1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà

57 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Tác giả Nguyễn Ngọc Toại
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Diệu Mai
Trường học Trường Đại học Lâm Nghiệp - Phân hiệu Đồng Nai
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đặt vấn đề (8)
  • 1.2. Mục tiêu (9)
    • 1.2.1. Mục tiêu tổng quát (9)
    • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (9)
  • Chương 1 (30)
    • 1.1. Tổng quan về gà (10)
      • 1.1.1. Gà Minh Dư (10)
      • 1.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà (10)
      • 1.1.3. Khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà (13)
    • 1.2. Bệnh cầu trùng trên gà (16)
      • 1.2.1. Định nghĩa (16)
      • 1.2.2. Lịch sử phát triển bệnh (17)
      • 1.2.3. Phân loại (17)
      • 1.2.4. Dịch tễ (19)
      • 1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm bệnh cầu trùng ở gia cầm (20)
      • 1.2.7. Triệu chứng (22)
      • 1.2.8. Bệnh tích (23)
      • 1.2.9. Chẩn đoán (23)
      • 1.2.10. Điều trị (24)
      • 1.2.11. Phòng bệnh (25)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu (27)
      • 1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (27)
      • 1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước (28)
    • 2.1. Đối tượng, địa điếm, thời gian nghiên cứu (30)
      • 2.1.1. Đối tượng (30)
      • 2.1.2 Phạm vi nghiên cứu (30)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (31)
      • 2.2.1. Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Minh Dư (31)
      • 2.2.2. Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà Minh Dư (31)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (31)
      • 2.3.1. Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng của đàn gà (31)
      • 2.3.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh cầu trùng (32)
      • 2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu (33)
    • 3.1. Khả năng sinh trưởng của đàn gà Minh Dư khảo sát (34)
      • 3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống gà Minh Dư (34)
      • 3.1.2. Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối (35)
      • 3.1.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn (37)
    • 3.2. Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà Minh Dư (39)
      • 3.2.1. Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà (39)
      • 3.2.2. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân (41)
      • 3.2.3. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh cầu trùng (42)
      • 3.2.4. Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà mắc bệnh cầu trùng (45)
    • 1. Kết luận (48)
    • 2. Kiến nghị (49)
  • PHỤ LỤC (53)

Nội dung

Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô thịt…, một số chất khoáng có vai trò tro

Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát

Đánh giá khả năng sinh trưởng và mức độ ảnh hưởng của bệnh cầu trùng trên gà.

Mục tiêu cụ thể

Khảo sát tăng trọng gà qua các giai đoạn tuổi khác nhau

Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng trên đàn gà và hiệu quả điều trị

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Gà Minh Dư thường có từ 50-70% máu chọi, phổ biến tại các vùng miền Nam Việt Nam, phù hợp với khí hậu khắc nghiệt nhờ sức đề kháng tốt Gà mẹ gốc là gà ta, gà Lương Phượng lai tạo qua nhiều thế hệ với tỷ lệ máu chọi theo công thức, nhằm giữ vững đặc điểm chiến đấu ưu việt Bố gà trưởng thành là gà trống chọi Bình Định lông tía chân vàng, nổi bật với khả năng chống chịu dịch bệnh và ít bị tác động của thời tiết nắng gió Giá đầu ra ổn định khiến gà Minh Dư trở thành lựa chọn ưa thích của người chăn nuôi miền Nam Việt Nam.

Gà có thân hình vững chắc, thân thịt hướng thẳng, chân và da vàng đều, lườn ức dày, thịt săn chắc, thơm ngon như gà ta nguyên thủy, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Đặc biệt, gà có độ đồng đều cao và khả năng đề kháng tốt, thích nghi tốt với khí hậu của mọi vùng miền.

Chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật:

Thời gian sinh trưởng: 105 ngày Tỷ lệ nuôi sống 97 - 98% Trọng lượng bình quân: 2,5 – 2,7 kg/con Tiêu tốn thức ăn từ 2,6 - 2,7 kg cho 1kg tăng trọng

1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú, phản ánh khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn nhanh chóng Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá, qua đó đánh giá khả năng tiêu hóa hiệu quả Ở gà còn non, tốc độ này là từ 30 đến 39 cm mỗi giờ, trong khi ở những con gà trưởng thành, tốc độ tiêu hóa có thể cao hơn, cho thấy sự phát triển và khả năng chuyển hóa thức ăn của chúng.

32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm

Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm ngắn, thời gian thức ăn lưu lại trong đó không vượt quá 2-4 giờ, giúp quá trình tiêu hóa diễn ra nhanh chóng hơn so với các động vật khác.

Để quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao, thực phẩm cần phù hợp với độ tuổi và trạng thái sinh lý của vật nuôi Việc chế biến thức ăn đúng cách góp phần tăng hiệu quả tiêu hóa, trong đó hàm lượng xơ nên duy trì ở mức tối thiểu để tránh gây khó tiêu (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001)

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn,

Trong quá trình tiêu hóa, gia cầm không có khả năng nghiền nhỏ thức ăn, và nước bọt của chúng chủ yếu là dịch nhầy với chứa ít men amilaza, có minimal tác dụng tiêu hóa Khi thức ăn đi qua khoang miệng, nó được làm ẩm nhờ nước bọt kém phát triển, giúp dễ nuốt và trơn trượt hơn Động tác nuốt diễn ra nhanh chóng nhờ sự chuyển động của lưỡi, đẩy thức ăn vào vùng trên của hầu rồi vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống tiết ra chất nhầy, giúp làm ướt và trơn tru thức ăn khi nuốt.

Diều là phần mở rộng của thực quản nằm trong khoang ngực, có vai trò quan trọng trong việc dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn Thức ăn được chứa trong diều sẽ được làm ẩm, mềm mại và trộn đều với một phần tinh bột đã được thủy phân, giúp quá trình tiêu hóa diễn ra dễ dàng hơn.

Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như một chiếc bao túi gồm ba lớp chính: màng nhầy, màng cơ và màng thanh dịch Màng nhầy của dạ dày rất phát triển và chứa các tuyến tiết ra pepsin cùng axit muối để hỗ trợ quá trình tiêu hóa Do đó, hoạt động tiêu hóa trong dạ dày tuyến có phản ứng axit với độ pH từ 3,1 đến 4,5, giúp phân giải thức ăn hiệu quả.

Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, chứa axit clohydric, enzyme và musin giúp tiêu hóa hiệu quả Pepsin, enzyme chính trong quá trình tiêu hóa protein, được tiết ra dưới dạng không hoạt động – pepsinogen, và hoạt hóa nhờ axit clohydric, tương tự như ở động vật có vú Các tế bào hình ống của biểu mô niêm mạc dạ dày tiết ra một lớp chất nhầy đặc giàu musin, bao phủ bề mặt niêm mạc để bảo vệ khỏi các tác nhân tiêu hóa và tổn thương Ở gia cầm, quá trình tiết dịch dạ dày diễn ra liên tục, tăng cường sau khi ăn để đảm bảo khả năng tiêu hóa thức ăn hiệu quả.

Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng giống hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau với thành dày và màu đỏ sẫm Nó nằm bên trái của gan và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa Thức ăn được chuyển qua đám rối vị giác (bao gồm lưỡi và cổ họng) để phân biệt các loại vị như đắng, chua, giúp kích thích hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả Dịch tiêu hóa từ thực quản và diều giúp thức ăn được thấm ướt, làm mềm và chuẩn bị cho quá trình tiêu hóa tiếp theo.

Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức

5 ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Dưới tác động của men amilaza trong tuyến nước bọt, tinh bột được chuyển hóa thành đường qua quá trình phân giải của vi sinh vật trong diều Thời gian thức ăn lưu lại trong diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, với thức ăn nhỏ mất từ 2-5 phút để tiêu hóa, trong khi thức ăn lớn có thể ở trong diều vài giờ.

Thức ăn nhanh chóng di chuyển qua dạ dày tuyến, nơi có phản ứng axit và dịch vị dạ dày tiết ra trong khoảng 30 phút Trong khoảng thời gian này, lượng dịch vị tiết ra từ dạ dày tuyến tăng lên, với gà tiết khoảng 11,3 ml, còn ngỗng tiết đến 24 ml trong giờ đầu tiên sau khi ăn Quy trình tiêu hóa này đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu thụ thức ăn, đặc biệt là đối với các loài gia cầm như gà và ngỗng.

Ruột non là cơ quan chính chịu trách nhiệm tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng quan trọng cho cơ thể Các enzyme tiêu hóa từ dịch dạ dày và mật, đặc biệt là từ mật đi vào manh tràng, đóng vai trò thiết yếu trong quá trình này Ngoài ra, các chất tiết từ tuyến ruột có vai trò hỗ trợ nhưng có ảnh hưởng ít hơn trong quá trình tiêu hóa.

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm

Các men tiêu hoá quan trọng nhất là dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Intestinal fluid is an opaque liquid with a slightly alkaline pH of 7.42 and a specific gravity of 1.0076 It contains essential digestive enzymes, including proteolytic, aminolytic, and lipolytic enzymes, as well as enterokinase, which play a vital role in the digestion and absorption processes within the gastrointestinal tract This composition highlights the importance of intestinal fluid in maintaining effective digestion and nutrient absorption.

Dịch tụy là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5), đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa Ngoài các enzyme tiêu hóa, dịch tụy còn chứa các axit amin, lipit và các chất khoáng như NaCl, CaCl2, NaHCO3, giúp hỗ trợ quá trình chuyển hóa và cân bằng pH trong cơ thể.

Tổng quan về gà

Gà Minh Dư thường có 50-70% máu chọi, phổ biến tại các vùng miền Nam Việt Nam, theo nghiên cứu của Đàm Oanh Phúc (2020) Gà mẹ là gà ta, gà Lương Phượng lai qua nhiều thế hệ, tạo ra tỷ lệ máu chọi theo công thức đặc biệt Bố là gà trống chọi Bình Định lông tía chân vàng, nổi bật với sức đề kháng tốt, khả năng sinh tồn cao và ít mắc dịch bệnh Gà chọi Bình Định chịu đựng tốt thời tiết khắc nghiệt như nắng gió, đem lại giá trị đầu ra ổn định, làm hài lòng người chăn nuôi.

Gà có thân hình vững chắc, hướng thân thịt, chân và da vàng đều, lườn ức dày, thịt săn chắc, thơm ngon như gà ta nguyên thủy Chúng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng về thịt gà ngon, dai và giàu dinh dưỡng Gà có độ đồng đều cao, sức đề kháng mạnh và khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở mọi miền đất nước.

Chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật:

Thời gian sinh trưởng: 105 ngày Tỷ lệ nuôi sống 97 - 98% Trọng lượng bình quân: 2,5 – 2,7 kg/con Tiêu tốn thức ăn từ 2,6 - 2,7 kg cho 1kg tăng trọng

1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và tiêu thụ năng lượng cao hơn so với động vật có vú, phản ánh sự hoạt động tích cực của hệ thống trao đổi chất Cường độ tiêu hoá của gia cầm được đo bằng tốc độ thức ăn di chuyển qua ống tiêu hoá, với gà còn non có tốc độ vận chuyển từ 30 đến 39 cm mỗi giờ, trong khi ở gà trưởng thành, tốc độ này có thể cao hơn, thể hiện khả năng tiêu hoá nhanh và hiệu quả của chúng.

32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm

Chiều dài của ống tiêu hóa gia cầm khá ngắn, giúp thức ăn lưu lại trong hệ thống tiêu hóa chỉ trong vòng 2-4 giờ, nhanh hơn nhiều so với các loại động vật khác Điều này phản ánh đặc điểm tiêu hóa nhanh chóng của gia cầm, hỗ trợ quá trình hấp thụ dưỡng chất hiệu quả và đồng thời phù hợp với chế độ ăn nhanh, dễ tiêu của chúng.

Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, (2001)

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn,

4 chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

Diều là phần mở rộng của thực quản nằm trong khoang ngực, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa của động vật Chức năng chính của diều là dự trữ và chuẩn bị thức ăn, giúp thấm ướt và làm mềm thực phẩm trước khi tiêu hóa Trong diều, thức ăn được trộn kỹ với một phần tinh bột đã được thủy phân, giúp quá trình tiêu hóa diễn ra dễ dàng hơn.

Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như một chiếc bao túi, gồm ba lớp chính là màng nhầy, màng cơ và màng thanh dịch Màng nhầy trong dạ dày rất phát triển và chứa các tuyến tiết ra pepsin cùng axit muối để hỗ trợ quá trình tiêu hóa Chức năng tiêu hóa ở dạ dày tuyến diễn ra với phản ứng axit mạnh, duy trì độ pH từ 3,1 đến 4,5 giúp phân huỷ thức ăn hiệu quả và bảo vệ niêm mạc dạ dày.

Dịch dạ dày được tiết ra trong khoang của dạ dày tuyến, chứa axit clohydric, enzyme và musin để hỗ trợ tiêu hóa Pepsin, enzyme chính để phân giải protein, được tiết ra dưới dạng không hoạt động là pepsinogen và sẽ được kích hoạt bởi axit clohydric Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra chất nhầy giàu musin, tạo lớp phủ bảo vệ niêm mạc dạ dày Quá trình tiết dịch dạ dày diễn ra liên tục ở gia cầm, và tốc độ tiết tăng lên sau khi ăn để tối ưu hóa quá trình tiêu hóa.

Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau với thành dày và màu đỏ sẫm, nằm ở bên trái của gan Quá trình tiêu hóa bắt đầu khi thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt các loại mùi vị như đắng, chua Thức ăn sau đó được thấm ướt nhờ dịch tiêu hóa tiết ra từ thực quản và dạ dày, giúp quá trình tiêu hóa diễn ra hiệu quả hơn.

Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức

5 ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)

Dưới tác dụng của men amilaza trong tuyến nước bọt, tinh bột được chuyển hóa thành đường trong quá trình vi sinh vật phân giải tại diều Thời gian thức ăn lưu lại trong diều phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, với thức ăn nhỏ mất từ 2-5 phút để tiêu hóa, trong khi khối lượng lớn cầnSeveral hours để tiêu thụ.

Thức ăn nhanh chóng qua dạ dày tuyến, nơi phản ứng axit và dịch vị bắt đầu tiết ra trong khoảng 30 phút sau khi ăn Trong thời gian này, lượng dịch vị tiết ra từ gà là khoảng 11,3 ml, còn ở ngỗng là 24 ml, chứng tỏ dịch vị tiết ra nhiều hơn trong giờ đầu tiên sau bữa ăn.

Ruột non là cơ quan chính chịu trách nhiệm tiêu hóa và hấp thụ dưỡng chất quan trọng cho cơ thể Các enzyme tiêu hóa chủ yếu xuất phát từ dịch dạ dày, mật và các tuyến ruột, trong đó dịch dạ dày và mật đóng vai trò quan trọng hơn trong quá trình tiêu hóa tại ruột non (Nguồn: The Ponltry News, 2018)

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm

Các men tiêu hoá quan trọng nhất là dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột

Intestinal fluid is an opaque liquid with a weak alkaline reaction (pH 7.42) and a specific gravity of 1.0076 Its composition includes proteolytic, aminolytic, and lipolytic enzymes, as well as the enterokinase enzyme, playing a crucial role in digestion and nutrient absorption.

Dịch tụy là chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm với pH từ 7,2 đến 7,5, giúp hỗ trợ quá trình tiêu hóa Trong dịch tụy khô, ngoài các enzyme tiêu hóa, còn chứa các axit amin, lipit và các chất khoáng như NaCl, CaCl2, NaHCO3, đóng vai trò quan trọng trong cân bằng điện giải và duy trì hoạt động của hệ tiêu hóa.

Bệnh cầu trùng trên gà

Bệnh cầu trùng gà là bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm do nhóm nguyên sinh động vật (Protoza) thuộc lớp Sporozoa, bộ Coccidia, họ Eimeria gây ra Các tác nhân cầu trùng ký sinh ở manh tràng và ruột non, làm rối loạn tiêu hóa và tổn thương các tế bào thượng bì, gây giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất Bệnh dẫn đến giảm hiệu quả chuyển hóa thức ăn, chậm lớn, gà còi cọc, suy yếu và có thể tử vong Ngoài ra, gà mắc bệnh có sức đề kháng giảm, tạo điều kiện cho các bệnh khác bùng phát Bệnh cầu trùng gà phổ biến ở các đàn gà nuôi công nghiệp và bán chăn nuôi, gây thiệt hại lớn cho quy mô chăn nuôi.

10 công nghiệp và kể cả gà chăn thả

1.2.2 Lịch sử phát triển bệnh

Bệnh Coccidiosis trong lĩnh vực thú y đã được phát hiện hơn 370 năm trước, bắt đầu khi Rivolta năm 1863 phát hiện ký sinh trùng trong phân gà ỉa ra máu Năm 1875, nhờ nghiên cứu của Eimeria, loài ký sinh trùng này được xác định là sinh vật nguyên sinh (Protozoa) thuộc lớp Sporozoa, bộ Coccidia, họ Eimeria, từ đó chính thức mang tên Coccidiosis Tại Việt Nam, nghiên cứu về bệnh cầu trùng bắt đầu từ những năm 1970 khi chăn nuôi gà theo mô hình công nghiệp phát triển Đến nay, các nhà khoa học Việt Nam đã xác định được hầu hết các loại cầu trùng gây bệnh ở gà, giống như các nghiên cứu của quốc tế Bệnh cầu trùng ở gà hiện nay đã xuất hiện phổ biến toàn cầu và xem là một trong những bệnh phổ biến của ngành gia cầm.

Bảng 1.1 Phân loại cầu trùng gây bệnh ở gà

Tác giả, năm mô tả

Thời gian sản sinh bào tử

2 Eimeria Tyzzer, Bầu (21,4-42,5) Không Hơi 30 - Giữa

Ruột già, Cuối ruột non

Có Không màu 48 Đầu ruột non

Nguồn: Phạm Sỹ Lăng, Phan Định Lân, (2001)

1.2.4 Dịch tễ Động vật cảm thụ: Các loài gia cầm đều có khả năng mắc bệnh Coccidiosis, và thường bị nhiễm từ khi mới 5 ngày tuổi Bệnh thường xảy ra ở đàn gà trong khoảng thời gian từ 10 đến 90 ngày tuổi, tuy nhiên, mức độ nặng nhất thường diễn ra ở đàn gà trong khoảng từ 18 đến 45 ngày tuổi (Lê Văn Năm, 2006) Thời gian ủ bệnh của bệnh cầu trùng là khoảng 4-5 ngày

Các loài ký sinh trùng gây bệnh cầu trùng như E.tenella chủ yếu sống trên màng niêm mạc manh tràng của gà, trong khi E.acervulina thường xuất hiện trong tá tràng của gà Tính chuyên biệt của các loài cầu trùng như Eimeria thể hiện rõ qua khả năng thích ứng lâu dài với ký chủ cụ thể và từng cơ quan, mô bào riêng lẻ, ảnh hưởng đến quá trình phòng chống và kiểm soát bệnh.

Hình 1.1 Vòng đời của bệnh cầu trùng

Nguồn: Tạp chí chăn nuôi Việt Nam, (2022)

Con đường và cơ chế gây bệnh:

Cơ chế cơ học của bệnh Coccidiosis bắt nguồn từ việc noãn nang của ký sinh trùng Eimeria xâm nhập vào cơ thể vật nuôi qua thức ăn và nước uống Khi vào trong cơ thể, chúng xâm nhập vào tế bào niêm mạc ruột và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau Trong quá trình sinh trưởng, các ký sinh trùng này phá hủy tổ chức ruột của vật nuôi bằng cách tấn công và cơ giới hóa các tế bào ruột, dẫn đến tổn thương nghiêm trọng và gây bệnh.

