1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết hoạt Động giao tiếp vào dạy học tập làm văn lớp 6 trung học cơ sở

111 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp vào dạy học tập làm văn lớp 6 trung học cơ sở
Tác giả Nguyễn Ngọc Mai, Văn Dũng
Người hướng dẫn PGS. TĐ. Dổ Viêt Hưng
Trường học Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Dinh Chung khi bản về quan diễm day hoc lam vin trong sach “Mdy vốn đề về giảng dạy môn phương pháp dạy học Ngữ văn trong chương trình Cao đẳng Sư phạm mới” cô nói “Với phân môn Tậ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI TRUONG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYÊN NGỌC MAI

VAN DUNG LY THUYET HOAT BONG GIAO TIEP

VAO DAY HOC TAP LAM VAN LOP 6 TRUNG HQC CO SO

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHAM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

(Hộ môn Ngữ văn)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS T§ DO VIET HUNG

HÀ NỘI -2011

Trang 2

$ Nhiệm vụ nghiên cứu " 7

6 Phương pháp nghiên cứu ¬ 8

Chương 1: NIỮNG VÁN ĐẺ LÝ THUYÉT CỦA HOẠT ĐỌNG

1.1.1.Giao tiếp và hoạt st dona giao tiếp trong đời sống ã hội 9

1.1.4 Giao tiếp và việc dạy - học làm văn dễ giao tiếp - 24 1.2 Cơ sở thực tiển " teseeeeetsneestene ty 30

1.2.1.Tập làm văn và vai trỏ của môn Tập làm văn trong dạy học }`

1.2.2.Đặc điểm 1õm lý và trỡnh độ nhận thức: của học sinh 6 “trang be hoc

1.2.4 Thực trạng dạy học môn Tập lắm văn ở trường Trung học cơ sở

Chương 2: DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 6 TRƯNG HỌC CƠ

2.1, Van dé day học lập làm văn ở Irung học cơ sở theo quan điểm

22 Các dang bai Tập l làm văn lớp 6 ‘Trung hac co sé va hướng tiếp

Trang 3

2.2.1.Dạng bai ly sự

2.2.2 Dạng bải miêu tả

Tiểu kết chương 2

Chương 3: THỰC NGHIỆM SU PHAM

3.1, Các yêu cầu cơ bản của thực nghiệm

3.1.1 Mue đích thực nghiệm

3.1.2.Nhiệm vụ thục nghiệm

3.1,3.Đỗi tượng

3.1.4.Nguyờn tá: hanh thực nghiềm

3.1.5 Phuong phap thực nghiềm

3.1,6.Tiờu chỉ đônh giỏ kết quả thực nghiệm sư phạm:

3.3.1 Đănh giá về hiệu quả giờ học

3.3.2 Đánh giá qua bài làm của học sinh

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chon dé tai

Môn Tiếng Việt nói chung và Tập làm văn nói riêng nhằm mục dich cudi

củng là rèn cho học sinh sử dụng đúng, hay tiếng 'Việt vào hoạt động giao tiếp

trong đời sống Miên Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những trì thức về ngôn

ngữ như các lớp từ vựng, các qui tắc sử dụng ngôn ngữ vào trong hoạt động giao

tiếp Chính nhờ những trị thức này mà học sinh mới biết cách sử dụng ngôn ngữ phủ hợp với nội dung cần trình bảy Có thể nói dạy tiếng Việt là dạy cho học

sinh cách sử dụng phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp Mat

khác, môn học nảy gòn giúp cho học sinh tiếp nhận và diễn đạt những kiến thức

khoa học trong nhà trường,

Dạy làm văn ở trường trung học hiện nay gặp rất nhiều khó khăn Có

một thời gian đái người giáo viên dạy lảm văn cho học sinh quá thiền về trí

thức lý thuyết một cách máy móc mà quên rằng tất cả những tri thức Ấy cần

được vận dựng trong đời sống thực tế Mặt khác, chương trình cũng không

chủ ÿ dến nhu cầu, thị hiểu của học sinh cho nên da số nội dung của các bài

làm văn mà giáo viên đưa ra không gắn với thực tế đời sống mà chỉ nghiêng

về những tác phẩm văn chương Người day chua tim hiểu xem học sinh có

nhu cầu bộc lộ tỉnh cảm, cảm xúc của mình không? Chính diều nảy dã làm

cho học sinh trở nên thụ động, hạn chế khả năng giao tiếp, đồng thời tạo cho

học sinh cẩm giác nhàm chán, không thích học làm văn Từ trước đến nay

người ta bản rất nhiều về phương pháp day tiếng Việt làm văn ở phổ thông, phương pháp giao tiếp, phương pháp vận động, phương pháp tích cực hóa

hoạt động học tập của học sinh Trong dó người ta đặc biệt nhắn mạnh đến

phương pháp giao tiếp Trong đạy học nói chung và đạy làm văn nói riêng,

ảng được thể hiện đưới những hình thức đa dạng

phương pháp giao tiếp ng:

khác nhau Kết quả của một giờ làm văn không phải chỉ cho học sinh nắm

được nội dung bai hoc theo lý thuyết suông mà còn phải biết ứng dụng vào

Trang 5

các hoại động giao tiếp rong thực tế đời sống, Vì vậy, kể tử khi quan điểm giao tiếp được dưa vào trong phương pháp dạy học thì kết quá dạy làm văn dã

đạt được những bước tiến đáng kể so với trước đó Chúng tôi nhận thấy ring

phương pháp giao tiếp dóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học lâm

văn Phương pháp giao tiếp sẽ phát huy được khả năng sử dụng ngôn ngữ cho

học sinh, phát huy tư duy sáng tạo, đẳng thời tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học làm văn Chúng tôi suy nghĩ rằng đổi mới phương pháp day học làm văn đang là vấn đề cần thiết Iiện nay, chúng ta đã khẳng định tỉnh

ưu việt của phương pháp giao tiếp trong việc dạy làm văn nhưng việc dạy và

học làm văn ở trường phố thông vẫn còn hạn chế Phần lớn giáo viên đều

nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp

nhưng lại không năm được lý thuyết về giao tiếp, chưa tổ chức được những

hình thức giao tiếp, chưa nhận thức được đầy đủ về tâm quan trọng, hiệu quả

của phương pháp này, đặu biệt là trong day làm văn Điều này đã làm hạn chế

rất nhiều đến kết quả day va hee lim văn

Trước thực trạng đỏ, chúng tôi chon dé tai “Van dung LÚ thuyết hoạt

động giao tiếp vào day học Tập làm văn lớp 6 Trưng học cơ sở” © dé ai nay, chủng tôi đẻ ra những phương pháp dạy làm văn theo quan diém giao tiếp nhằm mục đích giúp cho việc dạy vả học làm văn ở phế thông đạt được chất lượng tốt hơn

2 lịch sử vấn đề

Những năm gần đây nhất là từ sau cải cách giáo dục, phương pháp dạy

học chính lá vấn để được quan tâm hảng đầu Trong những phương pháp đó thì

phương pháp giao tiếp được các nha pido dục hết sức chú ÿ Có nhiều bài viết,

bài nghiên cứu về phương pháp này Trong số các tác giả nghiên cứu về đạy

lam vin theo quan diém giao tiếp thì cỏ tác giả quan tâm cụ thể về mặt

phương tiền (phương pháp dạy của giáo viên) cũng có tác giá quan tâm về mặt

Trang 6

mục đích của việc dạy làm văn thoo quan điểm giao tiếp,

Nguyễn Quang Ninh trong sách “Mộ: số vấn đề đạp ngôn bản nói và viết

ở tiểu học theo hướng giao tiếp” khi nói vỀ việc dạy làm văn, lác giã đã nêu lên những nhược điểm của dạy làm văn nói theo định hướng giao tiếp Ông

cho răng mục đích của các bài làm văn thường bị giáo viên coi nhẹ, giáo viên

chỉ thiên về đánh giá thành phẩn nội dung của sự việc Người giáo viên dã

quên rằng một bài làm văn không phải chỉ để tả, kể mà qua việc tả, kế đó nhằm

hướng đến một mục đích khác Bên cạnh đó khi ra đề làm văn cho học sinh thỉ đường như các nhãn tổ giao tiếp bị gạt ra ngoài sự chủ ÿ của piảo viễn Chính điều đỏ đã dẫn đến bài làm văn của học sinh trở nên đơn điệu, nhằm

chán Tác giả đặc biệt chú ý đến phương tiện của hoạt động giao tiến là ngôn

bân nói và ngôn bản viết Đây chính là phương tiên chủ yếu dễ thực hiện quá

trình giao tiếp Ö bai viết này Nguyễn Quang Ninh cũng đã đưa ra những đặc

điểm của ngôn bản nói và ngôn bản viết Ngôn bản ở đây là một chuỗi ngôn

ngữ được sắp xếp theo các qui tác ngữ pháp, kém theo ngữ điệu (ngôn bản nói)

nhằm thể hiện nội dung giao tiếp Từ những đặc điểm trên giúp cho người dạy

lim ra những phương pháp day làm văn phủ hợp với quan diễm giao tiếp

Chúng ta cần ý thức cho học sinh biết rằng mục đích cuối củng của một bài

lâm văn là phái giúp cho học sinh tổ chức được những ngôn bản thoo mục dich

giao tiếp đã để ra

Trong sách “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên

cứu và lý thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và Cao đẳng”

Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của phương pháp dạy

học hiện nay mà cho rằng “Theo chương trình đụp Hỗng Pháp phải dựa trên việc

thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học Hỗng Pháp học sinh phải luôn luôn

được đặi vào tinh huéng giao tiếp" [24, tr.14] Ở một đoạn khác, tác giã đặc biệt

nhấn mạnh “cơ bản là phải đặt học sinh trong một tình huồng giao tiếp làm sản

Trang 7

sinh hoặc thông hiểu lời nót” |24, tr.14| Điều đô có nghĩa là việc dạy học theo

quan điểm giao tiếp dược áp dụng rộng rãi ở tất cả các môn học Để có thể

hướng quá trình day học vào hoạt động giao tiếp thì người giáo viên cần thiết

phải tạo ra những tỉnh huỗng có vấn để dể học sinh tham gia vào hoạt động giao tp ‘Tinh huồng là một điều kiện quan trọng để sản sinh ra hoạt động giao

tiếp, không có tỉnh huống thi hoc sinh không thể giao tiếp Đây là nhận định có

¥ nghĩa quan trọng để người giáo viên có thể tổ chức quả trình dạy học tiếng Việt, làm văn đạt hiệu quả cao

Trần Dinh Chung khi bản về quan diễm day hoc lam vin trong sach “Mdy vốn đề về giảng dạy môn phương pháp dạy học Ngữ văn trong chương

trình Cao đẳng Sư phạm mới” cô nói “Với phân môn Tập làm văn, quan

điêm dạy học tích hợp càng thể hiện tính tích cực của nó khi hiện thực hóa quan điểm thực hành và giao tiếp của phân môn néy [7, tr 15] Phương pháp

dạy học tích hợp là lấy các đữ liệu từ các nội đụng bài học thuộc các phân môn

liền quan Chính các dữ hiệu này sẽ góp phần khơi gơi hứng thú, củng cổ các

kiến thức đã học Từ đây cho thấy quan điểm giao tiếp trong đạy hục nói

chung, day lim văn nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng dó là thực hành

những văn bản góp phân tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

Lê A khi bàn về phương pháp giao tiếp đã nói “ Phương pháp giao tiếp là

phương phản quan trọng trong dẹp học Tiẳng việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các

nhiệm vụ của quả trình giao tiến, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tô tham

gia vào hoại động giao ñếp” |1, tr 69-70] Đặc biệt các tác giả còn nhấn

mnạnh “ ương pháp này có thể được áp dụng khi dạy học từ ngũ, câu, phong

cách và đặc biệt là trong các bài học thuộc phân môn Tiếng việt “ [1, tr T0]

Từ những ý kiến trên, tá thấy rằng tác giả đặc biệt nhắn mạnh dến vai trỏ của

phương pháp giao tiếp Phương pháp này có thể giúp cho hoc sinh van dụng

Trang 8

được những lý thuyết đã học để thực hành các văn bản trong quá trình giao tiếp Phương pháp giao tiếp là phương pháp có vai trẻ rất lớn và dang được

sử dụng rộng rãi trong việc dạy tiếng Việt nói chung vả phần môn Làm văn

nói riêng, Khi vận dụng phương pháp này trong dạy làm văn thì người giáơ

viên cần chú ý đến hai mặt chủ yếu là phải giúp học sinh vận dụng được các lý

thuyết giao tiếp và ý thức được các nhân +6 giao tiếp

Nguyễn Trí trong sách “Dạy Tập làm văn ở trường tiêu học” khả bàn về

việc tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học, tác giả đã đưa ra những

cách lập ding chương trình lời nói Ở bài viết này, tác piả cũng chủ ý dến mục

đích của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Bên cạnh đó khi nói về mục đích

của môn Làm văn tác giả cũng nhắn mạnh “Tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu

là rèn luyện KE nang sản sinh ngôn bản nói và viễt Không học tất Tập làm văn

khả năng nói và viết ngôn bản của học sinh sẽ bị bạn chế” [23, tr 8] Điều đó

có nghĩa là mục đích cuối cùng của môn Lam văn là giúp cho học sinh có thể

sử dụng thành thạo ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp, học làm văn tôt sẽ

giúp cho học sinh có kĩ năng nói và viết thành thạo hon

Trong sách “Phương pháp dạy học Tiếng việt” khi bàn về lý thuyết giao

tiếp bằng ngôn ngữ, Lê A đã nói "/.ảm văn chính là làm các loại van ban dé

giao tiếp Không có nhụ câu giao tiếp thì không ai lại nói và viết thành văn

bản” [1, tr 193] Mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau Chỉnh nhu cầu là

động lực giáp cho con người hành động, Cho nên để tạo ra được những văn bản

thì người ta cân phải có nhụ cầu giao tiếp Ở một đoạn khác tác giả cảng nhân

mạnh vai trở của hoại động giao tiếp “Piệc làm văn có quan hệ với một lý

thuyết khác bên cạnh lý tuyyết về văn bản, Đó là lý thuyết giao tiếp bằng ngôn

ngữ hay nải gọn hơn là lý Huyết giao tiếp ngôn ngữ” |1, tr 193] Điều đó có nghĩa là lý thuyết giao tiếp đóng một vai trỏ quan trọng trong việc đạy và học

làm văn Chính nhu cầu giao tiếp là nguyên nhân sản sinh ra văn bản Từ đó

Trang 9

cho thấy để sản sinh ra những văn bản có giá trị giao tiếp thỉ người dạy và học phải tham gia vào hoạt đồng giao tiếp bằng các lý thuyết piao tiếp ngôn ngữ

Nam 2006 trên Tap chí giáo dục số 138, Phan lhị Lhủy trong bài viết

“Day làm văn ở Trung học cơ sở theo quan điểm giao tip” cé noi “Dav lam

văn theo quan diễm giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sỡ là phat huy với trỏ

độc lập, sảng tạo, chủ động si; nghĩ của học sinh trong việc học làm văn, Tỉnh

chủ động, sáng tạo nay được thể hiện rõ thông qua dấu ẩn chủ quan của các em

trong việc tạo lập văn bản” |21, tr 27| Một bài lâm văn trở nên sinh đông khi

nó bộc lộ được tư tưởng, tỉnh cảm, cảm xúc của học sinh Muôn đạt được điều

này cần phải phát huy tư duy, sáng tạo của mỗi học sinh Cho nên chúng ta

cần hướng học sinh vào hoạt dộng giao tiếp Chính hoạt động giao tiếp là diễu kiện cân thiết để học sinh bộc lộ tư duy sáng tạo của mình 6 quan điểm này,

lác giả đã đưa ra những đặc điểm cu thể của một bài làm văn theo quan điểm

giao tiếp Mục đích này cũng là mục đích cần phải có khi tiển hành các phương pháp dạy học mới

Vì các lẽ trên mà có nhiều ý kiến đã đánh giá rất cao về vai trò của phương

pháp piao tiếp tronp quá trình dạy học Ở dây, thêm một lần nữa chúng tôi

khẳng định vai trò của day làm văn theo quan điểm giao tiếp Có thể nói việc

đạy làm văn theo quan điểm giao tiếp hiện nay là một phương pháp đang được

sử dụng rộng rãi trong dạy và học ở các trường phổ thông,

Nhìn chưng, các bài viết trên chỉ dừng lại ở những ý tưởng có tỉnh chất định hướng, các táo giả thiên về mặt lí luận, thiểu khâu tổ chức thực nghiệm

việp dạy vả hục làm văn ớ trường phổ thông Dường như chưa cỏ công trình

nao để cập một cách cụ thể, chỉ tiết có hệ thông từ khâu lí luân đến thực tiễn

Trên cơ sở vận dụng lý thuyết về hoạt động giao tiếp và thực tiễn đạy học ở trường phổ thông, kế thửa những vấn dễ nghiên cứu của người đi trước, người

viết sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề nảy hơn.

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng dến những dối tượng sau

Thương pháp dạy học Tập làm văn khối Trung học cơ sở, cụ thể là lớp

6, nghiên cửu những yếu tổ còn tồn đọng gây khỏ khăn cho việc dạy và học làm vin ‘Ir dé để ra hưởng khắc phục và những giải pháp để dạy làm văn theo quan

điểm giao tiép đạt hiệu quả Ở đây người viết sẽ đi sâu vào những giải pháp gắn

liền với hoạt dông giao tiển

ng vần cẦn mà À giáo xiân cẦn nhất có để có thà hoy ph Những yêu cầu mả người giáo viên cần phái có để có thê đạy làm vin

theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả như trì thức về các kiểu bài, phong cách

(lap trung vảo nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau

-_ Phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp, người việt chỉ tập

trung vào những phương pháp nhằm tạo ra hoạt động giao tiếp trong quả trình đạy

học

Thương pháp dạy học Tập lam van lớp 6, bài: “Luyện tập xây dựng

bài tự sự - Ké chuyện đời thường” Đề tải sẽ thiết kế và thực nghiệm trên bài

piãng theo phương, pháp truyền thống và phương pháp vận dụng lý thuyết hoạt

động giao tiếp bằng ngôn ngữ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong để tài nghiên cứu này thể hiện các nhiệm vụ sau

-_ Nghiên cửu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tổ chỉ phối quá trình

giao tiếp bằng ngôn ngữ như: nhân vật piao tiếp, hoàn cành giao tiếp, nội dung,

giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp Từ đó giúp giáo viên có cách

ra đề làm văn theo quan điểm giao tiếp, hình thức viết một bài làm văn

- Nghiên cứu nội dung, kiểu loại văn bản, mục tiêu, phương pháp dạy làm

văn lớp 6

- _ Vận dụng thiết kế một số bài Tập làm văn lớp 6 thoo quan điểm giao

Trang 11

tiếp, thực nghiệm so sánh dạy học theo phương pháp cũ và phương pháp mới

-_ Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả đạy làm văn

theo quan điểm vận dụng lý thuyết giao tiếp

6 Phương pháp nghiên cứu

-_ Phương pháp nghiền cửa

-_ Thương pháp so sánh

- Phuong pháp thực nghiệm

7 Cầu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, đanh mục tải liệu tham

khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết hoạt

động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào dạy học Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sỡ,

Chương 2: Vận dụng thiết kế một số bải Lập làm văn lớp 6 theo lý thuyết

hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Chương 3: Ihục nghiệm

Trang 12

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐẺ LÝ THUYẾT

CUA IIOAT BONG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ

1.1 Cơ sởlý luận

1.1.1 Gian tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội

1.1.1.1 Giao tiếp, nhủ cầu thiểi yếu của con người

Giao tiến có nghĩa là tiếp xúc, trao dỗi thông tin, bộc lộ tư tưởng tỉnh

cảm với nhau

Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người Trẻ mới sinh ra bắt

đầu được giao tiếp tuy nhiên còn mang tinh chất thụ động Bả mẹ hiểu nhu

cầu ấy là của mình và cả con Việc giao tiếp biểu hiện qua lời ru, những lời

mắng yêu con Điều đó chứng tố bả mẹ đã cá ý thức giao Ligp với con

minh dd luc nay trẻ chỉ tiếp nhận hoạt động giao tiếp của người mẹ một

cách thụ động,

Quá trình tuổi thơ, việc giao tiếp của trẻ không ngừng phát triển Lừ thụ

động chuyến sang chủ động Nêu mới sinh ra trẻ chỉ có thể im lặng trước

những hảnh động, lời nói của người me thi gid đây trẻ đã muốn nghe hát,

nghe kể chuyên, muốn hiểu biết về thể giới: ông bà, can gà, cái bánh Trẻ

có nhu cầu được nghe, được tìm hiểu về những vật đã gọi tên du lic nay

trẻ chưa ý thức dược một cách dầy đủ về sự vật dang gọi tên Chẳng hạn

trẻ gọi tên cái bánh thì trẻ chi biết đó là thứ có thể ăn được chứ không ý thức

được hết là nó làm từ nguyễn liệu gì, cách thức làm ra sao Miặc đủ vậy ta cũng phải công nhận một diều rằng lúc này hoạt động giao tiếp ở thể chủ động của trẻ đang đần đần được hình thành Dù chưa được hình thành một cách hoàn chỉnh nhất nhưng đây là tiền để, là cơ sở quan trọng để tiển hành

những hoạt động giao tiếp sau này Tiếp đó là tư duy của trẻ được tích lũy,

từ tuôi thơ ngôn ngữ của trẻ cũng được hình thành mà ngôn ngữ và tư duy

là hai nhần tỔ giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cánh, tôn lại

Trang 13

với hoàn cảnh sống Ngôn ngữ là phương tiện dùng để diễn lá những tư tưởng, tỉnh cám, cấm xúc của con người Chẳng hạn câu “Tôi rất muốn

cùng bạn di du lich khắp nơi” Qua câu nói nay thì người nói muốn truyền

đạt đến người nghe hai van dé Thứ nhất nói về ước muốn của bản thân là được đi du lịch, thứ hai là tác động tỉnh cảm đến người nghe muốn người

nghe chấp nhận là củng đi du lịch với mình Qua đây còn thể hiện tình cảm,

cảm xúc của người nói Như vậy để diễn dạt được nội dung của câu nói trên

thì ta cần phải biết ngôn ngữ tương ứng đồng thời phải có tư duy để có thể

sử đụng vấn ngôn ngữ phủ hợp với nội dung diễn đạt để không những

truyền đạt được ước muốn của bân thân mà còn phải tạo được tác dụng

thuyết phục người nghe Có thể nói ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố quan

trọng để thực hiện quá trình giao tiếp và hai nhân tố này có quan hệ mật

thiết với nhau củng hỗ trợ cho nhau để thực hiện giao tiếp Dây cũng là yêu

tố quan trong dé phân biệt con người và loài vật bởi vì giao tiếp của loài vật

là do bản nẩng chứ không phải là hoạt động có ÿ thức như con người

Giao tiếp là phương thức tổn tại phát triển của xã hội Xã hội là một

tập thế có quan hệ với nhau về nhiễu mặt: quan hệ họ hảng, quan hệ đồng

nghộp, quan hé thay trò Các mối quan hộ này lá lí do để con người có

quan hệ giao tiếp với nhau Giao tiếp trái lai để giữ vững các mỗi quan hệ

đó Con người không được giao tiếp với nhau thì không thể có xã hội Xã

hội là môi trường để con người có thể thực hiện quả trình giao liếp Cơ sở đánh giá một xã hội phát triển là dựa trên cơ sở vật chất, tinh thần ngày

càng thêm đa dạng, phong phủ đáp ứng nhu cầu đời sống con người Sản

phẩm vật chất, tình thần chính lả thành quá sáng tạo của con người Sự sáng tạo dy có được từ tư duy, trình độ sáng tạo Con người có điều đó là nhờ

giao tiếp, học tập Những người trong cùng một xã hội muốn trao đổi thông

tin hay bộc 16 cầm xúc cho nhau thi cin phải có giao tiếp Ngược lại hoàn

Trang 14

cánh xã hội chính là nguyên nhân, động lực để tạo nên hoạt động giao udp

Thông qua hoạt động giao tiếp thì xã hội dược tồn tại và ngày cảng phát

triển Người đời trước có thể truyền kinh nghiệm, kiến thức cho người đời

sau thông qua giao tiếp Mỗi một người là một thành viên của xã hội, xã hội

muốn tần tại thì mỗi con người cần phải phát triển và sự phát triển này được

thực hiện thông qua quá trình giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp con người

vita có thể tiến nhận thông tin từ người khác đồng thời có thể phản hồi những ý

kiến của bản thân Chính sự phân hồi này là điều kiện để người giao tiếp điều

chỉnh nội đụng giao tiếp cho phủ hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng Giao tiếp với tự nhiên và

gian tiếp trong xã hội Giao tiếp với các hiện tượng tự nhiên con người

nhận ra quy luật của nó giúp con người có ứng xử phủ hợp để tạo điều kiện

thuận lợi cho puộc sống của mình Chẳng hạn khi thấy trời kéo mây đen thì

con người biết là trời sắp mưa Lừ dé ho sẽ có cách xử lí là lây quần áo vào

để khỏi bị ướt Ta thấy rằng dù ngày nay khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại, ngày càng phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người nhưng bên

cạnh đó thì yếu tố tự nhiên cũng đóng vai trò khá quan trọng trong cuộc

hoạt động giao tiếp này sẽ giúp cho con người hình thành ý thức vả năng

lực nhằm để cải †ạo tự nhiền phục vụ cho cuộc sống của mình

Song song với giao tiếp tự nhiên thi con người luôn giao tiếp voi xa

hội Giao Liếp trong xã hội mang tính chất đa dang, phong phú, con người có thể giao tiếp trong mợi hoản cánh: trong một gia dinh cha mẹ giao

tiếp với con cái về những sinh hoạt hàng ngày, các đồng nghiệp giao tiếp

" À công siấc hoặc là đâc giá có THỂ giao BỀn với các xấn đề xã hãi với nhau về công việc hoặc là độc giả có thê giao tiếp với các vẫn đề xã hội

1E

Trang 15

qua báo chí, sách vở Con người côn có khš năng giao Liếp với người xưa

Qua những tác phẩm của người xưa để lại ta biết dược tâm tư, tỉnh cảm,

nguyện vọng của họ và hiện thực xã hội thời đó Ví dụ như đọc Truyện

Kiều của Nguyễn Du ta biết được những bất công ngang trai dang dẻ năng lên người phụ nữ đồng thời còn thấy được tắm lòng nhân đạo của tác giả

Khéng nhtmg chi giao tiép Với người xưa mà con người côn có thể giao tiếp

với cả thể hệ mai sau như những tác phẩm trong hiện tại bấy giờ có thể

truyền đến cho người đọc ở cả tương lai

Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng quan trọng nhất là giao tiếp trong trường học, ở đó con người được mở rộng những

hiểu biết mang tính lí luận, khoa học Ta thấy rằng ngay từ những cầu ca đao, tục ngữ mà †a được học trong nhà trường đã có tác dụng định hướng cho oon người vào hoại động giao tiếp

Vidu

Hoc ăn học nói, học gói học mỡ:

Chỉ ra việc ta phải học hỏi mọi thứ trong cuộc sống, trong đó có việc học cách nói năng tức là học cách giao tiếp trong đời sống xã hội Hay là

Lời nói chẳng mất tiền mua

taya lời mà nói cho vừa lòng nhan

Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, con người có quyền tự da lựa

chon vốn ngôn ngữ riêng cho ban thân minh Cho nên khi nỏi ta phải biết lựa

những lời nói nảo cho phù hợp nhất dé không những truyền dạt dược thông tin mà cỏn tác dụng thuyết phục ở người tiếp nhận thông tin Ở đây

đã chỉ ra cách thức giao tiếp là ta phải biết lựa chọn nội dung giao tiếp cho

phủ hợp với từng hoàn cảnh, từng đổi tượng để đạt được hiệu quả giao tiếp

cao nhất

Trang 16

Chim khôn hot tiéng rãnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe

Vòng thì thử lửa thứ than Chuông kêu thử tổng, người ngoan thử lời

Qua lời nói thì người ta có thể đánh giá về phẩm chat của một con người

cho nên khi nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp Như vậy vai trò của

hoạt động giao tiếp không chỉ truyền đạt thông tin md qua đó còn đánh giá

được phẩm chất của một con người

Nhu vậy, từ lâu con người đã ý thức đúng về vai trỏ, tác dựng của hoạt động giao tiếp Người xưa dã dưa ra những lời khuyên hữu ich cho con

người như: nói cũng phải học, nỏi đủng côn thể hiện tư cách của một con

người, nói sao cho người nghe thấy được cái hay, cái dẹp Trong phẩm chất

đạo đức có ngôn ngữ, lời nói Người xưa chưa đưa ra được nhũng phương pháp để con người luyện tập, rên giữa lời nói của mình nhưng rõ rằng giao

tiếp từ lâu đã được ý thức là hết sức quan trọng trong đời sống Trường

học còn là nơi cùng cấp những tri thức, hiểu biết cho con người thông qua

hoại động giao liép 6 day diễn ra hoạt động giao LiẾp giữa giáo viên và học

sinh, giữa giáo viên với giáo viên và giữa học sinh với nhau Tắt cả những

hoại động giao tiếp nảy được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

nhưng lắt cả đều nhằm mục dịch là cung cấp, trao đỗi thông tin Cho nên có

thể nói trường học là môi trường giao tiếp quan trọng nhất của con người vì

ở đây con người không chí học được những kiến thức mà òn hoàn thiện được nhân cách của bán thân mình thông qua hoạt dộng giao tiếp Tóm lại,

con ñgười có thể giao tiếp mọi lúc, mọi nơi, mọi hoản cảnh vượt cả không gian và thời gian

Trang 17

1.1.1.2 Hai phương liện giao tiếp co ban của con người

Pham vi giao tiếp cúa con người rất rộng, phương tiện giao tiếp cũng

hết sức đa dang Theo các nhả kí hiệu học ngôn ngữ thì phương tiên giao tiếp chia thành hai nhóm đó là ngôn ngữ và các yếu tố không bằng ngôn

ngữ gọi là các yêu tổ phi ngôn ngữ

Yếu tố phi ngôn ngữ, một phương tiện giao tiếp không thể thiểu trong

giao tiếp: các yếu tổ phi ngôn ngữ rât đa dạng, phong phú gắn liễn với cuộc sống của con người chúng la Có những ngữ cảnh thuộc giới tự nhiên mang,

tinh khách quan nhu may den, con giỏ lạnh, sắm chớp những yếu tố này

không lệ thuộc nhiều vào con người Có những yếu tổ do cơn người tổ chức

thực hiện: dộng lác vỗ về, ôm Ấp con của bả mẹ, các cử chỉ liếc mắt,

khoát tay, gật dầu Những kí hiệu: đèn đường (dèn đồ báo hiệu xe phải dừng,

đến xanh báo hiện cho xe chạy ), kí hiệu toán học, các hình vẽ trong các thùng hàng hóa Tắt cả các phương tiện nay đều gắn bỏ mật thiết, dều phục

vụ cho lợi ích của con người Những phương tiên phi ngôn ngữ giúp cho

hoạt động giao tiếp trở nên sinh động, hap dẫn hơn Người giao tiếp không

chỉ năm được nội dung giao tiếp mà còn có thể gợi liên tưởng tăng tính

biểu câm cho nội dung truyền đạt Mặc dù vị trí của nó là không nhỏ trong

việc hỗ trợ ngôn ngữ để lột tả nội dung, sắc thái Nhưng đổi lúc các

phương tiện phi ngôn ngữ do con người tạo ra đã gây khó khăn cho người

tiếp nhận bởi vì các yếu tố phi ngôn ngữ có những sắc thái biểu cảm khác

nhau, mỗi yếu tổ phi ngôn ngữ sẽ mang nhiều nội dung khác nhau chứ không phải chỉ cỏ một nội dung duy nhất Ví dụ như hành động gật đầu

Trong trường hợp có một người khác hỏi “Bạn có đồng ý với ý kiến của tôi

không?” thi hành dộng gật dầu chứng tỏ mang tính chất khẳng định, là dồng,

tỉnh với ý kiến Trong một trường hợp khác như câu: “Bạn không đồng ý

với ý kiến của tôi, có phải không?” thì lúc này hành động gật đầu mang tính

Trang 18

chất phủ định, không đồng tỉnh với ý kiến đó Từ ví dụ trên La thấy rằng các

yếu tổ phi ngồn ngữ mang những nét nghĩa rất da dạng, phong phú Có thể

nói tém lai khi ding cdc yếu tá ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ để diễn đạt nội

dung lời nói thì ta cần đặt chúng vào trong những ngữ cảnh cu thé thi mới

có thể hiểu nội dung giao tiếp một cách đúng đắn nhất

Ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Như đã nói ở trên thi chúng ta đều biết rằng trong thực tiễn đời sống con người

muốn trao đổi thông tin hay bộc lộ tư tưởng, tỉnh cảm cho nhau thì có thể

dùng cứ chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt gọi chưng là các yếu tố phi ngôn

ngữ Tuy nhiên những yếu tố này thường đem lại hiệu quả giao tiến không

cao hoặc có khi bị hiểu ngược lại ý dịnh của người phát Chỉ có giao tiếp

bằng ngôn ngữ mới giúp người ta hiểu được nội đung một cách chính xác

và đẩy đủ nhấL Vì vậy có thể nói ngôn ngữ là phương tiện giao liếp quan

trọng nhất của con người gay từ khi mới sinh ra trẻ đã biết cất tiếng khóc

chảo đời, được nghe những vần điệu ca dao, dân ca, những lời ru nồng nản

yêu thương từ mẹ từ bà Lớn hơn một chút thi trẻ đã tập nói những tiếng nói

đầu tiên đỏ là những lời gọi ông, bả, cha, mẹ Cỏ thể nói ngay từ rất sớm

con người đã có ÿ thức dùng ngôn ngữ để giao liếp Ngôn ngữ và tư đuy là

hai nhân tổ giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cảnh Chọ nến muốn thực hiện hoạt động giao tiếp còn cần phải có tư đuy và ngôn ngữ Có

thể nói không có ngôn ngữ sẽ không có tư duy, ngược lại, nều không có tư

duy thì ngôn ngữ cũng không thể phát triển Nhờ có ngôn ngữ mà hoạt động

tư duy mới có thể chuyển hóa những thứ thuộc về tỉnh thần ra vật chất làm

cho người khác để tiến nhận, ngôn ngữ vừa thực biển chức năng giao tiếp

vừa thực hiện chức năng tư đuy Hai chức năng này lại có quan hệ mật thiết với nhau Điễu này giúp cho ngôn ngữ trở thành một phương tiện giao tiếp

có nhiều diểm khác biệt so với các phương tiên giao tiếp khác trong đời

Trang 19

sống xã hội Nói về giao tiếp, người ta cho rằng con người côn có thể giáo

tiếp với người xưa và cả thể hệ mai sau Để cỏ thể thực hiện chức năng nay

thì hoạt động giao tiếp cần phải có chức năng lưu trữ và ngôn ngữ chính là

phương tiện để thực hiện chức năng này Con người giao tiếp với người xưa hay cả với thể hệ mai sau chủ yếu thông qua sách, báo được ghi chép

bằng ngôn ngữ Nếu không có ngôn ngữ thì người đi sau không hiểu những

gì mà người di trước đã làm cũng như người di trước không thể truyền lại

những kinh nghiệm, những hiểu biết cho người đời sau Ngôn ngữ chính là

phương liện giao tiếp quan trọng nhất sủa con người

Bắt cứ cuộc giao tiép nảo, con người không những phải truyền đạt được

nội dung piao tiếp mà còn phải dạt dược cái hay, cái đẹp trong giao tiếp

Chính sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của ngôn ngữ là điều kiện để hoạt

động giao tiếp đạt tính thẩm mĩ Trong hoạt động giao tiếp oon người phải

lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với hiệu quả thắm mĩ Quá trỉnh tiếp xúc

với môn Tiếng Việt và các môn học khác, con người được trang bị hoàn chỉnh một hệ thẳng ngôn ngữ hóa làm phương tiện giao tiếp để giao tiếp,

học tap Mén Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri thức vẻ ngôn ngữ,

quy tổ ử dụng ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao

tiếp Và khi tiếp xúc với các môn học khác sẽ làm cho hệ thống ngôn ngữ thêm phong phú, đa đạng vả ngày cảng hoàn thiện hơn

1.1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

1.1.2.1, Khái niệm về hoạt động giao tiếp — giao tiếp bằng ngôn ngĩữ

Tloat động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng,

tỉnh cảm giữa người và người Khi có ít nhất hai người trỏ chuyện với nhau về một điểu gì đó thì giữa hai người đó đã diễn ra hoạt động giao tiếp

Ta thấy rằng điều đầu tiên để cho hoạt động giao tiếp có thể diễn ra là phải

só hai déi tượng Trong dé, mat đóng vai người nói, một dóng vai người

l6

Trang 20

nghe, hai vai này có thể luân phiên lẫn nhau để đám nhận những vai giáo tiếp khác nhau Bất cử một cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong điều kiện nhất định, dùng một thứ ngôn ngữ nhất định, hướng đến một đối tượng nhất định để nhằm dạt dược một mục dích nhất dịnh Ta có thể hình dung qua trình piao tiếp diễn ra như sau: trước hết lả người nói chuẩn bị một nội dung,

nảo đó nhằm truyền đạt nội dung đó đến người nghe Nội dưng ở đây là sự

phản ánh thé pidi khách quan hoặc có thể là tư tưởng, tỉnh cảm nào đó của

con người Cho nên nội dung giao tiếp ở đây vừa mang tính khách quan

(phản ánh hiện thực) vừa mang tính chủ quan (nhận thức của con người), Hoạt động giao tiếp này được thực hiện thông qua văn bản Văn bản ở đây

là một chuỗi ngôn ngữ được sắp xếp một cách hoàn chỉnh theo các qui tắc

ngữ pháp để truyền đạt một nội dung nào đó trong quá trình giao tiếp Vì

nội dung giao tiếp la sy phan ánh thế giới khách quan vao trong ý thức của

người nói cho nên nó thuộc lĩnh vực Linh thần Để người nghe có thế nắm

bắt dược nội dưng thuộc lĩnh vực tinh thần đó thì người nói phải chuyển nội

dung ấy sang hệ thống vật chất, hệ thống vật chất ấy chính la ngôn ngữ

Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yêu tổ ngôn ngữ

do người nói phát ra, để hiểu được nội dung mà người nói truyền dat thi

người nghe phải lí giải các yếu tế ngôn ngữ này Kết thúc qua trinh nay

cũng là kết thúc quả trinh giao tiếp Văn bắn trong hoạt dộng giao tiếp dược tổn tại ở hai đạng là nói và viết

'Văn bản nói: là các yếu tố ngôn ngữ được sắp xếp thành một chuỗi tạo

rên lời nói trong giao tiếp Tiếp nhận văn bản nói là tiếp nhận âm thanh

bằng thỉnh giác Vin ban nói thường được dùng trong sinh hoạt hằng ngây, văn bản nói thường có các đặc điểm sau:

Kèm theo ngữ điệu (lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh ) Tủy theo từng nội dung muốn truyền đạt mả người nói sẽ có sự thay đổi ngữ điệu

17

Trang 21

cho phù hợp Sự thay đổi ngữ điệu nảy sẽ có Lác động rất lớn đến nội dung mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe Ngữ diệu làm cho lời nói trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình ảnh Sự biến đối của ngữ điệu sẽ làm thay đối cảm

xúc, ý nghĩa của lời nói Thậm chí có khi sự thay đôi ngữ điệu sẽ làm cho nội dung giao tiép mang ý nghĩa trái ngược lại Cho nền, khi sử dụng ngữ điệu phải

đứng lúc, đúng chỗ, đúng đổi tượng,

Sử dụng yếu tổ phi ngôn ngữ: cử chỉ, diệu bộ, nét mặt, hỗ trợ dễ

truyền đạt nội đung Trong một số trường hợp nhất định chính nhờ những

yếu tố này mà người nghe sẽ hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền

đạt một cách chính xác và đầy đủ nhất

Từ ngữ được sử dụng đa đạng, phong phú, có cả khẩu ngữ, tiếng

lóng, tiếng dia phương, thán từ chêm xơn VỀ cầu thường sử dụng những,

câu ngắn ngọn, câu đặc biệt, câu tỉnh lược Diều này làm cho vẫn bản nói được tạo ra một cách liên mạch sẽ giúp người nghe dễ hiểu, dễ tiếp nhận

Nhìn chung văn bản nói là văn bản nãy sinh tức thời, không có diễu

kiện gọt giữa nên đôi khi có những yếu tố dư thừa cho nên người nói phải

biết lựa chọn những nội dung thông tin cho phủ hợp với quá trình giao tiếp

Van bản viết: chữ viết được sắp xếp một chuỗi thành một bài viết Đó

là các văn bản hành chính, các bài văn chính luận, các bải báo Tiếp nhận văn băn viết là tiếp nhận chữ viết bằng thị giác To không có ngữ điêu nên

văn bản viết đỏi hỏi phải đùng chính xác các đấu câu, các quy tắc chữ viết,

các quy tắc ngữ pháp, ít dùng những từ ngữ dung tục, khẩu ngữ Câu phải

có kết cầu chặt chẽ, dược liên kết bằng các phép liên kết cầu theo ding quy

the ngữ pháp, phong cách nghệ thuật Nhìn chung văn bản viết thường có

thời gian xem xé, kiểm tra, gọt giữa cho nên ít có sai sót hơn văn bản nói Ngoài ra còn có dạng đặc biệt là văn bản viết được thể hiện đưới dạng nói

(đọc một bài phát biểu, một lời kêu gọi trong một hội nghị O day là văn

băn được xây dựng thoo các đặc điểm của văn bản viết nhưng được thé hiện

18

Trang 22

bằng đạng nói nên sẽ kẻm theo ngữ điệu) hoặc ngược lại văn bản nói được

thể hiện bằng, dạng viết (lời dỗi thoại của các nhân vật là văn bản nói nhưng

khi được đưa vào trong tác phẩm in trên sách thi trở thành văn bản viết) Từ

đó cho thấy vấn ban trong giao tiếp dược tồn tại dưới nhiễu hình thức khác

nhau Mỗi hình thức sẽ mang những đặc điểm khác nhau cho nên khi dùng

văn bản ở hình thức nào thì phải nắm rõ đặc điểm của hình thức ấy để có sự

lựa chọn phương tiên giao tiếp cho phù hợp

3.1.2.2 Giao tiếp, một hiện tượng xã hội

Giáo tiếp là hoạt động có tỉnh vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người

cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tốn tại

và phát triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người

cần phái giao liếp với nhau Cỏn phương liên, nội dung thì mang tinh lich

sử, đây là vấn đề có tính triết học Xã hội càng phát triển thì phương tiện

giao tiếp của con người vàng hiện đại Nếu trước đây người ta chỉ có thể giao tiếp bằng miệng, bằng sách báo thì ngáy nay người la đã có thể giao

tiếp với nhau qua điện thoại, thư từ, chat Nội dung giao tiếp vi thé cũng

ngày cảng đã dạng, Nếu trước đây người La chí giao tiếp với nhau về những

vấn dễ trong sinh hoạt hang ngay thi ngảy nay người ta đã biết giao tiếp

những vấn đề về thiên nhiên, vũ trụ, những vấn đề mang tầm thế giới Ta

phải nhận thấy rằng xã hội cảng ngảy cảng phát triển đã cung cấp cho cơn

người những phương tiện, nội dung giao tiếp ngày cảng đa dạng, phong phú

hơn bởi vi mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì quan niệm về cái dep, cdi hay

của con người cũng khác nhau

Người hiện tại giao tiếp với quá khử và có tham vọng giao tiếp với cả

hậu thế Lời nói thông thường có tính chất tức thời “lời nói gió thoảng” bởi

vì lời nói ra không thể lưu giữ lại được, người nghe chỉ có thể tiếp nhận

được ngay lúc đó còn việc có nhớ hay không thi không thể biết trước được

Nhưng lời văn, lời thơ thị sao? Lời văn, lời thư có tham vọng là lời gúa

19

Trang 23

muôn đời Khi viết ra một Lác phẩm thì người viết không những muốn cho

người dương thời tiếp nhận mả cỏn muốn truyền dat dén cả người hậu thể Bat kì một sáng tác nào thi bao giờ cũng phản ảnh hiện thực và bộc lộ tâm

tư, tình căm của tác giả Cho nên mỗi sáng tác đều có tham vọng lưu truyền

ở đời Chẳng hạn đủ cách ngày nay đã mấy trăm năm thì Iruyên Kiều của

Nguyễn Du vẫn thấm đấm trong lòng người đọc Nhắc đến văn học là người

ta nhắc ngay đến Truyện Kiều của Nguyễn lu Và giá trị nhân đạo, hiện

thực mà tác phẩm để lại cho chúng ta không thế phủ nhận được Mỗi một tác phẩm khi được viết ra thì tác giả đều muốn truyền đại đến người tiếp

nhận một ý nghĩa nào đó Và ý nghĩa này được người tiếp nhận thông qua

ngôn ngữ

Giáo tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tì của đời sống, để trao đối mọi tư tưởng,

tình cẩm giữa người và người trang moi mặt của đời sống

1.1.3 Các nhân tô cơ bản của hoạt dộng giao tắn

Trong hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo lập

văn bán vá các nhân Lễ này có mối quan hộ mật thiết với nhau Mỗi nhân

tố có một vai trỏ khác nhau trong việc tạo lập văn bản Khi dạy làm văn

theo quan điểm giao tiếp ta cần chú ý đến các nhân tố Cỏ rất nhiễu nhân

tố giao tiếp khác nhau nhưng ở dây chúng tôi chỉ tập trung vào các nhân

tổ cơ bản sau

1.1.3.1 Nhân vật giao tiếp

Là những người tham gia trực tiếp vào quả trình giao tiếp Quá trình

giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người nhưng chúng ta

có thé chia lam hai loại nhân vật giao tiếp đó là người phát và người nhận

Hiệu quả của quá trình giao tiếp được quyết định bởi cả người phát và

người nhận Khi người phát nói, viết những gi mà người nhận không hiểu

hay không phủ hợp với suy nghĩ, thói quơn của người nhận thì cuộc giao

20

Trang 24

tiếp sẽ không đạt được hiệu quả Như vậy để quá trình giao tiếp đạt được

hiệu quả như mong muốn thì người phát phất có sự lựa chọn nội đung giao

tiếp cho phủ hợp với lửa tuổi, trình độ, đặc điểm tâm lí của người nhận,

đồng thời người phát phẩt biết lựa chọn ngồn ngữ cho phủ hợp để khơi gợi hứng thú giao tiếp Ngược lại khi tiếp nhận nội dung truyền đạt thì người

nhận phải có vén hiếu biết nhất định về các lĩnh vực liên quan đến nội dung

lĩnh hội, về đối tượng dã truyền dạt (người phát) Sự hiểu biết này cũng

không kém phần quan trọng nó giúp cho người nhận có thể hiểu được nội

dung truyền đạt một cách đúng đắn và đầy đủ nhất để có sự hồi đáp phủ hợp với cuộc giao tiếp Những người tham gia trong cuộc giao tiếp phải có

một trình độ nhất định, nếu trình độ ngang hàng nhau thì cảng hiểu được

nội dung giao Liếp của nhau Tir dé cho chang la thay rằng sự hiểu biết về

đối tượng giao tiếp càng đẩy đủ, sâu sắc bao nhiêu thì hiệu quả giao tiếp

cảng cao bấy nhiêu Vai về, địa vị của nhân vat giao Lip sé ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động giao tiếp Những người có vai về, địa vị xã hội cảng

cao thì lời nói càng có giá trị, càng có sức thuyết phục Cùng một nội dung, nhưng người nảy nói lại không có sức thuyết phục hơn người khác Tir

những đặc điểm trên ta thấy rằng nhân vật giao tiếp đóng vai trỏ quan trọng,

do là nhân tố để lại đấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và

cách thức trình bảy một văn bản là một người giảo viên phải nắm rõ dặc

điểm học sinh lớp mình để tỗ chức ngôn ngữ giảng day theo quan điểm giao tiển cho phù hợp với từng đối tượng Đồng thời phải tạo được vị thế cho

bản thân để tăng sức thuyết phục cho lời nói khi truyền đạt đến học sinh

1.1.3.2.Nội dung giao tiép

Nội dưng giao tiếp ở đây lả hiện thực dược nói đến trong cuộc giao

tiếp Nội dung là tình cẩm, sự hiểu biết của con người được đưa vào nội dụng lời nói của người tham gia giao tiếp Người ta không thể nói những gỉ

2L

Trang 25

mả người la không biết Hiện thực được nói đến sẽ tạo nên chủ đề, dé Lai của cuộc giao tiếp Nội dung giao tiếp ở dây có thể thuộc về quá khứ, hiện

†ại và cả tương lai Nội đưng giao tiểp được tần tại trong suốt quá trình giao

tiếp, không ai lại nói những điều mà không chứa dựng được nội đụng nào Điều quan trọng để cuộc giao tiếp có thể diễn ra là cả người phát và người

nhận phải cùng hưởng về một nội dung giao tiếp Không thể người nảy nói

một nơi người khác lại hiểu một nẻo Chẳng hạn khi A hỏi B “Bao hôm qua

không đi học ?" ö trả lời “Tôm nay trời đẹp quá” Đó là vi phạm về nguyên

tắc của hoạt động giao tiếp Vì thế, cuộc giao tiếp xem như thất bại Tóm lại, để có thể thực hiện hoạt động giao tiếp thí những người tham gia giao

tiếp phải nằm rõ vẻ nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao

tiếp nhất định

1.1.3.3.Mục đích giao tiểp

B Témasepxki da ndi “ Muye dich của giao tiếp thông thường là biểu

đạt Chỉ cần thỏa mãn sự biểu đạt can người có thể sử dụng bắt cứ

phương tiện, cách thức nào: từ ngữ ánh mắt, nụ cười, cử chi, ban tay, cdt

nhún vai [1Ñ tr 135] Như vậy, có thể nói mục dích cơ bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lô tư tưởng, tình cắm, cảm xúc

của mình Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nảo

đó Mục đích giao tiếp là kết quá cuối củng mà cuộc giao tiếp mong muốn

đạt được Có thể nói một cuộc giao tiếp được gọi là thành công khi cuộc giao

tiếp đạt được mục đích đã đề ra Mục đích giao Liếp là động lực giúp con

người hướng đến và thực hiện hoạt động giao tiếp

1.1.3.4 Phương tiện giao nép

Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Điều đâu tiên để cả người

phát và người nhận có thể hiểu thông điệp của nhau là ngôn ngữ dùng trong

giao tiếp phải có Lính chất chung đổi với cả hai và ngôn ngữ trong văn bắn

32

Trang 26

viết phải khác với ngôn ngữ trong văn bản nói Để đạt được điều nay thi

người piao tiếp phải biết cách sử dụng phương tiên ngôn ngữ sao cho phù

hợp với đếi tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, sử dụng vẫn ngôn ngữ

mang tinh chất cộng dồng để người nhận có thể tiếp thu, có thể hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt Đối với người Việt trong

những hoạt động giao tiếp thông thường thì ngồn ngữ được sử dụng là tiếng

Việt Khi piao tiếp bằng ngôn ngữ thí trình độ ngôn ngữ cũng như vốn hiểu

biết về tiếng Việt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp Cũng như

các loại hình ngôn ngữ khác, tiếng Việt cũng được thể hiện ở cả hai dang ndi

và viết Khi sử dụng tiếng Việt chúng ta củn cần phải chú ý đến các phong cách

sử dụng vì mỗi phong cách sẽ quyết định việc lựa chọn những phương tiện giao

tiếp cho phủ hợp

1.1.3.5.Hoàn cảnh giao tiểu

Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những dặc diém của

nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia lâm hai loại: hoàn

cảnh giao tiếp rộng và hoản cảnh giao tiếp hẹp Iloàn cảnh giao tiếp rộng

là những hiểu biết chung về chỉnh trị „ văn hỏa, xã hội tại thời diễm diễn

ra cuộc giao tiếp Tất cả những hiểu biết này tao ra tiền giả định đế các nhân vật giao tiếp huy động theo những cách khác nhau vào cuộc giao tiếp Khi

tiến hành cuộc giao tiếp thỉ các nhân vật giao tiếp phải có chung một tiền

giả định Iloàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thé đang diễn

ra cuộc giao tiếp Hoàn cánh giao tiếp hẹp đòi hỏi nhân vật tham gia giao

tiếp phải có những ứng xử cho phù hợp Hoàn cảnh giao tiếp cũng ảnh

hưởng rất nhiều đến cuộc giao tiến, mỗi hoàn cảnh ta phải có su lua chon những cách thức piao tiếp cho phù hợp

Trên đây là những nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng ngôn

ngữ Các nhân tổ này có mối quan hệ mật thiết với nhau trong khi tiến hành

23

Trang 27

hoạt động giao tiếp Nhân vật giao tiếp có vai trò quyết định nội dung,

phương tiên piao tiếp Chẳng hạn như ngồn ngữ dùng để piao tiếp với người

lớn tuổi hơn mình sẽ khác với ngôn ngữ dùng giao tiếp Với người ngang

hang Khi gọi cm minh ăn cơm, ta có thể nói “vô ăn cơm” nhưng khi gọi ông nội thì ta không thể dùng ngôn ngữ đó mà phải nói là “cháu mời ông

nội vào dùng cơm” Nội dung giao tiếp lại quyết định việc lựa chọn phương

tiện giao tiếp Vì mỗi dối tượng mỗi nội dung giao tiếp khác nhau sẽ có

những phương tiện giao tiếp phù hợp Đông thời khi có sự hiểu biết, sự nắm

vững đầy đủ về nhân vật giao tiếp, nội dưng giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp thì mới có thể đạt được mục đích giao tiếp như kết

quả mong muốn

1.1.4 Giao tiếp và việc dạy - học lim vin dé giao tiếp

<1) Dạy tiếng Việt và làm văn là đạy học sinh rẻn luyện và nâng cao kĩ

năng sử dụng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp - sẵn sinh văn bản làm phương tiện giao tiếp

Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ, quy tắc sử dụng ngôn ngữ tạo ra các sản phẩm trong hoạt động giao tiếp

Tiổng Việt là công cụ dễ giao tiếp và tư duy Dạy tiếng Việt là dạy về ngôn

ngữ mà ngôn ngữ lả phương tiện để tạo nên văn bản trong hoạt động giao tiếp 'Văn bản này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc chung của tiếng

Việt Văn bản là một chuẩi lời nói dược sắp xếp một cách mạch lạc nhằm

truyền đạt nội dung giao tiếp nao đó Văn bản bao gồm hai phần: hình thức và

nội dung Hai thành phần nảy được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của

tiếng Việt Thành phần nội dưng nhằm phản ánh hiện thực, thái độ, tình cảm

của oon người và để truyền tải được nội dung đó đến người tiếp nhận thi

người nói cần phải sử dụng một hình thức cho phủ hợp Giữa nội dung và

hình thức có mỗi quan hệ mật thiết với nhau: nội dung quyết định hình thức,

Trang 28

hình thức phản ánh nội dung Dạy tiếng Việt là dạy các kiến thức cơ bản để

có thể tạo nên mối quan hệ hài hòa prữa hình thức và nội dung trong cùng một

vin ban Làm văn là phương tiện để học sinh có thể thực hành những văn bản

trong hoạt động giao tiếp Bất cứ một vẫn dễ nảo cũng vậy nếu ta chỉ day ly thuyết suông thì không thể đạt được hiệu quả mà ta cần phái gắn lý thuyết với thực hành Cho nên có thể nói rằng day tiéng Việt và làm văn là dạy cho học sinh có cách sử dụng tiếng, Việt để làm phương tiện giao tiếp

(2) Day lam văn không phải chỉ dạy hình thức bài văn đúng phong cách

ma quan trong là nội đưng có ý hay, đẹp

Về hình thức: Hình thức bài văn bao gầm nhiều đoạn, nhiều câu liên kết chặt chế với nhau, các cầu này phải cùng thể hiện dược một chủ dé, cimg hướng dến một mục dich nhất định Môn làm vẫn có các thao tác lập luận cơ

ban Ta có thể lập luận theo cách điển dịch bay quy nạp Tùy theo néi dung va

yêu cầu của bài văn mà ta sẽ có sự lựa chọn phương pháp lập luận cho phú

hợp vì mỗi phương pháp lập luận đều có những ưu, khuyết điểm riêng Các

thao tác lập luận nảy cần phải được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ để giúp cho

đoạn văn có một hình thức thống nhất Hỗ cục bai lâm văn gém có 3 phần

lớn: mở bài, thân bài, kết bài

Mở bài là nêu một cách khái quát về vấn đề trọng tâm mà mình sẽ khai

thác ở phần thân bài Phần mé bai nay sé giúp cho học sinh nhận điện được vin dé ma minh sẽ tìm hiểu Mở bải trong bài văn tự sự thuyết minh thưởng,

giới thiệu khái quát về đối tượng, sự vật, sự việc sẽ kế sẽ thuyét minh trong phân thin bai Me bai trong bải văn nghị luận thường nồu lên luận điểm

trọng tâm sẽ được trình bảy trong phần thân bài Phân mở bài đóng một vai

trò rất quan trọng, nó là điều kiện là tiền đề để học sinh có thể làm phần tiếp theo Vĩ có nhiều trường hợp học sình mất quả nhiều thời gián dễ có thể viết

được phân mở bài Có những học sinh khi không viết được phần mở bài thì

25

Trang 29

sẽ không thể lám được những phần tiếp theo

"Thân bài có nhiệm vụ là triển khai và làm sáng tố vấn đề nêu ứ phần mỡ

bài Ở phan thân bài này sẽ gỗm các luận điểm luân cứ góp phần lảm sáng tỏ

luận đề ở phần mở bài Các luận điểm, luận cứ này cần phải được liên kết chặt chế với nhau bằng các thao tác lập luận Các luận điểm phải nhỏ hơn và

tập trung làm sáng rõ luận đề Giữa các đoạn văn trong cùng một bải làm văn

được liên kết với nhau bằng các câu chuyển đoạn

Kết bài là tầng kết, kết luận lại nội dung đã trình bày Qua đỏ nêu lên

nhận dmh của bản thân về vẫn để đó, khẳng dịnh hoặc phủ định vấn dễ đỏ

Phần kết luận thường ngắn gọn, súc tỉch giúp học sinh nắm lại được nội dung

chính của vấn dé Lam văn lớp 6 có 2 kiểu bài cơ bản: Tự sự, miệu tả Mỗi kiểu

bài sẽ có hình thức riêng cho nên ta phải biết cách lựa chọn hình thức cho phủ

hợp với từng kiểu bải

Khi nói đến một bài lâm văn thì một trong những vấn đề quan trọng là

việu sử dụng từ ngữ vì làm văn chính lả thực hành những kiến thức về tiếng

Việt đã học Tử ngữ trong một bái làm văn góp phan thé hiện được những kĩ

năng của người viết, phải biết lựa chọn từ ngữ trong sáng, mạch lạc, súc tích

phủ hợp với từng kiểu bài và phủ hợp với phong cách của mệt bài làm văn

Ngôn ngữ trong một bài lảm văn thuộc về ngôn ngữ nghệ thuật cho nén tir

ngữ đòi hỏi phải đạt được giá trị thẫm mĩ Miỗi từ ngữ không phải chỉ hàm chứa nội dung mã còn phải đạt được cái hay cái dẹp Tiếng Việt của ta về từ

ngữ thi rất phong phú, đa dạng Sự phong phú đa dang nay đem lại kết qua 2

mặt: một là nếu ta sử dụng đúng thi sẽ giúp cho lời văn trở nên sinh động dat

được hiệu quả cao Ngược lại thì nó sẽ làm sai ỷ nghĩa hoặc đôi khi làm đảo

lộn cả nội dung muốn nói đến Bên cạnh đó thì uầu cũng đóng vai trồ quan

trọng trong một bái Làm văn Nội dung giữa các cầu cần phái dược sắp xếp

một cách hợp logic, đúng đặc điểm ngữ pháp để tạo nên được hiệu quả diễn

Trang 30

đạt Người !a thường nói “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt

am”, ta thấy rằng chỉ với một dẫu câu cũng cỏ thể lắm thay déi nội dung của cả câu

Ví dụ

Ngày tôi về nhà, cô âu

Ngày tôi về, nhà cô dy rat vuil

Ta thấy chỉ cần thay vị trí dấu phẩy thì ý nghĩa của hai câu đã khác xa

nhau Ở cầu thứ nhất thì người có dược niềm vui la “cd Ấy”, còn ở cầu thử 2 thì cả nhà cô ấy có được niềm vui Từ sự phân tích trên ta thấy rằng khi viết thành câu thì ta côn cần phải chủ ý đến cả dấu câu Các câu được liên kết chặt chẽ với nhau bằng các phép liên kết, các phương thức ngữ pháp khác nhau

cho phù hợp Lừ là phương tiện để tạo nên câu, câu là đơn vị để tạo nên một đoạn văn và mỗi đoạn văn lại là phương tiện để tạo nên một bài làm văn Cho nên để có thể tạo nên một bài làm văn đạt được yêu câu thì trước tiên cần phải sử dụng từ ngữ, cầu đúng phong cách, đặc điểm ngữ pháp để cho bai

lam văn chẳng những mang giả trị nội đụng má còn đạt được giá trị thẩm mĩ

Tóm lại, để có thể viết được một bài làm văn hay, đạt hiệu quả thì trước

tiên bai lam văn đó phải đạt được yêu cầu về mặt hình thức Hình thức đóng

vai Irỏ quan trọng trong một bài lảm văn vì hình thức là điều đập vào mắt

người đọc Irước khi tiếp xúc với nội dung của một bải làm văn Cho nên khi

hình thức tạo được sức thuyết phục nơi người tiếp nhận thì người ta mới có

thể tiếp nhận tiếp phần nội dung Bên cạnh, bài làm văn cần chú ý đến phần

nội đụng

Về nồi dung: Môi dung giao tiếp vô cùng phong phú da dang về vấn để

tự nhiên rồi các vẫn để xã hội như đạo đức, văn học, tỉnh cảm Trong bat cứ

hoản cảnh nào thì con người cũng cần phải có giao tiếp Trong nhà

27

Trang 31

trường thường giao tiếp về các lĩnh vực khác nhau Ở đó, không chỉ cung cấp

thông tin mà cỏn bồi dưỡng tư tưởng, tỉnh cảm cho học sinh Cho nên nôi

đưng giao tiếp cần phải hướng đến nhiều đối tượng khác nhau để đạt được

những hiểu quả giao tiến Tượng kiến thức mà nhà trường cung cấp cho hoc sinh với số lượng rất lớn Người giáo viên cẦn truyền tải tất cả nội dưng nảy

gắn liền với giao tiếp để vừa giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng của mình

vita phát huy dược tính tích cực, tự giác, sự hứng thú của học sinh trong các giờ

học nói chưng và giờ làm văn nói riêng Giờ làm văn là những giờ giúp cho học

sinh có thể diễn đạt được những kiến thức đã học

Cùng một vấn đề để làm sáng tô (nội dung) đâu phải lúc nào cũng chứng

minh hay phân tích với 1 thao tác duy nhất Có thể tủy người nghe (dọc), ý

muốn chủ quan của người nỏi (viét) mà sử đụng những thao tác lập luận, kiểu

bai phủ hợp Đây là vấn đề cá liên quan đến việc ra để làm văn sao cho phù

hợp nhu cầu, lựa chọn cách thức thể hiên của người viết Và chỉ khi phủ hợp

nhu câu thì người viết mới có khả năng bộc lộ sự thích thú, sáng tạn được Từ

đó bài viết sẽ hay, hắn dẫn hơn VÍ dụ ta thử so sánh hai đề lâm văn sau

Để 1 Hãy chứng mình dõi vai là kì điệu nhất

Pe 2: Ldy déi vai làm đề tài, hãy viễt bài luận về dễ tài dy

Ta thấy đề 2 sẽ tạo sự linh hoạt, hứng thủ, sáng tạo nơi người viết Ở dễ

1 tạo sự thụ động cho người viết vi ở đây khăng định tác dụng của đôi vai lả

“kỉ diệu nhất” vá yêu cầu người viết chứng minh diều dỏ Nghĩa là người viết phải chấp nhận nhận dịnh đó là dúng và chỉ tìm những ý nào chứng tổ đôi

vai là ki điệu nhất làm cho phạm vi viết trở nên rất hạn hẹp Còn ở đề 2 người

viết có thể tự do suy nghĩ vá chọn ra chú dé mà mình yêu thích Mỗi người sẽ

có suy nghĩ, có sáng tạo khác nhau Chẳng hạn như có thể viết “đôi vai là nơi

sẻ chia những tình cảm” hoặc “đôi vai là nơi để ta củng nhau chia sớt những

Trang 32

mình, do không bị gò bó về mặt nội dung cho nên sẽ tạo được sự hứng thú

cho người viết Người viết sẽ thả những suy nghĩ của minh trong bài làm văn Qua cách ra để như vậy người giảo viên sẽ nắm được kiến thức của học sinh Thư vậy, nội dung làm văn phải phong phú, gần với cuộc sống xung quanh chứ không chỉ vẫn đề sách vở, vấn đề lời người xưa Vì học sinh thích những

điều gì thực tế, nắm bắt được chứ không phải những gì mang tính chất ly

thuyết khô khan Học sinh có nhu cầu tìm hiểu về thế giới, về những gì diễn

ra xung quanh cuộc sống của các em Miỗi thời đại khác nhau thì nhu cầu của

con người cũng khác nhau Chẳng hạn như quan niệm về cái đẹp của con

người hiện đại sẽ khác quan niệm về cái đẹp của con người thời trung đại

Cho nên những vẫn đề mang tỉnh chất sách vở của người xưa không còn phủ

hợp với nhu cầu, thị hiểu thẫm mĩ của học sinh lúc bấy giờ Nó không còn

gần gũi và tạo được sự hứng thú cho các em vì những vấn để mang tính chất

sách vỡ thường phải theo khuôn mẫu Điều này làm cho học sinh không bộc lộ

được tư tưởng, tình cäm của mình Mỗi học sinh sẽ có cách nhìn nhận vấn

khác nhau Củng một vấn đề có em cho là đúng, có em lại cho 14 sai Trong khi

đó thì khi ra để làm văn cho học sinh người giáo viên thường cho học sinh làm

về những vấn dễ gắn với sách vở, tác phẩm văn chương Khi làm các để lắm

văn nảy, học sinh phải làm theo nội đưng mà giáo viền cũng cấp Từ đé làm

cho học sinh trở nên trụ động trong tư duy, suy nghĩ của mình

Tóm lại, nội dung dé văn, hình thức câu chữ của để văn góp phần tao

hứng thú, sáng tạo trong việc lựa chọn cách thức trình bày, thể hiện cho phủ

hợp Chỉ khi tạo được sự hứng thú, sáng tạo thì học sinh mới cé thể hoàn thành một bải làm vấn đạt hiệu quả

() Giáo viên phải cho học sinh chủ ý đến mục dich viết bài làm văn

Diéu này liên quan đến việc ra đề Trong để văn có thể có yêu cầu người viết trình bày rõ vấn dé để làm gi hoặc không yêu cầu cụ thể nhưng cần cho học

29

Trang 33

sinh ý thức được mục địch của bài làm văn của mình Viết để làm gì? Cho đạc? Khi ý thức được mục dích của bài làm văn thỉ học sinh mới có sự hựa

chọn phương tiện ngôn ngữ phủ hợp, đúng phong cách Các nhân +6 giao tiếp

ảnh hưởng rất nhiều trong việc day va hoc làm văn Mỗi nhân tổ sẽ mang

những đặc điểm khác nhau cho nên dạy lảm văn là phải giúp cho học sinh ý

thức đến các nhân tế giao tiếp để học sinh sử dụng đúng ngôn ngữ trong từng

trường hợp cụ thể

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.8.1 Tập làm văn và vai rò của môn Tập làm văn trong dạy học Ngữ văn

Trung học cơ sở

Môn tập lam văn có nhiệm vụ chủ yếu lả dạy học sinh sản sinh ra các

ngôn băn vá viết Tập làm văn còn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời

sống, trình độ văn hoá của học sinh Bài tập làm văn trở thành sẵn phẩm tổng hợp, là nơi trình bảy kết quả đích thực của việc học Tiếng Việt

Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy vả học tiếng "Việt

xót trên hai phương diện

-_ Phân môn Tập lam văn tập vận dung các hiểu biết và kĩ năng về tiếng

Việt do các phân môn khác rẻn luyên hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn

thiện chủng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn

ing Việt

thiện các kĩ năng nói, dọc, viết, phải vận dụng các kiến thức về

Trong quá trình vận đụng này, các kĩ năng và kiến thức đỏ được hoàn thiện và

ning cao dan

- Thân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ nắng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là hệ thông cầu trúc được xem xét tùng phân, tùng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ

sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học lập Nói cách khác, phân môn

Trang 34

Tập lam van đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc day và học tiếng, Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh

hoạt trong quá trình lĩnh hội các trị thức khoa học

1.32 Đặc điển tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh 6 Trung học cơ sở

Học sinh lớp 6 Trung học cơ sở là học sinh vừa mới chuyền cấp, với đặc

điểm tâm lý nỗi bật ở lửa Luổi nảy là ý thức tự khẳng định mình, muốn tự lực

độc lập trong mọi hoạt động lây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về cả thể chất

lấn linh thần, cdc om dang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn

phát triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát

triển: Thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức Chỉnh vỉ vậy, giáo viên cần lựa

chọn nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với tâm sinh ly

lứa tuổi lớp 6 này

1.2.2.1 Đặc điễm học tập của hạc sinh Trung học cơ sở

Hoạt đông nhân thức cơ bản của lứa tuổi lớp 6 là hoạt động học tập trong nhà trường So với học sinh tiểu học , hoạt động học tập của học sinhlớp 6

THCS đã có những biến đổi phủ hợp với ý thức tập làm người lớn

Xét về động sơ học tập, hứng thủ nhận thức của học sinh thường thiên về

hành đông thực tiễn nhiêu hơn lả nhận thức lý thuyết, thiên về nhân thức sự việu một cách trực tiếp hơn là lý luận về sự việc đỏ Động cơ học lập rất đa

dang va chua bén vững bởi vậy dễ học sinh có dộng cơ va thai độ học tập

đứng đắn thi tải liệu học tập phải có nội dung khoa học, xúc tích va phải gắn

với cuộc sống thực tiễn

Đổi với học sinh lớp 6, chú ý có chủ định được hình thành dần, mặt khác

chú ý đễ bị phân tán và không bền vững Dễ thu hút sự chứ ý của học sinh lứa

tuổi nảy cần tổ chức các hoạt động học tập hợp lý, nội đung học tập đòi hỏi

phái giúp học sinh hoạt động nhận thức thôi thúc tìm tỏi

3L

Trang 35

1.2.2.2 Đặc điểm phái triển trí tệ của học sinh Trung học cơ sở

Học sinh lớp 6, tính chủ động được phát triển mạnh mỡ trong các quá

trình nhân thức, tri giác có mục đích cũng đã phát triển Việc quan sát ngày

cảng có hệ thống, có mục đích và toàn điện hơn Tuy vậy, việc quan sát của học sinh trong giai đoạn này sẽ không thể dạt hiệu quá cao nếu thiếu sự chỉ

đạo của giáo viên để hướng dẫn các em vào một nhiệm vụ quan sát cụ thể Việc ghỉ nhớ mảy móc ngày càng nhường chỗ cho ghỉ nhớ có ý nghĩa, đựa

trên sự phân loại, hệ thông hoá Tốc độ phi nhớ và khối lượng tài liệu ghi nhớ

tăng lên, lúc này dạy học cần trảnh việc buộc học sinh phải công nhận, ghi nhớ mảy móc Việc áp dụng các phương tiện hiện đại vào đạy hạc sẽ tạo điều

kiện cho học sinh huy động nhiều giác quan dễ nhận thức, tăng khả năng ghi

nhớ, biết ghỉ nhớ légic theo sự sắp xếp có hệ thống nội dung học tập Đây là

lứa tuổi mà các chức năng của não phát triển, tư đuy trừu tượng của học sinh

đã chiếm ưu thế, nhưng những phần hình tượng cụ thế của tư duy bộ phân

không giảm xuống mà vẫn phát triển Trong dạy học, khi phân tích các dẫu hiệu bản chất, trừu tượng của đối tượng mà không hình thành được biểu tượng,

trực quan về đổi tượng cho học sinh sẽ làm cho các em hiểu đối tượng một

cách hình thức Ở lứa tuỗi này, do đặc điểm phát triển tâm sinh lý hầu hốt các

em có nhụ cầu hiểu biết, độc lập suy nghĩ trong học tập, nhu cầu nâng cao nhận thức nên đi hỏi phải có những cải tiến trong hoạt động học tập trong nhả

trường cho phủ hợp với nhụ cầu phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh

1.3.3 Dặc điểm của môn Tập làm văn 6

Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 nằm trong bộ sách giáo khua Kgữ Văn trung

học cơ sở được biên soạn theo hướng tích hợp: sát nhập ba phần mộn (Văn,

Tiếng Việt, Tập Làm Văn) vào một chỉnh thể Ngữ Văn Mỗi bài học, đơn vị

của Sách giáo khoa d éu du ba phần Trong do, phần Phần Tập làm văn gồm

35 tiết tương ứng với 35 tuần học, được xếp sau các phân môn Văn, Tiếng

Trang 36

Việt để hình thành, rên luyện kỹ năng sứ dụng ngôn ngữ và lạo lập văn bản

cho học sinh

Chương trình Tập làm văn lớp 6 bao gồm 2 chủ đề cơ bán la

-_ Những vấn đề chung về văn bản vá tạo lập vẫn bần

-_ Các kiểu văn bản: Bao gồm hai kiểu văn bản chính là miều tả và tự sự,

và làm quen với một phần văn bản hành chính công vụ

1.3.4 Thực trang dạy học môn Tâp làm vin ở trường Trung học cơ sở

hiện nay

Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở nói chưng , chương trình

Ngữ văn lớp 6 nói riêng, có rất nhiều tiết Tập làm văn và đặc biệt ở chương, trình sách giáo khoa lớp 6 được triển khai 2 thể loại văn đó là tự sự và miều tả

và nhà biển soạn cũng coi trọng mỗi quan hệ đồng qui, đã gắn bó với ba phân

môn Văn - Liếng - Tập làm văn và cũng vạch ra định hướng kết nối hệ thống

trị thức trong từng phân môn, thậm chí, kiên thức của môn Ngữ văn có thể

được kết nối với kiến thức của các môn khoa học khác Việc tiếp cận tỉnh thần

đổi mới của sách giáo khoa theo hướng tích hợp giữa các phân môn đó là một

phương pháp dạy tốt nhất để phát huy tính sảng tạo tia hoc sinh trong phân

môn tập làm văn

Phân môn 'lập làm văn ó vai trỏ như đã nêu ở trên, thế nhưng qua thực

tế, chúng ta thấy năng lực cảm thụ văn chương và đưa văn chương vào cuộc

sống của dại da số các em lớp 6 còn yếu Có những học sinh cấp trung học cơ

sở mà viết những đoạn văn, bài văn thật ngây ngõ khiến cho người đọc phải

“gười ra nước mắt” Các om chỉ có thể làm văn bằng cách sao chóp những bài

mẫu hoặc ghi lại tất cả những lời giảng của giáo viên chứ không thé viết ra những điều mình nghĩ Chính điều đó đã làm cho các em lo sợ và ít hào hứng

khi học môn Ngữ văn, nhất là phân môn Tập làm văn.

Trang 37

Việc học Tập làm văn lớp 6 ở trường Trung học cơ sở hiện nay vẫn côn

chưa được thực hiện dăm bảo dầy đủ các nhãn tổ giao tiếp, từ khâu hướng, dẫn, ra đề đến làm bài và đánh giá kết quả bải làm của học sinh Trong các tiết hướng dẫn lam bai vả ra đề thi/kiểm tra, giáo viên dôi khi chỉ chú trọng dén nội dung giao tiếp mà không hướng học sinh tiếp cân mục đích, đối tượng và

hoàn cảnh giao tiếp Làm văn là sản sinh ngôn bản, mà sản sinh ngôn bản chỉ

phục vụ mục dích duy nhất là giao tiếp, giao tiếp thì phải có đối tượng giao

tiếp Bác Hồ từng nói: “Trước hết muốn viết văn thí phải biết mình viết cho ai

gái dã Có hình dung được đối Lượng để hướng tới thì viết mới có lác dụng”

'Thực tế, học sinh làm văn hậu hết đều lẫy đối tượng giao tiếp của mình là

cô giáo, viết để cho cô giáo đọc, vi học sinh nhằm là cô giáo đọc, cham bai

văn của minh Thực ra giáo viên chỉ là người đánh giả sản phẩm của các cm

chứ hoàn toản không phải là đối tượng giao tiếp

'Trong dạy học văn miêu tả, học sinh chưa được đặt trong bối cảnh giao

tiếp nên học sinh thụ động va lúng túng khi chọn chỉ tiết miễu lả

Vi đụ:

Da bai: Fa mét con mua

TIẹc sinh sẽ không biết tả các chỉ tiết nào của cơn mưa, không biết hình

ảnh nao lá độc đảo, có ý nghĩa Vì thể, bài của học sinh tã rắt chung chung: từ chuẩn bị mua: gió thối mạnh, trời may âm u đến khi mưa: lúc đầu chỉ lộp

dép vai hat, sau day hat din Những câu tá như một nhà khí lượng dang

nghiên cửu quy luật của một sơn mưa Các bài văn như thé hao hao giống, nhau, không có sự sáng tạo, đặc biệt hơn, nếu giáo viên cho phép tham khảo bai văn mẫu thì chắc chắn sẽ có đến 2/3 số bải giống nhau Việc tìm hiểu về nhân vật giao tiếp rất vô hình, lựa chọn đối tượng giao tiếp cũng rất vô hình, không cụ thé, hoc sinh viết theo văn mẫu nhiều, vô hình chung đã đây học

Trang 38

sinh đến việc tự do lựa chọn nhân tố giao tiếp và đây là vấn để rất lớn cần được khắc phục

'Trong văn kế chuyện, là loại văn về cơ bản đã cé rất nhiều yếu tổ thuộc

ly thuyết giao tiếp (như người kể, ngôi kể, nhân vật, đối tượng, bếi cảnh )

nhưng các bải văn cũng hầu hết dừng lại ở việc ké chuyên dơn thuần, iL thấy

sự sáng tạo và xác định rõ các nhân tổ giao tiếp

Nguyên nhân nào khiến các em rơi vào tình trạng như vậy? Cũng có thể

là do giáo viên chỉ chú trọng vào day lí thuyết mà xem nhẹ khâu thực hành

tại lớp hoặc do sách bải văn mẫu do tràn ngập thị trường, cdc em không cần

phải động não suy nghĩ ma van có được bai văn hay Song nguyên nhân chủ

yếu là do các em chưa nắm được phương pháp, tử đỏ không thể hình thành cho minh kĩ năng làm văn Điều đó bắt nguồn từ việc giáo viên chưa giúp học sinh

định hương được phương pháp tiếp sận và làm bài một cách có hiệu quả Do

đó, việc giáo viên dịnh hướng được cách tiến cân các dạng văn bản và hướng,

dẫn học sinh là việc làm hết sức quan trọng.

Trang 39

CHƯƠNG2 DAY HOC TAP LAM VAN LOP 6 TRUNG HỌC CƠ SỞ

THEO QUAN DIEM GIAO TIEP 2.1 Vấn đề dạy học Tập lam van & Trung hoc cơ sở thco quan điểm giao tiếp

Chương trình dạy học môn ngữ văn mới ở rung học cơ sở được xây

dung theo quan điểm tích hợp Có sáu kiểu văn bản (tự sự, miêu tả, biểu cắm,

thuyết mình , lập luận (nghị luận), điểu hành (hành chính - công vụ) được lựa

chọn làm trục đồng quy Nội dung dạy làm văn cũng tập trung vào 6 kiểu văn

bắn này Cấu trúc pủa chương trình đổi mới theo hướng : tăng thực hành,

giảm lý thuyết nhằm tạo cho học sinh cơ hội luyện tập rên kỹ năng tạo lập

văn bản;hình thành và phát huy năng lực độc lập,sáng tạo

Khi thực hiện chương trình này, giáo viên cần lực chọn những phương

pháp và biện pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh cỏ năng lực tiếp nhận và

†ạo lập sáu kiển văn bản nói trên ở câ hai dạng: nói và viết Các em không chỉ

biết tạo lận vin ban phù hợp với mục dích, hoàn cảnh, diều kiện giao tiếp, ma còn biết tự đánh giá, tự điều chỉnh cách nói, cách viết của mình

1 Dạy lam vin theo quan diém giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sở là

dạy cách tổ chức giao tiếp, hay nói cu thé la dạy cách thức tổ chức giao tiếp

bing vin ban Khi đạy học, giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh cách lập văn bản theo bốn giai doạn' định hướng, lập chương trình, thực hiên chương trình, kiểm tra đánh giá, sửa chữa sao cho bài viết đạt được mục dích giao tiếp

đê ra

Mặt khác, giáo viên lưu ý hướng dẫn hoc sinh biết thể hiện được chính xáu tư Lưởng, tình cám của mình, dồng thời biết tổ chức bài văn sao cho người tiếp nhận dé dang tiếp thu được nội dung văn bản Muốn vậy, trước khi làm bắt cứ một bài văn nào, học sinh phải chú ý đến việc xác định đổi tượng giao

Trang 40

Quan hệ giữa người tiếp nhận và mình ra sao?) học sinh đọc kỹ đề bài dé nhận diện để (đề bải thuộc loại nào, kiểu nào); xác dịnh yêu cầu trọng tâm của

đề (uận để); xác định hướng lâm và giới hạn phạm vi làm

Ví dụ, đề làm văn: “ Mới về việc tu dưỡng ý chỉ, ca dao có câu: Ái gi

giữ cho chỉ bền/Dù di xoay hướng đỗi nền mặc ai Hãy bình luận câu ca dao

trên” Với đề bài này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xác định:

~_ Kiểu bài: binb luận, loại nghị luận xã hội

- NGi dung để bài: ĐỀ cao tinh thần kiên định, giữ vững ý chí trước sự

tắc động của mỗi trường, cuộc sống xung quanh

- Pham vi kiến thức: Chủ yếu lấy kiến thức Lừ đời sống thực tễ

- Ilướng làm bài: giải thích, chứng minh, phân tích và nhận định đánh

gid dé khẳng định lời khuyên trên là dúng dẫn, cần thiết cho những ai muỗn

làm nên sự nghiệp

hi xác định được đúng hướng nội dung trên, học sinh sẽ có được “nền

móng” vững chắc cho bước tiểp theo là tim ý, sắp xếp ý (xây dựng kết cầu)

của văn bản

2 Theo quan diém giao tiếp, việc giao tiếp bằng văn bản không chi don

thuần nhằm mục đích thông tin mà chủ yếu là quá trình tác động đến người

nhận về nhận thức, quan điểm thẩm mỹ và hành động Trong mỗi quan hệ

giữa thông tin và tác động thi thông tin là phương tiện của tác động, cỏn tác

động là mục đích của thông tin Bất cứ một văn bản nào cũng thường qua thông tin để nhằm vào mục đích nhất định — thông tin để bộc lộ, biện minh,

giải thích làm thay đổi thái độ, hành động và nhận thức của người tiếp nhận

Ví dụ, đề văn miều tả "AZùa xuân về trên quê hương em thật dm dp va

vui tuoi Em hay td lai mot buổi sảng mùa xuân ấy”, giáo viên hướng dẫn học

sinh khi làm văn này, ngoài việc cung cấp thông tin về không khí, về quang

a7

Ngày đăng: 26/05/2025, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm