1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ tiếp cận hệ thống theo hướng văn hóa trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn Đình chiểu ngữ văn 11 tập 1

123 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp Cận Hệ Thống Theo Hướng Văn Hóa Trong Dạy Học Tác Phẩm "Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc" Của Nguyễn Đình Chiểu (Ngữ Văn 11 - Tập 1)
Tác giả Lại Thị Thương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ái Hục
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tắt ca những lỉ đo nêu trên chúng tôi quyết định chọn dễ tải “Tiếp cận hệ thông theo hướng văn hoá trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” làm để tài

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LẠI THỊ THƯƠNG

TIEP CAN HE THONG THEO HUONG VAN HOA TRONG

DAY HOC TAC PHAM "VAN TE NGHIA Si CAN GIUOC” CUA NGUYEN BINH CHIEU (NGU VAN 11 - TAP 1)

LUAN VAN THAC SI SU PHAM NGU VAN

Chuyén nganh: Li LUAN VA PHITONG PHAP DAY HOC

Bộ môn: NGỮ VĂN

Mã số: 60 1410

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ái Hục

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

4 Dối tượng nghiên cửu của để tài wid

5 Phương pháp nghiên cửu "`

1.1 Tiếp cận hệ thẳng trong day học tác phẩm văn chương 10 1.1.1 Khái niệm hệ thống TH HH ngư 10

1.2 Câu trúc hệ thống của tác phẩm văn học " sex, J2

1.1.3 Lu thể của phương pháp tư duy hệ thống 18

1.2 Mỗi quan hệ giữa vần học - văn hóa vả hướng tiếp cận từ cải nhìn

1.2.2 Mỗi tương quan giữa vănhóa văn học 27

1.2.3 iếp cân tác phẩm văn học tử góc độ văn hỏa

Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC TAC PHAM VAN TE NGHIA SIC

2.1 Vai trỏ, vị trí của Nguyễn Dinh Chiéu và “Văn té nghia si Can

2.1.1 Nguyễn Dinh Chiểu nhà thơ của lòng yêu nước sâu sắc

2.1 2 "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc " trong dời sống văn hóa tư tưởng người

2.2, Khảo sát thực trang day hoe "Van té nghia st Can Giuée" trong nhả

2.2.2 Kết quả khảo sắt cu n1 erreeere se AG

Trang 3

3.1,1 Yêu cầu chung

3.2 Truyền thống văn húa đân tộc thể hiện trong “Văn tế nghĩa sĩ

3.3.1 Đọc sáng lạo văn bản từ góc độ văn hóa 78

3.3.2 Sử dụng những câu hỏi nêu vấn dé mang tinh văn hóa trong dạy học

*“Văn tế nghĩa sĩ SH son _— .e-se B3

3.3.3 Riện pháp phân tích những nét văn hóa dược tác giả sử dụng trong

3.3.4 Phối hợp các biện pháp: chú giải, trao đối thảo luận, vẫn — đáp §7

3.4 Thiết kế và thực nghiệm văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc theo hướng tiến

3.4.1 Thiét ké giao an day hotVan té nate si Can Giudctt cdi nhin văn hóa 89

11S 5117

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lido chon dé tai

1.1 E.douard Ilerriot 44 tmg nói : “Văn hóa lá cải gì côn lại khi tất cả

những cái khác bị quên di ” Quả đúng như vậy ! Thời gian là một ông thầy

khic nghiệt có thể cuốn mọi thứ trên đường nó đi Những đến đài rồi sụp dé ,

mọi thử đều có thế bị lớp thời gian phủ mờ nhưng những giá trị văn hóa đích thực thì vẫn còn bền vững mãi

Văn học lá sản phẩm của văn hóa — một sản phẩm văn hóa đặc thủ , nơi

lưu giữ những giá trị văn hóa của mot dan tộc, thời đại, là cầu nối giữa các thể

hệ với nhau Văn hóa trong tác phẩm văn chương vửa là một nội dung vừa là

phương Liên để khám phá lí giải về đẹp của tác phẩm Nghiên cứu dạy học lac phẩm văn chương dựa trên những hiểu biết về văn hoá là một con đường cần thiết và đúng đắn để tiếp cận tác phẩm Hướng tiếp cận này đưa độc giả trở về môi trường văn hod ma Lac phim nay sinh, đồng thời vẫn tân trọng đặc trưng

văn học của tác phẩm Cách tiếp cận này sẽ cung cấp chiếc chia khéa để giải

mã tác phẩm, từ đỏ giúp chúng ta có cái nhìn toản điện và sâu sắc hơn Đẳng

thời với cách tiếp cận nảy sẽ góp phần mở rộng _ nâng cao tầm đón nhận của

học sinh, khắc phạc khoảng cach vék hông gian, thời gian, tâm văn hóa tư tưởng, thời đại giữa học sinh với tac phẩm — tae gid

