Theo dự báo của Bộ nông nghiệp va phát triển nông thôn, nhu cầu tiêu dùng gỗ xê của Việt Nam vào năm 2020 sẽ tăng lên con số 7 triệu mỶ, tương đương, 15 triệu mỶ gỗ tròn; nhu cầu tiêu
Trang 2ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NOI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Tiễn Việt
Hã Nội - 2014
Trang 3LOI CAM DOAN
Tâi xin cam doan luận văn là công trình nghiên cứu của riềng !Ôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bề trong bắt lỳ công trình
nào khu Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đâm bão tính chính xóc, lìn cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tắt cả các môn học và đã thanh
toán tắt cả các nigHữa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luậi Đại học Quốc
gia Hà Nội
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Luật xem xét đỄ tôi
có thê bảo vệ Luận văn
Tôi xin trân trọng cắm onl
NGƯỜI CAM DOAN
Bạch Xuân Hòa
Trang 4Chương 1: NIỮNG VĂN ĐẺ LÝ LUẬN VẺ BẢO Vĩ; TÀI NGUYÊN
1.1 Khái niệm tải nguyên rừng và tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên
1.1.1 Khai niém tai nguyén rimg - - 9
1.1.2 Tim quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự
1.2 Khải niệm các tội phạm trong lĩnh vực tải nguyên rửng và ý nghĩa của việc quy định các tội phạm nảy trong pháp luật hình sự Việt Nam cá L7 12.1 Khải niệm các tội phạm trong lĩnh vực tải nguyên rừng, - 17
1.2.2 Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm về lĩnh vực tài nguyên rừng
2
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy dịnh về bảo vệ tài
nguyên rừng trong pháp luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng tháng tắm
1.3.1 Giai đoan từ sau cách mạng tháng tám năm I945 đến trước pháp điển
hỏa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 - 23
13.2 Giai doạn Lừ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến khi
pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 26
Trang 5Chương 7: THỰC TRANG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÉ BẢO VỆ TÀI
2.1 Bảo vệ tải nguyên rừng bằng các quy định của pháp luật hình sự Việt
2.1.1 "Tội vi phạm về các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 34
2.1.4 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loải nguy
cấp, quý, hiểm được ưu tiên bảo vệ - - 4
2.1.5 "tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy - 45
22 Thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm trong lĩnh vực tải
nguyên rừng 47
2.2.1 Tỉnh hinh điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm trong lĩnh vực tài
2.2.2 Những nhận xét, dánh giá 66
2.2.3 Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản tees 68
Chương 3: HOÀN THIÊN PHAP LUAT VA NHUNG GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIẾU QUÁ VIỆC BAO VE TAT KGUYEN RUNG BANG PHÁP
Trang 63.3 Những giải pháp nâng cao hiệu quá việc bảo vệ tải nguyễn rừng bằng
3.3.2 Tăng cường điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các đối tượng phạm
tội xâm phạm đến tải nguyên rừng - - 91 3.3.3 Xây dựng đôi ngũ cán bộ làm công tác điều tra, truy tổ, xét xử có phẩm
Trang 7DANII MUC CIIU' VIET TAT
BNN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
BCA Bộ Công an
VKSNDTC Vién kiểm sát nhân đân tối cao
TTANDTC ‘Téa an nhén dan téi cao
Trang 8DANII MUC BANG BIEU
Bang 1.1: Théng kê diện tích đất rừng của Việt nam tính đến năm 2012 13
Bang 2.1: Théng kê dịa bàn xây ra vị phạm pháp luật xâm hại đến nguồn tài
Trang 9MO DAU
1 Tinh cấp thiết của đề tài
Tải nguyễn rừng là nguồn tài nguyễn thiên nhiễn có ÿ nghĩa và tắm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế, tài nguyên rừng có
vai trò cân bằng hệ sinh thái, én định và điều hòa khí hậu, giúp sự sống trên trái
dất được duy trì bền vững, Không những thể, tài nguyên rừng còn có ý nghĩa dặc
biệt quan trọng trong lĩnh vực an nĩnh quốc phòng Vì vậy, bảo vệ tài nguyên rừng
tal
là trách nhiệm chung của toàn xã hội ác quốc gia trên thể giới, nhằm bảo
vệ tài nguyên rửng đang bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng mà nguyên nhân chính
lả do hành vị trái pháp luật của con người gây ra
Thực tiễn nhiều năm qua cho thầy, báo vệ tải nguyên rừng ở Việt Nam
đang là vấn đề cấp bách, bởi tải nguyên rừng ngày cảng bị tản phá nghiêm
trọng, đặc biệt là rừng tự nhiên Theo thống kê của cục kiếm lâm Việt Nam,
từ năm 2008 dến năm 2013 tổng diện tích rừng nước 1x bị tàn phá là 22.167
ha, điện tích rừng bị chảy là 11.345 ha Như vậy, nếu chúng ta không chung, tay vào cuộc, không kịp thời tìm ra những giải pháp hữu hiều, thỉ trong tương, lai không xa tài nguyễn rừng của nước ta sẽ cạn kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng,
đến môi trường sinh thái, là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu
và tac déng x4u dến sự phát triển bền vũng của nền kinh tế quốc gia
Trước tỉnh hình đó, nhiệm vụ đặt ra cho Nhà nước ta là phải có những, giải pháp hữu hiệu để bảo vệ tải nguyên rừng, trong đó biện pháp hình sự đóng vai trỏ đặc biệt quan trọng Vỉ vậy, quy định của pháp luật hình sự phải
được rõ ràng, chặt chẽ, phải có hệ thống các chế tải nghiêm khắc và đủ mạnh
để răn đe giáo dục đổi với các chủ thể xâm hại đến tài nguyên rừng Đây là một trong những piải pháp đồng thời là hướng đi thiết thực nhằm ngăn chặn
và tiển đến đây lùi hành vị vi phạm pháp luật xâm hại đến tải nguyên rừng.
Trang 10Trong giai doan hiện nay, khi đất nước ta đưng chuyển mình trong thời
kỳ dỗi mới, nhu cầu sử dụng tải nguyễn rừng trang sự nghiệp phát triển nền
kinh tế quấc gia đang có chiều hướng gia tăng Theo thống kê năm 2011 Việt
am là nước xuất khẩu 5,4 tiga tin dim (lớn nhất thế giới) tương dương, khoảng 11 triệu m3 gỗ nguyên liệu Bên cạnh đó, với khoảng 87 triệu dân và thói quen sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ tự nhiên, kim ngạch trên
thị tường pỗ và sẵn phẩm gỗ tiêu thụ nội địa mỗi năm ước tỉnh cũng dạt
khoảng 1 tỉ USD với lượng nguyên liệu đầu vào lên tới hàng triệu m° gỗ
Theo dự báo của Bộ nông nghiệp va phát triển nông thôn, nhu cầu tiêu dùng
gỗ xê của Việt Nam vào năm 2020 sẽ tăng lên con số 7 triệu mỶ, tương đương,
15 triệu mỶ gỗ tròn; nhu cầu tiêu thụ ván sợi vào khoảng 1,5 triệu mỸ, ván
ghúp Lhanh khoảng 1 triệu mẺ vào năm 2015 [34]
Giá trị kinh tế ngày cảng cao và nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ tài
nguyên rừng ngày cảng lớn, dẫn dến tỉnh hình tội phạm trong lĩnh vực tải
nguyễn rừng ngày cảng diễn biển phức tạp theo chiều hướng xấu, hậu quả gây
ra cho xã hội ngày cảng nghiềm trọng,
Nhận thức đúng ý nghĩa vả Lẫm quan trọng của lải nguyễn rừng và vai trỏ quan trọng của pháp luật hình sự trong việc bảo vệ tải nguyên rừng Trong những năm qua các cơ quan tiến hành tổ tụng đã chủ động áp dụng nhiều biện pháp xứ lý nghiêm minh những kẻ thực hiện hảnh vi vi phạm pháp luật trên lĩnh vực này và đã đạt được nhiêu kết quả quan trọng, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ nguén tài nguyên rừng ở nước ta ngày cảng tốt hơn
Tuy nhiên, như dã viện dẫn nêu trên, chế tải trong một số quy định của
pháp luật hỉnh sự Việt Nam hiện nay chưa thực sự đủ mạnh để răn đe trần ấp,
một số hành vi xâm hại đến tải nguyên rừng phát sinh trong thực tiễn chưa
được pháp luật hình sự quy định riêng thành tội phạm độc lấp Mặt khác, hiển nay quy định của pháp luật hình sự trong lĩnh vực tài nguyên rừng còn thiểu
tà
Trang 11đồng bộ và nhiều điểm bất cập, Vì vậy, các chủ thể có hành vị xâm hại đến lài
nguyễn rừng vẫn chưa dược xử lý nghiêm minh và triệt dể, dẫn đến tải
nguyên rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên đang ngày càng bị tàn phá nghiêm
trọng và củ nguy cơ bị thu hẹp trên bản đề lâm nghiệp
Vì vây, nghiền cứu các quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn về công tác áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ tải nguyên rừng ở nước ta trong
giai doạn hiện nay là vấn dễ cấp bách cả vẻ lý luận và thu tid Do do, với
mong muốn được góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp bảo vệ tải nguyên rừng,
tạo điều kiện cho nên kinh tế nướu ta phát triển bền vững, học viên đã chọn đề tài: "Bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự ở Liệt Nam” làm luận
văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đê tài
'Trước thực trạng tài nguyên rừng của nước ta trong những năm gân đây
đang bị tản phá nghiêm trọng, không những gây tác động xấu đến mỗi trường sinh thai mà còn lam ảnh hướng nghiém trong dén sự phát triển bần vững của
nén kinh tế quốc gia Trước tỉnh hinh đỏ, trong những năm gần day Ding va
Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương biện pháp để khắc phục và cũng đã có
một số tác giã trong nước có sự dầu tư nghiền cứu ở nhiều pỏc độ phương,
điện khác nhau, nhằm tìm ra những giải pháp dé bảo vệ tài nguyên rừng Điễn
hình là các để tài sau dây:
* Dưới sóc độ luận văn, luận án Hến sĩ luật học: Dã có một số luận án,
luận vấn ít nhiều đề cập gián tiếp đến vấn đề nảy, chẳng hạn, ở cấp độ luận án
tiến sĩ luật cỏ công trình “Quản tý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực
bão vệ rừng ở Việt Nam lnện nay”, Lọc viện chính trị Qué gia II8 Chi Minh,
2010 của tác giả IIà Công Tuần; công trình “Hoàn tận pháp luậi về quản ly
và bảo vệ tài nguyên rừng ở liệt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn ' hanh
Iluyén, Khoa Luật, Đại học Quốc gia I1ả Nội, 2012.
Trang 12Ngoài ra, ở cấp đô luận văn thạc sĩ có các đỀ Lài của các tác giả Nguyễn Hải Âu, “Pháp luật về bão vệ môi trường rừng thực trạng và phương
hưởng hoàn thiện” năm 2001; TIà Công Tuân, “Quân lý Nhà nước bằng pháp
luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay” năm 2002; Vũ Thị Huyền, “Tội vì phạm qui định và khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự
Piệt Nam” năm 2010, bão vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Là Nội; v.v
* Dưới góc độ sách chuyên khảo, giáo trình Ngoài ra còn được đề cập ở
xmột số sách chuyên khảo như Dinh luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm
tác giả nghiên cứu xuất bản nhu: Binh luận khoa học Bộ
buật Hình sự Việt Nam năm 1999, giáo trình luật hình sự Việt Naơn, do Liông Chủ
Lưu chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, [14 Nội, 2001; Đình luận khoa học Bộ luật
Hình sự Diệt Nam đã được sửa đôi bỗ sung năm 2009, do PGS.TS Trần Minh
Hưởng chủ biên, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009; Dừnh luận khoa học Bộ luật Hình
sự - phân các tội phạm lập VI - Các lội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Bình
buận chuyên sâu của Th§ Đình Văn Quế, Nxb Thành phố Hỗ Chỉ Minh, 2006 hay
Giáo trình Luật hình sự Uiệt Nam (Phản các tội phạm) của Khoa Luật, Dại học Quốc gia Hà Nội năm 2001, tái bản năm 2003, 2007, v.v
1999 được lập thể œ:
* Dưới góc độ các bài viết trên các tap chỉ chuyên ngành khoa học
pháp ly: TS Trần Lê IIồng, Nhận thức chung đổi với tội phạm về môi trường
vẻ một số vẫn dễ liên quan, Tap chi Khoa hoc pháp lý, số 4/2001, Đặng Đại,
Nguyễn Văn Hải, Minh Ngọc, 1o đã tàn sái rừng như thể nào, Bảo Tuổi trễ,
ngày 16/12/2003; Nam Nguyên, Tởn phá rừng hôm nay - thẩm họa ngày mai,
Báo [ân tộc và Phát triển, ngày 02/7/2009, Xuân Nguyễn, ẩn sớm một số
khó khăn, vướng mắc về việc xứ 10 ví phạm hành chính trong lĩnh vực quản bì:
bảo vệ rừng, Bảo Biên phòng, ngày 08/01/2009: Hà Công Tuấn, Téng quan
về bảo vệ rừng Việt Nam và các giải pháp bảo vệ rừng, Bản tin Kiểm lâm
Việt Nam, (1 !23⁄2008; v.v
Trang 13Như vậy, từ việc nghiên cửu, đánh giá các công trình nghiên cứu như
đã nêu trên, học viên nhận thấy trong những năm gần dây ở nước ta đã có một
số công trinh nghiên cửu liên quan đến pháp luật về bảo vị tải nguyên rừng
Tuy nhiên, các công trình nghiên cửu nêu trên cũng chỉ dề cập đến póc độ và phạm vị nghiền cứu nhất định, cũng như đặt ra vẫn để chung nhất trong quản
lý môi trường, quản lý tải nguyên rừng và các giải pháp chung đưới góc độ pháp lý - xã hội về bảo vệ rừng và xử lý vi phạm
Tổng quan lại, chưa có luận văn thạc sĩ luật học nào đi sâu vào việc
bao vé tai nguyên rừng bằng pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích cẫu thành tội phạm và thực tiễn điều tra, truy tổ và xét xử các tôi phạm trong lĩnh vực tài
nguyên rừng, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao việc bản vệ và phát triển tài nguyên rừng ở Việt Nam Do đó, vide
nghiên cứu đề tài ˆ3ảo vệ tải nguyên rừng bằng pháp luật hình sự ở Việt
Nam” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa mang tính lý luận, vừa có tính thực tiễn
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên co sở ý nghĩa vả tầm quan trọng của tài nguyên rừng đổi với sự
sống của loài người và sự phát triển bên vững của nên kinh tế quốc gia và trước thực trạng tải nguyên rừng dang bị tản phá, hủy hoại nghiêm trong trong những năm gần đây Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của sự cần thiết quy định các tội phạm liên quan đến việc bảo vệ tài
nguyên rừng trong Bộ luật hỉnh sự Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn dễ xuất
những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự
Việt Nam vào việc đấu tranh phòng, chẳng tội phạm trong lĩnh vực lài nguyên
rừng, góp phần quan trong dé bảo đấm cho nên kinh tế quốc gia phát triển
an diam va ban wit
toàn điện và bên vững
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
"Từ mục dịch nghiên cửu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
1) Lâm rõ ý nghĩa vả tầm quan trọng cua tai nguyên rừng đỗi với mỗi trường sống và sự tác động của nó đi với nền kinh tế đất nước;
2) Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng từ sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 đến nay (2014),
3) Nghiên cứu thực trạng và các quy định của pháp luật hinh sự hiện nay về
bão vệ tải nguyên rừng trong Độ luật hình sự Việt Nam trên cơ sỡ làm rõ những
dấu hiệu pháp lý hình sự oủa các tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng;
4) Tổng hợp kết quả nghiên cứu, cũng như đánh giá những yếu tố làm
cho tỉnh hình tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rùng ngày càng diễn biến
phức tap, hậu quả gây ra cho xã hội ngày cảng nghiễm trọng, gây ảnh hưởng,
xấu đến sự phát triển bền vững của nên kinh tế đất nước;
5) Để xuất và luận chứng giải pháp nhằm bỗ sung, hoàn thiện các quy
định của pháp luật trong lĩnh vực Lài nguyên rừng trong Bộ luật hình sự Việt
Nam hiện nay, cũng như các giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo vệ tải
nguyên rừng bằng pháp luật hình sự
3.3 Phạm vị nghiên cứu
ĐỒ tài tập trung nghién cửu một số vẫn dễ lý luận vả thực tiễn áp dụng, pháp luật để xứ lý các tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng Nghiên cứu
thực trạng đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng ở
Việt Nam bằng pháp luật hình sự, đồng thời nghiên cứu diễn biến tình hình vi phạm pháp luật xâm hại đến tài nguyên rừng trong những năm gần đây (2008-
2013) trên phạm vi toàn quốc Qua đó tìm ra một số nguyên nhân dẫn đến tài nguyễn rừng ở nước ta dang ngày cảng bi tan phá hủy hoại Đồng thời dễ ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự trong lĩnh vực tài nguyễn
rừng, gúp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước
Trang 154 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đổ tài được nghiên cửu dựa trên cơ sở phương pháp luận của của triết
học Mác-Lê in, Tư tưởng 114 Chi Minh, chính sách pháp luật hình sự của
Đăng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền và chính sách phán luật trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên rừng
Ngoài ra, để thực hiện, luận văn sử đụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; thống kê, so sánh, lich sir dé
tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luật kinh tế, cũng như để luận
chứng 6 đề tương ứng được nghiên cửu trong luận văn
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài là công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật
kinh tế Nghiên cứu vả làm rõ một số vẫn để lý luận và thực tiễn áp dụng về
một số tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng (Qua đó tìm ra những nguyên
nhân dẫn đến hành vi xâm pham đến tải nguyên rừng và đang ngày cảng diễn
biển phức Lạp theo chiều hướng xấu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng; dến sự phát
triển bình thường của nền kinh tế đất nước
Đề lái lập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về bảo vệ tài nguyên rừng [Điều 175, 176, 189, 190, 240 Bộ luật hình sự] Thực tiễn áp dụng, những thuận lợi, những khó khăn vướng
xnắc, bất cập trong công tác áp dụng các điều luật nêu trên để xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng, từ đó đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số tội phạm trong lĩnh vực tài nguyễn rừng của Bộ luật
hình sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu dấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật
vá tội phạm trong lĩnh vực này ở nước †a hiện nay, góp phần quan trọng vào
sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc gia
Đặc biệt, kết quả của để tải có thể làm tải liệu tham khảo, đồng thời cung
cấp cho các cán bộ làm công tác thực tiển ở địa phương cơ sở lý luận và những
Trang 16kinh nghiệm trong đầu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyền rime, g6p phần nâng hiệu quả án dụng pháp luật hình sự trong đầu tranh phòng
chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay
6 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận vả Danh mục tải liệu tham khảo, nội
đung của luận văn gềm 3 chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Những vẫn đề lý luận về báo về tải nguyên rừng bằng pháp
luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Bao vệ tài nguyên rừng bằng các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam vả thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
Chương 3: Toàn thiên pháp luật và những giải pháp năng cao hiệu quả việu bão về tải nguyên rừng bằng pháp luật hình sự Việt Nam.
