Thực trạng pháp luật về bằu cứ đại biêu Quốc hội qua cuộc bdu cử các khóa XI, XH Thực trạng pháp luật về bầu cử đại biếu Hội đồng nhân đân qua cuộc bầu cứ dại biểu HĐND nhiệm kỳ 2004-20
Trang 1
ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NỘI
KHOA LUAT
TRAN DIfU HƯƠNG
HOAN THIEN PHAP LUAT VE BAU CIP NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
LUAN VAN THAC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NOI - 2013
Trang 2
ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NỘI
KHOA LUAT
TRAN DIEU HUONG
HOAN THIEN PHAP LUAT VE BAU CIP NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
Chuyên nganh : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 603801
LUẬN VĂN THẠC S¥ LUAT HOC
TS NGUYEN DANG DUNG
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI — 2013
Trang 3Chương 1: VỊ TRÍ, VAI TRO CUA BAT CU TRONG CHE ĐỘ
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Bau cử là phương thức thành lập ra cơ quan nhà nước
Bâu cử là hình thức quan trọng thục hiện nguyên tắc quyền lực
nhả nước thuộc về nhân dân
Chuong 2: THUC TRANG HE THONG PHAPLU AT VEB AU
CỬ VẢ VIỆC TIỰC IIIỆN PHÁP LUẬT BAU CỬ HIỆN NAY
"Thực trạng hệ thống pháp luật về bầu cử ĐBQH và ĐB HĐND
Thực trạng pháp luật về bằu cứ đại biêu Quốc hội qua cuộc bdu
cử các khóa XI, XH
Thực trạng pháp luật về bầu cử đại biếu Hội đồng nhân đân qua
cuộc bầu cứ dại biểu HĐND nhiệm kỳ 2004-2009
Những vẫn dễ mặi pháp lý dặt ra dối với cuậc bầu cử chưng dai
biểu Quốc hội khóa XHI và đại biêu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ
2011-2016
Luật bầu cử đại biêu Quốc hội và luật bầu củ đại biểu liội đồng
nhân đân sửa dồi, bô sung năm 2010 qua thực tiễn áp dụng
Trang
Trang 4'Thực trạng áp dụng pháp luật về bầu cử trong thời gian qua
Và tiêu chuẩn đại biêu Quốc hội và đại biêu lội đồng nhân dân
Là quyền bdu cit, quyén ing ct
L công tác hiệp thương trong bầu cứ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đẳng nhân dan
Về phân chia đơn vị bầu cũ, phân bỗ người ứng cử ở các don vi bầu cứ, số dự người ứng cứ:
LỄ ngày bầu cử và trành tự bầu cứ
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VE BẦU CỬ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TÚI
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bau cit Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công túc bầu cử Đôi mới nhận thức, nâng cao ý thức người dân về bau cit Biéu dé 3.1: Tu cach tham gia tại cuộc bảu cứ Quốc hội gẵn nhất Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và hướng dẫn bầu cử Tăng cường công lác giảm sát đối với bau cit
Mật số giải nhắn cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bầu cứ
trong thời gian tới
ĐỒ sưng nguyên tắc bầu cử tự do Hoàn thiện các giụ định về tiêu chuẩn, số lượng đại biểu
Sita déi, bE sung cde quy dink vé quyén bầu cú, quyền ung cit
Hiêu đồ 3.2: Số lượng người tự ứng cứ ở mỗi đơn vị bầu cứ
Cơ cấu lại nhiệm vụ, quyên bạn của các tô chức phụ trách bầu cử
Đôi mới cách thúc lập danh sách cử trí và số lượng cử trí ở mỗi
al
35 4I
Trang 53.2.6
3.2.7,
khu vực bỏ phiêu Đôi mới quy trình hiệp thương Biểu đổ 3.5: Thành viên tham dự Hội nghị hiệp thương lựa chọn
ứng củ viên đại biên Quốc hội
Sữa đổi, bỖ sung các quy định về phân chia don vi béu cit, phan
b người ứng cử ở các đơn vị bầu cũ, số dự người ứng cử
VỀ ngày bầu cử và trành nự bầu cử
BO sung các quy định về phiêu bầu và cách thức bầu cứ
Đi mới phương thức bã phiếu
Vả cách xác định kết quả bầu cử KẾT LUẬN
DANH MỤC TẢI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Tư cách tham gia tại chộc bắu cử đại biểu Quốc hội gân nhật
Số lượng người tự ứng cũ ở mỗi đơn vị bầu cử
Thành viên tham dự Hội nghị hiệp thương lựa chọn ứng cử viên
đại biểu Quốc hội
Trang
54
ma a
Trang 8Nhà nước Bỏ phiểu bầu cử đại biếu Quắc hội và TDND cáce ấp là phương thúc
thục hiện thể chế đân chỗ, thục hiệu quyền công dân và quyên tham gia quả a lý đất nước của người dân thông qua người dại điện Thông qua bằu cử , nhân dân tim kiêm, chọn lựa những người sẽ thay mặt cho he quyết định những van dé quan
trọng của đất nước Có thể nói, bầu cử là hình thức cho thê y quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân và Ì
lý luận về chế độ bầu cử ở nước ta đã dân được bỗ sung _, thay đổi để phù hợp hon
với thực tiễn Tuy nhiên, chê độ bầu cử ở nước ta hiện vẫn còn nhiều vẫn đề đặt ra
cần phải giải quyết , khắc phục Tý lệ cử trì tham gia bỏ phiên qua ruỗi lần bảu cử khá cao, nhưng thực tẻ bầu cử vẫn còn rnang nặng tính hình thúc (vi dụ như: việc ting cử và hình thức tham gia tranh cử của các ứng cử viên ; cách thức tế chức bâu cứ ) Những quy định của pháp luật về bầu cử ở nước ta vẫn còn nhiều bắt cập
chua phat huy được cao nhất tính đân chủ và chưa thật sự phù hợp với bồi cảnh hiện nay, khi đất rước ta đang hội nhập sâu vào nên kinh tê thể giới Lâm thể nào dé
nhân đàn thực sự rỡ thành chủ nhân của quyển lực nhá nư de vả thông qua ch 6 dd
Trang 9bau củ, ủy thác quyển lực ấy cho cơ quan quyền lực nhà nữ ớc cao nhất? Xây dựng, nhà nước xã hội chủ nghĩa, của đân, do dân, vị đân đã và đang là xu hướng chủ đạo
và là mục tiêu hàng đâu của Đảng, nhà nước và nhân đân Việt Nam Vĩ vậy, việc 1ghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước để hoàn thiên chế đô bầu
cử ở nước ta là vẫn đề quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Từ những ly do nêu trên và với sự tâm huyết của mình, tôi chon để tải
*Hnản thiện pháp luật về bầu cũ - những vẫn để lý luận và thực tiễn” đễ làm luận
văn thạc sĩ luật học của minh
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Mục đích của luận văn là góp phản hoàn thiện các qui định của pháp luật tiện hành về bầu cử; việc vận dụng qui định của pháp luật về quy trình bau et trong, các cuộc bảư củ đại biểu Quốc hội trong những năm vừa qua, phân tích nguyên nhân của những hạn chế trong qui định của pháp luật về bần cữ từ đó nêu lên một số kiên nghị nhằm hoàn thiện qui dịnh của pháp luật về bầu cử
Đề đạt được mục dịch trên, luận vẫn có những nhiệm vụ sau dây:
Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn để lý luận vẻ chế độ bầu cổ, cơ chế đại diện, phương thúc thực hiện quyên bẫu cứ, ứng cứ; phương thức tiến hành bầu cử,
để gép phân hoàn thiện các văn bản pháp luật vẻ bần cử ĐBQH và bầu cử DB
HĐND
Nuh
cho việc hoan thién ché 46 bau ett DBQII va bau ct DB TIDND
ottu, Long két thie tién vide (6 chite bau cif ¢:
Nghiên cứu các phương thức bầu cử và lâm rõ những nét đặc tírù trong chế
độ bản cử ĐB của các nước để tham khảo và chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp cho Việt Namt,
Đảnh giá thực wang các quy dịnh của pháp luật về chế đồ bảu cử của Việt Nam - Những bắt cập, tồn tại và nguyễn nhân
Trang 10Đưa ra những giải pháp khắc phục tổn tại và kiến nhị nhằm hoàn thiện pháp luật vẻ bằu cử của Việt Nam trang thời gian tới
3 Tỉnh hình nghiên cứu:
Thời gian qua, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về pháp luậi bầu cử Tuy nhiên, các tác giả mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu một khía cạnh nào đó trong,
tản củ, vi dụ “Đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Quốc hột, “Qui trình bầu cứ
đại biểu Quốc hội, thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả”, “Vai trò của Mặt bận 1Ê quốc Liệt Nam trong bằu cứ đại biêu Quốc hội ở nước ta hiện nay” Còn một công trình nghiên cứu mang tính toàn điện về bảu cử (bao gôm cả bằu cử dại biểu Quốc hội và dại biểu Hội dồng nhân dân) trong giai doạn hiện nay khi ma Tảng và Nhà nước muốn tiến hành hai cuộc bẳu cử này vào chung một thời điểm thì chưa cỏ, nó mi chỉ đừng lại ö các văn bản quy phạm pháp luật hướng din mang tỉnh kỹ thuật về bằu cử mà thôi
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luan văn nghiên cứu có sở lý luận của chế độ bầu cử „ đĩ sâu vào vị trí, vai
trò của bầu cử trong chẻ độ nhà nước ta hiện nay và nghiên cửu thực tiễn của hoạt động bầu cử ở nước ta trong thời gian qua và tham khao kinh nghiệm một số trước
trên thể giới Từ đẻ, đưa ra nhận xét , khuyến nghị vẻ việc sửa đổi „ bỗ sung, hoàn
chỉnh cơ sở lý luận và quy trình bảu cứ „ nhằm hoàn thiện chế độ bằu cử dại biểu ở
nước ta trong thời gian tỏi
5 Phương phán nghiên cứu của luận văi
Phương pháp luận của ]u ân vấn cẵn cứ vào quan điểm của Đăng về lý luận
xảy dựng chế độ bầu củ đại biêuth ể hiện trong các Nghị quyết của Đáng, trong,
Hiển pháp và pháp luật của Nhà nước
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: thống kê, diễn giải, phân tích,
tổng hợp, so sánh, nghiền cửu thực nghiệm, diễu tra xã hội học,
Trang 116 Kết cầu của luận văn:
Ngoài phan mỡ đâu, phần kết luận, vả danh mục tài liệu tham khảo, nội dung, chính của luận văn được kết câu thành 3 chương:
Chương 1: Vị trí, vai trò của bẫu cử trong chế độ nhà nước Việt Nam
Chương 1T: Thực trạng hệ thông p háp luật về bầu cử và việc thực hiện
pháp luật bau cử hiện nay
Chương HT: Phương huứng hoàn thiện phap luật vé bau cử ở Việt Nam
trong thời gian tới.
Trang 12Chuong 1
VI TRi, VAI TRO CUA BAU CU TRONG CITE BO
NHA NUOC VIET NAM
Bầu cử ở Việt Nam lả quả trình các cử trí dưa ra quyết dịnh của họ theo các cách thức mà pháp luật quy định để chọn ra các đại biểu đại diện cho rainh nắm giữ
các chức vụ trang eœ quan đân cử của chính quyển ở trung trong và địa phương,
trong phạm vị lãnh thể của Việt Nam Việc bầu cử ở Việt Nain gồm bầu cử Quốc hội (ở Trung ương) và bầu cử Hội đẳng nhân dan cáo cấp (ở địa phương)
1.1 Bầu cử là phương thức thành lập ra cơ quan nhà nước
Bau ct la một phương pháp thành lập ra bộ máy nhà nước Thông qua bầu cử nhân dân trục tiếp lưa chọn những cá nhân có đủ phẩm chất đạo đức và năng lục đại điện cho ý chỉ, nguyện vọng cũa mình vào cơ quan dại diện của nhân dân
Theo Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam của Khoa Luật thuộc Đại học
Quốc gia Ila Noi thi:
Chế dộ bằu cử dược xác dink bdi tong thé các mỗi quan hệ xã hội được hình thành trong quả trình tiễn hành các cuộc bầu cử, từ lác lập danh
sách cử trị, cha đến khi kết thúc việc xác định được danh sách những người
trùng cứ Qua những mỗi quan hệ xã hội đó cho phép khái quát dược chế độ bầu cứ được hình thành qua các cuộc bầu cũ của một đất nước là chế độ bầu cit dan chi khong dp dit, nhân dân tự nguyện thể jủện ý chỉ của mình tùm ra được những người xứng dáng làm dại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân
quan ly va điều hành đất mước [1T, tr 300]
Trong lịch sử bảu cử của nước ta, kế từ khi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đến
xay đá khẳng định rõ: mỗi cuộc bầu cử đều mang một dầu ấn riêng, nhưng thục tiễn
da chứng minh rằng các cuộc bau cử dễu có vai trỏ, ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong đời sống chỉnh trị - xã hội của đất nước
Trang 13Một là, bầu cử luôn luôn là một sự kiện chỉnh trị trong đại của dất nước, là ngày hôi lớn của toàn dân
Thêng qua các cuộc bản cử, chính là địp đề cử trí cả mước phát my quyền lảm chủ của mình, trực tiếp lựa chọn những đại biểu có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức, xứng đóng đại điện cho ý chí, nguyện vọng của minh tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất
Khi đánh giả về tầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử dầu tiên, Chủ tịch
sở tôi, có đức, để gảnh vác công việc nước nhả Trong cuộc )
những người muốn lo việc nước thi đền có quyền ra ímg cử, hễ là công dan thi déu
có quyền di bầu cũ Không chia gái trai, giảu nghèo, Lôn giáo, nòi giống, giai cấp, đáng phải, hễ là công dân Việt Nam thủ đều có hai quyển đó Do Tổng tuyển cứ mà toàn đân bâu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân
11ai là, bầu cử có ý nghĩa quyết định đến việc xây dựng Hộ máy Nhà nước, lá khâu đầu tiên để hình thành nên các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương
Ở nước ta, tất cả quyền lực nhả nước đều thuộc vé nhan dan; nhung nhan dan thực hiện quyền lực nay bang cách bau ra Qudc hội Với tư cách là cơ quan duy
nhất do cữ trí cả nước bầu ra, niên Quốc hội thay mặt cho nhân đâu, dược giao trách
nhiệm giải quyết mọi công việc quan trọng của đất nước như: xây đựng Hiển pháp
và pháp luật, đặc biệt là thánh lập r2 Chính ph và các cơ quan Nhà nước khác Đồng thời, các cơ quan Nhà nước này dểu chịu sự giám sát của Quốc hội Chỉnh vỉ thế, các cơ quan Nhá nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều trực tiếp hay gián tiếp do nhân đân bảu ra thông qua phương thức bầu cử Nói cách khác, bau cử chỉnh là hình thức dân chủ duy nhật dễ hình thành nên bộ máy Nhà nước ở nước ta Dỏ củng lả mình chứng cho việc ngay từ phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chink pha lim thời, ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hỗ Chí Minh đã dễ nghĩ
Trang 14
Chỉnh phủ sởm tô chức cuộc Tổng tuyển dầu tiên ở nước ta; bỡi lê chỉ có thể thông, qua bau cit thi chinh quyên mới được thành lập mới là chính quyền hợp pháp và được nhân dân thừa nhận
1.2 Bầu cử là hình thức quan trọng thực hiện nguyễn tắc quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân Trong nha nude pháp quyền, ÿ chỉ của nhân dân là cội nguồn của quyên lực
nha nude Sinh théi, Chii tich 116 Chi Minh luôn luôn coi nhân dân là cội rễ cứa
quyển lực nhà nước: “Gốc có vững, cây mưới bên/Xây lầu thẳng lợi trên nên nhân dân” Người cho rằng, Nhả nước ta là Nhà nước của dân, Nhà nước phải hoạt động
vì dân, lấy việc phục vụ nhân dàn làm mục tiêu cao nhất của mình “Nước ta lả một nước đân chủ Bao nhiêu lợi ích đến vi dân Bao nhiêu quyển hạn đếu của đân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân Chinh quyền từ xã đên Chính phủ trung ương da đân cử
ra Đoàn thể từ Irung ương đến xã đều do din tổ chức lên Nói tóm lại, quyên hành
vả lực lượng đều ở nơi dân” Liễn pháp năm 1946 coi việc “"Lhục hiện một chính
quyển mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” là một trong ba nguyên tắc của chính
thể mới và nền dân chủ nhân dân Hiến pháp 1993 (sửa đổi năm 2001) hiện nay cũng khẳng dinh “Nha nước Cộng hoà xã hội chú nghĩa Việt Nam lá Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, đo nhân dân, vi nhân dân ” Trong nhà nước phép quyền, quyền lực nhà nước xuât phải từ nhân đân, nên nhà rước pháp quyền Việt Nam phải là nhà nước do nhân dân Việt Nam thánh lập Tình pháp quyền cao nhất của quyển lực rà nước là ở chỗ: nhân dan te do lựa chọn bầu ra những đại biểu xứng đáng thay mặt nhân dân gánh vác việc nước Bau cử là một phương thúc hợp pháp hóa quyền lực nhà nước mang tính phổ biển và lá xu thế tắt yếu của thế
giới hiện đại Trong các bài viết vẻ Thường thức chính trị trên báo Cứu quốc năm
1953, Chủ tịch Hỏ Chỉ Minh dã từng viết “lIrong các cuộc bau cứ, công đân Việt
‘Nam tir 18 tuôi trở lên, không phân biệt gái, trai, tôn giáo, mức tài sẵn, trình độ vấn hóa, không phân biét noi giéng déu cỏ quyền tham gia Đó là một cách hợp ly dé nhân dân lao động thực hãnh quyền thống trị eta minh” [10, tr 219-220]
a
Trang 15Pháp quyên xét dưới góc dộ tổ chức bộ máy nhà nước cỏ nghĩa nhân dần chính là chủ thể của quá trinh tổ chức Nhà mước pháp quyền không những là người đại điện chân chính cho nhân đân của quốc gia đó, mà nó phải được cộng đồng quốc
tế thừa nhận Nhà nước là người đại điện của nhên dân, cho nên, nhận dâm phải có
tiếng nói quyết định vào việc thành lập ra các cơ quan nhà nước Bau cir 14 hoạt
động phổ thông nhất và mang tính đơn giản nhất, thông qua đỏ, nhân đân trực tiếp thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đểng nhân dân là những cơ quan đại điện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, đo rhên dan bau va và chịu tách nhiệm trước nhân dân” Từ các thiết chế đại diện do nhân dân bảu ra nảy, các cơ quan nhả nước khác lân lượt được thành lập Vẻ bản chất, bầu cử không những là con đường kiến thiết chế độ đại điện mà nó cũng chỉnh là phương thức dễ nhân dân loại bỏ những người đại diện Do vậy, đề nhân dân giám sat quyền lực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm
quyên của quyển lục nhả muớc một cách có hiệu quả, đồng thời với việc đổi mới chế d6 bau ci, can xAy dựng cơ chế cụ thể và hữu hiệu quyển bãi nhiệm đại biểu dân cử của nhân dân Nói cách khác, nhén din có thể thay thể, thậm chí phê truất những người đại điện do minh bau ra bắt cứ lúc nào, nếu họ không còn sự tín nhiệm của nhân đân, mà không phải đợi đến hết nhiệm kỹ: “Đại biểu Quốc hội bị cử iri hoe Quốc hội bãi nhiệm và đại biéu I16i déng nhàn dân bị cử trí hoặc lội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
@Điểu 7 Hiển pháp 1992) Chính vì Lẫm quan trọng của việc khẳng định chủ quyền
nhân đân, trong quá trình đối mới hệ thống chính trị, đối mmới bộ máy nhã nước ở
trước ta không thể không nói tới đổi mới chế độ bầu cử Tàm sao để “quyền hành và lực lượng dễu ở nơi dân”, dễ nhân dân thực sự tìm dược những người xứng đảng và đích thục thay mt minh gánh vác việc nước - đỏ lả những vẫn để cơ bản của việc
đổi mới chế độ bầu cữ ở nước la luện nay |38, tr 337 |
Chẻ độ bâu cử là nên tảng của dân chủ, có vai trò đặc biệt quan trạng đối với việc kiểu tạo chế độ dân chủ Chế độ bầu cử lá một trong những trụ cột trong câu trúc đân chủ ở bất cứ nhà nước nào Dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình
Trang 16voi bong Ở dâu cỏ bầu cữ tự do và trung thực, thì ở do một chế dộ dân chủ dược
, là chủ
nay nở và phát triển [3, tr 27] Dân chủ có nghĩa là nhân dan la ngnén g
thể của quyền lực nhà nước, các cơ quan quyên hực phải được nhân đân bâu hoặc
ai miễn thông qua bầu cử tự do, bình ding va bé phidu kin,
Không những thể, rắt nhiều các hiệp ước, hiến chương quốc tê, khu vục déu khẳng định vai trỏ của bầu cử đối với thực thi dân chủ, bảo đám quyển cơn người, tuy Hiển chương Paris cho mat châu An mdi Layén bố: *Ý chỉ của nhận dân thông, qua bầu cử tự do, công bằng và dịnh ký là nên tảng cho một nhà nước din chú” Tại
các nước lớn ngày nay, dân chủ dựa trên ý tưởng rằng chủ quyền của nhân đân hợp
pháp hỏa cả chỉnh quyển lẫn quyền công đồng quyết định, trên những nguyên lắc phục từng đa số, bảo vệ thiểu số và trên hệ thống, nghị trường đại điện Hội nghị An ninh và hợp tác châu Âu (CSCT) khẳng định rằng, dân chủ “có nên tăng là việc tôn trọng con người và chế độ pháp quyên”, công nhận chế độ pháp quyên là mội yêu tổ thiết yếu đề đăm bảo việc tồn trọng nhân quyên và hoan nghênh “quyết tâm chung
của tất cả các quốc gia thành viên nhằm xây dựng các xã hội đân chủ trên nên tang
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng noi “Tổng luyễn cử là một đập cho toàn thể
quốc dan tự dơ lựa chọn những nguời cỏ tải, cò đức, để gánh vàc công việc nước
nhà Trong cuộc Tổng tuyến cử, hễ là những người muôn lo việc nước thì đều có quyển ra ứng cử, hễ là công dân thi déu có quyền di bằu cử Không chia gai trai, giàu nghéo, tên giáo, nói giống, giai cấp, đăng phải, hễ là công đần Việt Nam thi
đêu có hai quyển đó Vì lẽ đó, cho nên Tống tuyến cử tức là tự do, bình đẳng, tức là
dân chủ doan kết” [10] Đối với nước ta, dân chủ dại diện lại cảng có vai trỏ đặc tiệt quan trọng, vì Hiến pháp mới chỉ khẳng định về đân chủ đại điện, mà chưa dé cập rõ ràng về đân chủ trực tiếp Vai trõ của bầu cử đổi với bộ máy nhà nước có thể được vi như vai trò của nên móng trong việc xảy dựng một ngôi nhà Muốn có ngồi
Trang 17nhà kiên cỗ và hiện dại, thi trước hết phải có nên mỏng vững chắc Đề có một Nhà nước “của dân”, trước hết phải thiết kế và thực thì một chế độ bầu cử sao cho bộ máy nhà nước đỏ “đúng” là kết quả của sự ha chọn đựa trên ý chí của nhân dan Mỗi quan hệ giữa chế độ bầu cử với bản chất, mục dích của nhà nước là mỗi quan
hệ biện chứng: một mặt, một chế dé bau ct dam bao ding ý chỉ của nhân dân trong,
việc lựa chon và ủy quyên, thì bản thân việc lựa chọn và ủy quyền đó không những dâm bảo nhá nước đỏ là nhà nước “của dân” mà dã bao hàm ý nghữa nhà nước dỏ là nhà nước “đo đân và ví đân”, mặt khác, một nhà nước đích thực “của dân” sẽ là cơ
sở rất quan trọng để nó là một nhà nước “do dân vá vì đâu” Ngược lại, nếu không dam bao nha nude đỏ lả nhà nước địch thực của dân, nhân dân cỏn “đứng ngoài”, hoặc chưa đóng vai trò quyết định, thì đù nó tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc
1ảo, xục dich “do đên và vì dân” của nhà nước đỏ cũng khó có thể đạt được Điều
đỏ không những không đảm báo cơ sở pháp quyển của nhà nước, ma myc dich nhà nước sẽ không đảm bảo đân chủ, hoặc mục đích dân chủ có thể được đặt ra, nhưng,
là cơ sỡ, là điều kiện tiên quyết cho một chính quyên, hệ thông, chính trị của dân, do dan, vi đân và đó là mục tiêu cao cả của đân chủ
Ó Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, vai tro của chế độ bầu cử còn
mang tinh đặc thủ Thủ nhát, đối với các nước tư sản, bộ máy nhà nước dược tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, do đó nhân dân không
những bâu ra Quốc hội, mà ở nhiều nước, nhân đân còn bau ra Tang théng Do vậy,
bản thân chế độ bau ot la công cụ nhằm kiểm soát, đối trọng giữa các nhành quyền lực và nó có khả năng tạo ra cơ hội “sửa sai” cho nhân dân Ching han, sau khi bau
cử Tổng thống, nêu đường lêi, chính sách do Tổng thống thục thi không hợp lòng, dân, đến kỹ bầu củ Quốc hội, cử trì sẽ dổn phiểu cho các đăng đối lập để “khắc
1ô
Trang 18ché”, “ddi trong” dudng Idi ctia Téng théng va ngugc lai Khac voi các nước tự sắn,
ở nước ta, khi nhân đân bẩu ra Quốc hội, TIội đồng nhãn đân thì cũng có nghĩa gần nhĩ trao toàn bộ “ân kiếm” cho các co quan nay ma không có nhiều cơ hội “sửa sai” như ở các nước tư sản Về nguyễn tắc, cổ trí có quyên bãi nhiệm các dạt biểu đâu cứ khi họ không cỏn được sự tín nhiệm của nhàn din Tuy nhiên, việc bài nhiệm thường tiễn hành với từng đại biểu riêng biệt, hơn nữa, việc bãi nbiém ty 44 có trong các diễu khoản của Hiển pháp, các đạo luật về tỏ chức các cơ quan nhà nước, nhưng chưa có cơ chế cu thể để thực hiện, để áp dung vào thực tiễn Vã lại, kế cả
khi chúng ta xây dựng được cơ chế bãi nhiệm đại biểu dân cử, do hũ tục phúc tạp can phải cỏ của cơ chế và tỉnh phúc tạp của trách nhiệm chính trị, cơ chế này van mang tính phòng ngùa nhiều hơn Thứ hai, vị trí, thẩm quyền của cơ quan dan cit trong bộ máy nhà nước các nước xã hội chủ nghĩa cỏ tính dặc biệt: Quốc hột là cơ quan quyển lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân đân là cơ quan quyển lye nba
nước ở địa phương, Dôi với Việt Nam, thâm quyền xây dụng Iiiển pháp được trao
chơ Quốc hội, cho nên, có thể hình dung rằng thông qua bằu cổ, nhân dân traơ những thâm quyén quan trong, như quyết định các vẫn để quan trọng nhất của cả nước/địa phương cho cơ quan quyền lực nhà nước, trao cả quyền lập hiển cho Quốc
‘bang khéng thé đuy trì được ở những nơi mà các quan chức cỏ quyền bưng bit cac
lời chỉ trích
'TTỏm lại, chế độ bầu cứ là một dịnh chế quan trọng của dân cÌnu, nên tăng của mei nha nước pháp quyển Việc thiết kế, thực thi chế độ bảu cử tiến bộ, phú hợp là công việc quan trọng hang đầu đối với bất cử nhà nước pháp quyền nao, trong đó cá Việt Nam
11
Trang 19‘Thanh công cúa các cuộc bấu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử dại biểu Hội đẳng nhân đên đã thể hiện rõ ý thức chính trị, trách nhiệm của cử tri và nhân dan
đi với sự nghiệp cách mạng của đất nước; phản ảnh tính đân chủ trong đời sông xã
hi eda dil nude ta
Các cuộc bầu cử đếu điển ra thuận lot va đạt được những thắng lợi to lớn
Hầu hết các cuộc bau cử đại biêu Quốc hội của nước la đều tha húi được đông đão
cử trị tham gia bô phiếu, với tỉ lệ trên dưới 90%, Đây là một thực tế mà không phải quốc gia nảo cũng đạt được, kế cã ở những nước phát triển Điều đó phản ánh được
ý thúc chính trị rất cao của cử ti và nhận đân ta đối với sự tghiệp cách rạng của dất nước Mặt khác, cũng chính từ thành công của các cuộc bầu cử dại biểu Quốc hội đã phán ánh được sự dân chủ trong đời sảng kinh tế - xã hội ở nước ta
hư vậy, bau cử như là một trong những biện pháp cơ bản thể hiện sự chúu trách nhiệm của nhà nước, cũng như một cách thức nhân dân đảnh gia va mong
mudn về trách nhiệm của nhà nước trong tương lai Thêng qua việc bảu cử, nhân
dân có quyền hất bỏ những quyền lực nhà nước không dap img, và muốn có một sự thay đổi với mục tiêu đáp ứng được mong mỏi của người dân Cơ sở cúa chế độ bầu
cử là quyền lực nhà nước thuộc vẻ nhân dân Quyên lục nhà nước của các cơ quan nhề nước, cũng rửnư của các cá nhằn đượp đầm nhiệm các oông việc nhà nước là đo nhân dan trao cho thông qua hoạt động bau cử của họ Dây cũng là cơ sở cho việc các cơ quan nhà nước cũng như các quan chức đo nhân dan bau ra khong chỉ đơn thuận có được quyền lực nhà nước, mà côn phải chịn trách nhiệm về việc thực hú
quyển lực được giao trước nhân dân [8]
12
Trang 20Chương 2
TIIVC TRANG It THONG PIIAP LUẬT VỀ BẢU CỬ VÀ VIỆC
THUC HIEN PHÁP LUẬT BẦU CỬ HIỆN NAY
đây đủ trong thục tiễn, việc triển khai các công việc phục vụ cho công tác bầu cử
dược thục hiện đúng tiễn dé, bao dam tính dân chủ, tiết kiêm Các cuộc bầu cử
đã đạt được những kết quá tích cực và thành công trên nhiều phương diện, tử các
công tác chuẩn bị, tổ chức triển khai thực hiện cho đến khi kết thúc cuộc bẩu cử
Qua việc thi hành pháp luật về bầu cử dại biếu Quốc hội tại các cuộc bầu cử gắn đây cho thấy, nhìn chung luật đã đi vào cuộc sống, công tác bảu cử đại biểu Quốc hội đã bảo đâm được các tiêu chí và nguyên tắc theo quy định của luật, nhái Tà đã dâm bảo được tính đại diện cho các thành phần, giai tẳng trong xã hội,
số người fmg cũ, tự ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đã tăng lên, trình độ của những
người ứng cử khả đồng đều, chất lượng đại biểu trúng cử nhiệm kỳ sau được nâng lên sơ với nhiệm ky trước Sự thành cỏng của các cuộc bầu cử gân dây cho
thay hệ thống pháp luật về bản cử về cơ bản đã dân đồng bộ, toàn điện và đang,
từng buốc được hoàn thiện Tuy nhiên, với đặc thủ cũa công tác bầu cử là hoạt động không thưởng xuyên, năm năm mới thực hiện một lần nên việc áp dụng, các quy định của pháp luật về bầu cử qua các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội còn cho thấy có những văn dễ dược quy định trong luật chưa thực sự phù hợp với sự vận
động của thực tiến
Trước những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong tinh hình mới,
quán triệt chủ trương của Đáng thể hiện trong Bảo cáo chính trị tại Đại hội Đồng, toàn quốc lần thử 1X đã nêu: “Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu
13
Trang 21H6i déng nhan dan, hoàn thiện những quy định về bầu cử, ứng cứ, về tiêu chuẩn
và cơ cẩu các đại biểu Quốc hội và liội đồng nhân đân trên cơ sở thật sự phát huy dan chủ Tăng thêm tỷ lệ đại biếu Quắc hội chuyên trách”, ngày 25 tháng 12
ắm 2001 Quốc hỏi khỏa X đã thông qua Luật sửa đối, bỗ sung một số điều của
Luật bân cử đại biến Quốc hội năm 1997 Luật bầu cử đại biển Quốc hội năm
2001 được sửa đổi cũng nhằm mục đích để phù hợp với nội dung sửa đổi, bổ sung một sở diều của Hiến pháp năm 1992 và việc sửa đổi Luật tổ chức Quốc hội
và cụ thế hóa các quan điểm, chỉ thị của Đảng vẻ đổi mới tổ chức và hoạt động, của Quốc hội, phát huy bản chất dân chủ, bảo đâm tính nhân dân, tỉnh đại điện
và chất lượng dại biểu Quốc hội; làm cơ sở cho việc tăng tý lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách
Luat bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 dược Quốc hội thông qua là cơ
sở pháp lý quan trọng đổi với cuộc bấu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và khỏa XIT Các quy định của Luật đã được các cơ quan có thâm quyên liên quan đến công tác bảu cử đại biểu Quốc hội từ trung ương dén dia phương vận đụng tổ chức thành công các cuộc bau cứ đại biểu Quốc hội, góp phan vào quá trình kiện
toàn tễ chức và tăng cường hiệu quả hoạt động của Quốc hội qua các nhiệm kỹ Quốc hội khóa XT và khóa XT
Tuy nhiên, qua quả trinh áp dụng Luật bầu cử đại biểu Quốc hội dé triển
khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và khóa XI cho thấy Luật còn
có một số quy định vướng mắc, khó thục hiện rong triển khai công táo bầu củ
Cụ thể như sau
Và số người ứng cử tại mỗi khu vực bả phiêu
Điều 46 Tuật bầu et đại biển Quốc hội quy dink:
Căn cứ vào danh sách chính thức những người ứng cứ dược Đoàn
Chủ tịch Uÿ ban trung ương Mặt trận TẾ quắc Uiệt Nam giới thiệu, Hội
đồng hầu cứ gửi lới các LJÿ ban bầu cử hữu quan danh sách những người dược giới thiệu về ứng cử tại địa phương Hội dâng bầu cử lập và công bó
Trang 22danh sâch những người ứng cử theo từng dơn vị bdu cit trong cd nuĩc
theo danh sâch chính thức ảo Ban thường trực U ban trung tương MẶC
trận Tổ quốc Việt Nam vă UJÿ ban bằu cử gửi đến chậm nhất lă hai mươi
lắm ngăy truớc ngăy bầu cũ Trong danh sâch những người ứng cứ phải ghi rố họ, lín, ngăy, thẳng, năm sinh, quĩ quan, noi thang mi, dan tho, tôn giâo, trình độ văn hoâ, chuyín môn, nghề nghiệp, chức vụ, nơi lăm việc của người ứng cứ Danh sâch những người ứng cứ dược xếp theo vẫn
chit cdi A, B, C Số người trong danh sâch ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biếu được bằu ở đơm vị ố Người ứng cử chỉ được ghỉ tín văo danh sâch ứng cử ở một don vị bầu cứ
Quy định năy đẫn đến tình trạng có đơn vị bầu cử số người ứng cử chỉ nhiều hơn số đại biểu dược bầu lă một người Nếu số người ứmg cử chỉ nhiều hơn
số đại biểu được bầu lă một người thì trong trường hợp bắt khâ khâng người ứng,
cử bị truy cứu trâch nhiệm hình sự, bị chết hoặc vì lý do bắt khả khâng, phải xóa tín trong danh sâch bđu cử thì dơn vị bđu cử đó sẽ không có số dư hoặc don vi bằu cứ đỏ phải giảm số đại biểu được bầu để bâo đảm số dư theo đúng quy định
của luật Trong thực tế bau ctr dai biến Quốc hội khóa XI ở tỉnh Nam Định vă
tỉnh Bình Định có trường hợp ứng cử viín bị kỹ luật, khởi tố bình sự sâL ngăy bau ott, không thể bổ sung kịp danh sâch người ứng cứ nín liội đồng bau cứ đê phải quyết đính rút ở đen vị 46 một đại biểu để trânh tinh trang “bau tròn” Tử
thực tiễn bầu cử đại biểu Quốc hội khỏa XT, Hội đồng bầu cử đê có văn bản
tướng dẫn số đu tại mỗi đơn vị bầu cử phải ít nhất lă hai người Tuy nhiín, với tướng dẫn như vậy lại lă quâ cứng nhắc khó cho cử tri lựa chọn đại biếu vă câc đại biểu đo trung ương giới thiệu cũng sẽ khó trừng cử đối với nhting don vi bau
cử có bến người ứng củ vă chỉ được bầu hai đại biểu (cuộc bầu cử đại biểu Quốc tiội khóa XI có 47/182 đơn vi bau cử được bđn 2 đại biểu) Trong luật bầu cử dại biểu Quốc hội nắm 1997 cũng không quy định rö đổi với những trường hợp bat khâ khâng vẻ nhđn sự trong bầu cử thị sẽ do cơ quan nảo có thẩm quyín xem xĩt, quyết định Vì vậy, việc quy định rõ Hội đẳng bầu cử sẽ xem xĩt, quyết định
Trang 23dối với những trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bat kha khang sé tao thuận lợi trong quá trình thực hiện khi xây ra sự việc này
Vibe quy dink số lượng cử trí tại mỗi khu vực bô phiêu không phù hop với
xổ dân cư: Điều 12 T.uật bầu cữ đại biểu Quốc hội năm 1997 quy định
Mỗi đơn vị bầu cử chia thanh nhiều khu vực bỏ phiếu Việc chia khu vực bỏ phiếu do Uỷ ban nhân đân xã, phường, thị trần quyết định và
do Uỹ bạn nhân dân cấp trên trực tiếp phê Mỗi khu vực bd phiếu
có từ ba trăm đến hai nghìn cử trì Ở miễn múi, hài đảo và những nơi đân
su không tập trưng thì đủ chưa có tới ba Irăm cử trì cũng được thành lận
một khu vực bỏ phiếu
Thực tế củng với việc tăng dân số cá mước và ở từng địa phương, mật độ dan số cũng tăng lên nhiều Vì vậy, mức trần tôi đa cử trí ở một khu vực bố phiếu quy định như Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 là không hợp lý Qua thực tế bảu cứ đại biểu Quốc hội khỏa XII cho thấy, tại những địa phương
có mật dé dan sé cao, nhiều khu dân cư có trên hai nghìn cử trì thì việc giới hạn khu vực bỏ phiếu tử ba tram dén bai nghin cử trì dã gây nhiều khỏ khăn cho dia phương trong việc thành lập khu vực bé phidu (116i déng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI đã phải có công văn cho phép Bình Dương thành lập khu vực bỏ
phiếu cỏ trên 2000 cử tri.)
Về chức năng nhiệm vụ và thành viên TẾ bầu cử: TỔ bầu cũ là tổ chức trực tiếp phụ trách công tác bâu cử ở cơ sở, thông thường, đơn vị hành chỉnh cấp
xã có từ 12-15 tổ bầu cứ Điều 17, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định:
Chậm nhất là ba mươi ngàu trước ngày bầu củ Chủ tịch lội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau khi thong nhất với UỦ ban nhân dân và Ban thường trực UỶ ban Mặt trận TẢ quốc cùng cấp quyết định thành lập
ở mỗi khu vực 66 phiéu một Tả bầu cử từ năm đến mười mỘI người, gồm
TẢ trưởng, TẢ phỏ, Thư kỷ và các sỷ viên là đại diện Hội đẳng nhân dan,
ụ ban nhân dân, Uÿ ban Mặt trận TÔ quốc cùng cấp và dai diện cit tri &
16
Trang 24dịa phương Đơn vị vũ trang nhân dân thành lặp ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một TẢ bầu cử từ năm đến chín người, gẫm TÔ trường, TẢ phá, Thư ký và các tỷ viên là đại dign Chi huy đơu vị và đại điện quân nhân Trong trường hợp don vj vii trang nhân dân và địa phương có chung một
khu vực bà phiếu tlủ Chủ tịch Liệt đồng nhân dân xã, phường, thị trấn sau
khi thông nhất với Uý ban nhân dân, Ban thường trực Ủÿ ban Mặt trận TỔ quốc cùng cắp và Chỉ huy don vị vũ trang nhân dân quyết dịnh thành lập
Tổ bầu cử từ năm đến mười một người, gồm đại điện Hội đồng nhân dan,
Tỷ bạn nhân dân, Uỷ bạn Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, đại diện Chỉ huy
đơn vị, dại diện quân nhãn và dại diện cứ trí ữ địa phương
Trên thực tế, nhiều Tổ bu cử không có đủ số người đại diện của Iiội déng nhân đân và Ủy ban nhân dân Đây là thực tế vướng mắc trong dot bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và khóa XI (ví dụ như ở tính Bắc Ninh trong cuộc bau
cử đại biểu Quốc hội khóa XII, khi thiển thành phan đại điện Ủy ban nhân đân trong Té bau cử và Hội dòng bầu cũ phải có hướng dẫn cụ thể đối với các trường, hợp này theo hướng đổi với xã, phường, thị trần cỏ địa bản lớn, có số đân đồng
phải thành lập nhiêu Tế bâu cử thì không nhất thiết trang thành phân các Tổ bầu
cử phải có đại điện Ủy ban nhân dân) Ngoài ra, Tổ bầu cử là tổ phức ở cơ sở và
là Tổ chức phụ trách trực tiếp công tác bẫu cử trong khu vục bỏ phiếu, là tổ chức liên hệ trực tiếp với cử trị địa phương, nhận tài liệu và phiểu bầu từ Ban bầu cử
để phát cho cử trí nhưng những nội dung rảy lại không được quy đính cụ thé trong Luật Trách nhiệm của Tổ bầu cử đổi với những khiếu nại, tổ cáo về công tác hâu cử đo Tổ bảu cữ phụ trách cũng không được để cập, như vậy, thực tế sẽ dẫn đến tỉnh trạng Tổ bầu cử không có trách nhiệm gì trong giải quyết khiếu nại
tổ cáo đối với lĩnh vực mình phụ trách, và mọi khiếu nại, tổ cáo về công tac bau
cử của Tả bầu cử lại đến lên Ban bầu cử xem xéi và giãi quyết, trong khi đó, Ban bau cử cũng dã quá tải với công việc tổng hợp trực tiếp kết quả bau ou tir hang trăm đến hàng nghin các Tổ bâu cứ khác nhau
Về thời gian, thời điểm kết thúc cuộc bỏ phiếu
Trang 25Điều 57 Luật bâu cử dại biểu Quốc hội 1997 quy dịnh:
Việc bỏ phiếu bắt đầu từ bảy giò sáng đến bắp giỏ tối Tu) tình hình địa phương, Tổ bằu cử có thé quyét định cho bẮt đâu sám hơn những
không dược trước năm giờ vắng hoặc kết thúc muộn hơn nương không
được quá muời giờ đêm Trước khi bỏ phiêu, TẢ bầu cử phải kiểm ira hom phiêu trước sự chứng kiên của cử trí
tổ bầu cử Thực tế, trong cuộc bảu cử dại biểu Quốc hội khóa XII, một số dia phuong nhu Da Ning, Ila Tây cũ đã phải để nghị lội đồng bầu cử hướng dẫn
vỗ trường hợp kết thúc sớm cuộc bỗ phiếu lại các tổ bầu cử Hội đồng bầu cử hưởng dẫn theo hưởng trong trường họp ð khu vực bỏ phiếu đã cd 100% eu tri di
bố phiền thỉ Tổ bầu củ có thể tuyên bố toản bộ cử trí trong đanh sách đã ba phiêu
xong và kết thúc cuộc bộ phiếu lại khu vực bỏ phiếu đó
Về xác nhận việc bd phibu trén thé cit tri
Trong cuộc bầu cử dai biéu Quéc héi khda XI, 6 tỉnh Bắc Ninh đã phải tiên hành bâu cử lại ở khu vực bổ phiếu số 3 (thôn Dương I.ôi, xã Tân Hẻng, huyện Từ Sơn) do Tế bầu cử đã khỏng đóng đấu vào “đã bó phiếu” trên thé cứ trí Quy định của Luật bu cử đại biểu Quốc hội không đề cập đến nội đụng này Như vậy sẽ đẫn đến tình trạng khỏ xác định được việc cử trí đó đã di bau hay
chưa và cũng khó cho Tỏ bảu cử theo dõi danh sách cử trí,
ề thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các td chức phụ trách bầu cứ
18
Trang 26‘Theo quy dinh cua Luat bau cử thì Ủy ban bầu cử hết nhiệm vụ sau khi Tội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử trong cả nước Thực tế cho thấy các tổ chức phu trach bau cit 4 địa phương vẫn phải tiếp tục hoạt động khi Hội đồng bầu cử dã công bố kết quả bầu cử trong cả nước dễ thực hiệu một số ông việc
như thông báo kết quả bâu cử, quyết toán kinh phí, giải quyết các vướng mắc
phái sinh về kinh phi bau cử, xem xét các để nghị khen thưởng và một số công việc khác đề tổ chức hội nghị tổng kết cuộc bầu cử ở dịa phương Vì
ý, quy
định về thời điểm kết thúc nhiệm vụ của tô chức phụ trách bầu cử địa phương như luật là không phù hợp với thực tiểu tổ chức các cuộc bầu cử
21.2 Thực trạng pháp luật về bầu cử đại biểu lội đẳng nhân dân qua
cuộc bằu cũ đại biễu HĐND nhiém kp 2004-2009
Luật bâu cử đại biểu Hội đổng nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội khéa IX
nh thần của Hiến pháp 1992 Qua thực tiển áp dung,
thông qua năm 1994 theo
Luat đã gốp phần quan trọng vào việc tố chức tốt cuộc bau cử đại biếu lội đồng,
nhân dân nhiệm kỳ 1994-1999 và nhiệm kỳ 1999-2004, tạo sơ sở pháp lý quan trọng cho việc kiện toàn, củng cổ tổ chức và hoạt dộng của chính quyển các cấp
Tuy nhiên, qua thục tiến tổ chức cuộc bảu cử đại biểu Hội đồng nhân dan qua hai
nhiệm kỳ cho thấy Luật bau cử đại tiểu Hội đẳng nhân dân còn bộc lộ ruột số hạn chế nhất dịnh như tiêu chuân, số lượng dại biểu, quyền bầu cử, ứng cứ, giới thiệu người ứng cử đại biểu IIội đồng nhân đân; về nhiệm vụ, quyền hạn của các
tổ chức phụ trách bầu cũ; quy trình hiệp thương lựa chợn, giới thiệu người ra từng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chưa được cụ thể hỏa và không phủ hợp với
tình hình thục tiễn đặt ra Do đó, dé quán triệt Nghị quyết Dại hội lần thứ IX của
Đảng và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương vẻ xây dựng và hoàn thiện chính quyển địa phương các cấp, phát huy quyền lảm chủ của nhân dân, nâng cao chất lượng và hiệu quả của đân chủ đại điện, từng bước mở rộng và phát huy đân chủ trực liếp cũa nhân dân ở các địa phương Vì vậy, tại kỳ hợp thứ
4, Quốc hội khóa XI tháng 11 nầm 2003, Quốc hội thông qua Luật bầu cử đại
19
Trang 27biểu Héi déng nhân dâu (sửa dỏi) Luật cụ thé hóa những nội dung mới của Hiển pháp 1992 và được triển khai có hiệu quả trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân đân nhiệm kỳ 2004-2009 Tnật bầu cứ đại biến Hội đồng nhân đân được Quốc hội ban hành nấm 2003 đã cơ bản khắc phục những vấn dễ vướng mắc
trong thực tế bảu cử đại biển Hội đồng nhân dân các cấp thea quy định của luật
bầu cữ đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi, bỗ sưng năm 1994, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm từ cuộc bầu cử dại biểu Quốc hội, diều chỉnh tương đối
tổ bầu cử; về thời bạn kết thúc cuộc bổ phiểu, về giải quyết khiếu nại, tổ
trong công tác bau cử ở Tế bảu cư Những diễu chỉnh căn bản dó dã góp phần thành công trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân đân nhiệm kỳ 2004-2009 Tuy nhiên, qua viếc triển khai thực hiện các quy định của Luật Bảu cử dại biểu Hội đồng nhân dân còn cho thấy bộc lộ những quy định thiếu hợp lý, đó là:
Về thành lập khu vục bỏ phiếu của các đơn vị lực lượng vũ trang
Theo quy định tại Diéu 57 của Luật bầu cử dại biểu Hội đẳng nhân dân
2003 thi: “các đơn vị lực lượng vũ trang thành lập khu vực bó phiếu riêng”
Như vậy, với những đem vị vũ trang với quy mê nhỏ, số lượng cử tri ít mà thành
Tập một khu vực bỏ phiêu riêng thì sẽ không đâm bảo số lượng cử trí và trên thực
tế, cũng không phái đơn vị lực lượng vũ trang nảo cũng có thể liên kết với đơn vị
cấp trên trong cùng một đơn vị bành chính để thành lập riêng một khu vực bỏ
phiếu được vì như vậy sẽ gây khó khăn cho người đi bầu Thực lễ, có những đơn
vị lực lượng vũ trang như đơn vị hộ đội biên phỏng quân số ít thì sẽ gặp lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện
Và việc gửi biên bản và phiếu bằu
Điều 59 Luật bau cử dại biểu Hội đồng nhân dân quy dịnh “ Biên bản kiếm phiếu được lập thành ba bản, có chữ lý của TẾ trưởng, Tả phó, Thư ký TỔ bầu cử và hai cử trí được mời chững kiến việc kiêm phiếu dé giri dén Ban bau
cit, US ban nhan dân, Ban thường trực Uÿ ban Mặt trận TÔ quốc Việt Nam xã,
Trang 28phường, thị trần” Biên bản kiểm phiêu, phiểu bầu và cáo tài liệu khác về bầu cứ
là những tài liệu quan trọng và là căn cứ thiết yếu để đánh giá kết quả bầu cử, trúng cử của đại biển trong khu vục bỏ phiếu Trong nhímg tài liệu đó thì phiến bau chỉ có duy nhất một bản Vì vậy, quy dinh như trong Luật bầu cử đại biểu
TIội đẳng nhân dân thì Tế bản cử sẽ phải chuyến giae biên bản kiếm phiếu, nhiều
au va các tải liệu khác tới ba cơ quan, tổ chức là: Ban bau cử, Ủy ban nhân dân
và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trân là không hợp lý và không khá thí trong thực tế Vì
vậy, trong tổ chức thực hiện, Tổ bau cử lũng túng không biết chuyển phiểu bầu cho cơ quan nào Theo Nghị định quy dịnh chỉ tiết thi hành một số diều của Luật bầu cử Hội động nhân dân do Chính phủ ban hành thì chỉ quy định Ủy ban nhân dân xã lưu trữ, quản lý số phiếu bầu không sử dụng đến đã dược Tổ bầu cử niềm phong và không đề cập đến số phiếu đã được sử dụng,
ầ việc hoãn hoặc bả phiêu sớm han ngày quy định
Trên thực tế cuộc bau cứ dại biểu Hội đồng nhân đân nhiệm kỳ 2004-2009
có một số khu vục bö phiếu, don vị bầu cứ của nhiều tính, thành phổ đề nghị
được tổ chức bỏ phiêu sớm hơn thời gian quy định Cũng có một số đơn vị bảu
cử, khu vực bỏ phiêu thuộc 4 huyện của tỉnh Bắc Ninh đã để nghị được hoãn ngày bố phiếu do chưa chuẩn bị kịp về nhân sự
Tuy nhiên, Luat bau cử đại biểu [Idi đống nhân dân đã không có quy định
xác định cụ thể tổ chức phụ trách bầu cử não có thẩm quyền xem xẻ, quyết định việc hoãn hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngảy quy định Irong khi đỏ, đổi với bầu cử
đại biểu Hội đẳng nhân dân thí có tới 3 Ban bầu cử khác nhau và có 3 Hồi đồng,
bần cử kháo nhau và cả 6 lỗ chức này cũng không có thẳm quyển Hong việc quyết dịnh hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bố phiếu sớm hơn Điều 54 Luật bầu ott dai biếu Hội đồng nhân dan quy định
Trong ngày bằu cử, cuộc bộ phiếu phải được tiễn hành liên tục rong trưởng hợp có sự kiện bắt ngờ làm gián doan việc bö phiếu thì TỔ
Trang 29bầu cứ phải lập tức niém phong giấy từ và hòm phiếu, kịp thời báo cáo cho Ban bầu củ biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để cuộc
b phiếu được tiếp tục Trong trường bợp đặc biệt cẩn hoãn ngày bé phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định Ủủ TỔ bằu cứ phải kịp thời
báo cáo Han bầu cứ biết đã đề nghị lội đồng bầu cử Hình có quan có
thâm quyền xem xét, quyết ñịnh
Đối chiếu với Nghị dịnh quy dịnh chỉ tiết thì hành một số diễu của Luật
bau et đại biển Hội đổng nhân dan do Chính phủ ban hành thí sự việc được giải
quyết theo hưởng Hội đồng bầu cử cấp tỉnh báo cáo Chính phủ để trình Ủy bạn
y nhiên, qua thực tế hoãn ngảy bỏ phiêu bau cứ
Tội đổng nhân đân tại 4 khu vực bỏ phiếu thuộc 4 huyện của tình Bắc Ninh
thưởng vụ Quốc hội xem xét
trong cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2004-2009 cho thấy thì Chính
phủ còn phải có sự thông nhất với Ủy ban Mặt trận Lễ quốc vả các cơ quan trung, uong thì mới trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét
Và thời diễm kết thúc nhiệm vụ của các lễ chức phụ trách bầu cử dại biếu
Hội đẳng nhân dân
Diéu 22, Luật bảu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định: “/76¡ đồng
bắu cũ hết nhiệm vụ sau khi đã trình biên bản tông kết cuộc bầu cử và hồ sơ, rài
liệu về bầu cử tại lỳ hẹp thứ nhất của Hội đồng nhân dân khoá mới Các Ban
bầu củ, Tố bầu cử hết nhiệm vụ sau khi lội đẳng bầu cử công bồ kết quả hầu
cử” Qua thực tế công lác bầu cử cho thấy các Ban bầu cử, Tổ bầu cử đối với bau
cử đại biểu Liệi đồng nhân đân vẫn phải tiếp tạo hoạt động sau khi 116i đồng bầu
cử công bá kết quả bầu cử để thực hiện một số công việc về quyết toán kinh phi,
giải quyết các vướng mắc phat sinh về kinh phí bâu cử Vì vậy, việc thực hiện những quy dịnh của luật hiện hành cũng gặp những, vướng mắc tương tự như đối với thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biếu Quốc
lội
Trang 302.13 Những vẫn đề mặt pháp lý đặt ra đối với cuộc bầu cũ chung đại biểu
Quốc hội khảa XIW và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2011-2016
đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII và kéo đải nhiệm kỷ Hội đồng nhân dân Năm 2011, chúng ta đã tiền hành bau cũ đại biểu Quốc hội khóa XI và đại biểu Hội đồng nhân đâncácc ap nhiệm kỳ 2011- 2016 Ngoài những thuận lợi của việc tổ chức bâu cử chưng như
đã nêu ở trên thì đặt ra tương đối nhiều vẫn để về mặt pháp lý cân phải giái quyết
liên quan đèn quy định của Luật bầu cử đại biếu Quốc hội và Luật bầu cử đại
Hội đồng nhân dân Với hai Luật bầu et khác nhau, trong đó có nhiều quy định khác nhau, điều này đã gây khó khăn lớn đối với sự chỉ đạo triển khai công tác bản cử, phát sinh những vướng mắc trong quá trinh chuẩn bị và tiền hành bầu
tao điên kiện thuận lợi cha quá trình chuẩn bị và tiễn hành bản cử chung và làm
cơ sở để tiến hành sửa dễi Luật Bằu cứ đại biêu Quốc hội và Luật Bầu cử Hội
Trang 31déng nhan dân sau này Những vẫn dễ pháp lý dit ra dược nghiên cứu sửa dối,
âu cử ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Ban bau cit & don vi bau ctr, Tổ
bắn sử ở khu vực bỏ phiếu Đối với bầu cứ Hội đồng nhân dân, Luật bầu cử đại
biến IIội đồng nhân đân năm 2003 quy định các tố chức phụ trách bảu cử đại
tiểu Hội đồng nhân đân gồm Hội đồng bầu cô, Ban bầu cử; Tổ hầu cử Vì là cuộc bảu cử chung, đo đỏ theo quy dịnh của từng luật về bẩu cử thì phải thành lập nhiều tổ phụ trách bau cit đề thực hiện công tác bẩu cứ đại biểu Quốc hội và bau cử đại biểu Hội đẳng nhân đân tmg cấp sẽ gây khó khăn không nhỏ cho chỉnh quyền dia phương trong công tác bố trí nhân sự tham gia các tổ chức phụ trách bầu củ Vi vậy, để tổ chức thực hiện bảu cử đại biểu Quốc hội và bau civ đại biểu Hội dòng nhận dân các cấp trong cùng một ngày có tính khả thị, bảo dam thuận lợi, tiết kiệm cho quả trình chuẩn bị vả tiến hành bầu cử hai Luật bau
cử đã được sủa đổi theo hướng quy định kết hợp một số tổ chức phụ trách bầu cử
bầu cử đại biếu Quốc hội và bầu cử đại biểu
118i déng nhân dân, quy định thông nhất vẻ chức năng, nhiệm vụ, thành phân và
có thể thực hiện đồng thời công tả
số lượng thành viên các tổ chức phụ trách bản cử
ấn đề cơ quan chủ trì thành lập các lỗ chức phụ trách bầu cử Luật bằu cử đại biểu Quốc hội quy định cơ quan chú trị thánh lập các tổ
chức phụ trách bảu cử ở địa phương là Thường true 116i đồng nhân dân Trong,
khi đó, T.uật bầu cũ đại b
u Hội đẳng nhân đân lại quy định Ủy ban nhân đân chủ trì thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử dại biểu Hội đồng nhàn dân Khi thực hiện bâu cử chung không thế một tổ chức bầu cử lại có hai cơ quan chủ trì thành lập được.
Trang 32Van dé sé lượng cử trị tại mỗi khu vực bá phiếu và việc thành lập khu vực
bỏ phiêu đối với đơn vị lực lượng vũ trang
Luật bâu cũ đại biển Quốc hội quy định số lượng cử tri ở mỗi khu vực bố phiếu từ ba trăm dến hai nghìn cứ trí, Luật bầu cữ đại biểu Hội đồng nhân đân quy định số lượng cử trị ở mỗi khu vực bỏ phiêu từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri
Do bau cit dai biéu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong củng một ngày nên cần phải sửa dỗi thống nhất vẻ số lượng cử trí tại mỗi khu
vực bỏ phiéu, bởi nêu bản cử chung thì khu vực bỏ phiêu bâu cử đại biểu Quốc
tội phải đồng thời là khu vực bộ phiếu bầu cũ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Ngoài ra, trong cũ hai luật về bau cu déu cé quy dinh don vị lực lượng, vũ trang thành lập khu vực bỏ phiếu riêng Tuy nhiên, trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội lại bổ sung thêm trường hụp là đơn vị lực lượng vũ trang và địa phương có thể thành lập chung khu vực bỏ phiếu Nhu vay, phải nghiên cửu sửa đổi để thông nhất khi ap dung chung cuéc bau cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Héi déng nhân dân Hơn nữa, vẻ vẫn dễ này, thực tế khi tực hiện theo tùng luật trong cáo kỳ bầu cử trước đây cũng đã có những vướng mắc vì quy định không
cụ thể các tiêu chí để thành lập khu vực bỏ phiếu riêng của đơn vị lực lượng vũ
trang din đến nhiều cách làm khác nhau của các địa phương khi triển khai thực
hiện
Fé cde vin đề liên quan đến hoạt động bỏ nhiều
Với đối Lượng cũ trí chung cho bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại bigu 111 déng nhân dân, thì các quy định về cách thức bầu cứ phải có sự thống
nhất và có quy định cụ thể mỗi cử trí cá quyển bả một phiên bần đại biếu Quốc
hội, bỗ một phiếu bầu cho mỗi cấp Hội đồng rhân đân và khi bỏ phiếu phải xuất trình thế cử trí Tế bằu cử phải cỏ nhiệm vụ phân dịnh rõ ràng việc cử trì dã di bau cử đại biếu Quốc hội và bâu cử đại biếu Hồi đồng nhân dân Để thực hiện dược điều này, cần có hướng dẫn thống nhất trên mỗi thê cử trí phải có các mục
về bầu cử đại biểu Quốc hội và mục về bầu cứ đại biểu Hội đồng nhân dan dé TS
kà
Trang 33bầu cử dòng dấu xác dinh ‘Thai diém kết thúc cuộc bỏ phiéu som cũng, cần có sự thống nhất giữa hai luật về bầu cử Luật bau cir dai biển Quốc hội hiện hành không quy định thời điểm kết thúc cuộc bố phiến sớm trong khi đẻ Luật bản cử đại biểu Hội đồng nhân dân hiện hành quy định cụ thể khu vực bỏ phiếu nào đã
có một trăm phần tram sé ct tri di bau thi Tổ bầu cử đó có thể kết thúc cuộc bỏ
phiếu sớm hơn Vì vậy, phải có sự thống nhất theo quy định của Taật bau cử Hội
quyết dịnh kết déng nhan dan dam bao sự chủ động chơ các Tổ bầu cử trong việ
thúc cuộc bẻ phiếu sớm Thời gian bắt đầu và kết thúc cuộc bỏ phiếu trong Luật bần cũ đại biểu Quốc hội và Luật bầu củ đại biểu Hội đồng nhân dân thể hiện không thống nhất về thuật ngữ Đối với các trường hợp ngoại lệ theo tỉnh hinh địa phương, thì thời gian Tả bầu cử cho quyết định kết thúc muộn han được quy dịnh tại hai luật về bầu cữ lại khác nhau nên trong cuộc bầu cử chung cần phải
có sự thông nhất về thời điểm bắt đầu và kết thúc cuộc bỏ phiếu
Vấn để thời hạn niềm vốt danh sách cử trì và việc khiếu nại, giải quyết
khiêu nại về danh sách cử trí
Tại khu vực bỏ phiếu đối với cá bầu cử đại biểu Quốc hội và bau cử đại biếu Hội đảng nhân đân thỉ chỉ có một danh sách cử tri Tuy nhiên, việc quy định thời hạn riêm yết danh sách cử iri va việc khiêu nại, giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri lại khác nhau Lutật bầu củ Quốc hội quy định thời bạn niềm yết danh
sách cử tri là 30 ngày trước ngày bảu cử, trong khi đó, Luật bảu cử đại biểu Hội
đồng nhân đân lại quy định thời bạn nảy là 35 ngày Thời bạn phát hiện sai sót
và khiếu nại với cơ quan lập danh sách đổi với Luật bầu cử đại biểu Quốc hội là trong vòng 20 ngày kế từ ngày niêm yết danh sách cử tri vả các tố cáo, kiến nghị
đó được giải quyết trong vòng 3 ngày kể lừ ngày nhận khiếu nại, tổ cáo Đối với Luật bầu cử đại biểu Hội đổng nhân dân thi thoi han nay lan lượt là 25 và 5
ngày Mỗi khu vực bộ phiêu chỉ có một danh sách cử trì nên quy định về thời hạn
liên quan đến danh sách cử trí đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa hai luật,
VỀ quy trình hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định
Trang 34rong thực tế các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bâu cứ đại biểu Hội
đồng nhân dân có trường hợp đặc biệt cần phải hoần ngày hỏ phiếu hoặc bỏ phiển sớm hơn ngày quy định Với luật bau ett dai biểu Quấc hội quy định “Ban bắu cử sau khi lẫy ý kiến của Tả bầu cử phải kịp thời báo cáo các (ỗ chức phụ
tách bầu củ cấp trên biết đề để nghị liội đồng bầu cử xem xét, quyết định"
Trơng khi đó, Tuuật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân đầu lại quy định “7ö bầu cứ phải kịp thời bảo cáo Ban bằu cử biết dễ dễ nghị Hội ddng bau cit trinh cơ quan
cá thấm quyền xem xót, quyết định” Như vậy, đôi với bầu cũ đại biên Hội động nhân đần vẫn chưa xác định cụ thể eo quan có thâm quyền xeit xét quyết định Nếu áp dụng quy trình nảy theo Luật bầu cử dại biêu Quốc hội thì cũng không, hợp lý vi Ildi dang bau cử đối với bầu cử đại biểu Quốc hội chỉ có một, nhưng dối với bầu cử Hội dòng nhân dân thì lại có tới 3 tổ chức Hội đồng bầu cử ở các cấp, VÌ vậy, với củng một việc, củng một đổi tượng điểu chỉnh cân phải có sự
thống nhất vẻ quy trình đễ tạo sự thuận lợi, thông suốt trơng quá trình triển khai
Đẻ thực hiện dược điều này cần phải có sự thống nhất, phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội va bâu cử đại biểu Hội
đồng nhân dan
iệc lập biên bản kết quả kiểm phiếu của Tổ bầu cứ
Lập biên bán kết quả kiểm phiếu lá nhiệm vụ của các Lễ bầu cử phải thực
hiện sau khi kiểm phiếu xeng Tuy nhiên vẻ các thông tin trong biển bản kiếm
phiếu của Tổ bẫu cử lại khác nhau giữa I.uật bau ci đại biểu Quốc hội và Ludt bầu cử đại biểu lội đồng nhân dân Thực tế cho thấy việc lập biên bản kết quả kiếm phiếu là công việc đòi hỏi sự chính xác cao, lại phải hoàn thành trong ba tigay sau ngày bầu cử đổi với các TỔ bầu cử nên các thông tín cẩn thiết trong biển bản phải đơn giản, để hiểu, dễ thực hiện đối với các thành viên Tổ bầu cứ
Vi vậy, với riêng thông tin“ lệ cứ mì đã tham gia bộ phiếu so với tong sé ctr trị” như yêu cảu của Luật bau cử dại biểu Quốc hội lại là một vẫn dễ phức tạp đối với các thành viên Tế bầu cứ khi phải tính đúng tý
Trang 35“sé phiéu phat ra; sé phiếu thu về” bên cạnh các thông tin chung khac Ngoai ra, quy định các cơ quan nhận biên bản kiểm phiêu từ Tổ bầu củ gửi đến cũng không thông nhật giữa hai lật vẻ bâu cử Luật bản cử đại biểu Quốc hội quy dinh Té bau cử phải gửi biên bản kiểm phiéu Loi 4 don vi, trong khi đó Luật bảu
cử đại biểu Hội đổng nhân dân quy định chỉ gửi biên bản kiểm phiếu tới 3 đơn vị
là Ban bầu cử, Ủy ban nhân đân, Ban Thường trực Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam xă, phường, thi tran mẻ khỏng gửi đến Chú tịch Hội dễng nhân dân Điều này cũng phủ hẹp với thực tế vi Hội đồng nhân dan làm việc theo chế độ tập thê quyết định theo da sé tại các kỹ hợp Vì vậy, nêu biển bản kiểm phiêu gửi đến Chủ tịch Hội đồng nhân dân thì cũng không thể hiện rõ mục dịch của hành động, này Trong điều kiện bầu củ đẳng thời đại biểu Quốc hội và bau cử đại biểu Hội dồng nhân dân thì quy dit về nội dưng biên ban kiểm phiếu phải được thể hiện thống nhất
214 Luật bâu cũ đại biểu Quốc hội và luật bầu cũ đụi biểu Hội đẳng
nhân đân sửa đổi, b sung năm 2010 qua thực tién dp dung
Từ những vân để pháp lý đặt ra khi tổ chức bầu cứ đại biểu Quốc hội và
đại biểu Hội đồng nhân dan cing thời điểm như đã nêu ở trên, năm 2010 Quốc
tiội liên hành sửa đối, bộ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội va Lut bau cif dai
biểu Hội dồng nhân đâu Theo đó, Luật Bau cit dai biéu Quốc hội và Luật bầu cứ đại biểu 116i déng nhân đân sửa đổi, bỗ sung tập trung sửa đổi một số văn đề liên quan đến công lác Lỗ chức bầu cử Cụ thể những điểm sửa dỗi cơ bản là:
Điều 12 của Luật bầu cử ĐBQH, Điều 13 của Luật bầu cứ dại biểu HĐN])
sửa đổi quy định vẻ khu vực bỏ phiểu và số lượng cử trí trong mỗi khu vực bỏ phiểu Luật sửa đổi, bỗ sung quy dịnh về số lượng cử trí lại muỗi khu vực bố phiếu vả quy định khu vực bố phiêu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời lá khu
vực bỏ phiên bâu cử đại biểu IIội đồng nhân dân các câp Sẻ lượng cử trí tại mỗi
khu vực bỏ phiến được sữa đổi thông nhất tir ba trăm đến bổn nghìn cử trí Với
sẽ lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu được quy định với biên độ dao động từ
Trang 36ba trăm đến bên nghìn cử trí sẽ vẫn báo đảm thuận lợi cho việc bỏ phiếu của cử tri cũng như việc thành lập các khu vực bỏ phiến; đồng thời cũng không gây quá tôi về công việc đổi với các Tổ bản cử trong điều kiên đã tăng số lượng thánh viên Lại mỗi TẾ bầu cử, Đối với những dia ban và don vị có đặc thù riêng sẽ tủy
thuộc vào số lượng cử tri và điều kiện cụ thé mà các co quan có thắm quyên sẽ
thành lập khu vực bỏ phiếu riêng hoặc phối hợp với các nơi khác thành lập khu vực bỏ phiếu chung nhằm bảo dảnt thuận lợi nhất cho cử trì di bầu cử Đối với những nơi không có đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thì việc chia khu vực
bộ phiếu do Uy ban nhân đân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết dink,
Về các tổ chức phụ trách bảu cử (Diều 14 của Luật bâu cử đại biểu Quốc
di và Điều 15a của Luật bầu cử đại biểu Hội đẳng nhân dan), theo đó Hội đồng, bau cứ được gọi chung là Hội đồng bầu cử †rung ương, vi chi co duy nhất một TIội đẳng bầu cử nên không phải đổi tên
Về các lỗ chức phụ Irách bầu cử ở địa phương, trong điều kiện bầu cứ
chung vả thống nhất về tổ chức của một số tổ chức phụ trách bầu cử, Luật sửa
đổi, bổ sung đã giao cho Ủy ban nhân đân là cơ quan chủ trì thành lập các tổ
chức phụ trách bầu cử ở địa phương để đâm bảo tính thống nhất trong toán quốc
về cơ quan chú tri thành lập tổ chức phụ trách bầu cứ (ví Ủy bạn nhân đân có đây
đủ ở cả ba cấp; trong khi đó, ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ
chức Hội đẳng nhân dân huyện, quận, phường sẽ không có Thường trực Hội
đồng nhân dân)
Uy ban bằu cử đại biếu Quốc hội và đại biển Hội đồng nhân dân cắp tĩnh,
Điều 15 Lnột bầu cũ đại biểu Quốc hội, Điều 16 Luat bầu cử đại biểu Hội đông
nhân đân đã dược sữa dỏi, bỗ sung, Theo đỏ, luật sửa dỏi, bỏ sung đã thành lập
Uy ban bau ct dai biéu Quốc hội và đại biểu Hội đẳng nhân dân cấp tỉnh để thay thể và thực hiện chung nhiệm vụ, quyền hạn của cả Ủy ban bầu cữ đại biểu Quắc hội vả Hội đồng bầu cứ đại biêu Hội đồng nhân dân cấp tính Các Hội đồng bầu
Trang 37cử dại biểu Hội déng nhan dan cấp huyện, cp x cing duge doi tén trong ứng, thành Ủy ban bau ott (Diéu 15 Luat bau ctr dai biéu TI6i déng nhân đân sửa đổi,
bố sung) Điều 16 và 82 của Iuật bâu cử ĐBQH, khoản 1 Điều 17 và Điểu 70
của Luật bầu củ dại biểu HĐND sữa đổi quy dink vé Ban bầu cử, theo dó luật đã
sửa đối về cơ quan chủ trì thành lập, thành phần Ban bảu cử đại biểu Quốc hội
nhằm bảo đảm tinh thẳng nhàt, với việc thành lập lô chức phụ trách bầu cử ở cấp tinh va cap x4 Điều 17 và Điều 83 của Luật bâu cử ĐBQH, Điều 18 và Điều 71 của Luật bầu cử đại biểu HĐKD cũng sửa đải quy định về Tổ bau ct Theo dé,
đã quy dinh Té bau cit đẳng thời thực hiện công Lic bẫu cử đại biểu Quốc hội va dại biểu Hội déng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã tại củng một khu vực
bổ phiên Tổ bản cử sẽ được tăng thêm số lượng thành viên Sửa đổi thắng nhất quy định về cơ quan chủ trí thành lập, thành phần và số lượng thành viên của Tỏ bầu cử (tử 11 đến 21 người)
Tiểu 46 của Luật bâu cử đại biểu Quốc hội cũng đã sửa đổi, bố sung quy dịnh vẻ số người ứng cử ở mỗi don vi bau cử dại biểu Quốc hỏi theo hướng “Số người trang danh sách img cit dai biêu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cứ phải nhiều hơn số đại biếu được bầu & don vi 43; nêu đơn vị bầu cử đó được bau ba dai biểu thì
§ người trang danh xách ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu iL nhất là hai người 1rong irường bợp khuyết người ứng cứ vì [g do bắt khả khang
thì do Hội đồng bầu cử quyết định” Quy định và số đư trong Luật sửa đối, bỗ
sung là quy định clumg cho tất cả những người ứng cử ở đơn vị bầu cử đỏ mà
không phân biệt ứng cử viên do trung ương hay địa phương giới thiệu Trường
hợp khuyết người ứng cử trong những trường hợp nêu trên thi Hội dong ban cir
có thể quyết định chọn người có tín nhiệm cao nhất trong số những người còn lại
ở đanh sách đã hiệp thương lần thứ ba để đưa vào danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc quyết định điều chuyển người ứng cử ở don vị bầu cử khác trong phạm vi tỉnh, thành phổ trực thuộc trung ương hoặc quyết định giăm số đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cứ đó
30
Trang 38Điều 57 của Luật bầu cử ĐBQH, Điều 48 ctia Luat bầu cứ đại biểu HĐND
đã sửa đổi quy định về thời gian bầu cử Trong điều kiện bầu cử chung cả đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân đân thì quy định tại hai Tuật bầu cử về kết thức sớm cuộc bầu cử không còn phú hợp Vì vậy, Luật sửa dỏi, bổ sung một
số điêu bỏ quy định về kết thúc cuộc bỏ phiêu sớm hơn ở những khu vực bỏ
phiếu đã có 100% cử trí đi bầu tại Điều 48 của Luật bản cũ đại biểu HĐND và siữ nguyên quy dịnh tại Điều 57 của Luật bầu cử dại biểu Quốc hội
Điều 55 của Luật bầu cử đại biểu, Điền 54 của Luật bầu cử đại biếu Hội đồng nhân dân sữa đối quy định về trường hợp hoãn hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy dịnh, theo dò trưởng hợp dặc biệt cần hoãn ngảy bỏ phiếu hoặc bỏ phiéu som hơn ngày quy định thi Tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo Ban bầu cử để
dé nghi Uy ban bau củ trình Hội đẳng bầu cử xem xẻ, quyết định
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về bau cir trong thời gian qua
Tmật bầu cử đại biểu Quốc hội và luật bản cử đại biểu Tiội đồng nhân dân qua các lân sửa đổi, bố sung là cơ sở pháp lý quan trong để tiên hành các cuộc bầu cử trong thời gian qua Qua các lần sửa dồi, bố sung, hai luậi này ngày dẫn
được hoàn thiện, những bắt cập, hạn chế trong luật dân được khắc phục nhằm
phủ hợp hơn với tình hình thục tiễn, góp phần làm niên thành công cổa các cuộc
bầu cử dại biểu Quốc hội và bảu cũ dại biểu Hội đồng nhân dân thời gian qua
‘Tuy nhién, do tinh chất phúc tạp của cỏng tác bầu cử và các nội dung các quy định của luật bầu cữ có liên quan đến Lương đối nhiều các văn bản pháp luật kháe nên mặc du dã dược nghiên cứu, sửa dỗi bỏ sung nhiều lần nhưng trên thực tế mới chỉ đùng lại ở việc sửa đổi những vấn để nhỏ, chủ yếu mang tỉnh kỹ thuật, những vẫn để cơ bản, cốt lõi của các quy dmh vẫn chưa dược sửa đôi, bỗ sung, một cách đầy đủ, toàn diện nên qua thực tiễn áp đụng còn bộc lộ khá nhiều bắt
cập, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của Quốc hội và Tội đồng
thiân đân Những tôn tại đó thể hiện ở một số vẫn đề cụ thể sau đây
31
Trang 393.21 Lễ tiêu chuân dại biểu Quốc hội và dại biểu Hội dỗng nhân đân
Đối với đại biểu Quắc hội
Theo quy định tại Diễu 2, và Diễu 3 luật bảu cử đại biểu Quốc hội năm
1997 (sửa đổi, bỗ sung năm 2000 vả năm 2010) thi đại biểu Quốc hội phải có các
diễu kiện và liều chuản sau:
Vẻ diễu kiện, người muốn ứng cử đại biểu Quốc hội phải là công dân
nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, không phản biệt đân tộc, nam nữ,
thành phần xã hội, tin ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghệ nghiệp, thời hạn
cư trú, đủ mười tảm tuổi trở lên đều có quyền bầu cứ và đú 21 tuổi trở lên đếu có quyền ứng cữ đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật
Điều 3 của Luật này quy dịnh đại biểu Quốc hội có 5 tiểu chuẩn sau dây:
‘Trung thánh với Lẻ quốc và Liiễn pháp nước Cộng hoả xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, phân đâu thực hiền céng cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
dai hoá dat nude, lam cho dân giảu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Cỏ phẩm chất đạo đúc tốt, cần kiệm liêm chỉnh, chỉ công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, kiến quyết đầu tranh chỗng mọi biểu hiện quan liêu, hãch dịch, cửa quyền, tham những và các bành vi ví phạm pháp luật, Có trình đệ
và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vẫn
để quan trọng của đất nước; Liên hệ chặt chế với nhân dân, lắng nghe ý kiến của uhan đân, được nhận đân tin nhiệm; Có điểu kiện tam gia các hoại động của Quốc hội
Đi với đại biểu Hội đồng nhân dân
2010) quy định các điền kiện và tiêu chuẩn sau đây:
điêu kiện, Đại biểu Hệi đổng nhân dân phải là “cêng dân nước Cộng
hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dàn tộc, rann nữ, thành phần xã
hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời han ew tra, du
32
Trang 40mudi tam tuổi trỡ lên có quyên bầu cứ và dủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền
ứng cử đại biểu Iiội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”
Về tiêu chuẩn, Điều 3 của Luật này quy định đại biếu Hội đẳng nhân đân phải có 5 tiểu chuẩn sau dây: Trung thành với Tổ quốc Việt Nam x hội chú nghĩa, phân đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây đựng, phát triển địa phương; Có phẩm chất đạo đúc tôi, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực dấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, của quyền, tham những, lãng, phí và cáo hành ví ví phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển
va loi ich hop pháp của công dân, Có Hình độ và nững lực thực hiện rhiệm vụ dại biểu Hội dồng nhân dân, có khả năng tuyên truyền, vận động gia dinh va nhản đân thực hiện chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình kinh tế - xã hội để tham gia quyết dịnh những van để quan trong ở địa phương; Liên hệ chặt chế với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; Có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đổng nhân dan
Qua quy định vé didu kiện và Š tiêu chuẩn về đại biểu Quốc hội và 5 tiêu chuẩn vẻ đại biểu Hội đồng nhản dân cho thấy, các quy định này rất chung
chưng, không cụ thể, thiểu định lượng Những điều kiện, tiêu chuẩn như: Trung,
thành với Tổ quốc và Hiển pháp Có phẩm chất đạo đúc lối Có trình độ va
năng lực liên hệ chặt chế với nhân dân Có điều kiện tham gia các hoạt động
của Quảo hội, Hội đồng nhãn dân là những quy định vừa đễ và vừa rất khó đế
căm cứ lựa chọn được những ứng cử viên làm đại biếu Quốc hội hoặc đại biểu TIội đồng nhân dan bao dam chất lượng, trong khi đó đối tượng được quyền ứng
33