1.2 Tiếp cận hệ thống theo hướng vẫn hoá là một hướng tiếp cân ưu

thế trong tay nhiều nhà nghiên cửu trong thời gian qua Tuy nhiên trong nhà

trường phổ thông nó chưa được phát huy

1.3 Nguyễn Đình Chiếu là một nhà thơ lớn _ một danh nhânvăn hóa của đân tộc Cuộc đời ông là cả một trang sử hảo hùng munh chứng cho

tỉnh thân yêu nước bất diệt của nhân đần Việt Nam Cuộc đời ấy đã kết tnh

vào những trang viết thắm đẫm đây máu và nước mắt nhưng cũng không

kém phần oanh liệt Các bài viết, các chuyên luận khoa học về cuộc đời và

sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thì có rất nhiều song những công

Trang 5

trình nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ và hệ thông về Văn tổ nghấa sĩ

Cần Giuộc thì còn ít Diền đó chưa tương xứng với một tác phẩm được

đánh giá là “một trong những bài văn hay nhất của chúng ta” (1Toai Thanh ),

dược đặt ngang tầm với Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi , Hịch tưởng sĩ

của Trần Hưng Dạo

Mặt khác, như chúng ta cũng đã biếL thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà Nhưng thực tế giảng,

day va học tập văn chương Nguyễn Đình Chiểu nói chung và Văn tễ nghĩa sĩ

Cân Giuậc nói riêng cũng còn tồn tại nhiều vấn để vướng mắc cần thảo pố Kính trọng, ngưỡng mộ nhân cách cao cA, lớn lao của Nguyễn Đỉnh Chiếu,

song một bộ phận không nhỏ giáo viên và học sinh chẳng mẫy hứng thú say

mẽ khi tìm hiểu tác phẩm văn chương của ổng Dù biết rằng giữa các tác

phẩm văn học trung đại và bạn đọc hôm nay có một khoảng cách thẩm mỹ

không nhỏ Hơn nữa văn tế - một thể loại khá phổ biến xưa kia íL nhiễu đã xa

lạ với đời sống văn hoá hiện đai nhưng đến mức phủ nhân một tác phẩm

được coi là hay nhất mọi thời đại thì đúng là cần phải xem xét lại

Vậy lâm thể nảo để thổi hỗn vào một thể loại văn tế vốn xã lạ với học

sinh? Lam thế nào để sống dậy cả một thời đại lịch sử đau thương nhưng hảo trùng của đân tộc ? Làm thể nào để rút ngắn khoảng cách giữa cáu thể hệ với nhau để hiểu sâu thêm những vấn dễ của cha ông một thởi _ ? Đao nhiêu câu

hổi đặt ra là bây nhiêu van đê cần giải đáp

Với tắt ca những lỉ đo nêu trên chúng tôi quyết định chọn dễ tải “Tiếp

cận hệ thông theo hướng văn hoá trong dạy học tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ

Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” làm để tài nghiên cứu của minh

2 Lịch sứ nghiên cứu vẫn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu tác phẩm " Lăn tễ nghĩa sĩ Cần Giuôc"

Các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu ngay từ khi mới ra đời đã chiếm

được trọn vẹn lòng yêu thích, ngưỡng mộ của độc giá, có chỗ đứng sâu rộng,

Trang 6

trong lỏng công chúng và được nghiên cứu tử rải sớm Nhưng những công

trình đầu tiên nghiên cứu về tác phẩm của DŠ Chiểu lại là các tác giả người Pháp Năm 1887, khi Nguyễn Đỉnh Chiểu còn sống, E Bajot đã dịch “Lục

Van Tiên” ra tiếng Pháp và có chuyên luận khảo cứu về

một loạt học giả khác như G.Aubaret, A.Mickls, G.Cođier trong đó có cả

thống dốc Nam kỳ E.Hocfcl có những bải viết về tác giá mà họ coi là “bậc văn nhân tài hoa dất Việt” Tuy nhiên những bài đó chủ yếu viết về “lục Vân

Tiên”, cố tỉnh bỏ qua mảng thơ văn yêu nước (trong đó tiêu biểu là bài “Văn

tế nghĩa sĩ CẦn Giuộc”) của ông nhằm che đậy tôi ác xâm lược

30 năm sau ngảy mất của Nguyễn Đình Chiểu, năm 1938, Phan Văn Ihim là người Việt Nam đầu tiên đứng ở góc độ khoa học văn học để xem xét tác phẩm của Nguyễn Đỉnh Chiếu khả tỉ mỉ Với chuyên luận “Nỗi lỏng Đã

Chiểu”, Phan Văn Hùm đã cắm một cải mốc theo định hướng đúng, nhiều

triển vọng trong việc nghiên cứu Nguyễn Đình Chiễu cả về Lư tưởng học thuật

cũng như về phương pháp văn bản học Ngoài Lục Vân Tiên, Phan Văn Him

đã chú ý tới các tác phẩm khác của cụ Dề Chiểu như “Ngư Tiểu y thuật vẫn đáp”, các bài hịch, văn tẾ trong đó có “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” song sự

quan tâm chụa thực sự tương xứng với tắm vóc của tác phẩm này

25 năm sau, năm 1963, trong dịp kỉ niệm 75 năm ngày mắt Nguyễn Đình Chiếu, thú tướng Phạm Văn Đồng dã công bỗ một bài báo nỗi tiếng với

nhan để “Kguyễn Dình Chiếu, ngôi sao sảng trong văn nghệ của đân tộc”

khẳng định vị trí cao quý của Nguyễn Định Chiểu Trong bải viết, thủ tưởng Pham Văn Đồng khẳng dịnh cuộc đời của Nguyễn Đỉnh Chiểu là “một tắm

gương sảng nêu cao địa vị vả tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ

mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá tư tưởng”|39, tr.74J Đặc biệt

trong bài báo nảy, tác giả piảnh nhiều nhận định ca ngợi giá trị bài “Văn tế

nghĩa sĩ Cần Giuộc” Ông viết Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình

Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt

Trang 7

đời tận trung với nước và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dan

Mgỏi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Dinh Chiếu, đã diễn tả thật là sinh động và não nùng câm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của

nghĩa quân, vốn lả người nồng dân xưa kia chỉ quen cảy cuốc, bỗng chốc trở thành anh hủng cứu nước ”[39, tr.71] Bài viết đã đặt bài “Văn tế nghĩa sĩ Cân

Giuộc” ngang với “Binh Ngõ đại cáo”, một bên lả khúc khái hoàn ca, mội bên

là khúc ca người anh hàng thất thế nhưng vẫn hiên ngang,

Tiếp theo phải kế đến công trỉnh nghiên cứu của tic gid Mai Quéc

T,iễn Khi nghiên cứu vé bai “Van tế nghĩa sĩ Cân Giuô — c”, Mai Quốc Liên

đánh giá rất cao tác phẩm nảy., là “khúc ca về người anh hùng nông dân cứu

nước , ảng văn là đỉnh cao „ là tiêu biểu cho sự nghiệp thơ văn của Nguyễn

Đình Chiểu” Để khẳng dịnh được vai trỏ to lớn của Nguyễn Đình Chiểu, tác

giả đã có sự so sánh " Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” với các tác phẩm được coi

là đỉnh cao oủa văn học yêu nước thời trước như “Nam quốc sơn hả ”, “lịch

tướng sĩ”, “Bình Ngô đại cáo ” Ngoài ra nhà nghiên cứu M ai Quốc Liên còn khẳng định : “Qua bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc lần đầu tiên trong văn học

ân thực hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân”

'Irong tuần báo văn nghệ ngảy 30/6/1972, nhà phê bình văn họ c Hoài

xuất hiện vũ cùng sinh đông va ¢

Thanh có bài viết “V ăn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc một trong những bài văn hay

nhật của chúng ta” Bài viết ngắn gọn nhưng dã khẳng định dược vẻ đẹp của

bài văn tế đỗ ng thời cũng chỉ ra được : “Trước đó chưa bao giờ có vả sau đó

đến mẫy chục năm cũng chưa hÈ có trong văn thơ ta một cái nhìn yêu thương

và kính phục như vậy dối với người nông dân” [39, tr.455]

Ngoài ra cũ ng phải kể đến bài viết “V_ ăn tế nghĩa sĩ Cân Giuộc qua ¥

thơ của Miễn Thâm và Mai Am” của tác giá Đỗ Văn Hý

3.2 Cáo công trình nghiên cứu phương pháp g — tăng dạy và học tập bài

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

Duong Quảng Hàm với tư cách nhà giáo được phân công biên soạn sách

Trang 8

giáo khoa văn học Việt Nam trung học là người đầu tiên khẳng định Nguyễn

Dinh Chiểu như một tác gia văn học lớn trong chương trình văn học cận đại trong công trinh “ Việt Nam văn học sử yếu” xuất bản năm 1943 được xem như

là “việt văn giảo khoa thư” dùng cho bậc trung học theo học chế dương thời

Tác phẩm “Lục Vân Tiên” được ông đánh giá “áng văn hay trong nền quốc văn

la” Va duge chọn học ở năm thứ nhì ban trung học Đông Pháp Cũng quan

diễm nay nhà giáo Lê Thước cũng rất tâm dắc trong gidng “luc Van ‘Tién” 6

nhả trường trung học thời Pháp thuộc trước cách mạng Tuy nhiền cả hai nhà

giáo tên tuôi và đầy tâm huyết với văn chương nước nhà mới chủ ý dén ming truyện Nôm mà chưa đề cập đến mảng thơ văn yêu nước chỗng Pháp sôi nỗi

của Nguyễn Dinh Chiếu trong đó có “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

"tiễn thêm một bước trong piảng dạy văn chương Nguyễn Đỉnh Chiếu,

Hà Như Chị, giáo sư tường quộc học Hué trong cudn “Việt Nam thi văn

giảng luận" (xuất bản năm 1951) dùng trong các lớp trung học đã xem

Nguyễn Đình Chiểu như một tác gia lớn tiêu biểu của văn học Việt Nam nửa sau thé ki XIX Kiến thức về cuộc đời vả sự nghiệp văn học của Nguyễn Dinh

Chiểu được biên soạn đầy đủ bơn và đặc biết là ngoài máng truyện tho ma

tiêu biểu nhất là “Lục Vân Liên” các thể loại khác như điếu, văn tế đã được

để oập tới Tuy nhiên trong sự lựa chọn của giáo sư Hả Như Chị, tác phẩm văn tế được chọn giảng dạy kĩ không phải là “Văn tễ nghĩa sĩ CẦn CHuộc mả

la “Vin té si din luc tinh”

Khi phân tích bải “Văn tế nghĩa sĩ Cẩn Giuộc” nhà nghiên cứu Đảo

Nguyên Tụ lại tìm hiểu dựa trên kết cầu 4 phần: lang khởi, thích thực, ai vấn và

kết Với bài viết này, tác giả đã giúp chúng ta có một cái nhìn khá khái quát và

toàn diện về tác phẩm _ “xuất phát tử lỏng yêu nước thương dân tha thiết

Nguyễn Đình Chiểu bảy tỏ nỗi tiếc thương vô hạn đổi với những nghĩa sĩ nông,

dân đã bỏ mình vì nước , đề cao tâm gương chiến đấu hi sinh anh ding cia ho

dễ động viên làng yêu nước căm thủ giặc _, ý chí kiên quyết chống thực dân

Trang 9

Tháp xâm lược của nhân dân La thời đó”|39, tr 606] Tác giá cũng đồng tình với

ý kiến của một số nhả nghiên cứu khi cho rằng : “Hình tượng nông dân do Nguyễn Đình Chiểu xây đựng nên là một trong những hình tượng đẹp nhất của

văn chương cổ diễn, đánh đấu thành công xuất sắc về bút pháp hiện thực vả trữ

tình của một nhà nho phong kiến” [39, tr616] Cũng như thủ tướng Phạm Văn

Đẳng, nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên vả nhiễu tác giả khác, Đảo Nguyên Tụ

dã rất dễ cao bài văn tế nảy , dặt nó sánh ngang tầm với “ Hịch tướng sĩ”, “Cáo

bình Ngô”, “Phủ sông Bạch Đăng” Ông viết: “Nếu như trong kho tảng văn học

dân tộc đã có đỉnh cao về nhiều thể loại như hịch của Trần Hư np Đạo, phú của

'Irương Hán Siêu, cáo của Nguyễn Trãi thì ta lại có thêm đỉnh cao về văn tế

với sự đóng góp của Nguyễn Đình Chiếu"[39, tr.616]

“Trong sách “Giảng văn văn học Việt N am” và trong sách “Giảng văn

Túy cũng có những ý kiến khá thông nhất Liai ông đều cho rằng : giá trị nghệ

thuật hết sức đặc sắc làm cho bải “ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” trở thảnh bất

tử, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam Nguyễn Dinh

Chiếu đã »

y dựng được bức tượng đài về người nông dân yêu nước „ những

người anh hùng vô danh Bài “ V ăn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là dinh cao tư

tưởng, tỉnh cẩm, nghệ thuật trong văn nghiệ p của Nguyễn Đình Chiếu

“Tượng dài, bia đã nhiễu khi còn bị hao mỏn vì thởi gian, vỉ bị con người phá

trủy, nhưng tượng đài nghệ thuật về những người chiến sĩ nông dân hiện lên

trong lòng người thi bền vững, bắt điệt"

Đặc biệt với lòng kính phục vả ngưỡng vọng, một nhân cách lớn, một

tài năng lớn, không chỉ đừng ở tầm nghiên cứu chuyên luận bao quát, nhiễu

thé hé nhà giáo tâm huyết dã trần trở tìm tỏi con đường giảng day văn chương

Đỗ Chiều trong nha trường sao cho hiệu quả nhất Tiêu biểu trong số đó phải

kế đến nhà giáo: Nguyễn Đình Chú, Lê Trí Viễn, Nguyễn Trung Hiếu, Trần

Đình Sử, Trịnh Thu Tiết Bài viết của piáo sư nhà giáo Nguyễn Đỉnh Chú

Trang 10

-một nhà khoa học cú tên tuổi, -một người thầy có hơn 40 năm kinh nghiệm

giảng dạy thơ văn Nguyễn Dinh Chiểu, in trong cuến “lài liệu bồi dưỡng

giáo viên” của trường ĐIISP LH Nội I xuất bản năm 91, thực sự có nhiều Ý

kiến đóng góp thiết thực, sâu sắc gợi mớ một phương pháp giảng dạy hữu

hiệu cần thiết cho giáo viên để hướng dẫn học sinh tiếp cận “ Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc” nói riêng và sự nghiệp thơ văn Đỉnh Chiểu nói chưng Gần gũi với giáo viên và học sinh là các bài viết "Văn tế nghĩa sĩ CẦn Giuộc” trong

cuốn sách giáo viên văn 11 và cuốn “Để học tốt văn và Tiếng Việt lớp II, tập

1? (NXBHN 1990)

“trong cuỗn “thiết kế bài học Ngữ văn 11 tập 1” (Phan Trọng luận chủ biển), tác giả Phạm Thị Thu Ilương đã đưa ra một cách tiếp cận đối với tác

phẩm “văn tế nghĩa sĩ Cần Gime” ‘Trong bải thiết kế này, tác piả hướng dẫn

học sinh tìm hiểu về tác giả và tác phẩm Khi đi vào phân tích văn bản , Phạm

Thị Thu [lương phân tích trên hai phương diện chính dựa rên bố cục 4 phan

của bài văn tế :1 Hình tượng ngườin ghỉa sĩ nông dân 2 Tiếng khóc cho

những người nông dân nghĩa sĩ, cho thời đại đau thương quật khởi

Én bài viết “Định hướng tổ chức dạy học

Ngoài ra không thể không kể

văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Dinh Chiểu” của TS Nguyễn Ái Học

(trích trong cuốn “Phương pháp tư đuy hệ thống trong dạy học văn ”) Bài viết

dã chỉ ra khá tì mÍ các bước thực hiện khi giảng dạy tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ

Cân Giuộc” Ngoài phần một số điểm lưu ý , phương pháp day học, ở phần nội

dung day học, TS Nguyễn Ái Học dưara Š bước đạy học dễ giúp học sính

lĩnh hội kiến thức

1, Phân tích hoàn cảnh ra đởi của bài văn tế

2 Hưởng dẫn đọc diễn cảm bải văn tế

3 Định hướng học sinh nêu cầm tưởng , nhận xét chung,

4, Tlwong dẫn phân tích chỉ tiết : trong phân này tá c giả đưa ra hai cách

tiếp cân (theo bố cục của bải văn tế và theo các luận didm )

~

Trang 11

5 Hướng dẫn học sinh khái quát ý nghĩa của — bải văn LẾ sau khi phân

tích chỉ tiết

Trong bài viết “Tiếp cận văn hóa đối với các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình SGK Ngữ văn 11 (bệ cơ bản)” của nhà nghiên cứu

Trần Nho Thìn trên tạp chí Văn học va Luôi trẻ số 9 năm 2007, tác giá dưa ra

một số kinh nghiệm để giảng day bài văn tế đạt hiệu quả 1rong khuôn khỗ

một bài báo, PGS TS Trân Nho Thin để cập đến một số vấn đế như phương

diện câm xúc, thể loại và đặc biết chú ý đến việu Lìm hiểu ec sé van hóa của khái niệm “nghĩa” và coi đó là chìa khóa để hiểu dũng tác phẩm

Gần đây trong luận văn thạc sĩ “Con đường hướng dẫn học sinh khám

phá, chiếm lĩnh chiều sâu nghệ thuật tác phẩm Lăn lễ nghĩa sĩ Cẩn Giuộc - Nguyễn Lình Chiêu dễ nâng cao hiệu qua day va học” tác giả Phạm Thị Mai

Hương đã đưa ra cách tiếp cận tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” từ chiều sâu nghệ thuật của bài văn tế Từ đó giúp công tác giảng đạy của giáo viên và

việc học lận của học sinh thuận lợi hơn

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu tương đối phong phú và đa dạng nhưng các kết quả nghiên cứu về “Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc” thì còn í, thường lồng ghép trong các oông trình nghiên cứu về

cuộc đời, sự nghiệp văn chương Đã Chiểu nỏi chung, chưa thực sự tương,

xứng với giá trị của nó,

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục địch góp phan nang cao chất lượng vả hiệu quả của việc giảng day, hoc tip "' Văn tế nghĩa sĩ CẦn Giuộc” theo hưởng tiếp cận văn hóa, dễ tài

luận văn giải quyết những vấn để sau đây :

® Nghiên cứu lý thuyết tiếp cận hệ thống theo hướng văn hoá

® Nghiên cứu mối liên hệ

Trang 12

e Tổ chức cho học sinh tiếp cận tác phẩm ° Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”

theo hướng văn hoá

» Thiết kể giáo án thử nghiệm dạy học tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần

Giuộc” theo hưởng tiếp cần văn hoá

4, Đối tượng nghiên cứu cia dé tai

Đối tượng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi là

- Các sang tac dủa Nguyễn Đình chiểu nói chung vả “Văn tế nghĩa sĩ

Cần Giuộc” nói Tiếng

- Các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn học của

Nguyễn Đình Chiều

- Thực trạng dạy và học tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ở nhà

trường phỗ thông

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn „ chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sau:

-_ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phuong pháp điều tra

- Phuong pháp xử lí thông tim

- Phuong phap khảo sát,thực nghiệm, thống kê, phân tích

6 Cầu trúc cửa luận văn

Ngoài phân mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có ba chương

Chương l: Những cơ sở lí luận

Chương 2: Thực trạng dạy học tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cân Giuộc ”

trong nhà trưởng trung học phổ thông

Chương 3: Tổ chức học sinh tiếp cận tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ cần

Giuộc” của Nguyễn Đình Chiều theo hướng văn hoá

Trang 13

Chương 1

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tiếp cận hệ thông trong đạy học tác phẩm văn chương

1.1.1 Khải mm hệ thông

11.L1 Khải niệm hệ thông có trong tất cả mọi lĩnh vực khoa học và

khoa học liên ngành từ cấp độ vĩ mõ đến cấp độ vi mô, được sứ dụng với

nhiều cụm từ như: Ly thuyết hệ thống, khoa học hệ thông, tư duy hệ thông,

triết học hệ thống, quan điểm hệ thông, hướng tiếp cận hệ thẳng phân tích hệ thẳng, phương pháp hệ thẳng

1.1.1.2 Khái niệm hệ thống mà chúng tôi nói tới ở đây được sử dụng cả

ur hai p

- Thứ nhất hệ thống thuộc về dối tượng nghiên cứu, tức là cầu trúc hệ

thống của tác phẩm văn học

- Thứ hai hệ thông với tư cách là phương pháp để chiếm lĩnh đổi tượng,

Đó chính là phương pháp tiếp cân hệ thống đối với tác phẩm văn học

TIai phía thống nhất làm một, theo tỉnh thần của Ilêghen: “Phương pháp

là hình thức vận động của nội dung sự vật”

1.1.1.3 Hệ thông, theo cách hiểu thông thường, là: một tổ hợp những

yếu lỗ có những mỗi liên hệ nhất định với nhau Theo Hán Việt từ điển của Bao I2uy Anh thì hệ thắng là “thứ tự của sự vật có quan hệ với nhau” Từ điển lián Việt của Bửu Kế giải thích rõ hơn: “ Hệ có nghĩa là ràng buộc, thống cỏ nghĩa là manh mối Hệ thống có nghĩa là những sự vậL oó liên quan với nhau

và hướng về nên tảng nhất định [dẫn theo 18, tr.21]

Trong nhiều ngôn ngữ Châu Âu, từ hệ thẳng bắt nguồn từ 3ustema của

Hy Lap co nghĩa bán dầu là tập hợp Trong toán học, lý thuyết lập hợp cho

thấy: một tập hợp có thế có chung một đặc tính, nhưng tập hợp cũng hoàn

toàn có thể có những tính chất bất ki, tủy tiện Hệ thống là tập hợp nhưng mộL

Trang 14

tập hợp mà các thành phần có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, chỉ phối nhau,

hoặc theo ngôi thứ, hoặc theo nguyên tắc thống nhất Cho nên hệ thống là tập hợp nhưng tập hợp chưa hãn đã là hệ thống Cân phân biệt điều này

Ludwig Bertalanffy (1940) với triết học hệ thống như đã nói ở trên đã xem “hệ thống là một tổng thể các phân tử có quan hệ, có tương tác với nhau”[16, tr.22J V.P.Cudơmin cho rằng: “hệ thống là một tập hợp những yếu

tổ liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất én dinh va tính chỉnh thể, có

những thuộc tỉnh và những quy luật tổng hợp”[18, tr.22]

Có thể nói: hệ thống là một chỉnh thể thống nhất bao pm những thành

tổ khác nhau kết hợp vả tương tác với nhau để tạo nên những thuộc tính mới

mà các thành tố riêng lẻ không có được Và chỉnh thể bao giờ cũng lớn hơn

tổng số các bộ phận Hệ thống bao giờ cũng gắn với một cấu trúc Các bộ

phân được cẩu trúc theo cách nào thì sinh ra hệ thông a va hé thong nào thì

có ý nghĩa dy BGi vay cú cách gọi cầu trúc hệ thống, bao gầm nhiều hệ Mỗi

hệ thông vừa là thành tổ của hệ cao hơn vừa là hệ thống mẹ của những hệ

thống con thấp hơn

Cấu trúc của hệ thống là cách thức tương Lác giữa các bộ phận câu

thảnh vả nó xác định đặc trưng về chất của hệ thông Câu trúc của hệ thống

quy định chất lượng của hệ thẳng Chức năng của hệ thống lả cách thức hoạL động có mục dích nhằm đấm bảo cho su tin tai va phát triển của hệ thống, lả

khả năng biền “đầu vào” thành “đầu ra” (mộc tính mới) của hoạt động hệ

thống Cấu trúc chức năng dám bảo tính ổn dịnh của hệ thống Nếu rối loạn chức năng thi do là dấu hiệu hệ thẳng bị trục trặc và là nguy cơ tan rã của hệ thống TIệ thống có thể phát triển, có thể thay đối do sự thống nhất và đầu tranh của các mặt dối lập bên trong của hệ thống, trong mối quan hệ với “môi trường” (ngoài hệ thông)

Như vậy, phương pháp hệ thống là cách thức xem xét đối tượng nghiên

cứu như một hệ toản vẹn, có cầu trúc xảc dịnh và vận déng phát triển nhờ sự

11

Trang 15

tương tác (heo quy luật riêng của các bê phận oấu thành Chính nhờ sự lương

tác này đã phát sinh ra chất lượng mới chất lượng toàn vẹn của chỉnh thể lớn hơn tông các bộ phận của nó

1.1.2 Câu trúc hệ thông của tác phẩm văn học

Cầu trúc hệ thống của tác phẩm văn học mang đầy đủ những đặc điểm,

tính chất của hệ thống như các khái niệm trên đây Tuy nhiên, cấu trúc hệ thống của văn học lại mang đặc trưng riêng biệt của cấu trúc tác phẩm nghệ

thuật ngôn từ, khác với các loại hình cấu trúc khác Đó là một chỉnh thể bao

gềm nhiều thánh tổ tương tác với nhau: nhà văn — văn bản — người dọc Có thể nói hệ thống nảy, bao gdm hai phân hệ cơ bản

- Hệ thống 1: là hệ thống do văn bản tạo nên

- Hệ thống 2: là hệ thống do quan hệ tương tác piữa văn bản (và từng,

bộ phận trong văn bản) với người đọc (bao gồm các yêu tổ: văn hóa, ngén

ngữ trang một hỗi cảnh, tình huống cụ thể) Trong hệ thống 1, nội dung thẳm

mỹ có thể toát ra do sự phối ứng giữa các mảng do van ban tao lấp ví dụ tương tác giữa hình tượng này với hình tượng kia, mảng ý này với mảng ý

kia, phần sau với phần trước, hình ánh với nhịp điệu, hình ảnh với biện pháp

+u từ Dây chính lả câu trúc nội tại của văn bản tác phẩm Văn bản ở đây

được hiểu là fiên văn bản như cách nói của Roland Barthor Cầu Irúc này là

cấu trúc nhiều tẳng Bởi: “mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bắn

khác có mặt trong nó ở các cấp độ khác nhau đưới những hình thái ít nhiều

nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đỏ và những văn bản của

văn hóa thực tại xung quanh Mỗi văn bản đều như là tắm vải mới dược đệt

băng những trích dẫn cũ Những đoạn của các mã văn hóa, các định thức, các

cấu trúc nhịp diễu, những mảng vụn biệt ngữ xã hội tất cả dều bị văn bản ngấn nuốt vả đều hỏa trộn trong văn bản, bởi vi trước văn bản và xung quanh

nó bao giờ cũng tôn tại ngôn ngữ Với tư cách là điều kiện cần thiết ban đầu

cho mọi văn bản, tính liên văn bản không thể bị lược quy vào vấn dễ về

12

Trang 16

nguồn gốc hay ảnh hưởng : nó là trường quy tụ những định thức nặc danh,

khó xác định nguôn gốc, những trích dẫn vô thức hoặc máy móc, được đưa ra

không có ngoặc kép” [dẫn theo 18, tr.24]

Trong hệ thống 2, nội dung thâm mỹ dược hình thành do sự tương tác

với nhiều chỉ tiết, nhiều cấp độ phức tạp giữa văn bản với nhận thức cảm thụ

của độc giá gắn với tỉnh huống văn hóa, ngôn ngữ cũa thời đại độc giả Bởi vậy, nội dung thấm mĩ được sẵn sinh gắn với “cấu trúc tiếp nhận” và cầu trúc

“phản tiếp nhận” của người đọc, tạo ra sự phong phủ vô bạn những “mô hình

tiếp sau” Có thể nói sự “năng sẵn” ở dây mang cấp số nhân Đây chính lả hệ thắng “mở” của tác phẩm, mang đến chân trời rộng lớn cho nhận thức cảm

thụ văn học

Hệ thống 1 và hệ thống 2 như vừa trình bảy ở trên tiếp tục tương tác,

phối ứng với nhau đã tạo nên một chỉnh thê lớn của tác phẩm văn học, tạo ra

những “thuộc tính mới” lớn hơn văn bản, lớn hơn tổng số các thành tổ

Cấu trúc hệ thống của tác phẩm văn học như vậy, không thể hiểu một

cách giản đơn Hệ thông ở đây vừa mang tính cầu trúc, vừa mang tính chức

năng của nhận thứ thẳm mã Đúng như quan niệm cửa Tynyanov: “Quan hệ tương hỗ của mỗi yếu tố trong tác phẩm văn học, với tư cách một hệ thông

