Qui định chặt chế tiêu chuẩn đại biểu 116i Đổi mới việc lập danh sách cử trị tham gia bầu cử đại biểu Hội ng nhân đân đồng nhân dan cấp xã phủ hợp với diễu kiên thực tiễn của các xã
Trang 1DAI HOC QUOC GIA HA NOL
KHOA LUAT
PHAM THI THUY
BẦU CỬ ĐẠI BIÊU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
QUA THUC TIEN XA DUONG XA HUYEN GIA LAM - THANH PHO HA NOI
Chuyên ngành: Ly luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật
Ma sé: 6038 01 01
LUAN VAN THAC Si LUAT HOC
Người hưởng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI XUÂN ĐỨC
TIA NOI - 2014
Trang 2
LOT CAM DOAN
Téi xm cam doan T.uận vần là công trình nghiễn cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong [wan văn chưa được công bế trong
bắt kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn dâm bão tính chính xác, tin cây và trung thực Tôi dã
hoàn thành tất câ các môn học và đã thanh toán tất câ các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hä Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Thúy
Trang 3MUC LUC
Trang
‘Trang phy bia
Lời cam đoan
12 Mục dích, ý nghĩa của Bầu cử Đại biểu Hội dồng nhân dân 16
1.3 Su hinh thanh va phat trién cac qui pham vé bau cw dai
1.3.4 Thời kỷ tử năm 1992 đến nay - 29
1.4 Các nguyên tắc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân - 32
1.43 Nguyễn tắc bầu cử trực tiếp - 37
1.5 Quyền bâu củ, quyền ứng cử của công dân 39
152 Quyền ứng cử - - AI
Trang 4Chương 2: THIỰC TIẾN CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU IIOI
ĐÔNG NHÂN DÂN TẠI XÃ DƯƠNG XÁ, HUYỆN GIÁ
LAM, THANH PHO HA NOT 44
2.2 Các tổ chức phụ trách bầu cứ dại biểu Hội 46
22.2 Ủybanbâucử 47
224 Tả bầu cứ - - - 50
2.3.1 Đối tượng được lập danh sách cử trì 34
2.3.2 Điều chỉnh và bỗ sung danh sách cử trí - 55 2.3.3 C6ng bé va chết danh sách cử trí - 57
2.4 Ứng cử và hiệp thương giới thiệu người ứng củ - $8
2.4.1 Số lượng, thành phần, cơ cấu, tiêu chuẩn của người ứng cử 58
2.4.4 Công bổ danh sách những người ửng cử - 67
2.5 Tuyên truyền, vận dong bau cir - - 68
2.5.1 Vai trò tuyển tuyển, vận động bầu cử 68 2.5.2 Quyén vận động bầu cử của người ứng cử bees 69
2.6 Bỏ phiếu bau cử đại biểu Hội đồng nhân dân - 70
2.6.2 Bỏ phiếu và bẻ phiếu hộ 71
2.7.1 TỔ chức kiểm phiêu - - 73
2.7.2 ‘Léng hop kết quả bầu cử tại don vi bau cử 75
2.73 Bầu cử thêm, bầu cử lại và bầu cử bổ sung 7
Trang 5
QUÁ CÔNG TÁC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐÔNG NHÂN DÂN
Nhu câu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bầu củ đại
biểu Hội đồng nhân dân
Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quá công tác bẩu cứ dại
biểu Hội đồng nhân dân
Qui định chặt chế tiêu chuẩn đại biểu 116i
Đổi mới việc lập danh sách cử trị tham gia bầu cử đại biểu Hội
ng nhân đân
đồng nhân dan cấp xã phủ hợp với diễu kiên thực tiễn của các xã
đang trong tiến trình đô thị háa
Xây dựng, hoàn thiện các qui định của pháp luật về tổ chức,
nhiệm vu, quyền hạn cụ thế của các tố chức phụ trách bầu cử
Bổ trí các đơn vị bầu cử đảm bảo tỉnh công bằng và tính đại điện
Đảm bảo dân chủ trong qui trình hiệp thương và mở rộng qui
dinh tự ứng cứ của công dân Đổi mới các qui định về vận động bầu cử phủ hợp với tình hinh
Trang 6DANH MUC CAC CHU VIET TAT
Dai biéu Héi dẳng nhãn dân
11ội đồng nhân dân Mặt trận tổ quốc
Nhà xuất bản
Uy ban nhân đân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MO DAU
1.Tinh cấp thiết của dé tài nghiên cứu
Điều 2, Hiến pháp 2013 khẳng định:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lả nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, da dân vả vì dân Tắt cả quyền
lực nhà nước thuộc vỀ nhân dần mà nền tảng liên minh giữa giải cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Diều 6, Hiến
pháp 2013 uiép Lục khẳng định: Nhân dân sử dụng quyền lực nhà
nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của nhà nước [46]
Đầu cử dược sử dụng lả một phương thức phổ biển và dân chú để nhân dân lựa chọn và ủy thác quyền lực cho các thiết chế đại điện, thé hiện rõ nét
nhất Nhà nước của nhân dân; có ý nghĩa quan trọng quyết định phương thức
hoạt động cúa nhà nước do nhân dân để hướng tới mục dích vi nhân dân, gop
phần xây dựng và hoàn thiện nhả nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHƠN)
Gắn liên bầu cử đại biểu Quốc 1Iội, bầu cử đại biểu TTội đồng nhân đân
( HĐNI3) các cấp trở thành đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng cho
mọi tầng lớp nhân dân cả nước để bầu ra những đại biểu ưu tủ, đại điện cho nhân dân tại Quốc hội — cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, bầu ra các đại
biếu đại diện cho nhân dân địa phương tai HDND cfp tỉnh, cấp huyện cắp xã
— cơ quan quyền lực nhả nước ở địa phương,
“Trải qua một thời gian đài đấu Iranh giảnh dộc lập, báo vệ và xây dựng
đất nước Đảng, nhà nước và nhân din Viét Nam chung sức một long phần đấu phát triển đi lên theo con đường XHCN Dễ thực hiện thành công mục
tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ trọng tâm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước chủng ta không quên vai trò của sức mạnh đại đoàn kết và
Trang 8cảng thấm nhuân tư tưởng của Bác “Lấy dân lâm gốc” “Nhân dân là chủ thể
tối cao của quyền lực nhà nước” nên không ai khác ngoài nhân dân là người
bầu ra các cơ quan quyển lực nhà nước Từ năm 2001, Đăng ta đã chỉ rõ cần
phải “Máng cao chải lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, hoàn thiện
những gui định về bắn cử, ứng cũ và tiêu chuẩn đại biểu Quốc liội và LEND
trên cơ sở thật sự phat huy din chú” |3, tr.134| Mặt khác, trong xu hưởng,
Đảng và nhà nước la tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương - một trong những giải pháp dé phát huy quyền chủ động,
sảng tạo của mỗi chính quyền địa phương trong hoạt động quan lý nhả nước,
xiên việc tô chức bầu cử đại biểu IIĐND trở nên cắp thiết hơn bao giờ hết
Mặc dù, công tác bầu cử dại biểu HĐNI) dã được quan tâm, chỉ dao
của các cấp, cáo ngành một oách sâu rộng, từ việo hoàn thiên lại hệ thông văn
bản qui phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thực hiện đến việc triển khai,
tổ chức cuộc bầu cử Nhưng kết quả thu được từ cuộc bầu cử đại biểu HĐNID
ở các địa phương nói chung, ở xã Dương Xá nói riêng vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu, lam thoa min nguyện vọng của cử tri, cần có những thay đổi mới mê hơn nữa dễ nâng cao chất lượng thực chất của cuộc bầu cứ Để thấy rõ dược
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên, chúng ta cần có cách tiếp
cận thâu đáo, một cái nhìn toàn điện từ đường lối, chủ trương của Dắng, nhà
nước, lý luận của nhà lắm luật, việc t chức triển khai, thực hiện của các vấp
chính quyền, sự phối hợp của tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân dén sw quan tam, huéng ứng — thái độ chính trị của người dân đối với cuộc bầu cử
Như vậy, xét về cơ sở lý luận oững như thực tiễn, định hướng chính trị
của Đảng và nhiệm vụ của khoa học pháp lý, khoa học chính trị việc đổi mới
nhận thức về pháp luật bầu cử, bầu cử đại biểu HDNI là hoàn toàn phù hợp
với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XIICN trong giai đoạn hiện nay
Nghiên củu vin d8 “Bau cử đại biểu Hội đẳng nhân dân, qua thực nễn xã
Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội" sẽ đưa ra những góc nhìn
tò
Trang 9khách quan về cuộc bầu cử mới diễn ra, đôi chiếu với các qui định của pháp
luật để đưa ra những quan điểm, góp phần hoàn thiện hơn nữa chế định bầu
cử trong Hiển pháp vả các qui định về bầu cử đại biểu HĐND ở Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ ý nghĩa bầu cử gần liền với chế độ dân chú đại diễn, nên
vai trò của nó được để cao trong các nên dân chủ đương đại Trong cơ chế
chính trị cạnh tranh nó dược ví như “trái tìm của dân chủ” Vì vậy, bầu cử
chính trị bao gồm bầu cử đại biểu Quốc hội va bầu cử dại biểu HĐI) các
cấp được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và các học giả giảnh nhiều
thời gian va tâm sức để nghiên cửu với những công trình, bài viết rất da
dang và phong phú như: PGS.TS Vũ Hồng Anh (1997), Chế độ bằu cử một
số nước trên thế giới, NXB chính trị Quốc gia, Ilà Nội, G5.TS Nguyễn
Dang lung (2005), Sự hạn chỗ quyền lực nhà nước, NXH Đại học Quốc gia
Tả Nội PGS TS Nguyễn Minh Đoan (2011), Hoàn thiện hơn nữa chế độ bấu cử đại biểu dân cử, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số ngày 09/6/2011,
PGS.TS Bui Xuân Đức (2001), “Pháp luật bâu cử: một số vần đề cân hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 06, 07/2001; TS Vũ Công Giao
(2013), Cơ quan bẩu cứ quốc gia trên thể giới và việc hiển định cơ quan này
trong hiển pháp 1093, sửa đỗi năm 2013 của Việt Nam, Sách chuyên khảo
các thiết chế độc lập, kinh nghiệm quốc tế và triển vụng ử Việt Nam, T8
Phạm Văn Hùng (2011), Ý nghĩa cúa Bẳu cử đại biểu Quốc hội khỏa XTI và
HIND cde cấp với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyên, Công thông
tin diện tử Trung 14m Bồi dưỡng đại biểu dân cử- Ủy ban thường vụ Quốc
Hội; Th§ Trần Thanh Hương (2006), Ý chỉ của nhân dân trong bầu cử và
một vải ý kiến góp phần bdo dam chỉ của nhân dân trong bảo đâm bầu cử
ở nước ta, Tap chi Khoa học pháp luật, số 3(34)/2006; PGS T§ Trương
Dac Linh (2007), “Cuộc tổng tuyễn của bầu củ Quốc hội đầu tiên năm 1946:
Trang 10một cuộc bầu cử thật sự dân chú ở Việt Nam”, Tạp chỉ Nghiên cửu lập pháp,
03/2007; TS Vũ Văn Nhiêm (2009), Chế dé bdu ci ở nước ta những vẫn dé
]ý tuận và thực tiễn, Luận án Tiển 5ÿ ngành lịch sứ nhà nước và pháp luật,
Tác giả: Hồng Ngọc (2010), Can xdy dung một luật qui dịnh chung về bầu
cử đại biếu Quốc hội và đại biểu HN), Báo điện tử Đảng công sản Việt
Nam ngày 08/09/2010; PGS.TS Phan Xuân Sơn (2007), Thực trạng và giải
pháp dỗi mới công tác bẩu cử ở nước ta, Tạp chí nghiên cứu lập pháp sẽ 4,
tháng 4/2007, Tác giá: Nguyễn Văn Quang (2014), Ti hành Hiến pháp và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bầu cử đại biểu HDND, Dáo điện từ Đại
biểu nhân dân, ngày 06/5/2014, 'Lác giả: ‘Iran Văn 'Tám (2011), Tổng tuyễn
cứ đầu tiên và sự hoàn thiện, phái triển chế định bắu cử ở nước ta, Bao Dai
biểu nhân dan điện tử, ngày 5/01/2011, GS.TS Thai Vinh Thang (2013),
Những bắt cập trong chế độ bẩu củ - KỤ yếu hội thảo sảa đỗ, bỗ sung Hiển
pháp 1992 những dé xuất và lập luận, Đại hoc Quéc gia Ila Nội; GS.T8
Đảo Trí Úc (2005), Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Viét Nam, Sach
chuyên khảo, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Ngoài ra, các giáo trình Luật Hiến pháp trong chương trình dao Lao cir
nhân Tuật ở nước ta dều co chương (mục) “Chế độ bầu cử” dễ đễ cập về pháp
luật bầu cử để giới thiệu pháp luật thực định về bầu cử cho sinh viên
3 Mục địch và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
3.1 Muc dich
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu góp phần làm sáng rõ cơ sở lý
luận và cơ sở thực tiễn của chế độ bầu cử dại biểu HĐND ở Việt Nam Trên
cơ sở đó, nêu bật những thành tựu, hạn chế và đề xuất những giải pháp hoàn
thiện chế định về bầu cử, bầu cử đại biểu TIĐND trong pháp luật Việt Nam dé
phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng chính quyển địa phương và xây
dung nhà nước pháp quyền XIICN do dân và vì dân
Trang 113.2 Nhiệm vụ
Phân tích trong khuôn kh pháp lý về cơ sở lý luận liên quan dén chế
độ bầu cử, bầu cử đại biểu IĐND trong xã hội dân chủ nói chung, bầu cử nói riêng ở Việt Nam Bao pm: Những nguyên tắc bầu cử, quyền bầu cứ, ứng cử, hiệp thương giới thiệu ứng cử, vân động bầu cử, đơn vị bầu cử, các tổ chức
phụ trách bầu cử, phương pháp xác định kết quả bầu cử
Phân tích sự phát triển của chế độ bầu cứ, bầu cử dại biểu HĐNI ở
nước ta từ khi thành lập nước 2/9/1945 đến nay để làm rõ những thánh tựu
trong tiến trình xây dựng pháp luật về bầu cử cũng như trong việc xây dựng
và củng cố chính quyền địa phương qua các thời kỳ Tuy nhiên, vì chế độ bầu
cử có phạm vi rộng, trong khi dung lượng của luận văn có giới hạn nên luận
văn chỉ tập trung phân tích những thành tựu và những vấn để oòn bắt oập của
chế d6 bau cit dai biéu HDND cấp xã ở nước ta hiện nay
Phân tích thực tiễn tổ chức bầu cử TIĐND ở xã Dương Xá qua một số
nhiệm kỷ gần dây, lập trung tại nhiệm kỷ 2011 — 2016 Từ đó dưa ra những
nhận xét, đánh giá và đề xuất, những giải pháp cụ thế để hoàn hiện chế định
bầu cử đại biểu HĐND ở nước la trong thời gian tới cho phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh của dất nước vả dịa phương
4 Tính mới của Luận văn
So với các để tải trước dây học viên dã nghiền cứu vả các dễ tài khác
có củng chủ để thì việc nghiên cúu chế định bầu cử ở Việt Nam thường là
xem xét các qui định của pháp luật về bâu cử đại biểu Quốc lội và IĐND
các cấn nói chung, nên chưa nhìn nhận hết được thực trạng và bản chất van
để bầu cử tại các địa phương, nơi thực tế điển ra các cuộc bầu cử Những
vẫn để được đưa ra nghiên cứu trong luận văn lần nảy lập trung vào nội dung bầu cử đại biểu HĐNI) cấp xã (cơ quan quyển lực nhả nước của nhân
đân tại địa phương cấp xã) nên có rất nhiều vấn đề được bàn đến tạo thành
Trang 12sức hút trong đời sống chỉnh trị cúa người dân, đó là vấn để về quyền bầu bầu cử, quyền ứng cử, vẫn để ấn định, phân bỗ số lượng đại biểu dược bầu,
đơn vị bầu cứ, vấn đề tổ chức hiệp thương bầu cử, vấn đề xác định kết quả
bầu cử Các vẫn để khác: Vai trỏ lãnh đạo của Đảng dối với cuộc bầu cử,
sự phối kết hợp của các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, nhân dân đối với cuộc bầu cử; thậm chí cả vấn để còn mang tính làng xã cục bộ, địa phương, động họ cũng sẽ dược dễ cập đến
Mặt khác, nghiên cứu chế độ bầu cử Đại biểu IIĐND trong Luận văn
được thực hiện thông qua việc liên hệ thực tiễn tại một địa phương cụ thế để
niên sẽ đưa ra được những góc nhìn, những bình luận va quan điểm thấu dao
hơn về “bức tranh" bầu cử sống động và nhiều mầu sắc tại các địa phương
nông thôn trên cả nước và đặc biệt qua thực tiễn tại xã Dương Xá
Vấn để được nghiên cứu hy vọng sẽ tạo ra những tín hiệu đáng nrùng
trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác bầu cử đại biểu IIDND tai
x4 Duong Xa trong những cuộc bầu cử tiếp thco
5 Giới hạn của Luận văn
5.1 Déi trọng nghiên cứu
Trong khuôn khổ chuyển ngành I.ý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật, Luận văn chỉ tập trung phân tích những vấn để cơ bản của chế độ bầu cử
đại biểu HĐND cấp xã Luận văn không dễ cập đến bầu cử Tổng thống hoặc các chức danh khác và không đề cập đến bầu cứ Dại biểu Quốc Hội, HDKD cấp tỉnh, cấp huyện Nếu có, thì mục đích của việc đề cập là làm rõ hơn vấn
dé nghiền cứu luận văn di sâu hơn vao việc phân tích những vấn dễ còn tồn tại, bất cập để tìm ra nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất những quan điểm và
giải pháp nhằm hoản thiện chế độ bầu cử đại biểu TI6i đồng nhân cấp xã ở nước ta hiện nay Luận văn “Bầu cử đại biếu Hội đồng nhân dân, qua thực
tiễn xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Ila Ni" Tap trung tại các nột
Trang 13dung: Khái niệm về bầu cứ, bầu cử đại biểu HĐND, Sự phát triển của các qui phạm về bầu cử đại biểu HĐND cấp xã qua các thời kỷ; Các nguyên tắc bầu
cử hiện nay; Những qui định và việc áp dụng các qui định về nội dung, trình
tu va thu tue bau cứ dại biểu HĐND cấp xã; Thực tiễn công tác tổ chức bầu
cử đại biểu HĐĐNI) diễn ra tại xã [Dương Xá Các giải pháp hoàn thiện các qui
định vé bau cir dai bidu IIDND
5.2 Pham vi nghién cửu
'Việc ban hành văn bản về bầu cử đại biểu IIĐND của các cơ quan nhà
nước, Việc tễ chức thực hiện các qui định về bầu cử tại xã Dương Xá qua đợt
bầu cứ đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2011- 2016, những điểm tiến bộ so với các cuộc bầu cử trước đó và những khó khăn, vưởng mắc, những tồn tại, hạn chế
cần khắc phục, điều chỉnh trong thời gian lới Đề xuất những giải pháp để
hoán thiện hơn các qui định về bầu cử đại biéu HDND
5.3 Gác độ tiếp cận Luận văn
Chế dộ bầu cử dại biểu HĐND bao gằm những vẫn dé mang tinh chính
trị, pháp lý, xã hội Do đỏ, nó là vần đề nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học pháp lý, chính trị, xã hội Nhưng Luận văn nảy, chỉ xem xét chế độ bầu
cử dại biểu HĐRT dưới góc độ pháp ly Tuy nhiên dễ làm rõ những vẫn dễ cần nghiên cứu sẽ có một sẽ vẫn đê được tiếp cận dưới góc độ khoa học chính
trị, xã hội, tâm lý
6 Cơ sử lý luận và phương pháp nghiên cứu
Với vị trí là một chế định quan trọng của Iiiễn pháp thuộc chuyên
ngành 1.¥ luận và lịch sử nhà nước và pháp luật nên quan diễm của chủ nghĩa
Mác Lê nin về nhà nước và pháp luật nói chung, nhả nước và pháp luật chủ
nghĩa xã hội nói riêng đóng vai trò là nên tầng tư tưởng, kìm chỉ nam cho
nghiên cứu tất cả các vấn đề trong Luận văn Các quan điểm của Đảng cộng, sân Việt Nam về nhà nước, cách mạng Việt Nam, về đối mới đất nước, phát
Trang 14huy dân chủ, đề cao sức mạnh đại đồn kết tồn dân tộc, xây đựng và hồn
thiện nhà nước pháp quyền của dân, đo dân và vì dân là cơ sở lý luận cho việc
phân tích và đánh giá các vẫn đề trong Luận văn này
Rén cạnh đĩ, trong diểu kiện tồn cầu hĩa và tăng cường hội nhập sầu rơng của Việt Nam trên diễn đản quốc tế về mọi lĩnh vực, những văn kiện
quốc tế liên quan đến quyền con người, quyền chính trị, về đân chủ, tự do
trong bầu cử cũng sẽ dược dễ cập dễ xem xét, dối chiếu nhằm giải quyết một số vấn để được đề cập trong Luận văn này
Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn để đặt ra
trong Luận văn là: phương pháp phân tích - tống hợp, phương pháp phân tích
theo hệ thống, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp
thơng kê và phương pháp mồ hình hĩa Việc lựa chọn, sử dụng phương pháp
nghiền cứu cụ thể nào phụ thuộc vào từng, vấn đề được nghiên cứu Luy nhiên
phương pháp phân tích, tổng hợp được áp dụng mang tính xuyên suốt tồn bộ
Tin văn để làm rõ từng mục, từng chương của Luận văn sau do dé đưa ra được kết luận chuẩn xác nhất
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Tạận văn gĩp phần làm sáng tố những nội dung cơ bản của bầu cử dại
biểu IIĐND Phản ánh hoạt động, cơng tác bầu cử đại biểu IIĐND tại các địa
phương trên cả nước nĩi chung và tại xã Dương Xá riêng 8o sảnh với qui
định và thực tiễn bầu cử với một số quốc gia trên thế giới Chỉ ra được những
điểm tiến bộ và cả những điểm chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật
về bầu cử đại biều HĐNI), thực trạng của hoạt dơng bầu cử dại biểu HĐNI2 trong hoạt động quản lý, điều hành nhà nước; Nêu bật những vướng mắc, hạn chế và đề xuất một số hướng hoản thiện, khắc phục, gĩp phần cho hoạt động
nảy diễn ra một cách khoa học, hiệu quả, nâng cao chất lượng bầu cử đại biểu
TIĐND được thực chất hơn; Đề cao vai trỏ, trách nhiệm của người dân trong
Trang 15công tác xây dựng chính quyền, tạo tiền đề nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước trong nhiệm kỷ tiếp theo Đẳng thời, hạn chế các khoản chi phi gay ling
phí, khó thực thị, vấp phải sự phân ứng của xã hội trong công tác bầu cử đại
biểu HĐND
Các kết quả của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc
nghiên cửu, giảng dạy và học tap trong các cơ sở đảo tạo về luật học và phần
nảo có ý nghĩa dỗi với cản bộ làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực bầu cử dể tim hiểu, vận dụng trong hoạt động, công tác
8 KẾT cầu của Luận văn
lận văn nảy gầm phần mở đầu, ba chương va phan kết luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về bầu cử đại biểu IIĐND
Chương 2: Thực tiễn công tác bầu cử đại biểu HĐND tại xã Dương Xá,
truyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bầu
cứ đại biểu HĐND,
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm bầu cử và bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân
1.1.1 Hầu cử
“Dâu cử" là một cách thức được sử dụng và áp dụng rất nhiều Trong các
trường hợp dễ xây dựng mới, củng cố, kiện toàn thậm chí là cả bãi nhiệm, bãi miễn đổi với các chức đanh, các vị trí quan trọng nằm trong ca cấu tễ chức
nhân sự của các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Tủy từng
bối cảnh sử dụng khác nhau ma “bầu cứ có tính chính trị” hay “tính xố hội”
[24 tr.6] Với vai trò thể hiện tính chính tri, “bdu cir do cdc cơ quan nhà
nước thực hiện theo một trình lự, thủ tục nhất định mang tỉnh bắt buộc được
qui định trong Hiển pháp và Luật, chọn ra các cả nhân nằm giữ các chức vụ
trong Quốc hội, các cơ quan đại diện chính quyển” [24, tr.6] Thi tue nay
được thực hiện bơi sự biểu quyết của cử trí (đại cử trí, đại diễn cử trì với điều
kiện để bầu một đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên
Ngược lại, với vai trỏ iên tính xã hội, bầu cử đo các tổ chức xã hội hay kinh tế thực hiện, áp dựng bầu cứ theo quy chế, quy ước của tổ chức đó, chọn
ra các cá nhân nắm giữ những cương vị lãnh đạo trong tổ chức (ví dụ: bầu cử
ban chấp hành công đoàn, giảm đốc, chú tịch hội đẳng quản trị công ty; ban chấp hành, ban chủ nhiệm các hội, hiệp hội, các câu lạc bộ ) Cũng bởi tính chất bầu cử trong mỗi hoàn cảnh sử dụng khác nhau nên phạm vị, giá trị kết quả của mỗi lần bầu cử không giống nhau và tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa
các Khai niệm “bầu cử” với các hình thức tuyển chọn khác như: “cử”, “bổ
nhiệm” và “tuyển dụng” Kết quả bầu cử mang tính chất xã hội sẽ chỉ có anh
hướng, tác động trong phạm vị hoạt động nhỏ, đơn lẻ trong nội bộ cơ quan, tổ
chức Trong khi đó, kết quả từ bầu cử mang tính chính trị là “biếu biện cụ thế
Trang 17của dân chủ" |27, tr.114] 14 khang dink trao quyén cho một cơ quan, một cá nhân nhất định đại điện cho nhân dân nhằm thực hiện quyền lực nhà nước Tuy
nhiên việc xác định tính xã hội hay tính chính trị của bầu cử chỉ mang tỉnh
tương đối bởi chính những cuộc bầu cử mang tính chính trị dã diễn ra trên thực
tế trong đời sống chính trị - xã hội lại coi “bẩu cử là hoạt động xã hội của con
người " [17, tr.331] được thực hiện dựa trên những nguyên tắc mang tính chất
của mọi hoạt dộng xã hội và những nguyên tắc dic thi của hoạt động bầu cử
Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, đâm bảo cho bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử trị khi lựa chọn đại biểu
‘Theo Montesquieu chi ra trong Quyến II, Chương 2 của cuỗn De
I'esprit des lois (Tinh thần Pháp luật) ông răng trong việc bầu cử ở thể chế
cộng hỏa hay dân chủ, cử trì có khi là những người cầm quyền của quốc gia
có khi lại là người đân của nhả nước đó bằng việc bỏ phiểu Nó cho phép
người dân có quyền rất lớn để hành động như những "chủ nhân" chọn những
"công bộc" chính quyền cho chính họ Đặc diém đặc biệt của các nền dân chủ
vả cộng hòa là sự nhận thức rằng chỉ có quyền hợp pháp cho nhả nước "của
dân, do dân và vì dân" là phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị (consent of the gaverned)
Giống như nhiều quốc gia trên thế giới, mô hình tổ chức nhà nước được Đảng và nhân dân ta lựa chọn hiện nay đó là mô hinh của nha nước đơn nhất về
hình thức cấu trúc lãnh thể Quyền lực nhà nước lập trung vào các cơ quan
trung ương, sau đó phân dân cho các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa
phương được tổ chức tương ứng với các đơn vị hành chính Về mặt chính thể của nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo mô hình của một nhà nước dan chi, tất cả quyền lực thuộc về nhân đân Quyên lực nhà nước được tô chức không theo nguyên tắc phân quyền mà tập trung trong tay Quốc hội, cơ quan duy nhất thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình do nhin đân toản quốc
Trang 18trực tiếp bầu ra, nhưng có sự phân định rạch rỏi giữa ba quyền lập pháp, hành
pháp vả tư pháp Thông qua bầu cử, bộ máy nhả nước được thành lập ra cho
phép chúng ta xác dịnh nguồn pốc, bán chất dân chủ của nhà nước và khẳng
định tính hợp pháp, chính đáng của chính quyền Trong chính thể dân chủ:
Pháp luật bầu cử cũng giếng như nhiều chế định pháp luật
khác của ngành luật Hiến pháp không những chỉ qui dịnh bầu cử
chứa đựng các qui phạm nói chung về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia các mối quan hệ bầu cử mả còn chứa đựng
cá những qui phạm có tính thủ tục, qui dinh trinh tự dối với một
cuộc bầu cử và xác định kết quả cho cuộc bau ctr [17, tr.330]
Vì thế, khái niệm bầu cử chính trị có thể dược hiểu ở nhiều góc độ khía
cạnh khác nhau
Xét về ý nghĩa: Dầu cử là một hình thức sinh hoạt chính trị thể hiện
quyền lực, ý nguyên của nhân dân
Xót về thuật ngữ trong Luật Hiến pháp: Dầu cử được hiểu là thủ tục
thành lập cơ quan nhà nước hay chúc danh nhả nước
Xét về trinh tự: Đầu cử là một quá trình đưa ra quyết dịnh của người
đân để chọn ra một cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền
Xét về chức năng: Bầu cử là cơ chế thông thường mả các nền đân chủ
hiện dùng dé phân bỗ chức vụ trong bộ máy lập pháp, thỉnh thoảng ở bộ máy
hảnh pháp, tư pháp, và ở chính quyền địa phương
Xét về vị trí pháp lý: Bầu cử là một trong những chế định quan trọng
trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra gáu cơ
quan đại điện cho quyền lực Nha nước
Ngoài ra bầu cử còn được coi là một chế định trong tâm của các
chỉnh phủ dân chủ kiểu đại diện; một biện pháp hạn chế hữu hiệu quyền
lực nhà nước
Với nhiệm vụ nghiên cửu Hiến pháp ~ một đạo luật cơ bản do cơ quan
Trang 19quyền lực nhà nước ban hành Nó qui định việc tổ chức nhà nước, cơ cầu
thấm quyền các cơ quan nhà nước trung ương và quyền cơ hẳn của con người
Mọi cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ Tiến pháp Trong Thén
pháp, chế dé bầu cứ là một trong số chế định quan trọng vì nó vừa thể hiện
những quan hệ có liên quan đến việc thánh lập các cơ quan nhà nước lại vừa
thể hiện quyền chính trị của công đần Da vậy, khái niệm bầu cử cần được hiểu là: “Đầu cử là một trong những chế dịnh quan trọng trong ngành Luật
Hiến pháp, là cơ sẽ pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại điện cho
quyên lực Nhà nước” [L7, tr329]
1.1.2 Bầu cứ dại biểu Hội dồng nhân dân
Để hiểu được khái niệm bầu cử đại biểu IĐND trước tiên cần trả lời được cầu hỏi HĐND lá gì? Đại biểu HĐND lá ai?
Theo pháp luật hiện hành, cơ quan chính quyền địa phương ở nước ta
được phân chia thành ba cấp gồm: cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trưng ương (gọi chung là cấp tính); cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh vả thì xã (gọi
chung là cấp huyện), cấp xã, phường, thị trân (gợi chung là cấp xã) “7ĐND ià
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chỉ, nguyện vọng và quyền làm chú của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách
nhiệm trước Nhân dân dia phương và cơ quan nhà nước cấp trên ” [Điều 113],
Tiến pháp 2013) |46, Điều 113| HĐND có nhiêm ky hoạt động là năm năm,
hoạt động của HDND thông qua kỳ họp HDND, hoạt động của thường trực
TIĐRKD, các ban thuộc IIĐND và thông qua hoạt động của các đại biểu IEĐND
HĐNI2 thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo qui định của pháp luật,
bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của trung ương, đồng thời phát huy quyền chủ
động, sáng tạo của địa phương Tỉnh quyền lực của IĐND biểu hiện ở việc nó thế hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa bản lãnh thổ đồng thời thực hiện
các nhiệm vụ, quyền han do cap trén giao IEDND thực hiện chức năng quyết
Trang 20định những vẫn dé của định phương trong phạm vi phân cấp thông qua việc ban hành nghị quyết — văn bản qui phạm pháp luật cỏ tính bắt buộc chung dối
với mọi cả nhân, tổ chức và công dân ở địa phương IIĐND bầu ra cơ quan
chấp hảnh của cấp mình là UBND — cơ quan hành chính nhà nước ở dịa phương, đồng thời thực hiện chức năng giám sát các hoạt động chấp hành và
điều hành của UBND trong việc thực hiện nghị quyết của IIĐND và các quyết
định khác của các cơ quan nhà nước cấp trên, thực hiện Hiển pháp và Ludt
Để thành lập ra được IIĐND đâm bảo cơ cấu, tổ chức thì nhiệm vụ
co Đại biểu IIĐND Việc tổ chức bầu cử đại biểu
đầu tiên phải bầu đượu
HĐNI3 được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu
cử Theo qui định tại Điều 36, Luật Tổ chức IIĐND vả UBND năm 2003
nêu rõ “Đại biểu HĐND là người đại điện cho ý chỉ và nguyện vụng của
nhân dân địa phương, sương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà
nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực biện chỉnh sách, pháp luật và
tham gia vào việc quản lỷ nhà nước” |40, Điều 36]
Trước khi được đưa vào danh sách ứng cử viên bầu cử đại biểu HDND,
các ứng cứ viên phải đáp ứng đầy đủ các Liêu chuẩn theo luật định vả phải trải
qua các bước hiệp thương bắt buộc Người trủng cứ dại biểu HĐND là người
được cử tr tìn nhiệm với số phiếu bầu tán thành đạt tỷ lệ trên 50% so với tông
số cử trì tại khu vực bó phiếu và được xếp thco thứ tự tử cao xuống thắp, trong phạm vi số đại biểu được bầu tại mỗi khu vực bỏ phiếu
Nhe vay
“Badu cử đại biểu HDND là việc cử trị thông qua là phiêu của
mình đễ cân nhắc, tựa chọn ra những những ứng cử viên được cử trị tin
nhiệm nhất dễ #y nhiệm quyên và dại diện cho họ tham gia vào các cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương" [27] Đại biểu IEDND sau khi trúng cử
được bố trị theo các ban, các tố đại biểu HIAND của HIDND để thực hiện
nhiệm vụ của mình HĐND hoạt động tập thể có hình thức hoạt déng chủ yếu
Trang 21là kỳ hợp mà ở đó tất cả các đại biểu đều tham du hop bàn, thảo luận, quyết định những vấn để thuộc nhiệm vụ quyền hạn của HDND địa phương mình 'Một số dại biểu HĐND còn được các đại biểu HĐND trong tập thể mình bầu tham gia vào các ban của HĐND, thường trực HĐND, UBND cấp mình Nên
đại biểu HDNI không những chỉ là cầu nối lá đại diện cho ý chỉ và nguyên
vợng của cử trị với các cơ quan nhà nước mà bắn thân một số dạ biểu HĐND
cũng chỉnh là cắn bộ, công chức, lãnh đạo các cư quan chính quyền tại địa
phương Mặc dù điều nay sé phan nao làm hạn chế tỉnh dân chủ, khách quan
của đại biểu HĐND trong hoạt động của mình
Nhưng với quan điểm trao quyền cho người đại điện đồng
nghĩa với việc gắn trách nhiệm của dại biểu HĐNI) với cử trì nên
việc đại biểu HĐND là lãnh đạo c: , quyền lực
ơ quan chỉnh quy
nhà nước sẽ phát huy đầy đủ hơn vai trò của một người đại biểu đân
cử đó là: Người dại biểu là người hoạch định chính sách; là người
đưa ra quyết định; là người giao tiếp (tiếp xúc cử tr; người lác
động, thúc đấy giúp cử tri giải quyết vấn đề; người tạo ra cơ hội cho
người khác; người thương thuyết, người lài chính, người giám sát,
người xây dựng thé chế, người lãnh đạo thực hiện tất cả các vai trỏ
để thúc đẩy xã hội phát triển; là nhà lãnh đạo thực hiện tất câ các vai
trò trong phạm ví quyển lực của mình đề (ạo ra những thay đổi tích
cực, quan trọng †rong cuộc sống của cử trí và của cộng đồng [70]
Người đại biểu muốn khăng định được năng lực hoạt động hiệu quả và
giữ được tín nhiệm trong lòng cử trì ngoài phẩm chất, đạo đức, năng lực đã
sẵn có đòi phải tự trau đổi, học hỏi vả trang bị cho mình những kỹ năng hoạt
đồng cần thiết như kỹ năng xây dựng chương trình công tác, kỹ năng tig xúc
cử trì, kỹ năng giám sát, xử lý tình huông có như vậy mới đắp ứng được
nhu cầu, nguyện vọng của cử trị trong một xã hội ngảy cảng dân chủ, văn
minh, hiện đại
Trang 221.2 Mục đích, ý nghia cha Bau cử Đại biểu IIội đồng nhân dân
Kế từ cuộc Tổng tuyển cử dầu tiền của Quốc hội Khóa Ï ngày 6/1/1946 đến nay, Quốc hội nước ta đã trải qua 65 năm hoạt động với mười ba lần tổ chức bầu cứ Quốc hội dã có những đóng góp to lớn vào công cuộc cúng cỗ nên độc lập đân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, củng với cả hệ thống chính trị
đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo đài nhiều
năm, để lại trong lỏng nhân dân nhiều dấu ấn sâu sắc và bài học kinh nghiệm
về tổ chức bộ máy nhà nước Thực hiện Chỉ thi 50-CT/TW ngày 5/1/2011 của
Tộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu oử ĐDQII khỏa XIH va bầu cử đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016, ngày 21/1/2011 UBTVQH đã ban hành
ghi quyết số 1018/NQ — QI1 về công bố ngày bầu cử và thành lập Liội đồng
bầu cứ Quốc hội Khỏa XIH và bẫu cứ đại biểu HĐND các cẩn nhiệm kỳ
2011-2016 vào ngày Chủ nhật 22/5/2011 Dây là cuộc bầu cử được diễn ra gần đây nhát trong phạm vi ả nước và với kết quả thành công của cuộc bầu
cử nảy đã tiếp tục khẳng định thêm giả trị của các cuộc bầu cử, trong đó bao
gồm cả bầu cử đại biểu HDND ở nước ta trong suốt mấy chục năm qua
Trở lại những ngày đầu tiên đất của đất nước mới giảnh được độc lập,
trong một cuộc phỏng vẫn trả lời các nhả bảo Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đại biểu mẫu mực, Người đã từng nói:
Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào Bay
giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bảo ủy thác thì tôi phải gắng
sức làm, cũng như người lính vâng lệnh quốc dẫn ra mặt trận Bao
pid dồng bảo cho tôi lui thì tôi vui lòng lui 'ôi chỉ có một ham
muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoản toàn độc lập, dân ta
được hoàn toan tw do [35, 11.58]
Nên Người rất coi trọng việc cầu người hiển tài ra pánh vác công việc
giúp dân, giúp nước Người cho ring, làm đại biểu dân cử là dấn thân vào con
Trang 23đường “công bộc”, không phái là “làm quan, phat la” Vi thé, trong điều kiện
nhất dịnh tổ chức thành công các cuộc bầu cứ, bầu cử đại biểu HĐND sẽ là điểu kiện để cản bộ, nhân dân và cử trị cá nước có điều kiện kế thừa, phát huy những giá trị tư tưởng Hồ Chỉ Minh, sáng suốt lựa chọn người đủ tài đức ra
làm đại biểu dân cử, đại diện cho ý chí, nguyên vọng của nhân dân Mi cuộc
bầu cử Quốc hội hay IIĐND các cấp đều gắn một hoàn cảnh, một điều kiện
lịch sử và những nhiệm vụ của dat nước, dịa phương nhất định Với cuộc tổng
tuyển cử lần đầu tiền trong lịch sử dân tộc Việt Nam được diễn ra ngay sau khi
Chủ tịch L1ầ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam đọc lời tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chú cộng hoà Trong điều kiện nhả nước non
trẻ gặp vô vàn khó khăn, thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử là dấu mốc phát
triển nhảy vọt đầu tiên về thể chổ đân chú của nước Việt Nam, mỡ ra triển vọng
của một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước Việt Nam có một Quốc hội, một Chính
phủ thống nhất và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ đanh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về dối nội và đối ngoại Theo
Chủ tịch Hề Chí Minh, ngày 6-I-1946 thực sự "ià một ngày đầu tiên trong lịch
sử Việt Nam mà nhân dân ta bồi đầu hướng dụng quuên dân chủ của mình” J73| Giờ dây bầu cử dại biểu HĐND các cấp luôn được coi là một sự kiện
chính trị trọng đại của dat nước, của từng địa phương có ý nghĩa về nhiều mặt:
Một là cuộc bầu cử sẽ bầu ra những vị đại biểu HĐND các
cấp, thành viên của cơ quan quyền lực nhả nước ở địa phương Dây
la tiên đề để IIĐND bầu ra UBND thuộc cấp mình Cuộc bầu cử được điễn ra là cơ hội, đánh dấu mốc sơn quan trong trong việc
hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước từ chính quyền địa phương cấp
tỉnh đến cấp xã, góp phần củng cổ hệ thông chính trị, góp phần đưa đất nước nói chung và địa phương nói riêng tiến nhanh trên con
đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trang 24Hai là, hầu hết các cuộc bầu cứ được tổ chức ngay sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc nên có rất nhiều văn kiện liên quan
đến chiến lược phát triển kinh tế của đất nước đã thông qua Củng
với Quốc hội, HĐND các cấp thức hiện chức năng lập qui quyết định các vấn để quan trọng và thực hiện quyền giảm sắt của mỉnh sẽ
góp phần rất quan trọng thể chế nghị quyết của Đại hội Đáng để
dưa nghị quyết vào cuộc sống Bầu cử dại biểu HĐNID là điều kiện
thuận lợi để Đảng ta giới thiệu những đảng viên ưu tú của Đảng
tham gia chính quyền một cách hợp hiến, hợp pháp Tổ chức thành
công cuộc bầu cử sẽ lả biểu hiện sinh động của việc thể chế nghị
quyết của Đại hội Đảng, tăng cường sự đồng thuận của nhân dân
đổi với công lác cán bộ của Đáng, củng cố vai trỏ lãnh đạo của
Dang, đối với Nhà nước và toàn xã hội
Ta là, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XIIƠN của
dân, do dân, vì dân đang đặt ra vấn để cần hoản thiện cơ cấu tổ
chức vả hoại động của bộ máy nhà nước, trong dó có HĐND các
cấp Nguyên tắc tẤt cẢ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà
nên tảng là liên mình giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông,
dân, do Đăng lãnh đạo, cần được kế thửa và phát huy trong điều
kiện mới Nguyễn tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp phải được đề cao Nhân dân thực biện
quyền lực của mỉnh một cách gián tiếp thông qua IIĐND là một
kênh quan trọng trong thể chế chính trị của ước ta, nhưng dân chủ trực tiếp vẫn là nguyện vọng chính dang cla nhân dần cần được
hiến định rõ hơn để làm cho thể chế chính trị nước ta ngảy cảng
vững mạnh TỔ chức thành công cuộc bầu cử cũng là biểu hiện sinh
Trang 25động của việc thực hiện nguyên tắc Lễ chức bộ máy nhà nước trong
điều kiện đối mới Cuộc bầu cử cũng là tiền để cho sự đối mới nâng
cao chất lương hình thức dân chú, kiểm soát quyền lực nhà nước,
phát huy tỉnh thần yêu nước và vai trò chủ động của áo tầng lớp
nhân dân, của củ tri cả nước
Bến lả, HĐND các cấp là những cơ quan có nhiều cơ cầu đại
diện đan xen như công nhân, nâng dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ,
người dân tộc thiểu số, doanh nhân, đẳng viên, người ngoài đẳng,
người tự ứng cử TẤU cả các đại biểu dù xuất phát từ cơ cấu nảo
cũng phải là người có đủ tiêu chuẩn đại biểu theo quy định của
pháp hiật và trên hết phải là người công tâm, đức dộ một lỏng vì
nước, vì dân Tổ chức thành công cuộc bầu cử sẽ góp phần tăng
cường đại đoàn kết dân tộc, tăng sự đồng thuận trong xã hội Thông qua cuộc bầu cử HĐND các cấp sẽ nhận dược ủy quyền hợp hiển,
hợp pháp của nhân đân, thực thi quyền lực công khai, minh bạch và
luôn nhận được sự ủng hệ của địa phương
Nam 1a, trong điều kiện hội nhập quốc tế dang tạo ra thời cơ
mới cho nước ta phát triển về kinh tế thì cũng phải đối mặt với
thách thức mới về chính trị - các thế lực thù địch vẫn tiếp tục lợi
dựng hoàn cảnh quốc tố, yêu sách đa nguyên, đa đăng, sử dụng
chiêu bài dân chủ, nhân quyền như điều kiện của hợp tác hỏng làm
suy yếu hệ thống chính trị của ta - tổ chức cuộc bầu cử công khai,
minh bạch thẳng lợi sẽ là sự biểu dương sức mạnh của nhân dân,
của đất nước, phát huy đân chủ XIICN, củng cô nền độc lập tự chủ
và bảo vệ chủ quyền quốc gia [73]
Bau cử là một hành vi chính trị, thực hiện quyền lực chính trị nên có
những yêu câu chặt chẽ về mặt pháp lý và kỹ năng tổ chức thực tiễn Tể cuộc
bầu cử HĐND các đạt hiệu quả, đạt được mục đích ý nghĩa của cuộc bầu cử
Trang 26cần thực hiện một số nhiệm vụ: Quản triệt và tổ chức thực hiện đúng các văn bản pháp luật, nghị quyết, kế hoạch về bầu cử, Làm tốt công tác nhân sự, Tổ chức tạo diều kiện thuận lợi cho cử trị thực hiển quyển bầu cử, Tổ chức hoạt
động có hiệu quả oác tiểu ban phục vụ bầu cử; Thực hiện đúng quy trình kiểm
phidu, téng kết và công bế kết quả bầu cử
1.3 Sự hình thành và phát triển các qui phạm về bầu cử dại biểu Hội
đồng nhân dân
Chức năng của bâu cử là thành lập ra các cơ quan đại diện, nên bầu cử
trở thành một chế dịnh trong bộ máy nhà nước, bộ máy nhà nước lại là một
phan của hệ thống chính trị Như vậy chế độ bầu cử không tôn tại một cách
độc lập mà nó tần tại song hành với tổng thể bộ máy nhà nước và hệ thỗng
chính trị Nghiên cứu chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội phải đặt nó trong mối
tương quan với cơ cầu tổ chức, hoạt động của Quốc hội và nghiên cửu chế độ
bầu cứ đại biểu HI2NI) cấp nao phải đặt nó trong mỗi tương quan với co cầu
tố chức, hoạt động của HĐND cấp đó Chính vi lẽ đó, ngay sau ngày thánh
lập nước Việt Nam dân chủ cộng hỏa, ngày 3/9/1945 IIồ Chủ Tịch đã đề nghị
Chính Phủ lâm thời sớm tổ chức một cuộc tổng tuyến cử và xây dựng Hiến Pháp Người nói:
Trước chủng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị,
rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế cai trị nên nước ta không có liển Pháp, dân ta không được hưởng quyền tự
do, din chủ Chủng ta phải có một Hiến pháp dân chủ Tôi dễ
nghị Chính phủ cần tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyến
cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tắt cả mọi công dân, trai, gái
tir dd 18 tuổi dều có quyền bầu cử, ứng cử, không phân biết giảu
nghẻo, đòng giống [35, tr.6-7]
Nhìn lại quả trinh hình thánh và phát triển của qui phạm bầu cử, cụ thể
Trang 27là bầu cử đại biểu HĐND cấp xã, ta có thể nhận thấy rõ sự ra đời của các văn bắn qui phạm pháp luật liên quản đến chế độ bầu cử HĐND dều gắn liền với
sự ra đời, tồn tại, phát triển của các bản IIiến pháp và Luật tổ chức IEĐND và
UBND cac cấp,
Củng với Hiển pháp 1946, chúng ta có Sắc lệnh 63 ngày 22/11/1945 về
tổ chức IIĐND và Ủy ban hành chính xã, huyện, tỉnh, kỳ, ngày 31-5-1958 Chủ tịch nước Việt Nam Dan chủ Công hỏa đã ban bố I.uật số 110-S1⁄1 về tổ
chức chính quyền địa phương; Sắc lệnh 51 ngày 17/10/1945 về Thể lệ Tổng tuyển cử quốc dân đại hội, Nghị định 164 — NÐ ngày 29/12/1945 về thể lệ bầu cử các HĐND và Ủy ban hành chánh xã, huyện, tỉnh và kỳ, Sắc Luật số
004 SLT ngay 20/7/1957 qui định về thể lệ bầu cử TIĐND vả Ủy ban hành
chính các cấp
Củng với Hiển pháp 1959, chúng ta có Luật Lỗ chức HI2NI và LBNI
năm 1962; Pháp lệnh không số ngày 18/01/1961 về việc bầu cử đại biểu HĐND các cấp, Pháp lệnh không số ngày 01/4/1967 qui định một số điều về
bau cử và tổ chức HDND và Ủy ban hành chính các cấp trong thời chiển Với
Hiển pháp 1980, chúng ta cỏ Luật tổ chức HĐND và UBND các năm 1983 và
1989, Phap lệnh không số ngày 22/01/1981 về sửa đổi, bổ sung một số điều khoản Pháp lệnh nấm 1961 qui định thể lệ bầu cử IĐND các cấp; Luật Bầu
cử dại biểu HĐND các cấp các năm 1983 và 1989
Với Hiền pháp năm 1992 và Hiển pháp 2013 chúng ta có Luật tổ chức
TIĐND và ủy ban nhân dân các cấp năm 1994 và 2003; Luật bau ctr dai biểu
HĐND các năm 1994, 2003, luật Bầu cử dại biểu Quắc hội và Hầu cử đại
biểu IIĐND năm 2010
Tuy vào hoàn cảnh lịch sử, nhiệm vụ chính trị và tình hình kinh tế, xã
hội của đất nước ở mỗi thời điểm khác nhau mà sự ra đời và phát triển các qui
phạm về bầu cử đại biểu IĐND cũng khác nhau, có thể có trước cũng có thé
Trang 28có sau Hiến pháp và các văn bản liên quan đến tổ chức, hoạt động của HĐND, UBND Trong một thời gian đải, từ nấm 1962 đến năm 2003 sự ra
đời của Luật Tổ chức IIĐND và UBND vào cùng thời gian với Luật bầu cử
đại biểu HĐND giống như “
hững cặp song sinh” đã giúp cho các qui định về
bầu cử Đại biểu HENI) ngây một hoàn thiện Năm 2010, Văn bắn hợp nhất Luật âu cử đại biểu Quấc hội và Dầu cử đại biểu IĐND được ban hành sẽ
là một trong những lý do chính dáng dễ Luật tổ chức HĐND và UBNI năm
2003 được tiếp tục sửa đổi, bổ sung cho phủ hợp với điều kiện thực tế Để
đánh giá được sự hình thành và phát triển của
biểu HĐNL) thì nó phải được phản ánh cụ thé qua từng thời kỳ:
1.3.1 Thời kỳ từ 1945 đến năm 1954
© qui phạm về bầu cử đại
Để có cơ sở pháp lý cho cuộc tổng tuy&
ngày 8/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh đầu tiên (8L số
ctr dam bảo Lự do, dân chủ,
14) để chỉnh thức ẩn định sau 2 tháng sẽ mở cuộc tổng tuyển cử Ngày
17/10/1945, Sắc lệnh $1 về Thể lệ Tổng tuyển cử quốc dân đại hội được ban
thành với những quy định thật sự tự do, thật sự dan chủ Dễ tạo nên tang cho
bộ máy nhân sự, ngày 22/11/1945 Sắc lệnh 63 được công bố qui định vé 18
chức hoạt đông của HĐND, Ủy ban hành chính ở xã, huyện, tỉnh và kỳ Theo
đỏ, chỉnh quyền cấp xã là một chính quyền hoàn chỉnh có IEĐND và Ủy ban
hành chính HĐND do cử trí xã bầu ra có từ 15-25 hội viên chính thức vả 5-7
hội viên đự khuyết Ngảy 2/12/1945, Chính phủ ban hành tiếp Sắc lệnh số 71
và Sắc lệnh số 72 để sửa đổi, bể sung Sắc lệnh 51 vẻ thủ tục ứng cử, bd sung
số dại biểu Quốc hội lên 330
đại biểu Ngày 18/12/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 76 quyết định
hoãn cuộc Tổng tuyển cử đến ngày 6/1/1946 Ngày 29/12/1945, Bộ Nội vụ
số dại biểu được bầu cho một số tỉnh, nẵng tối
ban hành Nghị định 164 — NÐ về ấn định thể lệ bầu cử các HĐNI2 và Ủy ban hành chánh xã, huyện, tỉnh và kỳ Về cơ bản, nội dung của Nghị định nảy kế
Trang 29thừa và thể chế hóa các nội dưng cua Sắc lệnh 51 “đặc dù đổ trái qua gain
70 năm kế từ ngày những sắc lệnh đâu tiền về bầu cử ra dời, nhưng nó vẫn
giữ nguyên được gid trị là cơ sở pháp lý nên tảng của một chế độ bằu cử
thực sự tự do, thực sự dân chữ, bới các lỷ do” |T1|
- Một là, trong lịch sử hiếm có một quốc gia nào vừa giảnh được
độc lập, với biết bao khó khăn đang chồng chất lại dám quyết định tổ
chức một cuộc tổng tuyển cử thật sự dân chủ và sớm ban bố những sắc
lệnh về Tẳng tuyển cử
- Hai là, áo sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước la đã có những
quy định thể hiện một cách triệt đế nội dung, yêu cầu nguyên tắc tự do hầu cử,
'ứng cử của công dân
- Ba là, các sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên ứ nước ta thể hiện triệt
để ngay nội dung, yêu cầu các nguyên tắc bầu cứ phố thông, bình đẳng, trực
tiếp và bô phiếu kín
- Bán là, các quy dịnh của các sắc lệnh về Tổng tuyển cứ dầu tiên của nước ta năm 1946 rất cụ thể, rõ rảng, ngắn gọn và đễ hiểu, đễ nhớ Hầu hết
những quy định này của cáo sắc lệnh là có hiệu lực trực tiếp, có thể thực hiện
được ngay, không cần phải chờ đợi những văn băn quy định chỉ tiết và hướng
dẫn thi hành Đây chỉnh là điều kiện hết sức quan trọng bảo đảm cho pháp
luật bầu cử sớm đi vào cuộc sống, dễ chúng ta có thể tổ chức được cuộc Tổng
tuyến cử ngảy 6/1/1946 sau hơn 4 tháng nước nhà giảnh được Dộc lập
Sau thành công của cuộc tổng tuyển cử được tổ chức đầu tiên trên cả nước
ngày 06/1/1946 với tỷ lệ cử trí đi bỏ phiếu đạt 89% đã bầu ra Quốc dân đại hội
(Quốc hội) khóa I của nước Việt Nam dân chú công hỏa Ngày 09/11/1946 Quốc
hội khóa I đã thông qua bản liến pháp đầu tiên của nước Việt Nam với 07 chương và 70 điều Hiến pháp 1946, Diễu 17 khang định: “Chế độ bầu cứ phẳ
thông dầu phiêu Bỏ phiểu tự do, trực tiếp và lân" |39, tr.11] Điều 18 phì nhận
Trang 30“Tắt cà công dân Uiệt Nam, từ 18 tuôi trở lên không phân biệt gái trai, đều có
quyên bầu cử trừ những nguồi mất trí và mắt quyên công dân Người ứng cử
phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuôi, và phái biết dọc, biết viết
chữ quốc ngữ "[39, tr.11]
1.8.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
“Đây là thời kỳ mà đất nước còn tạm thời bị chỉa cắt thành hai miễn,
mỗi miễn có nhiệm vụ khác nhau: xây đựng chủ nghĩa xã hội ở Miễn Bắc và đẩu tranh thẳng nhất nước nhà ở Miễn Nam” [27, tr.2] Theo Luật sô 110
SL/L ngày 31/5/1958 các don vị hành chính lúc này không còn cấp bộ (kỳ)
mữa, nhưng lại tế chức có khu tự trị và không có IIĐND cấp Luyện mà chỉ có
Ủy ban hành chính cấp Huyện HĐNI) cấp nào thì bầu ra Ủy ban hành chính
cấp đò, riêng UBXD cấp Huyện do HĐND cấp xã bầu ra Nhiệm kỳ của
TIĐND và UBND cấp xã là 2 năm Sau khi kháng chiến thắng lợi ở Miền Bắc
củng với việc ban hành Sắc luật 110 §L/1., Chú tịch nước dã ban hành sắc luật
số 004_8LT ngày 10/7/1957 về thể lệ bầu cử IIPND va ủy ban hành chính
các cấp nhằm củng cế lại chính quyền địa phương Theo sắc luật 004-SLT đã
có một số nội dung thay đỗi về bầu cử dại biểu HĐND so với các qui định về
bầu cử trước đó Đó là
Điêu chỉnh nguyên tắc bầu cử từ nguyên tắc “tự do, trực tiếp
và kín” sang thành nguyên tắu bầu phiếu “phổ thông, bình đẳng,
trực tiếp và kín", nhưng vẫn qui định “các cuộc vận động bầu cử tự
do”, gố lượng đại biểu HN tăng có từ 15 đến 40 đại biếu, ở khu
tự trị từ 9- 25 đại biểu, Thay đổi đơn vị phụ trách bầu cử từ gồm
Dan phụ trách và Ban kiểm soát cuộc bầu cử thành IIội đồng bau
lễ bầu cử Thời gian bỏ phiểu từ 7 giờ đến I8 giờ
được kéo đài thành bắt đầu từ 6 giờ đến 8 giờ tối Cách kiểm phiếu
cử, Ban bầu cử,
cũng có sự thay đối, qui định “Những người ứng cử phải được quá
nửa số phiếu hợp lệ mới trúng cứ [71, Điều 24, tr.358 -370]
Trang 31Ngày 31/12/1959, “Hiển pháp 1959 được thông que d@ Uurc hién một
sự dãi mới căn bản tô chức chỉnh quyên dịa phương ” (13, tr.1R3|, ở tắt cả các
cấp chỉnh quyền địa phương đều thành lập chính quyền địa phương Lần đầu
tiên HĐND các cấp được xác dịnh la cơ quan quyển lực nhà nước ở địa phương luật TẾ chức HĐNI) và Ủy ban hành chính năm 1962 tiếp tục cụ thể
hóa các qui định của Thén pháp 1959, theo đó hạn chế, thu hẹp những vẫn đề
chính quyền cấp trên phê chuẩn những quyết dịnh của cấp dưới, dằng thời mở
rộng nhiệm vu quyền hạn của các cấp chính quyền trong thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội Ngày 18/01/1961, Ủy ban thường vụ Quốc Hội
ban hành Pháp lệnh không số đầu tiên về việc bầu cử HĐNI2 các cấp vả thay thế Sắc lệnh 004 — SLT, các qui định về bầu cử đại biểu IIĐXD tiếp tục được
kế thừa, điều chỉnh, bỗ sung cho phủ hợp với tình hình đất nước Số lượng đại
biểu HDNI) cấp xã có từ 20 đến 35 đại biểu, Diều 11; Không qui định số khu vực bổ phiểu tủy theo lỉnh trạng cư trú của nhần dẫn mà ẩn định số lượng nhân khẩu cụ thể tại mỗi khu vực bó phiếu từ 500 dén 2.500 nhân khẩu Các
bệnh viện, nhà đỡ đẻ, nhà an đưỡng, nhà nuôi người tần tật có từ 50 cử trị trở
lên thì có thể tổ chức thành khu vực bỏ phiếu riêng, Điều l6 Tổ
chức phự
trách bầu cử gồm có Hội dồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cứ, Hội dồng giám
sát việc bầu cử, Điều 19 Người ứng cử không được tham gia vào các tổ chức
phụ trách bầu cử này; Thời gian bố phiểu tử 7 giờ sáng dến 7 giờ tôi Tủy tình
hình địa phương, Tổ bầu cử có thế quyết định cho bắt đầu sớm hơn và kết
thúc muận hơn giờ qui định nhưng không được kéo đài quá 10 giờ đêm, Điều
36, Qui dịnh mức hình phạt đối với những người vi phạm quyền tử do bầu cử
vả ứng cử tủy theo từng tội danh và mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo
hoặc phạt tù nặng nhất là hai hoặc ba năm, Điều 61 và 62 (rước đây qui định mức hình phạt tủ từ ] tháng đến 3 năm cho tất cả các hành vĩ vi phạm),
1.3.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến tước năm 1992
Trang 32Sau ngày giải phóng Miễn Nam, thống nhất đất nước, Quốc Hội quyết
địmh bá khu tự trị, thay dai tên nước thánh nước Cộng hỏa XHƠN Việt Nam
“Hiến pháp 1080 đặc biệt đề cao vị trí, vai trà của cơ quan dân cử các cắp”
[31] ap đụng triệt để nguyên tắc về vị trí tối cao và nguyễn tắc toản quyền
của các cơ quan dân cử trong mỗi quan hệ với các cơ quan nhà nước khác
cùng cấp Điều 6, Thién pháp 1980 qui định “nhdn dan sit dung quyén lye nhà
nước thông qua Quốc hội và HĐND các cấp” và khẳng định “Quốc hội và
HDND là cơ sở chính trị của hệ thông cơ quan nhà nước "139, tr.77] Luật Tổ
chức TIĐND và UDND năm 1989 sau nay đã thể hiện rõ chủ trương tăng
cường vai trỏ và để cao vị trí của HĐMI) các cẤp, nhân mạnh tính quyền lực
nhà nước của IIĐND “quyết định các chủ trương, biện pháp nhằm xây đựng
vả phát triển địa nhương về mợi mặt” Tuy nhiên trong thời kỳ này do những
qui định của Luật về việc phân chia quyền lực giữa HDNI va UBND chua cu thể, thẳng nhất, rõ ràng làm cho các hoạt động của IIĐND trở nên hình thức
Vì thế hoạt déng quản lý hành chính nhà nước ở các cấp địa phương gặp
nhiều khó khăn, bị cần trở, không hiệu quả Nhưng với tư cách là một cơ quan
dân cứ, gần dần, sát dân nhất nên bẫu cử địa biểu HĐND vẫn là một vẫn dé
được nhiều cử trì dặc biệt quan tâm Trước tỉnh hình đỏ yêu cầu các qui định
về bầu cử tiếp tục được sửa đỗi, bổ sung thậm chỉ là nâng tẩm giá trị pháp lý
lên cao hơn nữa trong thời kỳ này
Dó là lý do, ngảy 22/1/1981 Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành Pháp lệnh không số về việc sửa đổi, bổ sung một số điều pháp lệnh năm 1961
qui định thể lệ bầu cử dại biểu HĐNI) Pháp lệnh 1981 đã gộp Điều 2, Điều 3
và Điều 4 Pháp lệnh 1961 thành một điều hoàn chỉnh qui định về quyền bầu
cử cua cing dan
Công dân nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam không
phân biệt đân tộc nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo,
Trang 33trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, tử 18 tuổi trở lên dau có quyền bầu cử, và từ 21 tuổi trở lên đều có thể dược bầu vào
TIIĐND các cấp, trừ những người mit tri va những người bị pháp
luật hoặc Tòa an nhân đân tước quyền đó Công dân dang trong
quân đội nhân đân có quyền bầu cử và có thể được bầu vào HĐNI)
các cấp [78]
Lãng cường vai trò của Ủy ban MITQ Việt Nam ở địa phương — được coi lả “Trung tâm đoán kết các dân tộc” kết hợp việc tham khảo ý
kiến của tập thể nhân dân lao động ở cư sở với việc hiệp thương với các
chính đáng, các đoàn thé nhân dân để giới thiêu danh sách người ứng cử
nhằm phát huy quyền lựa chọn, dân chủ của công dân, cử tri trong việc giới
thiệu người tham gia ứng cử Điều 7, § Pháp lệnh 1981 còn qui định sửa
đổi mức hình phạt, giới hạn mrức phạt tù đến hai năm hoặc ba năm tủy từng
mức độ vi phạm vả tửng Lội danh
T.uật bầu cử Đại biểu HĐND năm 1983 dược Quốc hội thông qua ngày
26/12/1983 đã làm thay đổi một bước dài trong tiến trình phát triển các qui
phạm về bầu cứ đại biểu HĐND ở nước ta Với vị trí là một văn bản Luật chuyên ngành bao gồm 11 chương vả 72 diều nhằm diéu chính các quan hệ
liên quan đến bầu cử đại biểu IIĐND các cấp nên các qui định về bầu cử được
phi nhận trong luật đã tạo thánh cơ sứ pháp lý dẩy đủ trong triển khai, tổ
chức, thực hiện các công việc bầu cử của các cập ủy đảng, chính quyền các cấp và của toàn thể nhân dân Luật bầu cử Đại biểu IIĐND năm 1983 qui
định tại Điều 4 lần dầu tiên ghi nhận việc
Cử trị có quyền bãi miễn đại biểu IIĐND, nếu đại biểu đó
không còn xứng đáng với sy Lin nhiệm của nhân dân Luật cên qui định mới các nội dung: Hội đồng bô trưởng qui định cụ thể các dân
tộc và công nhân có số đại biểu thích đáng trong IIDND BS sung
tà
Trang 34chuong VIII vé viée bau cir bé sung dai bidu HPND cac cấp và chương XIX việc bãi miễn dại biểu HĐND các cấp, tổ chức phụ trách bầu cử không cén [Idi đồng giám sắt bầu cử, số lượng đại biểu HĐND cấp xã từ 20 đến 45 đại biểu, Điều 8 Mai khu vực bó phiếu gỀm từ 500 đến 4.000 người, thiểu 13 Thay đổi số lượng đại biểu được bầu từ 03 đến 05 đại biểu, Điều 10 Thời gian chuẩn bị cho cuộc bầu cử, từ thời pian công bố quyết dịnh bầu cử dến thông,
báo kết quả bầu cử đều thay đổi, đều tăng nhiều ngày hơn tính từ
thời điểm dé đến ngày bầu cử Không qui định mức hình phạt tối đa
đối với những hành vì vĩ phạm Luật Hầu cử [78]
Sau Đại hội Đảng toản quốc lan thứ VI, ngày 30/6/1989, Quốc hội ban
hành Luật lễ chức HĐND và UBKD thay thế Luật 1983 và thông qua Luật
Bầu cử HDN các cấp thay thế Luật Bầu cử HIDND các cấp năm 1983 Theo
TLuuật Tổ chức IIĐND và UBND năm 1989 qui định số lượng đại biểu IIĐND
từ 15 đến 35 dại biểu, nhiệm kỳ hoạt động lả 05 năm, thành lập Ban thư ký
HDND cấp xã So với Luật Bầu cử năm 1983, Luật Bầu cử năm 1989 tiếp tục
được hoàn thiện hơn, qui định đẩy đủ hơn, cụ thể hơn nhất là về vai trẻ của
Ty ban MTTQ các cấp trong công tác giới thiểu, hiệp thương người tham pia
ứng cử và phối hợp tổ chức bầu cứ Luật Qui định mới nhiều nội dung: Nếu
đại biểu là đại biểu HĐND thì không quá hai cắp, nến dang là đại biểu Quốc hội thi chỉ được bầu làm đại biểu HDZND một cap, Diều 4, Người ứng cử phải báo cáo rõ chương trinh hành động của mình trước cử tri, Điều 30; qui định việc bầu bễ sung dại biểu HĐNI) để đảm bảo cho kỳ họp thứ nhất, người
được bầu bổ sung là người có số phiếu cao nhất trong số những người được
quá nữa số phiểu hợp lệ, nhưng không trúng cử ở đơn vị bầu cử đại biểu bị
khuyết, Điều 56 Việc bãi miễn đại biểu HĐNI2 cũng có nhiều sửa đổi, trước
đây việc bãi miễn đại biểu IIĐND đo cử tri quyết định theo đề nghị của Ủy
Trang 35ban MTTQ củng cấp và qui định rõ thể thức để cứ trì bỏ phiểu bãi miễn Còn tại Tuật Bầu cử lần nảy qui định tủy theo mức đỗ sai lầm, dại biểu có thể bị TIĐND hoặc đưa ra để cử trí ở đơn vị bầu ra bãi miễn, theo để nghị của thường trực HĐND hoặc của Ủy ban MTTQ củng cấp Ngảy bầu cử được ấn định vào ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất 90 ngày trước ngảy bầu
cử, Điều 31
1.3.4 Thời kỳ từ năm 1992 dén nay
liiển pháp 1992 lả Hiến pháp thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng,
đã tạo ra một bước cải cách quan trọng trong lỗ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước nhằm giải quyết các nhiệm vụ của quá trình chuyển đỗi cơ chế
kinh tế - xã hội từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hưởng
XHCN Trên cơ sử Hiến pháp 1992, ngày 21/6/1994, Quốc hội đã thông qua
Luật tố chức HI2ND và UBND, đồng thời ban hành Luật bầu cử Dại biểu TIĐRD thay dác Luật 1989 Luật mới qui định ITĐND cấp xã có từ 19 đến 25 đại biểu Luật Bầu cứ đại biểu HĐND năm 1994 gồm 10 chương và 70 diều,
bỏ chương bãi miễn đại biểu HDND, tập trung sửa đối, bố sung các nội dung:
Tiêu chuẩn của đại biểu HĐND ngoài các qui định rước đây còn phải là
người tiêu biểu trong nhân dân va dược nhân dân tín nhiệm, Điều 3 Ủy ban MTTQ, ngoài vai trò hiệp thương phổi hợp tô chức bau cử còn thực hiện nhiệm vụ giám sát bầu cử, Điều 6 Đối với các tổ chức phụ trách bầu cử: Giao thêm quyền hạn cho Hội đồng bầu cứ, Ban bầu cử liên quan đến việc chỉ đạo,
tổ chức bầu cử thêm, bầu cử lại; Qui định bd sung chế độ làm việc của các tổ chức phụ trách bầu cử theo chế độ tập thể và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia vào cuộc bầu cử, Điều 19, Điều 20
và Điều 21 Qui định cụ thể trách nhiệm của công dân tự ứng cử, phải nộp hồ
sơ tại Hội đồng bầu cử nơi minh ửng cử, Điều 27 Đối với người ứng cử vả
được để cử theo qui định mới là không được tham gia vào Ban bầu cử hoặc tổ
Trang 36bầu cứ thuộc đơn vị mình ra ứng cử, Điều 30 Qui định trước đây là không được tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử, trong đó bao pm cá Hồi
đồng bầu cử Hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử được tiển hành theo bốn
bước Việc tổ chức tiếp xúc cử tri dược phân công cho Đan thường trực Ủy
ban M''TQ xã tổ chức, Điều 3 Qui định sửa đổi đổi với phiếu gạch xóa hết
tên những người ứng cử và phiếu ghi tên người ngoài danh sách ứng cử là
phiéu không hợp lệ, trước đây qui định là phiếu hợp lệ
Để phủ hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn
mới, Iiiến pháp nằm 1992 đã được sửa đổi, hỗ sung năm 2001 vả Luật Tổ chức HĐNI và UBNI, Luật Hầu cử đại biểu HĐNI) được sửa đối, bỗ sung
năm 2003 So với cơ cấu tổ chức, hoạt động của IIĐND trước day thi IIDND
xã trong Luật năm 2003 không có nhiều thay đổi mà chủ yếu thay đổi ở cơ
cấu, tổ chức hoạt động của UBRNI2 cấp xã, qui định bẩy chức danh công chức
hoại động chuyên trách trên các lĩnh vực Đối chiếu với Luật Bầu cử đại biểu HĐND (sửa dỗi) năm 1994, Tuật Bầu cứ đại biểu HĐND năm 2003 có những điểm mới cơ bản như: Tiêu chuẩn đại biểu HDND được quy định cụ thê hơn Tăng số lượng đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp xã Số lượng cử trì ở mỗi khu vực b6 phiếu dược quy định tử 300 dến 4.000 người (tăng 2.000 người so với
Luật 1994)
Tại kỳ họp thử 8 Quốc hội khỏa XIT dã thông qua Luật sửa đễi, bỗ sung một số điều của Luật Bau cử đại biểu Quốc hội và Bầu cử đại biếu HDND
văn bản Luật BẦu cử hợp nhất Những điểm mới của Luật tập trung vào sửa
một số vấn dễ thực sự cần thiết liền quan đến công tác tổ chức bầu cử khi tiến hành bầu cử đại biểu Quốc lội và đại biểu IIĐND các cấp trong củng một
ngày, bảo đầm sự thành công oủa cuộc bầu cử Liên quan đến bầu cử đại biểu
HĐNI2, đặc biệt là HĐNI2 cấp xã — thuộc phạm vi để tài nghiên cứu của luận
văn, Luật sửa đổi, bể sung năm 2010 đã tiếp tục hoàn thiện hơn các nội dung:
30
Trang 37- Vé khu vue bé phiếu và số lượng cử trí trong mỗi khu vue bd phiéu
(Diều 13) Luật sửa đối, bé sung quy định về số lượng cử tri tại mỗi khu vực
bở phiếu và quy dịnh khu vực bỏ phiểu bầu cử dại biểu Quốc hội dồng thời là khu vực bồ phiếu bầu cử đại biểu HĐND
cấp Số lượng cử tri tại mỗi khu
vực bỏ phiếu được sửa đối thống nhất từ 300 đến 4.000 cử trí Với số lượng
cử tri tại mỗi khu vực bố phiếu được quy dịnh như vậy sẽ bão đầm thuận lợi
cho việc bỏ phiếu của cử trì cũng như việc thành lập các khu vực bổ phiếu,
đồng thời cũng không gây quá tải về công việc đối với các 'TỂ bầu cử trong điều kiện đã tăng số lượng thành viên tại mỗi Tổ bầu cứ
Đối với những địa bản và đơn vị có đặc thủ riêng sẽ tủy thuộc vào số lượng cử trị và điễu kiện cụ thể mà các cơ quan có thẩm quyển sẽ thánh lận
khu vực bỏ phiếu riêng hoặc phối hợp với các nơi khác thành lập khu vực bỏ
phiếu chung nhằm bão đảm thuận lợi nhất cho cử tri đi bầu cử
- Về các tổ chức phụ trách bầu cử:
Về Tội đồng hầu cử được gọi chung là Tội đồng bầu cử Trung ương,
giao cho UBKD là cơ quan chủ trì thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử ở
È cơ quan chủ trì thành lập,
thành phần Dan bầu cử nhằm bảo đấm tính thống nhất với việc thành lập 18
chức phụ trách bầu cử ở các cấp Tổ bầu cử đồng thời thực hiện công tác bầu
địa phương, gọi chung là Ủy ban bau cit Sura déi
cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và cẩn xã Lại
cùng một khu vực bỏ phiếu Tế bầu cử sẽ được tăng thêm số lượng thành viên Sửa đổi thông nhất quy định về cơ quan chủ trì thành lập, thành phần và
sổ lương thành viên của Tổ bầu cử (từ 11 đến 21 người)
- Luật về bầu cử còn có các quy định mới về thời gian bầu cử, mẫu thể
cử trị, phiếu bầu, thời hạn niêm yết danh sách cử trị, thời hạn giải quyết khiếu
nại về danh sách cử Iri, mẫu biên bản bầu cử, việc gửi biên bản, phiểu bầu và
trình tự, thủ tục trong ngày bỏ phiến như: thời gian bỏ phiếu, việc kiểm tra
hom phiếu, việc bổ phiểu của cử trì, việc đóng dấu trên thể cử trì Những
31
Trang 38vấn dé này đã được sửa đổi cho thống nhất và khắc phục những điểm chưa
hợp lý (Diều 18 và 51)
Theo Hiến pháp 2013, lần dầu tiên Hội đồng bầu cử quốc gia dược Hiến định là một thiết chế độc lập Theo Tiến sỹ Đặng Mĩnh Tuần đánh giá
“Việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia là phù hợp với xu hướng chưng
dang diễn ra trên thể giới, tạo tiên dễ khắc phục những hạn chế cúa hệ thẳng
quân | bau cử ở nước lu hiện nay Diéu này cũng phù hợp với định hướng
tăng cường các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà mước và xây dựng nhà nước
pháp quyên của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” 75), Con theo Phó
chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Ngô Đức Mạnh cho rằng, “điều này có ý nghĩa
vừa trước mắt, vừa lâu dài nhằm phát huy hơn nữa bản chất dàn chủ của chế
độ xã hội, quyền làm chủ của người dân Mặt khác, góp phần khắc phục những hạn chế, bãi cập của cơ chế tễ chức, quản Ið bầu cử hiện nay" [75]
Tóm lại, “sự ra đời của chế dé bằu cứ nước ta gắn liên với sự ra dời
của chỉnh quyên nhân dân” |36, tr134] Kễ từ khi ra đời đến nay, các qui
định về bầu cử, bầu cử đại biểu HDND đã thực sự có sự phát triển trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện các qui dinh về nguyên tắc bầu cử, phân chia don vị
bầu cổ, quyền bầu cử của công dân, sự tham gia của các đơn cơ quan nhả
nước trong quá trình bầu cử, qui trình tổ chức bau cử đã góp phần làm cho
các cuộc bầu cứ tại Việt Nam ngày càng công khai, dân chủ hơn
1.4 Các nguyên tắc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân
hi các piai cắp xuất hiện, nhà nước hình thánh với tư cách là một thiết chế đứng trên xã hội có chức năng thể biển ý chỉ của giai cấp thống trị, diễu
hoá những mẫu thuẫn, duy trì sự tổn tại va phát triển của xã hội Bầu cứ với
những nguyên lắu bầu cử đã xuất hiện từ rất lâu đời, ngay từ thời kỳ nhà
chiếm hữu nô lệ với các chính thể quân chủ (là phổ biến), song cũng đã tồn Lại
chính thể cộng hoà, với viện nguyên lão, bao gầm đại điện của: những chủ nô
Trang 39quí tộc, đại điện của nhân dân, đại điện của những người cam vii khi [43]
Mục tiêu của cách mạng tư sẵn diễn ra năm 1787 là dé phế bỏ chế độ truyền
ngôi, thế tập, khẳng định quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân Qua
một thời kỳ đài củng với sự phát triển của nhân loại, tư tưởng đưa những người cầm quyền thực sự chỉ có thể lả nhân din như ngày nay đã trở nên phổ biến ở các quốc gia tôn trọng nền dân chủ nhân đân
Ở Việt Nam ta, tiếp thu những tư tưởng tiễn bộ của thế giới, ngay từ
đầu những ngày thành lập nước đã lựa chợn và sử đụng bẫu cử giống như một
trong những biên pháp nhân dân sử dụng để thực hiên quyển lực nhá nước
thuộc vẻ mình Ngoài việc bỏ phiếu bầu ra những người đại diện thay mặt mình trong các cơ quan quyền lực nhả nước, hầu cử cỏn là một trong những biện pháp kiểm tra, giám sát nhà nước, và lắm cho quyền lực luôn luôn có xu hưởng thuộc về nhân dẫn Một chế dộ dân chủ chỉ có thể có được khi va chi
khi có được cáo cuộc bầu cử phố thông, bình đẳng, khách quan tìm ra dược
những người thực sự lải năng thay mặt cho nhân dân nắm giữ quyền lực nhà
nước Với tính chất quan trọng của bầu cử như vậy, pháp luật bầu cử của
chúng ta được xây đựng trên một số nguyên tắc nhất định và các nguyên tắc
đó cân có sự liên kết, bổ sung cho nhau tạo nên một thể thống nhất
Bầu cử đại biểu HDND ở nước ta hiện nay bao gồm: nguyên tắc phổ thông, bình đẳng trực tiếp và bổ phiếu kín Các nguyên tắc đó thống nhật với
nhau, đâm báo cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thế hiện đúng nguyện
vọng của cử trí khi lựa chọn người đại điện cho mình Các nguyên tắc bầu cử quy dinh quyền và trách nhiệm của cử trì trong bầu cứ, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo dấm thực thì những quy dịnh về bầu cứ Các nguyễn tắc này có thể được pháp luật quy định bằng một quy phạm nhất định, hoặc bằng nhiễu
quy phạm trong các văn bán pháp luật bầu cử chuyên ngành
33
Trang 401.4.1 Nguyên tẮc phẫ thông đầu phiếu
Để phi nhận, thực hiện được nguyên tắc này trong việc tổ chức các
cuộc bầu cử nhân loại đã phải trả giá đất cho cuộc đầu tranh đòi quyền được
tham gia bầu cử cho tắt cả mọi người không hạn chế về của cải, mau da, dan tộc, giới tính, thời hạn cư trú Về tầm quan trọng của lá phiếu, của cuộc bầu
cử, IIŠ Chỉ Minh nói:
Lá phiếu của người cử trí tuy khuôn khổ nỏ bé nhỏ, nhưng giá
trị của nó vô cùng lớn Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy
ch mạng đánh đỗ thực dẫn và
phong kiến mới giành được nó Nó chứng tổ chế độ dân chủ và tự do
sinh biết báo xương máu trong cuộc
của Nhà nước ta và quyền làm chủ thực sự của mỗi công din ta Vi
vậy đi bỏ phiếu trong cuộc tống tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu,
vita lả nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi cử trị [35, tr.247]
Đây là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá mức độ dân chủ của bau cử
Cuộc bầu cứ cảng được mở rộng cho nhiều người dân tham gia bao nhiêu thì
càng thể hiện mức độ dân chủ bấy nhiêu [17] Nhà nước ta là Nhà nước của
dân, người dân làm chủ trong vie bau ra những người đại diên cho mình Vì
vậy Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân đều có thể tham
gia bầu cử Đây cũng là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong chế độ bầu cử
của mỗi nhà nước nói chung, trong đó có Việt Nam chủng ‡a Trong khi các
nước tư sản định ra một loạt các điều kiện cần thiết cho người được tham gia
bổ phiếu bầu cử nhằm hạn chế tối đa sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao
đồng vào các hoạt động chính trị thi nguyên tắc phê thông đầu phiếu trong
bầu cử của nha nước ta hoản toàn đối nghịch với nguyên tắc han chế quyền
bầu oử và ứng cử của các nhà nước phân dan chi trước đây của nhiều nha
nước tư sản phát triển Nguyên tắc phố thông đầu phiếu thể hiện tính công khai, đân chủ rộng rãi, đôi hổi sự bảo đảm để công đân thực hiện quyên bầu
34