Về cơ cấu, tổ chức của các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại ‐ Xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh pháp lí trong từng hoạt động thương mại cụthể, các chủ thể trong quan hệ thương mại q
Trang 1Luật kinh doanh quốc tế CÁC THIẾT CHẾ PHÁP LÝ QUỐC
TẾ VỀ THƯƠNG MẠI
Trang 2MỤC LỤC
1 Định nghĩa
Các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại là các tổ chức, diễn đàn quốc tế, được hìnhthành trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia và các chủ thể khác của thương mại quốc
Trang 3tế, có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động tương đối ổn định, có thẩm quyền xây dựngcác chính sách, nguyên tắc và quy định pháp luật về thương mại quốc tế.
2 Đặc điểm
2.1 Về cơ cấu, tổ chức của các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại
‐ Xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh pháp lí trong từng hoạt động thương mại cụthể, các chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế tiến đến những hình thứchợp tác nhất định, mà cơ bản nhất là kí kết các thỏa thuận quốc tế giữa các bên.Khi quan hệ này phát triển đến mức hình thành một cơ chế chung, có tính tổchức, dẫn đến sự hành thành của các thiết chế thương mại quốc tế
‐ Hầu hết các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại là tổ chức quốc tế, có tưcách pháp lí riêng, độc lập theo pháp luật quốc tế hoặc quốc gia Tuy nhiên,chúng cũng có thể tồn tại dưới dạng các diễn đàn, hội nghị quốc tế mang tínhđịnh kì, ví dụ GATT 1947 (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) trướcđây
‐ Về thành viên, hầu hết thành viên của các thiết chế pháp lí quốc tế về thươngmại là các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các thể nhân, các pháp nhân của luậtquốc gia Căn cứ vào thành viên của các thiết chế, có thể chia chúng thành cácthiết chế liên chính phủ và phi chính phủ Khi thành viên là các quốc gia, các tổchức quốc tế liên chính phủ khác thì thiết chế đó gọi là thiết chế pháp lí quốc tế
về thương mại liên chính phủ Khi thành viên gồm cả các thể nhân và pháp nhâncủa luật quốc gia thì được gọi là thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại phichính phủ (ICC – Phòng Thương mại quốc tế là một thiết chế pháp lí quốc tế vềthương mại phi chính phủ)
‐ Dựa trên giới hạn địa lí của các thiết chế, có thể chia các thiết chế pháp lí quốc tế
về thương mại thành có tính toàn cầu và có tính khu vực Các thiết chế có tínhtoàn cầu về nguyên tắc chấp nhận sự tham gia của các thành viên mà không có
sự giới hạn về địa lí Hiện nay WTO – Tổ chức Thương mại Thế giới là thiết chếtoàn cầu đóng vai trò quan trọng nhất, bên cạnh đó có Liên hợp quốc (UN)
‐ Các thiết chế có tính khu vực có sự giới hạn thành viên trong một khu vực địa línhất định Số lượng các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại mang tính khuvực nhiều hơn rất nhiều so với thiết chế toàn cầu; được hình thành trên cơ sởthỏa thuận giữa các quốc gia thuộc một khu vực địa lí; được tổ chức dưới nhữnghình thức liên kết kinh tế, thương mại khu vực giữa các quốc gia, được sắp xếptheo thứ tự tính liên kết chặt chẽ cao dần như sau:
⁺ Khu vực mậu dịch tự do (free trade areas): được hình thành đơn thuần
dựa trên việc kí kết các thỏa thuận giữa các quốc gia, hoặc đồng thời hìnhthành thiết chế chung nhằm quản lí, thực hiện các thỏa thuận đó Các
Trang 4quốc gia trong khu vực thỏa thuận cắt giảm tiến tới xóa bỏ các rào cản vềthuế quan và phi thuế quan trong quan hệ thương mại với nhau Với cácđối tác ngoài khu vực, các quốc gia thành viên vẫn có quyền có chính sáchngoại thương độc lập Ví dụ: AFTA của ASIAN (Khu vực mậu dịch tự doASIAN), NAFTA (Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ của Mỹ, Canada, vàMexico).
⁺ Liên minh thuế quan (custom unions): hình thức liên kết kinh tế, thương
mại chặt chẽ hơn giữa các quốc gia, xóa bỏ các rào cản thuế quan và phithuế quan giữa các nước thành viên, tạo chính sách thuế quan chungtrong quan hệ với nước thứ ba Ví dụ: EACU – Liên minh thuế quan Á Âu
⁺ Thị trường chung (common markets): là hình thức liên kết kinh tế,
thương mại chặt chẽ hơn, cho phép tự do lưu thông hàng hóa, người,dịch vụ, tư bản, tạo thành một thị trường duy nhất Ví dụ: EEC – Cộngđồng kinh tế châu Âu, một trong ba trụ cột của EU – Liên minh châu Âu
⁺ Liên minh kinh tế và tiền tệ (currency/ monetary unions): là hình thức cao
nhất trong bốn hình thức, hình thành một thị trường chung duy nhất giữacác nước thành viên, tạo ra các chính sách chung về kinh tế, tiền tệ, tồntại mọt đồng tiền chung duy nhất giữa các quốc gia trong liên minh Vídụ: EMU – Liên mih kinh tế và tiền tệ châu Âu
2.2 Thẩm quyền của các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại
‐ Thẩm quyền có tính giới hạn do các thành viên thừa nhận, nhằm thực hiệnnhững nhiệm vụ mà các thành viên giao cho Bên cạnh thẩm quyền thương mại,một số thiết chế quốc tế có thể có thẩm quyển về các lĩnh vực như chính trị, anninh, quân sự, kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học,… Trong các thiết chếpháp lí quốc tế có thẩm quyền chuyên biệt về thương mại, có sự phân biệt giữacác thiết chế có thẩm quyền chung (hoạt động trong lĩnh vực thương mại nóichung) và thẩm quyền riêng (thẩm quyền trong một lĩnh vực thương mại hạnchế, riêng biệt, đặc biệt là theo loại sản phẩm như dầu lửa, cacao, cao su,…)
‐ Các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại xây dựng các chính sách, nguyên tắc,
và quy định pháp luật về thương mại, thẩm quyền lập pháp của các thiết chế này
ở nhiều cấp độ và hình thức khác nhau:
⁺ Hầu hết các thiết chế không có thẩm quyền lập pháp trực tiếp, thẩmquyền này hầu như vẫn thuộc về các quốc gia Các thiết chế đóng vai trògián tiếp, soạn thảo các nguyên tắc, quy định về thương mại quốc tế, làdiễn đàn để các quốc gia đàm phán thỏa thuận, sau đó được thông quadưới dạng nghị quyết, khuyến nghị, các điều ước quốc tế, thể hiện sựthỏa thuận giữa các quốc gia Ngoài ra, các thiết chế tham gia điều phối,phối hợp, giám sát thực hiện, các nguyên tắc, cơ chế giải quyết nếu cótranh chấp
Trang 5⁺ Một số thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại có thẩm quyền trực tiếpban hành các quy định pháp luật về thương mại, áp dụng trực tiếp trongquan hệ giữa thể nhân và pháp nhân của pháp luật quốc gia, tiêu biểu làCộng đồng châu Âu.
⁺ Có một số bọ phận lớn các quy định pháp luật thương mại được hìnhthành trong khuôn khổ các thiết chế pháp lí quốc tế về thương mại, có giátrị áp dụng trực tiếp và ràng buộc giữa các thể nhân và pháp nhân củapháp luật quốc gia do sự chấp nhận tự nguyện của họ
II CÁC THIẾT CHẾ THƯƠNG MẠI TOÀN CẦU
1 Liên Hợp Quốc
‐ Thành lập năm 1945
‐ Có 193 thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất
‐ Là tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất chung, hoạt động của Liên HợpQuốc bao trùm lên mọi lĩnh vực của quan hệ quốc tế, trong đó có quan hê hợptác kinh tế quốc tế
‐ Một số cơ quan của Liên hợp quốc hoạt động trong lĩnh vực kinh tế:
1.1 Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên Hợp Quốc (ECOSOC)
‐ Là một trong 6 cơ quan chính của Liên Hợp Quốc, 54 Thành viên
‐ Mục tiêu chính của Tổ chức này là:
⁺ Thực hiện hợp tác quốc tế trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế
về kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc nhân đạo, thúc đẩy và khuyến khích sựtôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản cho tất cả mọingười, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo
⁺ Nâng cao mức sống, đầy đủ việc làm, điều kiện tiến bộ và phát triểnkinh tế xã hội
⁺ Giải quyết những vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, y tế và các vấn đềliên quan, và sự hợp tác quốc tế về văn hóa và giáo dục
⁺ Tôn trọng và thực hiện quyền con người và các quyền tự do cơ bảncho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữhoặc tôn giáo
Trang 6nghị về các vấn đề đó đối với ĐHĐ, các nước thành viên LHQ và các tổchức chuyên môn hữu quan;
⁺ ECOSOC có thể đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy tôn trọng vàthực hiện quyền con người;
⁺ ECOSOC soạn thảo các văn kiện và điều ước quốc tế về những vấn đềthuộc thẩm quyền của mình để trình ĐHĐ và có thể triệu tập các Hộinghị quốc tế về những vấn đề đó, theo các thủ tục của LHQ;
⁺ ECOSOC có thể phối hợp hoạt động với những tổ chức chuyên môncủa LHQ, thông qua tham khảo và khuyến nghị với các tổ chức đó,cũng như bằng cách khuyến nghị với ĐHĐ và các thành viên LHQ;
1.2 Hội nghị của liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD)
‐ Với 170 nước thành viên, UNCTAD hiện nay là tổ chức kinh tế thương mại lớnnhất thuộc hệ thống liên hợp quốc
‐ Mục đích chung của UNCTAD là thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung vàthương mại nói riêng của tất cả các nước thành viên nhất là các nước đangphát triển Từ mục đích chung này, UNCTAD hướng vào những mục tiêu làđảm bảo sự phát triển hài hoà về các mặt: Thương mại, vận tải, viện trợ, tàichính và kỹ thuật Việc phát triển thương mại là mục tiêu quan trọng, ngay từnghị quyết 1707 khóa họp thứ XVI của Đại hội đồng liên hợp quốc đã thừanhận rằng, thương mại quốc tế là công cụ chủ yếu để phát triển kinh tế củacác nước
‐ Nhiệm vụ của UNCTAD:
⁺ Đề ra và thực hiện các biện pháp, chính sách, thương mại mới để thựchiện mục đích phát triển kinh tế trên cơ sở tập hợp mọi cố gắng củatất cả các nước thành viên
⁺ Hậu thuẫn cho sự tiến bộ kinh tế của các nước đang phát triển nhờ sựphát triển toàn diện của thương mại quốc tế cùng có lợi cho tất cả cácnước
‐ Chức năng quyền hạn chủ yếu của UNCTAD:
⁺ Đẩy mạnh thương mại quốc tế nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế,bao gồm đẩy mạnh thương mại giữa các nước có trình độ phát triểnkhác nhau, giữa các nước đang phát triển khác nhau, giữa các nướcđang phát triển cũng như giữa các nước thuộc hệ thống kinh tế- xã hộikhác nhau
⁺ Qui định các nguyên tắc và chính sách về thương mại quốc tế cũng nhưnhững vấn đề phù hợp nhằm phát triển kinh tế
Trang 7⁺ Ðưa ra những đề nghị cụ thể để thực hiện các chính sách trên và ápdụng, trong phạm vi quyền hạn của mình, những biện pháp khác nhaunhằm đạt được mục đích phát triển kinh tế-thương mại.
⁺ Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp hoạt động các tổ chức khácthuộc liên hợp quốc trong lĩnh vực thương mại quốc tế và các vấn đềphù hợp để phát triển kinh tế
1.3 Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
‐ Thành lập ngày 28/9/1966
‐ Chức năng:
⁺ Góp phần hài hòa hóa và thống nhất hóa Luật Thương mại quốc tế
⁺ Nghiên cứu và soạn thảo các điều ước quốc tế điều chỉnh thươngmại quốc tế
⁺ Xây dựng luật mẫu
⁺ Khuyến nghị các quốc gia hài hòa hóa và thống nhất hóa LuậtThương mại quốc tế
1.4 Viện quốc tế về nhất thể hoá pháp luật tư (UNIDROIT)
‐ Là tổ chức liên Chính phủ có trụ sở tại Rome – Ý
‐ Thành lập vào năm 1926, tái thành lập lại vào năm 1940 theo một thoảthuận đa phương
‐ Mục đích của Viện là nghiên cứu nhu cầu và phương pháp hiện đại hoá,hài hoà hoá và điều hoà luật tư, đặc biệt là luật thương mại giữa các quốcgia và các nhóm quốc gia
‐ UNIDROIT thực hiện và duy trì các hoạt động sau nhằm hỗ trợ cho côngtác nhất thể hoá pháp luật của tổ chức mình:
⁺ Duy trì một thư viện nổi tiếng thế giới
⁺ Chuẩn bị một số ấn phẩm chuyên môn trong lĩnh vực nhất thể hoápháp luật
⁺ Chương trình hợp tác pháp luật
⁺ Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu về luật thống nhất: UNILAW
⁺ tổ chức định kỳ các đại hội, cuộc họp và toạ đàm/ hội thảo
1.5 Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế (HccH)
‐ Phiên họp đầu tiên của Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế được Chínhphủ Hà Lan tổ chức năm 1893 theo sáng kiến của T.M.C Asser (Giảithưởng Nobel về Hoà bình 1911) Trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai,
đã có 6 phiên họp được tổ chức (vào các năm 1893, 1894, 1900, 1904,
1925 và 1928) Phiên họp thứ 7 tổ chức năm 1951 đã đánh dấu một kỷnguyên mới với sự chuẩn bị một bản Quy chế theo đó Hội nghị này trởthành một tổ chức liên chính phủ thường trực Quy chế có hiệu lực từ
Trang 8ngày 15/7/1955 Kể từ năm 1956, các phiên họp toàn thể đã được tổchức định kỳ 4 năm một lần, phiên họp lần thứ 20 được tổ chức năm2005.
‐ HccH đóng trụ sở tại La Hay - trung tâm tư pháp quốc tế
‐ Với 68 quốc gia thành viên đại diện cho tất cả các châu lục, Hội nghị LaHay về tư pháp quốc tế là một tổ chức liên chính phủ toàn cầu Với tưcách là một diễn đàn của nhiều truyền thống pháp lý, Hội nghị xây dựngnhiều công cụ pháp lý đa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn thếgiới
‐ Ngày càng có nhiều quốc gia không phải là thành viên Hội nghị đang trởthành các bên ký kết của các Công ước La Hay Kết quả là công việc củaHội nghị có liên quan đến hơn 120 nước trên thế giới
‐ Sứ mệnh:
⁺ Là một diễn đàn để các quốc gia thành viên xây dựng và thực hiệnnhững quy tắc chung của tư pháp quốc tế nhằm điều phối mối quan hệgiữa các hệ thống pháp luật khác nhau trong bối cảnh quốc tế
⁺ Thúc đẩy hợp tác tư pháp và hành pháp trong lĩnh vực bảo vệ gia đình
và trẻ em, thủ tục tố tụng dân sự và pháp luật thương thương mại
⁺ Cung cấp dịch vụ pháp lý đạt tiêu chuẩn cao và trợ giúp kỹ thuật vì lợiích của các quốc gia thành viên và các quốc gia thành viên các Côngước La Hay, quan chức chính phủ, ngành tư pháp và những người hànhnghề luật tự do của những nước đó
⁺ Cung cấp thông tin chất lượng cao và dễ tiếp cận cho các quốc giathành viên và các quốc gia thành viên của các Công ước La Hay, quanchức chính phủ, ngành tư pháp, những người hành nghề luật luật vàcông chúng nói chung
‐ Các Công ước La Hay
Các Công ước được phê chuẩn nhiều nhất là về:
a Bãi bỏ yêu cầu hợp pháp hoá giấy tờ
b Tống đạt giấy tờ
c Thu thập chứng cử ở nước ngoài
d Tiếp cận công lý
e Con nuôi quốc tế
f Con nuôi giữa các quốc gia
g Xung đột pháp luật liên quan đến hình thức định đoạt tài sản bằng dichúc
h Nghĩa vụ cấp dưỡng
i Các Công ước ra đời gần đây nhất gồm Công ước về Quyền tài phán,luật áp dụng, công nhận, thi hành và hợp tác liên quan đến tráchnhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em (1996), Công ước về
Trang 9bảo vệ quốc tế người đã thành niên (2000), Công ước về luật áp dụngđối với các quyền nhất định đối với chứng khoán do bên môi giới nắmgiữ và Công ước về thoả thuận lựa chọn toà án (2005), Công ước vềcấp dưỡng con và cấp dưỡng gia đình.
1.6 Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC)
‐Thành lập năm 1919
‐Là một tổ chức phi chính phủ, thành viên là các doanh nghiệp, hiệp hội, tổchức của các doanh nghiệp
‐Mục đích và nhiệm vụ chính thức của ICC là thông qua việc tác động tới tất
cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế quốc tế bao gồm thương mại, côngnghiệp, vận tải và tài chính) nhằm cài thiện các điều kiện quan hệ kinh tếgiữa các nước và giải quyết những vấn đề kinh tế quốc tế, thiết lập các mốigiao tiếp quốc tế và sự hiểu biết tương hỗ giữa các giới kinh tế và các tổ chứccủa chúng để trên cơ sở đó "gìn giữ hòa bình và củng cố các mối quan hệhữu nghị giữa các dân tộc"
2 Tổ chức thương mại thế giới WTO
2.1 Lịch sử hình thành
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thươngmại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữacác nước Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc vềThương mại và Việc làm tại La Habana tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên, Thượngnghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này ITO chết yểu, nhưnghiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồntại Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).GATT ra đờisau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơchế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôinổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biếtđến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngàynay GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đaphương trong suốt gần 50 năm sau đó Các nước tham gia GATT đã tiến hành
8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới Vòng đámphán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thànhlập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT Các nguyên tắc vàcác hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng Không giốngnhư GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổchức hoạt động cụ thể WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1năm 1995
Trang 102.2 Mục tiêu, chức năng
‐ Mục tiêu : “ tăng cường nền kinh tế thế giới và thúc đẩy thương mại,đầu tư,tăng việc làm và thu nhập trên toàn thế giới.”:
⁺ Tự do hóa thương mại
⁺ Không phân biệt đối xử
⁺ Thiết lập, phát triển môi trường TMQT
⁺ Tăng cường khả năng giải quyết tranh chấp
‐ Chức năng:
⁺ Quản lý việc thực hiện các hiệp định của WTO
⁺ Là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thànhviên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổnhững quy định của WTO, đàm phán về việc thực thi thỏathuận
⁺ Giải quyết các tranh chấp về thương mại
⁺ Rà soát chính sách thương mại của các quốc gia thành viên
⁺ WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thếgiới và các cơ quan trực thuộc của nó
2.3 Cơ cấu tổ chức
2.3.1 Cấp thứ nhất:
‐ Hội nghị Bộ trưởng:
⁺ Diễn ra ít nhất hai năm một lần
⁺ Có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏaước thương mại đa phương của WTO
⁺ Tất cả các thành viên WTO tham gia có thể là một nướchoặc một liên minh thuế quan
‐ Đại hội đồng: 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng Giải quyết Tranhchấp và Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại:
⁺ Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO
tại Geneva, được nhóm họp thường xuyên Đại hội đồngbao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tươngđương) của tất cả các nước thành viên và có thẩm quyềnquyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhómhọp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO
⁺ Hội đồng Giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để xem
xét và phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp
do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình Hộiđồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấpđại sứ hoặc tương đương)
Trang 11⁺ Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại được nhóm họp
để thực hiện việc rà soát chính sách thương mại của cácnước thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thươngmại Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc
rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đối vớinhững thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hànhcách quãng hơn
2.3.2 Cấp thứ 2: Các Hội đồng Thương mại
‐ Hội đồng Thương mại Hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt
động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thươngmại (GATT), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc
tế về hàng hóa
‐ Hội đồng Thương mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt
động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ(GATS), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế vềdịch vụ
‐ Hội đồng Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi
của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại củaQuyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổchức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ
5 năm là Cộng hòa Kyrgyzstan, trong khi thời gian này đối với Nga là dài nhấtcho đến nay Nga nộp đơn gia nhập đầu tiên vào GATT năm 1993, và đượcchấp nhận là thành viên vào tháng 12 năm 2011 và trở thành thành viên củaWTO vào ngày 22 tháng 8 năm 2012
Trang 122.4 Nguyên tắc pháp lí nền tảng của WTO
4 nguyên tắc cơ bản:
2.4.1 Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN)
Nếu một quốc gia phải dành cho một quốc gia khác1 một sự ưu đãi haymiễn trừ về các lĩnh vực thương mại (hàng hóa, dịch vụ, sở hữu, trí tuệ)thì cũng phải dành cho các quốc gia đối tác thươngmại của mình (VD:thành viên của cùng hệ thống thương mại) sự ưu đãi và miễn trừ tươngtự
2.4.2 Quy chế đãi ngộ quốc gia (nt)
‐ "Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nướcngoài và sản phẩm nội địa
‐ Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoátương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bìnhđẳng như nhau
‐ Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sảnphẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hảiquan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trườngnội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãihơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước
2.4.3 Nguyên tắc mở cửa thị trường
Nguyên tắc "mở cửa thị trường" hay còn gọi một cách hoa mỹ là "tiếpcận" thị trường (market access) thực chất là mở cửa thị trường cho hànghoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài Trong một hệ thống thương mại đaphương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trườngcủa mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mạitoàn cầu mở cửa
2.4.4 Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Cạnh tranh công bằng (fair competition) thể hiện nguyên tắc "tự do cạnhtranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhậntrong án lệ của vụ U ruguay kiện 15 nước phát triển (1962) về việc ápdụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàngnhập khẩu.Trên cơ sở kết luận của Nhóm công tác, Đại hội đồng GATT đãthông qua khuyến nghị các nước phát triển có liên quan "đàm phán" với
U ruguay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan trước đó
Vụ kiện của U ruguay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho cácnước đang phát triển Từ nay các nước phát triển có thể bị kiện ngay cả
Trang 13khi về mặt pháp lý không vi phạm bất kỳ điều khoản nào trong hiệp địnhGATT nếu những nước này có những hành vi trái với nguyên tắc "cạnhtranh công bằng".
2.5 Cơ chế giải quyết tranh chấp
‐ Cơ quan giải quyết tranh chấp:
⁺ Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (Dispute Settlement Body) có quyềnquyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia
và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định về giảiquyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệpđịnh thương mại với một nước thành viên, cho phép áp dụng cácbiện pháp trừng phạt
⁺ Nhóm chuyên gia: Công việc chính về giải quyết tranh chấp do cácnhóm chuyên gia thực hiện Các nhóm chuyên gia này do DSBthành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và giải thể saukhi kết thúc nhiệm vụ Thành phần của mỗi nhóm chuyên gia từ 3-
5 người
⁺ Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia là giúp cơ quan giải quyết tranhchấp của WTO làm sáng tỏ nội dung tranh chấp và khuyến nghịmột giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họ,phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan
⁺ Báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ được gửi đến cho các bên tranhchấp trong vòng sáu tháng, trong trường hợp tranh chấp liênquan đến những hàng hoá dễ hư hỏng trong vòng ba tháng và gửiđến tất cả các thành viên của WTO sau đó ba tuần Sau 60 ngày,báo cáo của nhóm chuyên gia sẽ tự động trở thành quyết định củaDSB nếu không có sự đồng thuận của tất cả các nước thành viênWTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏ nội dung của báo cáo
‐ Cơ quan phúc thẩm thường trực: