ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn chuyển hóa lipid máu hiện nay là một trong những vấn đề đang được y học thế giới quan tâm, nghiên cứu bởi mối liên quan chặt chẽ của nó với bệnh lý tim mạch.. Hiện na
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-
NGUYỄN ĐỖ VÂN ANH
MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIÊN TỎI – FOLATE ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
TRÊN NGƯỜI 30-69 TUỔI TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành: Dinh Dưỡng Tiết Chế
Mã số: 62.72.73.10
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học
1 PGS.TS Nguyễn Xuân Ninh
2 GS.TS Phùng Đắc Cam
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-
NGUYỄN ĐỖ VÂN ANH
MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ
VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIÊN TỎI – FOLATE ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
TRÊN NGƯỜI 30-69 TUỔI TẠI HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
do chính tôi cùng với các đồng nghiệp thực hiện Các
số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Đỗ Vân Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
PGS.TS Nguyễn Xuân Ninh, GS.TS Phùng Đắc Cam, là những người thầy
đã đầu tư nhiều công sức và thời gian hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện bản luận án này
Viện Dinh Dưỡng – cơ quan chủ quản, khoa Dinh dưỡng Học đường và Ngành nghề đã tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận án này
Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Cở sở Đào tạo Sau Đại học Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã tổ chức học tập và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành bản luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Trung tâm Y tế của các phường Hàng Bạc, Ngã Tư Sở, Điện Biên Phủ, Tương Mai và Trương Định cùng như toàn thể đối tượng đã tham gia nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị kỹ thuật viên và xét nghiệm viên của công
ty Công nghệ và Xét nghiệm Y học Bệnh viện MEDLATEC đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc triển khai nghiên cứu tại cộng đồng và phân tích mẫu máu tại labo
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi vô cùng biết ơn gia đình và bạn bè, những người đã hết lòng ủng hộ, động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận án này
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt……….……… i
Danh mục các bảng… ……… iii
Danh mục các hình vẽ ……… iv
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
MỤC TIÊU ……… 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ……… 4
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ LIPID……… 4
1.1.1 Đặc tính của lipid……… 4
1.1.2 Vai trò của lipid……… 5
1.1.3.Tiêu hóa và hấp thu ……… 6
1.1.4 Sử dụng, vận chuyển trong máu ……… 6
1.1.5 Các typ lipoprotein ……… 7
1.1.6 Chức năng của lipoprotein ……… 7
1.1.7 Dự trữ mỡ ……… 8
1.2 LIPID MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG……… 8
1.2.1 Sự điều hòa của nội tiết đối với chuyển hóa lipid……… 8
1.2.2 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến chuyển hóa lipid………… 9
1.2.3 Ảnh hưởng của một số thói quen sinh hoạt đến chuyển hóa lipid…
13
Trang 61.2.4 Thừa cân béo phì và chuyển hóa lipid ……… 20
1.3 RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU……… 23
1.3.1 Định nghĩa rối loạn chuyển hóa lipid máu ……… 23
1.3.2 Phân loại rối loạn chuyển hóa lipid máu……… 23
1.3.3 Tình hình rối loạn chuyển hóa lipid máu……… 25
1.4 HIỂU BIẾT VỀ TỎI VÀ FOLATE……… 27
1.4.1 Thành phần hóa học của tỏi……… 27
1.4.2 Thực trạng nghiên cứu hiệu quả của tỏi đối với RLCHLPM 30
1.4.3 Hiểu biết về folate……… 36
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ………… 39
2.1 GIAI ĐOẠN I……… 39
2.1.1 Mục tiêu……… 39
2.1.2 Thiết kế nghiên cứu ……… 39
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu……….……… 39
2.1.4 Địa điểm nghiên cứu ……… 40
2.1.5 Cỡ mẫu ……… 40
2.1.6 Chọn mẫu ……… 42
2.1.7 Phương pháp thu thập, kỹ thuật thu thập các chỉ tiêu, biến số…… 43
2.1.8 Chỉ tiêu đánh giá ……… 45
2.2 GIAI ĐOẠN II……… 47
Trang 72.2.1 Mục tiêu ……… 47
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu ……… 47
2.2.3 Phân tích số liệu ……… 54
2.3 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU ……… 54
2.4 KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC ……… 55
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ……… 57
3.1 Sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ và tình trạng RLCHLPM…… 57
3.1.1 Đặc điểm hai nhóm nghiên cứu ……… 57
3.1.2 Rối loạn chuyển hóa lipid máu và một số yếu tố nguy cơ………… 58
3.2 Hiệu quả của sử dụng viên tỏi – folate đối với tình trạng RLCHLPM ……
62 3.2.1 Đặc điểm hai nhóm nghiên cứu trước khi can thiệp ……… 62
3.2.2 Sự chấp nhận can thiệp của các đối tượng nghiên cứu ……… 66
3.2.3 Sự thay đổi các chỉ tiêu nhân trắc ……… 69
3.2.4 Sự thay đổi các chỉ tiêu lipid máu ……… 70
3.2.5 Khẩu phần ăn và thói quen luyện tập thể thao của hai nhóm đối
tượng tại thời điểm kết thúc nghiên cứu……… 81
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN……… 84
4.1 Sự kết hợp giữa một số yếu tố nguy cơ và tình trạng RLCHLPM…… 84
4.1.1 Mối nguy cơ thừa cân, béo bụng, % mỡ cơ thể và tình trạng RLCHLPM………
84
Trang 84.1.2 Sự kết hợp giữa một số thói quen sinh hoạt và tình trạng
RLCHLPM………
86
4.1.3 Sự kết hợp giữa khẩu phần ăn và tình trạng RLCHLPM……… 94
4.2 Hiệu quả của sử dụng viên tỏi – folate đối với tình trạng
5.2 Hiệu quả của sử dụng viên tỏi –folate đới với tình trạng
RLCHLPM……
116
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
toàn)
HDL_C High Density Lipoprotein - Cholesterol (Lipoprotein tỷ trọng
cao)
IDF International Diabetes Federation (Hiệp hội đái đường thế giới)
LDL_C Low Density Lipoprotein - Cholesterol (Lipoprotein tỷ trọng
thấp)
MUFA Monounsaturated Fatty Acid (acid béo chưa no có một nối đôi)
NCEP ATP III National Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel
Trang 10III (Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia Mỹ, kênh điều
trị cho người lớn)
PUFA Polyunsaturated Fatty Acid (Acid béo chưa no có nhiều nối đôi)
SFA Saturated Fatty Acid (Acid béo bão hòa hay acid béo no)
VLDL_C Very Low Desity Lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng rất thấp)
TLC Therapeutic Lifestyle Change a diet (Liệu pháp điều trị bằng
thay đổi chế độ ăn)
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Nội dung Trang
3.11 Tình trạng vệ sinh an toàn của viên tỏi – folate dùng trong nghiên cứu 66
3.12 Các biểu hiện của đối tượng ở nhóm can thiệp trong thời gian nghiên cứu 68
3 15 Sự thay đổi nồng độ các chỉ tiêu lipid máu ở hai nhóm nghiên cứu 70
3 19 Thói quen luyện tập thể thao ở hai nhóm nghiên cứu tại T3 83
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình Nội dung Trang
3.1 Tỷ lệ RLCHLPM theo các chỉ tiêu lipid máu ở thời điểm trước can thiệp 63
3.2 Sự khác biệt về nồng độ các chỉ tiêu lipid máu giữa hai nhóm nghiên cứu 71
3.3 Liên quan giữa sự cải thiện nồng độ triglycerid và nồng độ triglycerid ban đầu 72
3.4 Liên quan giữa sự cải thiện nồng độ cholesterol và nồng độ cholesterol ban đầu 73
3.5 Liên quan giữa sự cải thiện nồng độ HDL_C và nồng độ HDL_C ban đầu 74
3.6 Liên quan giữa sự cải thiện nồng độ LDL_C và nồng độ LDL_C ban đầu 75
3.7 Sự thay đổi tỷ lệ RLCHLPM theo chỉ tiêu triglyceride huyết thanh 76
3.8 Sự thay đổi tỷ lệ RLCHLPM theo chỉ tiêu cholesterol huyết thanh 77
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn chuyển hóa lipid máu hiện nay là một trong những vấn đề đang được y học thế giới quan tâm, nghiên cứu bởi mối liên quan chặt chẽ của nó với bệnh lý tim mạch Nghiên cứu rối loạn chuyển hóa lipid máu ngoài việc phục vụ cho điều trị, còn mang một ý nghĩa dự phòng rất lớn đối với nguy cơ tim mạch Bệnh lý tim mạch trong tương lai quan hệ chặt chẽ với hàm lượng cholesterol toàn phần và những tiểu thành phần của nó [35]
Rối loạn chuyển hóa lipid máu do nhiều nguyên nhân, có thể do di truyền hay thứ phát do mắc một số bệnh trong cơ thể hoặc do thói quen ăn uống sinh hoạt… [30] Nguy cơ bị bệnh động mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác càng tăng cao hơn nếu rối loạn chuyển hóa lipid máu đi kèm với các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái đường, thói quen ít vận động và thừa cân, béo phì [124]
Điều trị rối loạn lipid máu sẽ giúp chúng ta tránh được các biến chứng tim mạch nguy hiểm như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim, tránh được các biến chứng khác do bệnh xơ vữa động mạch gây ra như tai biến mạch máu não, tăng tuổi thọ và chất lượng cuộc sống, giảm chi phí điều trị [124] Hiện nay để điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu, bên cạnh việc thay đổi chế độ ăn, chế độ luyện tập, một số thuốc thuộc nhóm statin, những dẫn chất acid fibric, acid nicotinic…đã mang lại hiệu quả trong điều trị, nhưng việc sử dụng thuốc kéo dài gây ra một số tác dụng phụ như rối loạn chuyển hóa, rối loạn tiêu hóa, giảm bạch cầu Mặt khác giá thành của thuốc còn cao, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế của đa số người bệnh [3]
Tỏi được cả thế giới coi như là thực phẩm có lợi cho sức khỏe [134] Tỏi có tác dụng chống nhiễm trùng và chống tắc nghẽn mạch máu, bảo vệ tế bào nội mạc, ức chế quá trình ôxy hóa lipid, giảm các thành phần lipid máu Như vậy có tác dụng bảo vệ hệ thống tim mạch và chống đột quỵ [153] Vai trò của tỏi trong điều trị bệnh đã được
Trang 14chứng minh bằng rất nhiều nghiên cứu trên thế giới, tuy nhiên kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tỏi lên các chỉ tiêu lipid máu vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, còn nhiều mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất Gần đây, vai trò của acid folic và nồng độ homcysteine máu với bệnh tim mạch cũng được giới khoa học quan tâm Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành tăng cường folate bắt buộc vào bột mỳ ngoài mục đích giảm
dị dạng ống thần kinh ở trẻ sinh ra, còn nhằm phòng chống các rối loạn có liên quan đến bệnh tim mạch của cộng đồng [154,86,155]
Ở Việt Nam, tỏi là một thực phẩm gia vị, được trồng và sử dụng rất phổ biến, công dụng của tỏi và liều dùng hầu như chỉ dựa trên kinh nghiệm dân gian Gần đây, một số chế phẩm được sản xuất từ tỏi dưới dạng viên nang, viên nén đã xuất hiện trên thị trường trong nước, nhưng cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của sử dụng tỏi trên người bệnh có rối loạn chuyển hóa lipid máu Do vậy, việc đánh giá hiệu quả của sản phẩm tỏi sản xuất trong nước đối với sự cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu trên người trưởng thành là thực sự cần thiết
Trang 15MỤC TIÊU
1 Mục tiêu chung
Xác định sự kết hợp của một số yếu tố nguy cơ và đánh giá hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu trên người 30-69 tuổi
2 Mục tiêu cụ thể:
2.1 Xác định sự kết hợp giữa một số thói quen sinh hoạt, tình trạng thừa cân, phân bố mỡ trong cơ thể với tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu ở người
trưởng thành (30-69 tuổi) sống ở nội thành Hà Nội
2.2 Đánh giá hiệu quả của sử dụng viên tỏi - folate đối với tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid máu trên người 30-69 tuổi
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ LIPID
1.1.1 Đặc tính của lipid
Lipid gồm nhiều loại khác nhau, nhưng vẫn có một số tính chất chung Về tính
chất lý học, các lipid đều có tỷ trọng nhẹ hơn nước, không tan trong nước (có thể gây
tắc mạch nếu không kết hợp với protein), khi gắn với protein huyết tương để thành
lipoprotein, tùy tỷ lệ của protein tham gia phức hợp, tỷ trọng của LP có thể thay đổi (từ
0,9 đến 1,2) [9]
Về tính chất hoá học, các lipid đều có nhóm rượu (-OH) có thể thực hiện được phản ứng ester hóa với các acid béo: là những acid hữa cơ có nhóm (-COOH) gắn vào một chuỗi dài hydratcarbon với số nguyên tử carbon chẵn, gồm có các nhóm khác nhau
như acid béo no hay acid béo bão hòa (saturated fatty acid) acid béo chưa no có một nối đôi (monounsaturated fatty acid) và acid béo chưa no có nhiều nối đôi (polyunsaturated fatty acid), khi các phân tử carbon mang một số lượng tối đa nguyên
tử hydrogen thì chất béo được gọi là bão hòa (no), nếu thiếu nguyên tử hydrogen thì
chất béo được gọi là chưa bão hòa (chưa no), nếu chỉ thiếu một nguyên tử hydrogen thì
được gọi là chưa bão hòa dạng đơn, nếu thiếu nhiều nguyên tử hydrogen thì được gọi là chưa bão hòa dạng đa [7]
Lipid trong cơ thể gồm 3 nhóm chính [27]
- Triglycerid (hay mỡ trung tính): cấu trúc gồm một phân tử glycerol (rượu bậc 3) được ester hoá với 3 acid béo
- Phospholipid: Trong cấu trúc có phospho, cũng kết hợp với acid béo bằng phản ứng ester hóa
Trang 17- Cholesterol: như tên gọi, thoạt đầu nó được phát hiện trong dịch mật
có nhóm rượu, do vậy có thể tồn tại dưới dạng ester hóa Nhân sterol của nó được cấu thành từ sản phẩm thoái hóa của acid béo
Trong cơ thể lipid tồn tại dưới 3 dạng:
- Dạng cấu trúc: có trong tất cả các tổ chức bao gồm nhiều loại lipid phức tạp, phổ biến là phospholipid
- Dạng dự trữ: tạo nên lớp mỡ dưới da mà thành phần chủ yếu là TG
- Dạng lưu hành: lipid được kết hợp với một loại protein gọi là protein để tạo thành lipoprotein (LP) vận chuyển trong máu và hệ bạch huyết
apo-Ngày nay xét nghiệm lipid toàn phần ít được chỉ định, thay vào đó việc xét nghiệm từng thành phần lipid máu có ý nghĩa hơn nhiều trong chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh [14]
1.1.2 Vai trò của lipid [30]
Lipid có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể:
- Trước hết, nó là thành phần không thể thiếu được của các tế bào
