Đáng Nhưng nếu các chủ trương, chính sách của Đảng
muốn có ý nghĩa ràng buộc mọi công dân thì phải thể ghế hoá qua pháp luật mặc
dù việc thể chẻ hoá rất là trực tiếp và sát sao [10, 19]; và không thể viện dẫn các
văn kiên Dang dé áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với một chủ thể Hay nói
cách khác xét về mặt ly luận, thì các văn kiện Đăng đủ có sảL sao với các văn
ban pháp luật thi cũng không được xem là nguồn của luật [Xem thêm Michael
Bogdan, Luật so sánh, Bẵn dịch của Lê Hing Hạnh và Dương Thi Hiền, Hà Nội
2002] Còn các văn bản chủ dạo do Nhà nước ban hành và có hiệu lực rằng buộc
Trang 13mọi chủ thể khác, dược Nhà nước đắm bảo thực hiển bằng biện pháp tổ chức
trực tiếp hoặc cưỡng chế
Thứ hai, quyết định chủ đạo tuy không trực tiếp làm thay đổi hệ thông
quy phạm nhưng chúng đặt cơ sở cho sự thay đổi đó và sự phân chia ở đây cũng
mang tính tương dối Mối quan hệ giữa văn bản chủ đạo va văn bản quy phạm
mả ta đề cập ứ dây cũng pần giống như mỗi quan hệ giữa quy phạm chung va
quy phạm riêng Đây cũng chính là lý do mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật gọi chung hai loại văn bản này là văn bản quy phạm pháp luật
Các văn bản phát sinh trong các hoạt động tổ tụng như bản án, cáo trạng,
lệnh bắt theo tôi cũng là một loại văn bản pháp luật được khái niêm trên chỉ tới Nó là những văn bản đặo thủ thưởng được nghiên cứu kẻm theo trong cáo
lĩnh vực tổ tụng mà chúng tôi không có dịp đề cập sâu ở đây
1.1.2 Phân loại văn bản quy phạm pháp luật:
Hiện nay trong các giáo trình về luật học đã có nhiều cách phân chia quyết
dịnh pháp luật nói chung cũng như vấn bắn quy phạm pháp luật nói riêng theo
nhiều tiêu chí khác nhau khả dầy đủ và khoa học, thuận tiện cho việc phân loại,
tim hiểu, nắm bắt, vận dung văn bản quy phạm pháp luật Dưới góc độ kỹ thuật lập pháp xi đưa ra một vài cách phân loạt mang ý nghĩa trong quá trình xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
a Theo phạm trù nội dung-hỉnh thúc: Văn bản quy phạm pháp luật được chia ra: văn bản chứa đựng quy phạm nội dung vả văn bản chứa đựng quy phạm hình thức hay còn gọi là quy phạm thủ tục [20, tr 320]
Quy phạm nội dung là quy phạm trực tiếp ân định các quyên và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể, trả lời cho câu hỏi được làm gì, phải làm gì
Quy phạm hình thức là quy phạm điều chỉnh thủ tục pháp lý của hoạt động
của các cơ quan có thẳm quyền trong việc thực hiện và bảo vệ các quy phạm nội
đưng; diều chỉnh thủ tục pháp lý cúa hoạt đông thực hiện và bảo về các quyền và
lợi ích hợp pháp của những người tham gia các quan hệ pháp luật Quy phạm thủ
tục trả lời câu hỏi “làm như thế nào”.
Trang 14Xét về trật tự thời gian xây dựng ban hành, văn bản quy phạm pháp luật
chứa dựng quy phạm nội dung về cùng một vẫn để, một lĩnh vực phải ban hành
trước văn bản quy phạm pháp luật chứa quy phạm hình thức Nếu làm ngược lại
sẽ không có ý nghĩa Việc ban hành quy phạm hình thức phải song song hoặc ngay sau khi ban hành quy phạm nội dung Nếu quy phạm nội dung dược ban
hành rama không có quy phạm hướng dẫn thực hiện, bảo dam các quyền và
nghĩa vụ thì quy phạm nội dung đỏ cũng trở thành chết cứng
Một quy phạm vật chất được ban hành muốn được thực thi trên thực tế tì
bên cạnh các điều kiện kinh tế, xã hội, các học giả phương lây còn cho rằng mỗi
quyền về nội dung thì phải có “tố quyền” kèm theo dé bao dim cho quyền về nội
dưng đó không bị xâm phạm Bảo dảm “tố quyền” ở đây được hiểu:
Thứ nhất, một quy phạm nội dụng ra đời thì phải có quy phạm hình thức tương ứng để quy định thủ tục pháp lý thực hiện quyền đó
Thứ hai, cần phải có các thiết chế pháp lý tương ứng như toả án, trọng tài để các chủ thể khi bị xâm hại các quyền vật chất có thể khiểu kiện đến và
được bảo vệ
Qua khái niệm “tố quyển” ở trên một lần nữa cho thấy mối quan hệ biện
chứng giữa cặp pham trủ nội dung-hỉnh thức Ví dụ trong một thủ tục tổ tụng
luôn xen lẫn các quy phạm thuần tuỷ về trình tự các bước theo thời gian vừa xen
lẫn các quy phạm về “quyền tố Lụng” Một quy phạm trong mối quan hệ thử nhất
là quy phạm nội dung, trong quan hệ thứ hai lại là quy phạm hình thức của một quy phạm khác
b Theo trình tự ban hành, văn bản quy phạm pháp luật được chia ra:
- Văn bán quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự tập thể Ví dụ Nghị quyết Nghị định của Chính phủ Loại văn hắn này dược xem là dược sinh
ra kể từ khi đa số các thành viên của tập thể biểu quyết thông qua Nhưng thời
điểm được xem là đăng kí khai sinh cho nó có thể là một thời điểm khác.
Trang 15- Văn bắn quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự cá nhân do những người cỏ chức vụ (ví dụ: quyết định, chỉ thị của thủ tướng: quyết định, chỉ
thị, thông tư của bộ trưởng) hoặc của người không có chức vụ nhưng do pháp
luật quy định họ có thẩm quyên (ví dụ: quyết định xử phạt vi phạm an toàn giao
thông của chiến sĩ cảnh sát giao thông)
Những vấn dễ cần bản bạc, cân nhắc kỹ lưỡng, cần phan anh nhiễu thành phần lợi ích khác nhau của cộng đẳng, cần phát huy chế độ tập thể thì văn bản
quy phạm pháp luật tương ứng thường được ban hành theo trình tự tập thể
Dé nang cao chất lượng của văn bản quy pham pháp luật ban hành theo
trình tự tập thế thì thủ tục ban hành cần đầm bảo hai yêu cầu
Thứ nhát,
vẫn để được thảo luận Muốn làm được điêu đó thì kế hoạch làm việc, chương
ác thành viên tham gia tháo luận, biểu quyết phải nắm vững
trình nghị sự phải rõ ràng Nội dung những vấn để thảo luận phải được chuyển
trước kẻm những tải liêu liên quan một khoảng thời gian thích hợp để các thành
viên có điều kiện nghiên cứu vẫn dễ |30, tr 3|
Thi hai,
các thánh viên với nhau, độc lập giữa thánh viên với các tiểu ban, đoàn chủ tịch
, cần phải dám bảo sự dộc lập giữa các thành viên: độc lập giữa
Cần tránh tỉnh trang như một số cơ quan hoạt động theo chế đô tập thế ở Việt
Nam hiện nay, các thành viên phụ thuộc quả nhiều vào các tiểu ban, đoàn chủ
tịch Tình trạng nảy có thể dẫn đến một nhóm người sẽ thao túng gác tiểu bán
[I1, tr 134], đến lượt nhóm người này lại phụ thuộc vào một người thông qua các
phiên họp trủ bị, biển các thiết chế tập thể thành “đân chủ-cá nhân” Các cơ quan lâm việc theo chế đồ tập thé được thiết lập ra nhằm phản ảnh các thành phần lợi
ích khác nhau, ý kiến của các thành viên cần độc lập với các cơ quan khác, mọi
sự chỉ đạo từ các tổ chức, cơ quan khác cần hạn chế một cách hợp lý
Những vấn đề cần phải giải quyết nhanh chóng trong những tỉnh huống
khẩn cấp hoặc nhằm đáp ứng nhu cầu diều hảnh- chấp hành giải quyết những,
công việu phát sinh hảng ngày hoặc những vấn đề cần cỏ chế độ trách nhiệm rõ
Trang 16ràng của người ban hành thỉ văn băn quy phạm pháp luật tương ứng thường dược ban hành theo trình tự cả nhân
Đối với những văn bản quy phạm pháp luật ban hành theo trình tự gá nhân
Thì người có thấm quyền ban hành phải chịu trách nhiệm về việc ban hành chậm
trễ, né tránh ban hành, ban hành trái pháp luật Mọi tiểu ban, hội dồng chỉ có ý kiến tư vẫn cho người có thẩm quyển tham kbáo
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự khác: Ngoài
hai trinh tự phổ biến trên các văn bản quy phạm pháp luật còn được ban hành theo những trinh tự phức tạp hơn
+ ‘Lrinh tự phê chuẩn: Miôt số loại văn bản quy pham pháp luật sau khi
được ban hánh phải thông qua trình tự phê chuẩn mới có hiệu lực Ví dụ: quyết
định bố nhiệm Thẩm phản Toả tối cao của tổng thống Mỹ phải được thượng viện
phê chuẩn mới có hiệu lực (Điều 2 khoản 2 đoạn 2 Hiến pháp Hoa Kỳ) hoặc điều
tước quốc tế nhân danh quốc gia thì thường trái qua những giai doạn phức tạp
như kí sơ bộ, kỉ tất, ki chính thức sau đó phải được Quốc hội phê chuẩn (Theo
Công pháp Quốc tế thì có sự phân biệt giữa phê chuẩn vả phê đuyệt Diễu ước nhân
danh chỉnh phú thì cản được Chính phổ phê duyệt còn diểu ước nhân danh Nhà nước
thì phải được Quốc hội phê chuẩn.) mới có hiệu lực Ví dụ: Hiệp định biên giới trên
bộ giữa Việt Nam-Trung Quốc; quyết định khám xét nơi ở cần Viện kiểm sát phê
chuẩn
+ Trình tự công bố nguyên thủ quốc gia: Một số văn bản quy phạm pháp
luật sau khi ban hành thi phải được một chủ thể có thấm quyên, thường là
nguyễn thủ quốc pia công bố mới có hiệu lực
Vĩ dụ diều 2 khoản 7 Hiển pháp Hoa Kỳ: một dự luật nếu không dược
Tổng thống công bố (hoặc phủ quyết) thì viện phải thông qua với tỷ lệ 2/3 thì
dự luật đó mới có hiệu lực
Vi du: quyền yêu cầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh
của Chủ tịch nước (Điều 103 Khoan 7)
Trang 17+ Công bỗ thông tin pháp luật một số nước quy dịnh các văn bản quy
phạm pháp luật liên quan các quyền và nghĩa vụ của công dân do các cơ quan
ban hành thì phải được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại
chúng đặc biệt tại các báo chí, dai phát thanh mà pháp luật định trước và việc
ding tải phải đủ một thời lượng nhất dịnh Nếu vi phạm thủ tục này thì văn bản
sẽ không có hiệu lực áp dụng với đân chúng (Article + Chapter VI, Agreement
between the socialist republic of Viet Nam and the United state of America )
‘Tha tuc cng bé nguyén thủ quốc gia có thể chi mang tính tượng trưng Ví
du quyển công bố Luật của nữ hoảng Anh hoặc quyền công bé Luật của Chu tinh
nước Việt Nam |4, ư 204| Hoặc có thể quyền công bố như là một phần quyền
lực của nguyên thủ quốc gia và các thiết chế khác
Thú tục công bố thông tin nhằm đảm bảo một trong ba thuộc tỉnh của pháp luật [12, tr 322] (ransparency, stability, predictable ) là tỉnh rõ ràng của pháp
luật và nhằm đâm bảo quyền thông tin của cổng dân — một quyền dặc trưng trong,
nhà nước pháp quyền
1 Trình tự thoâ thuận: Một sô văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ văn bản liên tịch (Diễu 18 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996) khi ban hành
cần phải có sự thoả thuận, thông nhất giữa một số chủ thể Sự thoả thuận này
theo nguyên tắc consensus ma khong theo nguyên tắc đa số như là văn bản quy phạm pháp luật ban hảnh theo trình tự tập thể
+ Trình tự thăm dò ý kiến, tưng cầu đân ý: Pháp luật một số nước (Vi du
Nhật Bán) [32, tr 7] quy định đối với những văn bản quy phạm pháp luật liên
quan dén các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thỉ bắt buộc phải tiễn hành
thủ tục thăm đò ý kiến của nhân dân theo thủ tục luật định (Xem lời nói dầu Hiến
pháp Iloa Kỷ 1787; Điều 1 Ilién phap Áo quy định “4usadlia is a democralie
republic Its law is from the people”) Hoặc đổi với những van đề liên quan van
mệnh quốc gia hoặc việc ban hành một văn bản Hiển pháp mới thì còn phải qua
một thủ tục đặo biệt là trưng cầu dân ý (Xem Điều 2 luật trưng cầu dan ý của
Tajikistan, Hiển pháp Mỹ 1787, Hiên pháp Việt Nam 1946)
Trang 18c Theo vị trí cơ quan ban hành, văn bản quy phạm pháp luật dược chia ra: văn bàn quy phạm pháp luật Trưng ương, văn bản quy phạm pháp luật địa
phương và văn bản quy phạm pháp luật vùng đặc thù Văn bản quy phạm pháp
luật đo cơ quan ‘Irung ương và cơ quan địa phương ban hành hiện nay đã được
các giáo trình luật học tại Việt Nam [21, tr 321] dễ cập dầy đủ ở đây chi xin dé
cập văn bản quy phạm pháp luật vùng đặc thủ
Ở Việt Nam trước đây (thời kỳ sau Iliến pháp 1946 ) và Trung Quốc hiện
nay có các vùng tự trị như vùng tự trí lây lạng, lân Cương và các đặc khu có
quy chế đắc biệt như Macao, Hongkong
Các vùng tự trị và gác đặo khu không giống như các đơn vị hành chính cấp tỉnh và cling khong giếng mối quan hệ giữa tiêu bang và liên bang Giữa tiểu
bang và liên bang thường có sự phân định quyền lập pháp rõ rang va theo nguyên tắc thẳm quyền của liên bang có được là do các tiểu bang trao cho (Diều
10 Tu chỉnh án thứ Ï của Hiến pháp Hoa Kỷ ) Còn mối quan hệ piữa chỉnh quyền trưng ương và chính quyền địa phương ở Việt Nam thì ngược lại Cơ quan
địa phương được xem như là một “cơ quan hành pháp cấp dưới” của chỉnh
quyền trung ương, kế cä Hội đồng nhân dan [7, tr 457]
Các vùng tự trị và các đặc khu mang tính độc lap cao hơn so với mỗi quan
giữa chính quyền trung ương vả chính quyên cấp tỉnh Vì vậy ở Trung Quốc
có hiện tượng “uỷ quyền lập pháp” mạnh mẽ cho các chính quyển các vùng tự trị
mà các nhà nghiền cửu phương Tây gọi hiện tượng nảy là “giao quyên xuống
cấp dui” (down wards delegation of power)
Theo Pidu 116, Hién phap Trung Quéc Héi déng nhân dân các khu tự trị
có quyền ban hành các quy định để thực hiện quyền tự trị của mình và ban hành
các quy định riêng phủ hợp với điều kiện chính trị, xã hội của khu tự trị, nhưng
phải báo cáo với Uỷ ban thường vụ quốc hội để phê chuẩn trước khi các quy
định này có hiệu lực để thi hành
Hội đồng nhân dân các đơn vị hành chính oấp huyện trong khu tự trị khi
ban hành văn bản pháp quy địa phương phải báo cáo thường trực lIội đồng nhân
Trang 19dân khu tự trị trước khi thi hành để phê duyệt vả dỗng thời dược gửi tới Uỷ ban
thường vụ quốc hội để dăng kí theo đối
Điều 20 cúa Luật về khu tự Irị còn cho phép các khu tự trị, khu vực của
khu tự trị có quyền có những quy định riêng để áp dụng các nghị quyết, các
quyết dịnh và quy dịnh của cơ quan khả nước cấp trên không phủ hợp với diễu
kiên của địa phương Việc áp dụng đặc biệt náy phải được báo cáo tới và dược
sự phê chuẩn của cơ quan Nhà nước cấp trên đã ban hành ra các văn bản đó
Theo điều 8 Luật ban hành văn bân quy phạm pháp luật của Trung Quốc,
các vẫn dé sau đây phải do Quốc hội và Lý ban thường vụ Quốc hội quy định:
1- Chủ quyền quốc gia
2- Thành lập, tổ chức và thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
5- Tước quyền chỉnh trị của công dân hoặc các biện pháp cưỡng bức và
trừng phạt liên quan đền việc hạn chê tự do cá nhân
6- 'Tịch thu bất động sản
7- Các thiết chế dân sự cơ bản
8- Các hệ thống kinh tế thiết yếu và hệ thẳng thuế, tải chính, hải quan,
ngoại thương, 9- Tế tụng và hệ thống tài phán
10- Các vấn 44 khác ma luật quy định phải được ban hành bởi Quốc hội và
Us ban thưởng vụ Quốc hội
Ngoài các vấn đề trên, Quốc hội quy định các thú tục han hành văn bản
Trang 20kinh nghiệm Việt Nam có thể tham kháo để vận dụng vio các ving Tay Bac, Tây Nguyên; các thành phổ có quy chế riêng |41, tr 184| để công tác bạn hành
văn bân quy phạm pháp luật được kịp thời, phản ánh đúng các đặc thù địa
phương, và đặc biệt nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật [25, tr 11]
1.2, HOAT DONG XAY DUNG VA BAN HANH VAN BAN QUY PHAM
Như phần trên đã phân tích thế nào là một văn bản quy phạm pháp luật, và
theo nghĩa đó thì hầu hết các cơ quan đại diện (Quốc hội, Tội đồng nhân dân) và
các cơ quan quản lý nhà nước (chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, uỷ ban nhân
dân, các cơ quan chuyên môn thuộc úy ban nhân dân) đều ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức này hay hỉnh thức khác Nhưng liệu tất cả các cơ
quan nhà nước đều có quyền lập pháp hay không? Nếu hiểu lập pháp theo nghĩa
hep thi hoạt đông này chỉ thuộc về Quốc hội [8, tr 273] Nhung lap pháp hiếu theo nghĩa “lập ra pháp luậU, tức đưa ra những quy phạm có giá trị bắt buộc
chung tất cá các cá nhân, tổ chức trong xã hội và được nhà nước bão dim thi
hành thì hoạt động này được thực hiện bởi rất nhiễu cơ quan nhà nước khác nhau
từ trung ương đến địa phương [24 tr 45L] uy nhiên, “lập pháp” theo nghĩa nảy
chưa được sự thống nhất hoàn Loàn trong sáo độc giả |16, tr 23| và dễ gây sự
nhằm lẫn với khái niệm lận pháp theo nghĩa hẹp, nhưng só một điều chắc chin
“chức năng lập pháp” được thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà nước khác nhau không chỉ các cơ quan đại diện và cơ quan quản lý nhả nước mả toà án (cơ quan
Trang 21tư pháp) cũng thực hiện chức năng ban hảnh các quy phạm pháp luật (Điều 17
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật) Ở các nước xây dựng bộ máy nhà
nước theo nguyễn tắc tam quyển phân lập và thừa nhận án lệ thì việc toa an
thông qua một vụ án cụ thể có quyền bác bỏ một đạo luật vi hiển của nghị viện
hoặc đưa ra những giải thích những điểm thiếu rõ rằng của các văn bán quy
phạm pháp luật do các cơ quan lập pháp, hay hành pháp ban hành Các quy phạm
pháp luật chứa đựng trong các bản án này hàng năm dược tập hợp, dánh giá và
hệ thống lại và được tòa án tối cao ban hành trong các tuyển tập án lễ và có hiệu
lực bắt buộc chung Như vậy không chi tinh bất buộc chung, và được áp dụng
nhiều lần của án lệ mà nó cũng tuân theo một quy trình xây dựng, ban hành nhất
dịnh như các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan lập phảp, hành pháp
Vì vậy các tòa án ở các nước này được coi lả có quyền *lâp pháp bố sung” Sự
phân tích này nhằm làm rõ chú thể của hoại động xảy dựng và ban hành văn bản
quy phạm pháp luật rộng hơn cách hiểu trên một số phương tiện bảo chỉ, truyền
thông bị ảnh hưởng bởi phạm vì chủ thể chật hẹp trong Hiến pháp 1992 và luật
ban hành văn bàn quy phạm pháp luật — một bước để xây dụng khái niệm hoạt
động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được chính xác hơn
đoạn dầu tiên
b Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật — gĩ
của cư chế điều chỉnh pháp luậi
'Lác động pháp luật lên các quan hệ xã hồi có thể trực tiếp hoặc giản tiếp
118, tr 2141, có thể tốt có thể xấu Những táu động trực tiếp theo một mục đích
định trước của nhà lảm luật lên các quan hệ xã hội gọi là điều chỉnh pháp luật
Để thực hiện được sự tác động này phải thông qua các giai đoạn và các phương tiên pháp lý đặc thủ gọi là cơ chế điều chỉnh pháp luật Giai đoạn đầu tiên là xây
dựng, ban hành các quy phạm pháp luật, giai đoạn thứ hai là áp dụng pháp luột,
giai đoạn thứ ba là xuất hiện các quan hệ pháp luật, giai đoạn thứ tư là các chủ
thé bing hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trên thực tế
Trang 22Cơ chế điều chính pháp luật nhằm đạt tới một trật tự xã hội trong đó các hành vi
của các chủ thể lả phủ hợp với pháp luật
Xây đựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là giai doạn đầu tiên
của cơ chế điều chỉnh pháp luật Sân phẩm của giai đoạn này là quy phạm pháp
luật, yêu tế khới phát cho các yếu tế còn lại Mục đích cúa cơ chế điều chỉnh, cáo
căn cứ để áp dụng pháp luật cũng như các điều kiện xuất hiện quan hệ pháp luật
đều được đặt ra trong giai đoạn xây dung vả ban hành văn bản quy phạm pháp
luật Cơ chế điều chỉnh pháp luật muỗn vận hành “trơn tru” đạt được muc dich
điều chỉnh mà không gây ra các “phản ứng phụ” gòn phụ thuộc rất nhiều yếu tố,
giai đoạn xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật tốt chưa đủ để tạo ra
cơ chế điều chính pháp luật tốt Nhưng, ngược lại, nếu giai doạn xây dựng và
ban hành văn bản quy phạm pháp luật không tốt đủ làm cho toàn bô co ché diéu
chính pháp luật kém hiệu quả hoặc vô nghĩa, nêu “cuộc sống không được đưa
vào” trong quy phạm pháp luật thì khỏ lòng “đưa pháp luật vào cuộc sống”
Xây dựng và ban hành văn bản quy pham pháp luật là giai dean khới dầu
cho cơ chế điểu chỉnh pháp luật, làm tiền đề cho các giai đoan sau Nhưng các
giai đoạn sau cũng có táo đông ngược trử lại đối với giai đoạn xây dựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật Các thông tin từ việc áp đụng pháp luật và
hiệu quả pháp luật sẽ cho phép nh lảm luật điều chỉnh nội dung các quy phạm
pháp luật phủ hợp với cuộc sống, loại bỏ những quy phạm không được cuộc
sống nhấp nhận, bỏ sung những quy phạm mới mả cuộc sống đang đòi hoi, dua
ra các biện pháp nâng cao hiệu quả pháp luật
œ Các đặc điểm của hoạt đậng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Mang tinh sảng tạo: Nếu như hoại động hành pháp, tư pháp nhằm áp
dụng nội dung của các quy phạm pháp luật có sẵn vào các tình huồng cụ thể thi hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật khái
20
Trang 23quát các tình huồng, các hành vị, tìm ra mẫu số chưng giữa chúng để dua
ra quy tắc xứ sự chung do vậy mang tính sáng tạo cao Sự sáng tạo càng
cao khi các nhả lập pháp đưa ra những mỗ hình mới hoản toán chưa có
trên thực tế VD: mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn lần đầu tiên ra đời
ử Đức để giải quyết nhu cầu tách vấn kimh doanh ra khói tải sẵn của một
cá nhân mà lúc đó chưa có mồ hình tồn tại trên tực tế [Phạm Duy Nghĩa chủ
biên (1999), Giáo trình Luật kinh tế, NXH Đại học Quốc Gia ITà Nội, Ir 89]
Có môi quan hệ trực Gấp với chính trị: trong bộ máy nhà nước thì các cơ
quan hành pháp ean phải có sự độc lập với chính trị, độo lập với các sơ
quan nhả nước khác cao hơn để bảo đảm sự vô tư, công bằng trong xét xử
Tương tự hoạt đồng hành chính quan liêu (burcaueracy) cần phải tách biệt
với chính tri [36, w 67| để bảo đảm tính chuyên nghiệp, nhằm đưa ra dich
vụ công rẻ nhất, chất lượng tốt nhất, cung cấp đến nhiều người một cách
công băng Ngược lại, trong mô hình chính thế cộng hoả nào, hoạt động
xây dựng và ban hành văn bán quy phạm pháp luật có mối quan hệ trực
tiếp với chính trị Hoạt động ban hành văn bán quy phạm pháp luật chủ
yếu do hai nhóm chủ thể thực hiện : cáo cơ quan đại điện (quốc hội, hội
đồng nhân dân) và các cơ quan hành pháp chính trị (hủ tưởng, bộ trưởng,
chủ tịch uỷ ban nhân dân) Hai nhém chủ thể nảy hoặc do nhân dân trực
tiếp bầu ra hoặc gián tiếp bầu ra theo nhiệm kỳ rất nhạy cảm với các
khuynh hướng chính trị Các chủ thể này được nhân dân lựa chọn ra
không phải vì trình độ chuyên môn hay tính chuyên nghiệp của ho ma vi
khả năng đại điện, thể biện chỉ của nhân đân, mà thể hiện trực tiếp này
là chuyên tải ý chỉ nhân dân vào nội dung các văn bản quy phạm pháp
luật
Độ phức tạp cao: hoạt động xây đựng và ban hành văn bản quy phạm nháp luật nhằm dua ra các quy tắc xứ sự cho các chủ thể do vậy nó phải
21
Trang 24tỉnh toán vấn để một cách toàn điện, lịch sử cụ thể Không phải lúc nào
luật hoá các quan hệ xã hột đều mang lại hiệu quả Hay nói rộng hơn cái
khó khăn chung trong sự điều hành (governance) eta Nha nước là ở chỗ
lựa chọn quy mô, mức độ, phương pháp can thiệp vào các quan hệ xã hội
sao chơ mang lại hiệu quả cao nhất |33, tr 547| Chính vì vậy để chuẩn bị
ban hành một đạo luật thường phải có quả trinh chuẩn bị rất công phu,
phải tiến hành diều tra, khảo sát thực trạng các quan hệ xã hội, thực trạng,
về hiệu quả điều chỉnh pháp luật của các văn bản liên quan, tham khảo
kính nghiệm quốc tế, kính nghiệm trong lịch sứ; dự báo tác động của văn
bắn quy phạm pháp luật sau khi có hiệu lực Dôi với các đạo luật phức tạp
phải có thời pian “âp ú, thai nghén” khả đài Ví dụ: Tuật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật 1996 có quá trình thai nghén từ 1977 [21, 345] Hiện
nay thơo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 đã được sửa đổi
bổ sung theo Luật số 02/2002/QH11 ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2002
sửa đổi bổ sung một số diễu của mật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 1996, thì đối với các dự luật quan trong có thể được xem xét tại hai kỳ
họp; tại kỳ họp thứ nhất sẽ cho ý kiến về ác vấn đề cơ bản, Lại kỳ hợp thứ hai sẽ xem xét cụ thể và biểu quyết thông qua
Có tác động lâu dài, nhiều chiều lên các quan hệ xã hội: hoạt dộng ban
hành văn bản nhằm tạo ra sản phẩm 1a các quy phạm pháp luật Chính ở
điểm này nên hoại đồng xây đựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
có tác động lâu đải; một phán quyết của toà án, một quyết định cả biệt của
co quan quan lý nhà nước chỉ có tác động đến một, hoặc một nhóm đối
tương trong một trường hợp cụ thể Còn quy pham pháp luật được thực
hiện nhiều lần, đối với nhiều đối tượng khác nhau Nên vụ án oan sai, luy
có gây bất bình cho nhân dân nhưng không làm thiệt hại các lợi ích kinh té
xã hội sâu rệng, lâu dài như các văn bản quy phạm pháp luật bất hợp lý
Trang 25Ban hành vin ban quy phạm pháp luật nhằm hướng hảnh vi cúa các chủ
thé phát triển theo một định hướng nhất định Nhưng song song với việc
các chủ thẻ diều chính hành vị của minh theo hướng tác động của một quy
phạm pháp luật thì các chủ thể cũng điều chỉnh các hành vi liên quan của
mình, dẫn đến các quan hệ xã hội liên quan chuyển sang một trật tự mới
Nếu nhà làm luật không dự tĩnh được điều này thì một quy phạm pháp luật
sẽ có hiệu quả trong môi trưởng cũ (môi trường được giá dịnh lả không
thay đôi) nhưng sẽ mất tác dụng trong môi trường mới Ví dụ hiện tượng
trấn, gian lận thuế VAT hiện nay
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm hoạt động xây dung
và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động do các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tién hành theo thả tạc luật định nhằm đưa ra các quyết
định pháp luật dưới dụng văn bản trang đó chúa ựng các quy phạm pháp
luật dé diều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển theo những mục dich nhất
định Iioạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là giai
đoạn đâu tiên của cơ chế điều chỉnh pháp luật, mang tỉnh sàng tạo, phức tấp
cao và phân ảnh chặt chế đời sống chink trị — xã hội
1.2.2 Các giai đoạn của hoạt động xây dựng và ban hành văn bắn quy phạm
pháp luật
Xây dựng, ban hành là hai hoạt dộng hay hai giai đoạn của quá trình làm
cho một văn bản quy phạm pháp luật được ra đời Có tác giả tách hai giai đoạn
nay phan tích một cách riêng biệt
Ví dụ: Theo 'T§.PGS Nguyễn Đăng [ung [9, 67] thì các bước xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao pdm:
- Bước chuẩn bị
- Bước viết du thio
23
Trang 26- Đánh máy, in ấn dự thảo
- Trinh kỷ văn bản
Tước chuẩn bị bao gồm: Xác định mục tiêu soạn tháo, Chọn hình thức văn bản; Suu tâm lài liệu, Trao đổi và hỏi ý kiến các bộ phận, các cơ quan liên
quan; Xin ý kiến lãnh đạo trực tiếp; Phần suy luận của người soạn thảo về nội
dung soạn thảo văn bản
ước viết dự thảo bao gồm: Lập dàn ý, thảo văn bản, kiểm soát lỗi
Bước cuối cùng là ¡n Ấn, đánh máy, chế bản, in dự thảo, ký ban hành
Cách phân tích này chú trọng kỹ thuật soạn thảo và nhìn nhận thủ tục dưới góc độ của nhân viên soạn thảo, it phân tích khía cạnh pháp lý của quá trình
Côn theo tác giả Lưu Kiếm Thanh trong cuỗn Kỹ thuật lập quy [16, tr 77]
thi ban hanh vin ban gềm:
1.Thủ tục trình ký văn bản: Phải đủ hề sơ trình kỷ Nếu không có hề sơ thì
phải trực tiếp tường trình với người ký
2.Thủ tục chuyển văn bản: Dúng tuyến, đúng địa chỉ, đúng người thi hành Không chuyển vượt cấp, chuyển sai người có thấm quyển
3 Ihủ tục ký văn bản: Người ký văn bản phải chịu hoản toản trách nhiêm
pháp lý về văn bản mà mình ký
4L Thủ tục sửa đổi hoặc bãi bỏ văn bản: cần sửa đổi các văn bản bắt hợp lý, bãi bô những van ban bat hop pháp
5 Thụ tục sao vẫn bản : phải phân biết rõ ranh giới giữa sao y và sao lục
Sao y là từ bản gốc đo chính cơ quan ban hành văn bản tién hành Sao luc 1a sao
từ bản nhận được do cơ quan tiến hành Khi sao lục có thể sao toàn văn hoặc
trích sao phần nội dung má cơ quan cho là cần thiết
24
Trang 276 Thủ Lục lưu văn bán: Đối với văn bản đi thì một bản lưu ở bộ phan ban
hành, một bản lưu ở văn phòng cơ quan Đối với văn bản đến thì lưu tại văn
phòng Nếu văn bản có liên quan đến nhiều bộ phận thì văn phòng phải sao chụp
thêm để gửi tới các bộ phận
Theo tác giả thì thủ tục ban hành văn bản bắt đầu từ lúc trình ký văn bán
và kết thúc khi văn bản được lưu ở cơ quan ban hành hoặc cơ quan tiếp nhận
Cách phân tích trên đã chú trọng đến các yêu cầu hợp pháp cũa thủ tục nhưng dã
không phân biệt rõ (hủ đực xây dựng, bạn hành văn băn và chủ chuyên văn bắn
oat động ban hành kết thúc khi văn bắn được chính thức ra đời và được chuyển
tới người thi hành Nên nó kết thúc khi hành động cuối cùng làm cho văn bản cá
hiệu lực Theo chúng tôi, thủ tục xây đựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một thủ tục thống nhất hữu cơ không nên thuần tuý đũng dưới góc độ kỹ thuật thực tiễn hay góc độ pháp lý để phân tách thành hai giai đoạn biệt lập như
- Các Uỷ ban của Quẩc hội
- Toả án nhân dân tối cao
- Viện Kiểm soát nhân dân tôi cao
25
Trang 28- Uÿ bạn Mặt trật tổ quốc và các tổ chức thành viên
- Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiếm nghị về luật, dự án luật ra ra trước
Quốc hội
Những nước theo học thuyết tam quyền phân lập thì sáng quyển lập pháp
là một đặc quyền thuộc về nghị viện Một dự luật có thể xuất phát từ thượng viên
hoặc hạ viện Riêng dự luật về ngần sách chỉ có thể xuất phát từ hạ viện [34, tr
13]
Hiện nay ở Việt Nam, đa số các văn bản quy phạm pháp luật thì giai đoạn
công bố truyền đạt là một yếu tố bắt buộc để văn bân có hiệu lực (Diều 75 Luật
ban hảnh văn bản quy phạm pháp luật) Khuynh hướng chung hiện nay Ví dụ: Nga, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ việc công bồ văn bán là một điều kiện có
hiệu lực của văn bản (Xin xem thêm ở Chương 3 Mục 2 của luận văn này)
Trên thực tế, một văn bản muốn có ý nghĩa thì phải được chuyển tới chủ
thế thi hành Mặc đủ, các văn bần ban hành theo trình tự cá nhân của các cơ quan
địa phương địa phương ghi :"có hiệu lực kế từ ngày ký” nhưng thực tế ngày có
hiệu lực là ngày văn bân vào số đăng ký văn bân tại văn phòng hay bộ phận văn
Đây là giai đoạn đầu tiền và là giai đoạn không bắt buộc Dếi vì chỉ khi
tôn tại các hành động xnang tính chất pháp lý nhất định mới được coi lả có giai
đoạn sáng kiến ban hành văn bắn quy phạm pháp luật Hành động đó là: cơ quan
26
Trang 29có thẩm quyền ra quyết định chính thức về sự cần thiết phải ban hành một quyết
định nào đó (quyết định này có thể được thể hiện trong các kế hoạch xây đựng
các văn bản quy phạm pháp luật trong đó chỉ ra một số yếu tô cơ bản về phạm vi,
nội dung, đối tượng áp dụng của quyết dịnh sẽ ban hành và phân công cho người, cơ quan cụ thể chuẩn bị Thông thường, quy trình xây dựng và ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như Luật, Nghị quyết của Quốc hội,
Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, quyết định quy phạm của thủ tưởng, quyết định quy phạm và thông tư của bệ trưởng, quyết định quy phạm của trý ban nhân
dân có giai đoạn này
b Chuẩn bị dự thảo
Dây là một giai đoạn lớn bao gồm ba giai đoạn nhỏ: thu thập, phân tích và
đánh giá thông tin, dự tháo quyết định; thảo luận, hỏi ý kiến góp ý cho dự tháo
và hoàn chỉnh dự tháo
Giai đoạn này nếu được làm tốt sẽ bẩo đảm cho văn bản quy phạm pháp
luật ra kịp thời, không phải thông quan nhiều lần Chất lượng giai đoạn chuẩn bị
đự thảo là đảm bảo cho tính hợp pháp vả hợp lý của dự thảo, tức là cho hiệu quả
của văn bản quy phạm pháp luật
G giai doạn thu thập thông tin cần lưu ¥ tinh toản diện khi thu thập các
văn bản hiện hành lám căn cứ pháp lý cho văn bản quy phạm pháp luẫt sẽ ban
hành Kết quả xử lý loại thông tin này nhiều khi chỉ có được sau khi đã tiến hành
một công tác tập hợp hóa văn bản ở phạm v1 vấn để cần giải quyết Sau đó là các
thông tin thực tiễn, những vẫn để gì phát sinh và dang tồn tại cần giải quyết Các
thông tin cần nhiều chiều từ nhiều nguồn khác nhau dé ting tinh toàn điện và
khách quan trong đánh giá
27
Trang 30Sau khi đã phân tích, đánh giá toản điện áo thông En, căn cứ vào mục
đích, yêu cầu của vấn để mà quyết định cần giải quyết thì bắt đầu viết dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật Trong khi tiến hành dự thảo luôn phải xác định rõ,
lầm chính xác thêm các quan diém chỉ đạo và phạm vị diều chỉnh của văn bản sẽ ban hành Người dự thảo là những chuyên gia nắm vững kiến thức khoa học
pháp lý, am hiểu pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ
Đối với những văn bản qœ phạm pháp luật quan trọng thì thảo luận, hỗi ý
kiến và hoàn chính lại dự tháo 74 giải đoạn bắt buộc Ví dụ : Luật Dự thảo có thể được đưa ra hội thảo ở trong nội bộ cơ quan soạn thảo, hoặc mở rộng ra các cơ
quan hữu quan, các chuyên gia bên ngoài hoặc hỏi ý kiến bằng văn bản
'Trong ban hành một số loại văn bản quy phạm pháp luật nhất định thì việc
hỏi ý kiến một số cơ quan má chức năng, nhiệm vụ của chúng liên quan mật thiết
tới vấn dễ sẽ dược ban hành là hành động bắt buộc Nhiều văn bản quy phạm
Nhiễu văn bản quy phạm pháp luật, đủ chưa được trình lên cơ quan có
thẩm quyền lần nảo, nhưng qua quá trình thảo luận nảy sinh nhiều vẫn để nên
phải dự tháo lại khá nhiều lần Một số vẫn băn quy phạm pháp luật đặc biết quan
trọng động chạm đến quyền, lợi ích của quản chúng nhân dân thì cần phải công
bố dự thảo cho nhân dân góp y Nếu thuận lợi thì sau khi thảo luận hỏi ý kiến, dự
thảo được chỉnh lý và thú trưởng cơ quan dự thảo trỉnh lên cơ quan có thẩm
quyền
© Trình dự thảo lên cơ quan có thắm quyên ban hành
28
Trang 31Việc trình cũng phải Luân theo những quy định cụ thể ai là người trình, hỗ
sơ trình gồm những gì v.v
Người trình là thủ trưởng cơ quan, lễ chức chuẩn bị dự tháo, hoặc người
có thầm quyên thay mặt thủ trưởng,
Hỗ sơ trình gồm: dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; bản thuyết mình
kêm theo dự thảo; các văn bản lãm căn cử pháp lý cho việc ban hành văn bán
quy pham pháp luật và những văn bán hiện hành có liên quan, kể cá các văn bản
nước ngoài lâm tải liệu nghiên cứu đối chiếu, các tải liệu tống kết thực tiễn
Thông thường trong thực tế hề sơ trình chỉ có hai tải liệu đầu, trong một số
trường hợp có thêm một số tài liệu thuộc loại thứ ba, nhưng để cho cơ quan có thắm quyền xem xét hồ sơ trình đầy đủ vả toàn điện thì cần cả bốn loại tài liệu
nói lrên
d Tháo luận và thông qua dự thảo ở cơ quan có thậm quyên
Day 1a giai đoan trung tâm nếu xét về ý nghĩa pháp lý, vì chính ở đây
quyết định được ban hành và có hiệu lực pháp lý
Hồ sơ trình trước hết chuyển đến cho cáo bộ phận hoặc chuyên viên thấm
định, thẩm tra sơ bộ, phát biếu ý kiến để những người có thấm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật xem xét Sau đó người có thâm quyền trinh dự tháo
vần bản quy phạm pháp luật trình bảy chính thức trong phiền họp của cơ quan có
thâm quyền (nếu là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể), hoặc trước thủ trưởng
cơ quan có thấm quyển ban hành (nếu là cơ quan làm việc theo chế độ thủ
trưởng) Có nhiều trường hợp, sau khi nghe bảo cáo của các chuyên viên thẩm
định dự thảo, những người có thâm quyền có thể yêu cầu cơ quan trình chỉnh lý
lại một cách cơ bản dự thảo
29
Trang 326 co quan lam việc theo chế độ tập thể (Chính phủ, uỷ ban nhân dẫn) thì
văn bản quy phạm pháp luật ban hành bằng cách biểu quyết theo đa số Nhưng
trong thực tiển nhiều khi trình tự này không dược thực hiện, mả văn bắn quy
phạm pháp luật được ban hành theo cách hồi ý kiến từng thành viên hoặc bộ
phan thường trực Các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng được đưa ra tháo
luận tập thể, sau đỏ thường được chỉnh lý lại rồi đưa lần lượt cho một số người
có thẩm quyền duyệt, rồi người có trách nhiệm ký ban hành Cách làm việc như
vậy, nêu xem xét dưới góc đồ pháp lý thì chưa thật phù hợp với trinh tự luật định:
và ít nhiều có ánh hưởng đến chất lướng văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật của những người đứng dầu những cơ quan,
tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, cũng như văn bán quy phạm pháp luật
của cá nhân người lãnh dạo cơ quan tập thể (ví dụ Thú tướng), được chính thủ
trưởng cơ quan ban hành Nhưng để bảo đâm tỉnh dân chủ, các văn bản quy
phạm pháp luật quan trọng loại này trước khi thủ trưởng ky ban hành cũng được
đưa hỏi ý kiển trong nội bộ cơ quan Nếu những người được hỏi ý kiến đồng ý
thì ký tất vào văn bản
Thời điểm biểu quyết (nếu được đa số) vả ký văn bản quy phạm pháp luật
(đối với văn bản quy phạm pháp luật ban hành theo chế độ thủ trướng), về
nguyên tắc pháp lý là thời điểm văn bản quy phạm pháp luật được thông qua và
có giá trị pháp lý Thời điểm ký chứng thực đối với văn bản quy phạm pháp luật
của tập thể chỉ là hành đồng có tính chất thủ tục Cũng vị lẽ đó, giai đoạn sau khi
đã ban hành văn bán quy phạm pháp luật (giai đoạn truyền đạt văn bản quy phạm
pháp luật) chỉ mang tính chất bỗ sung
ø Truyên đạt đắn cơ quan và người thí hành
Giai đoạn này tuy mang tính chất bổ sung cho cä trình tự xây đựng và ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, nhưng không có nó, trong dã số các trường
30
Trang 33hợp, văn bán quy phạm pháp luật không được thực hiện mà bị "cất vào ngăn
kép"
Có nhiều hình thức truyền đạt văn bản quy phạm pháp luật: bằng miệng,
điện báo, điện thoại, gủi vẫn bản cho đối tượng thi hảnh, in trong Công báo,
công bố
thanh, truyền hình) Cá thể chọn một trong các hình thức đó hoặc kết hợp một
n phương tiện thông tin đại chủng (bảo hàng ngày, đọc trôn đài phát
số hình thức với nhau
Các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng có hiệu lực rộng thường vửa
được đăng Công báo, vừa đăng lrên báo hàng ngảy, vừa công bố trên đải, vừa
được gửi trực tiếp cho người thi hành Nếu là văn bản pháp luật quy phạm hay
cá biệt quan trợng cần phải thi hành ngay nên phải truyền dạt pấp bằng diễn hoặc
bằng miệng, thì sau đó cũng cần gửi thêm văn bản văn bản pháp luật đó cho đổi
tượng thì hành để báo đảm linh chỉnh xác về mặt pháp lý
1.3, CÁC YÊU TÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIÊU QUÁ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG,
BAN HANH VAN BAN QUY PHAM PHAP LUAT:
Hoạt dộng xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như các
hoạt động khác trong toàn bộ cơ chế điều chỉnh pháp luật đều hướng tới một trật
tự xã hội trong dé cdc hành vi của các chủ thể phủ hợp với pháp luật lo vậy trước khi đề cập đến hiệu quả của hoạt động xây dựng vả ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, chủng ta cần dễ cập dén hiệu quả của pháp luật nói chung
Vấn đề hiệu quả của pháp luật trong những năm gần đây đã được nhiều người chú ý và bắt tay vào nghiên cứu Dặc biết lả các chuyên gia thuộc nhiều nghành luật cụ thể đã có nhừng bước đi khá sâu vào từng lĩnh vực của các yếu tô
hiệu quả Chẳng hạn vẫn dễ hiệu quả của luật hình sự, hiệu quả của luật đất dai,
hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính Khi những vấn đề cụ thể được tích
luỹ dẫn dần, thì các nhà lý luận về pháp luật bắt đầu chú ý đến khái niềm chung
31
Trang 34về hiệu quả của pháp luật Tuy nhiên xung quanh khái niệm hiệu quả pháp luật
đã hinh thành nhiều ý kiến khác nhau [18, t& 437]
Có ý kiến cho rằng, hiệu quả tức là sự chính xác, sự dúng dắn, tính dược
luận chứng của các quy phạm pháp luật (quan điểm này chỉ mới chú ý đến g1m
đoạn xây dựng quy phạm pháp luâU) Lại có người cơi hiệu quả là sự hợp lý và
khả năng mang lại kết quả, khả năng vả mức độ thực hiện những quy định của
pháp luật (quan diém nay đã chủ ý dến kết quả cuối củng của quy phạm song
chưa đưa ra được các tiêu chỉ đánh giá hiểu quả pháp luật)
Có quan niệm cho rằng hiệu quả pháp luật là hiệu lực của nó, tức là khá
năng của nó tác động vào các quan hệ xã hội, làm cho các quan hệ đó đi đúng
hướng Hiệu lực có khi cỏn dược hiểu như sự tuân thủ, mức dộ tuân thủ pháp
luật
Lại có quan điểm coi hiệu quả là mứo đô đạt được những mục đích qo quy
phạm cụ thé để ra, tức ý đỗ của nhà làm luật được phản ánh trong quy phạm sẽ
dược thực hiện như thể nào trong thực tiễn
Sự hiển diện nhiều quan niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về hiệu quả
pháp luật nói lên rằng người ta đòi hối pháp luật ở nhiều mặt Mỗi quan niệm
không chỉ phản ánh vị trí xã hội và “góc nhìn” của ngươi đưa ra quan niệm, mà
cỏn thể hiện các mức độ khác nhau của pháp luật, những mức độ áp dụng khác
nhau của pháp luật
Tưới góc độ chung nhất cần hiểu như thế nảo về hiệu qúa của pháp luật?
Trước hết, hiệu quả là một yêu cầu nội tại của pháp luật Do đó, tìn hiểu
về hiệu quả của pháp luật, trước hết phải tìm hiểu ngay trong bản thân pháp luật, chứ khêng phải ở những hiện tượng, những quá trình xây ra ngoải pháp luật
Thững tiêu chí như kết quả, những thiệt hại, những trạng thái cúa những quan hệ
xã hội không liên quan đến pháp luật, hoặc cụ thể hơn, không được điều chính
bởi quy phạm pháp luật này thi không thể là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của
Trang 35quy phạm Nhưng nói như vậy không phải là tuyệt đối hoá các yếu tổ bên trong
của pháp luật Nếu những trạng thái, những kết quả, những thiệt hại v.v xây ra
hoặc tồn tại ngoài hướng tác động của quy phạm những cũng có liên quan dến
những diéu kiện tôn tại, tác động va phát sinh, phát triển của quy phạm thi vẫn
cần phải được tỉnh đến khi nghiên cứu về hiệu quã của quy phạm pháp luật
Trong “Tư bản”, Œ Miác có viết: “Các tính chất của sự vật không phát
sinh từ mối liên hệ các vật khác mà chỉ dược phát hiện trong mỗi liên hệ ấy”
(Dẫn theo Lê Minh Thông trong sách, Những vần để 1ÿ luận về Nhà nước và
pháp luật, NX Chính wi quốc gia, 1994, trang 439) Như
hiệu quả của pháp luật chủng ta cần tìm hiểu mối quan hệ giữa quy phạm pháp
y muốn tim hiểu
luật và quan hệ xã hội mà quy phạm pháp luật dỏ hướng tới, tác động tới
Pháp luật được quy định bởi các quan hệ xã hội và nhằm quay trở lại tác
động, điều chỉnh các quan hộ xã hội, cho nên khả năng Láo động vào quan hộ đỏ
của pháp luật phải được coi là hiệu quả của pháp luật Khả năng đó phải xuất
phát từ những cơ cầu nội tại của pháp luật và lả tính chất chung của pháp luật
Nhưng để xác định được khả năng đó, tức hiệu quả cần xem xét không chỉ bản
thân pháp luật, má cá đối tượng tác động của nỏ Từ đó, ta sẽ thấy được trạng
thai ban đầu, đi từ pháp luật, cho đến trạng thái sau khi pháp luật đã tác động vào
các quan hệ xã hội Điều dó có nghĩa là sẽ cỏ trước mắt ta trạng thải sau khi táo
động - ÀI so với trạng thái khi chưa tác động - A0 của các quan hệ xã hội Dó
chính là số đo ban đầu về táo động của pháp luật, một thành tổ đầu tiền trong
công thức tính hiệu quả pháp luật
Đắi tượng điều chỉnh của pháp luật là các quan hệ xã hội Nhưng bản thân các quan hệ xã hội được pháp luật đưa lên thành mô hình, chuẩn mực điển hình
lại sỏ hai bộ phận Một mặt, đó là hành vị (mô hình hành vị) khách quan, phản
ảnh nhu cầu của xã hội Mặt khác, đó là những yếu tố thuộc về ý thức, hình ảnh
của mô hình đọng lại trong con người, tức là ý thức pháp luật Cho nên, khi nói
33
Trang 36đến hiệu quả của pháp luật với tính cách là kết quả tác động đến các quan hệ xã
hội thì phải hiểu đỏ là trạng thái của hành vi pháp luật và ý thức pháp luật Một
quy dinh của pháp luật chỉ có thể được cơi là cỏ hiệu quả khi các quan hệ xã hội
được điều chỉnh phát triển theo chiều hướng tiên bộ, mang lai liệu quả xã hội,
đồng thơi, Lác động được đến ý thức của con người, lắm cho con người nhận
thức được rằng nội dung mà pháp luật điều chỉnh là nhụ cầu nội tại của chính họ,
họ cũng có lợi ích trong đó khi tuân thủ các quy phạm pháp luật Đây chính là
hai chỉ số quan trọng nhất về hiệu quả của pháp luật, tức lả trạng thái của hành v1
và trạng thái của ý thức pháp luật
Giá trị của pháp luật trước hết được biểu hiện thông qua chuẳn mực mà nó
đã hình thành trong hảnh vi pháp luật và những gì nó dược ý thức chấp nhận
Nhưng giá trị của pháp luật côn được đo bởi những chỉ số khác về vật chất, tình
thần mà sự điều chỉnh đỏ tạo nên Nói oách khác đây lá vẫn đỗ về
pháp luật là yếu tổ không thể thiểu được khi nói về hiệu quả của pháp luật Vì
vậy, có thể hiểu #fiệu qửa của pháp luật - đó là khả năng cùa pháp luật có thể
tác động được vào của quan hệ xã hội và ÿ thức xã hội để điêu chỉnh các quan
hệ dỏ với những tốn thất vật chất và tinh thân ít nhất và mang lại kết quả theo
hướng cần điều chỉnh và cần được xác định của pháp luật [18, tr 441]
Như vậy theo định nghĩa trên, điểm xuất phát là quy phạm pháp luật, điểm
tác động lả quan hệ xã hội, trong đó có hành vi vả ý thức xã hội, trạng thái của
hành vi và ý thức sau khi điều chỉnh phải khác trạng thái trước khi điều chỉnh,
nhưng trạng thái đó phải ở trong hướng điều chính đã được xác định (hiêu ứng
này có thể âm hoặu dương Do đó không phái kết quá nào cũng có thể nói lên
hiệu quả của pháp luật, nếu không sự điều chỉnh của pháp luật sẽ mất tính chất
34
Trang 37cơ ban và mục đích quan trọng của nó là bảo đầm sự ôn định của các quan hệ xã
hội, sự phát triển tiền bộ theo chiều hướng mong muốn
Để có thể lượng hoá, danh giá được hiệu quả pháp luật cần phải có các chỉ
số, đại lượng cụ thể hơn Hay nói cách khác cần phải có các thước đo khả năng
tác động của pháp luật lên các quan hệ xã hội
Chỉ số đó phải là những yếu tổ cho phép nói lên được rằng, quy phạm
pháp luật đã tạo ra thêm được trạng thải gì khác trang các quan hệ xã hội sơ với
trang thái trước khi nó được sử dụng để điều chỉnh Nó chỉ rõ những hệ quá thực
đó chí
có thể nằm trong phạm vi các quan hệ xã hội được điều chỉnh và ở trong bản
áp dụng pháp luật Như vậy, những chỉ
thân quy phạm pháp luật được áp dụng,
Những chỉ số đó là
- Những đữ kiện cụ thể về đối Lượng điều chính nhằm nói lồn trang thái
trước khi điều chỉnh của nó - ta tạm gọi nó là a;
-_ Những đữ kiện cụa thể về những kết quả cụ thể của việc diều chính thể
hiện thông qua những thay đổi trong đối tượng điều chỉnh — ta tam gọi là
b
-_ Những đữ kiện vụ thế vẻ những mục đích đã đạt được va chưa đạt được
của việc diều chính;
- Những dữ kiện về những khuyết điểm, những hệ quả phản tích cưc xây ra
long đối tượng điều chỉnh và trong quy phạm pháp luật
Trong số các chỉ số về hiệu quá của pháp luật, cảng ngảy người ta cảng quan tâm đến yếu tổ về mối tương quan giữa các mục đích của quy phạm với nhau và giữa mục đích chỉnh của quy phạm với mục đích phụ của nó Nói cách khác,
trong số những sự thay đổi thi có quan hệ có tầm quan trọng (hệ số k cao hon)
các quan hệ khác Rõ ràng là trong số các mục đích, mục đích cơ bản, càng quan
trọng mà cảng đạt được nhiễu thì thì chứng tỏ hiệu quả của quy phạm cảng có
35
Trang 38thể được coi lả lớn Ngược lại, nều một quy phạm được ban hành và được áp
đụng, nhưng với thời gian, ngoái việc nó đã cho phép đạt được những mục đích
cẦn thiết mà khi ban hành, người làm luật đã dặt ra, nó lại còn làm phát sinh
những hậu quả phản tác dụng khác, thì trong những trường hợp đó, dủ quy phạm
đã được áp dụng nhưng hiệu quả của nó sẽ bị giảm đi (trong công thức biểu diễn
hiệu quả nó sẽ mang đâu âm)
Ngoài những chỉ số về mục tiêu cúa quy phạm dã dạt duoc, hiệu quả của
pháp luật cũng được đánh giá dựa trên cơ sở những phí tổn của quá trình điều
chỉnh Từ sự phân tích trên La có thể đưa ra công thức để đánh giá hiệu quá pháp
luật
H= [(z11— 201)#1+ (212— 202)3&2+ (213— a03)x#3— —(611— 6010371]
P
- Trong đó all a01 thể hiện sự thay đôi của quan hệ al sau khi tác động
(a11) và trước khi tác động (401) và k1 là hệ số thể hiện tầm quan trọng của mục
dich điêu chỉnh quy phạm đối với quan hệ al;
- Trong dé b11 — bO1 thé hign su thay dôi ca quan hệ bì sau khi tac ding
(11) và trước khi tác động (b01) vá 11 là hệ sế thể hiện mức độ phản tác đựng
của quy phạm đối với quan hệ b1 vì vậy nó mang dâu âm,
-P là chỉ phí (bao gồm chi phi bằng tiền và thời gian)
Trên cơ sở đưa ra khải niệm hiệu quả của pháp luật và cách tính hiệu quả
pháp luật như trên, chủng tôi cho rằng muốn bảo đảm hiệu quả của hoạt động
xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải tính dễn sự tác dộng của
các yêu tô chỉnh sau:
a Thủ tục xây dựng và ban hành:
Nếu như hoạt động xây dựng, ban hành văn bân quy phạm pháp luật nói
chung lả giai doạn dầu tiên của cơ chế diều chỉnh pháp luật thì đến lượt thủ tục
36
Trang 39xây dựng, ban hảnh sẽ là yếu tố đầu tiên tác động đến hoại động xây dựng, ban
hành văn bản quy phạm pháp luật
Trong thú tục xây dựng và ban hành trước hết phãi trao “sảng quyền” lập
pháp, lập quy cho các chủ thể phủ hợp [6, tr 358] Chủ thể phù hợp hoặc phải là
chủ thể có lợi ích liên quan đến vấn để cần ban hành, có như vậy thì chủ thể đỏ
mmới tìm ra những điểm hợp lý dé phân tích, thuyết phục người có thấm quyền
thông qua Hoặc lả chủ thể trực tiếp giải quyết, quản lý các vẫn đề liên quan;
chính những chủ thể này mới là người am hiểu vấn để, nêu những người nảy
không có “sáng quyền” mã lại trao cho cấp trên của họ thì có thể dẫn đến hiện
tượng quan liêu, cấp trên không nắm rô các vẫn để khi trình bày
Sau dé
n phải quy định thời hạn hoàn thành của mỗi hước trong thủ tục
Đặc biết cần cá thể hoá trách nhiệm, và mức độ trách nhiệm của những người
liên quan thú tục xây y dựng, ban hành trong việc chậm trễ hoặc ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật trái luật, hoặc rõ rằng bắt hợp lý Những hậu quả, những
diễm bắt hợp lý của các văn bản quy phạm pháp luật khác với hậu quả một hành
vi pháp lý, một quyết định cá biệt, nó khó nhìn thấy và chỉ nhìn thấy sau một
thời gian thi hành, khi mả người ban hành đã chuyển sang vị trí công tác mới, và
khi nhì thấy hậu quả rồi thi cũng khó quy kết trách nhiệm theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện nay Thiết nghĩ, muốn tăng cường trách nhiệm nảy thi
các quy định trách nhiệm trong thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật chưa đú mả cần phải mở rộng quyền xót xử các văn bản quy phạm
pháp luật cho toà hành chính Lúc đó, sự đúng sai của một văn bản quy phạm pháp luật sẽ rõ ràng, chứ không mập mờ như hiện nay Mặt khác phải tăng cường các hình thức để áp dung trách nhiệm chỉnh trị đối với những người có thắm
quyén trong vid
y dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ví dụ như
nâng cao hiệu quả chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, hội động nhân dân các cấp, mở
37
Trang 40rộng hình thức chất vin này đối với các cơ quan nhà nước khác, hoặc áp dựng hình thức miễn nhiệm, bãi nhiệm
Một thủ tục dơn giản, ngắn gọn thì sẽ cho phép ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật một cách kịp thời với thời gian và chỉ phí ít nhất, thủ tục với
trách nhiệm rõ ràng số cho ra đời một văn bin quy phạm pháp luật chất lượng
cao hơn
'Một số vấn để khác cúa thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
sẽ được tiếp tục nêu ở Chương 3
b Thông tin;
Hiệu quả của hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
phụ thuộc rất nhiễu vào thông tin mà ban soạn thảo va các nhà lập pháp có dược
Hiên nay, khi soạn thảo các văn bản quy pham pháp luật, các cơ quan có thẳm
quyền của Việt Nam thường thu thập bốn loại thang tin
-Thứ' nhất, thông tin về thực trạng các quan hệ xã hội mà văn bản quy
phạm pháp luật sẽ điều chính;
~ Thứ hai, thông tin về thực trang điều chỉnh của các văn bản quy pham
pháp luật hên quan (hai thông tín này số nói lôn sự cần thiết của vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật),
-Thứ ba, thông tin về kinh nghiệm quốc tế,
- fhứ tú, thông tin về kinh nghiệm lịch sử (hai thông tin này sẽ gợi ý cho
chúng ta cách giải quyết vẫn để)
Hiện nay với cơ sở dữ liệu luật do Văn phòng Quốc hội phát hành và mang tin hoc diện rộng do Văn phòng chính phú quản lý, cũng như sự phong phú
về các tài liệu lịch sử thì thông tin thứ hai vả thông tin thử tư không phải là khó
lim kiếm, vấn để là đánh giá, xử lý thông tin, cần phải có những chuyên gia hiểu
tiết đễ phân tich thông tin
38