Cơ chế hóa học đóng vai trò quan trọng trong bệnh Coccidiosis, khi các loài cầu trùng như Eimeria tiết ra độc tố và men tiêu hủy mô ruột, gây độc hại cho cơ thể vật nuôi và dẫn đến các triệu chứng như tiêu chảy, ỉa máu, suy dinh dưỡng, giảm tăng trọng Hiểu rõ cơ chế hoạt động của bệnh là yếu tố then chốt để triển khai các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả Các biện pháp kiểm soát như vệ sinh sạch sẽ, giám sát sức khỏe vật nuôi, cùng việc sử dụng thuốc kháng ký sinh trùng đúng liều lượng giúp ngăn chặn bệnh, nhưng cần cẩn trọng để tránh tình trạng kháng thuốc.

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm bệnh cầu trùng ở gia cầm Điều kiện môi trường, chuồng trại: (Hoàng Thạch, 1997 – 1999) nghiên cứu đã được tiến hành để khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở các phương thức chăn nuôi gà khác nhau Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà nuôi lồng là 0,37%, trong khi đó, tỷ lệ nhiễm ở nền độn bằng trấu dao động từ 22,49% đến 57,38% Thực tế cho thấy rằng, chuồng nuôi gà có thể hạn chế sự tiếp xúc của gia cầm với phân, từ đó giảm tỷ lệ nhiễm cầu trùng Điều này có thể thực hiện bằng cách sử dụng vỉ lót để thu gom phân, đảm bảo vệ sinh trong chuồng nuôi, và thường xuyên vệ sinh vật nuôi và môi trường nuôi để giảm thiểu sự phát triển của ký sinh trùng Để chống lại bệnh Coccidiosis hiệu quả, việc kiểm soát vệ sinh và giám sát sức khỏe của vật nuôi là rất quan trọng Điều này bao gồm việc giữ cho môi trường nuôi vật nuôi sạch sẽ, vệ sinh chuồng nuôi thường xuyên, và cung cấp thức ăn đủ dinh

Để phòng ngừa và điều trị bệnh Coccidiosis cho vật nuôi, cần cung cấp đủ dưỡng chất và nước uống sạch Sử dụng thuốc kháng ký sinh trùng đúng liều lượng và cách thức là phương pháp hiệu quả, nhưng cần tránh tình trạng kháng thuốc Điều kiện chăn nuôi ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nhiễm bệnh, khi gia cầm bị nhốt chật chội, thiếu dinh dưỡng và chăm sóc kém sẽ làm giảm khả năng đề kháng, tăng nguy cơ mắc bệnh Ngoài ra, kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ môi trường nuôi giúp giảm sự phát triển của ký sinh trùng gây bệnh Coccidiosis.

Để phòng ngừa và điều trị bệnh Coccidiosis hiệu quả, cần thường xuyên kiểm soát vệ sinh chuồng trại và giám sát sức khỏe của vật nuôi Sử dụng thuốc kháng ký sinh trùng đúng cách là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh Ngoài ra, cải thiện điều kiện nuôi như vệ sinh sạch sẽ và thoáng mát cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro mắc bệnh Coccidiosis cho vật nuôi.

Bệnh Coccidiosis là một trong những bệnh phổ biến và nguy hiểm trong nuôi gà, đặc biệt là ở giai đoạn từ 20-56 ngày tuổi (Lương Tố Thu, 1993) Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây chết tới 100% đàn gà, do đó việc phòng ngừa và điều trị bệnh Coccidiosis đóng vai trò vô cùng quan trọng để đảm bảo sức khỏe và năng suất của đàn gà.

Bệnh Coccidiosis thường phát triển mạnh vào mùa xuân và mùa hè, với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất trong mùa xuân, lên đến 30,6% Theo khảo sát của bộ môn Thú y tại trung tâm nghiên cứu gia cầm trung ương từ năm 1986 đến 1988, tỷ lệ mắc cầu trùng theo mùa lần lượt là xuân 30,6%, hè 12,14%, đông 7,25% Các số liệu này cho thấy mùa xuân là thời điểm có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, cần chú trọng công tác phòng chống.

Các giống gà cao sản nhập nội chưa thích nghi hoàn toàn với điều kiện sinh thái thông thường, dễ nhiễm cầu trùng và phát bệnh nặng, gây tỷ lệ chết cao hơn so với các giống gà nội khác Tuy nhiên, khi nuôi trong cùng điều kiện và môi trường chăn nuôi, tỷ lệ nhiễm cầu trùng của gà nội thấp hơn so với gà ngoại, và bệnh thường diễn ra dưới dạng mãn tính hoặc mang trùng.

Tiêm vắc xin là giải pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh Coccidiosis ở vật nuôi Các nghiên cứu đã giúp các quốc gia như Hà Lan và Pháp chế tạo thành công các loại vắc xin cầu trùng như Immucoc, Coccivac B, D, T, và Anticoc Việc sử dụng vắc xin cầu trùng giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế và nâng cao sức khỏe của đàn vật nuôi Đây là phương pháp tiên tiến và hiệu quả trong chiến lược tiêu chuẩn của các bệnh truyền nhiễm do cầu trùng gây ra.

Mỹ, Thái Lan, Bungari, Tuy nhiên, việc sử dụng vaccin cần được thực hiện đúng liều lượng và cách sử dụng để đạt hiệu quả cao nhất

Để phòng ngừa và điều trị bệnh Coccidiosis trong chăn nuôi gà, cần chú trọng đến việc kiểm soát vệ sinh, giám sát sức khỏe vật nuôi một cách liên tục Việc sử dụng vaccine và thuốc kháng ký sinh trùng đúng cách là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của bệnh Ngoài ra, cải thiện điều kiện chăn nuôi, như thông gió tốt, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh hiệu quả.

Bệnh thể cấp tính ở gà xảy ra khi nang trứng có độc lực cao xâm nhập vào cơ thể gà, gây ra các triệu chứng rõ rệt và diễn biến nhanh chóng Đây là tình trạng nguy hiểm cần được phát hiện và điều trị kịp thời để hạn chế thiệt hại cho đàn gà Các dấu hiệu nổi bật của bệnh bao gồm triệu chứng cấp tính, phát triển nhanh, đòi hỏi veterinarians và các nhà chăn nuôi chú ý đến sự xuất hiện của các biểu hiện bất thường để xử lý hiệu quả.

Triệu chứng đầu tiên của bệnh thể cấp tính ở gà xuất hiện sau khi gà nhiễm bệnh

Tình hình nghiên cứu

1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Loài E acervulina và loài E maxima thường thấy ở bệnh cầu trùng gà, đặc biệt

E tenella tác nhân gây bệnh cao và phổ biến (Ayssiwede Et Al, 2011), đã nghiên cứu so sánh khả năng mẫn cảm của các giống gà đối với cầu trùng Các tác giả nhận thấy các giống gà địa phương ít mẫn cảm với cầu trùng hơn so với các giống gà nhập khẩu

Trong một đàn gà, thường xuyên xuất hiện nhiều loài Eimeria cùng tồn tại, đặc biệt là E acervulina, E maxima và E tenella Các loài này thường được quan sát cùng nhau trong các mẫu chất độn chuồng thu từ các trang trại gia cầm tại Hoa Kỳ Việc phát hiện nhiều loài Eimeria trong cùng một đàn cho thấy mức độ nhiễm ký sinh trùng cao và đòi hỏi các biện pháp quản lý phù hợp để kiểm soát dịch bệnh hiệu quả.

Bệnh cầu trùng gà là bệnh ký sinh trùng do đơn bào Eimeria spp gây ra, thường xuyên xuất hiện trên đàn gà và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả chăn nuôi Theo Arafat và cộng sự (2018), bệnh này gây thiệt hại lớn về năng suất và sức khỏe của gia súc, dẫn đến giảm tỷ lệ sống và tăng chi phí điều trị Việc kiểm soát và phòng ngừa bệnh cầu trùng gà đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp chăn nuôi gà.

Guven và cs (2013) cho biết tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà dao động 10-90% ở những trang trại công nghiệp nuôi tập trung trên toàn thế giới

Dưới tác động của các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng, kết quả điều trị bệnh trên gà thường không đạt hiệu quả mong đợi, gây ra các triệu chứng như bỏ ăn, còi cọc, chậm lớn và thường xuyên xuất hiện các bệnh phụ khác Ngoài ra, tỷ lệ chết của gà nhiễm bệnh cũng tăng cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất chăn nuôi và lợi nhuận.

Do đặc tính đa dạng di truyền, cầu trùng đã phát triển các gen kháng thuốc, gây ra những thách thức lớn trong công tác phòng chống dịch bệnh hiệu quả (Tan và cs, 2017)

1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong nghiên cứu của Bùi Quang Tuấn và Nguyễn Thị Thu Hồng năm 2022, mục tiêu chính là xác định ảnh hưởng của việc bổ sung B subtilis vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thân thịt của gà Minh Dư Kết quả cho thấy, bổ sung B subtilis có thể cải thiện tốc độ tăng trưởng và nâng cao chất lượng thân thịt của gà, góp phần tối ưu hóa sản xuất chăn nuôi Nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của probiotic trong việc thúc đẩy hiệu quả chăn nuôi gà, đồng thời cung cấp những dữ liệu giá trị để áp dụng trong thực tiễn nuôi gà Minh Dư.

Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hưng năm 2009 cho thấy, gà Gò Công có tốc độ sinh trưởng tốt hơn và tiêu thụ nhiều thức ăn hơn so với gà Bình Định, đặc biệt trong giai đoạn từ 3 đến 14 tuần tuổi Đàn gà được cho ăn tự do tiêu thụ nhiều thức ăn hơn so với đàn gà cho ăn theo định lượng, nhưng đàn gà Bình Định lại tiêu tốn ít thức ăn hơn, phù hợp với hiệu quả kinh tế Mức tiêu tốn thức ăn cho 1 kg trọng lượng của đàn gà cho ăn theo định lượng thấp hơn so với đàn gà cho ăn tự do Ngoài ra, gà Gò Công còn có tốc độ mọc lông nhanh và sớm hơn so với gà Minh Dư ở Bình Định Tỷ lệ sống của gà Bình Định cao hơn và đàn gà được cho ăn theo định lượng cũng có tỷ lệ sống cao hơn so với đàn gà tự do, cho thấy phương pháp cho ăn theo định lượng phù hợp để nâng cao hiệu quả nuôi.

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà (2018) cho thấy, tỷ lệ bột tỏi trong khẩu phần có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà thịt Minh Dư Việc bổ sung bột tỏi giúp cải thiện chất lượng thịt của gà, làm tăng giá trị dinh dưỡng và nâng cao khả năng phát triển của gà thịt Đây là phương pháp tự nhiên hiệu quả để nâng cao năng suất chăn nuôi gà Minh Dư, đáp ứng xu hướng thực phẩm sạch và an toàn.

Tổng hợp nghiên cứu cầu trùng trên gà

Gà bị nhiễm bệnh cầu trùng chủ yếu qua đường miệng và tiếp xúc với các chất như thức ăn, chất độn chuồng, phân, bụi, máng ăn, dụng cụ chăn nuôi hàng ngày Việc kiểm soát vệ sinh và vệ sinh chuồng trại là yếu tố quan trọng để phòng ngừa bệnh cầu trùng trên gia cầm Tránh để gà tiếp xúc trực tiếp với các nguồn gây nhiễm là cách hiệu quả giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc đảm bảo vệ sinh sạch sẽ trong môi trường chăn nuôi giúp hạn chế sự lây lan của bệnh cầu trùng, bảo vệ sức khỏe đàn gà của bạn.

Bạch Mạnh Điều và cộng sự (2001) đã nghiên cứu về việc sử dụng vaccine nhược độc chế từ oocyst của ba loài cầu trùng gà là E tenella, E maxima và E acervulina Kết quả cho thấy quá trình thải oocyst sau khi gà uống vaccine diễn ra bình thường trong vòng 5 ngày, đảm bảo an toàn cho đàn gia cầm Sử dụng vaccine chế từ oocyst chiếu xạ với liều 15 Krad cho hiệu quả tối ưu trong việc tạo miễn dịch bảo vệ Hiệu quả miễn dịch đạt được sau tiêm kéo dài đến 35 ngày, giúp giảm thiểu tình trạng bệnh cầu trùng trên gia cầm.

Nghiên cứu của Cao Thanh Hoàn và cộng sự (2016) cho thấy tình hình nhiễm cầu trùng trên gà nuôi công nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long, dựa trên phân gà thu thập từ 2.400 mẫu trong tuần tuổi đầu Kết quả này cung cấp dữ liệu quan trọng về tỷ lệ nhiễm và ảnh hưởng của bệnh cầu trùng trên đàn gà, giúp các nhà chăn nuôi và ngành thị trường gia cầm có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả Việc xác định mức độ ký sinh trùng trong gà từ sớm góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và kiểm soát dịch bệnh, đảm bảo an toàn thực phẩm.

Trong giai đoạn từ 22 ngày đến tuần thứ 6 tuổi, đàn gà nuôi theo kiểu chuồng kín tại các trại chăn nuôi gà công nghiệp tỉnh Vĩnh Long có tỷ lệ nhiễm cầu trùng trung bình là 38,33% Tỷ lệ nhiễm cầu trùng có xu hướng gia tăng nhanh từ tuần thứ 2, đạt 7%, đến tuần thứ 4 là 100%, rồi giảm dần ở các tuần tiếp theo Ở tuần thứ 5 và 6, tỷ lệ nhiễm cầu trùng còn khoảng 37% và 35%.

Nghiên cứu của Phạm Diệu Thùy và Dương Thị Hồng Duyên năm 2019 đã kiểm tra 450 mẫu phân của gà nuôi tại ba xã, phường ở thành phố Thái Nguyên và phát hiện tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 49,56% Gà ở tất cả các lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng, trong đó đặc biệt cao ở giai đoạn từ 1-3 tháng tuổi Gà được nuôi theo phương thức chăn thả có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao hơn so với các phương thức khác Mùa hè và mùa xuân là thời điểm gà bị nhiễm cầu trùng nhiều và nặng hơn so với mùa thu và đông Sử dụng dịch chiết tỏi nồng độ 5% để điều trị bệnh cầu trùng cho gà đã cho thấy hiệu quả tốt và đảm bảo an toàn.

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điếm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng Đề tài được tiến hành trên 5.000 con gà Minh Dư giống MD3.BD chuyên thịt, từ 01 ngày tuổi đến khi xuất chuồng

2.1.2.1 Phạm vi về không gian Địa điểm theo dõi, chăn nuôi gà tại trại gà thịt ANT chi nhánh Bình Phước Chuồng gà thí nghiệm là chuồng kín với diện tích 10 x 25 m Chuồng được gắn thiết bị cảm biến nhiệt tự động đảm bảo duy trì nhiệt độ chuồng nuôi trong khoảng 22-24°C Hệ thống chuồng trại khép kín từ việc vệ sinh chuồng, cho ăn, uống nước, đều tự động hoá Tất cả các xe ra vào trang trại đều phải qua hệ thống tiêu độc, khử trùng được đặt tại cổng vào trại Mái làm bằng tôn và có hiên bạt xung quanh dài 50 cm Có hệ thống phông bạt xung quanh chuồng để tránh mưa tạt, gió lùa và ủ ấm cho gà có thể kéo lên và hạ xuống Nền đất và sử dụng lớp trấu dày 5-7 cm làm chất độn chuồng Chuồng gà khép kín nên hạn chế được mùi hôi, côn trùng Chuồng trại được tổng vệ sinh vào cuối ngày và cuối tuần dọn dẹp rải vôi khắp trại thông cống rảnh xung quanh và phát quang bụi rậm thường xuyên

Kết cấu chuồng có độ cao từ nền đến mái là 2.5-3.5m, đảm bảo sự thông thoáng và phù hợp với môi trường chăn nuôi Nền chuồng được làm bằng đất, có lớp đệm bằng vỏ trấu dày khoảng 2cm giúp giữ ấm và tạo sự thoải mái cho gà Mái chuồng bằng tôn kết hợp hiên bạt dài 50cm quanh chuồng để bảo vệ khỏi nắng nóng, mưa và gió lùa, đồng thời dễ dàng kéo lên tháo xuống để điều chỉnh không khí trong chuồng Tường chuồng làm bằng bạt trắng, kết hợp hệ thống phông bạt xung quanh giúp tránh mưa tạt và giữ nhiệt độ ổn định, tạo môi trường lý tưởng cho gà Hệ thống thông gió được bố trí hợp lý với khoảng cách 10m từ máy lọc gió đến chỗ gà và 20m từ giàn lạnh đến chỗ gà, giúp duy trì nhiệt độ không quá lạnh cũng không quá nóng, đảm bảo sức khỏe và năng suất sinh trưởng của gà.

2.1.2.2 Phạm vi về thời gian

Thực hiện đề tài từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2023

Trang trại tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai với quy mô công nghiệp.

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà Minh Dư

Tỷ lệ nuôi sống đàn gà

Khả năng sinh trưởng của gà

Hiệu quả sử dụng thức ăn

2.2.2 Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh cầu trùng ở gà Minh Dư

Nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà từ 0-13 tuần tuổi:

Theo trạng thái phân khác nhau

Theo dõi triệu chứng lâm sàng ở gà mắc bệnh cầu trùng

Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà mắc bệnh cầu trùng.

Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng của đàn gà

Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong chăn nuôi, việc theo dõi tổng đàn gà 5.000 con cần chú trọng đến sự đồng đều về tuổi, nguồn gốc, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng Quản lý chặt chẽ quy trình thú y phòng bệnh giúp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và nâng cao năng suất đàn gà Việc duy trì tiêu chuẩn đồng đều trong các yếu tố này góp phần tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo sức khỏe cho đàn gia cầm.

Các chỉ tiêu về năng suất sinh trưởng, tỷ lệ loại thải từ 0-8 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn và độ đồng đều được theo dõi và tính toán bằng phương pháp thường quy trong nghiên cứu gia cầm, nhằm đánh giá chính xác sự phát triển của đàn vật nuôi Năng suất sinh trưởng được theo dõi theo từng tuần tuổi, từ tuần tuổi thứ nhất đến hết tuần thứ 13, giúp xác định quá trình tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn trong suốt giai đoạn từ sơ sinh đến trưởng thành.

Sức sống và khả năng kháng bệnh của đàn gà được đánh giá qua tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi Việc hàng ngày đếm chính xác số gà chết trong chuồng là bước quan trọng để theo dõi sức khỏe đàn gà Tỷ lệ nuôi sống được tính dựa trên công thức chính xác, giúp đánh giá hiệu quả chăm sóc và phòng bệnh.

Tỷ lệ nuôi sống (%) Sinh trưởng tích lũy: Cân gà 01 ngày tuổi và 1 tuần, 2, 3, 13 tuần tuổi Gà 1

Từ 4 tuần tuổi trở đi, sử dụng cân đồng hồ 1 kg có độ chính xác ± 2 g để theo dõi cân nặng, giúp đánh giá sự phát triển chính xác Đối với các giai đoạn từ 5 tuần tuổi trở lên, sử dụng cân đồng hồ 5 kg với độ chính xác ± 10 g để đo cân nặng cá thể, đảm bảo dữ liệu chính xác hơn Việc cân các cá thể được thực hiện vào lúc 8-9 giờ sáng của ngày đầu tuần tiếp theo để đảm bảo tính nhất quán trong quá trình theo dõi Thông qua việc xác định sinh trưởng tích luỹ dựa trên khối lượng, người chăn nuôi có thể đánh giá hiệu quả tăng trưởng của vật nuôi một cách chính xác và toàn diện.

