1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn chế Độ pháp lý của các hợp Đồng xuất khẩu nhập khẩu Điện năng giữa việt nam với nước ngoài

100 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Độ Pháp Lý Của Các Hợp Đồng Xuất Khẩu Nhập Khẩu Điện Năng Giữa Việt Nam Với Nước Ngoài
Tác giả Đặng Viết Dũng
Người hướng dẫn PGS. T.S Nguyễn Tiền Vĩnh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Để tải này tập trưng đi sâu nghiên cứu các quy phạm pháp luật Việt Nam, quy phạm pháp luật của nước xuất khẩu NXK, nước nhận khẩu NNK} và các Điều ước quốc tế giữa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NOT

KIIOA LUẬT

DANG VIET DUNG

CHE 80 PHAP LY CUA CAC HOP BONG XUAT KHAU, NHAP KHẨU

ĐIỆN NĂNG BIỮA VIỆT NRIM VI NƯỚC NGDẢI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TIA NOI - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NOT

KIIOA LUẬT

DANG VIET DUNG

CHẾ BỘ PHÁP LÝ ỦA CÁC HP ĐỒNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

DIEN NANG GIUA VIET NAM VỚI NƯỚC NGOAI

Chuyên ngành: Luật Quốc Tế

Mã số: 8.38010106

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Căn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYÊN TIỀN VINH

HÀ NỌI -2019

Trang 3

LOI CAM DOAN

Tôi cam doan ludn vdn là công trình nghiên cứu của mình,

Nội dung luận văn có sự tham khảo và kế thừa cáo công trình, ấn

phẩm và các bài viết đã công bồ có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn có tính lý luận và thực

niễn Học viên đã hoàn thành các môn học và các nghĩa vụ tài chỉnh

theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi xin chân thành câm ơn!

Người cam doan

Đặng Viết Dũng

Trang 4

LOI CAM ON

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi trần trọng cằm on Khoa Luat hoc — Dai hoc Quốc gia Hà Nội và các giảng viên đã giảng dạy Khod 22 - Cao học Luật quốc tế đã tận tình quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện

thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cửu tại trường

Đặc biệt, tối xin chân thành cảm ơn Phó Giáo su/Tiên sỹ Nguyễn Tiền Vĩnh

đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ người viết luận văn trong suất quá

trình nghiên cứu và hoàn thiên luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đẳng chỉ lãnh dạo và déng nghiệp của

tôi tại Tân Äoàn Điện lực Việt Nam, Cục Điều tiất điện lực -Bộ Công Thương

Cục Diện lực và Năng lượng tải tạo-Bộ Công Thương, Vụ Pháp chế Bộ Công

Thương dã nhiệt tình giúp dã, cung cấp tư liệu, khảo sát thực tế và tạo diều

kiện thuận lợi cho tôi trong quả trình nghiên cứu đề hoàn thiện luận VĂn này

Mặc dù đã có nhiều cô gắng trong quả trình thực hiện dỄ tài, nhưng do

điều kiện nghiên cứu, khả năng và kinh nghiệm quân lý của bản thân có hạn,

luận văn chắc khó tránh khỏi những thiểu sói Kinh mong nhận được ý kiến

chỉ dẫn quý báu của Quý hội đẳng, các thấy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

đễ luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng!

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2019

Người nghiên cứu

Đặng Viết Dũng

Trang 5

MUC LUC

rang

Trang phy bia

Loi cam doan

XUAT NHAP KHAU DIEN NANG

Khái quát về Hợp đẳng xuẤt nhập khẩu (XNK) hàng hóa

Khai niém Hop ding XNK hàng hóa

Dic điểm của Hợp đẳng XNK hảng hóa

Đặc điểm của hợp đồng xuất nhập khẩu điện năng

Nguyên tắc, yêu cầu khi giao kết Hợp đồng XNKĐN

Nguồn luật diễu chỉnh Hợp ding XNKDN

Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đồi với Hợp đồng xuất nhập

Tiểu kết Chương 1

CHIƯƠNG 2: THỰC TIẾN PHÁP LUẬT QUỐC TE VA PHÁP LUẬT

21

211

CỦA MỘT SỐ QUỐC GIÁ ĐIỂU CHỈNH HOẠT DONG

XUẤT NHẬP KHẨU DIỆN NẴNG 21-2 Tiệp ước Hiến chương Năng lượng năm 1994

T.ịch sử hình thành

19

34

34 34

Trang 6

Quy định của pháp luật Việt Nam về xuất nhập khẩu điện năng

Nguồn 1uật điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu điện năng Chính sách quản lý

Các quy định về Thực tiễn hoại động xuất nhập khẫu điện năng tại Việt Nam

vả phát triển năng lượng điện ở Việt Nam

lợp đồng xuất nhập khẩu điện năng

Những hạn chễ, bất cập của pháp luật Việt Nam vê hoạt

động xuất nhập khẩu điện năng

pháp nhằm hoàn thiện

pháp luật Việt Nam về hoạt động xuất nhập khẩu điện năng

Một số kiến nghị, phương hưởng và gì:

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp tật về xuất nhập khẩu điện năng

Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thién pháp luật về quản lý

hoạt động xuất nhập khẩu điện năng

Trang 7

DANIIMUC TU VIET TAT

Cục điều tiết Diện lực

Tập doàn diện lực quốc gia Việt Nam

Hợp đông

Tlop đồng xuất nhập khẩu Hải quan cửa khẩu

Hệ thẳng diễn quốc gia

Hệ thẳng diễn quốc gia Hiển chương Năng lượng Quốc tế Luật quốc tế

Bộ Công Thương, Nước nhập khẩu

Nước xuất khẩu Hop dang mua ban điện

Quản lý nhà nước Quan ly Nha nude

Bản sửa đổi đối voi tinh vue Thuong mai

cia BCT

Thương mại quốc té

Xuất nhập khẩu điện năng,

Công ty lưới điện Văn Nam

Trang 8

MO DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năng lượng nói chung, điện năng nói riêng luôn giữ vai trỏ quan trọng

trong đời sống kinh tế- xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mả hâu

thất các thiết bị hiện đại phục vụ đời sống, con người và sân xuất đêu sử dụng

diện Điện năng dược coi là một phần quan lrọng của cơ sở hạ tầng luôn phải

đi trước một bước để tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển Có thể nói phái oó điện mới sẻ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, phát triển diễn năng là yêu cầu cấp thiết dể phát triển kinh tế

xã hội của đất nước Trong hoàn cảnh tại Việt Nam các nguồn phát điện ngày

một khan hiểm như hiện nay, việc dẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu điện năng (XNKĐN) dang trở nên hết sức cần thiể, XNKĐN là một quan hệ

thương mại quốc tế có những đặc thù nhất định, hoạt động này không chỉ

cung cấp diễn năng đắm bão đáp ứng nhu cầu xã hội, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế mà còn nhằm mục đích duy trì ẩn định an ninh năng lượng

quốc gia Chính vì vậy, ngành điện Việt Nam đã đặt ra sử mệnh “điện đi tước

một bước” trong giai đoạn này,

Điện năng là một loại hàng hóa đặc biệt, khác với các loại hảng hóa

thông thường khác về tính chất, phương thức giao nhận, đo đểm khi giao

dịch trên thì trường Lính chất phức tạp của của loại hàng hóa này cũng thể

hiện tính chất phức tạp của lợp đồng mua bản điện (PPA), đặc biệt là các

PPA qua biên giới quốc gia Hơn nữa, giá trị các PPA rất lớn ánh hưởng

đến cán cân thanh toán ngoại hối của của toàn ngành điện Do đó công tác

Trang 9

Ngoài ra, công tác quản lý Nhà nước (QLNN) đối với hoại động

XNEĐN còn nhiều bất cập, đặc biệt liên quan đến hoạt động thuế quan của các đơn vị IIãi quan Các quy định pháp luật về QLKN đối với hoạt động XNEĐN cỏn thiếu, chưa đồng bộ và chưa thể hiện các cam kết cúa Việt Nam

với các quốc gia trong khu vực mà Việt Nam đã ký Hiệp định tự do thương

xmại (TA) cũng như các điểu ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam là

quốc gia thành viên

Chính vì những lý do trên, cần có những nghiên cứu khoa học pháp lý

chuyên sâu dưới góc độ của Luật Quốc tế đối với các quy định pháp luật và thực tế hoạt đông XNKĐN nhằm thế chế hóa tích cực vai trỏ quản lý nhà

nước đối với hoạt động này

Vì những lý đo trên, láo giá luận văn đã lựa chọn đề tài “Chế độ pháp lý

của hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu điện năng giña Vier Nam với nước ngoài”

lâm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Luật Quốc tế (LQT)

2 Tỉnh hình nghiên cứu liên quan dén dé Lai

Trong khoa học pháp lý, hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa

đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, ở các cấp độ

khác nhau, từ các để tải nghiền cứu khoa học, khoá luận tốt nghiền của sinh viên, đến các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay các bài báo chuyên khảo Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu va toàn điện vé một loại hình hop ding

XNK cụ thể với loại hàng hoá đặc biệt là điện năng mới chỉ dùng lại ở các báo cáo quản lý ngành, niên giảm thống kê ngành mà chưa có công trình

khoa hoc cấp sau đại học náo thực hiện Cho dén nay, theo hiểu biết tốt nhất

của tôi, hầu như chưa có một đề tài nghiên cứu cấp thạc sỹ LỌT nào có đối

Lượng và nội dung nghiên cứu trùng lặp với để tài này

Việc nghiên cứu và triển khai các kết quả nghiên cứu của đề tài có ý

nghĩa quan trọng trong việc quản lý vả hoạch định chính sách phát triển

tạ

Trang 10

năng lượng điện của Việt Nam cũng như phục vụ cho công tác của tôi lại Công ty Mua bán diện — Tập đoản Điện lực Việt Nam

3 Mục đích, nội đưng nghiên cứu đề tài

3.1 Mạc đích nghiên của

lận văn có mục đích nghiên cứu nhằm làm rõ các cơ sở lý lận khoa học và thực tiễn của hoạt động XNKEN, trên cơ sở đó sẽ đề xuất các giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QINN dối với hoạt động XNKĐN,

đồng thời đề xuất các biện pháp tăng cường hiệu quả cho hoạt động đảm

phan, ky kết, thực hiện các hợp đồng mua bản điện với nước ngoài

3.2 Nội dụng nghiên cứu

- Làm rổ bản chất va các đặc trưng pháp lý của liợp đồng XNKĐN

so với Hợp đồng XNK hàng hóa thông thường khác, nhất là trong bối cánh

thực hiện chính sách quản lý năng lượng và tái cấu trúc ngành Diện của Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu làm rõ những quy định của pháp luật Việt Nam, các

DUQT song phương hoặc đa phương mà Việt Nam là thành viên liên quan

đến hoạt động XNEĐN

- Nghiên cửu các quy định pháp luật điều chính PPA của hoạt dông

XNKĐN trong khu vực

~ Phân tích, tổng hợp, đánh giả thực trạng XNKĐN trong 8 năm trở lại dây

- Dễ xuất, kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động XNKĐN từ các khâu xây dựng chính sách, quần lý thanh toán, đến

cơ chế kể khai và làm thủ tục hải quan tại các của khẩu có hoạt dong XNKDN

thông qua IITĐQG Việt Nam

- Đề xuất xây dựng một số quy định dưới luật nhằm nâng cao vai trò QINN (thông tư hoặc thông tư liên bộ), ban hành Hợp đồng mẫu áp dụng cho

các tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia hoạt động XNKDN tại Việt Nam.

Trang 11

4 Yêu cầu kết quả nghiên cứu

Phải đưa ra dược các dễ xuất, khuyến nghị, một số giải pháp, phương

pháp quản lý cụ thể nhằm kiểm soát và nâng cao hiệu quả công tác QUNN

trong hoạt động XNKĐN tại Việt Nam Cụ thể hỏa các dễ xuất và giải pháp

nảy thông qua các dự thảo quy định pháp luật quản lý chuyên ngành

5 Đôi tượng, phạm ví và phương pháp nghiên cứu

%.1 Đối tượng nghiên cứu

Để tải này tập trưng đi sâu nghiên cứu các quy phạm pháp luật Việt

Nam, quy phạm pháp luật của nước xuất khẩu (NXK), nước nhận khẩu (NNK} và các Điều ước quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới cũng như phán

luật về XNKPN của các quốc gia trong khu vực mà Việt Nam có quan hệ

XNKĐN trên cá phương điện lý luận vả thực tiễn

Phạm vì nghiên cứa

¡ Pham vi về nội dung: Các văn bắn quy phạm pháp luật (VRQPPL)

của quy phạm pháp luật cúa Việt Nam: quy phạm pháp luật của NXK, NNK:

điện năng và các Diễu ước quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới cũng như

pháp luật về XNKĐN của các quốc gia trong khu vực mà Việt Nam có quan

hệ XNKĐN

1 Phạm vi về đối tượng: Các tổ chức và cả nhân tham gia hoạt động XNKĐN với Việt Nam (có thể bao gồm cả quốc gia với tư cách là một bên tham

gia quan hệ thương mại quốc tế (TMQT), các PPA giữa một bên là pháp nhân

'Việt Nam đầu tư dự án BOT điện tại Lào và xuất khẩu điện cho Việt Nam)

+ Phạm vi về địa bản: Giữa Việt Nam và các quốc gia có chung đường

biên giới;

1 Phạm vì thời gian: Từ năm 2010 đến nay

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Dé thực hiện và hoàn thành để tải này, tôi sử đụng tông hợp các biện

Trang 12

phap nghién ciru khoa học nhằm làm rõ các vấn để mà mực đích nghiên cửu

đã dễ ra Cụ thể là

- Phương pháp biện chứng khoa học của chủ nghĩa khoa học Miác- Lê

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết và các quy luật thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu phân tích số liệu thực tiễn theo chu ky

- Nhóm các phương pháp xử lý thông tim: phần tích, thống kế, tổng

hợp, sơ sánh

6 Tỉnh mới và những dóng góp của dễ tài

Cho dến nay, theo hiểu biết tắt nhất của tôi, hầu như chưa có một đề tài

nghiên cứu cấp thạc sỹ T.QT nảo có đối tượng và nội dựng nghiên cửu trùng

lặp với đề Wai nay

Vide nghiên cứu và triển khai các kết quả nghiên cứu của đề tài gó ý

nghĩa quan trọng trong việc quản lý và hoạch định chính sách phát triển năng

lượng điện của Việt Nam cũng như phục vụ cho công tác của tôi tai Cong ty Mua ban điện Tập đoàn Điện lực Việt Nam

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, lận văn Thạc sỹ của tôi gồm 3

Chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của hợp đồng XNKDN, bao gồm

cắc nội dụng về: Khái niệm, đặc điểm, phân loại và so sánh với các hợp đồng

XNK hàng hóa thông thường khác; nguồn pháp luật điều chính;

- Chương 2: Thực tiễn pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc

gia diều chính hoạt động XNKĐN, bao gỗm các nội dung về Hệ thông các Điều ước quốc tế lớn trên thể giới diễu chỉnh vẫn dễ XKKĐN, hệ thống quy phạm pháp luật của một số quốc gia trong khu vực liên quan dến chính sách

và hoạt động XNKĐN của Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung

Trang 13

- Chương 3: Thực liễn áp dung pháp luat vé XNKDN tai Vict Nam,

những hạn chế, bất cập và các khuyến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật

XNKDN tại Việt Nan bao gồm cde nội dung về: Các quy định pháp luật

diều chỉnh vẫn đề XNKĐN tại Việt Nam, thực tiễn hoạt động XNKĐN tại Việt Nam từ năm 2010 đến nay cũng như đề xuất các giải pháp cụ thể

thông qua các kiến nghị chính sách để nâng cao hiệu quả QLNN đối với

hoạt động XNKĐN

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ TÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỎNG XUẤT NHẬP KIIẪU ĐIỆN XĂNG 1.1 Khái quát về Hợp đồng xuất nhập khẩu (XIXK) hàng hóa

1.1.1 Khải niệm Hợp đằng XNK hàng hỏa

Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống ngày cảng cao, sự phân công lao

động quốc tế ngảy cảng sâu sắc, các nước ngày cảng phụ thuộc lẫn nhau và

tham gia vào quá trình hên kết và hợp tác kinh tố Quá trình nảy không thể

diễn ra ở một quốc gia/khu vục lãnh thể mà phải tiến hành trên bình diện quốc tế Dặc biệt, muốn phát triển nhanh thì mỗi quốc gia không thể đơn độc

dựa vào nguồn lực của mình mả phải biết Lan dụng tất cả các thành tựu khoa học, kỹ thuật, kinh tế mà loài người đã đạt được để thông thương, buôn bán

trao đổi lẫn nhau Vì thế mỗi quốc gia/khu vực lãnh thể thường sẽ mua về

những thử không tự sản xuất dược từ những nước khác, đồng thời bản những

sản phẩm tự sản xuất được cho những nước có nhu cau Hoạt động này được gọi là hoạt động thương mại quốc tế Nhu cầu hoạt động ngoại thương thực

chất là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia trên

thế giới Nếu xem kinh tế ngoại thương là một tổng thể thống nhất thì xuất

nhập khẩu chính là oốt lõi của tổng thể đó Vì thế hoạt động ngoại thương ra

đời và phát triển củng với sự phát triển về nhu cầu trao đôi hàng hóa giữa các

quốc gia Mặt khác, nhập khẩu là một trong những phương thức tiếp thu

những thành tựu khoa học va công nghệ của thể giới một cảch nhanh chong

nhất, tạo ra cơ sở cho sự phát triển công nghệ hạ tầng và đồng thời là một

trong những mục tiêu hàng đầu của chỉnh sách thương mại quốc gia

Hợp dỗng XNK hàng hóa hay cỏn có tên gọi khác là hợp ding mua ban hàng hóa quốc tế, trước hết là một hợp đồng mua bản hàng hoá, do đó nó

Trang 15

mang day đủ đặc trưng của một hợp đồng mua bán hàng hoá Mặc dủ pháp

luật quốc tế và pháp luật các nước có các cách tiếp cận khác nhau, nhưng các

hệ thống pháp luật đều thống nhất chung một quan điểm về hợp dồng mua bán hang hóa quốc tế là một hợp đồng mua bán hàng hóa gó “tính chal quốc

+8” Dưới đây là một số cách tiếp cân chủ yếu về "tỉnh chất quốc tết trong dé:

Thứ nhất, tính chất quốc tế trong hợp đồng mua ban hang hoa quốc té theo Điều 1 Công ước Lahaye 1964 (Công ước về Luật thắng nhất về mua

bán quốc tế những động sản hữu hình) quy định như sau:

Hop déng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoa

trong đó các bên ký kết có tụ sở thương mại ở các nước khác nhau,

hàng hoá dược chuyển từ nước nảy sang nước khác, hoặc việc trao

đổi ý chí ky kết hợp đồng giữa cáo bên ký kết được thiết lập ớ cáo

nước khác nhau [4]

hư vậy, theo quy định trên cúa Công ước I.ahaye năm 1964, một hợp

đông XNK hang hỏa phải đấm bảo điều kiện các bên có trụ sở thương mại ở

các nước khác nhau và hợp đồng đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

“Hàng hỏa là dôi lượng của hợp đồng dược dịch chuyển qua biên giới của

một quốc gia hoặc việc kỳ: kết hợp đẳng được điẫn ra ở các nước khác nhau"

Việc quy định như trong Công ước Lahaye năm 1964 cho thấy rằng, để

xác định một hợp đồng là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thí yếu tổ các

tên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau là vấn đề hết sức quan trọng Yếu tế quốc tịch của các bên trong hợp đồng không có ý nghĩa trong việc xác

định “tính chất quốc tế” của loại hợp đồng nảy Vỉ dụ: Hợp đổng mua bán

hàng hóa được ký kết tại Anh giữa một thương nhân Anh có nơi cư trú tại Singapore va mét doanh nghiệp Anh có rụ sở tại Lonđon, hàng hóa được

chuyển từ Singapore vé Anh Tlgp đồng này hoàn toản đủ điều kiện là hợp

đồng mua bán hảng hóa quốc tế theo quy định của Công ước Lahaye năm

1964 dủ các bên chủ thể có cùng quốc tịch [22, tr.13-1#]

Trang 16

Thứ hai, tính chất quốc tế trong hợp đồng XNK hàng hóa theo Công

ước Viên năm 1980 (Công ước của Liên hợp quốc về Hợp dồng Mua bán

hing hóa Quốc tế được ký kết tại Viên năm 1980) Theo Điều 1 Công ước

Viên 1980 quy định

1 Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng

hoá được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia

khác nhaw: (i) khi các quốc gia nảy là thành viên của Công ước,

hoặc (ii) khi theo quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng la

luật của quốc gia thành viên Công ước

2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau

không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các

mỗi quan hệ đã hình thành hoặc váo thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đối thông tin giữa các bên

3 Quốc tịch của các bên, quy chế đân sự hoặc thương mại của họ,

tính chất dân sự hay thương mại của hợp déng không dược xét tới

khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước nay [18, Diu 1]

Từ quy định trên cũa cũng ước Viên năm 1980 cho thấy tính chất quốc

tế trong hợp đồng mua bản hàng hóa qui được xác định chỉ bởi một tiểu

chí duy nhất, đó là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại tại các

quốc gia khác nhau Điểu nảy khác với Công ước Lahaye nim 1964 các yếu

tố như địa điểm ký kết hợp đồng, việc địch chuyển qua biên giới đổi với đối

tượng của hợp đồng không được Công ước Viên năm 1980 đề cập đến Ngoài

ra, giống như Công ước 1.ahaye năm 1964, Công trức Viên năm 1980 cũng,

không quan tâm đến vấn để quốc tịch của các bên khi xác định tính chất quốc

tế của hợp đồng mua bán hàng húa

'Thứ ba, tính chất quốc tế trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp

luật của một số nước trên thể giới.

Trang 17

Ví dụ: Theo pháp luật cúa Pháp, khi xác định Lính chất quốc tế trong

hợp đồng mua bản hàng hóa, người ta căn cử vào hai tiêu chí là kinh tế và

pháp lý:

~ Theo tiêu chí kinh tế, một hợp đồng duoc coi 1a hop ding quốc tế khi

nó tạo nên sự địch chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước

- Theo tiêu chí pháp lý, một hợp dổng được coi là hợp dồng quốc tế

nếu nó bị chỉ phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc

lich, noi cu trủ của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đằng, nguồn vốn

thanh taán

Thử tư, tính chất quốc tế trong hợp đồng XNK hàng hóa theo pháp luật

Việt Nam Theo quy định pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Hợp đồng mua bản

quốc tế, Ilợp đổng xuất nhập khẩu, Ilợp đồng mua bán ngoại thương, hợp

déng mua bản hàng hóa với thương nhân nước ngoài .|23, tr5-13|

Trước khi ban hành Luật thương mại năm 1997, theo quy chế tạm thời

él hyp đồng mua bán ngoại thương sé 4794/TN-XNK do

hướng dẫn việc ky

Bộ Thương Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) ban hành ngày 31/7/1991 thi

Hợp đẳng mua bản ngoại thương là hợp đồng mua bán hàng hóa có tỉnh chất

quốc tế, “tính chất quốc tế” của hợp dồng ngoại thương dược xác định bai ba tiêu chí sau đây: Chủ thế của hợp đồng là những pháp nhân có quốc tịch khác

nhau; [lang héa la đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển từ nước này

sang nước khác, Đông tiền thanh toán trong hợp dễng là ngoại tệ dối với một bên hoặc cả hai bên ký kết hợp đồng

Luật Thương mại năm 1997 quy định “lợp đồng mua bản hàng hóa

đổi với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết

giữa một bên là thương nhân Việt Nam, một bên lá trương nhân nước ngoài”

Trang 18

(Điều 80) Thco quy định này, việc xác định “tính chất quốc tế” của hợp đồng

mua ban hang hóa chỉ dựa vào yếu tổ quốc tịch của các bên tham gia ký kết

Cách hiểu này khác xa sơ với các quy định trong các điều ước quốc tế và tập quan thương mại quốc tế [19]

Luật thương mại năm 2005 không đưa ra tiêu chỉ để xác định “tính chất

quốc tế” của hợp dồng mua bản hàng hỏa mà liệt kế những hoạt động dược coi JA mua ban hang hóa quốc tế Cụ thể, Điều 27 của Luật quy định rõ việc mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu, lạm nhập tải xuất, tạm xuất Lái nhập vả chuyển khẩu hàng hóa Đồng thời, Luật cũng xác định rõ thế nào là xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tải nhập và chuyển khẩu hàng hóa tại các diễu 28 diều 29 và điều 30, theo đỏ |20|

“Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vảo khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thể Việt Nam dược coi là

khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 28)

Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam

từ nước ngoài hoặc từ khu vực dặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi

là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 28),

Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ lãnh thd

nước ngoài hoặc từ cáo khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi

là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khâu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hảng hóa đó

ra khổi Việt Nam (Khoảng 1 Điều 29)

Tam xuất, tái nhập bàng hóa làm việc hàng hóa được đưa ra nước

ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được

coi là khu vực hãi quan riêng theo quy định của pháp luật, có lâm thủ tục xuất

khấu ra khỏi Việt Nam và làm thú tục nhập khẩu lại chính hàng hóa đó vào Việt Nam (Khoản 2 Điều 29)

Trang 19

Chuyễn khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để

ban sang một nước, vùng lãnh thô ngoài lãnh thổ Việt Nam mả không làm thủ

tục nhập khẩu vào Việt Nam và không lam thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam (Khoản 1 Điều 30)

Như vậy, có thể thây, các điều ước quốc tế mặc đủ củng điều chỉnh việc

vấn dể mua bản hàng hỏa quốc tế nhưng có sự khác nhau về tiểu chỉ xác định

“tỉnh chất quốc 1É” trong hợp đồng mua bán hàng hỏa Pháp luật các nước trên

thế giới cũng vậy, một quốc gia căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện chính trị,

kinh tê ›

hội của mình cũng có những quy định không giống nhau về vẫn để

này Ở Việt Nam, việc xác định “tính chất quốc tế" hay yếu tố “ngoại thương”

hoặc “nước ngoài” trong hợp đồng mua bán hàng hóa có sự thay đổi qua các thời kỳ: từ ba tiêu chí là quốc tịch của chủ thể của hợp đồng, việc dịch chuyển

hàng hóa và đồng tiền thanh toán theo Quy chế 4794/TN-XNK năm 1991

xuống cỏn duy nhất mệt tiêu chí là quốc tịch của chủ thể hợp đồng theo Luật Thương mại năm 1997 Tiêu chí này tiếp tục thay đổi trong Luật Thương mại

iăm 2005, chỉ còn là việc dịch chuyển hàng hóa qua biên giới hoặc qua khu

vực hải quan| 17, tr 18-24]

1.1.3 Đặc điễm của Hợp đông XNK bàng hóa

Như đã trình bày trên đây, pháp luật nhiều quốc gia có sự phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng XNK hàng hóa 8a

với hợp đồng mua bán hàng hỏa trong nước, hợp đồng mua bán hàng hỏa quốc tế theo pháp luật các nước vá dựa trên các điều ước quốc tế liên quan có

những đặc điểm khác biệt sau đây

Về chủ thế của hợp đồng

Chủ thế của hợp đồng mua bán hang hóa quốc tế là các bên (người bán

và người mua) có Irụ sở thương mại đất ở các nước khác nhau Ví dụ: thương,

nhân A có trụ sở thương mại đặt tại Thái Lan ký kết hợp đồng mua bán gạo

với thương nhân B có trụ sở thương mại tại Nhật Bản

Trang 20

Chủ thể tham gia hop đồng xuất nhập khẩu có thể khác nhau theo các

định nghĩa khác nhau trong các nguồn luật khác nhau Theo công ước Viên:

“Chủ thể tham gia hợp đẳng là những bên tham gia ký kết hợp đẳng có trụ sở

¿ nước khác nhau” Còn theo

thương mại hay có nơi cư trú thường xuyên ở œ

Điều 6 Luật Thương mai Việt Nam năm 2005: “Chủ thể tham gia hợp đồng la

những thương nhân mang quốc tịch khác nhau” Thương nhân thco luật

Thương mại Việt Nam được qui định trong Điều 6 của luật này là “cá nhân,

pháp nhân, tỗ hợp tác, hô gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương xnại một cách déc lập, thường xuyên”

Về đối tượng của hợp đồng

Đối tượng của hợp dồng xuất nhập khẩu là hàng hoá Điỗi tượng của hợp đồng được qui định khác nhau trong cáo nguồn luật khác nhau Ví dụ

công ty C của Việt Nam ký hợp đồng với một công ty D của liên bang Đức để

xuất khẩu sẵn phẩm cá da trơn sang thị trường EU Tại Việt Nam, theo Khoăn

2 Điều 3 luật Thương mại Việt Nam 2005: “a Ilang hoá là tất cả các loại

động sản, kế cả động sản hình thành trong tương lai b Hàng hoá còn là

những vật gắn liền với dất dai” Có thể thấy luật Thương mại Việt Nam 2005 điều chỉnh không chỉ bó hẹp ở các động sản mà còn cả các động sẵn Còn các

hành vi liên quan trực tiếp đến mua bản hàng hoá như vận chuyển hàng hoá,

thanh toán, bão hiểm, thì không thuộc phạm vi điều chính của luật này Đây cũng là một hạn chế khiến cho Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi hội nhập WTO

Hàng hoá, đối tượng của hợp đồng xuất nhập khẩu có thể được di

chuyển ra khởi biên giới của một quốc gia Thực tế thì điều kiện này cũng cho

thấy sự khác biệt giữa hợp đồng xuất nhập khẩu với một hợp đồng kinh tế nói chung, ví dụ như hợp đồng mua bán ký kết giữa môt xí nghiệp trong khu chế

xuất với một xí nghiệp ngoài khu chế xuất được pháp luật cơi là hợp đồng

xuất nhập khâu, nhưng hàng hoá của hợp đồng đó không đi chuyển ra khỏi

biên giới quốc gia

Trang 21

Về địa điểm ký kết hợp đẳng

Việc kỷ kết hợp ding có thể điễn ra ở nước ngoài đối với một hoặc cả

hai bên Ví dụ: hợp đồng suất khẩu sản phẩm cá da trơn giữa công ty Œ của

Việt Nam vả công ty D của Đức nêu trên được các bên ký kết tại một hội chợ

hang thủy sản tổ chức tại 'Thái I.an là nước ngoài đối với cả hai hên hợp đồng

lIiện nay, củng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đặc điểm về

địa điểm ký kết hợp đồng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dã không

còn trở nên phố biến, bởi lẽ tủy thuộc vào tính chất của mối quan hệ mà các

tên có thể tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng thông qua các công cụ hỗ ug

như thư điện tử, fax Hoặc có trường hợp các bên không cần ký kết hợp

đồng mà chỉ cần thể hiện yêu cầu và sự chấp nhận theo thói quen trong hoạt

động thương mại Trong những trường hợp như vậy, địa điểm ký kết hợp

đồng không có ý nghĩa đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Về đông tiền thanh toán

Tiền tệ dùng dễ thanh toán theo hợp đẳng có thể là ngoại tệ dối với các

bên Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam vả người mua

Trung Quốc, hai bên thỏa thuận sử dụng đồng đồ la Mỹ (USD) làm đồng tiền thanh toản Lúc này đồng dé la Mỹ là ngoại tệ đối với cả người bản Việt Nam

vả người mua Trung Quốc

Tuy nhiên, trong xu hưởng hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay,

nhiều khu vực kinh tế chung được hình thành (Ví dụ: cộng đồng kinh tế Châu

Âu -IC) thi vếu tố đồng tiền thanh toán không còn nhiều ý nghĩa trong hợp

đẳng thương mại quốc tế, bởi lễ các nước trong khu vực củng sử dụng một

đồng tiền chung (Đồng tiền chưng Euro)

VỀ cơ quan giải quyết tranh chấp

"Tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế có thể được giải quyết bằng tòa án hoặc trọng tài nước ngoài

Trang 22

đối với một hoặc cã hai bên Ví dụ: khi phát sinh tranh chấp trong hợp đồng

mua bán gao giữa thương nhân A có trụ sở thương mại tại Thái Lan va

thương nhân B có trụ sở thương mại tại Nhật Dẫn, hai bên có thể thỏa thuận

lựa chọn tỏa án của một trong hai nước hoặc trọng tài nước thử ba (Ví dụ:

"Trọng tài Quốc tế Singapore) để giải quyết tranh chấp phat sinh

Về pháp luật điều chỉnh hợp đồng

Pháp luật điều chỉnh hợp dồng mua bán hàng hỏa quốc tế có thể lả luật

của bên mua, cũng có thể là luật của nước thứ bat rung gian hoặc là áp dụng

một công ước quốc tế như céng ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hang hoá quốc tế Ngoài ra hợp đẳng xuất nhập khẩu con chịu sự Điều chỉnh của tập quán thương mại quốc tế và thậm chỉ là án lệ quốc tế (tiền lệ pháp) Ví

dụ: Thương nhân Thái Lan và thương nhân Nhật Bản có thể thỏa thuận về

việc lựa chọn pháp luật của Anh (là pháp luật nước ngoài với cả hai bên) hoặc

họ có thể lựa chọn điều ước quốc tế (Ví dụ như công ước Viên năm 1980) hoặc tập quản thương mại quốc tế (như IMCOTERMS 2000) dễ điều chỉnh

các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán của mình Dễ

tránh hiện tượng “xung đột pháp luật” (hiện lượng có nhiều hệ thống pháp

luật khác nhau có thể cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ pháp luật) thì các

bên phải thống nhất dẫn chiểu một nguồn luật điều chỉnh cụ thể trong quá

trình thực hiên hợp đồng |23, tr.23-44|

Ở Việt Nam, luật quốc gia có liên quan đến hợp đông ngoại thương nói chung và hợp đồng xuất nhập khẩu nói riêng là luật Thương mại 2005, bộ luật

Hàng hải, bộ luật lân sự 2005, luật thuế xuất nhập khẩu, Ngoái ra cỏn

hang loat các nghị định, nghị quyết, qui định, thêng tư như NÐ số

12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 1 năm 2006, NÐ số 19/2006/NĐ-CP ngày 20

tháng 2 năm 2006, NÐ số 72/2006/NĐ-CP ngày 25/7/2006 nhằm qui định

hoặc chỉ tiết hoá hướng đẫn việc thủ hành các bộ luật nay.

Trang 23

1.2 Khái quat [lop đồng xuất nhap khau dién nang

1.2.1 Khải niệm Hợp dẳng mua bán diện

Trong một dự án điện sẽ có nhiều hợp đồng khác nhau như hợp đồng

mua bắn điện (HĐMBPĐ) ki kết giữa chủ dầu tư và bên mua diện, các hợp đồng liên quan trong quá trình xây dựng nhà máy (hợp đồng tổng thầu,

TIPC ), hop đồng vay vốn, thuê đất, thuê vận hành và bảo dưỡng, hợp đồng

cung cấp nhiên liệu (ở các dự án nhiệt điện), cấp nước xây dựng và nước vận

hành Tuy nhiền hợp đồng mua bán điện luôn được coi là hợp đồng quan

trọng, là trưng tâm của các dự án điện đầu tư theu các hình thức xây đựng -

kinh doanh - chuyển giao (Build - Operation- Transfer, BOT), xây dựng -

chuyển giao - kinh doanh (Build - Transfer - Operation, BTO), xây đựng -

chuyén giao (Build - Transler, BT) hay xây dựng - sở hữu - kinh doanh (Build

- Qwn - Operation, BOO) (gọi chung là các nhà máy điện/dự án điện độc lập

IPP- IndependenL Power PlanU Ngoài ra, còn phải kế đến các hợp đồng bán

lẽ (tiểu dùng) điện sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh ca các tổ chức, cá nhân

trên thực tế Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cửu của Luận văn thạc sỹ nảy,

tác giá xin chỉ đề cập tới các hợp đồng mang tính chất bản buôn (wholc-sale)

piữa các dơn vị phát diện và bên mua buôn lả Tập doản Điện lực Việt Nam

(EVN) hoặc đơn vị được phân cắp/ủy quyền

Sở dĩ hợp đồng mua bản diện luôn có vai trỏ quan trọng như vậy vì nó

quy định đầu ra cho sẵn phẩm mà các dự án điện độc lập nảy sản xuất ra Nếu

như các nhà máy sản xuất khác thường có nhiều hợp đồng để bán sản phẩm

của mình thì các dự án điện độc lập thường chí kí một hợp dang với một chủ

thé dé bán sản phẩm của họ, trong IIĐMBĐ cũng thường có điều khoản bên

ban điện không được bán điện cho bên thứ 3, trừ khi có sự đồng ý của bên

mua điện Đặc điểm nảy lại càng làm cho các HĐMIBĐ trở nên quan trọng đối

với mỗi dự án điện độc lập.

Trang 24

Trong thực tế ngành điện, có nhiều cách hiểu khác nhau về hợp đồng

mmua bán điện Thông thường trên thé giới thuật ngữ Hợp đồng rmua bán điện

duoc ding theo nghĩa hẹp là Power Purchase Aareement/PPA hoặc Energy

Purchase Agreement hay Enorgv Sorvico Agroemont thường chỉ bao gồm hợp

đồng giữa các công ty phát điện độc lập (ndependent power producer - LPP)

va cdc dom vị diện lực (elecric mility/powcr ufility) mà thôi Hiện nay PPA

được sử dụng rộng rãi cho các dự án sử dụng năng lượng tái tạo (renewablc

resources) nhu nang hrong mặt trời, giỏ hay địa nhiệt tại Mỹ, Canada, các nước châu Âu Tại Glossary Logal Term (ERRA Issue Paper 2004) do

ERRA Legal Regulation Working Group [32] biên soạn thì hợp đồng mua

bán diện được hiểu là

Hợp đồng được kí giữa một bên phát điện độc lập vá đơn vị điện

lực Ilợp đồng mua bán điện quy định các điều khoản và điều kiện

ma thco dé điện năng sẽ dược sản xuất và bán ra Hợp đồng mua

bán điện yêu cầu bên phát điện độc lập cung cấp điện với giá xác

định trong thời hạn hợp đồng Nội dung chỉnh của hợp đồng mua

ban điện bao gồm: xác định quy mô và các thông số vận hành nhà

máy; các mốc chính cung cấp điện, các điều khoản hợp đồng: cơ

chế giá, các địch vụ và quy định thực hiện các nghĩa vụ, quyền điều

độ, điều kiện chấm đứt hợp đồng và vi phạm hợp đồng

Trong khi đó theo Glossary of Project Finance Terms and Acronyms trén cổng thông tm điện tử Project Finance Portal [32] trang web cung cấp các chỉ dẫn cho các luật sư, nhà nghiên cứu, sinh viên tìm hiểu thông tin về tải trợ dự án,

tài chính cho cơ sở hạ tầng và cơ chế hợp tác giữa nhả nước và tư nhân

(publicprivate parmerships, PP) thuộc 'lrường kinh doanh Harvard (Harvard Business School) thi “HDMBD (Power Purchase Agreement) la hep dong dp dựng đối với khách hàng lón dé mua điện từ mật dự án điện Đây thường là hợp

đẳng quan trọng nhÁt trong suốt quá trùnh xây dựng và vận hành dự án điện"

Trang 25

Ở Việt Nam khái niệm hợp đồng mua bán điện (và trong trường hợp sứ

dụng tiếng Anh vẫn dùng thuật ngữ Power Purchase Agreement) thutmg dược

hiểu với nghĩa rộng hơn, không chỉ bao gdm các hợp đồng mua bán điện được

kí kết với các chủ dầu tư dự án điện dộc lập mả còn dùng cho cả trường hợp bán buôn điện, bán lẻ điện, xuất nhập khẩu điện như trình hay ở phần dưới

đây về các loại hợp đồng mua bản điện

Như vậy, HĐMIHĐ có thể hiểu là sự hợp đẳng được ký kết giữa bên bán và bên mua, bao gồm các điều khoản và điều kiện mà theo đó việc mua

bán điện được thực hiện Nội dung chính của hợp đồng mua bản điện bao

gồm: xác định các mốc chính cung cân điện, các điều khoản hợp đồng: cơ chế

giả, các dịch vụ và quy định thực hiện các nghĩa vụ; quyền điều độ; điều kiện

khoa học, người ta có thể phân chia HĐ thành những loại khác nhau, dựa trên

những tiêu chí khác nhau như:

- Dựa trên yếu tế Tĩnh thổ có thể phân loại Hợp đồng mua bản điện

thánh bai loại là Hợp dỗng mua bán diễn trong nước và Hợp đồng mua bán

điện với nước ngoài

~ Dựa trên các khâu trong quá trình sản xuất và tiêu thụ điện năng, có

thể phân loại hợp đồng mua bán điện thánh:

! Iiẹp đổng mua điện năng từ các đơn vị phát điện (Power Purchase Agreement- PPA) I.oại hợp đồng nay được kí kết giữa dơn vị phát diện va Tập

đoán Điện lực Việt Nam hoặc các đơn vị phân phối điện trong EVN (ty theo

mức công suất và nguồn nhiên liệu tho phân cấp giữa Tập đoàn và các đơn vị)

+ Hợp đồng bán huôn điên năng: được kí kết giữa EVN và các đơn vị phân phối điện (bao gồm 5 Tếng công ty phân phối điện - hạch toán độc lập là

Trang 26

thành viên của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam) Khi thị tưởng ban

thuôn diện được thực hiện theo lộ trình quy dmh của Tmật Điện lực các hợp

đồng bán buôn điện sẽ được chuyển giao cho các Tổng Công ty này thực hiện

+ Hợp đồng mua bán điện đổi với các khách hàng trực tiếp sứ dụng điện được kí kết giữa các công ty phân phối điện và khách háng sử dụng điện

(bao gdm cả khách hàng đùng điện để sản xuất và sinh hoạt) hay còn gọi là

hợp dồng bán lễ điện

- Dựa trên luật áp dụng hiện nay ở Việt Nam có hai loại hợp đồng mua bán điện năng là hợp đồng mua bán điện áp dụng pháp luật Việt Nam và hợp

đồng mua bán điện năng áp dụng pháp luật nước ngoài Hợp đồng mua bản

điện kí kết với các đối tác nước ngoài hoặc đối với các dự án điện được đầu tư

thon hình thức BOT mả nhá đầu tư nước ngoài thông thường áp dụng pháp

luật nước ngoài, chủ yếu là luật Singapore hoặc luật Anh

- Theo phương án tính Hiển điện có hai loại là hợp đồng giá toàn phần (feed in Lari(T) va giá hai thành phần (bao gồm phí điện năng và phi công suat) [14, tr.14-17]

Trong phạm vi luận văn thạc sĩ của chuyên ngành Luật quốc tẾ, luận

'văn này chỉ tập trung nghiên cửu Hợp đổng mua bán diện với nước ngoài hay

còn dược gọi là TEĐXNK điện năng,

1.2.3 Khải niệm Hop déng xudt nhập khẩu điện nững

Hợp đồng xuất nhập khẩu (HDXNE) điện năng là một loại hợp đồng mua ban điện với nước ngoài, đo đó nó mang đầy đủ đặc trưng của một hợp

đẳng mma bán hàng hoá Mặc đủ pháp luật quốc tế và pháp luật các nước có

các cách tiếp cận khác nhau, nhưng các hệ thống pháp luật đều thống nhất

chung một quan điểm về IIĐXNK điện năng là một hợp đồng mua bán điện

có “tính chất quốc tế”

Trước kia, da sé ở các nước việc phát triển điện lực chủ yếu do Nhà

Trang 27

nước đảm nhiệm Tuy nhiên cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh

tế, dặc biết là ở các nước dang phát triển đo nhu cầu sử dụng điện tăng cao lam cho Nhà nước không còn đủ tiềm lực tài chính để đầu tư đủ các nhà máy điện đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việc thu hút dầu tư trực tiếp từ nước ngoài đầu tư vào phát triển điện lực cũng như tăng cường hoạt động XNK

điện năng vừa giúp đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của nên kinh tế vừa không

lầm tăng nợ cổng của Nhà nước Ở các nước châu Âu vào thập kỉ cuối cùng

cia thé ki 20, IIDMBD (Power Purchase Agreement- PPA) voi théi hạn dai

(long-term PPA) được sử dựng rộng rãi, đặc biệt ở các nước còn duy trì cầu

trúc thị trường người mua duy nhất (sinpgle buyer), vi dụ như ở Hungary,

Bungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc Do đặc thủ của điện năng là quá trinh sẵn

xuất và tiêu thụ điển ra đồng thời và luôn cần oó hộ thống đường đây truyền

tải, phân phối đến bên mua, người tiêu dùng, vì vậy các hợp đổng mua bản điện với nước ngoài thường được kí kết với các nước lân cận mà đối với Việt

am chủ yếu là mua bán diễn với Trung Quốc, Lào và Campuchia

Hiện nay cùng với quá trình hợp tác phát triển ngành điện trong khu

vực Đông Nam A, ngành điện các nước ASEAN, trong khuôn khổ hợp tác

HAPUA (Heads of ASEAN Power UtiliiesAuthorities) dang tiến hành xây

dựng mẫu Ilợp đổểng đấu nếi song phương (Bilateral Interconnection

Arrangement Model) dé thuan tién cho các bền trong quá trình mua bán điện

qua biên giới HAPUA đang cố gắng xây dựng mẫu cho cả hai phương thức

mua bán điện thời hạn dai (long term model) và mẫu cho phương thức mua

bản ngày tới (day-ahead model) Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai mau nay 1a

với long-term model sẽ xác định rõ bên bản vả bên mua điện trong suốt thời

hạn hợp đồng còn đối với day-ahead model thì bên bán điện và bên mua điện

có thế thay đối từng ngày, cụ thế là bên nào có nhu cầu mua điện/bản điện sẽ

gửi thông báo cho bên kia theo một chương trình xác định để các bên cùng

Trang 28

thỏa thuận thống nhất về săn lượng điện mua bán Day-ahcad model là đạng hop déng hết sức linh hoạt, tạo diều kiện tối da cho các bên trong hợp tác mua

bán điện và trợ giúp lẫn nhau nhất là khi xây ra sự cế của hệ thống cần có

nguồn điện bố sung kịp thời [14, tr.22-24]

1.2.4 Đặc điễm của hợp đồng xuất nhập khẩu điện năng

TIĐXNK điện năng là một loại hợp đồng mua bán hàng hóa, vì vậy nó

mang dầy dủ các dặc diễm của hop déng mua ban hàng hóa thông thường Cụ

thé là về chú thể chủ yếu được ký kết giữa các thương nhân; về đối tượng

TIĐXNK điện năng có đổi tượng là hàng hóa; về nội dung IIĐXNK điện năng

cũng thể hiện quyển và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán như bên

bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyển sở hữu, bên mua có nghĩa vụ thanh

toán nhận quyền sở hữu Bến cạnh đó, do dic thủ của đối lượng của

HDXK điện năng lả loại hàng hóa đặc biệt va tinh chất quốc tế của nó nên

loại hợp đồng này mang một số đặc điểm riêng biệt như sau

'VỀ chủ thể của HĐXNK diện năng

Diện lực là lĩnh vực kinh doanh có điêu kiện, vì vậy các bên khí tham

gia vào hoại động sẵn xuất, truyền tái, phân phối điện đều phải có giấy phón hoạt động diện lực phủ hợp với từng lĩnh vực hoạt dộng như phát điện, phần

phối điện, truyền tải điện theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia

Cho đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam, chủ thể của hợp dồng mua bán

điện nói chung và HDXNKDN nói riêng khá đặc biệt vả có số lượng tương

đối hạn chế nếu so sánh với các hợp đồng mua bán hàng hỏa thông thường

khác Chủ thể của HĐMBĐ nói chung bao pềm bên bán diện và bên mua

điện Theo quy định tại Điều 2 "Thông tư số 36/2018/TT-BCT ngảy 16 tháng

10 năm 2018 của Bộ Công Thương [3] về việc ban hành quy định về trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép hoạt đông điện lực thì tất cả tổ chức, cả nhân

tham gia hoạt động điện lực trong các lĩnh vực: Tư vấn chuyên ngành điện

Trang 29

lực, phát điện, truyền tãi điện, phân phối điện, bán buôn điện, bản lẻ điện đều phải có giấy phép dé hoạt động, do đỏ để duoc ban diện chủ dầu tư các dự án

điện phải có giấy phép phát điện, bên mua điện phải có giấy phép bán buôn,

bán lẻ diện Tuuật Điện lực 2004 sửa dỗi bổ sung năm 2012 cũng quy dịnh việc mua bán điện với nước ngoài phải được cơ quan nhà nước có thâm quyền cho

phép và được ghi trong giấy phép hoạt động điện lực (Khoản 1 Điều 28)

Đẳng thời, các bên khi thực hiện việc mua bán điện với nước ngoài cần dảm

bảo các nguyền tắc sau theo Khoản 2 Điều 28 Luật Điện lực 2004 sita adi bổ

sung năm 2012

- Không làm ảnh hướng dến độ an toản, tin cậy và tính én định trong

vận hành hệ thống điện quốc gia;

- Đáp ứng các Liêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật, quy trình, quy phạm quản

lý vận hành hệ thông điện quốc gia;

- Không làm lên hại đến lợi ích của khách hàng sử dụng điện trong

sa an mình năng lượng quốc gia

Đổi với chủ thể mua điện tại Việt kam, Quyết định số 26/2006/QD-

TTg của Thủ tướng Chính phú ngày 26/01/2006 về việc phê duyệt lô trình,

nude

các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị trường diện lực tại Việt

Tam [6] đã nêu rõ Thị trường điện tại Việt Nam được hinh thành và phát triển

qua 3 cấp dé: Thị trường phát diện cạnh tranh (2005-2014), Thị trường ban

buôn điện cạnh tranh (2015-2022), Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (sau

năm 2022) Trong đó, theo thiết kế thị trường điện phát điện cạnh tranh, chỉ

có một Công ty mua buôn duy nhất trên thị trường dược phép mua buôn diện

từ tất cã các đơn vị phát điện tham gia thị trường vả bán buôn cho các Công ty

phân phối điện (Khoản 2 Điều 1) Do đó, Hội đồng quan trị Tập đoàn Điện

hic Viet Nam (nay là Hội đồng thành viên HVN) vào ngày 31/12/2007, đã ban

hành quyết định số 1182/QD-EVN-HDQT về việc thành lập Công ty Mua bán

Trang 30

điện (EPTC) [11], đây cũng là công ty đại diễn cho BVN thực hiện chức năng

mua buồn duy nhất trên thị trường diện tại Việt Nam hiện nay đối với cả các

hợp đồng mua bán điện trong nước từ cấp điện áp 30MIW trở lên, năng lượng

mới, năng lượng tải tạo vả mua ban điện với ngoài nước Đỗi với trưởng hợp khách hàng sử dụng điện ở biên giới có nhu cầu mua điện trực tiếp với nước

ngoài mà không qua hệ thông điện quéc gia, Luật Điện lực 2001 cũng cho

phép đối tượng này được trực tiếp mua diện nhưng phải bảo dâm các tiêu

chuẩn an toàn điện và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Khoản 3

bác IĐXNK

Điều 28) Trong phạm vì Luận văn Thạc sĩ này sẽ chỉ đề cập tới

điện năng giữa HPIC với các đối tác nước ngoài mà không để cập tới các Lop đồng mua bản điện trực tiếp của các khách hàng sử dụng điện ở biên giới

Với nước ngoài

Củng với quá trình xây dung thị trường điện tại Việt Nam thì chủ thể

TIĐMBĐ sẽ có thay đổi phù hợp với các cấp độ phát triển của thị trường và cấu trúc thị trường được phê duyệt Cụ thẻ là ở thị trường phát điện cạnh tranh

sẽ vẫn duy trỉ chế độ một người mua, tức là chỉ có một chủ thể trơng thị

trường chịu trách nhiệm mua điện từ nhả máy và bán lại cho các đơn vị phân

phối diện Đến giai doạn thị trường bán buôn điện cạnh tranh sẽ có nhiều chủ

thể cùng cạnh tranh mua buôn điện, các đơn vị phát điện (bên bán điện) có thể

lựa chọn nhiều đối tác mua diện của mình

Như vậy, chủ thể HDXNK điện năng trước hết bị giới hạn bởi yêu cầu

về giấy phép hoạt động điện lực Do điều kiện thực tế ở nước ta hiện nay ma

chủ thể này còn đặc biệt ở chỗ đối với Hợp đồng nhập khẩu diễn của Việt

am, bên mua của hợp đồng luôn là Công ty Mua bán điện (EPTC)- đơn vị

thành viên của EVN va bén còn lại là Công ty Điện lực của các nước đối tác

mua bán điện với Việt Nam còn đổi với Hợp đồng xuất khẩu điện từ Việt

am sang nước ngoài, bên bán còn có thé là các doanh nghiệp trong nước

Trang 31

hoặc nước ngoài Tuy nhiên giới hạn này sẽ nhanh chóng được thay đổi cùng với quá trình xây dựng thị trường diện cạnh tranh ở Việt Nam

Về đối tượng của IIĐXNK điện năng

Đổi tượng của HĐXNKĐN là diễn năng, một loại hàng hỏa đặc biệt, ở

nhiễu loại nguỗn điện như thủy điện, nhiệt điện than, nhiệt điện tuabin khí,

ning lượng gió, năng lượng mặt trời, sinh khối việc sản xuất phụ thuộc rất

nhiễu vào điễu kiện thời tiết vi vậy không phải lúc nào cũng có thể dâm bảo sản xuất Ổn định, luôn phải kết hợp các loại nguồn điện khác nhau để đảm bảo lượng điện năng én dinh cung cắp cho nền kinh tế xã hội

Ngoài ra do điện năng là loại bàng hóa không thể dự trữ, quá trinh sẵn

xuất và sử đụng phải diễn ra đồng thời nên cần phối hợp nhịp nhàng giữa sản

xuất và tiêu dùng, giữa bán điện và mua điện Do tỉnh đặc thù của đối tượng

ma HDXNK điện năng phải bao gồm nhiều điều khoản khác nhau như pháp

lý, thương mai va kỹ thuật để bao quát được tất cả các khía cạnh của quan hệ

mua bản diện, ngoài phần chỉnh của hợp đồng, mỗi hợp dồng mua bán diễn

thường bao gồm khoảng trên dưới 10 phụ lục kẻm theo quy định chỉ tiết về

các tiêu chuẩn kĩ thuật, chất lượng điện năng, đo đếm lượng điện năng giao

nhân, tính toán tiền diễn, điều độ Đối với những hợp đẳng mua bán điện từ

các Dự án điện độc lập, để đảm báo khá năng sẵn sảng cung cấp điện, chất

lượng điện năng, các hợp đồng nảy luôn cỏ phần Phụ lục về các thông số kĩ

thuật, thử nghiệm, nghiệm thu nhà máy

Như đã trình bảy ở trên, yếu tố then chết đảm báo “tính quốc tế" của

một Hợp dỗng mua bán hàng hóa quốc tế chính là việc hàng hóa -đối tượng

của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được chuyển địch qua biên giới giữa

các quốc gia Ở Ilợp đồng XNK điện năng cũng vậy, điện năng (đối tượng của hợp đẳng) được dịch chuyển qua biên giới giữa các quốc gia thông qua

mạng lưới truyền tải điện Một đặc điểm nữa của điện năng cũng cần được

Trang 32

nhắc đến lá tuy điện năng rất quan trọng trong đời sống nhưng cũng nguy

hiểm đối với sức khe con người hoặc các loài vật khi tiếp xúc Bởi thế sử

dụng điện an toản luân được ưu tiên, và vỉ thé trong IIĐMIBĐ các bên cần

thỏa thuận về cách thức xác dịnh tỉnh trạng khẩn cấp, hành đồng kịp thời khi tỉnh trạng khẩn cấp xảy ra và hậu quả của tình trạng này Đồng thời, bên bản

là các nhà máy điện luôn phải cam kết vận hành và bảo dưỡng nhà máy theo

quy dịnh của pháp luật và thông lệ ứng dụng cẩn trọng ngảnh diện (Prudent

Utilities Practices)

VỀ thai han cia IIDXNK dién ning

“thông thường thời hạn của HXNKĐN tương đối dài Hằng việc xác định thời hạn mua bản điện, chủ đầu tư có thể nhìn nhận được nguồn tiền thu

được tử nhà máy, xác định lợi nhuận mả mình só thể đạt được, bối vậy thời hạn

này thường phải đảm bảo đủ dài để các chủ đầu tư thu hồi được vốn đã bỏ ra và

người mua điện có giá điện hợp lý Nếu thời hạn hợp đồng ngắn, giá điện sẽ cao hơn thời hạn đải bởi chủ dầu tư phải thu hỗi vốn nhanh hơn Ở Việt Nam

thiện nay, các Hợp đồng mua bán điện với nước ngoài thường có thời hạn từ 20-

25 năm, được chia (hành các giai đoạn thường lá 5 năm để thay đổi cấu trúc giá diện HĐXNK diện năng cũng là một trong những loại hợp déng phức tạp nhất

cả về mặt nội đưng cũng như thủ tục đàm phán, kỉ kết và thực hiện hợp đằng

Thực tế không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các nước khác trên thể giới quả trình

đâm phán thường kéo đài 1-2 năm hoặc lâu hơn, ở nhiều nước sau khi kí kết

hợp đồng mua bản điện, các bên còn phải trình, bảo cáo các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện [14, tr.26-29]

VỀ luật áp dụng trong HDXNK điện năng

Không giống như các IĐMBĐ trong nước có luật áp dụng thường là pháp luật quốc gia di trong hop đồng có ghi nhận hay không, đối với các hợp đồng xuất nhập khẩu điện hoặc mua bán điện từ các dự án BOT, BTO, BT

Trang 33

nước ngoài có thể thỏa thuận luật áp dụng là pháp luật nước thir ba Cac Hop

đồng mua bản điện với nước ngoài của Việt Nam chủ yếu áp dụng luật

Singapore hoặc luật Anh, ví dụ: PPA với Cambodia luật áp dụng 1á luật Anh,

giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tải thương mại quốc té Singapore

‘Tuy timg trường hợp và giai đoạn cụ thể, có những HXNK điển năng các bên quy định việc các chủ thể áp dụng pháp luật quốc gia chủ thể mang quốc tịch trong việc vận hành và nghĩa vụ tải chính với quốc gia của mình, còn đối

với các quan hệ hợp dồng hoặc giải quyết tranh chấp, các bên áp đụng thông

lệ quốc tế và lựa chon áp dụng pháp luật của nước thứ 3 điểu chỉnh Việc áp

dựng pháp luật nước ngoài với các dự án BƠI, BTO, HT áp dụng quy định

của Nghị định số 63/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04/05/2018 về đầu tư

thoo hình thức đối tác công tư [8] Ngoài ra, các điều ước quốo tố mà Việt

Nam kí kết hoặc tham gia về hợp tác phát triển điện năng là căn cứ để các

doanh nghiệp điện lực ở Việt Nam vả nước ngoài kí kết các IIĐXNK điện năng, ví dụ: Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phú Hoàng gia

Campuchia về hợp tác trong lĩnh vực điện lyc (Agreement between the

Government of the Socialist Republic of Vietnam and the Royal Government

of Cambodia on the power sector cooperation) ki ngay 10/06/2006 [9] Trén

cơ sở các hiệp định nảy, các đơn vị điện lực thực hiện đảm phán và kí kết

HDMBP cu thé với nhau

Cơ chế giải quyết tranh chấp và thẩm quyền phê duyệt của các

TIĐXNE điện năng

Các Hợp dồng mua bán điện với nước ngoài của Việt Nam chủ yếu áp

đụng luật Singapore hoặc luật Anh, do vậy các bên thường lựa chọn cơ chế

giải quyết tranh chấp thông qua các trung tâm trọng tại quốc lễ tại Singapore hoặc Hongkong với quy tắc xét xử theo quy định của pháp luật quốc tế về giải

quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

Trang 34

Tay theo pháp luật của quốc gia có quan hệ hợp đồng XNKĐN, nhưng

đa phần oáo HĐXNK điện năng đều phải được cơ quan cấp Chính phủ phê

duyệt trước khi có hiệu lực thí hành

1.3.5 Nguyên tắc, yêu cầu khi giao kết Hợp đẳng XNKDAN

Ilgp đồng xuất nhập khẩu nói chung và lợp đồng XNKĐN nói riêng được ký kết dựa trên những nguyên tắc sau đây:

Nguyên tắc tự do, tự nguyện: Hợp đồng là sự thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên tham gia xác lập quan hệ hợp đồng, do đó việc ký kết hợp

đồng xuất nhập khẩu phải dựa trên cơ sở ý chí tự do của các bên tham gia hợp đẳng Các bên tham gia hợp dồng cỏ quyền bày tô ý kiến của mình, không chịu áp đặt ý chí của bắt kỷ cơ quan, tổ chức hay cá nhãn nảo Nguyên tắc này

loại bỗ tất cả các hợp dẳng được ký kết trên cơ sở dùng bạo lực, bị đe dọa, bị lừa bịp hoặc do có sự nhằm lẫn Do vậy, tự nguyên là nguyên tắc cơ băn bắt buộc phải tuân thú khi các bên chủ thể tham gia kỹ kết hợp đồng

Nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi Có nghĩa là các bên tham gia hop

đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ Điều này thể

hiện ở chỗ khi đàm phản ký kết hợp đồng các bền đều có quyền đưa ra những

Ý kiến của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của

bên kia mả không bên nào ép buộc bên nảo Trong quan hệ hợp đồng kinh tê,

quyền và nghĩa vụ phải cân bằng nhau và các bên tham gia hợp đồng đều phải

chịu trách nhiệm với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ của minh

Nguyên tắc áp dụng thỏi quen trong hoạt dộng thương mại được

thiết lận giữa các hôn: Trừ trường hợp dã có thỏa thuận khác, các bên dược

coi lả mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại dã dược thiết

lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phãi biết nhưng không trải với

qui định của pháp luật

tạ

Trang 35

Nguyên tắc bao vệ lựi ích chính đáng của người tiêu dùng: Các

bên tham gia hợp đồng phải có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho

người tiêu dùng về hàng hóa vả dịch va ma minh kinh doanh và phải chịu

trách nhiệm về tính chính x

da cde thông lin đó Bên cạnh cáo bên đó

còn phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch

vu ma minh kinh doanh

Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong

haạt động thương mại: 'Irong hoạt động thương mại, các thông điệp đữ liệu

đáp ứng các Điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo qui định của pháp luật thì

được thừa nhận cỏ giá trị pháp lý đương nhiên trong văn bản

1.2.6 Nguén ludt diéu chỉnh Hợp đồng XNKBN

Hoạt động XNKĐN là một hoạt động thương mại quấo lễ, do đó trong

lĩnh vực này, luật pháp và thực tiễn đều ghi nhận các bền có quyền lựa chọn

luật áp dụng Tuật áp dụng cho hợp đẳng thương mại quốc tế nói chung va TIĐXNK điện năng nói riêng gó thể là luật quốc gia, các điều ước quốc tế về

thương mại, tập quấn thương mại quốc tế, hợp đồng mẫu, các nguyên tắc

chung về hợp đồng và các học thuyết pháp lý

Thông thưởng các điểu khoản trong hợp đồng không thể điều chỉnh tất

cả các vấn để phát sinh trong quá trình thực hiện hợp động mã có nhiều vẫn

đề gác bôn chưa thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng trong hợp đẳng

Chính vì thế, luật áp dụng cho hợp đông đóng vai trò là bố khuyết các vẫn

đề thiết sót đó

Các bên oó thể lựa chọn các nguồn luật khác nhau để điều chỉnh hợp đồng Thứ nhất đỏ là lựa chọn luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng Luật pháp

quốc gia sẽ được áp dụng trong trường hợp được các bên lựa chọn Tuy nhiền,

các bên nên chủ động lựa chọn luật quốc gia mà mình quen thuộc Việc chọn

luật phải được ghi nhận cụ thể trong một điều khoản hợp đồng, gọi là “Diều

khoản chọn luật” hoặc “Luật điều chính”

Trang 36

Thử hai, các bên có thể áp dụng điều ước quốc tế về thương mại

Trong lĩnh vực mua bản hàng hóa, điều ước quốc tế diéu chỉnh loại hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu lả Công ước Liên Hiệp Quốc năm

1980 về mua bán hàng hỏa quốc tế, được kỹ kết tại Viên năm 1980 Tuy nhiên, lĩnh vực điện năng lại không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Công,

tước Viên Thay vào đó chỉ có 2 Lliệp ước chủ yếu liên quan tới vấn để

XNKĐN đó là Hiệp ước Hiến chương Năng lượng năm 1994 và Hiến

chương Năng lượng Quốc tế năm 2015 [15]

Lựa chọn thứ ba đó là các tập quán thương mại quốc tế Tập quán

thương mại là những thói quen, phong tục về thương mại được nhiều nước áp

đụng và áp dụng một cách thường xuyên với nội dung rõ ràng để dựa vào đó

xáu bôn xá định quyền và nghĩa vụ với nhau Hiện nay lập quán thương mại

Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận áp dụng các nguồn luật khác dể

điều chỉnh hợp đồng XNEDN như các nguyên tắc chung về hợp đồng (Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 của

PIOC) [24] hay các hợp đẳng mẫu

1.3.7 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đôi với Hợp đẳng xuất nhập khẩu điện năng

Linh vực điện lực là lĩnh vực phức tạp và đóng vai trò quan trọng

trong nền kinh tế quốc din của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy đòi

Trang 37

hỏi phải có một hệ thông văn ban phap luật có hiệu lực pháp lý cao, điều chỉnh tổng thé vả toàn diện các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực

này QUXN về hoạt động XNKĐK bằng pháp luật là sự tác động của Nhà

nước lên các chủ thể chịu trách nhiệm về hoạt động XNKĐN thông qua quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng vả tổ chức thực

hiện chính sách và quy định pháp luật; thiết lập và sử dụng hiệu quả công cụ

XNK; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về XNKĐN; kiểm tra, kiểm soát

hoạt động XNKĐN, tạo ra môi trường thuận lợi nhất để hoạt động XNKĐN

phát triển đúng định hướng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, có hiệu

quả một cách bền vững trong điều kiện biển động của môi trường trong nước

và thương mại quốc tế Ngoài ra, nhà nước còn phải quản lý hoạt động

XNKPN bằng pháp luật là bởi:

'Thứ nhật, vì mục tiêu hiệu quả kinh tế, moi quéc gia đều phải tập trung

hỏa và chuyên môn hóa sẵn xuất bao gầm nâng quy mô sẵn xuất, quy mô địch

vụ của đơn vị sản xuẤt kinh doanh dịch vụ, mà diện năng lả thành phần không thể thiếu của tắt cả các ngành sản xuất kinh đoanh, dịch vụ để phát triển, từ đó

đôi hói các nước phải giao lưu quốc tế về kinh tế để tránh tỉnh trạng sẵn xuất

thừa hay thiếu diện năng vào những lúc cần thiết Trong diễu kiện cạnh tranh

khắc hệt như ngày nay, nếu không có các chính sách bảo hộ phủ hợp thi nên

công nghiệp non trẻ của nước ta sẽ không đứng vững dược Vì vậy, để thực

hiện các mục tiêu công nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cần hoàn thiện quần ly nhà nước về hoạt động XNK.PN để đám bảo đủ nguồn

lực phát triển

Thứ hai, bắt cứ quốc gia nào trên con đường phát triển cũng phải đưa ra

các lựa chọn nguồn cung cấp nắng lượng phủ hợp, chỉ phí hợp lý và các quy

định nghiêm ngặt về phát thải Đặc biệt tại Việt Nam, giá bán lẻ điện hiện chưa

vận hành day đủ theo cơ chế cạnh tranh, giá mua điện của các nguồn năng

30

Trang 38

lượng tải tạo (NLTT) đang cao hơn so giá bán lẻ điện bình quần, khiến thách

thức về mục tiêu cấp điện én dịnh cho phát triển kinh tế - xã hội ngày cảng

căng thing hon, do dé cẦn có sự quản lý chặt chẽ hơn nữa bằng pháp luật của

Wha nước đối với hoạt dộng XNKĐN dễ giải quyết triệt để vấn dé nay

'Thứ ba, HĐXNK điện năng liên quan đến chính sách phát triển và an

ninh nang lượng của mỗi quốc gia bởi với nền kinh tế toàn cầu ngảy một phát

triển như hiện nay dẫn dến nhu cầu năng lượng cũng tăng rất nhanh Ngảy

nay, các nguẫn năng lượng truyền thông dang cạn kiệt, phát thải khí nhà kính

gây biển đổi khí hậu, ảnh hưởng môi trường, trong khi các nguồn năng lượng mới thân thiện chưa đáp ứng được nhu cầu bù đắp thiếu hụt (cầu lớn hơn cung hay xung đột giữa phát triển năng lượng và kinh tế xã hội bền vững,

bão vệ môi trưởng) nên việc giải bải toán an ninh năng lượng vàng lrở nên

khó khăn bon, xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các quốc gia, giữa các vùng

miễn cũng như nhiều khó khăn thách thức trong thực hiện chương trình kinh

tế xã hội ở mỗi quốc gia Các cuộc xung đột hiện nay trên thế giới không chi

gây ra bởi mâu thuẫn về quan điểm chỉnh trị mà còn có nguyên nhân tranh

chấp về nguồn nhiên liệu cho an ninh năng lượng của các quốc gia phát triển

Chỉnh vi thế các nguồn diện nhập khẩu từ các nước láng giềng vẫn là lựa chọn

không tránh khỏi để một quốc gia vừa “có điện”, vừa bảo vệ được lợi ích môi

trường vá xã hội và đặc biệt là bảo vệ an ninh năng lượng của minh, Tai Viet

Kam, Du kiến, ngảnh Diện cần đấm bão sản xuất 265 - 278 ty kWh vao nam

2020 và khoảng 572 - 632 tỷ kWh vào năm 2030 Tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện giai doạn 2016 - 2020 vao khoang 10,3 - 11,3%/ nam, giai doan 2021 -

2030 khoảng 8,0 - 8,5%/năm [13] Đây đều là những thách thức rất lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt Đồng thời, việc đảm bảo nguồn nhiên liệu cha

phát điện gặp khó khăn, nguồn khí thiên nhiên trong nước hiện dang khai thác

đã suy giảm mà chưa có nguồn cấp khi thay thế Trong khi năng lực khai thác

31

Trang 39

thủy điện trong nước đã bước vào giai đoạn bão hòa (do hấu hết các bậc thang tiểm năng đã được khai thác đầy đủ), nguỗn nhập khẩu từ các nước láng giềng

đặc biệt la Lao va Trung Quốc để nhập khẩu về Việt Nam qua các đường đây

220 kV hiện hữu vẫn là lựa chọn không tránh khỏi Chính vỉ vậy việc quản lý

hoạt động XNKĐN bằng pháp luật cần được quan tâm và chủ trọng nhằm

hướng Tới mục tiêu cuối cùng là đảm bảo an ninh nắng lượng gắn với phát

triển bên vững và bảo vệ môi trường

Cuối củng, chính sách năng lượng cân bằng cũng có ý nghĩa quyết

định trong việc làm đòn bẫy phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Việc cân đối nguồn điện của Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho việc điều

tiết chính sách giá điện của Nhà nước, thúc đây phát triển công nghệ cao,

giảm phái thải và báo vệ môi trường Cụ thể, những HĐXNK điện năng có

thời hạn lâu dài giúp cho việc tính toán và cân đối khung giá phát điện trong

nước, tránh linh trạng phụ thuậc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch (bao gồm

cá nhập khẩu nguyên liệu hóa thạch) dẫn đến ghá diện bị biển dấi khỏ kiểm soát, gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội Mặt khác, với chính sách

điều tiết vĩ mỗ cân bằng giá điện sẽ khuyến khích các nhà đầu tư vào lĩnh

vực năng lượng của Việt Nam

Trang 40

Tiéu két Chuong 1

Chương 1 của Luận vin di dé cap đến nhưng nội dung cơ bản có tính

chất lý luận về IIĐXNK điện năng Dựa trên cơ sở của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, học viên đã nghiên cứu và dễ cập cụ thể dến các khái

tiệm cũng như cơ sở l‡ luận và pháp lý của HI)XNK điện năng, bao gồm các

nội dung về: Khái niệm, đặc điểm, phân loại và so sánh với các hợp đồng

XNK hàng hóa thông thường khác cũng như nguồn pháp luật điều chỉnh

TIĐXNK điện năng Ngoài ra học viên còn phân tích thêm một số vẫn đề cụ

thể như sự cần thiết của việc quân lý hoạt động XNKĐN bằng pháp luật nhặm

mục đích cơ bản "việc cân đối nguồn điện của Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho

viện điều tiết chính sách giá điện của Nhà nước, thúc đấy phát triển cong nghệ

cao, gidm phát thải vá bảo vệ môi trường”

Trên cơ sở các khái niệm tại Chương J, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu

các quy định pháp luật quê „á pháp luật một số quốc gia điển hình diễu chỉnh vẫn để XNKĐN

33

Ngày đăng: 28/05/2025, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w