Trang 17Chương 1: NIỮNG VẢN DE LY LUAN VE BAO VE TAI NGUYEN
RUNG BANG PHAP LUAT HINH SU VIET NAM
iệm lãi nguyên rừng và tầm quan trụng của việc bảo vệ tài
nguyên rừng hằng pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Khải niệm tải nguyén rimg
Việt Nam là nước có vị trí địa lý nằm ở khu vực Đông Nam châu A, có
địa hình đổi núi chiếm khoảng 3/4 lãnh thễ với các độ cao khác nhau so với mat nước biển, có khí hậu nhiệt đới gió mủa, nên rừng được phân hồ ở nhiều
vùng, miễn trên phạm vị cả nước và rất đa dạng phong phú về các chững loại
động vật, thực vật, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tổ môi trường khác
Tài nguyên rừng không những uó giá tri cao vé kinh lé, 06 vai trỏ quan trọng trong việc điều hòa và cân bằng hệ sinh thái đổi với môi trường sống
trên trái đãi, đồng thời có tác động quan trọng đến sự phát triển bền vững của niên kinh Lế quốc gia Do đó, dễ hiểu rõ đặc điểm và khái niêm tải nguyên
rừng, trước tiên cần phải hiểu tải nguyên rừng là một phần của tài nguyên
thiên nhiên (tài nguyên mỗi trưởng)
Theo nghĩa rộng, tải nguyên môi trường bao pdm tit cá các nguồn
nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, thêng tin có trên trai đất và trong vũ trụ
mả cơn người có thể sử dụng để phục vụ cho đời sống và sự phát triển của
mình Trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội loài người, ở bắt kỳ giai
đoạn nảo thì hoạt động kinh tế của con người cũng thông qua quá trình sử
dụng năng lượng để biến đổi vật chất từ dạng nảy chuyển sang dạng khám
nhằm phục vụ cho nhụ cầu và lợi ích cho cuộc sống
Trong khoa học môi trường, tài nguyên thiên nhiên được chia thành
ba loại sau đầy
- Tải nguyên tải tạo:
Trang 18Tài nguyên tái Lạo là loại tải nguyễn dựa vào nguồn năng lượng
được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dua vao trật tự
tự nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tôn tại,
phát triển và chỉ mât đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin đó nữa
Theo §.E.lorgensen (1981) Tài nguyên tái tạo là tải nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bỗ sung một cách liên tục nếu được quản lý, sử dụng một cách
hợp lý và khôn ngoan
Tai nguyên thiền nhiên tái tạo được có thể kế ra như: Tài nguyên sinh học, tải nguyên rừng, tài nguyên năng lượng mặt trời, tải nguyên nước, tải nguyên gió
- Tải nguyên không tải tạo
T.à loại tài nguyễn tổn tại một cách hữu hạn va sẽ mất di hoặc hoàn toan
bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quả trình sử dụng Đó là
các các khoảng sản, nhiên liệu hoá thạch (than đả, đầu mô, khi đốt ) các
thông tin di truyền, các gen quí, hiếm bị mai một không giữ lại được là những
nguỗn tải nguyên thiên nhiên không tái tạo được
-Tài nguyên vĩnh cửu
La loai tai nguyên tồn tại vĩnh cứu trong tự nhiên, không phụ thuộc vào
sự tác động của con người Tải nguyên vĩnh cửu có liên quan trực tiếp, hoặc gián tiếp đến năng lượng mặt trời Có thể xem năng lượng mặt trời là nguồn tải nguyên vô tận, chúng ta có thể phần ra:
+ Năng lượng trực tiếp
Là nguồn năng lượng chiếu sảng trực tiếp, giả trị dịnh lượng có thể
tỉnh được
+ Năng lượng gián liếp
Là những dạng năng lượng gián tiếp của bức xạ mặt trời bao gồm:
gió, sóng biển, thuý triều, nhiệt mặt trời
Trang 19Theo ban chat ty nhign, tài nguyên còn được phân loại như: Tải nguyên đất, tải nguyên nước, tải nguyên khoáng sản, tài nguyên rửng, tải nguyên biển |35 |
"Theo khoản 1 Điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, năm 2004: “1 Rừng là một hệ sinh thái bao gém quan thể thực vat rừng, động vật
rừng, vi sinh vậi rừng, đất rừng và các yêu tô môi trường kháu, trong đó cây
gã tre nữa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chỉnh có độ che phủ của
tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gầm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng
sẵn xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” [4|
Con theo tác giả Nguyễn Thanh Huyễn, thì “Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của
môi trường sinh thái, có giả tị to lên bao sâm rừng tự nhiên và rừng trồng
trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yên tổ tự nhiên có liên quan dẫn rừng (gọi chung là quân xã sinh vật [14]; vx
Tám lai, dudi góc độ khoa học, theo người viết thì, nải nguyên rùng tục
chất là một phần quan trọng của tài nguyên thiên nhiên và thuộc loại tài nguyên
tải lạo dược, nhưng nễu con người sử dụng không khoa học và không hợp hợp
ý, thì tài nguyên rùng có thê bị lnữy hoại hoặc suy thoái không thê tái tạo lại
Như vậy, từ khái niêm dã nêu có thể chỉ ra các đặc diễm của tài nguyễn
rừng như sau:
Aột là, tài nguyễn rùng là một phần quan trọng của tải nguyên thiên nhiên; Hai là, tài nguyên rừng thuộc loại tài nguyên có thể tái tao dược, nhưng
xiếu sử dụng không khoa họo và không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị hủy
hoại hoặc suy thoái không thể tái tạo lại:
Ba là, thông qua hoạt dông kinh tế của con người, tải nguyễn rừng
được sử dựng để phục vụ cho nhu uầu cuộc sống Từ đó, chúng ta có thể nhận
thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của tài nguyên rừng đối với sự phát triển
bền vững của nền kinh tế đất nước vả dối với sự cân bằng của môi trường, 4 và Ẩng nàn nản nhà
sinh thái và sự sông còn của nhân loại.
Trang 20Từ gác đặc điểm nêu trên của tài nguyên rừng, La có thể nhận thấy điểm
đặc biệt của loại tài nguyên rửng, đó là một trong những loại tải nguyên có thể
tái tạo lại nều chúng ta biết sử dụng nẻ một cách khoa học và hợp lý, nghĩa là
trước khi khai thác tài nguyền rừng ta phải có qui hoạch loại rừng nào sẽ được
khai thác, phải xây dựng kế hoạch và các phương án cụ thể cho việc khai thác
Đồng thời, phải đánh giá toàn diện và khách quan sự tác động của việc khai
thác tải nguyễn rừng đối với mỗi trường sinh thái và sự tác dông của nó đối
với sự phát triển của nền kinh tế, bên cạnh đó cần phải phải có biện pháp khôi
phục và cải tạo tai nguyên rừng một cách hợp lý, để sau khi khai thác, lải
nguyên rừng vẫn được duy trì và phát triển một cách ốn định và bền vững
Ngược lại nếu chúng ta khai thác tải nguyên rừng một cách bừa bãi,
thiểu khoa học vả không đánh giá đúng sự tác động trở lạ của nỏ đối với môi
trường sinh thái và sự phát triển bền vững của nên kinh tế quốc gia, đồng thời
không có biện pháp đuy trì, bảo vệ tài nguyên sau khai thác, thì tài nguyên
rừng của nước 14 sẽ vĩnh viễn không thể tái tạo lại, để lại hậu quả khôn lường
cho xã hội mà thực tế như đã xảy ra trong những năm gần đây
Do đó, hon bao giờ hết chúng ta phãi khẩn trương tìm ra những giải pháp hữu hiệu dễ tái tạo và báo vệ tải nguyễn rửng cua nude ta sao cho ngày
càng phat trién theo chiều hướng tích cực, tạo động lực to lớn cho nén kinh tế
đất nước ta phát triển một cách toán điện va bén vững, góp phần quan trong
vào sự nghiệp xây đựng và bảo vệ tô quốc 'Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày cảng vững mạnh và giảu đẹp
1.1.2 Tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên rừng bằng pháp luật hình
Trang 21vững Không những thể, rừng còn có giá trì cao về kinh tổ, về khoa học đẳng thời
là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, là nguồn cung cấp nguyên liêu, vật liệu,
được liệu và các gen động thực vật quí, hiểm phục vụ cho các ngành khoa học
như: y học, sinh học, hóa chất và cả cho ngành công nghiệp, ngành du lịch sinh
Thái mả ngày nay đang có chiều hướng phát triển mạnh trong những năm gẦn đây
lien thế nữa, rừng cỏn có tầm quan trọng chiến lược trong việc tạo phòng, tuyến
trấn thủ vững chắc trong lĩnh vực an ninh quốc phỏng của dat nude
Theo thông kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, về việc
công bế số liệu hiện trạng rừng toản quốc năm 2012 (Diện tích rừng và :
lâu năm có tán che phủ vả có tác dụng phòng hộ như cây rửng tính đến ngày
31/12/2012 trong toàn quốc), cụ thể như sau:
Bang 1.1: Thong ké điện tích đất rừng của Việt nam tính đến năm 2012
Thuộc quy hoạch ba loạirùng — Ngoài quy
khép lám
b Ring tong
308.444 9467 | 75.600 | 295346 18.031 hua khép tin
2 Diậthraed
13463600 | 2.012.528 | 4.599.803 | 6.659.070 182.199 tinh dé chephd
(Nguon Website: hitp://www kiemlam.org.vn) [33]
Trang 22Từ bảng thống kế về tổng diện tích ba loại rừng của nước ta hiện nay cho thay: Nhìn chung, điện tích rừng có chiều hướng phục hồi trở lại, nhưng, rừng tự nhiên của nước †a hiện nay dã bị giảm nhiễu sơ với những năm trước giải phóng
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thi tang
điện tích rừng của nước ta váo năm 1945 là 14.300.000 ha én nim 1976
điện tích rừng tự nhiên giảm còn 11.169.000 ha Đến năm 2012 tổng diện tích
rừng tự nhiên của nước ta chỉ côn 10.423.844 ha (Như số liệu đã nêu 6 bảng
thống kê trên) Nếu so với số liệu được Hộ Nông nghiệp và Phát triển nông,
thôn công bố năm 2009 khoảng 13,2 triệu ha với độ che phủ 39,1% thì điện
tích rừng hiện nay đã tăng xấp xỉ 300.000 héo ta Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh gidm trầm trọng, hiện chỉ còn rit it, chủ yếu còn ở những khu
rừng phòng hộ, vườn quốc gia và các khu bảo tần thiên nhiên, phần lớn rừng
tự nhiên hiện nay côn lại lả rừng nghẻu có chất lượng kém
Diện tích rừng ngập mặn của nước ta cũng đã giảm hơn một nửa trong,
các thập kỹ trước và vẫn Liếp tục suy giảm trong những năm gần đây Sự suy
giảm cả về số lượng và chất lượng của các loại rừng như dã nêu trên đã tác
động xân đến môi trường sinh thái và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
phát triển bn vững của nên kinh tế quốc gia Đây la một trong những nguyễn
nhân dẫn đến sự biến đối khí hậu mả hậu quả của nó là cực kỳ nghiêm trọng đổi với các cơ sở hạ tầng của nền kinh tế đất nước va đối với đời sống kinh tế
của nhân dân
Theo thống kê của các cơ quan chuyên môn, chỉ tỉnh trong 1Š năm trở
lại đây, các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, ngập ứng, hạn hán,
triểu cường, xâm nhập mặn tại Việt Nam đã làm chết vá mất tích hon 10.700 người, thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP mỗi năm.
Trang 23Chính từ việc tàn phá, hủy hoại ải nguyên rừng lá một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự biến đổi khi hậu và gây ra những thắm họa như đã
néu trén
Với vị trí vai trò chiến lược của tải nguyễn rừng đối với đởi sống xã hội
và sự phát triển bên vững của nên kinh tế đất nước Đằng thời, trước hiểm họa
tải nguyễn rừng của nước ta đã và đang bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trong như
hiện nay Dang va Nha nước ta dã để ra mục tiêu dến năm 2020 Việt Nam sẽ
nâng độ che phủ rừng lên 45%, Ổn định diện tích rừng đặc dựng trên 2 triệu
ha, phục hỗi 0,62 triệu ha rừng tự nhiên, trồng thêm 250.000 ha và tái sinh tự
nhiên 750.000 ha rừng phòng hệ, rừng đặc dụng, cải tạo 350.000 ha rừng tự
nhiên nghẻo
Gần đây nhất, Lại buổi làm việc váo chiều ngày 11/11/2013, Liên quan
đến vấn đề thảo luận về Luật bảo về môi trường sửa đổi, một số đại biểu quốc
hội bức xúc trước tỉnh hình tài nguyên rừng đang bị làn phá nghiêm trọng va
đã phát biểu ý kiến: cần phải bổ sung chương về báo vệ môi trường rừng, vì
bảo về môi trường rùng không những có ý nghĩa dân sinh mà côn có ý nghĩa
an ranh Quốc phòng Trong khi thực tế, tỉnh trạng phá rừng hiện nay, nhất là khai thác rừng trong việc xây dựng thủy diễn đã gây tác hại rất lớn dồi với dời
sống của người dân, điển hình là tình trạng lũ lụt ngày cảng nghiêm trọng và
phức tạp như dã nêu ở phân trên và đặc biệt mới dây nhất la cơn lũ lịch sử vừa
mới xảy ra trong thang 11/2013 tai các tỉnh Miền trung nước ta Trong đó, tại
tỉnh Binh Định theo thống kê sơ bộ, thì đợt lũ lụt vào ngày 13/11/2013 đã làm
chết 19 người, bị thương 14 người và hàng chục nghìn ngôi nhà bị ngập sâu trong nude nhiền ngày, gây thiệt hại ước tính khoảng 1.800 tỉ đồng
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ trong bảy tháng đầu
năm 2013, điện tích rừng bị thiệt hại do cháy là 721ha, phát hiện 903 vụ phá rừng, diện tích rừng bị phá 397ha Riêng tại tỉnh Bình Phước, sáu tháng đầu
Trang 24năm 2013 đã xảy ra 408 vụ vi phạm, tăng 62 vụ sơ củng kỳ năm 2012 Trang
đó số vụ vị phạm về phá rừng trái pháp luật là 54 vụ, làm thiệt hại 56 ha rừng,
tự nhiên Tổng số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý lâm sản 354 vụ, tăng 67
vụ sơ củng kỳ năm 2012 Không chỉ Bình Phước, nhiều tỉnh khu vực Tây Nguyên cũng đang đối diện với tình trang khai thác, buôn bán lâm sân, phá rừng trái pháp luật
trước thực trạng tài nguyên rừng đã và dang bị tàn phá gây ảnh hưởng, nghiềm trọng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế ở nước ta như đã nêu
trên và dé bảo vệ nghiêm ngặt nguồn tài nguyên quan trọng ấy tránh khỏi sự
xâm hại bởi hành vi trái pháp luật của con người Trong nhiễu năm qua Dang
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương biện pháp, nhiều nhả nghiên cửu khoa
học oững đã chủ tâm đến vấn để nảy với mục đích tìm ra những giải pháp hữu
hiệu để bão vệ tải nguyên rừng (Loại tải nguyên có thể tái tạo được nêu chúng
ta biết khai thác vả bão về một cách khoa học và hợp lý) Song thực tiễn cho
khoa học vào thực tiễn để
thấy, tuy có sự nghiên cửu vả áp dụng nhiều dễ tả
bảo vệ tải nguyễn rùng, đồng thời các cấp các ngành và chính quyền địa
phương ở nhiều nơi trong thời gian qua cũng đã có sự quan lâm nhưng chưa đứng mức Bởi lẽ đỏ cho nên tỉnh trạng tải nguyên rừng ở nước ta bị hủy hoại, tàn phá vẫn không được giải quyết triệt để như mong muốn, mà ngược lại
ngay cảng bi tan phá, huỷ hoại một cách phổ biển trên phạm vi cA nue, hành
vi ngày càng tỉnh ví xáo quyệt, hậu quả gây ra cho nên kinh tế - xã hội ngày cảng nghiêm trọng
Irước tình hinh diễn biến phức tạp của các loại tôi phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng, đồng thời xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm
của nước ta trong những năm qua cho thấy, áp dụng các biện pháp giáu dục
thuyết phục và chế tài hành chính đã bộc lộ sự kém hiệu quả, điều này được
chứng minh qua tỉnh hình tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng trong những
Trang 25năm gần đây và thực trạng chất lượng tải nguyên rừng đang bị suy giấm ngày
cảng nghiêm trọng bởi sự tàn phả, hủy hoại trái pháp luật của con người
Trước tỉnh hình đó Nhà nước ta xác định cần phải có một “liều thuốc đặc trị” dú mạnh để “diều trị căn bệnh này” và đó chính là biện pháp chế tải hình sự Chỉ có biện pháp chế tài hình sự với bản chất nghiêm khắc nhất trong,
số các loại chế tài của pháp luật Việt Nam thì mới có thể đảm bdo tinh rin de,
giáo dục phòng ngừa, các chủ thể phạm tội mới có thể chùn bước Tuy nhiền,
chế tải đó phải đủ mạnh, sử dụng đứng lúc, đúng đối tượng thì mới phát huy
tác dụng đúng bản chất của chế tải hình sự
Xuất phát từ những lý do trên, nên Nhà nước ta đã quy định một số hành vi xâm hại đến tai nguyên rừng là tội phạm và ghỉ nhận trong Bộ luật
hình sự Việt Nam, để giáo dục phỏng ngửa và rin đo trấn áp các hành vi vị
phạm pháp luật nói chung, các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng nói riêng
Thông qua đó nhằm duy trì trật tự quản lý về bảo vệ tải nguyên rừng, góp
phan cải thiện môi trường, sinh thái, bảo về nguồn Lai nguyễn rừng tránh sự
tan phá nghiêm trọng bởi hành vi trái pháp luật của con người, tạo điều kiện
thuận lợi cho nên kinh tế quốc gia phát triển một cách Loàn điện và bền vững,
Đẳng thời tạo thế phòng thủ chiến lược vững chắc trong lĩnh vực an ninh
quấc phòng
1.2 Khái niệm các lội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng và ý nghĩa
của việc quy định các tội phạm này frong pháp luật hình sự Việt Nam
1.2.1 Khủi niệm các tội phạm trong lĩnh vực tai nguyén ring
Việc bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam dược Nhà nước ta quan tâm
ngay lừ những ngày đầu nước Việt Nam dân chủ gộng hòa được thành lập
(Ngày 02/9/1945) Điều này được chứng mình qua việc kể từ thời điểm đó
đến nay Nhà nước đã ban hành loạt các văn bản qui phạm pháp luật nói chung, các văn bản qui phạm pháp luật hình sự về báo vệ tài nguyên rửng nói
Trang 26riêng, Tuy nhiên, để nghiên cứu chuyên sâu về các loại tội phạm nảy, nhằm
đánh giá đúng bản chất sự nguy hiểm của nhóm tội phạm xâm hại đến tài nguyên rùng và của từng hành vi phạm tội cụ thể, từ đó chúng ta có biện pháp
ngăn ngửa có hiệu quả, đỏi hỏi phải có một khái niệm khoa học về các tội
phạm xâm hại đến tài nguyễn rừng Thể nhưng dến thời diểm hiện nay vẫn
chưa có tác giả nảo dưa ra một khái niệm khoa học về các tôi phạm xâm hại
đến tài nguyên rừng
"Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 sửa đổi bổ
sung năm 2009 quy định: “Tôi phạm phải là hành vì nguy hiểm cho xã hội
được gui định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực biện một cách cd ý hoặc vô ý, xêm phạm độc lập, chủ quên, thông nhất, toàn vẹn lãnh thô TỔ quốc, xâm phạm chế dộ chính trị, chế độ kinh tế,
nên văn hỏa, quốc phòng, an nữnh, trật tụ, an toàn xã hội, quyền lợi Ích hợp
pháp của tô chức, xâm phạm tính mạng, sức khôe, danh dụ, nhân phẩm tự
do, tdi sản, các quyền, lọi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những
Tĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [6]
Như vậy, xét về mặt lý luận, tôi phạm là hiện tượng xã hôi mang tính
lịch sử, dược dặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và được qui định trong
Bộ luật hình sự Việt Nam, do chủ thê là cá nhân thực hiện Đẳng thời hành vị
nguy hiểm đó phải có yếu tổ lỗi (lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, hoặc vô ý
do clu thả và lỗi vô ý do quả tự tin) Mặt khác phải đo người có năng lực trảch nhiệm hình sự thực hiên, nghĩa lả người dó phải đã tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự do pháp luật qui định
Tôi phạm phải do người có đủ năng lực chú thể thực hiện (Năng lực pháp luật và năng lực hành vi) và đủ gây ra mức độ nguy hiểm như thế nào
đối với xã hội thì những hành vi của chủ thể tội phạm đó đều là những hành vi
cụ thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội đến mức phải truy
cứu trách nhiệm hình sự.
Trang 27Tuy có đặc điểm tương đồng, thế nhưng những hành vi phạm lội cụ thể
vả những tội phạm cụ thế được qui định trong pháp luật hình sự Việt Nam
cũng có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, nên nó cũng có
những đặc trưng riểng biệt về bắn yếu tế cấu thành tôi phạm
'Theo G§'TSKH L.ê Căm cho rằng: Tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ các
đấu hiệu bao gồm ba bình diện với năm đấu hiệu của nó là:
- Bình điện khách quan:
Tội phạm nhất thiết phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội Nếu hành vi
đó không nguy hiểm cho xã hội thì không thể xem là tội phạm
- Bình điện pháp lý:
Tội phạm là vi trái pháp luật hinh sự Nếu hành vị đó đủ có nguy hiểm
nhưng không trái pháp luật hình sự thì không thể xem là tội phạm
- Binh diện chủ quan:
Tội phạm là hành vi do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi |7]
Dé xAc định một người có phạm tội hay không phạm tội, ngoài các yêu
tố nêu trên, thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có năng lực chủ thể trách nhiệm hình sự, nghĩa lả phải đủ độ tuổi theo quy dịnh của
pháp luật (Biéa 12 Dộ luật hình sự) và không bị mat năng lực hành vi Ví dụ
người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác lắm mất khả năng nhận thức
hoặc mắt khả năng điều khiến hành vi; Người bị bệnh đao
Đối với trường hợp người phạm tội do bị ép buộc vả không còn cách
lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây ra một thiệt hại cho xã hội xâm hại đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, thì cho dù hành vi của họ
có thỏa mãn dầy đủ các yếu tổ cầu thành tội phạm, thỉ người đó cũng được
loại trừ trách nhiệm hình sự Hoặc dỗi với các trường hợp người thực hiện
hành vi gây tiệt hại cho xã hội thuộc trường hợp tỉnh thế vấp thiết [Điều 16
Trang 28Bộ luật hình sự| hay trưởng hợp phony vệ chính đáng | Điều 15 Bộ luật hình
sự| thì chủ thể đỏ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự
Hộ luật hình sự năm 1999, sửa đối, bổ sung năm 2009 14 sw thé ché héa
đường lối chính sách cia Dang va Khả nước bằng pháp luật Là sự thể hiện ý chí vả nguyễn vọng chính đảng của tuyết đại da số quần chúng nhân đân Các
tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng dược qui dịnh trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, là những hánh vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật
Am bai đề ầm xà ân Thiên nhiên có giá tị À trinh thd ak
xâm hại đến nguôn tài nguyên thiên nhiên có giá trị cao về kinh tế và có vai
trò đặc biệt quan trọng đồi với sự cân bằng của môi trường sinh thái và sự
phát triển bên vững của nên kinh tế đất nước Gây thiệt hại hoặc đe doa gây
thiệt hại cho lợi ích cua Nha nước, của các tổ chức, tập thể và quyền lợi ích hợp pháp của công dân, thông qua các hảnh vi xâm hại đến tải nguyên rừng,
được pháp luật hình sự bảo vệ
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự và luật kinh tế Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu, hay một để tải khoa học nào đưa ra khái niệm
chính thống về các tôi phạm xâm hại đến tài nguyên rừng theo qui định của
pháp luật hình sự Việt Nam Còn theo quy định của Hộ luật hình sự Việt Nam
hiện hảnh, thi các tội phạm xâm hại đến tài nguyễn rừng được quy dịnh phân
tán ở ba chương, đó là:
- Chương XVI - Các tội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế [Điều
175 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đối bố sung năm 2009] “Tới vi pham quy
định về khai thác và bảo vệ rừng” và Điền 176 Bộ luật hình sự “Tội ví phạm
các qui dịnh về quản lÿ rừng”
- Chương XVI - Các tội phạm về môi trường | Điều 189 Bộ luật hình sự về
“Tội tủy hoại rừng" và Điều 190 Bộ luật hình sự “Tội vị phạm dạ: định về bảo vệ
động vật thuộc danh mục loài ngụ cấp, quí, hiém được trú tiên báo vệ” ],
- Chương XIX - Các tội xâm phạm an toản công cộng, trật tự công cộng [Diễu 240 Hộ luật hình sự “7ï vị phạm qip định về phòng cháy, chữa cháy”]
Trang 29Mặc dù các tơi phạm xâm hại đến tải nguyên rừng được Nhà nước ta gui dinh ở ba chương riêng biệt trong Bộ luật hình sự như đã nêu trên, song, hành vị của chủ thể các tội phạm này đều xâm hại đến đối tượng quan trọng
đĩ là tải nguyên rừng, vả hậu quả gây ra cho xã hội là lâm sưy giảm hộc huý hoại nguồn tải nguyên rừng, gầy ảnh hướng nghiêm trọng đến mơi trường
sinh thái và trực tiển hoặc giản tiếp gây thiệt hại đến sự phát triển bền vững
của nên kinh tế quốc gia
Như vậy, các tội phạm xảm hại đến tải nguyên rừng cũng là những tội
phạm cụ thể được quy định trong Hộ luật hình sự Việt Nam, nên mỗi tội phạm
cũng đều phải thỏa mãn đây đủ bốn yếu tế cầu thành tội phạm (khách thể của
tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan
của tội phạm) Tuy nhiên, trong cấu thành của từng tội phạm nảy cũng cĩ những đặc trưng riểng của nĩ Lừ những cơ sở lý luận nêu trên, theo người viết,
dưới gúc độ khoa học, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau
Các tội phạm xâm hại dén tai nguyên rừng là những hành vì nguy hiểm
cho xã hội, được quy định trong Dộ luật hình sự Việt Nam do người cơ năng
lực trách nhiệm hình sự và đũ mỗi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm
hai đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên rừng duce quy định
tại các điều 175, 176 189, 190 và điều 240 Bộ luật hình sự (Nếu gay thiét hai
đến tài nguyên rừng)
Thư vậy, các tội phạm xâm hai đến tải nguyền rừng được quy định
trong Bộ luật hình sự Việt Nam đều xâm hại đến một loại đối tượng đặc biệt
quan trọng cĩ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của nền kinh té quéc
gia và sự cân bằng của mơi trường sinh thái Trong từng tội phạm cụ thể quy
định tại các điều 175, 176, 189, 190, 240 Bộ luật hình sự Việt Nam, cĩ những
dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng biết cho từng loại tội mả người viết sẽ phân
tích cụ thể trong Chương 2 luận văn này.
Trang 301.2.2 Ý nghĩa cũa viée quy định các tội phạm về lĩnh vực tài nguyên rừng
trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tủ ở giai đoạn lịch sử nào thì pháp luật hình sự đều chiếm giữ vị trí quan trong và có vai trỏ then chốt trong việc ỗn định tỉnh hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hôi, báo vệ chế đồ xã hôi chủ nghĩa, quyền tw do chu
của nhãn dan, bao vệ quyền bình dẳng giữa đồng bao các dân tộc, bảo vệ lợi ich của Nhà nước, quyền và lợi Ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ nên pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo
pháp luật, đấu tranh phòng ngửa và chống tội phạm
Dé thy hiện hiện được nhiệm vụ trên, Bộ luật hình sự Việt Nam quy
định và mô tả hành vi pham tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của tôi phạm, quy định loại và mức hình phạt cụ thể đỗi với từng tôi phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tỗ tựng nghiên cứu áp dựng
được thuận lợi để giải quyết các vụ, việc cụ thể đảm bảo tính khách quan,
toàn diện vả đúng pháp luật
Ngoài nhiệm vụ cơ bản nêu trên, Bộ luật hình sự còn có vai trò giáo
đục mợi người nâng cao sự hiểu biết và ý thức tuân theo pháp luật, ý thức đâu
tranh phỏng, chống tội phạm, điều nảy được thể hiện ở việc các quy định của
Luật hình sự giúp cho mọi người biết được hành vị nào lạ tội phạm để tự điều
chỉnh hành vi của mình cho phủ hợp với qui định của pháp luậi
Xuất phát từ cơ sở lý luận nêu trên, việc quy định các tội phạm về lĩnh
vực tải nguyên rùng trong pháp luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa tẤt quan
trọng bởi nó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước trong việc bão vệ tải nguyễn rừng và cũng chính là bão vệ sự phát triển bền vững của
xiên kinh tế đất nước Điều này cảng thể hiện rõ ý nghĩa và Lâm quan trọng của
tài nguyên rừng đổi với môi trường sống của nhân loại và sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia Vì vậy, Nhà nước ta mới đặt ra việc bảo vệ tải
nguyên rừng bằng pháp luật hình sự
2
Trang 31Việc qui định các tôi phạm xâm hại đền tài nguyên rừng trong luật hình sự Việt Nam dã tạo hành lang pháp lý thuận lợi dể các cơ quan bão về
pháp luật áp dụng và xử lý nghiêm minh, triệt để người phạm tội, nhằm bảo
về hiệu quả nguồn tài nguyễn rừng, tạo điểu kiện thuận lợi cho nền kinh tế nước ta phát triển ngày cảng tốt hơn
1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về bảo
vệ (ải nguyên rừng trong pháp luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng
tháng tám năm 1945 đến nay
1.3.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nước pháp diễn hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Ngay sau khi nước Việt Nam đân chủ cộng hòa được thành lập (ngày
02/9 71945) Nhà nước ta lúc hãy giờ phưa ban hành kịp thời Bộ luật hình sự
‘Tuy nhiên, Nhà nước cũng đã quan tâm đến việc đấu tranh phòng, chống các
loại tội phạm, nhằm ỗn định tỉnh hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hồi, báo về thành quả cách mạng, bảo vệ Đăng, Nhà nước, bảo về tỉnh mang
vả tài sản của Nhân dân
Do hoàn cảnh lịch sử, nên nhiệm vụ trọng lâm lúc bấy giờ là tập trung cho việc cũng có chính quyền cách mạng còn non trễ vừa mới được thánh lập,
nên việc đấu tranh phòng, chống tội phạm tuy được quan tâm, nhưng chủ yếu
ở các loại tôi phạm xâm hại nền an ninh chỉnh trị vả các loại tôi phạm đặc biệt nghiềm trọng khác như: Các tội trong lĩnh vực an ninh quốc gia, tội giết người, cướp của, hiếp đâm, trộm cắp tài sản
Vào thời điểm đó, tài nguyên rừng của nước ta rất phong phú, điện tích
rừng tự nhiên khoảng 14.300.000 ha, độ che phủ đạt 13% Nhu cầu sử dụng
tài nguyên rừng phục vụ trong sinh hoạt đời sống của nhân dân tuy có nhu
cầu, song không đáng kế sơ với những năm sau ngày Miễn Nam hoàn toàn
giải phóng (năm 1975) mà đặc biệt là sau dại hội Đảng toàn quấc lần thử VI
Trang 32(năm 1986) thời kỳ xóa bỏ cơ chế tập trưng quan liễu bao cắp chuyển sang
nên kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do dó, pháp luật giai
đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 về tội phạm này chủ yêu được quy định
trong các sắc luật, cụ thể như sau:
- Sắc lệnh số 26/81, ngày 25/02/1946, về các tội phá hoại công sản,
- Sắc lệnh số 247/§L ngày 15/6/1946, về âm mưu và hành động phá
hoại tài sản của Nhà nước, hợp tác xã và của nhân dân lâm cản trở việc thực
hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước;
- Thông tư số 1303 BCN/VN ngày 28/6/1946 của liên Bộ Nội vụ - Bộ canh nông, qui định điều chỉnh những hành vi xâm hạt đến rừng, 'Tại thông tư
này có đoạn qui định: “ Những tội phạm (chính phạm và tòng phạm) sẽ do
nha Lâm chính làm biên bàn đưa ra Tòa án và sẽ bị phạt liền, phạt tà hay
phải bài thường theo thể lệ dd dn định từ trước ” [30]
- 8ắc lệnh số 142/SL ngày 21/12/1949, quy định về việc lập biên bản
các hành vi vi phạm pháp luật bảo về rừng
Dén giai doan nim 1955-1958, Sau chién thắng lịch sử Diện Biên Phủ,
đất nước ta tạm thời bị chúa cắt làm 2 miễn Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã
hội, Miền Nam vẫn chìm trong khỏi lửa của chiến tranh Pháp luật thời kỳ này
được Đăng và Nhà nước quan tâm chú trọng, bởi đây là công cụ sắc bén
không thể thiểu của chỉnh quyền Nhân dân Do đó, hả nước đã ban hành
nhiêu văn bân pháp luật dé quản lý xã hội, trong đó có nhiều văn bản liên quan trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên rừng, cụ thể lả:
- Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam I)ân chủ công hỏa [Điễu 12
và Điều 40]:
“Dễ bảo vệ rừng và phái triển tài nguyên phong phit wha rừng, phát
huy tde dụng to lớn của rừng trong việc giữ nguần nước và điều tiễt nước, giữ đất chống xói màn, chồng cát bay, điều hòa khi hậu hạn chế tác hại của giỏ,
Trang 33bão, Hi, lut, han hán, nhằm phục vụ công cuộc xây dựng kinh tố, phát triển
văn hoá, cũng cổ quốc phòng và nâng cao dời sông của nhân dân, gáp phẩn
làm cho nước nhà giàn mạnh;
Dé phat huy tink thần làm chủ tập thễ của cửn bộ, công nhân, viên
chức, bộ đội và nhân dân, nâng cao ÿ thức bảo vệ rừng, động viên toàn dân
ra sức đấu tranh chẳng mọi hành động làm thiệt hại đến rừng"
- Pháp lệnh (Không số) ngày 27/7/1961 quy định về quản lý Nhà nước
đối với công tác phỏng cháy và chữa cháy,
- Nghị định số 221-CP ngày 29/01/1961 của Ilội đồng Chỉnh phủ về
việc phòng cháy và chữa cháy rừng,
- Nghị định số 220/CP ngày 28/12/1961 của Chính phủ, quy định về
quản lý của Nhả nước đối với gông táo phỏng cháy, chữa cháy
Pháp lệnh số 17/LCT ngày 05/4/1963 qui định về phòng cháy chữa cháy,
- Nghỉ định số 39/CP ngày 05/4/1963 của lội đồng Chính phủ ban
hành điều lệ Lạm thời về săn bắn, bắt chim, thú rừng
- Pháp lệnh (Không số) ngảy 23/03/1966 quy định về phòng cháy,
chữa cháy;
- Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970,
~ Tháp lệnh (Không số) ngày 06/9/1972 của Ủy ban Thưởng vụ Quốc hội
quy định việc bảo vệ rừng, nêu rõ: “##ne là mội bộ phận của môi trường sống, là
tài sân quỷ báu của nước ta, có giá trị lớn đối với nên kinh tê quốc dân và văn hoá
công cộng, Việc bảo vệ rừng nhải áo Nhà nước và toàn dân cùng lam”
Nghị định số 155/CP ngày 03/10/1973 của II6i đẳng Chính phủ về việc
thì hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng,
Ngày 30/4/1975 đất nước ta hoàn toàn giải phóng, nhiệm vụ trọng tâm
của Nhà nước ta vào thời kỳ nảy chủ yếu tập trung cho việc tải thiết đất nước
bạ ờ
Trang 34và cũng có chỉnh quyền cách mạng nên chưa có thời gian để xây dựng Bộ
luật hinh sự với dúng nghĩa của nó và cũng chưa kịp thời ban hành các qui
định pháp luật để thay thể các văn bản pháp luật về bảo vệ tải nguyên rừng
cho thời kỳ mới
Vì vậy, pháp luật thời kỳ nảy vẫn duy trì các quy định của pháp luật
trước đây Đồng thời chủ yếu áp dung tiền lệ pháp để xử lý hành vi phạm tôi
nói chung, phạm tôi trong lĩnh vực tài nguyễn rừng nói riêng;
1.3.2 Giải doan từ khi ban hành Bộ luật hình sự Liệt Nam năm 1985 đân
khi pháp điển hóa lần thử hai - Bộ luật hình sự năm 1999
tiến giai đoạn năm 195, nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển nhất
định, nhu cầu của các ngành công nghiệp và đối với đời sống của nhân đân về
sit dung các sản phẩm có nguồn gốc từ tải nguyên rừng đã táng lên đáng kể,
dẫn đến việc hủy hoại, tàn phá và khai thác rừng một cách tràn lan không
kiểm soát được, làm cạn kiệt nguồn lài nguyên thiên nhiên quí hiểm của đất nước va lac động xấu dến sự phảt triển bên vững của nền kinh tế quốc giá
Nhận thức rõ điều đó, Dảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương
biện pháp để duy trì trật tự quản lý và báo về tải nguyên rừng được tốt hơn,
ma cu thể lả việc qui định trong Bộ luật hình sự Việt Nam về loại tôi phạm
trong lĩnh vực tài nguyên rừng Cụ thể tại điều 181 Bộ luật hình sự năm 1985
“Tội vi phạm các quy định vé quan ly va bdo vé ring” quy dịnh
“1- Người nào khai thác trải phép cây rùng, săn bdt trái phép chim,
thủ hoặc có những hành vi khác vì phạm các quy định của Nhà nước về quân
1g và báo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc dã bị xứ lý hành chính mà
còn vi phạm, thì bị phạt cãi lạo không giam giữ đến mội năm hoặc bị phạt tù
từ ba tháng đến ba năm
3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ
hai năm đền mười năm”.
Trang 35Liên quan đến việc bảo vé tai nguyén rừng bằng chế tải hình sự, tại
điều 194 Bộ luật hình sự năm 1985 quy dịnh: “Tội ví phạm các quy dịnh về
phòng chảy, chữa cháy gây hậu quả nghiêm trọng”
*1- Người nào vì phạm các quạ định về phòng cháy, chữa chấp gậy thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến mội năm hoặc bị phạt tù từ
ba tháng dẫn ba năm
3- Phạm tội gân hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tà từ hai
năm đến mười năm
3- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tễ dẫn đến hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, tì bị phạt cảnh cáo, cải
tạo không giam giữ đễn một năm hoặc bị phạt tù lừ ba thẳng đến một năm
Hộ luật hinh sự năm 1985 chỉ quy định 2 điều luật liên quan đến bảo vệ
tải nguyên rừng và khung hình phạt nhẹ hơn so với pháp luật hiện hành
Tuy diều luật nêu trên không quy định cụ thể là làm chảy tài nguyên
rừng, song về khách thể được bão vệ trong điều luật này 14 tính mạng, tải sản,
sức khoẽ của con người Vì vậy, mọi hành vi phạm lội nêu trên làm cháy tài sẵn nói chung, cháy tải nguyên rừng gây hậu quã nghiêm trọng nói riêng đều
bị xét xử theo Điều 240 Dộ luật hinh sự
Việc quy dịnh trong Độ luật hình sự điều luật liên quan đến việc báo về
tdi nguyên rừng ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với nguồn tải nguyên rừng, đồng thời đã tạo cơ
sở pháp lý cho công tác đấu tranh phỏng, chống tôi phạm trên lĩnh vực bảo vệ
tải nguyên rừng bằng pháp luật hình sự được tốt hơn
Đến năm 1989, trước thực trạng quản lý tài nguyên rừng lõng lếo, các
chủ thế có chức năng nhiệm vụ trong việc bảo vệ tài nguyên rừng lợi dụng, nhiệm vụ được Nhà nước giao xâm hại đến tài nguyên rừng làm ảnh hưởng
tạ 5
Trang 36nghiêm trọng đến môi trưởng sinh thái và sự phát triển bền vững của nền kinh
tế đất nước Trước tỉnh hình đỏ, Nha nước ta đã bổ sung “Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng” [Điều 176 Bộ luật hinh sự]
Tiến năm 1997 trước yêu cầu đặt ra của tỉnh hình mới, mặt khác nhiều
hành vi vi phạm pháp luật phát sinh trong đời sống xã hội trước đây chưa
được Nhà nước xác định là tội phạm, nên Nhà nước có sự điều chỉnh bổ sung
nhiều điều luật và qui dinh thêm một số tội phạm mới Tuy nhiên các tội
phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng giữ nguyên, không sửa đổi, bỗ sung
Đến năm 1999, nền kinh tế - xã hội nước ta có nhiều biến chuyển tích
cực, sự nghiệp công nghiệp hod hiên đại hoá đất nước được đây mạnh, nhu cầu sử dụng đất rừng, tải nguyễn rừng vào sẵn xuất, phát triển kinh tế và phục
vụ cho sinh hoạt của người dân được tăng cao đột biến Điều này kéo theo
tỉnh hình tội phạm trong lĩnh vực tải nguyên rừng ngây càng diễn biểp phức
tạp, tải nguyên rừng đặc biệt là rừng tự nhiên bị Làn phá nghiêm trọng và có
nguy cơ bị thu hẹp trên bản đỗ lâm nghiệp Việt Nam Đồng thời Đăng và Nhà
nước ta đã đánh giá đúng vị trí và tầm quan trọng chiến lược của tài nguyên
rừng đổi với sự sống của loài người và sự phát triển bên vũng của nền kinh tế
- xã hội Nên đã quyết tâm báo vệ tải nguyên rừng bằng nhiều biện phản,
trong đó biện pháp sử dụng pháp luật hinh sự đề bảo vệ tài nguyên rừng
Chính vì vậy, trong lần sửa đôi bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999, Nhà
nước đã có sự sửa đổi bổ sung các điều luật liên quan trong lĩnh vực tài nguyên rừng, Từ chỗ chỉ có một điều luật qui định liên quan đến tài nguyên
rừng [Điều 194 Hộ luật hình sự năm 1985] nay qui định sáu điều luật, cụ thể
- Điều 175 Bộ luật hinh sự về “Tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng”,
- Điều 176 Bộ luật hình sự về “1'6i vi pham quy định về quân lý rừng”
- Điều 189 Bộ luật hình sự về “Tội hủy hoại rừng”
Trang 37- Điều 190 Bộ luật hình sự về “Tội vị phạm các giá định về bão vệ động vật hoang dã qu) hiểm”
- Điễu 191 Bộ luật hình sự về “Tái vi phạm chế độ bdo vệ đặc biệt đất
với khu bão tốn thiên nhiên”
chữa chút”
Việc quy dịnh các diễu luật cụ thể nêu trên không chỉ thể hiện sự quan
tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ tải nguyên rùng, mà
còn thể hiện tính khoa học trong qui trình lập pháp, đồng thời tạo hành lang
pháp lý thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng các quy định
pháp luật để xử lý các hành vi xầm hại đến nguồn tải nguyên thiên nhiên
quan trọng của đất nước được hiệu quả cao nhất, góp phần vào việc Ổn đmh
tỉnh hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bên vững của nên kinh tế
Đổi với hành vi vô ý làm cháy rừng (lái nguyên rừng), tuy Bộ luật hình
sự năm 1999 không quy định lả một điều luật độc lập, song hành vi đó được
nha lam tual gộp chung vào hành vi “vỉ phạm qui định về phòng cháy, chữa chảy gây hậu quả nghiêm trọng” Tôi phạm và hình phạt được quy định tại
Điêu 240 Bộ luật hình sự năm 1999 Cụ thể như sau
* ].Người nào vì phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gáy thiệt hại
che tinh mang hoặc gâp tuệt hại nghiêm trạng cho sức khỏe, tài sản của
người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sảu
thang dễn năm năm
2.Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tà từ ba năm đến lắm riÄm
3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bắp
năm đến mười lắm năm.
Trang 384.Phạm tội trong trường hợp có khã năng thực tễ dẫn đến hậu quia đặc
biệt nghiêm trọng nếu không dược ngăn chân kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba thông đến hai năm
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu dỗng đến năm
mươi triệu đồng, cẩm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất Ãịnh từ một năm đến năm năm”
Sau hơn 8 năm thực tiễn áp dụng các điều luật nêu trên vào công cuộc
đấu tranh phỏng, chống tội phạm trong lĩnh vực tài nguyên rừng, Nhà nước ta
nhận thây loại tội phạm trong lĩnh vựu này diễn biển khá phức tạp theo chiều
hướng xấu, tình hình tài nguyên rừng bị xâm hại ngày cảng nghiêm trọng,
hành vi ngày cảng tỉnh vì xảo quyệt, trong khi đó nếu chỉ căn cứ vào các điều
luật qui định trong Bộ luật hinh sự năm 1999 lả khó có thể vận dụng để xử lý
từng hành vi cụ thể Lrước tỉnh hình đó, Nhả nước ta chủ trương ban hành thông tư liên tịch sé 19/2007/TTLT/BNN&PTNT - BTP - BCA - VESNDTC
- TANDTC ngay 08/3/2007 của lên ngành: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân đân Tối cao - Tòa
án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về
các tôi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sẵn
Đến năm 2009, sau mười năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, Tuy
tỉnh hình kinh tế - xã hội đã cỏ nhiễu thay đổi theo chiều hướng tích cực
Song Dáng và Nhà nước ta nhận thây tuy các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 liên quan trong lĩnh vực tài nguyên rừng đã phát huy được tác dụng
trong công cuộc dấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội phạm
trong lĩnh vực tài nguyên rừng nói riêng, nhưng có một số vấn để cần phải
điều chỉnh, bố sung cho phủ hợp với tình hình thực liễn Như hành vi nuồi,
nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép các bộ phận cơ thế hoặc sắn phẩm của
loài động vật hoang giã, quí, hiểm theo qui định của Nhà nước, thì cũng bị coi
Trang 39là bành vi phạm tôi Mặt khác, về chế tài điều luật cũng có sự điều chỉnh theo
thưởng tăng nặng khung hình phạt tiền lên gấp 10 lần “ Phạt điển fir năm
mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đông ” và tại khoản 3 Điều luật tăng
quy dịnh mức phạt tiễn lên gấp 5 lần quy định cũ “ Ởó thế bị phạt tiền từ
mười triệu đồng đến một trăm triệu đẳng _ ”'
Vì vậy, Nhà nước ba sung 1 sé quy dinh tai Điều 190 Bộ luật hình SỰ,
Cụ thể: Tôi ví phạm các qui dịnh về bảo vệ dộng vật thuộc danh mục loài
động vật ngưy cấp, quỷ, hiểm được ưu tiên bảo vệ [Diễu 190 Bộ luật hình sự
năm 1900]:
*1, Người nào sẵn bối, giết, vận chuyên, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép
động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc
vận chuyên, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động
vật đá, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phại tù từ sảu thẳng đến ba năm
2 Phạm tội thuộc mội trong các trường hợp sau dây, thì bị phạt tù từ
hai năm đến bay nam:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền han;
©) Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cẩm;
dl) Sdn bat trong khu vục bị cắm hoặc vào thời gian bị cắm;
dt} Gây hậu quả rấi nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trong
3 Người phạm tội còn có thế bị phạt tiên từ mười triệu đồng đến một
trăm triệu dông, câm dâm nhiệm chức vụ, cắm hành nghề boặc làm công việc
nhất định từ một năm đến năm năm"
Các điều luật còn lại Nhà nước 1a giữ nguyên không có sự điêu chỉnh
thay đối cả về nội dung và khung hình phạt đối với các loại tội phạm trong,
lĩnh vực tài nguyên rừng.
Trang 40Song song với các qui định của pháp luật hình sự trong lĩnh vực báo vệ tải nguyên rừng như đã nêu trên, trong thời kỳ này Đăng vả Nhà nước ta cũng,
đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật để tăng cường quản lý tài
nguyễn rừng trên nhiễu lĩnh vực, cụ thể là
~ Nghị quyết số 24ó-HĐH'T' ngày 20/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng, về đây
xrạnh công tác điều tra cơ bản, sử dựng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường,
- Thông tư số 02-IT/LB ngày 13/01/1986 của Hộ Nội vụ - Hộ Lâm
nghiệp, về công tác bảo vệ rừng vả quần lý vật tư lâm sắn
- Nghị định số 184IÐBT ngày 17/01/1992 của lội đồng Bộ trưởng qui
định danh mục thực vật rừng, đông vật rừng quí hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ
- Luật bão vệ và phát triển rừng năm 2004
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chỉnh phú, về thì
hành luật bảo vệ và phát triển rùng
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quan lý thực vật,
dong vật rừng, nguy cấp, quý hiểm
- Nghị định số 103/2013/ND-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy
định xử phạt hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bău vệ rừng va quan
lý lâm sản
- Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của chính phủ, qui
định về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quí, hiểm được ưu tiên bảo vệ
Tóm lại, từ thực trạng tài nguyên rừng (đặc biệt là rừng tự nhiên) của
nước ta hiện nay cho thấy, mặc dù tổng diện tích rừng trồng trong những năm
gần đây có tăng hơn so với các năm trước, song rừng tự nhiên (từng nguyên
sinh) đang ngày cảng cạn kiệt, chất lượng ngày cảng suy giảm nghiêm trọng,
sự đa dạng sinh học đổi với đông, thực vật rừng đang bị đe doa ở mức báo động đề Điển hình là gần đây hang loạt vụ án xâm hại đến tài nguyên rừng bị