25 bằng (g) ở các thời điểm trên

Để đánh giá trọng lượng trung bình của đàn gà, chúng tôi lấy ngẫu nhiên 100 con gà từ các vị trí khác nhau trong chuồng, bao gồm đầu, giữa và cuối chuồng, và tiến hành cân thử Quá trình cân được chia thành 5 đợt, mỗi đợt cân 20 con gà nhằm đảm bảo tính chính xác và đại diện cho toàn bộ đàn Việc lấy mẫu ngẫu nhiên từ nhiều vị trí khác nhau giúp phản ánh đúng trạng thái sức khỏe và năng suất của đàn gà Các kết quả cân sẽ hỗ trợ trong việc đánh giá và điều chỉnh chế độ chăm sóc phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Sinh trưởng tuyệt đối: Là mức tăng khối lượng một ngày tính theo trung bình của một tuần tuổi, tính bằng g/con/ngày

A Trong đó: A: Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

P1: Khối lượng cơ thể cân tại thời điểm t1 (g)

P2: Khối lượng cơ thể cân tại thời điểm t2 (g) t1: Thời điểm cân trước (ngày) t2: Thời điểm cân sau (ngày)

Hiệu quả sử dụng thức ăn: Phương pháp xác định tiêu tốn/kg tăng khối lượng

Để đảm bảo hiệu quả trong quá trình chăn nuôi gà, cần cân chính xác lượng thức ăn hàng ngày vào một giờ cố định và vét sạch thức ăn còn thừa trong máng để cân lại Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày được xác định dựa trên công thức tính toán cụ thể, giúp kiểm soát tốt lượng thức ăn tiêu thụ và tối ưu hóa quá trình chăm sóc đàn gà Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi mà còn đảm bảo sức khỏe cho gà một cách tốt nhất.

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (FCR):

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh cầu trùng theo Phạm Ngọc Hà (2016)

Phân lẫn máu tươi là dấu hiệu cho thấy gà đang ở giai đoạn cấp tính của bệnh cầu trùng, thể hiện mức độ nhiễm nặng Trong khi đó, phân có màu sáp thường phản ánh gà đã nhiễm bệnh ở giai đoạn mãn tính hoặc đang tiến triển Việc nhận biết đặc điểm phân giúp đánh giá chính xác mức độ và giai đoạn nhiễm bệnh cầu trùng trên đàn gà.

26 đang bị bệnh ở thể mãn tính

Phương pháp thu mẫu phân nhiễm cầu trùng bao gồm việc lấy mẫu phân đã thải ra trên nền chuồng gà ở các tuần tuổi khác nhau Mẫu phân cần được để riêng vào các túi nilon riêng biệt, có ghi nhãn rõ ràng gồm tuổi gà, trạng thái phân và ngày tháng lấy mẫu để đảm bảo chính xác và dễ theo dõi.

Phương pháp bảo quản mẫu: Mẫu lấy xong xét nghiệm ngay trong ngày Những mẫu chưa xét nghiệm phải được bảo quản ở 2 - 4 0 C

Phương pháp tìm noãn nang cầu trùng gà, phương pháp phù nổi Fulleborn năm

Để phát hiện noãn nang cầu trùng, lấy 5-10 g phân cho vào cốc nhỏ, khuấy đều trong 40-50 ml nước muối bão hòa bằng đũa thủy tinh, sau đó lọc qua lưới để loại bỏ cặn bã Dung dịch lọc để yên trong lọ tiêu bản có miệng hẹp, đáy rộng, khoảng 30-50 phút để noãn nang nổi lên Tiếp theo, dùng vòng vớt thép để lấy lớp váng phía trên, đặt lên phiến kính, đậy lamen rồi kiểm tra dưới kính hiển vi để xác định sự có mặt của noãn nang cầu trùng.

Phương pháp đánh giá tỷ lệ nhiễm cầu trùng: số liệu thu được tính theo công thức:

Chú trọng theo dõi tỷ lệ nhiễm cầu trùng để đảm bảo sức khỏe đàn gà, bằng cách quan sát các biểu hiện triệu chứng lâm sàng như sự thay đổi về mức độ ăn uống, trạng thái hoạt động và hình thái phân của gà Việc kiểm tra thường xuyên giúp phát hiện sớm những biểu hiện bất thường, từ đó có biện pháp xử lý hiệu quả nhằm giảm thiểu tỷ lệ nhiễm cầu trùng trong đàn.

Trong quá trình theo dõi, tất cả gà ốm chết hoặc nghi mắc cầu trùng đều được mổ khám để kiểm tra đặc điểm đường tiêu hóa tại ba vị trí chính là manh tràng, ruột non và trực tràng Sau đó, tiến hành nạo lấy niêm mạc và soi tươi dưới kính hiển vi để phát hiện noãn nang, giúp chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh.

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Những số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Excel 2016

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Khả năng sinh trưởng của đàn gà Minh Dư khảo sát

Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn phản ánh khả năng thích nghi, sức khỏe và chống chịu bệnh tật của gà trong quá trình nuôi Việc đánh giá tỷ lệ này giúp đưa ra các giải pháp chăm sóc, phòng bệnh phù hợp để nâng cao hiệu quả nuôi Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn được tính dựa trên tỷ lệ sống cộng dồn qua các tuần từ đầu đến cuối giai đoạn theo dõi, và kết quả khảo sát thể hiện rõ trong bảng 3.1.

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà (n=5.000)

Tuần tuổi Tỷ lệ nuôi sống/tuần (%)

Tỷ lệ nuôi sống/giai đoạn (%)

Số lượng con còn sống

Tỷ lệ nuôi sống trung bình (%)

Tỷ lệ nuôi sống theo giai đoạn từ 1 - 8 tuần tuổi của gà đạt 98,16 % Tỷ lệ nuôi sống của gà Minh Dư theo tuần (Bảng 3.1) tương đối cao từ 99,60 – 99,92 % Từ 1 -

4 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thấp hơn so với các tuần sau đó Trong tuần 1 –

Số lượng gà chết cao thường liên quan đến đàn gà con nhỏ, chưa ổn định thân nhiệt và chưa thích nghi với điều kiện khí hậu tại trại Quá trình vận chuyển xa và giai đoạn tập ăn ban đầu cũng là những nhân tố dẫn đến tỷ lệ chết cao của gà Do đó, việc chăm sóc và quản lý chặt chẽ trong giai đoạn đầu là rất quan trọng để giảm thiểu thiệt hại cho đàn gà.

Trong giai đoạn từ tuần 1 đến tuần 4, hệ tiêu hóa và miễn dịch của gà con chưa hoàn thiện, khiến chúng dễ mắc tiêu chảy và tử vong Đặc biệt, từ tuần 3 đến tuần 4, đàn gà thường mắc bệnh cầu trùng, làm số lượng chết tăng cao hơn so với các giai đoạn khác Tuy nhiên, từ tuần tiếp theo, tỷ lệ nuôi sống của đàn gà bắt đầu tăng lên, thể hiện khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh ngày càng tốt hơn.

Tỷ lệ nuôi sống của gà khảo sát thấp hơn so với ghi nhận của Phạm Thị Thuỳ Trang

Tỷ lệ sống của gà đạt 98,78% vào năm 2016, nhưng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như con giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc, điều kiện khí hậu và phương thức chăn nuôi Việc áp dụng quy trình nuôi phù hợp và an toàn sinh học trong chăn nuôi giúp giảm tỷ lệ hao hụt, từ đó nâng cao tỷ lệ gà sống và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà.

3.1.2 Sinh trưởng tích lũy và sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tích lũy thể hiện khả năng tăng khối lượng cơ thể của gà theo từng tuần tuổi, là một chỉ tiêu quan trọng trong chọn giống, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thịt và hiệu quả kinh tế Khối lượng cơ thể phản ánh tình trạng sức khỏe, mức độ chăm sóc, nuôi dưỡng và phẩm chất giống nòi Khả năng sinh trưởng của gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc, khí hậu và khả năng thích nghi của từng giống với môi trường Sinh trưởng tích lũy nhanh giúp rút ngắn thời gian nuôi, giảm chi phí thức ăn và nâng cao lợi nhuận kinh tế, kết quả thể hiện rõ qua bảng 3.2.

Bảng 3.2 Khả năng sinh trưởng của gà (n = 100)

Tuần tuổi Khối lượng trung bình- Sinh trưởng tích lũy (g) Tăng trọng bình quân -sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

Hình 3.1 Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Minh Dư

Theo bảng 3.2 và hình 3.1, khối lượng cơ thể trung bình của gà tăng nhanh từ 39 g ở ngày 1 tuổi đến 858 g ở 8 tuần tuổi, thể hiện sự phát triển vượt trội của gà trong giai đoạn này So sánh với kết quả nghiên cứu của Ngô Quốc Thuận (2016) trên gà Minh Dư, khi khối lượng trung bình ở 56 ngày tuổi đạt 685,2 g, kết quả của khảo sát hiện tại cho thấy chiều cao hơn, phản ánh sự khác biệt hoặc tiến bộ trong quá trình nuôi dưỡng và phát triển.

Trong quá trình khảo sát, sinh trưởng tích lũy của gà thể hiện xu hướng tăng liên tục theo từng tuần tuổi Giai đoạn từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 6 là thời kỳ gà có mức sinh trưởng mạnh nhất, với trọng lượng tăng từ 137,5 g lên 595,6 g Sau tuần thứ 6, tốc độ tăng trưởng của gà vẫn tiếp tục nhưng chậm hơn vào các tuần 7 và 8, đánh dấu sự giảm dần của khả năng sinh trưởng trong giai đoạn này.