- Rất cần thiết cho sự hình thành tế bào mới trong cơ thể
- Là một thành phần của bào tương và các màng sinh học như màng tế bào, màng ti lạp thể
- Là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể: 1g lipid khi bị đốt cháy trong cơ thể cung cấp 9,3kcal
- Ngoài ra lipid còn là nguồn cung cấp acid béo cho cơ thể
Trang 18- Nhiều loại vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A,E,D,F,K…cơ thể chỉ có thể hấp thu được dưới tác dụng của lipid
1.1.3.Tiêu hóa và hấp thu
Cơ thể người có thể tổng hợp các loại lipid, nhưng nguồn lipid từ thức ăn vẫn rất quan trọng vì cung cấp phần chủ yếu nhu cầu lipid hàng ngày, đồng thời là môi trường hòa tan nhiều loại vitamin để cơ thể có thể hấp thu được Nhu cầu lipid phụ thuộc và tuổi, tính chất lao động, khí hậu…
Lipid được tiêu hóa ngay từ tá tràng: lipase của dịch tụy và ruột làm đứt toàn bộ hay một phần số dây nối ester (tách acid béo thành dạng tự do) để hấp thu vào cơ thể theo tĩnh mạch cửa (qua gan) Tuy nhiên, phần quan trọng nhất lipid được hấp thu nhờ muối mật, có tác dụng biến lipid thành dạng nhũ tương hay còn gọi là chylomicron, có thể hấp thu theo đường bạch mạch ruột vào tuần hoàn chung (không qua gan) Bữa ăn nhiều lipid có thể làm huyết tương trở thành đục vì nhiều chylomycron
1.1.4.Sử dụng, vận chuyển trong máu
Triglycerid được sử dụng trong cơ thể chủ yếu như nguồn năng lượng tương tự vai trò của glucid còn phospholipid, cholesterol (và một số ít TG) chủ yếu sử dụng để tạo ra cấu trúc tế bào và thực hiện một số chức năng Cholesterol còn là nguyên vật liệu ban đầu để tạo vitamin D, hormon sinh dục, thượng thận và muối mật…
Chylomicron bị cơ thể loại trừ ra khỏi máu khoảng 1 giờ bằng cách đưa qua vách mao mạch để vào gan và mô mỡ
Để được sử dụng như nguồn năng lượng cho cơ thể, việc đầu tiên TG trong mô
mỡ phải được thủy phân thành acid béo tự do (free fat acide = FFA), còn gọi là acid béo không ester hóa, đưa ra máu gắn với albumin để tới nơi sử dụng (chủ yếu là tới gan)
Trang 19Không kể chylomicron chỉ tồn tại ngắn sau bữa ăn và FFA thì 95% lipid máu có
mặt và vận chuyển dưới dạng LP, kích thước nhỏ hơn chylomicron rất nhiều (không
làm đục huyết tương) Thành phần của LP gồm: protein, triglycerid, phospholipid và
cholesterol Tuy nhiên, LP máu là một hỗn hợp gồm nhiều typ, mỗi typ có tỷ lệ khác nhau cấu thành
1.1.5.Các typ lipoprotein
Hầu hết lipoprotein được tạo thành ở gan, vì hầu như toàn bộ mỡ trong máu do gan sản xuất, trừ TG của chylomicron là do hấp thu từ ruột Gan cũng chính là nơi sản xuất loại protein chuyển chở lipid, gọi là apo-protein
Có các typ lipoprotein sau:
o Chylomicron: tỷ trọng 0,93, không di chuyển khi điện di, tồn tại ngắn hạn
o LP tỷ trọng rất thấp (VLDL_CP): gồm 90% là lipid (50% là TG nội sinh), protein chỉ chiếm 10%
o LP tỷ trọng thấp (LDL_C): 75% lipid, chủ yếu là cholesterol và phospholipid, rất ít TG
o LP tỷ trọng trung gian (IDL) chứa chủ yếu TG nội sinh và cholesterol
o LP tỷ trọng cao (HDL_C): được chia thành HDL_C2 và HDL_C3 (do tỷ trọng) chứa 50% lipid, 50% protein
1.1.6.Chức năng của lipoprotein
Chủ yếu là vận chuyển các loại lipid đi khắp cơ thể Giúp cho lipid không bị vón
tụ lại làm giản nguy cơ tắc mạch Triglycerid sau khi được sản xuất ở gan từ glucid và
ra khỏi gan dưới dạng VLDL_C để tới mô mỡ và sau khi trao đổi phần lớn TG cho mô
mỡ thì tỷ trọng tăng lên và biến thành IDL rồi LDL_C, gồm đa số là cholesterol, phospholipid Sau khi trao cholesterol cho các tế bào (theo nhu cầu), LDL_C biến
Trang 20thành HDL_C là dạng vận chuyển cholesterol khỏi các mô ngoại vi để về lại gan (nếu
mô thừa chất này) do vậy typ HDL_C đóng vai trò quan trọng giảm nguy cơ vữa xơ động mạch
1.1.7 Dự trữ mỡ
Mô mỡ, gồm chủ yếu các tế bào mỡ là nơi dự trữ triglycerid của cơ thể
Tế bào mỡ: tạo thành mô mỡ có khả năng lưu giữ lipid chiếm 80-90% thể tích tế bào Ngoài khả năng thu nhận lipid hấp thu ở ruột, nó cũng có khả năng sản xuất một lượng nhỏ acid béo và TG từ glucid, bổ sung không đáng kể cho sự tổng hợp tương tự
ở gan Hầu hết lipid trong cơ thể chứa ở mô mỡ, gan và một số nơi khác Chức năng là cung cấp TG cho cơ thể như một nguồn năng lượng, ngoài ra còn có chức năng giữ nhiệt
Mô mỡ nhận được TG từ gan dưới dạng đã bị thủy phân, nhờ một số enzym
lipase, gọi là lipase mô phụ thuộc hormon (để phân biệt với lipase tụy, ruột, gan), mô
mỡ có thể đưa TG vào máu sau khi đã thủy phân nó Quá trình này diễn ra thường xuyên với tốc độ cao làm cho mô mỡ trong cơ thể hoàn toàn đổi mới sau 2-3 tuần Gan không phải kho lipid của cơ thể mà là nơi chủ yếu chuyển hóa chúng Nhiệm
vụ của gan trong chuyển hóa lipid gồm: thoái hóa FFA thành các mảnh nhỏ sau đó tạo
thành thể cetonic là các dạng tế bào ưa sử dụng (tạo năng lượng), tổng hợp acid béo và
TG chủ yếu từ glucid và một phần nhỏ từ protid, tổng hợp các lipid (chủ yếu
cholesterol, phospholipid) từ mẩu 2C nguồn gốc từ TG Tế bào gan ngoài chuyển hóa
TG còn chuyển hóa cholesterol, phospholipids do chính nó liên tục tổng hợp ra
1.2 LIPID MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.2.1.Sự điều hòa của nội tiết đối với chuyển hóa lipid
Hormon làm tăng thoái hóa lipid: tối thiểu có 7 hormôn làm tăng sử dụng lipid
trong cơ thể mạnh mẽ nhất là adrenalin, rồi đến noradrenalin (khi hưng phấn giao cảm,
Trang 21vận cơ) vì tác dụng trực tiếp trên các lipase phụ thuộc hormon của mô mỡ tạo ra huy
động rất nhanh và rất mạnh mẽ Các stress cũng có tác dụng tương tự chính là thông
qua hệ giao cảm như thế Ngoài ra stress còn làm tăng tiết corticoid (ACTH) và sau đó
là glucocorticoid (chủ yếu cortisol) cả hai đều hoạt hóa enzym lipase phụ thuộc
hormon để giải phóng FFA khỏi mô mỡ, GH cũng gây huy động nhanh nhưng gián tiếp qua sự tăng chuyển hóa ở mọi tế bào cơ thể để huy động FFA ở mức trung bình, cuối cùng hormon giáp trạng cũng tác dụng gián tiếp qua sự sản xuất nhiệt ở các tế bào cơ thể
Hormon kích thích tổng hợp triglycerid:
o Insulin giúp glucid nhanh chóng vào tế bào và sử dụng, đẩy mạnh chu trình pentose cung cấp NADPH2 làm tăng cao các mẩu actyl-CoA và hydro, là những nguyên liệu chính tổng hợp acid béo Isulin còn ức chế hoạt động adenyl-cyclase, ức chế tổng hợp AMP vòng làm giảm hoạt động TG lipase, giảm thoái hóa lipid
o Prostaglandin E: PGE1 có tác dụng chống thoái hóa, tăng tổng hợp lipid giống như insulin nhưng yếu hơn
1.2.2 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến chuyển hóa lipid
Những bằng chứng dịch tễ học cho thấy có mối liên quan dương tính giữa chế
độ ăn với nồng độ lipid máu cũng như tỷ lệ mắc bệnh tim mạch Nghiên cứu thuần tập trên 5.251 nam, nữ 40-69 tuổi ở Hàn quốc cho thấy chế độ ăn uống khỏe mạnh bao gồm đa dạng thực phẩm, như cá, hải sản, rau, tảo biển, thức ăn chứa nhiều protein, trái cây, sản phẩm từ sữa, có mối liên quan ngược với hội chứng chuyển hóa Hiệu quả có lợi xuất phát từ mối liên quan ngược với béo bụng, HDL_C thấp, glucose tăng cao Nghiên cứu chỉ ra việc đa dạng hóa thực phẩm nên được khuyến nghị để ngăn ngừa HCCH [40] Nghiên cứu thử nghiệm có đối chứng thông qua việc cung cấp tư vấn chế
độ ăn Kết quả: tháng thứ 3, nhóm A (được tư vấn từ tháng thứ 1) giảm LDL_C Tháng
Trang 22thứ 6, LDL_C của nhóm A vẫn tốt hơn nhóm B (nhóm B bắt đầu được tư vấn tháng
thứ 3) Điểm chế độ ăn nhóm A cải thiện ở tháng thứ 3 và tiếp tục tăng vào tháng thứ 6,
nhóm B có sự cải thiện chế độ ăn nhiều nhất vào tháng thứ 6 Không có sự thay đổi có
ý nghĩa mức HDL_C ở cả hai nhóm [95]
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng thành phần chất béo và hàm lượng cholesterol của khẩu phần ăn có tác dụng tới sự thay đổi cholesterol máu [6,54,96,151,161] Vấn đề không chỉ là do số lượng chất béo mà là tương quan giữa các thành phần chất béo trong khẩu phần Tổng chất béo không có vai trò quan trọng đến lipid máu bằng loại chất béo, cụ thể là acid béo no và acid béo thể trans Ảnh hưởng của các acid béo no lên chuyển hóa cholesterol là không giống nhau Acid stearic (18:0) và acid béo no dưới 12 nguyên tử carbon được cho là không làm tăng nồng độ cholesterol huyết thanh Các acid béo no Lauric C 12:0, myristic C 14:0 và palmitic C 16:0 được cho là làm tăng cholesterol và LDL_C Tuy nhiên 3 acid này có ảnh hưởng khác nhau lên nồng độ cholesterol huyết thanh Kết quả nghiên cứu thử nghiệm bằng việc kiểm soát chế độ ăn cho thấy acid lauric ít ảnh hưởng hơn acid myristic và acid palmitic [113] Các acid béo chưa no có nhiều nối kép (từ 2 trở lên) có tác dụng làm hạ cholesterol còn các acid béo chưa no có một nối kép có tác dụng làm giảm cholesterol tổng số và LDL_C [15]
Acid béo no có nguồn gốc từ mỡ động vật (thịt và các sản phẩm của thịt) cá biệt từ
một số loại thực vật như dầu dừa Acid béo không no chứa trong đậu, lạc, vừng và các dầu thực vật Mỡ thực vật chứa rất ít cholesterol, nên ít gây hại cho hệ thống tim mạch Trong một số loài cá như cá hồi, cá thu, cá trích có chứa loại acid béo không no là acid béo omega-3 Theo một số công trình nghiên cứu, nếu một tuần ăn 3 bữa loại cá này sẽ giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Tóm lược các bài trình bày của những nghiên cứu gần đây nhất tại Hội nghị sinh học thực nghiệm năm 2011 về mối liên quan giữa cholesterol khẩu phần và nguy cơ bệnh tim mạch Hơn 50 năm qua, rất nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy chất béo và
Trang 23cholesterol khẩu phần có mối liên quan dương tính với bệnh tim mạch Tuy nhiên, trong những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã không ủng hộ cho mối liên quan này Hơn thế nữa, nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc tiêu thụ trứng trong thời gian dài đã không gây ảnh hưởng lên những dấu hiện khác nhau của bệnh tim mạch Số liệu cho thấy ảnh hưởng của khẩu phần ăn cholesterol thấp lên mức LDL_C là rất ít so với khẩu phần khác và các thói quen sống Cần quan tâm xem xét phối hợp thực phẩm có lợi cho sức khỏe để đáp ứng nhu cầu cholesterol khuyến nghị trong khẩu phần hiện nay [92]
Các nước Châu Âu, Úc, Canada, New Zealand, Hàn Quốc và Ấn Độ không đưa
ra giới hạn cao đối với cholesterol khẩu phần trong lời khuyên dinh dưỡng của họ Mặc
dù nhiều nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng sự thay đổi cholesterol khẩu phần có thể làm
tăng LDL_C huyết tương ở những người nhạy cảm với cholesterol khẩu phần (chiếm
khoảng ¼ dân số) HDL_C cũng tăng dẫn đến duy trì tỷ lệ LDL_C/HDL_C, yếu tố chỉ
điểm cho nguy cơ tim mạch Những bằng chứng từ các nghiên cứu dịch tễ học và từ những thử nghiệm lâm sàng sử dụng những loại cholesterol khác cho thấy những khuyến cáo về việc giới hạn cholesterol khẩu phần nên được xem xét lại [62]
Chất xơ là phần dự trữ và thành phần tế bào poly saccharid của thực vật không
bị phân hủy bởi men tiêu hóa, bao gồm cellulose, hemicellulose, pectin và lignin, có mặt trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật gồm chất xơ từ rau quả và vỏ của các hạt ngũ cốc Cơ thể không thể tiêu hóa được chất xơ Chất xơ phân thành 2 loại hòa tan và không hòa tan, cả hai đều có lợi Giảm LDL_C là một trong các lợi ích của việc khẩu phần ăn có mặt chất xơ Ăn cả hai loại chất xơ giúp tăng lượng chất xơ khẩu phần Chất xơ hòa tan trong hệ tiêu hóa giúp đào thải trực tiếp cholesterol theo phân Tại ruột non, chất xơ gắn kết các phân tử cholesterol thành khối do đó ngăn cản quá trình hấp thu cholesterol vào máu và bám vào thành mạch Chất xơ hòa tan hấp thu nước tạo thành dạng gel làm tăng cảm giác no, điều này giúp giảm cân Giảm cân cũng giúp
Trang 24giảm cholesterol Mặc dù chất xơ không hòa tan không có hiệu quả trực tiếp lên cholesterol, nó giúp giảm cholesterol bằng cách tham gia kiểm soát cân nặng Người thừa cân, chất xơ không hòa tan giúp giảm cân bằng cách gây cảm giác no khi ăn khẩu phần năng lượng thấp Một số thực phẩm cung cấp chất xơ không hòa tan đó là: bánh
mỳ trắng, ngũ cốc, cám, lúa mạch đen, gạo, lúa mạch, cải bắp, củ cải, củ cải đường, cà rốt, súp lơ, vỏ táo Tiêu thụ chất xơ với lượng vừa phải rất quan trọng để giảm cholesterol [106]
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của chất xơ trong chế độ ăn với nguy
cơ của bệnh tim mạch và mối liên quan giữa chất xơ với chuyển hóa lipid, chuyển hóa glucose và các giá trị sinh học khác [96,151,161]
Protein thực vật đặc biệt là protein nguồn đậu đỗ có hiệu quả giảm nguy cơ tim mạch Đạm động vật lại có mối quan hệ có ý nghĩa với acid béo no và cholesterol là hai yếu tố đặc biệt gây ra tăng cholesterol máu và xơ vữa động mạch Vitamin, chất khoáng và vi khoáng có liên quan chặt chẽ với bệnh mạn tính Các nhà khoa học đã tìm thấy vai trò quan trọng của các vitamin như vitamin C, E, beta-caroten như là những chất chống oxy hóa tự nhiên mạnh nhất giúp cơ thể con người chống lại các tác nhân oxy hóa có hại, nguyên nhân gây ra nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm như bệnh tim mạch, ung thư…[17]
Hành vi ăn uống của con người vừa đa dạng vừa khó đo lường một cách chính xác Kết quả thu được từ những nghiên cứu thực nghiệm trên động vật không phải lúc nào cũng giống với người Mặt khác thời gian của một nghiên cứu thử nghiệm thường không đủ dài để có được kết luận đúng đắn Tuy vậy, kết quả thu được cũng giúp cho những chỉ dẫn bổ ích cho dinh dưỡng dự phòng Liệu pháp điều trị bằng thay đổi chế
độ ăn (Therapeutic Life Style change a Diet) đã được Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đưa
ra những hướng dẫn cụ thể giúp nâng cao sức khỏe tim mạch [34]
- Giới hạn acid béo no ở mức dưới 7% tổng năng lượng khẩu phần
Trang 25- Cholesterol khẩu phần dưới 200 mg/ngày
- Tổng chất béo không vượt quá 30% tổng số năng lượng khẩu phần
- Acid béo chưa no có nhiều nối kép trong khẩu phần đạt mức 10% và acid béo chưa no có một nối kép đạt mức 20% năng lượng khẩu phần
- Khẩu phần cung cấp từ 10-20g chất xơ hòa tan/ngày
1.2.3 Ảnh hưởng của một số thói quen sinh hoạt đến chuyển hóa lipid
Luyện tập thể thao:
Theo Arixtot: “Không có gì làm tổn thương và phá hủy con người bằng sự thiếu
vận động” Hội nghị Tim mạch Việt Nam tổ chức vào tháng 12/1997 đã kết luận:
“Bệnh tim mạch đang gia tăng ở Việt Nam, không chỉ gặp ở người già mà còn gặp ở
người trẻ tuổi Ngoài các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch như di truyền, giới tính, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, dinh dưỡng không hợp lý…còn có nguyên nhân thiếu vận động” Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy ít vận
động thể lực thường kèm theo tăng trọng lượng cơ thể và tăng cholesterol máu Ở những người lao động chân tay hoặc thường xuyên rèn luyện thể lực, cơ tim có khả năng thích ứng tốt hơn khi gắng sức, làm giảm thiểu lượng LDL_C, đồng thời tăng HDL_C, làm tiểu cầu ít bị kết dính nên ít có khả năng đông vón máu [30] Tập lyện rèn sức bền có tác dụng điều hòa lượng mỡ máu như giảm lượng cholesterol, TG và làm tăng lượng HDL_C, giảm xơ vữa động mạch, giảm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim Trên
cơ sở theo dõi nhiều năm đối với bệnh nhân thiểu năng mạch vành, một số nhà khoa
học (Selvester, 1997; Gogchia, 1980, Cowan, 1983, K.Cooper,1987…) đã chứng minh
rằng có thể kìm hãm sự phát triển của XVĐM ở các bệnh nhân mạch vành khi tập luyện thường xuyên các bài tập Các bài tập này có tác dụng hoạt hóa sự trao đổi mỡ trong cơ thể, giảm hàm lượng LDL_C và tăng HDL_C [2] Một số cơ chế liên quan giữa tập luyện và tình trạng cholesterol huyết thanh đó là, tập luyện kích thích các
Trang 26enzyme giúp vận chuyển LDL_C từ máu và thành mạch về gan Từ đó, cholesterol được chuyển vào trong đường mật để tiêu hóa hoặc bài tiết ra ngoài Tập luyện làm tăng kích thước của các hạt lipoprotein Trong đó, một số có kích thước nhỏ và dày đặc, một số kích thước lớn hơn Các lipoprotein có kích thước nhỏ dày đặc nguy hiểm hơn kích thước lớn, do nó có thể dễ dàng chui vào lớp nội mạc của tim và thành mạch máu [49]
Tập luyện thể dục thể thao mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, để việc luyện tập mang lại hiệu quả phòng chống bệnh tật, đặc biệt là bệnh tim mạch, việc thiết lập một chương trình tập luyện là điều hết sức quan trọng [2] Hiệu quả đối với bệnh tim mạch của một chương trình luyện tập được quy định bởi một loạt các yếu tố như: loại bài tập, cường độ và khối lượng vận động, tần số buổi tập và phương pháp luyện tập Theo Fábio, tổng số năng lượng tiêu hao trong quá trình tập luyện có thể điều chỉnh quá trình chuyển hóa lipid ở gan [59] Ferguson và cộng sự cho thấy năng lượng tiêu hao sau mỗi bài tập có mối liên quan với tình trạng lipid máu Số liệu cho thấy tập luyện ở cường độ trung bình, năng lượng tiêu hao từ 1.100-1.500 kcal, ảnh hưởng nhiều đến nồng độ lipid máu so với tập luyện với mức tiêu hao năng lượng thấp hơn Do vậy, cường độ tập có thể là yếu tố quan trọng giúp điều chỉnh tình trạng lipid máu [108]
Trong phân tích có hệ thống 31 nghiên cứu thử nghiệm trên 1.833 đối tượng
bình thường và RLCHLPM nhằm xác định hiệu quả của tập luyện (aerobic và bài tập
rèn luyện sức bền), chương trình tập luyện hiệu quả nhất với thời gian, cường độ, tần
số luyện tập để tối ưu hóa tình trạng lipid máu Kết quả cho thấy, cường độ tập của các chương trình aerobic khác nhau có ảnh hưởng không giống nhau lên các chỉ tiêu lipid máu, nhưng việc tập luyện thường xuyên không mang lại hiệu quả cao hơn so với thời gian tập luyện 3 lần/tuần Bằng chứng về hiệu quả của các bài tập rèn luyện sức bền vẫn chưa rõ ràng [94] Tập Aerobic được cho là làm giảm nguy cơ tim mạch thông qua việc tăng HDL_C huyết thanh Một phân tích khác dựa trên 25 kết quả nghiên cứu cho
Trang 27thấy hiệu quả thay đổi HDL_C Để tăng HDL_C, việc tập luyện tiêu hao tối thiểu 900 kcal/tuần với 120 phút/tuần Kết quả phân tích hồi quy cho thấy trong một lần tập cứ
kéo dài mỗi 10 phút thời gian luyện tập sẽ làm tăng khoảng 1,4mg/dl (0,036mmol/l)
HDL_C Tác giả đưa ra kết luận, tập aerobic thường xuyên làm tăng đáng kể HDL_C Thời gian của mỗi lần tập là yếu tố quan trọng nhất khi xây dựng chương trình luyện tập Tập luyện mang lại hiệu quả hơn đối với những đối tượng có BMI thấp và CT cao [94] Bên cạnh thời gian của mỗi lần tập, tần xuất tập thì quãng thời gian tập hay việc duy trì tập luyện hết sức quan trọng Một số công trình nghiên cứu cho thấy trên 60%
số người lớn bắt đầu chương trình tập luyện đã bỏ tập ngay trong tháng đầu tiên khi mà hiệu quả rèn luyện đạt chưa đáng kể [2]
Hoạt động thể lực với cường độ thấp (đứng và đi bộ) trong thời gian dài giúp
cải thiện insulin và lipid huyết tương hơn là tập luyện với cường độ trung bình và nặng
(đạp xe), khi mà tiêu hao năng lượng có thể so sánh được Duvivier tiến hành nghiên
cứu trên 18 đối tượng khỏe mạnh, theo 3 chương trình tập luyện: chương trình (1) ngồi
14 tiếng/ngày; (2) ngồi 13 tiếng và 1 tiếng tập nặng; (3) ngồi 6 tiếng, 4 tiếng đi bộ, 2 tiếng đứng TG, HDL_C, CT, apolipoprotein B huyết tương cải thiện đáng kể trong nhóm có chương trình hoạt động thể lực với cường độ nhẹ, so với nhóm ngồi Ông cho rằng, tăng thời gian dành cho đứng và đi bộ hiệu quả hơn một tiếng luyện tập nặng, khi
mà tiêu hao năng lượng giữ ở mức hằng định [57]
Hoạt động thể lực có mối liên quan với bệnh lý tim mạch, tuy nhiên, khối lượng tập là bao nhiên để mang lại hiệu quả? Nghiên cứu thử nghiệm có đối chứng trên 111 đối tượng cả nam lẫn nữ thừa cân trong thời gian 8 tháng Các chế độ luyện tập sử dụng trong nghiên cứu là: (1) khối lượng và cường độ cao, năng lượng tiêu hao tương đương với chạy bộ 20 dặm (32,0 km)/tuần, 65 đến 80% oxy tiêu thụ; (2) khối lượng thấp và cường độ cao, năng lượng tiêu hao tương đương với chạy bộ 12 dặm (19,2 km)/tuần, 65 đến 80% oxy tiêu thụ (3) khối lượng thấp và cường độ trung bình, năng
Trang 28lượng tiêu hao tương đương với chạy bộ 12 dặm (19,2 km)/tuần, 40 đến 55% oxy tiêu thụ Các đối tượng được khuyến khích duy trì cân nặng như ban đầu Kết quả cho thấy, tập luyện mang lại hiệu quả cho các chỉ tiêu lipid máu, rõ nét nhất là chế độ tập luyện với khối lượng cao, chế độ luyện tập này mang lại kết quả tốt hơn so với chế độ luyện tập khối lượng thấp Tuy nhiên cả hai chế độ luyện tập với khối lượng thấp vẫn mang lại lợi ích đối với tình trạng lipid máu hơn so với nhóm chứng Vậy sự cải thiện lipid máu liên quan đến khối lượng tập luyện, không liên quan đến cường độ tập hay sự cải thiện cân nặng trong quá trình luyện tập [79]
Hiệu quả tập luyện còn được quy định bởi mức độ RLCHLPM Couillard và cộng sự cho rằng việc tập luyện thường xuyên kéo dài đặc biệt có lợi cho những đối tượng nam giới có nồng độ HDL_C ban đầu thấp, TG cao và béo bụng khi tiến hành so sánh đáp ứng của các chỉ tiêu lipid huyết thanh với chương trình tập luyện thường xuyên kéo dài trong 20 tuần giữa các nhóm nam giới [51]
Hút thuốc lá:
Từ năm 1940, người ta đã tìm thấy có mối liên hệ giữa hút thuốc lá và nguy cơ
bị bệnh tim mạch Dù hút một vài điếu thuốc trong ngày cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch Mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch không chỉ thấy ở cả hai giới, trong lớp trẻ và người già mà còn thấy ở tất cả các chủng tộc Hút thuốc lá không những làm tăng nguy cơ mắc bệnh mà nó còn tương tác với các yếu tố khác làm tăng nguy cơ lên gấp nhiều lần Theo ước tính của Law M thì cứ 1% nồng độ lipid máu tăng sẽ đi cùng với tăng 2,7% nguy cơ bệnh tim mạch [104]
Cơ chế thuốc lá làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch vẫn chưa rõ ràng Các nghiên cứu về sinh lý bệnh đã đưa ra cơ chế chung mà qua đó khói thuốc có thể gây nên bệnh tim mạch Những người hút thuốc có tăng nồng độ các sản phẩm oxy hóa bao gồm cả cholesterol, LDL_C oxy hóa và làm giảm nồng độ HDL_C Những yếu tố này cùng với
Trang 29các ảnh hưởng trực tiếp của CO2 và nicotine gây tổn thương nội mạch Tuy nhiên bằng chứng từ những nghiên cứu để công nhận giả thuyết này vẫn chưa đầy đủ [90]
Năm 1993, nghiên cứu tại Nhật của Nagoya J trên 726 công nhân giao thông đô thị để tìm mối liên quan giữa nồng độ HDL_C và cholesterol toàn phần Kết quả cho thấy, hút huốc lá không có mối liên quan với nồng độ cholesterol >230md/dl, nhưng khi hút từ 1-20 điếu/ngày hoặc ≥21 điếu/ngày sẽ làm tăng nguy cơ HDL_C<40mg/dl lên 1,9 lần (95% CI: 1,1-3,26) hoặc 2,27 lần (95% CI: 1,27- 4,05) so với những người không hút thuốc [119]
Năm 1995, Jacobson BH với mục tiêu xác định mối liên quan độc lập giữa số lượng thuốc hút và nồng độ TC, HDL_C ở phụ nữ trong nghiên cứu với 805 đối tượng
nữ cho thấy, có sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ TC giữa nhóm hút thuốc ở mức độ
nặng với tất cả các nhóm còn lại (p<0,01), nồng độ HDL_C ở nhóm hút thuốc nặng và
trung bình thấp hơn hẳn so với nhóm không hút Jacobson đi đến kết luận hút thuốc ở mức trung bình và nặng là nguy cơ độc lập với TC cao và HDL_C thấp, ngừng hoặc bỏ hút thuốc ở phụ nữ có mối liên quan với các chỉ tiêu lipid máu theo chiều hướng có lợi [85]
Năm 2002, trong một nghiên cứu thuần tập tìm hiểu ảnh hưởng của thói quen hút thuốc lên các chỉ tiêu CT, LDL_C, HDL_C và TG Bốn trăm chín hai đối tượng trong độ tuổi 26-66 bị RLCHLPM đươc đưa vào nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, hút thuốc gây ảnh hưởng bất lợi đến nồng độ LDL_C, HDL_C và TG của cả nam lẫn nữ, không phân biệt tuổi tác [139]
Năm 2006, nghiên cứu của O.A.Adedeji cho thấy nồng độ cholesterol toàn phần trung bình của người hút thuốc cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nồng độ này ở những người không hút thuốc Không tìm thấy sự khác biệt đối với các chỉ tiêu lipid máu khác [125]
Trang 30Năm 2012, trong một nghiên cứu tại Ấn Độ trên 100 đối tượng trong đó, 25 đối tượng thuộc nhóm I – không hút thuốc lá và 75 đối tượng thuộc nhóm II - hút thuốc lá,
các đối tượng của nhóm II lại được phân loại theo thời gian và cường độ hút (mức nhẹ:
10-15 điếu/ngày trong từ 1 đến 5 năm; mức trung bình: 16-20 điếu/ngày trong 6-10 năm; mức nặng: trên 20 điếu/ngày trong thời gian trên 10 năm) Kết quả cho thấy,
nồng độ TC, TG, LDL_C và HDL_C trung bình ở nhóm hút thuốc ở các mức độ đều
cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê (p<0,001) so với nhóm không hút thuốc [56]
Uống bia rượu
Trong nhiều thập kỷ qua, tác động của ethanol lên quá trình tổng hợp, đào thải
và oxy hóa lipid đã được phát hiện Gần đây nghiên cứu của Margaret Sozio cho thấy vai trò của hệ miễn dịch tự nhiên trong gan và tác động của nó lên quá trình chuyển hóa lipid, nghiên cứu cũng nhận ra nhiều yếu tố trong hệ tuần hoàn có thể ảnh hưởng đến sự đáp ứng của gan đối với ethanol, đa tác động của ethanol lên gan cũng như các
bộ phận khác trong cơ thể [110]
Một số nghiên cứu dịch tễ học đã đưa ra những kết luận trái ngược về tác động của tiêu thụ rượu lên bệnh tim mạch Sự biến đổi giữa nguy cơ và lợi ích của rượu ở mỗi cá nhân là không giống nhau và còn tùy thuộc vào số lần uống, lượng uống…
Các nghiên cứu thực nghiệm Đông Tây cũng nêu ra nhiều tác dụng tích cực của rượu như kích thích khẩu vị, giảm cholesterol, ý kiến về ảnh hưởng của rượu lên các loại chất béo vẫn chưa được hoàn toàn thống nhất Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bia có thể làm tăng mức HDL_C và giảm LDL_C, theo Peter Cremer của Đại học Gottingen (Đức) rượu chỉ tốt với người có mức độ cholesterol thấp còn với những người có mức cao >230mg/dl thì không có lợi; rượu làm giảm nguy cơ ung thư, theo nghiên cứu của Nhật ăn thịt nướng có chất gây ung thư thuộc nhóm Has, nhưng khi dùng chung với rượu cất bằng men chế từ cây hoa bia thì nguy cơ này giảm Kết quả nghiên cứu vào năm 2004 của đại học Albert Einstein - New York cho biết rằng nếu
Trang 31uống dưới 45ml rượu mỗi ngày có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường Rượu có thể mang lại tác dụng tích cực nếu được dùng vừa phải hạn chế, lạm dụng rượu bia sẽ mang lại hậu quả tiêu cực như gây nghiện, theo American Cancer Society, người uống trên 45ml rượu mạnh mỗi ngày có nhiều nguy cơ bị ung thư miệng, cuống họng…Nghiên cứu tại University of Okalahoma cho thấy uống nhiều hơn 525 ml bia mỗi ngày thì có nhiều nguy cơ bị ung thư trực tràng Rượu làm tăng tế bào mỡ quanh vùng bụng và tăng cholesterol máu [7]
Nghiên cứu của Van der Gaag MS năm 2001 cho thấy tiêu thụ rượu ở mức trung
bình (30g/ngày) làm tăng khoảng 4mg/dl nồng độ HDL_C và apoA-I 8,82 mg/dl, cùng
với việc làm giảm nguy cơ BTM ước tính vào khoảng 24,7% [139] Hơn thế nữa rượu làm giảm sự thoái hóa HDL_C, tác động lên quá trình chuyển hóa LDL_C ở gan theo chiều hướng có lợi cho sức khỏe [150]
Số liệu điều tra của Reynolds K và cộng sự năm 2003 cho thấy, tỷ lệ đột quỵ do xuất huyết não, nhồi máu não trên những người uống nhiều rượu cao hơn so với những người không uống rượu [132] Thêm vào đó, tỷ bệnh tật được cho là có liên quan đến việc tiêu thụ rượu như đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh tim mạch, tai biến mạch máu não ngày càng tăng [63, 126]
Filmore và cộng sự đã mô tả ảnh hưởng của rượu đối với BTM trong phân tích meta, những người tiêu thụ rượu ở mức độ nhẹ, trung bình và điều độ cho thấy nguy cơ
tử vong do bất cứ BTM nào là như nhau [63] Gần đây, Chen và cộng sự cho thấy nồng
độ TG cao ở những người tiêu thụ rượu 10g/ngày Tiêu thụ trên 50g/ngày làm giảm đáng kể nguy cơ HDL_C giảm, nhưng nguy cơ nồng độ cholesterol toàn phần cao lại tăng lên [47]
Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lương Hạnh thì nguy cơ RLCHLPM theo chỉ tiêu cholesterol sẽ tăng lên 1,22 lần ở những người lạm dụng rượu bia [10] Phạm Thị Dung khi đánh giá ảnh hưởng của lạm dụng rượu bia đối với
Trang 32HCCH cho thấy, nam giới lạm dụng rượu bia có nguy cơ mắc HCCH cao hơn nhóm không lạm dụng 4 lần [5]
Sự biến đổi giữa nguy cơ và lợi ích của rượu là không giống nhau đối với từng người, việc sử dụng rượu như là một công cụ để bảo vệ tim mạch không nên khuyến khích như là một giải pháp sức khỏe cộng đồng [53]
1.2.4 Thừa cân béo phì và chuyển hóa lipid
Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra định nghĩa thừa cân và béo phì như sau: “Thừa cân
là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe” [16]
Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body Mass Index -
BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành vì nó có tính khoa học
cao, dễ áp dụng, lại đơn giản và rẻ tiền [156]
Cân nặng (kg) BMI = -
Chiều cao 2 (m) Gần đây, cơ quan khu vực Thái Bình Dương của WHO (WPRO) và hội nghiên cứu béo phì quốc tế đã phối hợp với Viện nghiên cứu Bệnh đái tháo đường Quốc tế (IDI), Trung tâm hợp tác dịch tễ học đái tháo đường và các bệnh không lây của WHO
đã đưa ra khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại béo phì cho cộng đồng các nước Châu á (IDI & WPRO, 2000) như sau [81]:
Trang 33Đánh giá thừa cân và béo phì của WHO (1998) và của IDI &WPRO (2000)
40,0
23,0 23,0 - 24,9 25,0 - 29,9
30,0
Thừa cân và béo phì là một trong những yếu tố thúc đẩy phát sinh các bệnh lý như đái tháo đường, tim mạch, ung thư Hậu quả này là do sự tăng khối mỡ và tăng kích thước các tế bào mỡ Khi mô mỡ gia tăng nhanh chóng và không cân đối, nó sẽ làm thay đổi các hoạt động bình thường của mô mỡ, từ đó dẫn đến rối loạn chuyển hóa trong cơ thể Hiện nay, theo một số tác giả khi phần trăm mỡ cơ thể >25% đối với nam
và >30% đối với nữ được coi là ngưỡng nguy cơ đe dọa sức khỏe [16]
Sự phân bố mỡ trong cơ thể cũng được quan tâm: Có 2 dạng phân bố, mà dựa
vào đó người ta phân loại béo phì, đó là béo phì trung tâm (béo phì dạng quá táo) và béo phì ngoại biên (béo phì dạng quả lê) Trong béo phì trung tâm, mô mỡ ứ đọng ở
quanh bụng và nội tạng, trong khi đó béo phì ngọai biên là tình trạng ứ đọng mỡ ở vùng mông và đùi Đối với nhóm béo bụng, người ta nhân thấy có một mối liên quan giữa ứ đọng mỡ bụng với rối loạn chuyển hóa mỡ trong cơ thể Người béo phì trung tâm thường mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư nhiều hơn người béo phì ngoại biên [70]
Trang 34Tỷ số vòng eo/vòng mông (waist-hip ratio) và vòng eo (waist circumference)
được sử dụng để đánh giá sự phân bố mỡ trong cơ thể Khi tỷ số này vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì các nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường đều tăng lên rõ rệt Người ta còn thấy vòng eo, thường không liên quan đến chiều cao mà có liên quan chặt chẽ với chỉ số BMI và tỷ số vòng eo/vòng mông, do đó thường được coi như là tiêu chí đơn giản để đánh giá khối lượng mỡ bụng và toàn cơ thể Hiện chưa có các “ngưỡng” quy ước đối với vòng eo Người ta thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng eo 94cm đối với nam, 80cm đối với nữ và tăng lên rõ khi các trị
số tương ứng là 102cm và 88cm [14]
Nghiên cứu cắt ngang của Schröder H cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa BMI và nồng độ cholesterol toàn phần đối với nam giới và mối liên quan giữa nồng độ HDL_C và BMI ở cả hai giới [138]
Brown mô tả và đánh giá mối liên quan giữa BMI với tình trạng cao huyết và RLCHLPM trong một cuộc tổng điều tra trên người trưởng thành ở Mỹ Kết quả cho thấy tỷ lệ RLCHLPM và mức cholesterol trung bình ở những người BMI>25 cao hơn
so với những đối tượng có BMI<25 Tỷ lệ có HDL_C thấp tăng và mức HDL_C trung bình giảm khi BMI tăng Mối liên quan giữa BMI với tình trạng cao huyết áp và RLCHLPM có ý nghĩa thống kê OR cao nhất ở độ tuổi 20-39 [45]
Tầm quan trọng của phân bố mỡ ở trung tâm đã được biết đến từ những năm 50: Morris đã mô tả tỷ lệ tử vong do tim mạch tăng ở những người lái xe buýt với kích cỡ dây an toàn lớn [117] Nghiên cứu theo chiều dọc đầu tiên ở Thụy Điển năm 1984 cho thấy tỷ số vòng eo/vòng mông cao có mối liên quan với đột quỵ [97]
Kết quả nghiên cứu tình trạng RLCHLPM và một số yếu tố liên quan của Nguyễn Lương Hạnh cho thấy tỷ lệ RLCHLPM theo chỉ tiêu CT và TG và BMI có mối quan hệ đồng biến [10]
Trang 35Nghiên cứu của Phạm Thị Dung cho thấy BMI và phần trăm mỡ cơ thể có mối liên quan chặt chẽ với tỷ lệ mắc HCCH [5]
1.3 RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA LIPID MÁU
1.3.1.Định nghĩa rối loạn chuyển hóa lipid máu
Rối loạn chuyển hóa lipid máu (RLCHLPM) là một thuật ngữ nhằm chỉ sự biến đổi của các thành phần lipid máu cao hoặc thấp hơn chỉ số hóa sinh bình thường Dùng cụm từ “rối loạn” mà không dùng là tăng, cao hoặc dư là vì thực sự có nhiều loại lipid trong máu, mà một số loại khi tăng là “xấu” đối với cơ thể, nhưng có loại lipid có vai trò bảo vệ, chống bệnh tật nên càng cao lại càng tốt Do đó thuật ngữ “rối loạn chuyển hóa lipid máu” có ý nghĩa chính xác hơn [30]
Đánh giá RLCHLPM theo WHO (2000) [157]
- Cholesterol tổng số >5,2 mmol/l (200mg/dl), hoặc
- HDL_C < 0,9 mmmol/l (35mg/dl), hoặc
- LDL_C >3,38 mmol/l (130mg/dl), hoặc
- Triglycerid huyết thanh >2,26mmol/l (90mg/dl)
1.3.2 Phân loại rối loạn chuyển hóa lipid máu
Có nhiều cách phân loại
1.3.2.1.Phân loại dựa trên nguyên nhân phát sinh bệnh [30]
o RLCHLPM nguyên phát: đó là những trường hợp rối loạn có nguyên nhân di truyền
đã được xác nhận hoặc nguyên nhân bên ngoài nào đó mà cơ chế chưa rõ
o RLCHLPM thứ phát: đó là trường hợp rối loạn mà cơ chế bệnh sinh của nó là do bệnh nhân mắc các bệnh RLCH, bệnh của một số cơ quan trong cơ thể như thiểu năng tuyến giáp, bệnh lý gan, thận, đái tháo đường, đang uống thuốc tránh thai,
Trang 36thuốc điều trị ĐTĐ, nội tiết tố nam, corticoid…hoặc do thói quen ăn uống, cách sống
1.3.2.2.Phân loại dựa trên kết quả xét nghiệm Lipid và LP máu
- Phân loại của Fredrickson [11]: Sự phân loại này dựa trên cơ sở phân loại của tăng
LP, gồm 5 kiểu, sau này được phát triển và bổ sung thêm bằng cách phân tách kiểu
II thành 2 kiểu IIa và IIb và bổ sung thêm kiểu mới là giảm α LP huyết (hypo Lipoproteinaemia) Cách phân loại này cho biết sự thay đổi các thành phần lipid máu dễ gây XVĐM, nhưng không cho biết sự thay đổi thành phần của lipid máu có tác dụng chống XVĐM
- Phân loại của Chương trình giáo dục Quốc gia về cholesterol của Mỹ (NCEP) [121], xác định đầy đủ các thông số lipoprotein sau ăn 9-12 giờ Cách phân loại này cho biết sự thay đổi các thành phần lipid máu dễ XVĐM và có tác dụng bảo vệ chống VXĐM đồng thời nó cũng cho biết mức độ rối loạn của các thành phần trên Đây là cách phân loại mới nhất
Trang 37o Tăng cholesterol đơn thuần: CT huyết thanh tăng (>5,2mmol/l), TG bình thường hoặc tăng nhẹ, tỷ lệ CT/TG>2,5
o Tăng TG: CT có thể tăng nhẹ, TG rất cao, khi TG>11,5mmol/l trong máu luôn có chylomicron
o Tăng lipid máu hỗn hợp: CT tăng vừa phải, TG tăng nhiều hơn, tỷ lệ CT/TG<2,5
1.3.3 Tình hình RLCHLPM trên thế giới và ở Việt Nam
Ngày nay trên thế giới cũng như Việt Nam, số người RLCHLPM ngày càng gia tăng Theo số liệu của Hội tim mạch Hoa Kỳ, tính đến năm 2000 nước Mỹ có khoảng
37 triệu người và Châu Âu có 47 triệu người có RLCHLPM ở mức cần điều trị [9] Vào những năm cuối thể kỷ XX, tỷ lệ người RLCHLPM khác nhau ở từng Quốc gia: Pháp 15%, Malaysia 22%, Thụy Điển 26%, Nhật Bản 17,6%, Mỹ 29,6%
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu trong bệnh viện cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn chuyển hóa lipid máu với bệnh đái tháo đường, tình trạng tăng huyết áp,
Trang 38bệnh tim mạch [1,4,8,22,26] Theo Phạm Gia Khải và cộng sự khi nghiên cứu ở Hà Nội (2001), trên 263 đối tượng cho thấy tỷ lệ tăng LDL_C là 51,27%, tăng CT 54,7%, tăng
TG 41,9% và giảm HDL_C là 40,7%, tần xuất có ít nhất một chỉ tiêu lipid máu không nằm trong giới hạn bình thường là 78,8% [13] Nghiên cứu của Nguyễn Huy Ngọc cho thấy tỷ lệ RLCHLPM trên bệnh nhân tai biến mạch máu não là 70,5% và 53,2% [20] Theo Trần Đức Thọ và cộng sự (2000-2001) tỷ lệ RLCHLPM trên bệnh nhân giảm dung nạp glucose là 84% [25] Nghiên cứu mô tả trên 3.438 bệnh nhân đến khám bệnh tại khoa khám bệnh viện Bạch Mai cho thấy: Cholesterol toàn phần trong máu cao chiếm 58,28%, Triglycerid cao 48,57% và LDL_C cao 23,87%; thấp HDL_C- C (28,08%) [28] Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân tai biến mạch máu não chiếm tới 70,5% bệnh nhân bệnh viện Trung ương Huế [23]
Ở nước ta, các nghiên cứu về tình trạng rối loạn lipid máu trên người trưởng thành thực hiện tại cộng đồng còn khá ít Nghiên cứu của Phạm Thắng (2003) trên 1.305 đối tượng từ 60 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu chiếm 47,5% [24] Nghiên cứu của Viện Tim mạch Việt Nam trong cuộc điều tra về bệnh tăng huyết áp cũng đã thu thập một số chỉ tiêu lipid máu trên các đối tượng nghiên cứu cho thấy tình trạng rối loạn lipid máu liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp và bệnh tim mạch [12] Gần đây, nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng (2004) ở người trưởng thành, tuổi từ 30-59 tuổi bị thừa cân, béo phì có choleserol toàn phần máu cao là 48,9%, triglycerid máu cao: 65,33%, LDL_C cao: 8,23%, HDL_C thấp: 7,22% [19] Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn năm 2004-2005 trên 2014 người trưởng thành từ 20-59 tuổi là giảng viên trường đại học Thái Nguyên, các cán bộ ngân hàng, công nhân tại các mỏ than và nhà máy xi măng, tỷ lệ tăng cholesterol và triglycerid đơn thuần là 36,4% và 8,8%, tỷ lệ tăng phối hợp cả cholesterol và triglyceride là 23,9% [29] Năm 2008, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lương Hạnh trên đối tượng người trưởng thành ở nội thành Hà Nội cho thấy, tỷ lệ RLCHLPM là 59,8%, tỷ lệ tăng cholesterol đơn thuần chiếm 47,2%, tăng triglyceride là 38,4%, tỷ lệ tăng phối hợp cholesterol và triglycerid là 25,4%, tình
Trang 39trạng RLCHLPM có xu hướng tăng dần theo nhóm tuổi, nam giới có tỷ lệ cao hơn so với nữ giới [10]
1.4.1 Thành phần hóa học của tỏi
Tỏi được cả thế giới coi như là thực phẩm có lợi cho sức khỏe Tỏi đã được viết cách đây 500 năm trong các tài liệu của người Hy Lạp và Ấn Độ Theo bản dịch từ tiếng Hy Lạp, Ai Cập, Ý, Trung Quốc, tỏi được kê đơn cho đa mục tiêu trong y học bao gồm điều trị nhiễm trùng, tăng cường thể lực, chống độc [134,135]
Tỏi không chỉ đơn giản là gia vị, thảo dược hay là loại rau củ mà là tổng hòa của
cả ba Thuộc họ hành do vậy tỏi có đặc tính tương tự với hành, tỏi tây và rau thơm [134]
Một amino acid chứa lưu huỳnh được phân lập từ tỏi và đặt tên là alliin
(S-allyl-L-cysteine sulfoxide) Bản thân alliin không có hoạt tính kháng khuẩn và tương đối bền
Alliin có hàm lượng từ 5 đến 14mg trong một gam tỏi tươi Do có nhóm amin, carboxyl, liên kết đôi, nên alliin có khả năng phản ứng hóa học rất cao Trong các điều kiện phản ứng khác nhau, alliin dễ dàng bị chuyển hoá để tạo ra các sản phẩm Một trong những phản ứng chuyển hoá cơ bản và quan trọng nhất là sự tạo thành allicin
(Diallyl thiosulfinate) dưới tác dụng của enzym allinase [52] Sự chuyển hoá này xảy ra
rất nhanh ở nhiệt độ phòng chỉ trong vòng 10 giây Allinase có mặt trong tỏi với lượng lớn khác thường đối với một enzym, gồm ít nhất 10% tổng protein tép tỏi Các tép tỏi
chứa các lượng alliinase và alliin xấp xỉ bằng nhau (10mg/g trọng lượng tươi) Điều
này có thể giải thích rõ tại sao alliin lại chuyển thành các thiosulfinate quá nhanh khi tỏi được ép ra [80]
Nhiều quy trình được sử dụng để sản xuất các sản phẩm tỏi dùng làm thuốc Các quy trình đó cố gắng giữ lại chất đặc trưng alliin bằng cách tránh sự hoạt hoá của men
Trang 40alliinase Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để làm mất hoặc giảm hoạt
tính men alliinase như dùng các dung môi chiết xuất [ví dụ methanol/nước (4/1),
methanol/acid formic 1% trong nước (1/2)] hoặc dung dịch chứa các chất ức chế
alliinase như amino-oxy acetat Tuy nhiên, dịch chiết này hoặc bột thu được từ dịch chiết này không chứa alliinase, một tác nhân để phân hủy alliin thành các hợp chất có hoạt tính Vì vậy, chế phẩm tỏi này cần được bổ sung một lượng nhất định bột tỏi có chứa allinase đủ để chuyển hóa được hoàn toàn alliin Ngoài ra, người ta còn sử dụng quy trình ngâm giầm tỏi để chuyển hoá nhanh chóng alliin thành allicin và các hợp chất chứa lưu huỳnh, rồi tiếp tục xử lý bằng hơi nước hoặc các dung môi khác [134]
Allicin là hoạt chất mạnh nhất và quan trọng nhất của tỏi, nó không hiện diện trong tỏi, tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của men alliinase, chất alliin có sẵn trong tỏi biến thành allicin Do đó, càng cắt nhỏ hoặc càng đập nát hoạt tính càng cao Một ký tỏi có thể cho ra từ 1 - 2g allicin Allicin dễ biến chất sau khi được sản xuất ra Càng để lâu, càng mất bớt hoạt tính Đun nấu sẽ đẩy nhanh quá trình mất chất này Đun qua lò vi sóng sẽ phá hủy hoàn toàn chất allicin Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin Nước tỏi pha loãng 125.000 lần vẫn có dấu hiệu ức chế nhiều loại vi trùng gram âm và gram dương
như: staphylococcus, streptococcus, samonella, V cholerae, B dysenteriae,
mycobacterium tuberculosis Tỏi cũng ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như:
bại liệt, cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida [116]