Trần Dinh Chung khi bản về quan diễm day hoc lam vin trong sach “Mdy vốn đề về giảng dạy môn phương pháp dạy học Ngữ văn trong chương trình Cao đẳng Sư phạm mới” cô nói “Với phân môn Tậ
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI TRUONG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYÊN NGỌC MAI
VAN DUNG LY THUYET HOAT BONG GIAO TIEP
VAO DAY HOC TAP LAM VAN LOP 6 TRUNG HQC CO SO
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHAM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Hộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS T§ DO VIET HUNG
HÀ NỘI -2011
Trang 2$ Nhiệm vụ nghiên cứu " 7
6 Phương pháp nghiên cứu ¬ 8
Chương 1: NIỮNG VÁN ĐẺ LÝ THUYÉT CỦA HOẠT ĐỌNG
1.1.1.Giao tiếp và hoạt st dona giao tiếp trong đời sống ã hội 9
1.1.4 Giao tiếp và việc dạy - học làm văn dễ giao tiếp - 24 1.2 Cơ sở thực tiển " teseeeeetsneestene ty 30
1.2.1.Tập làm văn và vai trỏ của môn Tập làm văn trong dạy học }`
1.2.2.Đặc điểm 1õm lý và trỡnh độ nhận thức: của học sinh 6 “trang be hoc
1.2.4 Thực trạng dạy học môn Tập lắm văn ở trường Trung học cơ sở
Chương 2: DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 6 TRƯNG HỌC CƠ
2.1, Van dé day học lập làm văn ở Irung học cơ sở theo quan điểm
22 Các dang bai Tập l làm văn lớp 6 ‘Trung hac co sé va hướng tiếp
Trang 32.2.1.Dạng bai ly sự
2.2.2 Dạng bải miêu tả
Tiểu kết chương 2
Chương 3: THỰC NGHIỆM SU PHAM
3.1, Các yêu cầu cơ bản của thực nghiệm
3.1.1 Mue đích thực nghiệm
3.1.2.Nhiệm vụ thục nghiệm
3.1,3.Đỗi tượng
3.1.4.Nguyờn tá: hanh thực nghiềm
3.1.5 Phuong phap thực nghiềm
3.1,6.Tiờu chỉ đônh giỏ kết quả thực nghiệm sư phạm:
3.3.1 Đănh giá về hiệu quả giờ học
3.3.2 Đánh giá qua bài làm của học sinh
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chon dé tai
Môn Tiếng Việt nói chung và Tập làm văn nói riêng nhằm mục dich cudi
củng là rèn cho học sinh sử dụng đúng, hay tiếng 'Việt vào hoạt động giao tiếp
trong đời sống Miên Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những trì thức về ngôn
ngữ như các lớp từ vựng, các qui tắc sử dụng ngôn ngữ vào trong hoạt động giao
tiếp Chính nhờ những trị thức này mà học sinh mới biết cách sử dụng ngôn ngữ phủ hợp với nội dung cần trình bảy Có thể nói dạy tiếng Việt là dạy cho học
sinh cách sử dụng phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp Mat
khác, môn học nảy gòn giúp cho học sinh tiếp nhận và diễn đạt những kiến thức
khoa học trong nhà trường,
Dạy làm văn ở trường trung học hiện nay gặp rất nhiều khó khăn Có
một thời gian đái người giáo viên dạy lảm văn cho học sinh quá thiền về trí
thức lý thuyết một cách máy móc mà quên rằng tất cả những tri thức Ấy cần
được vận dựng trong đời sống thực tế Mặt khác, chương trình cũng không
chủ ÿ dến nhu cầu, thị hiểu của học sinh cho nên da số nội dung của các bài
làm văn mà giáo viên đưa ra không gắn với thực tế đời sống mà chỉ nghiêng
về những tác phẩm văn chương Người day chua tim hiểu xem học sinh có
nhu cầu bộc lộ tỉnh cảm, cảm xúc của mình không? Chính diều nảy dã làm
cho học sinh trở nên thụ động, hạn chế khả năng giao tiếp, đồng thời tạo cho
học sinh cẩm giác nhàm chán, không thích học làm văn Từ trước đến nay
người ta bản rất nhiều về phương pháp day tiếng Việt làm văn ở phổ thông, phương pháp giao tiếp, phương pháp vận động, phương pháp tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh Trong dó người ta đặc biệt nhắn mạnh đến
phương pháp giao tiếp Trong đạy học nói chung và đạy làm văn nói riêng,
ảng được thể hiện đưới những hình thức đa dạng
phương pháp giao tiếp ng:
khác nhau Kết quả của một giờ làm văn không phải chỉ cho học sinh nắm
được nội dung bai hoc theo lý thuyết suông mà còn phải biết ứng dụng vào
Trang 5các hoại động giao tiếp rong thực tế đời sống, Vì vậy, kể tử khi quan điểm giao tiếp được dưa vào trong phương pháp dạy học thì kết quá dạy làm văn dã
đạt được những bước tiến đáng kể so với trước đó Chúng tôi nhận thấy ring
phương pháp giao tiếp dóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học lâm
văn Phương pháp giao tiếp sẽ phát huy được khả năng sử dụng ngôn ngữ cho
học sinh, phát huy tư duy sáng tạo, đẳng thời tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học làm văn Chúng tôi suy nghĩ rằng đổi mới phương pháp day học làm văn đang là vấn đề cần thiết Iiện nay, chúng ta đã khẳng định tỉnh
ưu việt của phương pháp giao tiếp trong việc dạy làm văn nhưng việc dạy và
học làm văn ở trường phố thông vẫn còn hạn chế Phần lớn giáo viên đều
nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp
nhưng lại không năm được lý thuyết về giao tiếp, chưa tổ chức được những
hình thức giao tiếp, chưa nhận thức được đầy đủ về tâm quan trọng, hiệu quả
của phương pháp này, đặu biệt là trong day làm văn Điều này đã làm hạn chế
rất nhiều đến kết quả day va hee lim văn
Trước thực trạng đỏ, chúng tôi chon dé tai “Van dung LÚ thuyết hoạt
động giao tiếp vào day học Tập làm văn lớp 6 Trưng học cơ sở” © dé ai nay, chủng tôi đẻ ra những phương pháp dạy làm văn theo quan diém giao tiếp nhằm mục đích giúp cho việc dạy vả học làm văn ở phế thông đạt được chất lượng tốt hơn
2 lịch sử vấn đề
Những năm gần đây nhất là từ sau cải cách giáo dục, phương pháp dạy
học chính lá vấn để được quan tâm hảng đầu Trong những phương pháp đó thì
phương pháp giao tiếp được các nha pido dục hết sức chú ÿ Có nhiều bài viết,
bài nghiên cứu về phương pháp này Trong số các tác giả nghiên cứu về đạy
lam vin theo quan diém giao tiếp thì cỏ tác giả quan tâm cụ thể về mặt
phương tiền (phương pháp dạy của giáo viên) cũng có tác giá quan tâm về mặt
Trang 6mục đích của việc dạy làm văn thoo quan điểm giao tiếp,
Nguyễn Quang Ninh trong sách “Mộ: số vấn đề đạp ngôn bản nói và viết
ở tiểu học theo hướng giao tiếp” khi nói vỀ việc dạy làm văn, lác giã đã nêu lên những nhược điểm của dạy làm văn nói theo định hướng giao tiếp Ông
cho răng mục đích của các bài làm văn thường bị giáo viên coi nhẹ, giáo viên
chỉ thiên về đánh giá thành phẩn nội dung của sự việc Người giáo viên dã
quên rằng một bài làm văn không phải chỉ để tả, kể mà qua việc tả, kế đó nhằm
hướng đến một mục đích khác Bên cạnh đó khi ra đề làm văn cho học sinh thỉ đường như các nhãn tổ giao tiếp bị gạt ra ngoài sự chủ ÿ của piảo viễn Chính điều đỏ đã dẫn đến bài làm văn của học sinh trở nên đơn điệu, nhằm
chán Tác giả đặc biệt chú ý đến phương tiện của hoạt động giao tiến là ngôn
bân nói và ngôn bản viết Đây chính là phương tiên chủ yếu dễ thực hiện quá
trình giao tiếp Ö bai viết này Nguyễn Quang Ninh cũng đã đưa ra những đặc
điểm của ngôn bản nói và ngôn bản viết Ngôn bản ở đây là một chuỗi ngôn
ngữ được sắp xếp theo các qui tác ngữ pháp, kém theo ngữ điệu (ngôn bản nói)
nhằm thể hiện nội dung giao tiếp Từ những đặc điểm trên giúp cho người dạy
lim ra những phương pháp day làm văn phủ hợp với quan diễm giao tiếp
Chúng ta cần ý thức cho học sinh biết rằng mục đích cuối củng của một bài
lâm văn là phái giúp cho học sinh tổ chức được những ngôn bản thoo mục dich
giao tiếp đã để ra
Trong sách “Những thủ thuật trong dạy học - các chiến lược nghiên
cứu và lý thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và Cao đẳng”
Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của phương pháp dạy
học hiện nay mà cho rằng “Theo chương trình đụp Hỗng Pháp phải dựa trên việc
thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học Hỗng Pháp học sinh phải luôn luôn
được đặi vào tinh huéng giao tiếp" [24, tr.14] Ở một đoạn khác, tác giã đặc biệt
nhấn mạnh “cơ bản là phải đặt học sinh trong một tình huồng giao tiếp làm sản
Trang 7sinh hoặc thông hiểu lời nót” |24, tr.14| Điều đô có nghĩa là việc dạy học theo
quan điểm giao tiếp dược áp dụng rộng rãi ở tất cả các môn học Để có thể
hướng quá trình day học vào hoạt động giao tiếp thì người giáo viên cần thiết
phải tạo ra những tỉnh huỗng có vấn để dể học sinh tham gia vào hoạt động giao tp ‘Tinh huồng là một điều kiện quan trọng để sản sinh ra hoạt động giao
tiếp, không có tỉnh huống thi hoc sinh không thể giao tiếp Đây là nhận định có
¥ nghĩa quan trọng để người giáo viên có thể tổ chức quả trình dạy học tiếng Việt, làm văn đạt hiệu quả cao
Trần Dinh Chung khi bản về quan diễm day hoc lam vin trong sach “Mdy vốn đề về giảng dạy môn phương pháp dạy học Ngữ văn trong chương
trình Cao đẳng Sư phạm mới” cô nói “Với phân môn Tập làm văn, quan
điêm dạy học tích hợp càng thể hiện tính tích cực của nó khi hiện thực hóa quan điểm thực hành và giao tiếp của phân môn néy [7, tr 15] Phương pháp
dạy học tích hợp là lấy các đữ liệu từ các nội đụng bài học thuộc các phân môn
liền quan Chính các dữ hiệu này sẽ góp phần khơi gơi hứng thú, củng cổ các
kiến thức đã học Từ đây cho thấy quan điểm giao tiếp trong đạy hục nói
chung, day lim văn nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng dó là thực hành
những văn bản góp phân tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Lê A khi bàn về phương pháp giao tiếp đã nói “ Phương pháp giao tiếp là
phương phản quan trọng trong dẹp học Tiẳng việt Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các
nhiệm vụ của quả trình giao tiến, có chú ý đến đặc điểm và các nhân tô tham
gia vào hoại động giao ñếp” |1, tr 69-70] Đặc biệt các tác giả còn nhấn
mnạnh “ ương pháp này có thể được áp dụng khi dạy học từ ngũ, câu, phong
cách và đặc biệt là trong các bài học thuộc phân môn Tiếng việt “ [1, tr T0]
Từ những ý kiến trên, tá thấy rằng tác giả đặc biệt nhắn mạnh dến vai trỏ của
phương pháp giao tiếp Phương pháp này có thể giúp cho hoc sinh van dụng
Trang 8được những lý thuyết đã học để thực hành các văn bản trong quá trình giao tiếp Phương pháp giao tiếp là phương pháp có vai trẻ rất lớn và dang được
sử dụng rộng rãi trong việc dạy tiếng Việt nói chung vả phần môn Làm văn
nói riêng, Khi vận dụng phương pháp này trong dạy làm văn thì người giáơ
viên cần chú ý đến hai mặt chủ yếu là phải giúp học sinh vận dụng được các lý
thuyết giao tiếp và ý thức được các nhân +6 giao tiếp
Nguyễn Trí trong sách “Dạy Tập làm văn ở trường tiêu học” khả bàn về
việc tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học, tác giả đã đưa ra những
cách lập ding chương trình lời nói Ở bài viết này, tác piả cũng chủ ý dến mục
đích của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Bên cạnh đó khi nói về mục đích
của môn Làm văn tác giả cũng nhắn mạnh “Tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu
là rèn luyện KE nang sản sinh ngôn bản nói và viễt Không học tất Tập làm văn
khả năng nói và viết ngôn bản của học sinh sẽ bị bạn chế” [23, tr 8] Điều đó
có nghĩa là mục đích cuối cùng của môn Lam văn là giúp cho học sinh có thể
sử dụng thành thạo ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp, học làm văn tôt sẽ
giúp cho học sinh có kĩ năng nói và viết thành thạo hon
Trong sách “Phương pháp dạy học Tiếng việt” khi bàn về lý thuyết giao
tiếp bằng ngôn ngữ, Lê A đã nói "/.ảm văn chính là làm các loại van ban dé
giao tiếp Không có nhụ câu giao tiếp thì không ai lại nói và viết thành văn
bản” [1, tr 193] Mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau Chỉnh nhu cầu là
động lực giáp cho con người hành động, Cho nên để tạo ra được những văn bản
thì người ta cân phải có nhụ cầu giao tiếp Ở một đoạn khác tác giả cảng nhân
mạnh vai trở của hoại động giao tiếp “Piệc làm văn có quan hệ với một lý
thuyết khác bên cạnh lý tuyyết về văn bản, Đó là lý thuyết giao tiếp bằng ngôn
ngữ hay nải gọn hơn là lý Huyết giao tiếp ngôn ngữ” |1, tr 193] Điều đó có nghĩa là lý thuyết giao tiếp đóng một vai trỏ quan trọng trong việc đạy và học
làm văn Chính nhu cầu giao tiếp là nguyên nhân sản sinh ra văn bản Từ đó
Trang 9cho thấy để sản sinh ra những văn bản có giá trị giao tiếp thỉ người dạy và học phải tham gia vào hoạt đồng giao tiếp bằng các lý thuyết piao tiếp ngôn ngữ
Nam 2006 trên Tap chí giáo dục số 138, Phan lhị Lhủy trong bài viết
“Day làm văn ở Trung học cơ sở theo quan điểm giao tip” cé noi “Dav lam
văn theo quan diễm giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sỡ là phat huy với trỏ
độc lập, sảng tạo, chủ động si; nghĩ của học sinh trong việc học làm văn, Tỉnh
chủ động, sáng tạo nay được thể hiện rõ thông qua dấu ẩn chủ quan của các em
trong việc tạo lập văn bản” |21, tr 27| Một bài lâm văn trở nên sinh đông khi
nó bộc lộ được tư tưởng, tỉnh cảm, cảm xúc của học sinh Muôn đạt được điều
này cần phải phát huy tư duy, sáng tạo của mỗi học sinh Cho nên chúng ta
cần hướng học sinh vào hoạt dộng giao tiếp Chính hoạt động giao tiếp là diễu kiện cân thiết để học sinh bộc lộ tư duy sáng tạo của mình 6 quan điểm này,
lác giả đã đưa ra những đặc điểm cu thể của một bài làm văn theo quan điểm
giao tiếp Mục đích này cũng là mục đích cần phải có khi tiển hành các phương pháp dạy học mới
Vì các lẽ trên mà có nhiều ý kiến đã đánh giá rất cao về vai trò của phương
pháp piao tiếp tronp quá trình dạy học Ở dây, thêm một lần nữa chúng tôi
khẳng định vai trò của day làm văn theo quan điểm giao tiếp Có thể nói việc
đạy làm văn theo quan điểm giao tiếp hiện nay là một phương pháp đang được
sử dụng rộng rãi trong dạy và học ở các trường phổ thông,
Nhìn chưng, các bài viết trên chỉ dừng lại ở những ý tưởng có tỉnh chất định hướng, các táo giả thiên về mặt lí luận, thiểu khâu tổ chức thực nghiệm
việp dạy vả hục làm văn ớ trường phổ thông Dường như chưa cỏ công trình
nao để cập một cách cụ thể, chỉ tiết có hệ thông từ khâu lí luân đến thực tiễn
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết về hoạt động giao tiếp và thực tiễn đạy học ở trường phổ thông, kế thửa những vấn dễ nghiên cứu của người đi trước, người
viết sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề nảy hơn.
Trang 103 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng dến những dối tượng sau
Thương pháp dạy học Tập làm văn khối Trung học cơ sở, cụ thể là lớp
6, nghiên cửu những yếu tổ còn tồn đọng gây khỏ khăn cho việc dạy và học làm vin ‘Ir dé để ra hưởng khắc phục và những giải pháp để dạy làm văn theo quan
điểm giao tiép đạt hiệu quả Ở đây người viết sẽ đi sâu vào những giải pháp gắn
liền với hoạt dông giao tiển
ng vần cẦn mà À giáo xiân cẦn nhất có để có thà hoy ph Những yêu cầu mả người giáo viên cần phái có để có thê đạy làm vin
theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả như trì thức về các kiểu bài, phong cách
(lap trung vảo nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau
-_ Phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp, người việt chỉ tập
trung vào những phương pháp nhằm tạo ra hoạt động giao tiếp trong quả trình đạy
học
Thương pháp dạy học Tập lam van lớp 6, bài: “Luyện tập xây dựng
bài tự sự - Ké chuyện đời thường” Đề tải sẽ thiết kế và thực nghiệm trên bài
piãng theo phương, pháp truyền thống và phương pháp vận dụng lý thuyết hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong để tài nghiên cứu này thể hiện các nhiệm vụ sau
-_ Nghiên cửu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tổ chỉ phối quá trình
giao tiếp bằng ngôn ngữ như: nhân vật piao tiếp, hoàn cành giao tiếp, nội dung,
giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp Từ đó giúp giáo viên có cách
ra đề làm văn theo quan điểm giao tiếp, hình thức viết một bài làm văn
- Nghiên cứu nội dung, kiểu loại văn bản, mục tiêu, phương pháp dạy làm
văn lớp 6
- _ Vận dụng thiết kế một số bài Tập làm văn lớp 6 thoo quan điểm giao
Trang 11tiếp, thực nghiệm so sánh dạy học theo phương pháp cũ và phương pháp mới
-_ Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả đạy làm văn
theo quan điểm vận dụng lý thuyết giao tiếp
6 Phương pháp nghiên cứu
-_ Phương pháp nghiền cửa
-_ Thương pháp so sánh
- Phuong pháp thực nghiệm
7 Cầu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, đanh mục tải liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào dạy học Tập làm văn lớp 6 Trung học cơ sỡ,
Chương 2: Vận dụng thiết kế một số bải Lập làm văn lớp 6 theo lý thuyết
hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Chương 3: Ihục nghiệm
Trang 12CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐẺ LÝ THUYẾT
CUA IIOAT BONG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
1.1 Cơ sởlý luận
1.1.1 Gian tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội
1.1.1.1 Giao tiếp, nhủ cầu thiểi yếu của con người
Giao tiến có nghĩa là tiếp xúc, trao dỗi thông tin, bộc lộ tư tưởng tỉnh
cảm với nhau
Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người Trẻ mới sinh ra bắt
đầu được giao tiếp tuy nhiên còn mang tinh chất thụ động Bả mẹ hiểu nhu
cầu ấy là của mình và cả con Việc giao tiếp biểu hiện qua lời ru, những lời
mắng yêu con Điều đó chứng tố bả mẹ đã cá ý thức giao Ligp với con
minh dd luc nay trẻ chỉ tiếp nhận hoạt động giao tiếp của người mẹ một
cách thụ động,
Quá trình tuổi thơ, việc giao tiếp của trẻ không ngừng phát triển Lừ thụ
động chuyến sang chủ động Nêu mới sinh ra trẻ chỉ có thể im lặng trước
những hảnh động, lời nói của người me thi gid đây trẻ đã muốn nghe hát,
nghe kể chuyên, muốn hiểu biết về thể giới: ông bà, can gà, cái bánh Trẻ
có nhu cầu được nghe, được tìm hiểu về những vật đã gọi tên du lic nay
trẻ chưa ý thức dược một cách dầy đủ về sự vật dang gọi tên Chẳng hạn
trẻ gọi tên cái bánh thì trẻ chi biết đó là thứ có thể ăn được chứ không ý thức
được hết là nó làm từ nguyễn liệu gì, cách thức làm ra sao Miặc đủ vậy ta cũng phải công nhận một diều rằng lúc này hoạt động giao tiếp ở thể chủ động của trẻ đang đần đần được hình thành Dù chưa được hình thành một cách hoàn chỉnh nhất nhưng đây là tiền để, là cơ sở quan trọng để tiển hành
những hoạt động giao tiếp sau này Tiếp đó là tư duy của trẻ được tích lũy,
từ tuôi thơ ngôn ngữ của trẻ cũng được hình thành mà ngôn ngữ và tư duy
là hai nhần tỔ giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cánh, tôn lại
Trang 13với hoàn cảnh sống Ngôn ngữ là phương tiện dùng để diễn lá những tư tưởng, tỉnh cám, cấm xúc của con người Chẳng hạn câu “Tôi rất muốn
cùng bạn di du lich khắp nơi” Qua câu nói nay thì người nói muốn truyền
đạt đến người nghe hai van dé Thứ nhất nói về ước muốn của bản thân là được đi du lịch, thứ hai là tác động tỉnh cảm đến người nghe muốn người
nghe chấp nhận là củng đi du lịch với mình Qua đây còn thể hiện tình cảm,
cảm xúc của người nói Như vậy để diễn dạt được nội dung của câu nói trên
thì ta cần phải biết ngôn ngữ tương ứng đồng thời phải có tư duy để có thể
sử đụng vấn ngôn ngữ phủ hợp với nội dung diễn đạt để không những
truyền đạt được ước muốn của bân thân mà còn phải tạo được tác dụng
thuyết phục người nghe Có thể nói ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố quan
trọng để thực hiện quá trình giao tiếp và hai nhân tố này có quan hệ mật
thiết với nhau củng hỗ trợ cho nhau để thực hiện giao tiếp Dây cũng là yêu
tố quan trong dé phân biệt con người và loài vật bởi vì giao tiếp của loài vật
là do bản nẩng chứ không phải là hoạt động có ÿ thức như con người
Giao tiếp là phương thức tổn tại phát triển của xã hội Xã hội là một
tập thế có quan hệ với nhau về nhiễu mặt: quan hệ họ hảng, quan hệ đồng
nghộp, quan hé thay trò Các mối quan hộ này lá lí do để con người có
quan hệ giao tiếp với nhau Giao tiếp trái lai để giữ vững các mỗi quan hệ
đó Con người không được giao tiếp với nhau thì không thể có xã hội Xã
hội là môi trường để con người có thể thực hiện quả trình giao liếp Cơ sở đánh giá một xã hội phát triển là dựa trên cơ sở vật chất, tinh thần ngày
càng thêm đa dạng, phong phủ đáp ứng nhu cầu đời sống con người Sản
phẩm vật chất, tình thần chính lả thành quá sáng tạo của con người Sự sáng tạo dy có được từ tư duy, trình độ sáng tạo Con người có điều đó là nhờ
giao tiếp, học tập Những người trong cùng một xã hội muốn trao đổi thông
tin hay bộc 16 cầm xúc cho nhau thi cin phải có giao tiếp Ngược lại hoàn
Trang 14cánh xã hội chính là nguyên nhân, động lực để tạo nên hoạt động giao udp
Thông qua hoạt động giao tiếp thì xã hội dược tồn tại và ngày cảng phát
triển Người đời trước có thể truyền kinh nghiệm, kiến thức cho người đời
sau thông qua giao tiếp Mỗi một người là một thành viên của xã hội, xã hội
muốn tần tại thì mỗi con người cần phải phát triển và sự phát triển này được
thực hiện thông qua quá trình giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp con người
vita có thể tiến nhận thông tin từ người khác đồng thời có thể phản hồi những ý
kiến của bản thân Chính sự phân hồi này là điều kiện để người giao tiếp điều
chỉnh nội đụng giao tiếp cho phủ hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng Giao tiếp với tự nhiên và
gian tiếp trong xã hội Giao tiếp với các hiện tượng tự nhiên con người
nhận ra quy luật của nó giúp con người có ứng xử phủ hợp để tạo điều kiện
thuận lợi cho puộc sống của mình Chẳng hạn khi thấy trời kéo mây đen thì
con người biết là trời sắp mưa Lừ dé ho sẽ có cách xử lí là lây quần áo vào
để khỏi bị ướt Ta thấy rằng dù ngày nay khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại, ngày càng phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người nhưng bên
cạnh đó thì yếu tố tự nhiên cũng đóng vai trò khá quan trọng trong cuộc
hoạt động giao tiếp này sẽ giúp cho con người hình thành ý thức vả năng
lực nhằm để cải †ạo tự nhiền phục vụ cho cuộc sống của mình
Song song với giao tiếp tự nhiên thi con người luôn giao tiếp voi xa
hội Giao Liếp trong xã hội mang tính chất đa dang, phong phú, con người có thể giao tiếp trong mợi hoản cánh: trong một gia dinh cha mẹ giao
tiếp với con cái về những sinh hoạt hàng ngày, các đồng nghiệp giao tiếp
" À công siấc hoặc là đâc giá có THỂ giao BỀn với các xấn đề xã hãi với nhau về công việc hoặc là độc giả có thê giao tiếp với các vẫn đề xã hội
1E
Trang 15qua báo chí, sách vở Con người côn có khš năng giao Liếp với người xưa
Qua những tác phẩm của người xưa để lại ta biết dược tâm tư, tỉnh cảm,
nguyện vọng của họ và hiện thực xã hội thời đó Ví dụ như đọc Truyện
Kiều của Nguyễn Du ta biết được những bất công ngang trai dang dẻ năng lên người phụ nữ đồng thời còn thấy được tắm lòng nhân đạo của tác giả
Khéng nhtmg chi giao tiép Với người xưa mà con người côn có thể giao tiếp
với cả thể hệ mai sau như những tác phẩm trong hiện tại bấy giờ có thể
truyền đến cho người đọc ở cả tương lai
Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng quan trọng nhất là giao tiếp trong trường học, ở đó con người được mở rộng những
hiểu biết mang tính lí luận, khoa học Ta thấy rằng ngay từ những cầu ca đao, tục ngữ mà †a được học trong nhà trường đã có tác dụng định hướng cho oon người vào hoại động giao tiếp
Vidu
Hoc ăn học nói, học gói học mỡ:
Chỉ ra việc ta phải học hỏi mọi thứ trong cuộc sống, trong đó có việc học cách nói năng tức là học cách giao tiếp trong đời sống xã hội Hay là
Lời nói chẳng mất tiền mua
taya lời mà nói cho vừa lòng nhan
Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, con người có quyền tự da lựa
chon vốn ngôn ngữ riêng cho ban thân minh Cho nên khi nỏi ta phải biết lựa
những lời nói nảo cho phù hợp nhất dé không những truyền dạt dược thông tin mà cỏn tác dụng thuyết phục ở người tiếp nhận thông tin Ở đây
đã chỉ ra cách thức giao tiếp là ta phải biết lựa chọn nội dung giao tiếp cho
phủ hợp với từng hoàn cảnh, từng đổi tượng để đạt được hiệu quả giao tiếp
cao nhất
Trang 16Chim khôn hot tiéng rãnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Vòng thì thử lửa thứ than Chuông kêu thử tổng, người ngoan thử lời
Qua lời nói thì người ta có thể đánh giá về phẩm chat của một con người
cho nên khi nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp Như vậy vai trò của
hoạt động giao tiếp không chỉ truyền đạt thông tin md qua đó còn đánh giá
được phẩm chất của một con người
Nhu vậy, từ lâu con người đã ý thức đúng về vai trỏ, tác dựng của hoạt động giao tiếp Người xưa dã dưa ra những lời khuyên hữu ich cho con
người như: nói cũng phải học, nỏi đủng côn thể hiện tư cách của một con
người, nói sao cho người nghe thấy được cái hay, cái dẹp Trong phẩm chất
đạo đức có ngôn ngữ, lời nói Người xưa chưa đưa ra được nhũng phương pháp để con người luyện tập, rên giữa lời nói của mình nhưng rõ rằng giao
tiếp từ lâu đã được ý thức là hết sức quan trọng trong đời sống Trường
học còn là nơi cùng cấp những tri thức, hiểu biết cho con người thông qua
hoại động giao liép 6 day diễn ra hoạt động giao LiẾp giữa giáo viên và học
sinh, giữa giáo viên với giáo viên và giữa học sinh với nhau Tắt cả những
hoại động giao tiếp nảy được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
nhưng lắt cả đều nhằm mục dịch là cung cấp, trao đỗi thông tin Cho nên có
thể nói trường học là môi trường giao tiếp quan trọng nhất của con người vì
ở đây con người không chí học được những kiến thức mà òn hoàn thiện được nhân cách của bán thân mình thông qua hoạt dộng giao tiếp Tóm lại,
con ñgười có thể giao tiếp mọi lúc, mọi nơi, mọi hoản cảnh vượt cả không gian và thời gian
Trang 171.1.1.2 Hai phương liện giao tiếp co ban của con người
Pham vi giao tiếp cúa con người rất rộng, phương tiện giao tiếp cũng
hết sức đa dang Theo các nhả kí hiệu học ngôn ngữ thì phương tiên giao tiếp chia thành hai nhóm đó là ngôn ngữ và các yếu tố không bằng ngôn
ngữ gọi là các yêu tổ phi ngôn ngữ
Yếu tố phi ngôn ngữ, một phương tiện giao tiếp không thể thiểu trong
giao tiếp: các yếu tổ phi ngôn ngữ rât đa dạng, phong phú gắn liễn với cuộc sống của con người chúng la Có những ngữ cảnh thuộc giới tự nhiên mang,
tinh khách quan nhu may den, con giỏ lạnh, sắm chớp những yếu tố này
không lệ thuộc nhiều vào con người Có những yếu tổ do cơn người tổ chức
thực hiện: dộng lác vỗ về, ôm Ấp con của bả mẹ, các cử chỉ liếc mắt,
khoát tay, gật dầu Những kí hiệu: đèn đường (dèn đồ báo hiệu xe phải dừng,
đến xanh báo hiện cho xe chạy ), kí hiệu toán học, các hình vẽ trong các thùng hàng hóa Tắt cả các phương tiện nay đều gắn bỏ mật thiết, dều phục
vụ cho lợi ích của con người Những phương tiên phi ngôn ngữ giúp cho
hoạt động giao tiếp trở nên sinh động, hap dẫn hơn Người giao tiếp không
chỉ năm được nội dung giao tiếp mà còn có thể gợi liên tưởng tăng tính
biểu câm cho nội dung truyền đạt Mặc dù vị trí của nó là không nhỏ trong
việc hỗ trợ ngôn ngữ để lột tả nội dung, sắc thái Nhưng đổi lúc các
phương tiện phi ngôn ngữ do con người tạo ra đã gây khó khăn cho người
tiếp nhận bởi vì các yếu tố phi ngôn ngữ có những sắc thái biểu cảm khác
nhau, mỗi yếu tổ phi ngôn ngữ sẽ mang nhiều nội dung khác nhau chứ không phải chỉ cỏ một nội dung duy nhất Ví dụ như hành động gật đầu
Trong trường hợp có một người khác hỏi “Bạn có đồng ý với ý kiến của tôi
không?” thi hành dộng gật dầu chứng tỏ mang tính chất khẳng định, là dồng,
tỉnh với ý kiến Trong một trường hợp khác như câu: “Bạn không đồng ý
với ý kiến của tôi, có phải không?” thì lúc này hành động gật đầu mang tính
Trang 18chất phủ định, không đồng tỉnh với ý kiến đó Từ ví dụ trên La thấy rằng các
yếu tổ phi ngồn ngữ mang những nét nghĩa rất da dạng, phong phú Có thể
nói tém lai khi ding cdc yếu tá ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ để diễn đạt nội
dung lời nói thì ta cần đặt chúng vào trong những ngữ cảnh cu thé thi mới
có thể hiểu nội dung giao tiếp một cách đúng đắn nhất
Ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Như đã nói ở trên thi chúng ta đều biết rằng trong thực tiễn đời sống con người
muốn trao đổi thông tin hay bộc lộ tư tưởng, tỉnh cảm cho nhau thì có thể
dùng cứ chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt gọi chưng là các yếu tố phi ngôn
ngữ Tuy nhiên những yếu tố này thường đem lại hiệu quả giao tiến không
cao hoặc có khi bị hiểu ngược lại ý dịnh của người phát Chỉ có giao tiếp
bằng ngôn ngữ mới giúp người ta hiểu được nội đung một cách chính xác
và đẩy đủ nhấL Vì vậy có thể nói ngôn ngữ là phương tiện giao liếp quan
trọng nhất của con người gay từ khi mới sinh ra trẻ đã biết cất tiếng khóc
chảo đời, được nghe những vần điệu ca dao, dân ca, những lời ru nồng nản
yêu thương từ mẹ từ bà Lớn hơn một chút thi trẻ đã tập nói những tiếng nói
đầu tiên đỏ là những lời gọi ông, bả, cha, mẹ Cỏ thể nói ngay từ rất sớm
con người đã có ÿ thức dùng ngôn ngữ để giao liếp Ngôn ngữ và tư đuy là
hai nhân tổ giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cảnh Chọ nến muốn thực hiện hoạt động giao tiếp còn cần phải có tư đuy và ngôn ngữ Có
thể nói không có ngôn ngữ sẽ không có tư duy, ngược lại, nều không có tư
duy thì ngôn ngữ cũng không thể phát triển Nhờ có ngôn ngữ mà hoạt động
tư duy mới có thể chuyển hóa những thứ thuộc về tỉnh thần ra vật chất làm
cho người khác để tiến nhận, ngôn ngữ vừa thực biển chức năng giao tiếp
vừa thực hiện chức năng tư đuy Hai chức năng này lại có quan hệ mật thiết với nhau Điễu này giúp cho ngôn ngữ trở thành một phương tiện giao tiếp
có nhiều diểm khác biệt so với các phương tiên giao tiếp khác trong đời
Trang 19sống xã hội Nói về giao tiếp, người ta cho rằng con người côn có thể giáo
tiếp với người xưa và cả thể hệ mai sau Để cỏ thể thực hiện chức năng nay
thì hoạt động giao tiếp cần phải có chức năng lưu trữ và ngôn ngữ chính là
phương tiện để thực hiện chức năng này Con người giao tiếp với người xưa hay cả với thể hệ mai sau chủ yếu thông qua sách, báo được ghi chép
bằng ngôn ngữ Nếu không có ngôn ngữ thì người đi sau không hiểu những
gì mà người di trước đã làm cũng như người di trước không thể truyền lại
những kinh nghiệm, những hiểu biết cho người đời sau Ngôn ngữ chính là
phương liện giao tiếp quan trọng nhất sủa con người
Bắt cứ cuộc giao tiép nảo, con người không những phải truyền đạt được
nội dung piao tiếp mà còn phải dạt dược cái hay, cái đẹp trong giao tiếp
Chính sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của ngôn ngữ là điều kiện để hoạt
động giao tiếp đạt tính thẩm mĩ Trong hoạt động giao tiếp oon người phải
lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với hiệu quả thắm mĩ Quá trỉnh tiếp xúc
với môn Tiếng Việt và các môn học khác, con người được trang bị hoàn chỉnh một hệ thẳng ngôn ngữ hóa làm phương tiện giao tiếp để giao tiếp,
học tap Mén Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri thức vẻ ngôn ngữ,
quy tổ ử dụng ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao
tiếp Và khi tiếp xúc với các môn học khác sẽ làm cho hệ thống ngôn ngữ thêm phong phú, đa đạng vả ngày cảng hoàn thiện hơn
1.1.2 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1.1.2.1, Khái niệm về hoạt động giao tiếp — giao tiếp bằng ngôn ngĩữ
Tloat động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư tưởng,
tỉnh cảm giữa người và người Khi có ít nhất hai người trỏ chuyện với nhau về một điểu gì đó thì giữa hai người đó đã diễn ra hoạt động giao tiếp
Ta thấy rằng điều đầu tiên để cho hoạt động giao tiếp có thể diễn ra là phải
só hai déi tượng Trong dé, mat đóng vai người nói, một dóng vai người
l6
Trang 20nghe, hai vai này có thể luân phiên lẫn nhau để đám nhận những vai giáo tiếp khác nhau Bất cử một cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong điều kiện nhất định, dùng một thứ ngôn ngữ nhất định, hướng đến một đối tượng nhất định để nhằm dạt dược một mục dích nhất dịnh Ta có thể hình dung qua trình piao tiếp diễn ra như sau: trước hết lả người nói chuẩn bị một nội dung,
nảo đó nhằm truyền đạt nội dung đó đến người nghe Nội dưng ở đây là sự
phản ánh thé pidi khách quan hoặc có thể là tư tưởng, tỉnh cảm nào đó của
con người Cho nên nội dung giao tiếp ở đây vừa mang tính khách quan
(phản ánh hiện thực) vừa mang tính chủ quan (nhận thức của con người), Hoạt động giao tiếp này được thực hiện thông qua văn bản Văn bản ở đây
là một chuỗi ngôn ngữ được sắp xếp một cách hoàn chỉnh theo các qui tắc
ngữ pháp để truyền đạt một nội dung nào đó trong quá trình giao tiếp Vì
nội dung giao tiếp la sy phan ánh thế giới khách quan vao trong ý thức của
người nói cho nên nó thuộc lĩnh vực Linh thần Để người nghe có thế nắm
bắt dược nội dưng thuộc lĩnh vực tinh thần đó thì người nói phải chuyển nội
dung ấy sang hệ thống vật chất, hệ thống vật chất ấy chính la ngôn ngữ
Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yêu tổ ngôn ngữ
do người nói phát ra, để hiểu được nội dung mà người nói truyền dat thi
người nghe phải lí giải các yếu tế ngôn ngữ này Kết thúc qua trinh nay
cũng là kết thúc quả trinh giao tiếp Văn bắn trong hoạt dộng giao tiếp dược tổn tại ở hai đạng là nói và viết
'Văn bản nói: là các yếu tố ngôn ngữ được sắp xếp thành một chuỗi tạo
rên lời nói trong giao tiếp Tiếp nhận văn bản nói là tiếp nhận âm thanh
bằng thỉnh giác Vin ban nói thường được dùng trong sinh hoạt hằng ngây, văn bản nói thường có các đặc điểm sau:
Kèm theo ngữ điệu (lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh ) Tủy theo từng nội dung muốn truyền đạt mả người nói sẽ có sự thay đổi ngữ điệu
17
Trang 21cho phù hợp Sự thay đổi ngữ điệu nảy sẽ có Lác động rất lớn đến nội dung mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe Ngữ diệu làm cho lời nói trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình ảnh Sự biến đối của ngữ điệu sẽ làm thay đối cảm
xúc, ý nghĩa của lời nói Thậm chí có khi sự thay đôi ngữ điệu sẽ làm cho nội dung giao tiép mang ý nghĩa trái ngược lại Cho nền, khi sử dụng ngữ điệu phải
đứng lúc, đúng chỗ, đúng đổi tượng,
Sử dụng yếu tổ phi ngôn ngữ: cử chỉ, diệu bộ, nét mặt, hỗ trợ dễ
truyền đạt nội đung Trong một số trường hợp nhất định chính nhờ những
yếu tố này mà người nghe sẽ hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền
đạt một cách chính xác và đầy đủ nhất
Từ ngữ được sử dụng đa đạng, phong phú, có cả khẩu ngữ, tiếng
lóng, tiếng dia phương, thán từ chêm xơn VỀ cầu thường sử dụng những,
câu ngắn ngọn, câu đặc biệt, câu tỉnh lược Diều này làm cho vẫn bản nói được tạo ra một cách liên mạch sẽ giúp người nghe dễ hiểu, dễ tiếp nhận
Nhìn chung văn bản nói là văn bản nãy sinh tức thời, không có diễu
kiện gọt giữa nên đôi khi có những yếu tố dư thừa cho nên người nói phải
biết lựa chọn những nội dung thông tin cho phủ hợp với quá trình giao tiếp
Van bản viết: chữ viết được sắp xếp một chuỗi thành một bài viết Đó
là các văn bản hành chính, các bài văn chính luận, các bải báo Tiếp nhận văn băn viết là tiếp nhận chữ viết bằng thị giác To không có ngữ điêu nên
văn bản viết đỏi hỏi phải đùng chính xác các đấu câu, các quy tắc chữ viết,
các quy tắc ngữ pháp, ít dùng những từ ngữ dung tục, khẩu ngữ Câu phải
có kết cầu chặt chẽ, dược liên kết bằng các phép liên kết cầu theo ding quy
the ngữ pháp, phong cách nghệ thuật Nhìn chung văn bản viết thường có
thời gian xem xé, kiểm tra, gọt giữa cho nên ít có sai sót hơn văn bản nói Ngoài ra còn có dạng đặc biệt là văn bản viết được thể hiện đưới dạng nói
(đọc một bài phát biểu, một lời kêu gọi trong một hội nghị O day là văn
băn được xây dựng thoo các đặc điểm của văn bản viết nhưng được thé hiện
18
Trang 22bằng đạng nói nên sẽ kẻm theo ngữ điệu) hoặc ngược lại văn bản nói được
thể hiện bằng, dạng viết (lời dỗi thoại của các nhân vật là văn bản nói nhưng
khi được đưa vào trong tác phẩm in trên sách thi trở thành văn bản viết) Từ
đó cho thấy vấn ban trong giao tiếp dược tồn tại dưới nhiễu hình thức khác
nhau Mỗi hình thức sẽ mang những đặc điểm khác nhau cho nên khi dùng
văn bản ở hình thức nào thì phải nắm rõ đặc điểm của hình thức ấy để có sự
lựa chọn phương tiên giao tiếp cho phù hợp
3.1.2.2 Giao tiếp, một hiện tượng xã hội
Giáo tiếp là hoạt động có tỉnh vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người
cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tốn tại
và phát triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người
cần phái giao liếp với nhau Cỏn phương liên, nội dung thì mang tinh lich
sử, đây là vấn đề có tính triết học Xã hội càng phát triển thì phương tiện
giao tiếp của con người vàng hiện đại Nếu trước đây người ta chỉ có thể giao tiếp bằng miệng, bằng sách báo thì ngáy nay người la đã có thể giao
tiếp với nhau qua điện thoại, thư từ, chat Nội dung giao tiếp vi thé cũng
ngày cảng đã dạng, Nếu trước đây người La chí giao tiếp với nhau về những
vấn dễ trong sinh hoạt hang ngay thi ngảy nay người ta đã biết giao tiếp
những vấn đề về thiên nhiên, vũ trụ, những vấn đề mang tầm thế giới Ta
phải nhận thấy rằng xã hội cảng ngảy cảng phát triển đã cung cấp cho cơn
người những phương tiện, nội dung giao tiếp ngày cảng đa dạng, phong phú
hơn bởi vi mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì quan niệm về cái dep, cdi hay
của con người cũng khác nhau
Người hiện tại giao tiếp với quá khử và có tham vọng giao tiếp với cả
hậu thế Lời nói thông thường có tính chất tức thời “lời nói gió thoảng” bởi
vì lời nói ra không thể lưu giữ lại được, người nghe chỉ có thể tiếp nhận
được ngay lúc đó còn việc có nhớ hay không thi không thể biết trước được
Nhưng lời văn, lời thơ thị sao? Lời văn, lời thư có tham vọng là lời gúa
19
Trang 23muôn đời Khi viết ra một Lác phẩm thì người viết không những muốn cho
người dương thời tiếp nhận mả cỏn muốn truyền dat dén cả người hậu thể Bat kì một sáng tác nào thi bao giờ cũng phản ảnh hiện thực và bộc lộ tâm
tư, tình căm của tác giả Cho nên mỗi sáng tác đều có tham vọng lưu truyền
ở đời Chẳng hạn đủ cách ngày nay đã mấy trăm năm thì Iruyên Kiều của
Nguyễn Du vẫn thấm đấm trong lòng người đọc Nhắc đến văn học là người
ta nhắc ngay đến Truyện Kiều của Nguyễn lu Và giá trị nhân đạo, hiện
thực mà tác phẩm để lại cho chúng ta không thế phủ nhận được Mỗi một tác phẩm khi được viết ra thì tác giả đều muốn truyền đại đến người tiếp
nhận một ý nghĩa nào đó Và ý nghĩa này được người tiếp nhận thông qua
ngôn ngữ
Giáo tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tì của đời sống, để trao đối mọi tư tưởng,
tình cẩm giữa người và người trang moi mặt của đời sống
1.1.3 Các nhân tô cơ bản của hoạt dộng giao tắn
Trong hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo lập
văn bán vá các nhân Lễ này có mối quan hộ mật thiết với nhau Mỗi nhân
tố có một vai trỏ khác nhau trong việc tạo lập văn bản Khi dạy làm văn
theo quan điểm giao tiếp ta cần chú ý đến các nhân tố Cỏ rất nhiễu nhân
tố giao tiếp khác nhau nhưng ở dây chúng tôi chỉ tập trung vào các nhân
tổ cơ bản sau
1.1.3.1 Nhân vật giao tiếp
Là những người tham gia trực tiếp vào quả trình giao tiếp Quá trình
giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người nhưng chúng ta
có thé chia lam hai loại nhân vật giao tiếp đó là người phát và người nhận
Hiệu quả của quá trình giao tiếp được quyết định bởi cả người phát và
người nhận Khi người phát nói, viết những gi mà người nhận không hiểu
hay không phủ hợp với suy nghĩ, thói quơn của người nhận thì cuộc giao
20
Trang 24tiếp sẽ không đạt được hiệu quả Như vậy để quá trình giao tiếp đạt được
hiệu quả như mong muốn thì người phát phất có sự lựa chọn nội đung giao
tiếp cho phủ hợp với lửa tuổi, trình độ, đặc điểm tâm lí của người nhận,
đồng thời người phát phẩt biết lựa chọn ngồn ngữ cho phủ hợp để khơi gợi hứng thú giao tiếp Ngược lại khi tiếp nhận nội dung truyền đạt thì người
nhận phải có vén hiếu biết nhất định về các lĩnh vực liên quan đến nội dung
lĩnh hội, về đối tượng dã truyền dạt (người phát) Sự hiểu biết này cũng
không kém phần quan trọng nó giúp cho người nhận có thể hiểu được nội
dung truyền đạt một cách đúng đắn và đầy đủ nhất để có sự hồi đáp phủ hợp với cuộc giao tiếp Những người tham gia trong cuộc giao tiếp phải có
một trình độ nhất định, nếu trình độ ngang hàng nhau thì cảng hiểu được
nội dung giao Liếp của nhau Tir dé cho chang la thay rằng sự hiểu biết về
đối tượng giao tiếp càng đẩy đủ, sâu sắc bao nhiêu thì hiệu quả giao tiếp
cảng cao bấy nhiêu Vai về, địa vị của nhân vat giao Lip sé ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động giao tiếp Những người có vai về, địa vị xã hội cảng
cao thì lời nói càng có giá trị, càng có sức thuyết phục Cùng một nội dung, nhưng người nảy nói lại không có sức thuyết phục hơn người khác Tir
những đặc điểm trên ta thấy rằng nhân vật giao tiếp đóng vai trỏ quan trọng,
do là nhân tố để lại đấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và
cách thức trình bảy một văn bản là một người giảo viên phải nắm rõ dặc
điểm học sinh lớp mình để tỗ chức ngôn ngữ giảng day theo quan điểm giao tiển cho phù hợp với từng đối tượng Đồng thời phải tạo được vị thế cho
bản thân để tăng sức thuyết phục cho lời nói khi truyền đạt đến học sinh
1.1.3.2.Nội dung giao tiép
Nội dưng giao tiếp ở đây lả hiện thực dược nói đến trong cuộc giao
tiếp Nội dung là tình cẩm, sự hiểu biết của con người được đưa vào nội dụng lời nói của người tham gia giao tiếp Người ta không thể nói những gỉ
2L
Trang 25mả người la không biết Hiện thực được nói đến sẽ tạo nên chủ đề, dé Lai của cuộc giao tiếp Nội dung giao tiếp ở dây có thể thuộc về quá khứ, hiện
†ại và cả tương lai Nội đưng giao tiểp được tần tại trong suốt quá trình giao
tiếp, không ai lại nói những điều mà không chứa dựng được nội đụng nào Điều quan trọng để cuộc giao tiếp có thể diễn ra là cả người phát và người
nhận phải cùng hưởng về một nội dung giao tiếp Không thể người nảy nói
một nơi người khác lại hiểu một nẻo Chẳng hạn khi A hỏi B “Bao hôm qua
không đi học ?" ö trả lời “Tôm nay trời đẹp quá” Đó là vi phạm về nguyên
tắc của hoạt động giao tiếp Vì thế, cuộc giao tiếp xem như thất bại Tóm lại, để có thể thực hiện hoạt động giao tiếp thí những người tham gia giao
tiếp phải nằm rõ vẻ nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao
tiếp nhất định
1.1.3.3.Mục đích giao tiểp
B Témasepxki da ndi “ Muye dich của giao tiếp thông thường là biểu
đạt Chỉ cần thỏa mãn sự biểu đạt can người có thể sử dụng bắt cứ
phương tiện, cách thức nào: từ ngữ ánh mắt, nụ cười, cử chi, ban tay, cdt
nhún vai [1Ñ tr 135] Như vậy, có thể nói mục dích cơ bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lô tư tưởng, tình cắm, cảm xúc
của mình Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một tình cảm nảo
đó Mục đích giao tiếp là kết quá cuối củng mà cuộc giao tiếp mong muốn
đạt được Có thể nói một cuộc giao tiếp được gọi là thành công khi cuộc giao
tiếp đạt được mục đích đã đề ra Mục đích giao Liếp là động lực giúp con
người hướng đến và thực hiện hoạt động giao tiếp
1.1.3.4 Phương tiện giao nép
Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Điều đâu tiên để cả người
phát và người nhận có thể hiểu thông điệp của nhau là ngôn ngữ dùng trong
giao tiếp phải có Lính chất chung đổi với cả hai và ngôn ngữ trong văn bắn
32
Trang 26viết phải khác với ngôn ngữ trong văn bản nói Để đạt được điều nay thi
người piao tiếp phải biết cách sử dụng phương tiên ngôn ngữ sao cho phù
hợp với đếi tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, sử dụng vẫn ngôn ngữ
mang tinh chất cộng dồng để người nhận có thể tiếp thu, có thể hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt Đối với người Việt trong
những hoạt động giao tiếp thông thường thì ngồn ngữ được sử dụng là tiếng
Việt Khi piao tiếp bằng ngôn ngữ thí trình độ ngôn ngữ cũng như vốn hiểu
biết về tiếng Việt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp Cũng như
các loại hình ngôn ngữ khác, tiếng Việt cũng được thể hiện ở cả hai dang ndi
và viết Khi sử dụng tiếng Việt chúng ta củn cần phải chú ý đến các phong cách
sử dụng vì mỗi phong cách sẽ quyết định việc lựa chọn những phương tiện giao
tiếp cho phủ hợp
1.1.3.5.Hoàn cảnh giao tiểu
Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những dặc diém của
nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia lâm hai loại: hoàn
cảnh giao tiếp rộng và hoản cảnh giao tiếp hẹp Iloàn cảnh giao tiếp rộng
là những hiểu biết chung về chỉnh trị „ văn hỏa, xã hội tại thời diễm diễn
ra cuộc giao tiếp Tất cả những hiểu biết này tao ra tiền giả định đế các nhân vật giao tiếp huy động theo những cách khác nhau vào cuộc giao tiếp Khi
tiến hành cuộc giao tiếp thỉ các nhân vật giao tiếp phải có chung một tiền
giả định Iloàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thé đang diễn
ra cuộc giao tiếp Hoàn cánh giao tiếp hẹp đòi hỏi nhân vật tham gia giao
tiếp phải có những ứng xử cho phù hợp Hoàn cảnh giao tiếp cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến cuộc giao tiến, mỗi hoàn cảnh ta phải có su lua chon những cách thức piao tiếp cho phù hợp
Trên đây là những nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ Các nhân tổ này có mối quan hệ mật thiết với nhau trong khi tiến hành
23
Trang 27hoạt động giao tiếp Nhân vật giao tiếp có vai trò quyết định nội dung,
phương tiên piao tiếp Chẳng hạn như ngồn ngữ dùng để piao tiếp với người
lớn tuổi hơn mình sẽ khác với ngôn ngữ dùng giao tiếp Với người ngang
hang Khi gọi cm minh ăn cơm, ta có thể nói “vô ăn cơm” nhưng khi gọi ông nội thì ta không thể dùng ngôn ngữ đó mà phải nói là “cháu mời ông
nội vào dùng cơm” Nội dung giao tiếp lại quyết định việc lựa chọn phương
tiện giao tiếp Vì mỗi dối tượng mỗi nội dung giao tiếp khác nhau sẽ có
những phương tiện giao tiếp phù hợp Đông thời khi có sự hiểu biết, sự nắm
vững đầy đủ về nhân vật giao tiếp, nội dưng giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp thì mới có thể đạt được mục đích giao tiếp như kết
quả mong muốn
1.1.4 Giao tiếp và việc dạy - học lim vin dé giao tiếp
<1) Dạy tiếng Việt và làm văn là đạy học sinh rẻn luyện và nâng cao kĩ
năng sử dụng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp - sẵn sinh văn bản làm phương tiện giao tiếp
Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ, quy tắc sử dụng ngôn ngữ tạo ra các sản phẩm trong hoạt động giao tiếp
Tiổng Việt là công cụ dễ giao tiếp và tư duy Dạy tiếng Việt là dạy về ngôn
ngữ mà ngôn ngữ lả phương tiện để tạo nên văn bản trong hoạt động giao tiếp 'Văn bản này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc chung của tiếng
Việt Văn bản là một chuẩi lời nói dược sắp xếp một cách mạch lạc nhằm
truyền đạt nội dung giao tiếp nao đó Văn bản bao gồm hai phần: hình thức và
nội dung Hai thành phần nảy được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của
tiếng Việt Thành phần nội dưng nhằm phản ánh hiện thực, thái độ, tình cảm
của oon người và để truyền tải được nội dung đó đến người tiếp nhận thi
người nói cần phải sử dụng một hình thức cho phủ hợp Giữa nội dung và
hình thức có mỗi quan hệ mật thiết với nhau: nội dung quyết định hình thức,
Trang 28hình thức phản ánh nội dung Dạy tiếng Việt là dạy các kiến thức cơ bản để
có thể tạo nên mối quan hệ hài hòa prữa hình thức và nội dung trong cùng một
vin ban Làm văn là phương tiện để học sinh có thể thực hành những văn bản
trong hoạt động giao tiếp Bất cứ một vẫn dễ nảo cũng vậy nếu ta chỉ day ly thuyết suông thì không thể đạt được hiệu quả mà ta cần phái gắn lý thuyết với thực hành Cho nên có thể nói rằng day tiéng Việt và làm văn là dạy cho học sinh có cách sử dụng tiếng, Việt để làm phương tiện giao tiếp
(2) Day lam văn không phải chỉ dạy hình thức bài văn đúng phong cách
ma quan trong là nội đưng có ý hay, đẹp
Về hình thức: Hình thức bài văn bao gầm nhiều đoạn, nhiều câu liên kết chặt chế với nhau, các cầu này phải cùng thể hiện dược một chủ dé, cimg hướng dến một mục dich nhất định Môn làm vẫn có các thao tác lập luận cơ
ban Ta có thể lập luận theo cách điển dịch bay quy nạp Tùy theo néi dung va
yêu cầu của bài văn mà ta sẽ có sự lựa chọn phương pháp lập luận cho phú
hợp vì mỗi phương pháp lập luận đều có những ưu, khuyết điểm riêng Các
thao tác lập luận nảy cần phải được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ để giúp cho
đoạn văn có một hình thức thống nhất Hỗ cục bai lâm văn gém có 3 phần
lớn: mở bài, thân bài, kết bài
Mở bài là nêu một cách khái quát về vấn đề trọng tâm mà mình sẽ khai
thác ở phần thân bài Phần mé bai nay sé giúp cho học sinh nhận điện được vin dé ma minh sẽ tìm hiểu Mở bải trong bài văn tự sự thuyết minh thưởng,
giới thiệu khái quát về đối tượng, sự vật, sự việc sẽ kế sẽ thuyét minh trong phân thin bai Me bai trong bải văn nghị luận thường nồu lên luận điểm
trọng tâm sẽ được trình bảy trong phần thân bài Phân mở bài đóng một vai
trò rất quan trọng, nó là điều kiện là tiền đề để học sinh có thể làm phần tiếp theo Vĩ có nhiều trường hợp học sình mất quả nhiều thời gián dễ có thể viết
được phân mở bài Có những học sinh khi không viết được phần mở bài thì
25
Trang 29sẽ không thể lám được những phần tiếp theo
"Thân bài có nhiệm vụ là triển khai và làm sáng tố vấn đề nêu ứ phần mỡ
bài Ở phan thân bài này sẽ gỗm các luận điểm luân cứ góp phần lảm sáng tỏ
luận đề ở phần mở bài Các luận điểm, luận cứ này cần phải được liên kết chặt chế với nhau bằng các thao tác lập luận Các luận điểm phải nhỏ hơn và
tập trung làm sáng rõ luận đề Giữa các đoạn văn trong cùng một bải làm văn
được liên kết với nhau bằng các câu chuyển đoạn
Kết bài là tầng kết, kết luận lại nội dung đã trình bày Qua đỏ nêu lên
nhận dmh của bản thân về vẫn để đó, khẳng dịnh hoặc phủ định vấn dễ đỏ
Phần kết luận thường ngắn gọn, súc tỉch giúp học sinh nắm lại được nội dung
chính của vấn dé Lam văn lớp 6 có 2 kiểu bài cơ bản: Tự sự, miệu tả Mỗi kiểu
bài sẽ có hình thức riêng cho nên ta phải biết cách lựa chọn hình thức cho phủ
hợp với từng kiểu bải
Khi nói đến một bài lâm văn thì một trong những vấn đề quan trọng là
việu sử dụng từ ngữ vì làm văn chính lả thực hành những kiến thức về tiếng
Việt đã học Tử ngữ trong một bái làm văn góp phan thé hiện được những kĩ
năng của người viết, phải biết lựa chọn từ ngữ trong sáng, mạch lạc, súc tích
phủ hợp với từng kiểu bài và phủ hợp với phong cách của mệt bài làm văn
Ngôn ngữ trong một bài lảm văn thuộc về ngôn ngữ nghệ thuật cho nén tir
ngữ đòi hỏi phải đạt được giá trị thẫm mĩ Miỗi từ ngữ không phải chỉ hàm chứa nội dung mã còn phải đạt được cái hay cái dẹp Tiếng Việt của ta về từ
ngữ thi rất phong phú, đa dạng Sự phong phú đa dang nay đem lại kết qua 2
mặt: một là nếu ta sử dụng đúng thi sẽ giúp cho lời văn trở nên sinh động dat
được hiệu quả cao Ngược lại thì nó sẽ làm sai ỷ nghĩa hoặc đôi khi làm đảo
lộn cả nội dung muốn nói đến Bên cạnh đó thì uầu cũng đóng vai trồ quan
trọng trong một bái Làm văn Nội dung giữa các cầu cần phái dược sắp xếp
một cách hợp logic, đúng đặc điểm ngữ pháp để tạo nên được hiệu quả diễn
Trang 30đạt Người !a thường nói “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt
am”, ta thấy rằng chỉ với một dẫu câu cũng cỏ thể lắm thay déi nội dung của cả câu
Ví dụ
Ngày tôi về nhà, cô âu
Ngày tôi về, nhà cô dy rat vuil
Ta thấy chỉ cần thay vị trí dấu phẩy thì ý nghĩa của hai câu đã khác xa
nhau Ở cầu thứ nhất thì người có dược niềm vui la “cd Ấy”, còn ở cầu thử 2 thì cả nhà cô ấy có được niềm vui Từ sự phân tích trên ta thấy rằng khi viết thành câu thì ta côn cần phải chủ ý đến cả dấu câu Các câu được liên kết chặt chẽ với nhau bằng các phép liên kết, các phương thức ngữ pháp khác nhau
cho phù hợp Lừ là phương tiện để tạo nên câu, câu là đơn vị để tạo nên một đoạn văn và mỗi đoạn văn lại là phương tiện để tạo nên một bài làm văn Cho nên để có thể tạo nên một bài làm văn đạt được yêu câu thì trước tiên cần phải sử dụng từ ngữ, cầu đúng phong cách, đặc điểm ngữ pháp để cho bai
lam văn chẳng những mang giả trị nội đụng má còn đạt được giá trị thẩm mĩ
Tóm lại, để có thể viết được một bài làm văn hay, đạt hiệu quả thì trước
tiên bai lam văn đó phải đạt được yêu cầu về mặt hình thức Hình thức đóng
vai Irỏ quan trọng trong một bài lảm văn vì hình thức là điều đập vào mắt
người đọc Irước khi tiếp xúc với nội dung của một bải làm văn Cho nên khi
hình thức tạo được sức thuyết phục nơi người tiếp nhận thì người ta mới có
thể tiếp nhận tiếp phần nội dung Bên cạnh, bài làm văn cần chú ý đến phần
nội đụng
Về nồi dung: Môi dung giao tiếp vô cùng phong phú da dang về vấn để
tự nhiên rồi các vẫn để xã hội như đạo đức, văn học, tỉnh cảm Trong bat cứ
hoản cảnh nào thì con người cũng cần phải có giao tiếp Trong nhà
27
Trang 31trường thường giao tiếp về các lĩnh vực khác nhau Ở đó, không chỉ cung cấp
thông tin mà cỏn bồi dưỡng tư tưởng, tỉnh cảm cho học sinh Cho nên nôi
đưng giao tiếp cần phải hướng đến nhiều đối tượng khác nhau để đạt được
những hiểu quả giao tiến Tượng kiến thức mà nhà trường cung cấp cho hoc sinh với số lượng rất lớn Người giáo viên cẦn truyền tải tất cả nội dưng nảy
gắn liền với giao tiếp để vừa giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng của mình
vita phát huy dược tính tích cực, tự giác, sự hứng thú của học sinh trong các giờ
học nói chưng và giờ làm văn nói riêng Giờ làm văn là những giờ giúp cho học
sinh có thể diễn đạt được những kiến thức đã học
Cùng một vấn đề để làm sáng tô (nội dung) đâu phải lúc nào cũng chứng
minh hay phân tích với 1 thao tác duy nhất Có thể tủy người nghe (dọc), ý
muốn chủ quan của người nỏi (viét) mà sử đụng những thao tác lập luận, kiểu
bai phủ hợp Đây là vấn đề cá liên quan đến việc ra để làm văn sao cho phù
hợp nhu cầu, lựa chọn cách thức thể hiên của người viết Và chỉ khi phủ hợp
nhu câu thì người viết mới có khả năng bộc lộ sự thích thú, sáng tạn được Từ
đó bài viết sẽ hay, hắn dẫn hơn VÍ dụ ta thử so sánh hai đề lâm văn sau
Để 1 Hãy chứng mình dõi vai là kì điệu nhất
Pe 2: Ldy déi vai làm đề tài, hãy viễt bài luận về dễ tài dy
Ta thấy đề 2 sẽ tạo sự linh hoạt, hứng thủ, sáng tạo nơi người viết Ở dễ
1 tạo sự thụ động cho người viết vi ở đây khăng định tác dụng của đôi vai lả
“kỉ diệu nhất” vá yêu cầu người viết chứng minh diều dỏ Nghĩa là người viết phải chấp nhận nhận dịnh đó là dúng và chỉ tìm những ý nào chứng tổ đôi
vai là ki điệu nhất làm cho phạm vi viết trở nên rất hạn hẹp Còn ở đề 2 người
viết có thể tự do suy nghĩ vá chọn ra chú dé mà mình yêu thích Mỗi người sẽ
có suy nghĩ, có sáng tạo khác nhau Chẳng hạn như có thể viết “đôi vai là nơi
sẻ chia những tình cảm” hoặc “đôi vai là nơi để ta củng nhau chia sớt những
Trang 32mình, do không bị gò bó về mặt nội dung cho nên sẽ tạo được sự hứng thú
cho người viết Người viết sẽ thả những suy nghĩ của minh trong bài làm văn Qua cách ra để như vậy người giảo viên sẽ nắm được kiến thức của học sinh Thư vậy, nội dung làm văn phải phong phú, gần với cuộc sống xung quanh chứ không chỉ vẫn đề sách vở, vấn đề lời người xưa Vì học sinh thích những
điều gì thực tế, nắm bắt được chứ không phải những gì mang tính chất ly
thuyết khô khan Học sinh có nhu cầu tìm hiểu về thế giới, về những gì diễn
ra xung quanh cuộc sống của các em Miỗi thời đại khác nhau thì nhu cầu của
con người cũng khác nhau Chẳng hạn như quan niệm về cái đẹp của con
người hiện đại sẽ khác quan niệm về cái đẹp của con người thời trung đại
Cho nên những vẫn đề mang tỉnh chất sách vở của người xưa không còn phủ
hợp với nhu cầu, thị hiểu thẫm mĩ của học sinh lúc bấy giờ Nó không còn
gần gũi và tạo được sự hứng thú cho các em vì những vấn để mang tính chất
sách vỡ thường phải theo khuôn mẫu Điều này làm cho học sinh không bộc lộ
được tư tưởng, tình cäm của mình Mỗi học sinh sẽ có cách nhìn nhận vấn
khác nhau Củng một vấn đề có em cho là đúng, có em lại cho 14 sai Trong khi
đó thì khi ra để làm văn cho học sinh người giáo viên thường cho học sinh làm
về những vấn dễ gắn với sách vở, tác phẩm văn chương Khi làm các để lắm
văn nảy, học sinh phải làm theo nội đưng mà giáo viền cũng cấp Từ đé làm
cho học sinh trở nên trụ động trong tư duy, suy nghĩ của mình
Tóm lại, nội dung dé văn, hình thức câu chữ của để văn góp phần tao
hứng thú, sáng tạo trong việc lựa chọn cách thức trình bày, thể hiện cho phủ
hợp Chỉ khi tạo được sự hứng thú, sáng tạo thì học sinh mới cé thể hoàn thành một bải làm vấn đạt hiệu quả
() Giáo viên phải cho học sinh chủ ý đến mục dich viết bài làm văn
Diéu này liên quan đến việc ra đề Trong để văn có thể có yêu cầu người viết trình bày rõ vấn dé để làm gi hoặc không yêu cầu cụ thể nhưng cần cho học
29
Trang 33sinh ý thức được mục địch của bài làm văn của mình Viết để làm gì? Cho đạc? Khi ý thức được mục dích của bài làm văn thỉ học sinh mới có sự hựa
chọn phương tiện ngôn ngữ phủ hợp, đúng phong cách Các nhân +6 giao tiếp
ảnh hưởng rất nhiều trong việc day va hoc làm văn Mỗi nhân tổ sẽ mang
những đặc điểm khác nhau cho nên dạy lảm văn là phải giúp cho học sinh ý
thức đến các nhân tế giao tiếp để học sinh sử dụng đúng ngôn ngữ trong từng
trường hợp cụ thể
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.8.1 Tập làm văn và vai rò của môn Tập làm văn trong dạy học Ngữ văn
Trung học cơ sở
Môn tập lam văn có nhiệm vụ chủ yếu lả dạy học sinh sản sinh ra các
ngôn băn vá viết Tập làm văn còn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời
sống, trình độ văn hoá của học sinh Bài tập làm văn trở thành sẵn phẩm tổng hợp, là nơi trình bảy kết quả đích thực của việc học Tiếng Việt
Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy vả học tiếng "Việt
xót trên hai phương diện
-_ Phân môn Tập lam văn tập vận dung các hiểu biết và kĩ năng về tiếng
Việt do các phân môn khác rẻn luyên hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn
thiện chủng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn
ing Việt
thiện các kĩ năng nói, dọc, viết, phải vận dụng các kiến thức về
Trong quá trình vận đụng này, các kĩ năng và kiến thức đỏ được hoàn thiện và
ning cao dan
- Thân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ nắng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là hệ thông cầu trúc được xem xét tùng phân, tùng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ
sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học lập Nói cách khác, phân môn
Trang 34Tập lam van đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc day và học tiếng, Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh
hoạt trong quá trình lĩnh hội các trị thức khoa học
1.32 Đặc điển tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh 6 Trung học cơ sở
Học sinh lớp 6 Trung học cơ sở là học sinh vừa mới chuyền cấp, với đặc
điểm tâm lý nỗi bật ở lửa Luổi nảy là ý thức tự khẳng định mình, muốn tự lực
độc lập trong mọi hoạt động lây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về cả thể chất
lấn linh thần, cdc om dang tách dần khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn
phát triển cao hơn tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát
triển: Thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức Chỉnh vỉ vậy, giáo viên cần lựa
chọn nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với tâm sinh ly
lứa tuổi lớp 6 này
1.2.2.1 Đặc điễm học tập của hạc sinh Trung học cơ sở
Hoạt đông nhân thức cơ bản của lứa tuổi lớp 6 là hoạt động học tập trong nhà trường So với học sinh tiểu học , hoạt động học tập của học sinhlớp 6
THCS đã có những biến đổi phủ hợp với ý thức tập làm người lớn
Xét về động sơ học tập, hứng thủ nhận thức của học sinh thường thiên về
hành đông thực tiễn nhiêu hơn lả nhận thức lý thuyết, thiên về nhân thức sự việu một cách trực tiếp hơn là lý luận về sự việc đỏ Động cơ học lập rất đa
dang va chua bén vững bởi vậy dễ học sinh có dộng cơ va thai độ học tập
đứng đắn thi tải liệu học tập phải có nội dung khoa học, xúc tích va phải gắn
với cuộc sống thực tiễn
Đổi với học sinh lớp 6, chú ý có chủ định được hình thành dần, mặt khác
chú ý đễ bị phân tán và không bền vững Dễ thu hút sự chứ ý của học sinh lứa
tuổi nảy cần tổ chức các hoạt động học tập hợp lý, nội đung học tập đòi hỏi
phái giúp học sinh hoạt động nhận thức thôi thúc tìm tỏi
3L
Trang 351.2.2.2 Đặc điểm phái triển trí tệ của học sinh Trung học cơ sở
Học sinh lớp 6, tính chủ động được phát triển mạnh mỡ trong các quá
trình nhân thức, tri giác có mục đích cũng đã phát triển Việc quan sát ngày
cảng có hệ thống, có mục đích và toàn điện hơn Tuy vậy, việc quan sát của học sinh trong giai đoạn này sẽ không thể dạt hiệu quá cao nếu thiếu sự chỉ
đạo của giáo viên để hướng dẫn các em vào một nhiệm vụ quan sát cụ thể Việc ghỉ nhớ mảy móc ngày càng nhường chỗ cho ghỉ nhớ có ý nghĩa, đựa
trên sự phân loại, hệ thông hoá Tốc độ phi nhớ và khối lượng tài liệu ghi nhớ
tăng lên, lúc này dạy học cần trảnh việc buộc học sinh phải công nhận, ghi nhớ mảy móc Việc áp dụng các phương tiện hiện đại vào đạy hạc sẽ tạo điều
kiện cho học sinh huy động nhiều giác quan dễ nhận thức, tăng khả năng ghi
nhớ, biết ghỉ nhớ légic theo sự sắp xếp có hệ thống nội dung học tập Đây là
lứa tuổi mà các chức năng của não phát triển, tư đuy trừu tượng của học sinh
đã chiếm ưu thế, nhưng những phần hình tượng cụ thế của tư duy bộ phân
không giảm xuống mà vẫn phát triển Trong dạy học, khi phân tích các dẫu hiệu bản chất, trừu tượng của đối tượng mà không hình thành được biểu tượng,
trực quan về đổi tượng cho học sinh sẽ làm cho các em hiểu đối tượng một
cách hình thức Ở lứa tuỗi này, do đặc điểm phát triển tâm sinh lý hầu hốt các
em có nhụ cầu hiểu biết, độc lập suy nghĩ trong học tập, nhu cầu nâng cao nhận thức nên đi hỏi phải có những cải tiến trong hoạt động học tập trong nhả
trường cho phủ hợp với nhụ cầu phát triển trí tuệ và nhân cách của học sinh
1.3.3 Dặc điểm của môn Tập làm văn 6
Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 nằm trong bộ sách giáo khua Kgữ Văn trung
học cơ sở được biên soạn theo hướng tích hợp: sát nhập ba phần mộn (Văn,
Tiếng Việt, Tập Làm Văn) vào một chỉnh thể Ngữ Văn Mỗi bài học, đơn vị
của Sách giáo khoa d éu du ba phần Trong do, phần Phần Tập làm văn gồm
35 tiết tương ứng với 35 tuần học, được xếp sau các phân môn Văn, Tiếng
Trang 36Việt để hình thành, rên luyện kỹ năng sứ dụng ngôn ngữ và lạo lập văn bản
cho học sinh
Chương trình Tập làm văn lớp 6 bao gồm 2 chủ đề cơ bán la
-_ Những vấn đề chung về văn bản vá tạo lập vẫn bần
-_ Các kiểu văn bản: Bao gồm hai kiểu văn bản chính là miều tả và tự sự,
và làm quen với một phần văn bản hành chính công vụ
1.3.4 Thực trang dạy học môn Tâp làm vin ở trường Trung học cơ sở
hiện nay
Trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở nói chưng , chương trình
Ngữ văn lớp 6 nói riêng, có rất nhiều tiết Tập làm văn và đặc biệt ở chương, trình sách giáo khoa lớp 6 được triển khai 2 thể loại văn đó là tự sự và miều tả
và nhà biển soạn cũng coi trọng mỗi quan hệ đồng qui, đã gắn bó với ba phân
môn Văn - Liếng - Tập làm văn và cũng vạch ra định hướng kết nối hệ thống
trị thức trong từng phân môn, thậm chí, kiên thức của môn Ngữ văn có thể
được kết nối với kiến thức của các môn khoa học khác Việc tiếp cận tỉnh thần
đổi mới của sách giáo khoa theo hướng tích hợp giữa các phân môn đó là một
phương pháp dạy tốt nhất để phát huy tính sảng tạo tia hoc sinh trong phân
môn tập làm văn
Phân môn 'lập làm văn ó vai trỏ như đã nêu ở trên, thế nhưng qua thực
tế, chúng ta thấy năng lực cảm thụ văn chương và đưa văn chương vào cuộc
sống của dại da số các em lớp 6 còn yếu Có những học sinh cấp trung học cơ
sở mà viết những đoạn văn, bài văn thật ngây ngõ khiến cho người đọc phải
“gười ra nước mắt” Các om chỉ có thể làm văn bằng cách sao chóp những bài
mẫu hoặc ghi lại tất cả những lời giảng của giáo viên chứ không thé viết ra những điều mình nghĩ Chính điều đó đã làm cho các em lo sợ và ít hào hứng
khi học môn Ngữ văn, nhất là phân môn Tập làm văn.
Trang 37Việc học Tập làm văn lớp 6 ở trường Trung học cơ sở hiện nay vẫn côn
chưa được thực hiện dăm bảo dầy đủ các nhãn tổ giao tiếp, từ khâu hướng, dẫn, ra đề đến làm bài và đánh giá kết quả bải làm của học sinh Trong các tiết hướng dẫn lam bai vả ra đề thi/kiểm tra, giáo viên dôi khi chỉ chú trọng dén nội dung giao tiếp mà không hướng học sinh tiếp cân mục đích, đối tượng và
hoàn cảnh giao tiếp Làm văn là sản sinh ngôn bản, mà sản sinh ngôn bản chỉ
phục vụ mục dích duy nhất là giao tiếp, giao tiếp thì phải có đối tượng giao
tiếp Bác Hồ từng nói: “Trước hết muốn viết văn thí phải biết mình viết cho ai
gái dã Có hình dung được đối Lượng để hướng tới thì viết mới có lác dụng”
'Thực tế, học sinh làm văn hậu hết đều lẫy đối tượng giao tiếp của mình là
cô giáo, viết để cho cô giáo đọc, vi học sinh nhằm là cô giáo đọc, cham bai
văn của minh Thực ra giáo viên chỉ là người đánh giả sản phẩm của các cm
chứ hoàn toản không phải là đối tượng giao tiếp
'Trong dạy học văn miêu tả, học sinh chưa được đặt trong bối cảnh giao
tiếp nên học sinh thụ động va lúng túng khi chọn chỉ tiết miễu lả
Vi đụ:
Da bai: Fa mét con mua
TIẹc sinh sẽ không biết tả các chỉ tiết nào của cơn mưa, không biết hình
ảnh nao lá độc đảo, có ý nghĩa Vì thể, bài của học sinh tã rắt chung chung: từ chuẩn bị mua: gió thối mạnh, trời may âm u đến khi mưa: lúc đầu chỉ lộp
dép vai hat, sau day hat din Những câu tá như một nhà khí lượng dang
nghiên cửu quy luật của một sơn mưa Các bài văn như thé hao hao giống, nhau, không có sự sáng tạo, đặc biệt hơn, nếu giáo viên cho phép tham khảo bai văn mẫu thì chắc chắn sẽ có đến 2/3 số bải giống nhau Việc tìm hiểu về nhân vật giao tiếp rất vô hình, lựa chọn đối tượng giao tiếp cũng rất vô hình, không cụ thé, hoc sinh viết theo văn mẫu nhiều, vô hình chung đã đây học
Trang 38sinh đến việc tự do lựa chọn nhân tố giao tiếp và đây là vấn để rất lớn cần được khắc phục
'Trong văn kế chuyện, là loại văn về cơ bản đã cé rất nhiều yếu tổ thuộc
ly thuyết giao tiếp (như người kể, ngôi kể, nhân vật, đối tượng, bếi cảnh )
nhưng các bải văn cũng hầu hết dừng lại ở việc ké chuyên dơn thuần, iL thấy
sự sáng tạo và xác định rõ các nhân tổ giao tiếp
Nguyên nhân nào khiến các em rơi vào tình trạng như vậy? Cũng có thể
là do giáo viên chỉ chú trọng vào day lí thuyết mà xem nhẹ khâu thực hành
tại lớp hoặc do sách bải văn mẫu do tràn ngập thị trường, cdc em không cần
phải động não suy nghĩ ma van có được bai văn hay Song nguyên nhân chủ
yếu là do các em chưa nắm được phương pháp, tử đỏ không thể hình thành cho minh kĩ năng làm văn Điều đó bắt nguồn từ việc giáo viên chưa giúp học sinh
định hương được phương pháp tiếp sận và làm bài một cách có hiệu quả Do
đó, việc giáo viên dịnh hướng được cách tiến cân các dạng văn bản và hướng,
dẫn học sinh là việc làm hết sức quan trọng.
Trang 39CHƯƠNG2 DAY HOC TAP LAM VAN LOP 6 TRUNG HỌC CƠ SỞ
THEO QUAN DIEM GIAO TIEP 2.1 Vấn đề dạy học Tập lam van & Trung hoc cơ sở thco quan điểm giao tiếp
Chương trình dạy học môn ngữ văn mới ở rung học cơ sở được xây
dung theo quan điểm tích hợp Có sáu kiểu văn bản (tự sự, miêu tả, biểu cắm,
thuyết mình , lập luận (nghị luận), điểu hành (hành chính - công vụ) được lựa
chọn làm trục đồng quy Nội dung dạy làm văn cũng tập trung vào 6 kiểu văn
bắn này Cấu trúc pủa chương trình đổi mới theo hướng : tăng thực hành,
giảm lý thuyết nhằm tạo cho học sinh cơ hội luyện tập rên kỹ năng tạo lập
văn bản;hình thành và phát huy năng lực độc lập,sáng tạo
Khi thực hiện chương trình này, giáo viên cần lực chọn những phương
pháp và biện pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh cỏ năng lực tiếp nhận và
†ạo lập sáu kiển văn bản nói trên ở câ hai dạng: nói và viết Các em không chỉ
biết tạo lận vin ban phù hợp với mục dích, hoàn cảnh, diều kiện giao tiếp, ma còn biết tự đánh giá, tự điều chỉnh cách nói, cách viết của mình
1 Dạy lam vin theo quan diém giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sở là
dạy cách tổ chức giao tiếp, hay nói cu thé la dạy cách thức tổ chức giao tiếp
bing vin ban Khi đạy học, giáo viên cần lưu ý hướng dẫn học sinh cách lập văn bản theo bốn giai doạn' định hướng, lập chương trình, thực hiên chương trình, kiểm tra đánh giá, sửa chữa sao cho bài viết đạt được mục dích giao tiếp
đê ra
Mặt khác, giáo viên lưu ý hướng dẫn hoc sinh biết thể hiện được chính xáu tư Lưởng, tình cám của mình, dồng thời biết tổ chức bài văn sao cho người tiếp nhận dé dang tiếp thu được nội dung văn bản Muốn vậy, trước khi làm bắt cứ một bài văn nào, học sinh phải chú ý đến việc xác định đổi tượng giao
Trang 40Quan hệ giữa người tiếp nhận và mình ra sao?) học sinh đọc kỹ đề bài dé nhận diện để (đề bải thuộc loại nào, kiểu nào); xác dịnh yêu cầu trọng tâm của
đề (uận để); xác định hướng lâm và giới hạn phạm vi làm
Ví dụ, đề làm văn: “ Mới về việc tu dưỡng ý chỉ, ca dao có câu: Ái gi
giữ cho chỉ bền/Dù di xoay hướng đỗi nền mặc ai Hãy bình luận câu ca dao
trên” Với đề bài này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh xác định:
~_ Kiểu bài: binb luận, loại nghị luận xã hội
- NGi dung để bài: ĐỀ cao tinh thần kiên định, giữ vững ý chí trước sự
tắc động của mỗi trường, cuộc sống xung quanh
- Pham vi kiến thức: Chủ yếu lấy kiến thức Lừ đời sống thực tễ
- Ilướng làm bài: giải thích, chứng minh, phân tích và nhận định đánh
gid dé khẳng định lời khuyên trên là dúng dẫn, cần thiết cho những ai muỗn
làm nên sự nghiệp
hi xác định được đúng hướng nội dung trên, học sinh sẽ có được “nền
móng” vững chắc cho bước tiểp theo là tim ý, sắp xếp ý (xây dựng kết cầu)
của văn bản
2 Theo quan diém giao tiếp, việc giao tiếp bằng văn bản không chi don
thuần nhằm mục đích thông tin mà chủ yếu là quá trình tác động đến người
nhận về nhận thức, quan điểm thẩm mỹ và hành động Trong mỗi quan hệ
giữa thông tin và tác động thi thông tin là phương tiện của tác động, cỏn tác
động là mục đích của thông tin Bất cứ một văn bản nào cũng thường qua thông tin để nhằm vào mục đích nhất định — thông tin để bộc lộ, biện minh,
giải thích làm thay đổi thái độ, hành động và nhận thức của người tiếp nhận
Ví dụ, đề văn miều tả "AZùa xuân về trên quê hương em thật dm dp va
vui tuoi Em hay td lai mot buổi sảng mùa xuân ấy”, giáo viên hướng dẫn học
sinh khi làm văn này, ngoài việc cung cấp thông tin về không khí, về quang
a7