Hình 3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của gà Minh Dư

Sinh trưởng tuyệt đối thể hiện sự tăng trưởng về khối lượng cơ thể trên mỗi đơn vị thời gian, được đo bằng gam/ngày Khảo sát chỉ tiêu này của gà Minh Dư cho thấy, sinh trưởng tuyệt đối của gà tăng dần từ 5,54 gam/ngày ở giai đoạn 1 tuần tuổi đến 18,30 gam/ngày ở 8 tuần tuổi Điều này cho thấy gà Minh Dư có khả năng phát triển ổn định theo từng tuần, đáp ứng các yêu cầu của quy trình chăn nuôi hiện đại.

Trong giai đoạn từ 1 đến 3 tuần tuổi, gà sinh trưởng tuyệt đối tăng trưởng mạnh, thể hiện sự phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, từ 3-4 tuần tuổi, tốc độ tăng trọng của gà giảm do gà mắc cầu trùng, làm giảm khả năng ăn vào và gây tổn thương hệ tiêu hóa, dẫn đến khả năng tiêu hóa và hấp thu kém Việc điều trị kịp thời giúp phục hồi khả năng sinh trưởng của gà, với mức tăng trung bình từ 13,27g/con/ngày sau tuần thứ 4, đảm bảo sự phát triển ổn định và hiệu quả của chăn nuôi.

5 là 15,10g/con/ngày Giai đoạn từ 7 đến 8 tuần tuổi sinh trưởng tuyệt đối của gà có xu hướng giảm dần (ở tuần 6 là 20,83g/con/ngày, ở tuần thứ 8 là 18,30g/con/ngày)

Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà theo quy luật phát triển chung của gia cầm, tăng nhanh từ tuần thứ 1 đến khoảng tuần thứ 5 hoặc 6, sau đó dần chậm lại.

3.1.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn

Hiệu quả sử dụng thức ăn được định nghĩa là mức tiêu tốn thức ăn (TTTA) cho

Hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia cầm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giống, lứa tuổi, chất lượng thức ăn và điều kiện môi trường Trong ngành chăn nuôi, chi phí thức ăn trung bình chiếm từ 70-80% giá thành sản phẩm, trở thành một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả sản xuất Quản lý tốt tiêu thụ thức ăn giúp tối ưu hóa lợi nhuận và nâng cao năng suất chăn nuôi gia cầm.

Bảng 3.3 Khả năng thu nhận và tiêu tốn thức ăn của gà Minh Dư

Tuần tuổi Lượng thức ăn thu nhận

Tiêu tốn thức ăn (kg/kg tăng trọng)

Lượng thức ăn thu nhận (TATN) của gà khảo sát tăng dần theo các tuần tuổi, từ mức thấp ở tuần đầu tiên đến cao hơn ở các tuần sau (Bảng 3.3) Trong khi đó, lượng tiêu tốn thức ăn (TTTA) có xu hướng tăng từ 1,48 ở tuần thứ 1 lên 2,58 ở tuần thứ 4, sau đó tăng mạnh lên 2,90 vào tuần thứ 5, rồi giảm còn 2,12 ở tuần thứ 6 Sau tuần 6, FCR của gà có xu hướng tăng dần, phản ánh hiệu quả tiêu hóa thức ăn Trung bình, lượng TATN và TTTA của gà trong giai đoạn 1-8 tuần tuổi là 33,66 g/con/ngày và 2,23 kg/kg tăng trọng, cho thấy sự phát triển của gà qua các tuần tuổi.

Trong giai đoạn 0-4 tuần tuổi, hệ tiêu hóa của gà chưa phát triển hoàn chỉnh, khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất còn yếu hơn so với các giai đoạn sau, phù hợp với quy luật sinh trưởng tự nhiên Tuy nhiên, trong tuần thứ 5, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng ngày (TTTA) giảm mạnh do gà đã bị nhiễm cầu trùng kéo dài, làm giảm sinh trưởng tuyệt đối và dẫn đến sự suy giảm của TTTA so với các tuần ở giai đoạn đầu.

Khi so sánh giữa gà Minh Dư khảo sát và các kết quả nghiên cứu của các thí

Nghiên cứu cho thấy gà khảo sát có hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi Khi hệ số tiêu tốn thức ăn trung bình (TTTA) thấp nhất, gà đạt tốc độ tăng trọng nhanh nhất, điều này rất quan trọng trong quá trình chăn nuôi gà Theo Vũ Duy Giảng (2009), hiệu quả chăn nuôi gà đạt cao khi hệ số TTTA thấp Nghiên cứu của Ngô Quốc Thuận (2016) trên gà Minh Dư 8 tuần tuổi cho thấy hệ số TTTA là 2,57 kg, trong khi đó, Đào Duy Thanh (2009) nghiên cứu trên gà Ta cũng ghi nhận hệ số TTTA là 2,43 kg khi gà 8 tuần tuổi.

Tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng ở gà Minh Dư

3.2.1 Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà

Hãy kiểm tra 15 con bất kỳ trong đàn ở mỗi tuần tuổi từ 1-8 để phát hiện sớm tình trạng nhiễm cầu trùng, đặc biệt là trong khoảng từ 2-8 tuần tuổi khi bệnh thường xuất hiện ở gà Việc theo dõi định kỳ giúp kiểm soát và ngăn chặn sự lây lan của bệnh cầu trùng hiệu quả Nhận diện sớm các con bị nhiễm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng trị và duy trì sức khỏe cho đàn gà.

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo tuổi của gà

Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm

Hình 3.3 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Minh Dư theo tuần tuổi

Kết quả từ bảng 3.4 và hình 3.3 cho thấy trong tuần tuổi đầu tiên, chưa phát hiện sự có mặt của noãn nang Oocyst trong phân gà Nguyễn Thị Mai (1997) xác định rằng gà 1 tuần tuổi chưa bị nhiễm cầu trùng; tuy nhiên, cần lưu ý rằng noãn nang cầu trùng đã có trong phân gà 1 ngày tuổi dù chưa có biểu hiện bệnh Nguyên nhân có thể do chuồng nuôi không đảm bảo vệ sinh, thời gian trống chuồng ngắn do nhu cầu sản xuất khiến noãn nang cầu trùng vẫn tồn tại và gà con nuốt phải Tuy nhiên, hệ tiêu hóa của gà con còn non yếu, men tiêu hóa chưa phát triển đủ mạnh nên không thể phá vỡ lớp vỏ của Oocyst cầu trùng, dẫn đến Oocyst bị thải ra ngoài qua phân mà không gây bệnh cho gà 1 tuần tuổi.

Bước sang tuần tuổi thứ 2 đã bắt đầu có sự xuất hiện Oocyst trong phân gà với tỷ lệ nhiễm là 26,67 % Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên gà Minh Dư có biến động qua các tuần tuổi, tỷ lệ này tăng giảm tùy thuộc vào tuần tuổi, tỷ lệ nhiễm bệnh xảy ra cao nhất vào tuần thứ 3 (53,33%) sau đó giảm dần Gà bắt đầu có biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở tuần tuổi thứ 3 Trong đàn có một số

Tỷ lệ nhiễm cầu trùng

Tỷ lệ nhiễm cầu … Tuần tuổi

Ở giai đoạn 3 tuần tuổi, tỷ lệ nhiễm đạt 53,33%, trong khi ở 4 tuần tuổi là 33,33% Các con gà bị nhiễm thường đứng ủ rũ, dồn vào góc chuồng, lông xù, kém ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, phân đi lỏng kèm máu Sau đó, tỷ lệ nhiễm bắt đầu giảm dần: còn 33,33% ở tuần thứ 5 và giảm xuống còn 20,00% vào tuần tiếp theo, cho thấy tình trạng bệnh có xu hướng giảm dần theo thời gian.

7) và ở tuần tuổi thứ 8 còn 6,67 % cho thấy gà dần dần có khả năng chống lại sự gây bệnh của cầu trùng từ tuần thứ 8 trở đi Tỷ lệ nhiễm trung bình là 25% cho thấy được khả năng gây bệnh cũng khá nghiên trọng trên đàn Kết quả khảo sát phù hợp với nghiên cứu của Dương Công Thuận (1973)

Trong quá trình khảo sát, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà càng lớn do lượng TTTA tăng lên, vì men tiêu hóa phá vỡ lớp vỏ của Oocyst cầu trùng, giải phóng noãn trong hệ tiêu hóa Gà hoạt động mạnh hơn dẫn đến phân rơi vào máng ăn và máng uống bị nhiễm bẩn, làm phân thải trừ nhiều hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cầu trùng trong nền chuồng Khi đó, gà nuốt vào cơ thể lượng lớn noãn nang khi tìm thức ăn, làm cho tỷ lệ nhiễm cầu trùng càng nặng theo tuổi của gà.

Gia cầm ở các lứa tuổi khác nhau có sức đề kháng đối với mầm bệnh khác nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng Thói quen này thể hiện rõ qua sự biến đổi tỷ lệ nhiễm trùng qua các tuần tuổi của gà Đặc biệt, sau 5 tuần tuổi, tỷ lệ nhiễm bệnh có xu hướng giảm dần, cho thấy sức đề kháng của gà đã bắt đầu được nâng cao.

Khi phát hiện gà có triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh, trại đã áp dụng điều trị ngay lập tức theo điều kiện sản xuất Việc dùng thuốc kết hợp với miễn dịch tự nhiên giúp giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm cầu trùng, chỉ còn 6,67% ở gà 8 tuần tuổi Từ 8 tuần tuổi đến gà trưởng thành, tỷ lệ nhiễm cầu trùng rất thấp, cho thấy hiệu quả của biện pháp điều trị và miễn dịch tự nhiên trong quản lý dịch bệnh.

3.2.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân

Nhiễm cầu trùng ảnh hưởng đến tình trạng, màu sắc, tính chất và chất chứa trong phân của gà, đồng thời có thể gây ra các bất thường rõ rệt Bảng 3.5 thể hiện mối liên hệ giữa phân có dấu hiệu bất thường và nhiễm cầu trùng trong trại, dựa trên việc thu thập 50 mẫu phân trong giai đoạn gà nuôi cách ly hơn 1 tháng Phân bất thường, như có màu sáp hoặc chứa máu, có thể là dấu hiệu cho thấy gà đang mắc bệnh cầu trùng ở thể mãn tính hoặc đang trong giai đoạn cấp tính.

35 nặng ( cấp tính) Sau đây là kết quả khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên tính chất của phân mỗi loại 50 mẫu

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân

Dựa trên kết quả từ Bảng 3.5, tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà khác nhau tùy theo trạng thái phân, với gà đi phân sáp có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 34%, tiếp theo là phân có màng nhầy màu hồng với tỷ lệ 30%, trong khi phân bình thường có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 4% Các nghiên cứu của Phạm Ngọc Hà (2006) cũng cho thấy gà có phân sáp có tỷ lệ nhiễm cao nhất, theo sau là các trạng thái phân có màng nhầy, màu hồng và cuối cùng là phân bình thường, với sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ nhiễm dựa trên tính chất của phân Do đó, chúng ta có thể sử dụng thuốc diệt cầu trùng dựa trên các dấu hiệu màu sắc của phân để giảm thiểu tổn thất, kết hợp với các xét nghiệm xác định mức độ nhiễm trong đàn và đề ra phương hướng điều trị phù hợp.

3.2.3 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh cầu trùng

Quan sát tổng thể đàn để bắt những con gà nghi mắc cầu trùng giúp theo dõi và đánh giá triệu chứng rõ ràng hơn Việc này giúp xác định chính xác các biểu hiện bệnh của gà, từ đó có phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả Điều tra kỹ lưỡng là bước quan trọng để kiểm soát dịch bệnh, hạn chế thiệt hại cho đàn gà chăn nuôi.

Ban đầu, gà xuất hiện biểu hiện ủ rũ, lười vận động, đứng tụ lại thành từng đám nhỏ với dáng đi mệt mỏi, chậm chạp Sau đó, gà giảm ăn rõ rệt, có những con bỏ ăn hoàn toàn và uống nước nhiều hơn bình thường, đồng thời đi lại khó khăn Những dấu hiệu bệnh thường thấy là gà đứng lì một chỗ, không muốn vận động, với biểu hiện đặc trưng là đầu thường ngoặt sang một bên và mắt nhắm nghiền.

Số mẫu dương tính Tỷ lệ (%)

Phân màu hồng có màng nhầy 50 15 30,00

36 cánh sã xuống, lông xơ xác

Trạng thái phân sống đặc trưng với các giai đoạn rõ ràng: ban đầu phân có màu vàng của cám, sau đó chuyển sang màu xanh trắng, loãng, có bọt khí Cuối cùng, phân chuyển thành màu nâu đỏ và có lẫn máu, cho thấy các triệu chứng quan trọng cần theo dõi.

Gà bị bệnh có biểu hiện bên ngoài với mào và tích nhợt nhạt, lông xơ xác, và gầy nhanh do mất máu và bỏ ăn Quá trình phát triển của bệnh kéo dài từ 4 đến 5 ngày, và nếu không được điều trị kịp thời, gà có thể tử vong Tuy nhiên, nếu phát hiện bệnh sớm trong vòng 1 đến 2 ngày, việc điều trị đúng cách sẽ giúp gà khỏi bệnh, mặc dù tốc độ lớn của chúng sẽ chậm hơn so với các con khỏe mạnh không mắc bệnh.

Kết quả mổ khảo sát gà nhiễm bệnh cầu trùng của Nguyễn Phúc Khánh và cs,

Năm 2015, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng gà mắc bệnh thể hiện các triệu chứng như ủ rũ, ít vận động, xù lông, xà cánh, hậu môn dính phân và thường đứng riêng lẻ Các mẫu phân của gà bệnh có thể chứa màng nhầy, máu, phân sáp hoặc phân có bọt khí Đặc điểm chung khi gà bị bệnh là chúng thường xuyên có biểu hiện mệt mỏi, ủ rũ và xù lông Tuy nhiên, bệnh cầu trùng trên gà phân thường có màu nâu đỏ, kèm theo các đặc điểm như phân sáp, phân lẫn bọt khí hoặc máu, giúp phân biệt với các loại bệnh khác.

Kết luận

Khảo sát khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng trên gà Minh Dư tại Huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai cho thấy:

Tỷ lệ nuôi sống gà 1 - 8 tuần tuổi đạt 98,16 %

Khối lượng cơ thể gà tăng dần theo từng tuần tuổi, đặc biệt trong giai đoạn từ 1 đến 3 tuần tuổi, sinh trưởng tuyệt đối tăng gấp ba lần Trong tuần thứ 5, gà mắc bệnh cầu trùng, gây giảm sinh trưởng tuyệt đối ở các tuần 4 và 5, đạt mức thấp nhất là 6 g (tuần thứ 4) và 16,24 g (tuần thứ 5), trước khi gà sinh trưởng tốt hơn vào tuần 6 (20,83 g) và sau đó giảm dần trong các tuần 7 đến 8 còn 18,3 g Điều này cho thấy bệnh cầu trùng ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng tuyệt đối của gà Trong khi đó, sinh trưởng tích lũy từ tuần 2 đến tuần 6 thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ 137,5 g ở tuần thứ 2 đến 595,6 g ở tuần thứ 6, và đều tăng đều sau 8 tuần, cho thấy ảnh hưởng của cầu trùng không đáng kể đến sinh trưởng tích lũy Lượng thức ăn tiêu thụ và tiêu tốn trong giai đoạn 1-8 tuần tuổi lần lượt là 33,66 g/con/ngày và 2,23 kg/kg tăng trọng, phản ánh hiệu quả chuyển hóa thức ăn qua các giai đoạn nuôi dưỡng.

Biểu hiện của phân giúp chẩn đoán bệnh cầu trùng ở gà, khi phân sáp có tỷ lệ nhiễm cao nhất (34%), tiếp theo là phân có màng nhầy và màu hồng (30%), trong khi phân bình thường chỉ có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (4%) Cầu trùng ảnh hưởng lớn đến tính chất của phân qua từng giai đoạn bệnh, từ đó có thể nhận biết gà bị bệnh do tác nhân cầu trùng gây ra Phân còn là nơi truyền lây bệnh cầu trùng giữa các con gà một cách hiệu quả.

Sau 8 tuần sau phẫu thuật, bệnh tích xuất hiện phổ biến nhất tại manh tràng với tỷ lệ 56,92%, tiếp đến là ruột non với 19,48%, trong khi mức thấp nhất là ở trực tràng với 8,38% Các bệnh tích xuất hiện chung và có mức độ nặng hơn khi gà bị nhiễm đồng thời cầu trùng manh tràng và ruột non, chiếm tỷ lệ 7,44% Điều này cho thấy cầu trùng có tác động mạnh đến hệ tiêu hóa của gà, gây rối loạn hấp thu hoặc làm mất các chất dinh dưỡng, dẫn đến giảm tăng trọng và gây tổn thương hệ tiêu hóa, là nguyên nhân chính làm giảm sức tăng trưởng tuyệt đối của gà.

Kiến nghị

Ảnh hưởng của cầu trùng gây ra trên gà trại là rất lớn, do đó cần áp dụng các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động của cầu trùng nhằm nâng cao sức khỏe và hiệu suất chăn nuôi gà.

Chuồng trại cần được vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt chú trọng đến các khe, khay và dụng cụ chăn nuôi Thiết kế chuồng phải đảm bảo không cho gà tiếp xúc trực tiếp với phân của con khác, ví dụ như sử dụng chuồng sàn, nhằm hạn chế tối đa sự tiếp xúc với phân và giảm nguy cơ mắc bệnh Việc duy trì vệ sinh và thiết kế hợp lý giúp nâng cao sức khỏe và năng suất của đàn gà.

Để đảm bảo sức khỏe và năng suất của gà, cần tạo điều kiện chăn nuôi thích hợp bằng cách kiểm soát mật độ chuồng nuôi hợp lý, duy trì độ ẩm phù hợp và đảm bảo thoáng khí để tránh gây stress do nhiệt độ cao trong trại Việc duy trì môi trường sạch sẽ, thoáng đãng giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh tật và tăng hiệu quả chăn nuôi.

Phòng các nhân gây suy giảm miễn dịch trên gà là rất quan trọng để ngăn chặn sự phát triển của bệnh cầu trùng Các biện pháp phòng ngừa cần được thực hiện chặt chẽ nhằm hạn chế các yếu tố gây suy giảm hệ miễn dịch, từ đó giảm thiểu khả năng gà mắc bệnh Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này còn hạn chế tại các trại chăn nuôi, góp phần làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh Việc nâng cao nhận thức và tăng cường các biện pháp phòng bệnh sẽ giúp bảo vệ sức khỏe của đàn gà, hạn chế tác động tiêu cực của bệnh cầu trùng.

Sử dụng các loại thuốc trị trùng trên gà cầu có nguồn gốc thực vật (phytoproduct) hoặc sản phẩm lên men (ionophore) là cần thiết để kiểm soát bệnh Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ, cần tiến hành xét nghiệm định kỳ để phát hiện cầu trùng, giúp ngăn chặn sự phát sinh của bệnh và bảo vệ đàn gà khỏe mạnh.

 Ý thức của công nhân trong trại còn khá chủ quan trong vấn đề vệ sinh chuồng trại, cần quản lý và giám sát chặt chẽ hơn

 Trại còn hơi chủ quan về vấn đề liên quan đến bệnh cầu trùng

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng việt:

1 Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Thị Út, Phan Thu Huơng (2018), Ảnh hưởng của tỷ lệ bột tỏi trong khẩu phần đến khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà thịt, phân hiệu đại học Thái Nguyên, Lào Cai, tạp chí KH&CN ĐHTN Số 193(17):27-33

2 Nguyễn Tiến Hưng năm (2009), Khảo sát khả năng sinh trưởng của 2 nhóm giống gà ta thả vườn với 2 chế độ ăn tự do và ăn theo định lượng trong giai đoạn 3 đến 7 tuần tuổi và kết quả đến 14 tuần tuổi, Đại học Nông Lâm TPHCM

3 Dương Công Thuận, Đào Hữu Thanh và Nguyễn Ngọc Ân (1975), Phòng trị bệnh cầu trùng gà bằng Rigecoccin Kết quả nghiên cứu khoa học và thú y tr 348 - 354

4 Đào Hữu Thanh và Nguyễn Ngọc Ân (1975), Một số nghiên cứu về bệnh cầu trùng ở gà con trong các trại chăn nuôi tập trung Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y tr 201 - 211

5 Lê Văn Năm (2006), Bệnh cầu trùng ở gia súc - gia cầm NXB Nông nghiệp

6 Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y NXB Nông nghiệp, Hà Nội

7 Tiêu chuẩn Việt Nam (1977), Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối TCVN

8 Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001), Bệnh ký sinh trùng ở gia súc và biện pháp phòng trị, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội

9 Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006), Bệnh đơn bào ký sinh ở động vật nuôi

NXB Nông Nghiệp, Hà Nội tr 148 - 142

10 Bạch Mạnh Điều (2004), Bệnh cầu trùng gà, bồ câu ở một số khu vực phía Bắc và giải pháp phòng trị Luận án Tiến Sĩ khoa học Nông nghiệp

11 Hội chăn nuôi Việt Nam (2001), Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 9 – 15

12 Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên (1998), Di truyền học tập tính, Nxb Giáo dục Hà Nội, tr 60

13 Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội

14 Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán (1993), “Yêu cầu Protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách gà trống mái gà HV 85 từ 1 - 63 ngày tuổi” Thông tin gia súc gia cầm số 1 tháng 3/1993, trang 17, 29

15 Nguyễn Duy Hoan (2010), Dinh dưỡng protein gia cầm, Nxb Đại Học Thái Nguyên

16 Dương Công Thuận (1995), Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình,

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

17 Ngô Quốc Thuận (2016) Đánh giá khả năng sinh trưởng, sức sống và sản xuất thịt của nhóm gà ta Minh Dư và gà ta Liên Thảo được nuôi tại huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên (Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Thú y) Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM,Việt Nam

18 Nguyễn Đức Hưng, Hồ Lê Quỳnh Châu, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Thị Thùy, Nguyễn Minh Hoàn, Nguyễn Đức Chung (2017), Thực trạng chăn nuôi gà thịt tại Thừa Thiên

Huế, Tạp chí Khoa học – Đại học Huế ISSN 1859-1388 Tập 126, Số 3A, Tr 19-31

19 Nguyễn Quang Tính (2013), Tình hình mắc bệnh cầu trùng trên gà giống ross-308 tại xí nghiệp chăn nuôi phổ yên và hiệu lực của 2 loại thuốc Hanzuril-25 và Anticoccidae-Diarrhoea trong điều trị, Tạp chí Khoa học & Công nghệ 101(01): 21

20 Huỳnh Văn Chương, Đinh Thị Bích Lân, Nguyễn Vũ Sơn, Phạm Hồng Ngân, Nguyễn Hữu Nam (2016), Đặc điểm bệnh lý chủ yếu của gà tre mắc bệnh cầu trùng tại Thừa

Thiên Huế, Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 6:877-884

21 Cao Thanh Hoàn, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân (2016), Tình hình nhiễm cầu trùng trên gà nuôi công nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long, Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ, CĐ Nông nghiệp, 11-16

22 Đàm Oanh Phúc (2020), Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà Minh Dư trại Dương Minh Hải liên kết với công ty thuốc thú y UV, Đại học Nông Lâm, Thái Nguyên

23 Phạm Diệu Thùy, Dương Thị Hồng Duyên (2019), Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng ở gà nuôi tại thành phố Thái Nguyên và dùng dịch chiết tỏi điều trị, Tạp chí

Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, 197(04): 53 – 58

Ngày đăng: 28/05/2025, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Ngô Quốc Thuận. (2016). Đánh giá khả năng sinh trưởng, sức sống và sản xuất thịt của nhóm gà ta Minh Dư và gà ta Liên Thảo được nuôi tại huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên. (Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Thú y). Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM,Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh trưởng, sức sống và sản xuất thịt của nhóm gà ta Minh Dư và gà ta Liên Thảo được nuôi tại huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên
Tác giả: Ngô Quốc Thuận
Nhà XB: Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
Năm: 2016
21. Cao Thanh Hoàn, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân (2016), Tình hình nhiễm cầu trùng trên gà nuôi công nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long, Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ, CĐ Nông nghiệp, 11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm cầu trùng trên gà nuôi công nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long
Tác giả: Cao Thanh Hoàn, Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học cần Thơ, CĐ Nông nghiệp
Năm: 2016
22. Đàm Oanh Phúc (2020), Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà Minh Dư trại Dương Minh Hải liên kết với công ty thuốc thú y UV, Đại học Nông Lâm, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà Minh Dư trại Dương Minh Hải liên kết với công ty thuốc thú y UV
Tác giả: Đàm Oanh Phúc
Nhà XB: Đại học Nông Lâm, Thái Nguyên
Năm: 2020
24. Phạm Thị Thuỳ Trang. (2016). Khảo sát bệnh thường gặp và khả năng sinh trưởng của giống gà Minh Dư tại trại gà Hồng Chích. (Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Thú y).Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM,Việt Nam.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bệnh thường gặp và khả năng sinh trưởng của giống gà Minh Dư tại trại gà Hồng Chích
Tác giả: Phạm Thị Thuỳ Trang
Nhà XB: Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM
Năm: 2016
2. The ponltry new (2018), The digestive system of chicken, https://www.thepoultrynews.com/2018/01/28/the-digestive-system-of-chicken/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: The digestive system of chicken
Tác giả: The ponltry new
Năm: 2018
14. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán (1993), “Yêu cầu Protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách gà trống mái gà HV 85 từ 1 - 63 ngày tuổi”. Thông tin gia súc gia cầm số 1 tháng 3/1993, trang 17, 29 Khác
15. Nguyễn Duy Hoan (2010), Dinh dưỡng protein gia cầm, Nxb Đại Học Thái Nguyên 16. Dương Công Thuận (1995), Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi gia đình,Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Khác
20. Huỳnh Văn Chương, Đinh Thị Bích Lân, Nguyễn Vũ Sơn, Phạm Hồng Ngân, Nguyễn Hữu Nam (2016), Đặc điểm bệnh lý chủ yếu của gà tre mắc bệnh cầu trùng tại Thừa Thiên Huế, Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 6:877-884 Khác
23. Phạm Diệu Thùy, Dương Thị Hồng Duyên (2019), Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng ở gà nuôi tại thành phố Thái Nguyên và dùng dịch chiết tỏi điều trị, Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, 197(04): 53 – 58 Khác
1. Barbato, G.F. Genetic architecture of growth curve parameters in chickens. Theoretical and Applied Genetics 83, 24–32 (1991) Khác
3. Kocaman, B., A.V. Yaganoglu and M. Yanar. 2005. Combination of fan ventilation system and sprayingof oil-water mixture on the levels of dust and gases in caged layer facilities in Eastern Turkey. J. Appl.Anim. Res., 27: 109-111 Khác
4. Arafat N. and Abbas I. (2018). Coccidia of Japanese Quail: From Identification, Prevalence, Infection, and Immunization. J. Parasitol., 104(1): 23-30 Khác
5. Güven E., Beckstead R.B., Kar S., Vatansever Z. and Karaer Z. (2013). Molecular identification of Eimeria species of broiler chickens in Turkey. Ankara Uni. Vet. Fak.Derg., 60(4): 245-50 Khác
6. Odden A., Denwood M.J., Stuen S., Robertson L.J., Ruiz A. and Hamnes I.S. (2018). Field evaluation of anticoccidial efficacy: A novel approach demonstrates reduced efficacy of toltrazuril against ovine Eimeria sp in Norway. Int. J. Para. Drugs Resist., 8(2): 304-11 Khác
7. Tan L., Li Y., Yang X., Ke Q., Lei W. and Mughal M.N. (2017). Genetic diversity and drug sensitivity studies on Eimeria tenella field isolates from Hubei Province of China. Parasites & Vectors, 10(1): 1-10 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phân loại cầu trùng gây bệnh ở gà - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Bảng 1.1. Phân loại cầu trùng gây bệnh ở gà (Trang 17)
Hình 1.1. Vòng đời của bệnh cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Hình 1.1. Vòng đời của bệnh cầu trùng (Trang 19)
Bảng 3.2. Khả năng sinh trưởng của gà (n = 100) - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Bảng 3.2. Khả năng sinh trưởng của gà (n = 100) (Trang 35)
Hình 3.1. Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Minh Dư - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Hình 3.1. Sơ đồ sinh trưởng tích lũy của gà Minh Dư (Trang 36)
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Minh Dư - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Hình 3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà Minh Dư (Trang 37)
Hình 3.3. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Minh Dư theo tuần tuổi - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Hình 3.3. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Minh Dư theo tuần tuổi (Trang 40)
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo trạng thái phân (Trang 42)
Bảng 3.6. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Bảng 3.6. Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh cầu trùng (Trang 44)
Bảng 3.7. Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà Minh Dư mắc bệnh cầu trùng - Khảo sát khả năng sinh trưởng và khả năng Điều trị bệnh cầu trùng trên gà
Bảng 3.7. Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà Minh Dư mắc bệnh cầu trùng (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm