1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản Để thi hành Án dân sự

71 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành Án dân sự
Tác giả Dinh Hanh Nga, Anh Huong
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 859,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó tập trưng xem xét, nghiên cứu những tồn tại cơ bản của hoạt động cưỡng chế kê biên tải sản để THA trong môi quan hệ với hiện trạng pháp luật như là một nguyên nhân chính bên cạ

Trang 1

DẠI HỌC QUOC GIA HA NOL

KHOA LUẬT

aa AMES -

DINH HAKH NGA

ANH HUONG CUA

LUAT VIET NAM VE MOI QUAN HE GIU'a VG VA

CHONG

LUAN VAN THAC S¥ LUAT HOC

HÀ NỘI, NĂM 2007

Trang 2

DAI HOC QUOC GIA HA NOL

KHOA LUAT

DINH HANH NGA

ANH HONG CUA

NHO GlAO DEN CAC QUY BINH PHAP LUAT VIET NAM VE MOI QUAN HE GIA VO VA CHONG

CHUYEN NGANIE LUAT DAN SU!

MÃ SỐ : 603830

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGO OI 00 GONG DAN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN

HÀ NỘI, 2007

Trang 3

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VẺ BIỆN PHÁP CƯỜNG CHẾ KẾ

BIỂN TÀI SÂN ĐẮ TIH ILÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thí hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm kê biên tài sản

1.1.2.1 Diéu kiện để chấp hành viên ra quyết định áp dung biện pháp

cưỡng chế kê biên tài sân của người phải THA

9

„0

1.1.3 Sự khác biệt giữa kê biên tài sản là một biện pháp khẩn cấp tạm

thời với kế biên tài sẵn — biện pháp cưỡng chế dễ thị hành án dần sự 12

1.2 So lược về sự phát triển của chế định cưỡng chế kê biên tài sản trong quá trình phát triển của pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1960 Ăn Hee 1.2.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1989

1.2.3 Giai đoạn từ 1989 đến 1993 cà kenoeieeeeirree

Chương 2 NỘI DUNG BIỆN PIIAP CUGNG CII Kit BIEN TAL SAN

PE THT HANH AN THEO QUY BINH CUA PHAP LUAT THI HANH

ÁN DÂN SỰ VIỆT NAM

2.1 Kê biên tài sản

2: a

Trang 4

2.1.1 Kê biên tài sản của cá nhân đế THA

2.1.1.1 Những nguyên tắc kê biên lài sẵn 25

2.1243 Trình tụ, thủ tục kê biển tài sản của người phải

28 2.1.2 Kê biên tài sản của Doanh nghiệp để THA 3l

2.1.2.1 Phạm vì tải sản kê biên Ăn neeieieneoooeoe 32

2.1.2.2 Trình tự, thủ tục kế biên tải sản của doanh nghiệp dễ 'THA 33

242 Xử tài sản để đã biển nao 38

2.2.3.2 Thủ tục ban đấu giá tải sản đã kê biên "Ầ ,

Chương 3 THỰC TIẾN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN

TẢI SẮN ĐẺ TIH IHẢNH ÁN DÂN 8 HIỆN NAY 45

3.1 Những kết quả đạt được - 45

3.2 Những vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng biện pháp

cưỡng chế kê biên tải sản dé THA 47

3.2.1 Xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan #7

3.2.2 Xuất phảt Lừ những nguyên nhân khách quan 48

3.2.3 Những bất cập từ các quy định về kế biên tài sẵn 33

Danh mục tài liệu tham khả

Trang 5

BANG CAC CHU VIET TAT

THA Thi hanh án

PLTHADS Tháp lệnh thi hành án dẫn sự

PLTTGOCVADS Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

CQTIIADS Cơ quan thi hành án đân sự

BTP Tộ lư pháp

VESND Viện kiêm sát nhân dân

BLDS Bộ luật Dãn sự

Trang 6

MO DAU

'Thi hành án dân sự là thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án

Việc thi hành án đạt hiệu quả, một mặt sẽ bảo đầm được việc thực hiện quyền

lực Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của mọi chủ thể trong xã hội đổi với phán

quyết của Tỏa án nhân danh quyền lực Nhà nước Mặt khác, nó là một biện

pháp hữu hiệu dễ khôi phục lại các lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân đã bị xâm hại

Trong giai đoạn hiện nay, thi hành án dan sự là một vẫn để bức xúc, bởi

trong quá trình thực thi pháp luật về thi hành án dân sự da nay sinh những vấn

để mới cần phải giải quyết Mặc khác bản thân nó phải chịu áp lực từ nhiều

phía nhiều nguyên nhân khác nhau (chủ quan, khách quan) làm cho việc 'THAI8 gặp nhiều khó khăn Trong đó, việc áp dụng các biện pháp cưỡng,

chế nói chung và biện pháp cưỡng chế kê biển tài sản nói riêng cũng có không

ít những trở ngại cả vẻ mặt pháp lý cũng như thực tiễn Có những quy định

chưa chặt chẽ, rõ ràng, có những quy định không còn phủ hợp, ngoài ra còn

có những vấn đề thực tiễn đòi hỏi cần phải giải quyết nhưng pháp luật lại

chưa quy dịnh Những yếu tố này dẫn tới cưỡng chế kê biên tài sản dễ THA

nhiều khi không đạt hiệu quả, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng TIADS

hiện nay Việc nghiên cứu sáo quy định của pháp luật vỀ biện pháp cưỡng chế

KTS và quá trình áp dụng trong thực tễ là cơ sở quan trong cho việc hoàn

thiện về mặt pháp luật đồng thời tìm ra được những thiếu sói, vướng mắc về

mặt lý luận cũng như thực tiễn của biên pháp cưỡng chế KBTS dễ THADS, từ

dé nang cao hiệu quả khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế góp phần vào việc

đẩy mạnh công Lác THADS nói chung

Hiện nay đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về THADS,

song riêng về các biện pháp cưỡng chế THA trong đó có biện pháp cường chế

KBTS chưa có công trình nảo nghiên cứu sâu sắc về vấn dé nay Dé gop phần

nâng cao hiệu quả THAI28 thì việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy dinh

của pháp luật về biện pháp cưỡng chế kê biển tải sản để TIIA là cần thiết

4

Trang 7

Chỉnh vì thể tác piả đã lựa chọn dé tải nghiên cứu này làm Luan van tốt

nghiệp

Pham vi nghiên cứu của để tải là các quy định của pháp luật thi hành án

dân sự Việt Nam về biện pháp cưỡng chế kê biển tải sản để thi hành án và

thực tiễn áp dụng các quy định đó chủ yêu từ khi pháp lệnh THA125 1993 và

pháp lệnh TIIADS 2004 cỏ hiệu lực cho đến nay Trong đó tập trưng xem xét,

nghiên cứu những tồn tại cơ bản của hoạt động cưỡng chế kê biên tải sản để THA trong môi quan hệ với hiện trạng pháp luật như là một nguyên nhân

chính bên cạnh các nguyên nhân khác

Mục đích nghiên cứu của để tài: Lâm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của

biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để THA nhằm nhận thức đúng đắn hơn

về cưỡng chế kê biên tải sản tử đỏ thấy dược vai trỏ quan trọng của nỏ đối vửi

hiệu quả của hoạt động THA; đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu tim ra những

vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng pháp luật về biện phán cưỡng chế kê biên tài sản và đưa ra những dễ xuất cụ thể

Khi nghiên cứu đề tải này tác giả đựa trên cơ sở phương pháp luận của

Chủ nghĩa Mác Lênin va Tư tưởng Hồ Chỉ Minh va các phương pháp cụ thể

như: phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp Cơ cầu của luận văn được

trình bày thành 3 phần : Phần mở đầu, Phần nội dụng và Phần kết luận

Mử dầu: Nêu lên tính cấp thiết của để tải

Nội dung: Gồm 3 chương,

Chương 1: Khải quát chung về biện pháp cưỡng chế kê biên tải sản dé

thi hành án dân sự

Chương 2: Nội đung của biện pháp cưỡng chế kê biên tải sản dé THA

theo quy định của pháp luật thi hành án đân sự Việt Nam

Chương 3: Thực tiễn áp đụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để

THA và một số khuyến nghị

Kết luận: Khẳng định, khái quát kết quả nghiên cứu.

