ngày cảng sâu sắc và toàn diễn giữa nước ta với thể giới, trong mỗi trường cạnh tranh nhiều lĩnh vực gay gắt này, Dảng, Nhà nước ta cũng đã xác định rõ: Phát hiện, dào tạo và sử dụng ng
Trang 1HOAN THIEN PHAP LUAT VE SU DUNG NGUOI
CO TRINH DO CHUYEN MON, KY THUAT CAO TRONG BO LUAT LAO DONG VIET NAM HIEN NAY
Chuyén nganh: Luat kinh té
Ma so: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Vũ Hoàng
HÀ NỌI -2012
Trang 2
7 Bố cục của Luận văn
CIIVONG 1: NITONG VAN DE Li LUẬN VẺ HỒN TIHẸN PHÁP
LUAT VE SU DUNG NGUOT CO TRINH DG CHUYEN MON, KY
1.1 Khải niệm người cú trình độ chuyên mơn, kỹ thuật cao
1.1.1 Tách sử lập pháp về người cĩ trình đơ chuyên mơn, kỹ thuật cao
1.1.2 Khái niệm người cĩ trình độ chuyên mịn, kỹ thuật cao 14
1.2 Cơ sử lí luận về hồn thiện pháp luật về sử dụng người cĩ trình
1.2.1 Qua trinh hinh thanh, phát triển của pháp luật về sử dụng lao
động và sử dụng là đơng cĩ trình đơ chuyên mơn, kỹ thuật cao 15 1.2.2 Pháp luật về sứ dụng lao đơng cĩ trình dộ chuyên mơn, kỹ thuật
1.2.3 Pháp luật về sử dụng lao động cĩ trình độ chuyên mơn, kỹ thuật
cao là Nghệ nhãn 22]
1.2.4 Pháp luật về sứ dụng lao động cĩ trình độ chuyên mơn, kỹ thuật
cao cĩ nhiều kinh nghiệm và thâm niên trong nghé nghiệp
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về sứ dụng người cĩ trình độ chuyên mơn,
Trang 31.3.1 Chính sách vả pháp luật các nước về sử dụng lao động có trình
độ chuyền môn, kỹ thuật cao
1.4 Dánh giả, nhận xét chính sách và pháp luật các nước về sử dụng
người có trình dộ chuyên môn, kỹ thuật cao và bài học kinh nghiệm
CHUONG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VẺ SỬ DỤNG NGƯỜI
CÓ TRÌNTH ĐỘ CIUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO TRONG BO
LUAT LAO DONG VIET NAM HHỆN NAY
2.1 Thực trạng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt
2.1.1 Thực trạng sử dụng người có trình dô chuyên môn, kỹ thuật cao
2.2 Xu hướng phát triển người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
we trang và phân tích thực trạng pháp |
có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay
2.3.1 Thực trạng pháp luật về sử dụng người có trình dộ chuyên môn,
2.3.2 Thực trạng pháp luật về sử dung lao động có trình độ chuyền
môn, kỹ thuật cao, có bằng cấp, chứng chỉ
2.3.3 Thục trạng và phân tích thực trạng pháp luật về sử dụng người có
2.3.4 'Thực trang và phân tích thực trạng pháp luật về sử dụng lao dộng
có trình độ cao có nhiều kinh nghiệm và thâm niên trong nghề nghiệp §Ũ
2.4 Đánh giá tổng quát những kết quả đạt được và những bạn chế,
yếu kém trong quy định, thực hiện pháp luật về sử dụng lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nguyên nhân và những bài học
kinh nghiệm
Trang 42.4.1 Những kết quả đã đạt được về quy định, thực thi pháp luật về sử
đụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay S7
24.2 Những hạn chế, yêu kém và các nhân tổ ảnh hưởng đến việc quy định,
thực thí pháp luật vẻ sở dựng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao 82 2.43 Bài học kinh nghiệm từ những quy định, thực thi pháp luật về sử
đụng người oó trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao 93
CHIƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHÄM IIOẢN TIIỆN PHÁP
LUẬT VỀ SỬ DỤNG NGƯỜI CÓ TRÌNTI ĐỘ CIIUYÊN MÔN,
KỸ THUẬT CAO TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG YIỆE NAM
3.2.1 Cần quan tâm hơn nữa vấn đề sử đụng người có trinh độ chuyên
3.2.2 Để xuất khung pháp lý về sử dụng người có trình độ chuyên
3.2.3 Để chống chảy máu chất xám cần có những chỉnh sách, giải pháp
cụ thể để giữ chân người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
3.3 Các giải pháp về thực tiễn
3.3.1 Tổ chức triển khai thực hiện những quy định của pháp luật về sứ
dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao một cách øó hiệu quả 110 3.3.2 Bão dâm việc thực hiện pháp luật về sử dụng người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao công bằng, bình đẳng, nhất quán, nghiêm
minh, công khai và minh bạch wee HZ
Trang 5Chữ viết tắt "Tiếng Anh Chữ viết dày dủ tiếng Việt
ADB Asian Development Bank —_ [Ngan hang phat trién chau A
United Nations Educational, |
LNHSCO Scientific and Cultual [2° Site Gide duc, Khoa học và
Organization Văn hoá của Liên Hợp Quốc
Trang 6PHAN MO DAU
1 Lí do chọn dé tai
Hiện nay, oan Bang, tan din dang tích cực thưc hiện mục tiêu công
cuộc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với các chính sách mở cửa và
hội nhập quốc tế cả về kinh tế lẫn chỉnh trị cùng với phân công lao động
ngày cảng sâu sắc và toàn diễn giữa nước ta với thể giới, trong mỗi trường
cạnh tranh nhiều lĩnh vực gay gắt này, Dảng, Nhà nước ta cũng đã xác định rõ: Phát hiện, dào tạo và sử dụng nguồn nhân lực nói chung, người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao nói riêng là chính sách cấp thiết, nó mang tầm vóc
mới, lả yêu tổ quan trọng trong cạnh tranh, để đưa nước ta đuổi kip các nước
có nền kinh tế, chính trị phát triển trong khu vực và thể giới, dây vừa là mục
tiêu, vừa là động lực để thực hiện công cuộc cách mạng to lớn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với phát triển xã hội của nước ta
Để sớm dưa nước ta trở thành nước công nghiệp hóa, hiện dai hóa, sớm thoát khỏi các nước dang phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu,
chúng ta gòn nhiều việc phải làm, một Irong những công việc quan trọng, cấp
thiết hiện nay là phải có hệ thống chính sách pháp lý trong việc phát hiện, đào
tạo và sử đụng người có trình độ chuyên mỗn, kỹ thuật cao bởi vi day là nhân
tố quan trọng cho sự thịnh vượng của đất nước, quyết định cho sự thành công,
như ông cha ta từng nói, “đào tạo và sử dụng con người như thế nào thì sẽ có
một đất nước, xã tắc như vậy”
Như vậy, việc xem xét, nghiên cửu nguồn nhân lực nói chung, người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao để góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hỏa và phát triển xã hội nước ta lá hoàn loan
cần thiết và có ý nghĩa cả khoa học lẫn thực tiễn to lớn
ởi những lí đo trên, hiện nay, Đảng và Nhà nước đang quan tâm đến
Trang 7van dé pido dục, với mong muốn nước lz sớm cĩ được một nền giáo đục tiên
tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày cảng cao của đất nước Thực tế, cho thay trong những năm qua nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong giáo dục
vả dào tạo, đặc biệt dội ngũ lao dộng cĩ trình dệ cao đã tăng lên rõ rệt
Tuy nhiên, chỉ cĩ đội ngũ lao động cĩ trinh độ chuyên mơn, kỹ thuật
cao thi vẫn chưa dủ, vẫn dễ dặt ra là chính sách sứ dụng đội ngũ này như thé nao cho phủ hợp, làm thé nao để phát huy tối da khả năng của họ
TIiện nay, quy định của pháp luật về sử dụng người cĩ trình độ chuyên
mơn, kỹ thuật cao cỏn ít, tại Bộ luật lao động năm 1994, dã dược sửa dỗi, bỗ
sung vảo các năm 2002, 2000, 2007 và 2012 thì chỉ quy định vọn vẹn hai
Điều Luật, ngồi ra các văn bản về sử dụng người cĩ trình độ chuyên mơn, kỹ
thuật cao rất hạn chế, nằm rải rác ở các các Nghị dịnh, Thơng 'Iư, quyết định
của các cấp Diễu này ảnh hưởng đến việc tuyến dụng, sứ dụng những người
này ở nước ta, chưa khuyến khích, phát huy trình độ chuyên mơn của họ phục
vụ đất nước
Trong khi chưa cĩ quy phạm pháp luật quy định rõ ràng, thống nhất về
vẫn đề này, nhưng thực tiễn nhu cầu sử dụng nhĩm người này là cấp tết,
điêu này địi hỏi phải cĩ các văn bản quy phạm pháp luật, dưới luật quy định
cho nhĩm người này để cĩ khung pháp lý phù hợp, vững chắc, trong việu phát
hiện, đào tạo, tuyển dụng, ưu tiên, khuyến khích, sử dụng người cỏ trình độ
chuyên mơn, kỹ thuật cao một cách cĩ hiệu quả Vi vậy, tơi đã chọn dé tai Haan thién phap luật về sử dụng người cĩ trình độ chuyên mơn, kỹ thuật can trong Hộ luật I.à động Việt Nam biện nay
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
a Mục dích tổng quát
-_ Mục tiêu tổng quát của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng người cĩ trỉnh độ chuyên mơn, kỹ thuật cao, pháp luật về sử đụng người cĩ
Trang 8trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải
pháp pháp lý cho việc phát hiện, đào tạo, tuyển dụng và sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao nhằm góp phần việc hoàn thiện pháp luật
lao động nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung va dim bắp quyền
lợi, lợi ích chính đáng cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
b Mục tiêu cụ thê
- Lam 1 nội dung về người có trình dé chuyền môn, kỹ thuật cao, pháp luật về người có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật lao động Việt Nam hiện nay
-_ Phân tích các vẫn đề thực tiễn pháp luật về sử đụng người có trình đô
chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật Lao động Việt Nam hiện nay, phân
tích những hạn chế trong Hộ luật Lao đông hiện nay và chỉ ra các nguyễn nhân dẫn đến những hạn chế đó
- Kiến nghị các phương hướng các biện pháp pháp lý hữu hiệu để giải
quyết tốt các vấn đề về phát hiện, đào tạo, sử dụng người có trình đô chuyên
môn, kỹ thuật cao
- ĐỀ xuất về hoàn thiện pháp luật làm công cụ để có chính sách phù
hợp cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, bảo đảm việc sử dụng
đúng vị trí, đúng trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao để phát huy tối da khá
năng của hợ
3 Phạm vi nghiên cửu
Luận văn lập trung nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật về sử dựng
người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Hộ luật lao động Việt Nam hiện nay
4, Đối tượng nghiên cứu
Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật lao động,
Việt Nam hiện nay
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luan văn sử dụng một số phương pháp nghiên cửu sau
Phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, phương pháp liệt kề, phương pháp tống hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân
tích và phương pháp thực chứng dể phân Lích làm sáng tỏ vẫn dề nghiên cứu
va dua ra các giải pháp hoàn thiện,
Cụ thể, phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác
Lênin và phương pháp thực chứng được tác giả sử dụng va ba chương của
Taận văn, từ thực trạng về người có trinh đồ chuyên môn, kỹ thuật cao, pháp luật quy định cho nhóm người nảy, phân tích mỗi quan hệ biện chứng giữa nhu cầu thực Liễn xã hội sử dụng người có inh độ chuyên môn và thực trạng người có trình dộ chuyên môn, kỹ thuật cao, quy dịnh của pháp luật về nhóm người này
Phương pháp liệt kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và
phương pháp so sánh dược tác giả sử dụng ở chương 1 và chương 2, lắc giả
đã liệt kê các văn bản quy định về người có trình đô chuyên môn, kỹ thuật
cao, liệt kê một số chính sác] cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
ở môi số nước trên thế giới rồi tổng hợp, phần tích va so sánh với pháp luậL
hiện nay ở nước ta, bừ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay,
6 Tinh hình nghiên cứu về để tài này tại Việt Nam
Theo tìm hiểu của Tác giá trước và khi Luận văn nảy được thực hiện đã
có nhiều công trình nghiên cứu về dối tượng người có trình đê nhưng chú yếu
là nói về nhân lực, nhân tải, còn riêng về người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao thì còn hạn chế, sau đây là một số nghiên cứu về nhân tài, nhân lực,
người có Irinh độ cao
1) Nguyễn văn Hậu: “Một số giải pháp nhằm thu hút người có trình độ
cao vào tỉnh Khánh Hỏa”, năm 20 l l, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành kinh tế, trong luận văn này lắc giả đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, khái mệm
Trang 10về người có trinh độ cao, các chính sách nhằm thu hút người có trình độ cao
vào lảm việc tạt tỉnh Khánh Hòa
2) Nguyễn Thanh Trả: “Phát triển nguồn nhân lực Thông tin - Thư viện
của mạng lưới các trường dại học tại Hả Nôi” năm 2010: luuận văn 'Ih§ và
Tĩnh vực công nghệ thông lin Luận văn nay Lóm tắt vấn dé nhân lực Thông tin
— Thu viện, và tình cất thiết đảo tạo, sử đụng người có trình độ cao trong hoạt
động quản lí Thông tin — Thư viện tại các trường Đại học tại 1à Nội hiện nay
3) Diệp Văn Sơn: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” Tạp chí về
Tế chức nhà nước Số 9/2011, trong công trình nghiên cứu này tác giả nêu
mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020 Dang thời dưa ra các giải pháp thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và các giải
pháp góp phần nâng cao nguồn nhân lực chất lượng cao
4) Nguyễn Minh Phương: “Một số giải pháp phát hiện và sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay” Tạp chỉ về Tổ chức nhà nước Số 4/2010, trong bài viết này tác giả nêu vân để thực trang nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay, tính
cấp thiết phãi có các chỉnh sách, biện pháp nhằm phát hiện vả sử dụng nhân tai một cách có hiểu quả nhất
3) Văn Tất Thu “Nhân tài và những vấn để cơ bắn trong sử dụng, Irọng dụng nhân tài” Tạp chí về Tổ chức cán bộ Số 1/2011 Trong bài viết này, tác
giả có đưa ra khái niệm nhân tải, và những điều cơ bản nhất cần như Khuyến khích, ưu đãi trong phát hiện, tuyến dụng vả sử dụng nhân tài
6) Nguyễn Đắc Hưng: “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước” NXB
Chính trị quốc gia, 2007; Cuốn sách chỉ tập trung giới thiệu về những phẩm
chất cần có của nhân tài; kinh nghiệm đào tạo, sử dụng nhân tài của cha ông ta
và một số quốc gia trên thế giới; những nội dung cơ bản về phát triển nhân tài
7) Lưu Hai Dang: “Thu hot va st dung nhân tài ở Xin - Ga - Po bài học
nao cho Việt Nam” Tạp chí Quản lý nhà nước Học viện Hành Chính Hoc
viên chính trị - Hành chính quốc gia Số 178 (11/2010), bài viết nói về chính
Trang 11sách sử dụng người tải ở Singapo, từ đó Lác giả đặt ra vẫn đề cho Việt Nam
hiện tại và tương lai về vần đề đảo tạo, tuyển dụng và sử dụng nhân tải
8) Ngô Thành Can “Tuyển chọn, bồi dưỡng người tài năng cho công
vụ” Tạp chí Tổ chức nhà nước Số 11/2010 Bài viết nói về thực tiễn và đưa
ra các giải pháp về nâng cao cách thức tuyển chọn va bằi dưỡng người có tài
năng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước trong xu thế hội nhập
9) Trần Thị Thanh Thuỷ “Lợi ích của hợp tác quốc tế trong đào tạo, bỗi
dưỡng công chức hiện nay” Tạp chí Tổ chức nhà nước 8ô 12/2010 Trong bai
viết này, tác giả đã phân tích về lợi ích lâu dài trong hợp tác quốc tế về đảo tạo
bồi đưỡng cán bộ, công chức hiện nay và xu hướng trong tương lai
Vậy, ác công trình trên đã nêu được một số tính cấp thiết trong vide
phát hiện, tuyển dụng, sử dụng người có trình dé, póp phan trong việc quan
tâm, nâng cao nhân thức của xã hội đối với nhóm người này Khung các nghiên cứu chưa nó nói nhiều về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao, Luận văn của Tác giá lập trung vào vẫn để: Hoàn thiện pháp luật về sử
dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Hộ luật lao đông, Viét Nam hién nay
7 Bố cục của Luận văn
Luận văn của Tác giả bao gồm các phần sau đây:
Phần mở đâu
Chương 1 Những vẫn đề lí luận về hoàn thiện pháp luậi về sử dụng
người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong luật Lao động Liệt Nam
hiện ray
Chương 2 Thực trạng pháp luậi về sử đựng người có trình độ cinpyên môn, kỹ thuật cao trong bộ Luậi Lao động Liệt Nam hiện nay
Chương 3 Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật về sử dụng người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong Bộ luật Lao động Kiệt Nam hiện nay
“Kết Luận.
Trang 12CHUONG 1
NHỮNG VĂN ĐỀ LÍ LUẬN VẺ HOÀN THIỆN PHÁP LUAT VE
SỬ DỰNG NGƯỜI CÓ TRÌNII ĐỘ CIIUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO
Ở VIỆT NAM HIEN NAY
1.1 Khái niệm người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
1.1.1 Lịch sử lập pháp về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Sau khi nước ta giành độc lập, Dảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh chế đồ còn non yếu lúc bấy giờ,
trong đó quan trong nhất là Hiến pháp năm 1946 đây là bản hiển pháp đầu
tiên của nước ta, trong đó quy định các thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đỏ, có chế định vé quyền lao
động Dây được coi là văn ban lam tiên dé cho tất cả các ngành Luật nước ta sau này nói chung vả Luật lao động nói riêng,
Trong khoảng thời gian này đã có nhiều văn bản quy dịnh về tuyển
dụng, sử dụng lao động, tuy nhiên, chưa nói đến lao động là người có trình độ cao, đến năm 1994 khi Bộ luật Tao động ra dời thì người lao dộng có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao mới lần dầu tiên dược quy dịnh trong Bộ luật
- Thuật ngữ về người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Trước khi Bộ luật T.ao động năm 1994 được ban hành, thì chưa có một
thuật ngữ trong văn bản pháp luật về người có trình đô chuyên môn, kỹ thuật
cao, khi Bộ luật được ban hành thì thuật ngữ người có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật cao lần đầu tiên được quy định tại Điều 129 và 130, tuy nhiên, Điều
luật cũng không đưa ra một khái niệm nào cho nhóm người người nảy, mà chỉ
quy định các quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng lao đồng,
-_ Quan niệm về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Ả để nó a oh An cản ni về nhà Am Hài vỀ A
Thực tẻ, đã có mật số nghiên cứu nói vẻ nhân lực, nhân Lãi, về người
Trang 13trình độ cao, tri thức Tuy nhiên, tiêu chi để xác định người thế náo thì được
gọi là nhân tài, trí thức thì mỗi người đưa ra các quan niệm khác nhau, sau
đây là một số quan niệm
Quan niễm về nhân tài, theo nhà thơ Tê Đạt thi, “nhân tải là những người
xuất sắc có khả năng bứt phá những đòi hỏi cụ thể và đa dang của xã hội”
Theo Nguyễn Văn Hậu, trong Luận văn về “Mội số giải pháp nhằm thu
hút người có trình dộ cao về làm việc tại tỉnh Khánh Hỏa” 'Fác giả dưa ra khái
niệm cho nguồn nhân lực như sau “Nguễn nhân lực là người lao động đang
có việc lâm vả người lao động trong dộ tuổi lao động cỏ nhu cầu nhưng chưa
có việc làm”[37]
Quan điểm về trí thức, theo Từ điển Triết học thì, “Trí thức là tập đoàn
người pằm những người lâm nghề lao dộng trí óc” Giới trí thức bao pằm kỹ
sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức”[26] [tr 59]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đó phải có trình độ cử nhân “Miệt người học xong đại học có thể gọi là
có trí thức” nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn
toàn, thì phải đem cái trí thức đỏ áp dụng vào thực tế”, Có nghĩa rằng, học
vẫn đại học mới chỉ lả điều kiện cần, quan trọng là phải sử dụng cỏ hiệu quả
trí thức trong dời sống xã hội, phục vụ dân sinh
Theo Nghị quyết số 27 - NQ/T.Ư "Về xây đựng đội ngũ trí thức trong
thời kỳ dây mạnh công nghiệp hóa, hiện dại hóa đất nước”, Đăng tá quan niệm rằng ""Irí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vẫn cao
về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư đuy độc lập, sáng tạo,
truyền bá vá lâm giảu trí thức, tạo ra những sin phẩm tỉnh thần và vật chất có
giá trị đổi với xã hôi” trên là một số quan niệm về trí thức [27]
Theo Quyết định số 532 QĐ/TWĐTN ngày 04/3/2009 eta Ban Bi thu
Trang 14Trung ương Đoản thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện dự án Truyền thông
về nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về học nghề, lập nghiệp thì người lao động cỏ trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là “các nhả quản lí, các chuyên gia, các doanh nhân, các công nhân kỹ thuật bậc cao ”|28]
Theo Nguyễn Văn Hậu, trong Luận văn về ''Một số giải pháp nhằm thu hút người có trình độ cao về làm việc lại tỉnh Khánh Hỏa”, tác giả cũng đưa
ra khái niệm về nguồn lao động có trình độ cao như sau
“ Nguồn lao động có trình độ cao bao gồm những lao động qua đảo tạo,
dược cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đảo tạo, có chuyên môn kỹ thuật cao;
có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ửng nhanh với những thay đối nhanh chóng của công nghệ sản xuất; đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc tương ứng với trình dé dược đạo tạo (rừ một số trường hợp đặc biệt không qua đào tạo), có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng
sáng Lạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao
đông, sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, có những, đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đơn vị nói riêng
và toàn xã hội nói chung”|37]
‘wt những quan niệm, quan điểm vả những phân tích trên, cỏ nên
hiểu nhân tải, người có trình độ cao, người có chuyên môn cao và trí thức
là người có trình độ chuyển môn, kỹ thuật cao không? hay khác nhau?
Theo tác giả, nhân lực , nhân tài là khái niệm rộng, có thể hiểu nguồn nhân
lực, nhân tải bao gdm cả những người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cáo
và những người khác như, người lao déng bình thường còn người có trình
độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải là người có trỉnh độ chuyên môn, kỹ thuật về một lĩnh vực nhất định
‘Trude khi đi làm rõ về khái niêm người có trình độ chuyên môn, kỹ
3 á *n làm r5 mất sÁ sấn đề
thuật cao, chúng †a cân làm rõ một số vẫn đê sau:
Trang 15Mét ié, Phan biét trình độ và trình độ chuyên môn, trình độ và trình độ
kỹ thuật
Trình độ là một mức học vấn nhất định như trình độ trung cấp, trình độ
cao đẳng, trình độ đại học cỏn trình độ chuyên môn, trình độ kỹ thuật lả trình
độ của một chuyên ngành nào đó mà người đó đã theo học Theo luật dạy
nghề năm 2006 thì dạy nghề có ba trình độ đảo tạo là sơ cắp nghề, trung cấp nghề, sao dẳng nghề I2ay nghề bao gdm day nghề chính quy vả dạy nghề
thường xuyên [2] Từ đó giúp ta hiểu được trinh độ của một người, đó là
trình độ thco cấp đảo tạo, tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng nhiều người chỉ
học qua trung cấp, cao đẳng, nghĩa là họ chưa có bằng đại học nhưng hụ vẫn
được gọi là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, như công nhân 7/7,
Ví dụ, Trình độ học là Đại học Luật nhưng người đó học chuyên ngành
Luật kinh tế, thì trình độ chuyên môn của người này là Luật kinh tế, trình độ
là Đại học giao thông van lai nhưng người đó học chuyên ngành kỹ sư cầu đường thì trinh độ kỹ thuật người này là kỹ sư cầu đường
Hai id, Phan biét nhân tài và người có trình độ cao
Như đã nói ở trên, có nhiều quan niệm về nhân tải, và nhân tài là một
khái niệm rộng, có thể hiểu nhân tài bao gôm cả người có trình độ cao, nhần
tài không nhất thiết phải oỏ bằng cấp, chứng chỉ miễn là họ có năng lực vượt
trội về một lĩnh vực nhất dịnh, còn người có trình dé cao là người gửi cho
chúng ta cảm giác về trình độ học vẫn, bằng cấp, chủng chỉ cao hoặc những
sẵn phẩm cao cấp mà người bình thường không làm được
Vĩ dụ, Một người nông đân có thể sáng chế dược máy cày, máy bơm
nước trong khi người nông dân đó không hề có bằng cấp; người có trình độ
cao như người học xong dại học dủ điều kiện thi lên Tiến sĩ và học xong tiền
sĩ mặc dù thực thể người này chưa có sản phẩm từ hoạt đông thực tế, mà hiện
tại chỉ là bằng tiến sĩ
10
Trang 16Ba là, Phân biệt người có trình độ chuyên môn và người có trình độ
kỹ thuật
Nhi chung, giữa trinh độ chuyên môn, vả trình độ kỹ thuật là không khác nhau Tuy nhiên, tủy theo tính chất của sác ngành nghề đảo tạo, loại hình đảo tạo mà dùng hai thuật ngữ đó khác nhau,
Vi du, Cùng học trường Đại học nhưng người học ngành kiến trúc, khi
tốt nghiệp ho dược bằng kiến trúc sư (kỹ sư), kỹ sư diện, kỹ sư ông nghệ
thông tin và người nảy được gọi là người có trình độ kỹ thuật, còn người học
ngành toán và sau khi tốt nghiệp ở lại lám giảng viên người này được gọi là
có trinh độ chuyên mân là Giang viên toán
Bán là Phân biệt giữa trình độ chuyên môn, kỹ thuật vả trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Nhu đã phân tích ở trên, trình độ chuyên môn, kỹ thuật là trinh độ
chuyên ngành sâu về một lĩnh vực nào đó, từ đó chủng ta hiểu trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao là trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu hơn
nữa về lĩnh vực đó, nghĩa là một người nảo đó được gọi là có chuyên môn,
kỹ thuật cao thì người đó phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chuyên sâu
vào một lĩnh vực nào đó thể hiện bằng năng lực thực tế, với bằng cấp hoặc
kinh nghiệm
Hiện nay, quy định về người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật sao còn
hạn chê, có thể thây ở một số văn bản sau
Theo Nghị dịnh số 34/2008/NĐ — CP của Chỉnh phú quy dịnh về luyển
đụng và quần lí người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì người nước ngoài
có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao là người có trình độ về địch vụ, kỹ
thuật, gỗm kỹ sư hoặc tương dương kỹ sư, nghệ nhẫn, người có kinh nghiêm
trong nghề nghiệp [9] để hướng dẫn Nghị định 34 nảy, Thông Tư số
08/2008/TT-BLDTBXII đã được ban hành, theo đó thì “giấy chứng nhận
11
Trang 17người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài là bản sao
bằng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ”I16]
Từ tính thần của ba văn bản trên chúng ta hiểu người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao theo hai khía cạnh
Thứ nhất Những người này phải có bằng cấp (kỹ sư hoặc người có trình độ tương đương kỹ sư ở lên) nghĩa là phải có trình độ học vấn từ đại
học trổ lên
Thứ bai: Những người này không cần có bằng cấp “nghệ nhân những
ngành nghé truyền thống và người có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp,
trong điều hành sản xuất, kinh doanh và những công việc quân lf” họ cũng só
thể được coi là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Vĩ dụ; 1 uật doanh nghiệp quy dịnh, tại Điều 57 về tiêu chuẩn và diều
kiện làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, ngoài các tiêu chuẩn khác thì người
đó “là cá nhân phải sở hữu 10% tổng số vốn điều lệ của công ty hoặc người
đó không phái là thành viên, có trình đô chuyên môn, kinh nghiêm thực tế trong quân trị kinh doanh hoặc trong các ngảnh, nghề kinh doanh chủ yếu của
công Ly hoặc liêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty”
Cùng với xu hướng phát triển của thời đại, các mỗi quan hệ cũng thay
đổi nên các quy phạm pháp luật cũng cần thay đổi cho phủ hợp, bởi vậy
Nghị dịnh số 46/2011/NĐ-CP của Chính phú: Sửa đổi, bễ sung một số điều
của Nghị định số 34/2008/ND-CP về tuyến dụng và quản lý người nước
ngoài làm việc tại Việi Nam đã dược ban hành theo Nghị định sửa đối, bỗ
sung này thì, chứng nhận về trình dộ chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài đối với một số nghệ, công việc có thể thay thé bằng các giấy tờ sau như “ giấy công nhận là nghệ nhân do cơ quan nước ngoài cấp, bản xác
nhận hoặc giấy phép lao động hoặc hợp đẳng lao động xác định có ít nhất 5
năm kinh nghiệm ''[13]
Trang 18Theo tỉnh thần của văn bán này về việc công nhận trình độ chuyên môn, kỹ thuật can, chúng ta ngầm hiểu là người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao không nhất thiết phải có bằng cấp mà chỉ cần chỉ cân chứng từ chứng nhận là người đỏ có kinh nghiệm, có khả năng về một lĩnh vực nào đó
Thco Thông Lư hiến tịch số 41/2002/TTT.T/BNN-BILĐTPBXH-BVHTT
của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bô lao đông — Thương binh và
xã hội, Dộ văn hóa Thêng tin hướng đẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công
nhân đanh hiệu và một số chính sách đối với Nghệ nhân Thỉ một trong
nhưng tiêu chuẩn dễ dược xét công nhận là Nghệ nhân lá “Tà người the
giỏi, có trình độ kỹ năng, ký xảo; Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao,
đoạt huy chương vàng, huy chương bạc trong các cuộc thị, triển lãm quốc gia hoặc quốc tế”[17]
Theo tinh thần của một số văn bản trên, một số Tỉnh thành đã ra một số
văn bản quy định, quy chế đối với các Nghệ nhân ở địa phương
Cụ thể, Ủy Ban Nhân Dân tính Đắc Ninh đã ra Quyết dịnh 82/2009/QĐ
— UBND về ban hành quy chế về tiêu chuẩn the giỏi, Nghệ nhân thì thợ giôi
“La tho lành nghề, có trình độ kỹ thuật, kỹ xảo nghề nghiệp giỏi, có khả năng
sáng tác mẫu mã đạt trình độ cao mà người thợ bình thường không làm được,
những mẫu mã sản phẩm nảy dược áp dụng rộng rãi trong sản xuất, được thị
trường chấp nhận”[21]
Theo tác giả Luận văn, thì thợ giỏi cũng phải được gọi là người có trình
độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có thể họ đã được đảo lao qua trưởng qua lớp hoặc chưa qua đào tạo nhưng những sản phẩm của họ không phải ai cũng làm được và những sản phẩm đó cũng được áp đụng rộng rãi trong cộng đồng
Căn cử vào các quy định trên, chúng ta thấy rằng, một người được coi
là có trình độ chuyên mỗn, kỹ thuật cao không có nghĩa là họ có trính độ học
vận cao, có bằng cấp mà trong môi số tường hợp chỉ cần hợ có kinh
nghiệm, có một chuyên môn đặc biệt nào đó thì cũng có thể được gọi la người
có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao
13
Trang 191.1.2 Khúi niệm người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
'Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra quan niệm của mình về người
có trinh đệ chuyên môn, kỹ thuật cao như sau: Ngưởi có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao là người có những kiến thức tẵng hợp, kiến thức chuyên môn kỹ thuật, kiến thức đặc thù cần thiết để họ đảm đương các chức vụ
quân lí, sẵn xuất, kinh doanh và có sự sảng tạo nhằm đem lại hiệu qua cao cho xã hội
Với khái niệm trên cho thấy, một người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao phải hội tụ dủ nhiều điều kiến, ngoài các điều kiện như sức khỏc,
tuổi tác, tuân thủ chính sách của Đảng, Nhà nước thì người đó phải có các
diéu kiện như; có kiến thức tổng hợp, có kiến thức chuyên môn kỹ thuật, cỏ
kiến thức dặc thủ cần thiết để hoản thành nhiệm vụ
Như vậy, chủng ta có thể thây, các đổi tượng là người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao nó sẽ bao gồm cả những người làm trong cơ quan nhả nước, làm ngoài nhà nước, có thể họ là người lao động hoặc không phải người lao động
Người có kiến thức tổng hợp (lẳng quát) là kiến hức mà người đó học
tập được từ nhà trường, từ gia đỉnh và xã hội
TÍ dụ, ViệL Nam phân đấu đến năm 2020 để cơ bản trành nước công
nghiệp hóa hiện dại hỏa
- Kiến thức chuyên môn của một người là kiến thức chuyên sâu về
một vải lĩnh vực nào đỏ Ngày nay, giữa một biển kiến thức đôi hỏi mỗi người phải lựa chọn cho mình một hướng di trong nghề nghiệp nhất định
các kiến thức thu được phải xoay quanh định hưởng nghề nghiệp đó
Người ta nói biết nhiều nghề không bằng giỏi một nghề là vi như thể
Kiến thức chuyên môn sẽ giúp chúng ta giải quyết các vẫn để, piúp ta có
những ý tưởng mới trong nghề nghiệp
14
Trang 20Tí dụ, Kiễn thức đặc trưng về tải chính, kế toán, kỹ sư điện
- Người có kiến thức đặc thủ Kiến thức đặc thủ của một người là
những kiến thức người đó phải có để đảm đương công việc nhất định đây là
những kiến thức dặc trưng mả người dó dã tham gia hoặc được dảo tạo
- Dảm đương công việc nhất định đó là những công việc nhất định trong thực tiễn mà các yêu cầu người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải dám dương, hoàn thành nhiệm vụ
Vi dụ, Công việc về thiết kế công trình thủy điện, giám đốc điều hành
công ty
- Có tính sáng tạo đem lại hiệu quả cao cho xã hội
Ví dụ, Nghệ nhân sảng tác các bài hát, sáng tạo các Lễ hội cho phà hợp
với thời dại, có sản phẩm thực tế
Qua các quy định của pháp luật hiện hành về người có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao, tác giả chia người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao thành ba nhóm
Nhóm thử nhất Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có bằng
cà „ chứng chỉ
4Nhóm thứ hai, Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao là Nghệ nhân
Nhóm thứ ba, Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có nhiều kinh nghiệm, thâm niên công tác trong nghề Ba nhóm này sẽ dược tác giả làm rỡ trong các phan sau
1.2 Cơ số lí luận về hoàn thiện pháp luật về sử dụng người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao
1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật vệ sử dụng lao động
và sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
a Quá trình hình thành và pháp triển Luật lao động Việt Nam
Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho đân
15
Trang 21tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập tự do, nhân dân làm chú đất nước, lả mốc đánh dâu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam Trong hoàn cảnh vô vàn khó khăn, nhiều công việc phải lâm nhưng dưới sự lãnh đạo của Đăng và Chủ Tịch Hồ Chi Minh, ngay sau dó Quốc hội
nước Việt Nam đân chủ công Hỏa đã ra đời để thực hiện trọng trách củng cễ
nền độc lập, xây dựng dat nước Quốc hội đã nhanh chóng thông qua Hiến
Pháp 1946, và nhiều Luật trong đẻ có I2ự án Luật lao động 1946, dây là dự án Luit lam tiền đề cho các văn bân luật lao động sau này Cũng trong thời gian nay Chủ tịch nước đã ra Sắc lễnh thành lập Bồ lao đông 1946 Đây là cơ quan
có thấm quyền ban hảnh, để xuất ban hành các thông tư về lao đông,
Trong khoảng thời gian từ năm 1946 đến năm 1994, đã có nhiều văn
ban quy dịnh về người lao động như: Nghị dịnh Chính Phủ số 195/1946/NĐ —
CP, ban hanh điều lệ về ký luật lao động trong các xỉ nghiệp cơ quan nha
nước, trang Nghị định quy định các Điều lệ cụ thê kỷ luật lao động ở cdc xi
nghiệp cơ quan nhà nước, theo đó mọi công nhân, viên chức nhà nước phải
nghiêm chỉnh chấp hành, không được vi phạm, các thủ trưởng các xỉ nghiệp,
cơ quan cần lẫy điều lệ này làm cơ sở để giáo đục công nhân, viên chức thudc
quyền mình Cũng trong thời gian này, Thông Tư của Bộ lao động Nội vụ
số 13-LB/TT năm 1966 giải thích và hướng dẫn thị hành Điều lệ về kỷ luật
lao dông trong các xi nghiệp, cơ quan nhà nước, trong Thông tư nảy quy dinh
Tố quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mãi công dân làm việc tại các xỈ
nghiệi
củng cổ và tăng cường kỹ luật lao dông trong các xí nghiệp, cơ quan nhà
cơ quan nhà nước Đến năm 1977, Thông tư số 12-LĐ/TT/ 1977 về
nước, theo văn bản nảy cũng quy định việc củng cố và tăng cường kỷ luật trong các xí nghiệp nhà nước Nhìn chung, trong thời gian nảy, các văn bắn về
luật lao động chủ yếu tập trung vào vẫn để bảo vệ các xí nghiệp nha nude, cor
quan nhà nước
16
Trang 22Biến 1994 với việc kế thừa và phát triển pháp luật lao động của nước ta
từ sau Cách mạng Tháng Tảm năm 1945, Bộ luật lao động của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra đời Lù ngày Độ luật Lao động (BLLD}
có hiệu lực (01/01/1995), một môi trường pháp lý mới về lao động đã được
thiết lập Hệ thống các văn bản pháp luật lao dộng ngày cảng dược bổ sung,
hoàn thiện đã góp phần quan trọng vào việc định hướng chỉnh sách, hướng
dẫn hành động và từng bước thiết lập kỷ cương trên thị trường lao động cững như trong hoạt động quản lý nhân lực, đồng thời là những căn cứ pháp lý chủ yếu dé áp đụng giải quyết các tranh chấp lao động, những phát sinh trong quá trình lao động
Đề luật lao động thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng Cộng sẵn Việt Nam vả cụ thể hoá các quy dinh của Hiển pháp nước Công hoả xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 về lao động, về sử dụng và quản lý lao động
Bệ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của
người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng lao động, tạo điều kiện cho mỗi quan hệ lao đông được hải hoà và &
dinh, góp phần phát huy trí sảng tạo và tài năng của người lao dộng trí óc và
lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm dại năng suất, chất
lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, địch vụ, hiệu quả trong sử
dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì
sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
“Trải qua 1# năm thực hiện, để thích ứng với những thay dỗi của quá trình phát triển quan hệ lao déng trong nền kinh tế thị trường dịnh hướng XHCN và hội nhập quốc LẾ ngày cảng sâu rộng, BLLĐ bộc nhiều vấn dé han
chế, không còn phủ hợp với thời thế, trước tỉnh hình đó để bảo đâm việc điều
chỉnh các quan hệ lao động, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam, Bé luật Lao động năm 1994 đã được sửa đối, bổ sung 4 lần vào các năm
2002, 2006, 2007 và 2012
17
Trang 23Đi kẻm thco BLLĐ lrên Chính phủ, Bộ Lao động -Thương bình và Xã
hội, các bộ, ngành hữu quan đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng
dẫn thi hành Hộ luật Lao động, điều nảy một mặt tạo điều kiện cho việc ap
dụng Bộ luật Lao đồng vào thực tiễn, mặt khác tạo nên một hệ thông văn hắn pháp luật vẻ lao động cồng kểnh, phức tạp Diều này xuất phát từ bản thân hệ thống pháp luật lao dông, tuy đã có những văn bản pháp luật có hiệu lực cao
nhưng không cụ thể, chỉ tiết để có thể áp dụng chúng một cách trực tiếp, dộc
lập Ngay BLLĐ đã được sửa đối, bố sung nhiều lần nhưng tính chất “luật
khung” vẫn còn khả rõ nét,
Các văn bắn hướng dẫn BI.1,Ð được giao cho nhiều cơ quan khác nhau
ban hành, lại được ban hành ở những thời điểm khác nhau tạo nên một tổng
thể quy phạm pháp luật (QPPL) về lao dộng tan man, chồng chéo, khó tra
cứu, khó 4p dung đúng trong mối tương quan với cả hệ thống pháp luật
Như vậy, một thách thức không nhỏ đặt ra hiện nay là hệ thống pháp
luật Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật lao đông nói riêng đang tồn tại rất phức tạp, nhiều ting nc, nhiễu văn bản có giá trị pháp lý khác nhau Sự phức tạp của hệ thống văn bán quy phạm pháp luật (VBQPPL) về lao động khiến cho các nhà lập pháp, các cơ quan thi hành pháp luật lao động, khi
chuẩn bị sửa đối, bổ sung hoặc ban hành một văn bản mới, bên cạnh việc đề
xuất, phân tích chính sách gỏn phải quan tim đến việc xây dựng mô hình văn
bản pháp luật về lao động sao cho thực sự khoa học, hợp lý, hạn chế được
những bắt cập, chồng chéo, mâu thuẫn dang hiện hữu
b Pháp luật về người có trình dộ chuyên môn, kỹ thuật cao theo luật
Lao động Việt Nam
Khi Bê luật Lao dộng năm 1994, được ban hành thí pháp luật về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mới được quy định, tuy nhiên, cho đến nay các văn bản hướng dẫn quy định này rất hạn chế
18
Trang 24Năm 2003 Nghị định 105/2003/NĐ- CP quy định chỉ tiết thực hiện một
số Diều của Bộ luật lao đông Việt nam về tuyển dụng và quản lí lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được ban hành, đến 20085, được thay đổi
bằng Nghị dịnh 34/2008/.Đ — CP, van bản này cũng dược sửa dối, bổ sung,
năm 2011, nhưng đó chỉ là văn bản đưới luật quy định cho người nước ngoài làm việc tại Việt nam, ngoài ra các Thông tư của các Độ, liên Bộ và oác quyết dịnh của các LRNI2 các Tỉnh chí quy định chỉ tiết cho các Nghệ nhân, Nghệ
nhân nhân dân, Nghệ nhân wu tủ, chưa có văn bản nào hướng dẫn thống nhất
về nhóm người nảy, chính vì vây gây khó khăn trong việc xác định người só trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, ảnh hưởng đến công tác áp dụng vào điều
Chuyên giá là người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao về dich vụ, thiết bị nghiên cứu, kỹ thuật hay quản lý (bao gồm kỹ sư
hoặc người có trình độ Lương đương kỹ sư trở lên) [9] Từ đó, chúng La
hiểu người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải cỏ bằng kỹ sư vả
tương đương trở lên Hưởng dẫn thực hiện Nghị Định này, Thông Tư số 08/2008/TT-PLĐTBXH dược bán hành, theo vấn bản nảy, giấy chứng nhận về trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài làm việc
tại Việt Nam như sau
- Bản sao chứng nhận về trinh dé chuyên môn, kỹ thuật can của người
nước ngoài bao gồm bằng tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ phủ hợp với
chuyên môn, công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động [16]
19
Trang 25Để thuận tiên cho việc áp dụng luật, sử dựng người nước ngoài có trình chuyên môn, kỹ thuật cao lam việc tại Việt Nam, Nghị Dịnh 46/2011/ND- CP
Sửa đổi, bố sung một số điều của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP của Chính
phủ về tuyến dụng và quản lý người nước ngoải làm việc tai Việt Nam cũng
được ban hành, theo văn bản này thì chứng nhận đối với một số nghề, công
việc, việc chứng nhân về trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài có thể thay thế bằng các giấy tờ sau đây:
-_ Giấy công nhận là nghệ nhân những ngành nghề truyền thống do cơ
quan có thắm quyền của nước ngoài cấp đối với người nước ngoài là nghệ
nhân những ngành nghề truyền thống,
- Bằng lái máy bay vận tải hàng không đo cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam cấp đối với phi công nước ngoài
- Giấy phép bảo dưỡng tàu bay do cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam cap đối với người nước ngoài làm sông việc bảo dưỡng lâu bay [13]
'Irong việc áp dung các văn bản trên gặp nhiều khó khăn về việc xác định đối tượng là người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cáo,
vì vậy, Lhông Tư 31/2011⁄T1-BLDLBXH được ban hành nhằm hướng dẫn
thi hành một số điều của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP và Nghị định số
46/2011/ND-CP quy đinh về tuyển dụng và quan lý người nước ngoài làm
việc tại Việt Nam, theo văn bản nảy thi chứng nhận về trình độ chuyên
mỗn, kỹ thuật cao của người nước ngoi, bao gam: “Bang hoặc giấy chứng
nhận tốt nghiện đại học haặc trên đại học phủ hợp với vị trí công việc mà
người nước ngoài dự kiến sẽ đảm nhận” |18| Ngoài ra còn có những người
có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao không cỏ băng cấp, chủng chỉ mà
được gọi là Nghệ Nhân
20
Trang 261.2.3 Pháp luật về sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
là Nghệ nhân
Khi nói đến Nghệ nhân là người ta thường nghĩ đến các giá trị văn hóa
gắn liền với đời sống thường nhật của con người, các giá trị văn hóa đó được
phát triển, pìn giữ vả lưu truyền qua các Nghệ nhân Nghệ nhân dong vai trò
then chốt trong việc giữ gìn, thực hành và lưu truyền các giá Irị văn hóa dân
tộc Nếu không có họ thì chắc chắn một khếi lượng lớn các giá trị văn hóa sẽ
không được bảo lưu một cách tập trung nhất cũng như sẽ không cô "thầy" để
dạy đỗ lớp trẻ"
Nghệ nhân xuất hiện từ rất sớm, có thể nói là trước cả các nhà khoa
học hiển dai, các nhà nghiên cứu, nó xuất hiện pắn liền với cuộc sống của
mỗi dân tộc, mỗi dia phương từ thời dân gian, mỗi vủng có những văn hóa khác nhau, mang đặc trưng riêng Những văn hóa đó được thể hiện bằng các Nghệ nhân tài hoa, kỹ thuật cao, tuy nhiện, có nhiều yếu tố nên nhiều
đi sản văn hóa, các Nghệ nhân chưa được quan tâm đúng mức, điều đó làm
cho một số văn hóa đã bị bỏ quên theo năm tháng, cùng những Nghệ nhân
tải ba Thời gián gẦn đây Đáng và Nhà nước mới có một số chính sách cho nhóm văn hóa nảy, nhằm dộng viên Linh thần, khuyến khích họ gin giữ,
phát triển và quảng bá góp phân làm đa đạng văn hóa tỉnh thần Việt Nam nói riêng, thể giới nói chung
Cụ thể, Luật đi sản văn hóa năm 2001 được ban hành, Sau đó Nghị
dịnh 92/NÐ- CP/2002 được bạn hành, dé quy dinh chỉ tiết thực hiện một
Điều của Luật di sản văn hóa năm 2001, đặc biệt trong Thông tư liền tịch của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thân, Bộ lao động — Thương bình và xã hội, Bộ văn hóa _ Thông tin số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBDXII-BVHTT, về
việc hướng dẫn tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đanh hiệu và một số chính
sách đối với Nghệ nhân được ban hành, đây được coi là văn bản quy định chi
tiết nhật đổi với \ghệ nhân
21
Trang 27Điến năm 2006, Nghị định 66/2006/NĐ — CP, quy định về phái triển
ngành nghề nông thôn được ban hành, dé hướng dẫn Nghị định nay, Thông tư
116/2006/TT BNN được ban hành hướng dẫn về tiêu chí các làng nghề,
trong hai văn bản này quy định tiêu chỉ xác định các ngành nghề truyền thống
ở địa phương Năm 2007, Thông tư số 01⁄2007/TT-BCN, được ban hành, văn
băn nảy hưởng dẫn tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hễ sơ xét tặng danh hiệu
Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú
Năm 2009, với điều kiện phát triển của đất nước, cũng như tầm quan
trọng của những đi sẵn văn hóa, để có chính sách cho các Nghệ nhân tốt, Luật
di sản văn hóa năm 2001, đã được sửa đối, bỗ sung một số Điễu, sau đó Nghị
định 98/NĐ- CP/2010 được ban hành, quy định chỉ tiết một số Điều của Luật
dĩ sẵn, Nghị dinh nay thay thé Nghị dịnh 92/NĐ-CP/2002
Căn cứ vào các Nghị định, Thông tư trên, ở mii ‘Tinh thành, đặc biệt là
các Tỉnh thành có nhiều ngành nghề truyền thống đã để ra các quy chế, các
quyết định xác định tiêu chí ngành nghề truyền thống, tiêu chí Nghệ nhân, tiêu chí thợ giải vả chính sách cụ thể cho các đối tượng này Dây thật sự là
một bước đi quan trọng nhằm giữ gìn, phát triển các làng nghề, khuyến khích,
tôn vinh các Nghệ nhân
Ngoài người có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao có bằng cấp, chứng
chỉ, là Nghệ nhân thì côn só người có nhiều kinh nghiêm va thâm niên công tác trong nghề nghiệp cũng có thể được gọi là có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao
1.2.4 Pháp luật về sử dụng lao động có trình dé chuyên môn, kỹ thuật cao
có nhiều kinh nghiệm và thêm niên trong nghề nghiệp
Trong thực tế, chủng ta thấy rằng người cỏ trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao có ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong các lĩnh vực khác nhau sẽ có các quy định khác nhau về nhóm người này, có thể họ có
22
Trang 28bằng cấp, chứng chỉ, cỏ thể chỉ cần họ có kinh nghiệm thâm niên công uc
nhất định văn bản quy định về nhỏm người này còn hạn chế, chúng ta có
thể thấy quy định cho nhóm người này ở một số văn bản sau
Tho Nghị dịnh 34/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy dịnh về tuyển
dung và quản lí người lao động nước ngoài làn việc tại Việt Nam và Thông
Tư số 08/2008/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 6 nắm 2008 hướng dẫn thị
hành một số diều của Nghị dịnh 34/2008/NĐ-CP, thì Người nước ngoài có
nhiều kinh nghiệm và thâm niên trong nghề nghiệp, trong điều hành sản xuất, kinh doanh hoặc những công việc quản lý mả lao động Việt Nam chưa
đáp ứng được là người đã có ít nhất 05 (năm) năm kinh nghiêm về công việc
đó, có khả năng đảm nhiệm công việc theo yêu cầu của người sử đụng lao
déng và phải có xác nhận bằng văn bản của cơ quan, tổ chức có thầm quyền
của nước ngoài [18] Sau đó Nghị định số 46/2011/ND- CP Sửa đổi, bỗ sung
một số điều của Nghị định số 34/2008/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về
tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, theo vin ban méi nay thì Chứng nhận về trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người
nước ngoài đối với môL số nghề, công việc, việc chứng nhận về trinh độ
chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài có thể thay thể bằng các
giấy tờ sau day
- Bản xác nhận hoặc các giấy phép lao động hoặc các bán hợp dồng
lao động xác định có ít nhất 05 (năm) kinh nghiệm trong nghễ nghiệp,
trong điều hành sản xuất, quản ly và phủ hợp với vị trí công việc mả người nước ngoải dự kiến sẽ dâm nhận Bản xác nhận ít nhất 05 (năm) kinh
nghiệm nêu trên do các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức mả người nước ngoài đã lâm việc xác nhân |15|
'Dừ các quy định trên, chúng ta thấy, người có chuyên môn, kỹ thuật cao không phải chỉ gồm những người có bằng cấp, có chứng chỉ mà trong những
3
Trang 29lĩnh vực cụ thể, những trường hợp cụ thể họ vẫn lả người có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao, chỉ cần họ có nhiều kinh nghiệm thực tế, thâm niền công
tác và kinh nghiệm đó phải được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền
Theo quy định và phân tích trên, người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao có băng cấp, có chứng chỉ, người có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật
cao là Nghệ Nhân, người thợ giỏi và người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cao là người có nhiều kinh nghiệm, thâm niên công tác trong nghề nhiều diễm
giống nhau và khác nhau, cụ thể như sau
Thứ nhất, VỀ mặt giống nhau piữa các đối tượng nay thể hiện họ đều là
có trình độ, năng lực vượt trội về một lĩnh vực nhất định mà người bình thường không thể làm được
Thứ bai, Sự khác nhau giữa các dối tượng này dược thể hiện qua một
số mặt sau
- Đối vời người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có bằng cấp, có
chứng chỉ là những người đã qua đào tạo, qua trường, qua lớp, nghĩa là họ được công nhận thể hiện bằng, bằng cấp, chứng chỉ trong các lĩnh vực nhất định
thuật cao là Nghệ Nhân thị
- Đối với người cú trình độ chuyên môn, kỹ
có thế họ cũng được đảo tạo qua trường, qua lớp hoặc chưa qua đảo tạo chính
thức nhưng từ nắng khiếu bẩm sinh, từ hoạt động thực tiễn trong cuộc sống,
họ đã học dược những trình dộ kỹ thuật về những lĩnh vực nhất dinh ma chi
cỏ họ mới làm được
- Đối với người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có nhiều kinh nghiệm, thâm niên công tác trong nghề nghiện, nhóm người này có thể họ cỏ
băng cấp, có chứng chỉ, nhưng ngoài ra họ cần thiết phải có kinh nghiệm,
thâm niên nhất dịnh trong lĩnh vực mà họ sẽ dấm nhận, điều kiện kmh
nghiệm, thâm niên công tác vừa là điều kiện cần, vừa là điểu kiên đủ cho
nhóm người này đảm đương công việc
24
Trang 301.3 Kinh nghiệm quốc é về sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao
1.3.1 Chính sách và pháp luật các nước vệ sử dụng lao động có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật can
Hiện nay, xu thế cạnh tranh toàn cầu tất cả mọi lĩnh vực, đặc biệt là
kímh tế, chính trị, quốc phòng và khoa học công nghệ, điều nảy di hỏi các nước trên thể giới cần nguồn lao dộng có trỉnh độ nói chưng, có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao nói riêng để phục vụ đất nước, muốn có nguồn lực
nảy mỗi nước dều cỏ các chỉnh sách thu hút, thực tế, cho thấy nhiều nước da
thu hút được đông đảo nguồn lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong,
nước và nước ngoài phục vụ đất nước, nhiều nước phát triển đạt được thành
công như hiện nay là nhờ vào các chính sách cho người có trình độ chuyên
môn, kỹ thuật cao Sau đây là một số nước tiêu biểu có chính sách thu hút
người có Irính độ chuyên môn, kỹ thuật cao
a, Chính sách sử dụng người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
tại Singapore
Singapore là mộL đất nước trẻ ở Đông Nam Á, diện tích và đân số
không đông nhưng Singapore đã nhanh chéng trở thành trung tâm kinh tế
lớn ở Đông Nam Á nói riêng, thế giới nói chung một trong những yếu tổ
đạt được thánh quả dẻ lả nhờ vào việc có chính sách thu hút, trọng đụng
người tải nói chung, người có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao nói riểng
ó hiệu quả
‘Tai Singapore việc trọng dụng và có chế độ chính sách khuyến khích
cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao được thực hiện tốt
Nhân tố thu hút người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao phải nói
đến cơ hội được trọng dụng Ở đó người ta không quan trọng đến van dé thâm
niên công tác, thân hữu mà chỉ quan tâm đến trinh độ của người đó và hiệu
25
Trang 31quã công việc Nguyên thủ tưởng Lý Quang Diệu nỗi tiếng với phương pháp
cất nhắc sử dụng người có trình độ chuyên môn đã nói: “Tôi tra chuộng hiệu quả Với một công chức trẻ ở vị trí cao, tôi không quan tâm anh ta đã làm việc
bao nhiều năm Néu anh ta là người tốt nhất cho vị trí đó, hãy xếp anh ta ở VỊ
trí đó” Triết lý dùng người này của ông Lý Quang Diệu dã dược chính quyền
áp dụng cho đến ngày nay, và đã tạo được sự khích lệ rất lớn đối với những
nhân lải trẻ tuổi làm việc cho chính phú, cùng với chính sách trọng đụng người người có trình độ cao đó, Chính phủ đã có những chính sách chỉ trả lương cho những người nảy phủ hợp với trình độ chuyên môn cúa họ
- Chính sách tiền lương cho người có trình đô chuyên môn, kỹ thuật cao ở Singapore
Mật yếu tố hết sức quan trọng trong việc tuyển dụng, giữ chân người có
trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao góp phần giữ chân người lài trong khu vực
nhả nước là mức lương cao Năm 1994, Chính phủ ban hành “tài liệu trắng về mức lương cạnh tranh dành cho chính phủ cỏ năng lực và trong sạch”, theo
đó, quy định mức lương của các bô trưởng và sông chức cao cấp tương đương,
lương trung bình của bốn người hưởng lương cao nhất trong sảu ngành nghề của khu vực tư nhân là kế toán, ngân hàng, kỹ sư, luật, các công ty chế Lạo địa
phương và công ty đa quốc gia Mức lương của các bộ trưởng và công chức cao cấp liên tục được đánh giá và điều chỉnh thường xuyên, để báo đầm mức cạnh tranh đổi với khu vực tư nhân nhằm giữ chân những người đã làm việc
cho khu vực nhả nước
Mức lương cao và luật pháp nghiêm minh là hai nhân tổ có hiệu lực
nhất ngăn cần các nhà lãnh đạo Singapore không thể có động cơ tham
những, bởi rúi ro của sự trừng phạt quá lớn so với những lợi ích về lương
mà hệ thông nảy mang lại, Singapore có quy định rõ rảng, lương của lao động bình thường ở Simmgapore chỉ khoảng 2.000 USD/tháng (SGD
singapore) hoặc cao hơn chút ít
26
Trang 32- Chính sách đối với người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao lá Tigưởi Hước ngoài tại 5ingapore
Singapore là nước khởi xưởng nhiều biện pháp thu hút nhân tài nước
ngoài thông qua các biện pháp khuyến khích tạo điều kiện cho họ dược cấp
giấy phép định cư và nhập tịch lâu đài tại Singapore chỉ trong vải ngày,
giảm thuế cho người có mức lương cao
Lao dộng nước ngoài có trình dộ chuyên môn, kỹ thuật, kĩ năng, tay nghề, ngoài việc được hưởng lương theo mức của quy định, những chỉ phi
khác cho dịch vụ xã hội của họ cũng cao hơn người bình thường, họ côn được
phép đưa người thân sang sống củng Đây thật sự là một chính sách tốt cho
việc thu hút người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở nước ngoài Nhờ
vậy, Singapore dã thu hút dược hơn 1 triệu người nước ngoài có trình đô cao
bd sung cho hye lượng lao động của Singapore trong khu vực tư nhân Lao
động nước ngoài đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng, tạa việc làm cho
Singapore, và là nhân tố giúp Singapore trở thành một trung tâm tài chính và thương mại hàng đầu trong khu vực Di liền với đó, Singapore cũng hạn chế
lao động nước ngoài không có tay nghề bằng việc chỉ trà thu nhập thấp,
không được phép đưa người thân sang sống củng
b Chính sách sử dụng người có trừnh độ chuyên môn, kỹ thuậi cao tại Đức
Tại Đức, Chinh phú sẵn sàng cấp thế xanh cho những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông ti Thủ tục cắp (hé xanh dược thực hiện chỉ trong một ngày Cục Lao dộng của Đức dã
thánh lập riêng một trang web dễ đưa thông tin tuyển dụng của các gông ty kỹ
thuật cao và hỗ trợ cấp thé xanh trên mạng Người có thể xanh có thé mang
theo vợ con hoặc bạn pái dến sống chung tại Đức
Chính phủ Đức thành lập tổ chức học giả Đức để liên lac kêu gọi những, người tài của Đức đang làm việc ở nước ngoài hoặc người nước ngoài có trình
27
Trang 33độ kỹ thuật cao đến Đức làm việc Với những chính sách như vậy, hiện nay Dức đã thu hút gần gần 20.000 người có kỹ thuật cao Công nghệ thông tin từ
Liên minh châu Âu và Ân Độ đến cư trủ và làm việc tại Đức
Du học sinh nước ngoải cũng là nguồn nhân lực để các công ty Đức
thực hiện chiến lược săn đầu người Luật cư trú của Dức quy định rõ: Du học
sinh nước ngoài nếu được tuyển dụng sẽ được ở lại Đức làm việc và du học
sinh đã tốt nghiệp nhưng chưa tim dược việc làm sẽ được gia hạn ở lại Đức thêm 1 năm, đây cũng là chính sách tốt, trong thời gian làm việc, những người
du học gó mỗi trường làm việc tốt, chế độ dãi ngộ tốt, thu nhập cao có thể họ
sẽ không về quê hương, bởi một thực tế là về nước chưa chắc đã có việc làm
chưa nói là công việc tốc với thu nhập cao
© Chính sách sử dụng người có trình dộ chuyên môn, kỹ thuật cao
tại Australia
Australia là một nước có nên kinh tễ vững mạnh nhất thế giới, những
nim gan day, nhờ sản lượng nội địa gia tăng nên trong lúc kinh tế toan cầu đang lâm vàn tỉnh trạng khủng hoảng thì kinh tế Australia hiện được khẳng
định là tốt nhất trong số các quốc gia phát lriển trên thế giới Tăng trưởng
GDP trong quý Hai năm 2011 hơn 0,6% so với năm ngoái, cho thấy kinh tế
Australia tăng trưởng khả quan hơn, nên nước Australia có thể chống chỏi với
tỉnh trạng suy thoải trong, nền kinh tẾ toán câu
Về chính sách đảo tạo, sử dụng người có trình độ cao được quan tâm,
sit dung có hiệu quả, trong lĩnh vực công Chính phủ luôn coi Lrong việc đào
tạo, tuyển chọn, sử dụng người có trình độ cao dễ đâm nhiệm chức vụ, không
ngừng đảo tạo, bdi dưỡng, cụ thể
Trước khi đảo tạo các công chức, trước hết tiễn hành nghiên cứu, khảo
sắt năng lực, sở trường của từng công chức; trên cư sở bắt đầy đủ thể mạnh
?m sinh nủ Xi hướng tối ai án 45 3: hoàn hiên nhân sả
bẩm sinh của mỗi người, hướng tới giúp đỡ mỗi người hoàn thiện nhân cách,
28
Trang 34trình độ và năng lực, từ đó tiến hành xác định nội dung và phương pháp đào
tạo, cách dạy và cách học phủ hợp Cách học ở đây, trước hết chú trợng đặc
biệt đến kiến thức mà người công chức cần có để nâng cao trình độ cả về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp và phương pháp công tác, cũng như khả năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong tác nghiệp và
xử lý các tỉnh huống nghiệp vụ với yêu cầu chất lượng tốt nhất, hiệu quả cao nhất Các phương pháp giảng dạy tiên tiến, hiện đại nhất dược khuyến khích
áp dụng, như công nghệ mô phỏng hiện tượng, sự vật bằng hình ánh và tình
huồng cụ thể diễn ra trong thực tế
Kinh nghiêm đào tạo ở Australia cho thấy, một trong những cách học
mang lại kết quả hữu ích, thiết thực và hiệu quả là, trên co sé nhu cầu và đòi
hồi của cơ quan, don vị về những kiến thức cần thiết dễ dáp ứng nhiệm vụ
chính trị đặt ra của cơ quan trong từng giai đoạn nhất định, trước hết từng cá
nhân công chức học viên phải tự xây đựng đề án khả thì bảo vệ trước thủ
trưởng cơ quan để rồi đến trường học được củng cô kiến thức thông qua giảng dạy kiếm nghiệm
Thực tế cho
việc đảo tạo như vậy mang lại hiệu quả thiết thực, cụ
thể, đáp ứng nhu cầu của cơ quan, tránh được lỗi đảo tạo, bỗi dưỡng công
chức thoo kiểu kinh điển, lý thuyết, sách vở, kinh nghiệm chủ nghĩa, xa rời
thực tiễn, có tác dụng khơi day va khuyến khích tính độc lập, suy nghĩ sáng,
†ạo trong học tập, tiếp thu và vận dụng kiến thức giải quyết các tỉnh huống cụ
thể trong thực tiễn của cơ quan
Về công tác tuyển chọn công chức ở Australia
Khác với nhiều quốc gia trên thể giới, khi được tuyển chọn vào công
chức là lâm việc suốt đời và được thăng tiến thco thời gian, ở Australia việc
tuyển chọn công chức được thực hiện thông qua thi tuyển dé bố sung, khi một
vị trí tại một công sở nào đó bị thiểu, khuyết Việc tổ chức thị tuyển được tiến
29
Trang 35hành công khai, một trong những yêu cầu khách quan trong thi tuyển là không
phân biệt người dự tuyển làm việc ở cơ quan nảo, khu vực công hay khu vực
tu Người đự tuyển có đủ điều kiện theo quy định, nếu thi đạt kết quả sẽ được
tuyển dụng vào đúng vị trí mả cơ quan có nhu cầu và dược trả lương theo
nhiệm vụ được giao trong thời hạn 5 năm
Vi du, Ổ sở Tài nguyên và Môi trường, ông giám dốc nghỉ hưu, cần tuyển giám dốc mới thay thể, người dó sẽ được trả lương và mọi quyền lợi
khác của người giám đốc
Tiết thời hạn 5 năm lảm việc, đủ năng lực làm việc tốt hoặc không dap
ứng, sẽ tổ chức thi tuyển để quyết định người đó tiếp tục làm việc hay cham
đứt công việc của mình Ở Australia mọi chức đanh được cất nhắc, để bạt đều
phải thông qua thi tuyển theo định kỳ 5 năm, không có tình trạng “đến hẹn lại
lên”, và chính sách cho nhóm người này cũng được bảo đảm bằng lương chỉnh
và phụ cấp
Ngoài chính sách sử dụng tốt nguồn lực trong nước; Australia dang nỗ
lực thu hút những người di trú có tay nghề để đáp ứng nhu cầu bộc phát kinh
tế, nền kinh Lễ của Australia lèo lái những chính sách về nhập cư của nước
nay, hướng vào việc thu hút những người nhập cư để bé sung cho đội ngũ lao
động lành nghề còn đang bị thiếu hụt ở nước này
Taật cư trú của Australia đề ra nhiều quy định ưu ái đối với những,
người trẻ có chuyên môn cao Riêng những người có trình độ y khoa sẽ được
hưởng nhiều điều kiện ưu đãi như có thể xin visa ở lại Australia lâu dài, thủ
tục và thời gian phê duyệt chơ cư trả được rút ngắn và đơn giần
Thang điểm xét ưu tiên cho người nước ngoài đi dân đến Australia
lả 110 điểm, phân cấp theo tuổi tắc, trình độ chuyển môn và kinh nghiệm
làm việc Về thang điểm tuổi tác, người càng trẻ càng được chấm điểm ưu
tiên cao
30
Trang 36Với những chính sách đó, năm 2011 Australia đã thu hút được khoảng
130 ngân người có tay nghề đến Australia làm việc
d Chính sách sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
tại Canada
Canada là một nước phát triển và hầu như không kỷ hiệp dịnh, công
ước về dẫn độ tôi phạm cũng như hỗ trợ việc bắt giữ người vi phạm của các nước kháo chạy vào đất nước này, bởi vậy một phần lớn những người giàu gó
vi phạm luật pháp nước sở tại vào Canada sinh sống, trong đó có cả người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao đều này giúp cho đời sống mặt bing chung
tại Canada rất khá Tuy nhiên, đó chỉ là một phần nhó lam cho nên kinh tế
Canada phát triển, điều quan trong nhất vẫn lả chính sách sử dụng tốt nguồn
lực trình độ cao trong nước vả các chính sách thu hút nguồn lao động có trinh
độ kỹ thuật cao trên thế giới tới làm việc tại đất nước này
Tại Canada, lao động có trình độ chuyên môn cao, có trình độ kỹ thuật
cao từ nước ngoài đến làm việc sẽ được cấp thẻ xanh trong vỏng từ nửa năm
đến 2 năm Thủ tục đơn gián và nhanh chóng Chỉ cần đơn xin cấp thê có dán
ảnh kèm theo visa là xong, Ba năm sau khi có thê xanh, người lao động sẽ
chính thức trớ thành công dân Canada
Người lao động từ 19 đến 45 tuổi xin cấp thẻ xanh đễ đảng hơn mà đây
là tuổi lao động quan trọng nhất cho xã hội Trong các điều kiện ưu tiên, ngoài trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao
là ưu didm cực kỳ quan trọng Một khi đã có thể xanh, người xin cư trú có thể mang vợ con sang Canada sinh sống mà không cần phải có thân nhân tại Canada và không cần có người báo lãnh về kinh tế
1.4 Đánh giá, nhận xét chính sách và pháp luật các nước về sử dụng người cớ trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua những liệt kê trên, chứng ta thấy hầu hết các nước phát triển trên
31
Trang 37thể giới đều có chỉnh sách tốt cho người lao động nói chưng, người có trình
độ chuyên môn, kỹ thuật cao nỏi riêng, họ không chỉ đưa ra các chính sách
khuyến khích, ưu đãi cho người lao động có trỉnh độ cao trong nước mà
cén tạo đưa ra các chính sách nhằm thu hút người có trinh độ chuyên môn,
kỹ thuật cao trên toản thể piới bằng những chính sách cụ thể, điều này dã
được khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của nó thông qua sự phát triển
vượt bậc đất nước
Qua chính sách thu húi người gó trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của
nước trên chủng ta thay cé diém chung và điểm riêng biệt
Thứ nhất, Diễm riêng của mỗi nước là hẹ có thể tạo ra các chính sách
như; ưu tiên sử đựng người có trình dộ kỹ thuật cao giữ trạng trách quan trọng trong cơ quan nhà nước hoặc các công ty, dơn vị như Singapore, còn tại Đức thi cỏ chính sách thu hút các du học sinh nước ngoài
Thứ hai, Điểm giống nhau là các nước đều có nhiều chính sách thu hút
như môi trường làm việc tốt, tiền lương, tạo điều kiện cho người có trình độ,
kỹ Thuật cao thể hiện khả năng và giữ vị trí cao trong xã hội, điều đặc biệt là
các nước dều có chính sách thu hút bằng việc cấp thẻ cư trủ đài hạn mà chỉ
thông qua các thủ tục nhanh chóng, đơn giản cho người có trình độ, kỹ thuật
cao và người thân của họ Điều này tạo điều kiện cha nhóm người này yên
tâm trong công việc, phát huy năng lực chuyên môn, kỹ thuật vốn có của họ, góp phan phát triển kinh tế xã hậi
Ô nước 1a hiện nay, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở trong
nước, khắp thế giới thì không thiếu nhưng vẫn để trọng dụng là còn hạn chế, điều đó làm cho một bộ phận người Việt ra nước ngoài làm việc hoặc người
Việt ở nước ngoái không sẵn lỏng về nước phục vụ, đặc biệt là đu học sinh Việt Kam sau khi tốt nghiệp ở các cơ sở đảo tạo nước ngoài không về quê hương phục vụ
32
Trang 38Từ những yếu tố trên, vả Lừ xu thể hội nhập với tất cả các nước trên thế
giới, cùng với các chính sách ưu việt về thu hút, sử dụng người có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao của các nước trên thế giới, đã đên lúc Việt Nam cần
học tập, tiếp thu những giả trị tốt đẹp về chính sách trọng dụng người có trình
độ chuyến môn, kỹ thuật cao ở các nước áp đụng vào Việt Nam, thể hiện bằng
các văn bắn Luật, dưới luật quy định về quyền lợi, nghĩa vụ, về chính sách hỗ
trợ, khuyến khích, ưu đãi cho người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở
Việt Nam, cũng như nhằm thu hút người nước ngoài có trình độ chuyên môn,
kỹ thuật cao lắm việc tại Việt Nam
33
Trang 39CHƯƠNG 2
THUC TRANG PHAP LUAT VE SU DUNG NGUOT CO TRINH DO
CHUYÊN MÔN, KỸ THUẬT CAO TRONG BO LUAT LAO BONG
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện nay
Trước hết, xem xét thực trạng nguồn nhãn lực Việt Nam hiện nay cho
thấy, sau 26 năm dổi mới với nhiều nỗ lực, nguồn nhân lực nước tz đã đạt
những thành tựu đáng kể Ngoài những người có trình độ, kỹ thuật cao của các ngành nghề truyền thống, thì trình độ học vấn, trinh độ chuyên môn, kỹ
thuật cao, thể lực của con người Việt Nam đã từng bước dược cải thiện
‘Thue tế, Việt Nam là nước đang phát triển nhưng số lượng người có
bằng Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ rất nhiễu, đó là chưa nói đến các nghệ nhân,
những người có kinh nghiệm và thâm niên công tác mà theo quy định họ vẫn được xem là người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà chưa được thông
kê Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề bằng oấp và chất lượng của những bằng cap đó còn có nhiều vẫn đề phải bản
Số lượng người có trình độ chuyên mộn, kỹ thuật cao ở Việt Nam hiện
nay, phan bd khang đồng đều, thể hiện, ữ cáo thành phố, các đồng bằng với
diéu kiện kinh tế thuận lợi, các khu công nghiệp, các doanh nghiệp tập trung
đã đôi với đó là sự phân bố nguồn lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Điều này dẫn đến một nghịch lý lá, ở vùng nông thôn, ving cao, ving
xa có nhu cầu cao về nguồn nhân lực chất lượng cao thì lại thiểu ving, trong
khi ở các vùng đô thị, dễng bằng dân trí cao thì lại tập trung nhiều người có
trình dộ chuyên môn, kỹ thuật cao, các nhà khoa học
Người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của các ngành cũng
34
Trang 40chênh lệch, không đồng đều, hiện nay thiếu nhất lá ngành kỹ thuật như: Kỹ
thuật tàu bay, kỹ thuật cầu đường Chính sự phân bổ bất cân xứng về nguồn lực nói chung, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao nói riêng
như vậy, là một yếu tổ tạo nên sự phát triển không đồng dễu giữa các vùng,
miễn ở nước ta hiện nay,
31.1 Thực trạng sử dụng người có trinh độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở
ệt Nam hiện nay
a Thực trạng tuyển dụng, sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao trong khu vực nhà nước
Đề hiểu rõ hơn về những người làm công tác tại các cơ quan nhà nước,
chúng ta cần tìm hiểu xem họ là ai? Được pháp luật quy định như thế nào? Đó
là khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ: Là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức đanh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản ViệL
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành
phổ thuộc tỉnh (sau đây gợi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương tử ngân sách nhả nước
Công chức: Là sông đân Việt Nam, được tuyển dụng, bỗ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trưng ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ
quan, đơn vị thuậc Quân đôi nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, dơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải lá sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của dơn vị sự nghiệp công lập của Đáng Công sản Việt Nam, Nha nước, tố chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là dơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương tử ngân sách nhà nước; đối
35