Trang 8

Chương 1 KIIÁI QUAT CHUNG VẺ BIEN PIIAP CUONG CHE KE

BIEN TAI SAN DE THI HANH AN DAN SU

1.1 Khải niệm biện pháp cưỡng chế kê biên tài sẵn để thi hành án dân sự

1.1.1 Khải niệm kê biên tài sản

Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của nhá xuất bản Thành phố Hồ Chí

Minh năm 1998 thi kê biên là một từ lián - Việt “Kê” nghĩa là tính toán, còn

*biên” có nghĩa là ghỉ chép lại theo một trật tự nhất định Vậy kê biên có

nghĩa là tĩnh toán và ghi chép lại theo một trật tự nhất định Về tài sản, hiện

nay chúng ta chưa có một khái niệm khát quát về tài sắn mà chỉ có một định

nghĩa mang tính chất liệt kể: Tài sản bao pằm vật, tiễn, giấy tờ có piá và náo

quyển tài sắn (Diều 163 BLI2§ 2005)

Thuật ngữ kê biên lải sản đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta như pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989,

pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, 2004 đo đó, có thể thấy rằng đây là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong pháp luật tố Lụng dân sự Trong cuỗn từ điễn các thuật ngữ pháp lý thông dụng cũng của nhả xuất bản Thành

phế Hồ Chí Minh năm 1999 có định nghĩa KBTS như sau: “Kê biên tải sẵn là

việc ghỉ lại lừng tài sẵn, cắm việc tấu tán, phá hủy, dể dâm bản cho việc xét

xứ và thí hảnh án”

Như vậy, kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và

phi chép lại tài sẵn theo một trật tự nhất dịnh nhằm mục đích cụ thể Tài sắn ở

đây có thể là vật, tiên, giấy tờ có giá và các quyền tải sản

Từ những năm 1989 trở về trước, trong pháp luật tố tụng dân sự nước

ta chưa có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm kê biên tài sản và tịch biên tải

sản Song mãi khải niệm về một sự vật hiện tượng luôn gắn với một hoàn

cảnh lịch sử cụ thể, trong quá trinh phát triển các nhà lập pháp đã có sự phân

biệt về hai khái niệm này Kê biên chỉ là một hình thức ghi lại tài sản theo thứ

tự và áp dụng đối với tài sản hợp pháp của một chủ thé, can Gch biên thường,

Trang 9

dược áp dụng đỗi với tải sẵn có nguồn pốc bắt hợp pháp Cũng chính vì thế

mà nó kéo theo hậu quả pháp lý khác nhau Tài sản bị tịch biên thường bị

sưng công quỹ Nhà nước, tải sản kê biên sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ

của người có tài sản bị kê biên, có nghĩa là không bị sung công quỹ Nhà nước Như vậy, tích biển có thể gọi là tịch thu sung công quỹ Nhà nước

những tài sản có nguồn gốc bất hợn pháp, nó có bản chất hoàn toàn khác với

kê biên

Qua khái niêm KBTS ta thấy rằng trong đời sống hàng ngảy có những

khái niệm tương tự, gần giống với kê biên Nhưng KBTS luôn gắn với một

chủ thé nhất định, nhân danh cho quyển lực Nhả nước, vì thể không phải ai

cũng có quyền KDBTS của người khác, không phải hành động nào tương tự

cũng được gọi là kể biên Trong quả trình tố tụng dân sự nhiều chủ thể có

quyển áp dụng biện pháp KBTS nhưng việc áp dụng ấy có tính chất và mục

dich hoàn toàn khác nhau, không phải lúc nào KĐTS cũng dược áp dụng với

tính chất là một biên pháp cưỡng chế để THA Didu nay ching tôi sẽ làm rõ ở

phần tiếp theo

1.1.2 Kê biên tải sản - Biện pháp cưỡng chế để thì hành án dân sự

Điều 18 PLTIIADS 2004 quy định: “ Khi bẩn án, quyết định của Tỏa

án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này thi Téa an da

tuyên án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thí

hành án bản án hoặc quyết định có ghi “để thị hài

cho người được thỉ hành án, người phải thi hành án về quyên yêu cầu, thời

° Toà án phải giải thích

hạn yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật ”

Người được THA căn cứ vào bản sao quyết định, bản án đó có quyền

yêu cầu cơ quan ‘THA thi hành Dơn yêu cầu THA phải được gửi kèm cùng ban sao bản an, quyết định và phải được gửi trong thời hiệu THA Sau khi

nhận bản sao bản án, quyết dịnh cùng với đơn yêu cầu của người dược THA,

cơ quan THA phải vào số nhận bản sao bản án, quyết định, số nhận đơn yêu

cầu TIIA Đẳng thời cơ quan TIIA phải cấp cho đương sự phiếu nhận đơn

8

Trang 10

ngay sau khi nhận đơn yêu cầu THẢ của dương sự Số nhận đơn yêu cầu

'THA phải ghi rõ nội dung yêu cầu ‘THA cla đương sự Theo khoản 2, khoán

3, Điều 9 Nghị định sẽ 173/2004/NĐ-CP, nếu đơn yêu cầu THIA không đúng

quy dịnh thì cơ quan THẢ hướng dẫn người yêu cầu THA lam lai don ding

quy đnmh

Nếu người được THA trực tiếp trình bảy yéu cdu THA bing lời nói tại

co quan THA thi cơ quan THA phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu theo đúng hướng dẫn về đơn yêu cầu quy định tại Diễu 6 Nghị định số

173/2004/NĐ-CP sau đó, yêu cầu người yêu cầu ky vào biên bán hoặc nếu

không biết chữ thì điểm chỉ Biên bản cũng có chữ ký của cán bộ lập biên bản, biên bản thay cho đơn yêu cầu TIIA Cán bộ lập biên bản cũng phải làm thú tục vào số nhận đơn yêu cầu vả cẤp cho người yêu cầu phiếu nhận dơn như đối với trường hợp nhận đơn yêu cầu của đương sự Thời hạn ra quyết định

thi hành án là năm ngảy làm việc, kể từ ngây nhận dược bản án, quyết dịnh,

dấi với quyết dịnh về biện pháp khẩn cấp tam thời thì phải ra ngay quyết dịnh

thi hành án

Sau khi có quyết định THA, Thủ trưởng cơ quan thi hành an (CQTHA)

phải phân công chấp hành viên là nhiệm vụ thi hành Chấp hành viên bắt đầu

thủ tục THA bằng thông báo cho người được THIA, người phải TILA về việc

‘THA Chấp hành viên cũng dịnh cho người phải THA thời hạn không quá 30

ngày, kể từ ngày nhận được quyết định IHA để tự nguyên LHA (Diều 6 Pháp

lệnh TIIADS 2004) Nếu hết thời hạn này mà người phải THIA không tự nguyên thi hành thì chấp hảnh viên ra quyết định cưỡng chế THA Trong

trường hợp cụ thé CHV cé quyén kê biên tài sản của người phải THA

Nhu vậy, kê biên tải sẵn là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, chủ

thể có quyển áp dụng lả cơ quan THA dân sự mà cụ thể là chấp hành viên

được phân công trách nhiêm thí hành bản án, quyết định dân sự đó Tài sẵn bị

kế biến là tải sẵn của người phải THA, người phải THA này có thể lả cá nhân

Trang 11

hoặc tổ chức đã dược xác định cụ thé, dich danh trong quyết định, bản án

được mang ra thị hành

1.1.3.1, Điều kiện đễ chap hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng

chế kê biên tài sản của người phải 1114 là:

* Ban 4n, quyét định đân sự được thi hành (bao gồm những bản án, quyết

định dân sự đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng thi hành ngay - Điều 2 Pháp lệnh THADS 2004)

* Cé quyết dịnh THA của người có thẩm quyền

«Bán án, quyết định được thi hành là bắn án, quyết định về tài sẵn, hoặc

có liên quan đến tải sản

«Người phải thi hành án có tải sắn và tải sẵn đỏ thuộc phạm vi tai san

được phép kê biên theo pháp luật hiện hành

«_ Người phải THẢ dã không THA trong thời hạn tự nguyện

Khi có đầy đủ các căn cử trên thì CHV có quyển ra quyết định KDTS

của người phải THA Tuy vậy, pháp luật cũng cho phép trong trường hợp sau

thi CHV só quyển kế biên ngay tải sẵn của người phải THA (Khoản 2 Điều 7

Pháp lệnh THADS 2004):

+ _ Phát hiện người phái TIIA có hanh vi tau tan tài sản

«_ Người phải THẢ có hành vị hủy hoại tai san

+ _ Phát hiện người phải THA có hành vị trên tránh việc THA

'Tài sản đã kê biên được định giá và giao bảo quản theo quy định của pháp

luật để chờ xử lý

1.1.2.2 Xử Ïÿ tài sản đã kê biên

® Tải sản đã kê biển được trả lại cho chủ sở hữu nếu như tải sân đã kê

biên nhưng xác định dược tải sản đó không phải lả của người phải

'THA, hoặc trước khi xử lý tải sân kê biên người phải THA đã thực hiện nghĩa vu TILA hoặc khi có quyết định đình chỉ THA của người có thấm

quyền thi Thủ trưởng cơ quan THA trả lại don yêu cầu THA (nếu có),

10

Trang 12

dang thời ra quyết dinh giải tộ kế biển, tài sản đã kê biên dược trả lại

cho người cĩ tài sản đã bị kê biên

+ Nếu khơng thuộc các trường hợp trên thì khi hết thời hạn luật dịnh, tài

sản đã ké biên được đem bán đấu giá để lấy tiễn thực hiện nghĩa vụ

TILA của người phải TILA,

Việc bán đấu giá được tiến hành theo quy định của pháp luật, tiễn bán

tải sản kê biên sau khi trừ moi chi phí TILA sẽ được thanh tốn theo một thứ

tự ưu tiên nhất định Sau khi thanh tốn đầy đủ nghĩa vụ THA, nếu cịn thì

CHYV trả lại cho người phải LHA

Như vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tải sẵn là để đảm

bão thi hành băn án, quyết dịnh của Tỏa án về tài sản Khi áp dụng biên pháp

cưỡng chế này CHV nhân đanh quyền lực Nhà nước tiễn hành ghí lại từng tai

sẵn của người phải THA, thco một trình tự nhất định để dám báo thực hiện nghĩa vụ THA về tài sản của người đĩ Sau một thời pian nhất định, nếu

người phải TIIA khơng thực hiện nghĩa vụ thì tài sản này được mang bán đấu

giá dễ lầy tiền thì hành án

11

Trang 13

(phân công chấp hành viên)

¥ CHY định chơ người phât

THA thời hạn không qúa 30

`Tự nguyên thi hành

¥ Không tự nguyên

khâu trữ tai khoản

¥ : Trử vào thu nhập hợp vua ¬ phái

Cuỡng chế THẢ + ip hop pháp

Phong toa tai khoán, tài

> | sản của người phải THA

> Kế biên, xử lý TS của

*> Ì người phải TI1A, kế cả "T5

'Buộc giao nhà, chmyển Q8D

12 | Cắm hoặc buộc người phải

== TTA khởng lám hoặc lâm

Trang 14

1.1.3 Sự khác biệt giữa kê biên tài sản là một biện pháp khẩn cấp tạm

thời với kê biên tài sản - biện pháp cưỡng chế thể thi hành án dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ án dần sự, thẩm phán cúa TAND có

quyển áp dụng biện pháp khẩn cắp tạm thời K18, mặt khác trong quá trình THA thì CHV của cơ quan THA cũng có quyền KBTS với tỉnh chất là một

biện pháp cưỡng chế dé đảm bio cho THA

Theo Digu 41 PLTTGQCVADS 1989, khi có yêu cầu của đương

sự, của Viện kiểm sát hoặc khi tự xét thầy cần thiết, Tòa án áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời “ Kê biển tải sản dang tranh chấp để tránh việc tâu tản”

Mặc dủ vậy, biện pháp này được Thâm phán áp dụng chỉ nhằm mục đích

*Tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự hoặc để bảo vệ bằng

chứng” Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong đó có KHYS

dang tranh chấp do Tham phan 4p dung 1a để chuẩn bị cho hoạt động xét xử của Tòa án, nó khác với kê biên tài sản được quy định tại Điều 41 —

PLTHAIDS 2004 bởi KBTS do thắm phán áp dụng không nhằm mục đích dé

thĩ hành án Sở dĩ như vật bởi vì các lý do sau

'Irước hết, về đối tượng tải sản kê biên Tòa án chỉ tiễn hành kê biên

với những tài sản mà đương sự đang có tranh chấp để tránh việc tấu tán, trong

khi đó KBTS do CHV áp đụng để đám bảo THẢ thì đối tượng lài sẵn ở đây là

tất cả những tài sản được phép kê biển (trong đó có tài sản đang tranh chấp)

mà người phải THA là chủ sở hữu

Thứ hai, KBT§ do Téa án áp dụng không đáp ứng dược những đòi hỏi

của thủ tục KBTS để THA Bởi vì, KBTS để THA phải được tiền hành tại nơi

có tài sản của người phải TIIA với sự tham gia bắt buộc của các thành phần

theo quy dịnh và phải lập biên bản vả giao bảo quản tải sản kế biên

13

Trang 15

Thử ba, theo Điều 41 PILTTGQCVADS hiện pháp khẩn cấn tam thời

KTS chủ yêu là để phục vụ cho việc xét xử của Ta án và quyết định này

của thẩm phán có thê bị hủy bổ trước khi xét xử bởi Chánh án Tòa án đang

giải quyết vụ án, khi giải quyết khiếu nại của các dương sự hoặc kiến nghị của

Viện kiêm sát

Do đó, khi Hội đồng xét xử giải quyết những vấn để thuộc thẩm quyền

trong đó có tranh chấp liên quan đến tài sản như: tranh chấp về bồi thường, thiệt hại ngoài hợp đồng, vay mượn, mua bán mà quyết định KBTS để đảm

bão THA lá không đúng thẩm quyền, không đáp ứng được yêu cầu là KBTS

đang tranh chấp để tránh việc tâu tán hoặc lä để bảo vệ bằng chứng nhằm đầm

bảo cho việc xét xử cla minh.’

Theo Khoản 1, Điều 29, Khoản 2, Điều 40 PLTHADS, doạn 2 mục V

VK8NDTC đã ghi nhận : Khi KBTS, nếu có tranh chấp về tải sắn bị kê biên

thi CHV giải thích cho người dược THA, người phải THA, người có quyền,

lợi ich liên quan đến tài sản tranh chấp về quyền khởi kiện theo thủ tục tố

tụng dân sự Sau khi thụ lý đơn kiện, Tỏa án phải khẩn trương giải quyết tranh

chấp về tài sản để việc HA được tiếp tục, đảm bảo quyên lợi cho các đương,

sự IHết thời hạn 3 tháng kê từ ngày kê biên nếu không có ai khởi kiện thì tài

sản đã kê biên dược xử lý dể THẢ

‘la thay, pháp luật đã cho phép người có tranh chấp đối với tài sản đã

kê biên để TIIA được khởi kiện theo thủ tục tố tụng dẫn sự trong thời hạn 03 tháng để bảo vệ quyển lợi của mình, chính vỉ thể, nêu Hội đồng xét xử áp dụng biện pháp khắn cấp tạm thời KBTS mà để THA thì mặc nhiên đã tước đi

quyền khởi kiện của các đối tượng nói trên

Như vậy, pháp luật thi hành án dân sự chưa quy định lòa án được

quyết định KBTS để đảm bảo THA, nếu thấy cần thiết Tòa án án dung biên

pháp khẩn cấp tạm thời KPTS dang tranh chấp dễ trảnh viée tau tản Thẩm

‘xem tgp chủ Nhà nước va pháp luật số 4/98, trang 20,71

4

Trang 16

phan ra quyết dịnh kê biên trước khi xét xứ và chuyển giao cho co quan THA

để thi hành Vỉ thế, Tòa án không được tự mình KHTS dé trực tiếp đám bảo cho THIA bởi tính chất của biện pháp này là biện pháp khẩn cấp tạm thời, nỏ

dược lập thành văn bản dưới dạng quyết dịnh và cho thi hành ngay Sau khi

có quyết định bản án thì biện pháp này đương nhiên mắt hiểu lực Trong khi

đó, KBTS — biện pháp cưỡng chế để THA chỉ áp dụng khi đã có quyết định,

bản án của Lòa án được thị hành CHV chỉ áp dụng khi người phải [HA không tự nguyên thi hảnh trong thời hạn đã ấn định, và với mục đích nhằm đấm bảo các quyền và lợi ích hựp pháp của người được thị hành án

Điều kiện áp Yêu cầu của đương sự, + Hán án, quyết

Tòa án tự thấy cần + Quyết dịnh THA

quyền

+ Hán án, quyết

định được thi hành là

quyết định bản án về tải sản

Nguoi phai THA

có tài sắn thuộc phạm vì

tải sản được kê biên

+ Người phải THA

đã không tự nguyên thi

Trang 17

hành trong thời hạn

Giải quyết yêu cầu cấp

bách của đương sự

1.1.4 Ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để THA

Cưỡng chế kê biên tài sản dễ THA góp phần vào bảo dầm pháp chế

XIICN bởi yêu cầu của pháp chế là sự đòi hỏi mọi chủ thể phải tuân thủ pháp luật một cách đây đủ, nghiêm mình và bình đẳng, mà KBTS để THA là nhằm

hiện thực hóa các quyết định, bản án đân sự của Tòa án, đây chính là một hoạt

động tích cực bảo vệ pháp luật , bảo đảm pháp chế

'Phứ hai, cưỡng chế kê biên tài sản để thí hành án đảm bảo được quyền

lợi của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo

được sự công bằng trong xã hội Mục đích của cưỡng chế nỏi chung là buộc

người phải THA thực hiên nghĩa vụ của mình trước bên có quyền — người được THA, người được THA này có thể là Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân

công dân, vi thế, nó chính lả một biện pháp bảo đảm cho quyển của người

được THA

Thứ ba, thông qua cưỡng chế KTS góp phần vào tuyên truyền, giáo

dục pháp luật về THA ở Việt Nam chủng ta ý thức pháp luật của người dân

chưa cao, đồng thời công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nhất là pháp luật TIIA chưa được chú trọng, chính vi thé thông qua việc áp dụng

pháp luật phần nào giúp người dân (trực tiếp là người phải THA, người được

TIIA và gia đình họ) hiểu luật và chấp hành pháp luật Nhiều nơi, người được

THA đo không hiểu biết pháp luật nên đã không yêu cầu THA hoặc người

16

Trang 18

phải THA nhận thức sai lầm về pháp luật dã cán trở, hoặc chống đối THA

một cách rất quyết liệt làm ảnh hưởng tới việc thị hành pháp luật

Thứ tư, pháp luật TIIA nói chung, cường chế kê biên tài sản nói riêng

là một hoạt đông thực tiễn, vì vậy thông qua cưỡng chế KHTS giúp chúng ta

xác đmh được nguyên nhân của việc chậm THA phát hiện được những sai sói

trong quá trinh thực hiện để từ đó khắc phục, sửa sai Đồng thời, rút kinh

nghiệm trong đường lỗi xét xử và THA về tải sắn, póp phần vào việc xây

dựng và hoàn thiện pháp luật về THA dân sự

Thử năm, nói đến cưỡng chế THA là nói đến vai trò chú yếu cúa chấp

hành viên, chấp hành viên sử dụng quyền của mình như thế nảo, có hiệu quá

ra sao? Bởi pháp luật không buộc chấp hành viên phải cưỡng chế theo một

khuôn mẫu vi hoạt động cưỡng chế THA nói chung, cưỡng chế KBTS nói

riêng lả hoạt động áp dụng pháp luật nó mang tính sáng tạo, đa đạng theo một

chừng mực nào dó có thể dánh giả dược năng lực, phẩm chất của chấp hành

viên trong cơ quan thi hành án

Với Ý nghĩa nêu trên, cưỡng chế thi hành án din sự nói chung, cưỡng

chế kể biển tải sẵn để thi hành án nói riễng gdp phần tỉch cực vào việc dây

mạnh hiệu quá của công tác HA, thực hiện chủ trương chỉnh sách của 1Đảng,

pháp luật của Nhà nước về TIIADS trong thời kỳ mới

1.2 8ø lược về sự phát triển của chế định cưỡng chế kê biên tài sản trong

quả trình phát triển của pháp luột thí hành án dan sự Việt Nam

Ké bién tài sản là một biện pháp cưỡng chế để thi hành án đân sự, sự

hình thành và phát triển của chế định nảy luôn gắn bó và có quan hệ mật thiết

với sư hình thành và phát triển của pháp luật thi hảnh án dân sự Việt Nam

Quá trình phát triển này được chía theo các giai đoạn sau

1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1960

Năm 1945, Cách mạng tháng § thành công lập nên nước Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa, chấm dứt chế độ cai trị của thực đân phong kiến Song do diều

17

Trang 19

kiện lịch sử lúc đó, Nhà nước ta vừa hình thành chưa thể xây dựng, ban hành

ngay được một hệ thống pháp luật mới nên Chủ tịch Hỗ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện

hành của chế độ cũ ở Bắc, Trung, Nam bộ voi digu kiện “Không trái với

nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa” Vì những lẽ

đó, hoạt động TIIA ở nước ta vẫn do Thừa phái lại đấm nhiệm, hoạt động của

'thừa phát lai đã được hình thành ở nước ta từ năm 1910 trên cơ sở luật tố tung dan sự ban hành kẻm theo Nghị định ngày 09/03/1910 của Toàn quyền

Đông Dương được đuy trì cho đến nắm 1950 Bên cạnh đỏ, theo sắc lệnh số

13/5L ngày 24/01/1946 có quy định: Ban tư pháp xã cũng có quyên thi hành những mệnh lệnh của Tòa án cấp trên bao gồm cả bản án và quyết định của

Toa an Nhu vậy, trong những năm dẫu của chính quyền cách mạng, tổ chức

hoạt động THADS đã hình thành và song song tồn tại hai lực lượng THA là

Thừa phát lại và Ban tư pháp xã Đến năm 1950, theo Sắc lệnh số 85/§L ngày 22/05/1950 “Về cải cách bộ máy tư pháp va té tung” công tác thi hành án dân

sự được giao cho Tòa án đảm nhiệm mà cụ thể là cho Thấm phản TAND cấp

huyện

'tiếp theo đó 'Thông tư 19/VHH/H8 ngày 30/06/1955 của Hộ Tư pháp,

Chi thi 772/TATC ngày 10/07/1957 của TANDTC thì từ thời gian nảy trở đi

các Tòa án không dược áp dụng pháp luật của chế đô cũ nữa lúc này, hoạt

động THAI được tiến hành theo Thông tư 4176 — HỢTP ngày 28/11/1957

của Bộ Tư pháp, thông tư 4296/05 09/12/1957 của Bộ Tư pháp Tại Thông Lư

4176 — HC'TP ngày 28/11/1957 của Hộ Tư pháp đã đưa ra nguyên lắc trong,

việc thực hiện các biện pháp cưỡng ché THA, nhưng lúc đó lại chưa có một

văn bắn nảo quy định cụ thể về biện pháp cưỡng chế THA

Phải đến năm 1960, khi Luật tổ chức TAND ra đời thì cưỡng ché THA

nói chung, cưỡng chế KBTS nói riêng mới thực sự có căn cứ pháp lý để thực hiện

18

Trang 20

1.2.2 Giai đoạn tù 1960 đến 1989

Ngày 14/07/1960, Luật tổ chức TAND được ban hành Theo Điều 24

của luật này thì các TAND địa phương có nhân viên chấp hảnh án làm nhiệm

vụ thi hành các bản án và quyết định về dân sự Trong thời gian này hoạt

động thi hành án được tiễn hành theo quy định của Thông tư số 04/TT - NCPL 14/04/1966, ‘Théng tư 442/FC ngày 04/07/1968, Thông tư 187/TC

ngây13/10/1972 của TANDTC

Thco thông Lư 442/TC ngày 04/07/1968 của TANDTC về đẩy mạnh công

tac ‘HA thi Uy ban hành chính xã là cấp chính quyển địa phương cơ sở, cho

niên về mặt công tác lw pháp cũng có nhiệm vụ THA Nhiệm vụ của ủy viên Lư

pháp xã là: giáo dục, theo dõi, dôn dốc dương sự tự nguyên chấp hành bản án

Uy ban hành chính xã không có quyển quyết định áp dụng các biện pháp

cưỡng chế THA, việc áp dựng các biện pháp cưỡng chế : Kê biên lải sản, định

giá phát mại phải do Thẩm phán phụ trách công tác THA ở Tòa án cấp TIuyện trực tiếp tiến hành mà không thé ủy nhiệm cho Ủy ban hanh chính xã

Ủy ban hành chỉnh xã chỉ giúp Tòa án trong việc tiến hành KTS vả tho dõi

quan lý tài sản đã kê biên Tại Quyết định 186/QD-TC ngay 13/10/1972 cia Chánh án TANDTC về tễ chức, nhiệm vụ quyền han của CIIV thi CIIV có

quyền áp dưng biện pháp cưỡng chế THA dã được pháp luật quy định, nhưng

để việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế được thận trọng hơn, tại Điều 4

của quyết định này đã quy định CIIV chỉ có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng, chế THA sau khi được sự thỏa thuận của Chánh án TANI noi CHY

công tác

Trong giai đoạn 1960 — 1989 về nội dung biện nháp cường chế KBT8

được quy định cụ thể tại Ihông tư số 04/LT - NCPL ngày 14/04/1966 của

TANDTC hướng dẫn về KBTS như sau:

“© Pham vi tai san kẽ biên

19

Trang 21

Những tải sẵn có thể kế biển 14 tai san cia người mắc nợ, kể cả những

tài sân mà họ đang gởi giữ ở nơi khác, cho người khác mượn, đang đem đi

sửa chữa hoặc những món nợ đang cho người khác vay

Nếu can phạm dang ở tủ thỉ Tỏa án cũng có thể kê biên những dễ vật

mả trại giam đang giữ của họ như đồng hỗ, dé trang sic dé THA

Trong việc kê biên nhà phải được tiễn hành thận trọng Tủy trường hợp

mả có thể giải quyết chỗ ở cho họ bằng các yêu cầu họ bán nhà đi để THA, số tiền còn lại sẽ được dùng để mnua hoặc lâm nhà khác rẻ hơn; nếu họ không chiu thi kê biên

% Những đẳ vật không được kê biên

® Quân ảo, chăn màn, giường chiếu tối cần thiết cho người mắc nợ

Những thứ cần để lại cho người mắc nợ và gia đình họ sinh sống tùy

từng trường hợp cần xét một cách cụ thể như: Đối với gia dình nông dan nói

chung có thể kê biên được xe đạp, nhưng đối với những người ở thành thị đi làm ở xa thì có thể phải để lại cho người mắc nợ xe đạp để họ đi công tác

'Tuy nhiên, dối với gia đình có nhiều xe đạp, người mắc nợ hoặc những người

trong gia đình họ cũng có những người không phải đi làm xa, có khi chỉ dùng

xe dap để đi chơi, thì cũng có thể là kê biên một số xe đạp Giường năm của

người mắc nợ hoặc những người trong gia đình họ nếu là loại có giá trị cũng

có thể yêu cầu họ bán để mua thứ khác rẻ hơn, số tiền cần thừa dùng dé THA

Nếu họ có nhiều giường tũ thì cũng có thể kê biên một số dễ THẢ

Những thuốc men cần thiết cho người mắc nợ hoặc gia đỉnh họ chữa

bệnh, đường sữa cho trẻ em, các phiếu lương thực thực phẩm, phiếu mua

Trang 22

hàng gủa người mắc nợ và gia dình họ dược Nhà nước cấp dều không dược kê

biến

% Thủ tục kê biên tài san

Khi THA, nêu người mắc nợ có tài sản mà trước đó chưa kịp tạm pitt

hoặc kê biển, thì giải thích cho họ tự đồng bán một số tải sản để THA Nếu họ

không tự nguyện thi Téa án kế biên một số tải sản để tránh cho việc trả dần

làm kéo dài việc THA Iòa án chỉ kê biên những tài sản đủ để THA trong do

chú ý kê biên những tài sản có giá trị dễ bản để THA : xe đạp, đồng hỗ, quạt

máy Nếu những lài sản đó không đủ để THA mới kẻ biên đến nhà cửa

Nếu sau khi kê biên mà phải giao lại tài sản cho người mắc nợ, người thân thuộc của họ hoặc giao cho ủy ban hành chính xã bảo quản thi phải xác định rõ trách nhiệm của người báo quản và giao cho họ một biên bản kê biên (bản sao)

% Xie ly tai sản kê biên

Nếu sau khi kê biên mà người mắc nợ nộp được tiền để ''HA thì Tòa án

nhận tiền và trả lại những tải sản đã bị kê biển, không phát mại những tai san sau dó nữa

Nếu không thuộc trường hợp trên thì tài sản đã kê biên được phát mãi

để THA

'Phông tư số 047I'T-NCPI ngày 14/04/1966 đã hướng dẫn về cách định

giá và bản các tài sản đã bị kê biên để THA

Sau khi trả những chỉ phí, tiền bán những đỗ vật đã bị kê biên sẽ dùng

để thanh toán những khoản tiền phải THA, nêu còn thừa thi trả cho người mắc

Trang 23

«© Cac món nợ của Nhà nước, Hợp tác xã

«Các món nợ khác

Như vậy, từ năm 1960 - 1989 tuy Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn

bắn hướng dẫn vẻ tố chức và hoạt động TIIADS, nhưng oác văn bản quy định còn tân mạn ở nhiều Thông tư, Quyết định khác nhau, giá trị pháp lý của các

vin ban nay còn thấp dẫn đến công tác cưỡng chế TIIA đạt hiệu quả không

cao ĐỂ tăng cường, dẫy mạnh, nâng cao hiểu quả công tác THAI2§ ngày

28/08/1989 Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh thi hanh án dân sự

(PLTHADS), đánh dấu là một sự thay đổi lớn trong tiễn trình phát triển của

pháp luật về thi hành án dân sự

1.2.3 Giai doạn từ 1989 dén 1993

Neay 28/08/1989, PLTHADS dầu tiên dã dược ban hảnh tạo cơ sé pháp lý cho việc tăng cường hoàn thiện về tổ chức và hoạt động, tạo một bước

phát triển mới trong công tác THAD Lần dầu tiễn, các nguyễn tắc, trình tự,

thủ tục THADS và các biện pháp cưỡng chế THA được quy định một cách cụ

thể, chặt chẽ đưới một hỉnh thức có giá trị pháp lý của Iiội đồng Nhà nước

(nay là ủy ban thường vụ Quốc Hội) Theo pháp lệnh này từ chỗ Thẩm phán

vừa kiêm nhiệm công tác xét xứ và THTA, thì nay đội ngũ cán bộ TILA đã

được chuyên mỗn hóa, tiêu chuẩn hóa, chịu trách nhiệm trước Nhà nước về

việc thực hiện các phản quyết của Tỏa án Cơ chế mới cho phép kết hợp giữa

quyền tự định đoạt của đương sự và tính chủ động của chấp hành viên

Cưỡng chế THA đã được quy định thành một chế định riêng, nó chứng +6 được vai trỏ quan trọng và sự cần thiết của các biện pháp cưỡng chế trong

THIADS Trên cơ sổ sự kế thừa có chọn lọc các quy định của pháp luật trước

dây, biện pháp cưỡng chế KBT§ cũng được quy dinh một cách cụ thể hơn, rõ

rang hơn đảnh đấu một bước phát triển của các quy dinh vé KBTS, thể hiện

những điểm tiễn bộ như

Thủ tục kê biên tải sản được quy định chặt chẽ, cụ thể CHV phải T8 riêng của người phải TIIA trước rồi mới kê biên tới phần tài sản của họ

22

Trang 24

trong khổi tài sản chung với người khác Người phải THẢ được phép để nghị

CHV KBS nảo trước, tài sản nảo sau và người được THẢ và người phải

THIA có thể thỏa thuận với nhau về giá trị của tài sẵn kê biên

Vai trò của Hội dồng dịnh giá được xác dịnh trong quá trình định giá

tài sản kê biên, trong trưởng hợp các đương sự không thỏa thuân được với

Mặc dù có những điểm tiến bộ đó nhưng trong quá trình thực hiện

PLTHADS 1989 đã bộc lộ những điểm bất hợp lý, công tác cưỡng ché THA

vẫn chưa được thực hiện tốt bởi cơ quan TIIA, C¡IV vẫn lệ thuộc Téa an do

Tòa án trực tiếp chí dạo về mặt nghiệp vụ va chịu trách nhiệm vỀ kết quả

THA CHV chỉ lả người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án, không có dt

quyền năng cần thiết dé dăm báo thực thi nhiệm vụ của mình và giải quyết những vấn dễ phát sinh trong quá trình THA Mọi quyết dịnh quan trọng

trong quá trình TILA đều thuộc thẩm quyền của Chánh án Chính vi vậy mà

việc áp dụng cưỡng chế KBTS dôi khi không mang lại hiệu quá, hoặc đạt hiệu

quả rất thấp, công tác THA chưa nghiêm ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn trật

tự an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân.”

"Trước tình hình đó, Quốc hội khỏa IX, kỹ họp thứ nhất dã thông qua

Nghị quyết về việc bàn giao công tác THA từ Tỏa án nhân dân sang cơ quan

thuộc Chính phủ Pháp lệnh TIIAD8 1989 được thay thế bằng pháp lệnh

THADS 1993

1.2.4 Giai doan ti 1993 dén 2004

Phap lénh THADS 1993 la mét van ban phap iuat có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vục THADS tại thời điểm ban hành có ghi nhận về biện pháp

cưỡng chế KBTS dể THA Ngoài ra, biện pháp cưỡng chế nảy cỏn dược quy

? Xem: Chuyên đề tả chức và hoạt động THADS - Thực trạng và phương hướng, đổi mói của Viện nghiên

cửu khoa học pháp lý ~BTP, E7

23

Trang 25

dinh hướng dẫn cụ thể ở các văn bản hưởng dẫn thị hành Pháp lệnh THADS

1993 như: Nghị định 69/CP của Chính phủ ngày 18/16/1993 quy định về thú tục THADS, Thông tr 981/TTLN của BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày

21/09/1993 hướng dẫn một số quy định của PI.THAI3S; Thông tư số

02/TLLN của BIP-BKV-VKSNDTC ngày 17/09/1993 hướng dẫn về báo vệ cưỡng chế TIADS; Thông tư 119/TTLT của BTP-RTC hướng dẫn KBTS của

doanh nghiệp để VHA; Thông tư liên tịch 01/TTLT của TANDIC- VKSNDTC ngày 10/01/1992 hướng dẫn việc xét xử và THA về tài sản trong

vụ án hình sự và dân sự Thông tư liên tịch số 12/TTLT BTP-VKSTC ngày

26/02/2001 hướng dẫn thục hiện một số quy định pháp luật về THADS

Pháp lệnh TIIADS 1993 được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc

xây dựng hệ thắng cơ quan THA tách ra khỏi hệ thống Toa an để thực thí

nhiệm vu tế chức thi hành án dân sự Trên cơ sở pháp lệnh này, hiệu quả TH

dã được nâng cao, bước đầu góp phần vào việc giữ nghiêm pháp luật, trật Lự

ký cương trong xã hội

Tuy nhiền, đo được ban hành trong điều kiện rất khẩn trương nhằm kịp

thời triển khai thi hành Nghị quyết của Quốc hội về bản giao công tac

‘THADS ti Toa án sang Chính phủ, những nội dung được sửa đối, bố sung, của Pháp lệnh TIIADS năm 1993 còn rất khiêm tốn, chỉ nhiều hơn Pháp lệnh

'THAI2§ 1989 là bảy diều, có ba điều hoàn toàn mới chủ yếu quy định về công,

tác quản lý nhả nước về THA; các quy định về kẽ biên tài sản để THA hầu như chưa có sự sửa đối, bố sung

Như vậy việc thay đổi chủ yêu tập trung vào sự chuyển đổi cơ chế

THA mà không có sự sửa đối, bễ sung về mặt trình tự, thủ tục THA Có nghĩa

là phần lớn các quy định của Pháp lệnh 1993 (trong đó có các quy định về

KTS để THA) vẫn giữ nguyên các quy định của Pháp lệnh 1989 - là Pháp

lệnh được xây dựng và ban hành trong điều kiện kinh tế xã hội có nhiều điểm

khác biệt so với tình hình kinh tế xã hội của thời kỳ mở của và cái cách rộng,

lớn Diều đó cũng đồng nghĩa với việc tại thời điểm ban hành, nhiều quy định

Trang 26

của Pháp lénh THADS 1993 (trong đó có các quy định vé KRTS dé THA) da ngay lập tức lỗi thời Thêm vào đó, củng vơi thời gian, nhiều quy định của

Pháp lệnh TIIADS ¡993 cảng trở nên không phủ hợp với tình bình phát triển

kinh tế xã hội, không theo kịp quá trình déi mới của dát nước, đặc biệt là páu

chủ trương, đường lối của Dảng và Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách

tư pháp Nhiêu vẫn để vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục

‘THA chua duoc giải quyết vì thiểu cơ sở pháp lý đã dẫn đến tình trạng án tổn đọng trong thị hành án dần sự đang có xu hướng ngày một gia tăng

1.2.5 Giai đoạn tù 2004 đến nay

Pháp lệnh thi hành án dân sự (sửa đổi) được Uỷ ban thường vụ Quốc

hội thông qua ngày 14/01/2004 Pháp lệnh THAIDS năm 2004 có 08 chương

và 70 điêu, tầng thêm 01 chương va 20 diều so với Pháp lệnh THADS năm

1993

Về mặt nội dung, Pháp lệnh THAD8 năm 2004 quy định một số điểm

mới về cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng cũng như các biện pháp cưỡng chế

nói chung để thi hành án, cụ thể bao gầm:

«© Sửa đổi bố sung các quy định về kê biên, định giá, bảo quản,

ban lai sản đã kê biên và thanh Loán tiền thi hành án (các điều 41,

42, 43, 44, 45, 46, 47, 48 và 51) Đây là phần có nhiễu thay đổi,

bể sung nhiều nhất trong thủ tạc cưỡng chế thi hành án và xử lý tải sẵn kê biên như: trình tự xử lý tải sản kế từ khi kê biên cho đến khi bản tài sản đều được quy định cụ thể bằng những thời

han nhất định để thực hiện, đối với các lài sẵn kê biên là bất

động sản, quyền sử đụng đất, đồng sẵn có giá trị tử 10 triệu dỗng

trở lên thi thuộc thầm quyền bán đấu giá của Trung tâm bán đầu

giá; đối với động sẵn có giá trị từ 10 triệu đồng trở xuống, tải sản

có trị giá dưới 500.000 đ hoặc tải sản thuộc điện mau hồng thì thuộc thâm quyên của Chấp hành viên

25

Trang 27

© Sửa đổi quy định về cưỡng chế giao vật, tài sản khác, nhà,

chuyển quyền sử dụng đất (Điều 53, 54) Điểm mới của phần này

là: ?kứ nhất, dối tượng phải thực hiện quyết định cưỡng chế giao

nha không chỉ là người phải thí hành án và tài sản của họ mà kể

cả những người khác, Thử hai, việc cưỡng chế giao nhà vẫn có

thé được tiễn hanh trong trường hợp người phải thi hành án cố

tình vắng mặt, nếu đã được thông báa hợp lệ; Thứ ba, trường hợp

tải sẵn của người phải thi hành án và người khác bị cưỡng chế

đưa ra khói nhà, nêu họ không nhận lại thì Châp hành viên có

á nhân có điều kiện bảo quần Nếu hết

quyên giao cho lỗ chức

thời hạn 6 tháng kể từ ngày thông bảo mà người phái thị hành án

không nhận lại tài sản, thì tải sản đó sẽ được bán theo quy định

chưng về bán tài sẵn, số tiền thụ được sau khi trừ chỉ phí bảo quản, vận chuyển và bán tài sản, nếu cn thì sẽ dược pửi tiết

kiệm cho người phải thi hành án

* Sita đổi, bỗ sung quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc làm hoặc không được làm công việc nhất định (Điều 55, 56): F7

alu,

sẻ chủ thể khiếu nại, không chỉ người dược thi hành án,

người phải thi hành án, người có quyển mà cá người có nghĩa vụ

liên quan cũng có quyền khiểu nại

Nội dung của PI.ITHAI38 2004 và các văn bản hướng dẫn thị hành quy

định về biện pháp cưỡng chế KBTS cụ thể ra sao, những ưu điểm vả những

bất cân của nó được bộc lộ trong quá trình thực hiện như thế nảo? Chúng tôi

xm làm rõ ở chương tiếp theo của luận văn này

Trang 28

Chuong 2: NOI DUNG BIEN PHAP CUONG CHE KE BIEN TAI SAN pit THLE HANH AN THEO QUY DINH CUA PHAP LUAT THI HANH

AN DAN SU VIET NAM

211 Kê biên tài sản

2.1.1 Kê biên tải sản của cả nhân để thi hành án

3.1.1.1 NHững nguyên lắc kê biên lời sin

Chấp hành viên cỏ quyền kê biên tài sản nếu có căn cứ cho rằng tài sản

đó là cúa người phản thì hành án, kể cá quyền sử dựng dất hoặc tải sản dang

do người thứ ba giữ, trừ trường hợp mà pháp luật có quy dịnh khác Theo

khoản 1 Điều 21 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP thì trước khi ra quyết định kê

biến tài sản, chấp hành viên phải yêu cầu cơ quan dăng ký quyền sở hữu, sử

dụng tải sản cung cấp thông tin về quyền sở hữu, quyển sử dụng tài sân của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cũng cấp

thông tin về tài sân dự dịnh kê biên có dang dủng vào việc bảo dảm thực hiện

nghĩa vụ của người phải thí hành án đối với người có quyển hay không hoặc

tài sản đo người phải thi hành án quản lý, sử dụng có phải là tải sản thuê mua

tài chính hay không 'Irong thời hạn năm ngày làm việc các cơ quan nói trên

phải trả lời bằng văn bản cho chấp hành viên những nội dung yéu cầu

Chấp hành viễn phải chấp thuận để nghị của người phải thị hánh án về

việc kê biển tài sản nảo trước, nêu xét thay dé nghị đó không cần trở việc tì

hành án Trong trường hợp người phải thi hành án không có đề nghị nào

khác, chấp hanh viên tiến hành kế biên tải sản thuộc sở hữu riêng của người

phải thi hành án Nếu người phải thi hành án không có tải sản riêng hoặc

không đú để thi hành án, chấp hành viên mới dược quyền kế biên phần tài sản

của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung với người

khác Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử đụng đất, nhà ở, trụ sở của người

phải thì hành án nếu sau khi kê biên hết các tải sản khác mà vẫn không dủ dễ

thí hành án

bs 3

Trang 29

Thử tự kể biên tải sắn lả mang tinh nguyễn tắc mà các chấp hành viên

phải tuân thủ và thực hiện đúng,

Chấp hành viên chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án đủ để

dâm bảo thi hành án và thanh toán các chỉ phí về thi hành án Trong trường,

hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nghĩa vụ phải

thì hành án mà không thể phân chia được hoặc việc phần chia sẽ làm giảm

đáng ké giá trị của tài sản thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản đó để đầm bảo thi hành án Tuy nhiên, khí kê biên, chấp hành viên phải tạm tính giá

trị của các lài sản định kê biên để kê biên tương ứng với nghĩa vụ thị hành án

và thanh toán các chỉ phí thi hành án Chấp hành viên căn cứ vào thị trường, đồng thời có thể tham khảo ÿ kiến của các cơ quan chức năng và của các bên

dương sự dễ tạm tính giá trị tài sắn kế biên (Khoản 2 Điều 21 Nghị định số

173/2004/KD - CP)

Trường hợp người phải thi hank an Khng co Lai san nao khac thi chap

hành viên có quyền kế biên tải sản của người phải thi hành An dang duoc chm

cổ, thế chấp nếu tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm Chấp

hành viên có trách nhiệm thông bảo cho người nhận cẦm có, thể chấp biết

việc kể biên tài sản đó

2.1.1.2 Những tài sẵn không được kê biên

Mục dích của cưỡng chế KBTE là nhằm đầm bão quyền và lợi ích hợp

pháp của người được IHA, tuy nhiên pháp luật cũng tính đến những lợi ích

cần thiết về mặt kinh tế, xã hội của người phải TTIA, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tôi thiểu của mỗi người, tôn trọng thuần phong mỹ tục của mỗi địa

phương và với mục đích nhân đạo nên khi kê biên tài sản chấp hành viên để

lại cho người phải THA số Lài sản cần thiết để duy trì cuộc sống của họ và

những người trong gia đình

Theo Điều 42 Pháp lênh thi hành án đân sự năm 2004 thì chấp hành

in không dược kê biển những tải sắn sau

Trang 30

»* Luong thực, thuốc men cần thiết cho người phải thi hành an và gia

định

© Cơng cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thơng thường cần thiết cho

người phải thi hanh an và gia đình

ø_ Đơ đùng thờ cúng thơng thường,

Điều 22 Nghị dịnh số 173/2004/NĐ-CP quy dịnh chỉ tiết những tài sản

khơng được kê biển:

© Đối với lương thực, thuốc men: Khơng kê biên số lương thực đáp

ứng nhu cầu cần thiết của người phải thi hành án và giá đình trong

thời giam chưa cĩ thu nhập, thu hoạch mới, số thuốc men cần dùng

cho nhu cầu phịng, chữa bênh của người phải thi hành án vả gia đình

s Đối với cơng cụ lao động: Khơng được kê biên cơng cụ lao động

thơng thưởng cần thiết được đùng làm phương tiện sinh sống chủ

yếu hoặc duy nhất của gia đình như cảy, bừa, cuốc, xẻng, xe đạp thd, xich lơ và các cơng cụ cĩ giá trị khơng lớn Các cơng cụ lao

dong cĩ gia tn nhu xc may, 6 t6, tau thuyén, may cay, may xay xdt

và các cơng cụ cĩ giả trị khác thi chấp hành viên vẫn kê biên, phát

mai dễ thì hãnh và trích lại một khoản tiền để người phải thì hành án

cĩ thể thay thể bằng một cơng cụ lao dộng khác cĩ giá trị thấp hơn

* Đối vơi quần áo, dỗ dùng sinh hoạt: Khơng kế biên quần áo, đã

dùng sinh hoạt thơng thường cần thiết cho người phải thi hành án va gia ding theo mức tối thiểu ở từng địa phương như nồi, xoong, bat

đĩa, giường, tú, bàn ghế vá các vật dụng thơng thường khác cĩ giá

trị khơng lớn Những đỗ dùng sinh hoạt hay tư trang như tỉ vi, máy

tủ lạnh, điều hộ, máy vi Lính, nhẫn vàng, giường, tủ và những

đề dùng cĩ giá tri, thì cơ quan thi hành án vẫn kê biên dé dam bao

thi hành án.

Trang 31

Việc pháp luật xác định rõ những tải sản không được kế biên có ÿ nghĩa

võ cùng quan trọng, bởi nó đầm bảo được điều kiện sống của mỗi can người

Nội hàm của quy định này đã thể hiện được tính khoa học và tỉnh nhân đạo của pháp luật Việt Nam

2.1.1.3 Trình tự, thủ tục kê biên tài sản của người phải thì hành án

Các quy định pháp luật về KBTS để THA là cơ sở pháp lý cho các hoạt động cụ thể của CIIV, đồng thời bảo đảm được quyền và lợi ích của các

dương sự trong quá trỉnh cưỡng chế KBTS dễ THA

a Chuẩn bị cho việc tiền hành kê biên tài sản

Khi một bản án, quyết dịmh dân sự về tài sản của Tỏa án được thị hành,

diều trước tiên CHV phải di xác minh tài sản của người phải THA và gia đình

họ, nắm chắc tình hình phong tục tập quán ở địa phương Đồng thời, CIIV

phải liên hệ với chính quyền dịa phương tổ chức xã hội và nhân dân dịa

phương để tranh thủ sự giúp đỡ trong công tác và có biện pháp giáo dục, động, viên người phải thi hành án tự nguyện thi hành Đối với những vụ cưỡng chế

'THA phức tạp, có khá năng ảnh hưởng xấu dến tình hình chính trị, trật tự an

ninh toàn xã hội của địa phương thỉ cơ quan LHA phải báo cáo với lãnh đạo

cơ quan Tư pháp dé chủ động phối hợp với cơ quan Công an, Viên kiểm sát

nhân dân củng cấp để hep bàn và thống nhất phương pháp bảo về trật tự an ninh toàn cho cưỡng chế THA Dỗng thời phải bảo cáo với Chủ tịch ủy ban

nhân dân củng cấp dễ Chủ tích trực liếp chỉ dạo và phối hợp các lực lượng

tham gia Trong trường hợp cân có lực lượng cảnh sát bảo vệ thỉ cơ quan

THA phải thông báo bằng văn bán cho cơ quan Công an biết trong thông bảo

ghi rõ: thởi gian, dia điểm tiến hành cưỡng chế, đối tượng bị cưỡng chế,

những khả năng có thể xảy ra, nhu cầu về lực lượng bảo vệ và các lực lượng

tham giá bảo vệ trật tự Lực lượng Công an dược cử dến không phải lá dé cưỡng ché thay cho CHV ma dé làm nhiệm vụ duy trì trật tự và dám bảo an

toàn trong suốt quá trình cưỡng ché TILA

30

Trang 32

Những công việc chuẩn bị trước khi tiến hành cưỡng chế THA là

những công việc tương đối đơn giản song nó lại có một ý nghĩa quan trọng,

giúp cho quá trình cưỡng chế TIIA nói chung kê biên tài sẵn nói riêng diễn ra

một cách thuận lợi Nếu có xây ra sự cô thì có thể hạn chế dược tối đa những

tổn thất bởi đã có sự lường trước tránh cho cơ quan THA, chấp hành viên rơi

vào thế bị động, từ đó việc THIA sẽ đạt được hiệu quả cáo

b Thủ tục kê biên tai san

Khi kê biên tài sản phải có đại điện của chính quyền xã, phường, thị

iran và người làm chứng Người được thi hành án, người phải thi hành án,

người có quyền, nghĩa vụ liên quan được thông báo về thời gian, địa điểm kê

biên tài sản Nếu người phải thi hành án cố tỉnh vắng mặt thì chấp hành viên

van tiến hảnh kê biên tải sẵn cúa người đó, nhưng phải ghi rõ việc này vào

biên bản kê biên

Khoăn 3 Điều 21 Nghị dinh số173/2004/NĐ-CP quy dịnh trong trường hop ké bién tải sẩn là nhà ở hoặc dé vat dang bị khoá hay dóng pói thi chấp

hành viên yêu cầu người phái thi hành án, người đang quán lý tài sản đó mở khoá, mớ gói Nếu người phải thi hảnh án, người quản lý, sử dụng tải sản đó

không mở hoặc cố tinh vắng mặt thì chấp hành viên lập biên bản ( có ít nhất

hiat người làm chứng và có sự tham gia của đại điện uỷ ban nhân dân cấp xã,

Viện kiểm sát nhân din cing cấp) mở khoa hay mở gói để kiểm tra, liệt kế cụ

thể các tài sản và kê biên theo quy đỉnh của pháp luật Irương hợp người phải

thi hành án, người cé quyền, nghĩa vụ liên quan đang chấp hành hình phạt tà thỉ chấp hành viên thực hiện việc thông báo các quyết định, giấy báo về thi

hành án cho người đó thông qua giám thị trại giam Người đang bị giam giữ

tỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ thị hành án của

mình theo quy định của pháp luật

Khi kê biên tài sẵn, nếu có tranh chấp thì chấp hành viên vẫn tiễn hành

kế biên và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tung

dân sự Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi

31

Trang 33

kiện thì tài sản bị kế biên duợc xử lý dé thi hành án Trong trường hợp cần

xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tải sản chung mà các bên không thoả thuận được thì chấp hành viên có quyền yêu cầu toà án

giải quyết

khi phát hiện người thứ ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án,

chấp hành viên yêu cầu người đang giữ tải sản chuyên cho cơ quan thí hành

án để thi hành án Nếu người thứ ba không tự nguyên thực hiện yêu câu của

co quan thi hành án thì chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế kê biên tài

sẵn đó để thi hành án Nếu phát hiện người thứ ba đang nợ Liền của người

phải thi hảnh án mà khoản nợ đó đã được xác định bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, thì chấp hành viên yêu cầu người đó chuyển số tiền cho cơ

quan thì hành án dễ thí hành án Nếu người này không thực hiện thi chấp hành

viên có quyển áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết đề thu hồi

khoản tiền đó để thi hành án

Đôi với tải sản phải đăng ký sở hữu hoặc dang ky giao dich bao dam thi

sau khi kê biên, chấp hành viên phải thông báo cho cơ quan đăng ký quyền sở

hữu, cơ quan dăng ký giao dịch báo đảm biết Khoản 5 Điều 21 Nghị dịnh số

173/2004/NĐ-CP quy định cu thể những cơ quan mà chấp hảnh viên phải

thông báo

+ Văn phong ding ký quyền sử dụng đất, cư quan có thẩm quyền về

đăng ký tài sán gắn liền với đất trong trường hợp kê biên quyền sử dụng đất,

tài sẵn gắn liền với đái;

+ Cục hàng không Việt Nam, trong trường hợp tài sản kê biên là tàu

bay:

+ Cơ quan đăng ký tàu biển vả thuyền viên khu vực, trong trường hợp

tài sản kê biên lả tàu biên;

+ Cục Cảnh sái giao thông đường bộ, Phòng Cảnh sáL giao thông

dường bộ, trong trường hợp tài sản kế biên là phương tiện giao thông cơ giới

đường bộ;

32

Trang 34

+ Cơ quan đăng ký thuộc Cục ding ký Quắc gia giao dịch bảo đảm thuộc Hộ Tư pháp, trong trường hợp tải sản kê biên không phải là quyền sử

dụng đất, tải sản gắn liên với đất, tàu bay, tau tiiển, trừ trường hợp tài sản kê biển là tải sản có giá trị nhỏ hoặc tải sản kê biên đã dược giao cho cá nhân, tả chức có điều kiện bảo quan tại kho của cơ quan thi hành án;

I Các cơ quan khác có thm quyền đăng ký quyền sở hữu, sở dung

khác theo quy định của pháp luật

Kế từ thời điểm nhận được thông bảo kê biên tài sản, cơ quan đăng ký

quyền sớ hữu, quyền sử dụng lài sản không thực hiện việc đăng kỷ chuyển

dịch tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Thông báo về quyết định kê biên tải sản có gid trị với bên thứ ba, kế từ ngày thông báo đó

được cơ quan có thẩm quyển tiển nhận

Trong thời hạn không quá ba ngày lam việc, kế từ ngây giải toả kê biên

tải sẵn hay hoàn tắt việc bản hoặc giao tải sản kê biên dễ thí hành án, cơ quan thí hành án phải thông bảo cho cơ quan ding ky quyền sở hữu, quyền sử dụng,

tai sin, cơ quan đăng ký giao dich bảo đảm biết

2.1.2 Kê biên tài sản cũa duanh nghiệp dé TIA

Trong pháp luật đân sự của nước ta đã xác định địa vị pháp lý của mỗi

loại chủ thể, khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự chủng có quy chế

pháp lý khác nhau lrong thi hành án dân sự cũng vậy, mặc dù PLTHAIDS

1993, PLTHADS 2004 không có sự phân chia đâu là kê biên tài sản gủa cá

nhân, kê biên tải sản của doanh nghiệp, nhưng trong quá trình thi hành án đòi

hỏi phải có một quy chế cụ thể trong kê biên tài sản của doanh nghiệp để

THA Bởi nếu áp dụng như với cá nhân thì gặp rất nhiều khó khăn Nó không

đâm bảo được quyền lợi của người được THA, bởi một số quy định của pháp lệnh không thé áp dụng được với người phải thi hành án là doanh nghiệp, đôi

Khi nó lại cũng không đảm bão được lợi ích của doanh nghiệp phái thi hành

án Vì thế nêu không có sự cụ thé hơn sẽ không đảm bảo được sự công bằng

và bình đẳng trước pháp luật trong TIIADS Do đó ngày 04/06/1997 Bộ Tư

33

Trang 35

phap, Bé Tai chỉnh đã ban hành Thông tư liên tịch số 119/TTLT dễ thắng

nhất hướng dẫn việc kê biển tải sản của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đề thí hành án dân sự Ngoài ra, Nghị định số 173/2004/NĐ - CP

cũng có quy dịnh vẻ kê biển tài sản của doanh nghiệp

Những quy đmh về cưỡng chế kê biên tải sản của doanh nghiệp để

TIA vé cơ bản giỗng như việ kê biên lài sản của cá nhân như: yêu cầu THA

của người được THA, thời gian tự nguyện thị hành Song việc kệ biên tài sản của doanh nghiệp khác với kê biên tài sắn của cá nhân là trong kê biên tải san

của doanh nghiệp để THA thi cơ quan THẢ chỉ được kê biên tải sẵn của

doanh nghiệp phải THA nêu sau khi đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây mà vẫn không đủ để thi hành án:

« Phong toả tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, khấu trừ số dư (tiền Việt

Nam, ngoại tê) hoặc vàng bạc, kim khi, dá quý, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

* Khẩu trừ tải sắn, các khoản nợ của người phải THẢ dang do cơ quan,

doanh nghiệp, cá nhân khác giữ

2.1.2.1 Pham vi tai san ké biên

Sau khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế trên mà không đủ để TIIA, CITV

được phép kê biên các tài sản thuộc quyền sở hữu cỗa doanh nghiệp trừ các

tải sản sau đây

khám, chữa bệnh trừ trường hợp đây là các tải sẵn lưu thông để kinh

doanh, lương thực, thực phẩm, đụng cụ, lải sắn phục vụ ăn giữa ca cho

người lao động;

® Nhà trẻ, trường học và các thiết bị, phương tiện, đề dùng thuộc các cơ

sở này, nếu đây không phải là tài sản thuộc lưu thông kinh doanh của

doanh nghiệp;

© Trang thiết bị, phương tiện, công cụ đám báo an toàn lao động; phòng

chống chảy nỗ, phòng chống ô nhiễm mỗi trường;

34

Ngày đăng: 28/05/2025, 19:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w