với những yếu tổ khác, tức là với toàn bộ hệ thống, tôi gọi là chức năng cầu

trúc của yếu tổ đó Nếu xem xét kĩ hơn La sẽ thấy chức năng này là một khái

niệm khá phức tạp Yếu tố quan hệ tương tác cùng lúc: một mặt, với hàng loạt các yếu tổ tương tự của những tác phẩm hệ thông khác, thậm chí của những

lĩnh vực khác, mặt khác với các yếu tổ của chỉnh bán thân hệ thống (chức

ning tự động hóa và chức năng đồng bộ Avotofun Ksia va Cin funKsia)” [din

theo 18, tr.25] Chính điều này tạo nên tính nhiều tầng, nhiều lớp, quan hệ dọc

ngang, nhiễu hệ “vi mạch”, vận động không ngừng Và dẫn dến hệ quả: hình

tượng là một cấu trúc, văn bản là một cấu trúc, tác phẩm là một cầu

trúc nhưng không thể dùng cầu trúc dơn thuần dé giải thích chủng được

13

Trang 17

Sự phong phú của nội dung thẩm mĩ phải được cắt nghĩa từ tương tác

hệ thống Vi tương tác là tương tác hệ thống, cho nên Tynyanov đã không ngần ngại khẳng định: “tác phẩm văn học là một hệ thông và văn học là một

hệ thống Chỉ trên cơ sở quy ước cần bản đỏ mới có thể xây dựng được một

nên khoa học về văn học không đơn thuần khảo sát sự hỗn độn của các hiện

tượng văn học màả nghiên cứu chúng” [dẫn theo 18, ir25] Cũng theo

'Iynyanov: “bân thân khái niệm về một hệ thẳng liên tục tiến triển, luôn mâu

thuẫn Iệ thống văn học trước hết là hệ thống các chức năng thuộc phạm vi

văn học liên tục có quan hệ tương tác với những hiện tượng thuộc các lĩnh

vực khác ” [dẫn theo 18, tr 25] Quan niệm trên đây đã dẫn đến một luận

điểm quan trọng, đó là sự liên đới giữa các chỉnh thể: hệ chỉnh thể của tác

phẩm, hệ chỉnh thể của văn học và hệ chỉnh thể của văn hóa Quan hệ tương,

hỗ, sống động trong sự vận động của ba hệ chỉnh thế ấy chính là căn cứ để

chúng ta giải thích ý nghĩa triết học, nội dung thẩm mĩ của tác nhằm văn học

Sự lưu ý và nhắc nhở ấy của các uy tín lớn như Tynyanov và Bakhtin, một

mặt, vừa cho thay ban chất của sự tốn tại của những giá trị văn học, mặt khác

cho thi ý nghĩa phương pháp luận của nó: “Cẩn phải nghiên cứu văn học và

tác phẩm văn học như những hệ thẳng chỉnh thé & hai cấp liên đi Liệ thống

chỉnh thể của tác phẩm gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn học, hệ thống

chỉnh thê của văn học gia nhập hệ thong chỉnh thể của văn hóa, và chỉ cả hệ

van hóa mới quan hệ tương tác trực tiếp với những lĩnh vực khác của đòi

xống xã hội Không thể tách vời văn học khôi hệ văn hóa và “vượi mặt văn

hóa, liên hệ trực tiếp với các nhân tổ chính trị kính tê - xã hội Những nhân tổ

ay tác động đến văn hóa trong chính thể của nó và chỉ thông qua nó mà ảnh

hướng dén van học” | dẫn theo 18, tr.26]

Như vậy, cầu trúc hệ thống của văn học, không thể là cấu trúc tĩnh tại, đóng kín mà đó là một cấu trúc động, cấu trúc mở Nói đúng hơn, tương tác

hệ thông là cơ xở tôn tại sông dộng của văn học Đỏ là sự tôn tại sống động

l4

Trang 18

của lác phẩm Đỏ là sự lồn lại của văn học trong mỗi quan hệ liên đới thường

xuyên biển đổi với các nh vực khác của đời sống: Một sự tổn tại như vậy,

chúng ta thật không hề đễ dàng nắm bắt bản chất của nó Nó không ngừng tìm

tỏi những son dường tiếp cân thích ứng của lí luận nghiền cứu văn học và lỉ

luận dạy học bộ môn văn học

Đến đây chúng ta có thể đi đến khái niệm: phương pháp tư duy hệ

thống trong dạy học chỉnh là sự suy nghĩ của học sinh với giúp đỡ của giáo

viên, xác lập một cách hiểu vẻ tác phẩm theo logic tương tác hệ thống giữa

cấu trúc văn bản của nhà văn với điểm nhìn khoa học và cảm thụ nghệ thuật

của chủ thể tiếp nhận, nhằm phát hiện ra giá trị mới của tác phẩm

1.1.3 Ưu thế của phương pháp tư duy hệ thông

Phương pháp tiếp cận hệ thống gắn với cầu trúc hệ thống của tác phẩm

văn chương như vửa trình bảy ở trên, rõ ràng có nhiều wu thể trong nghiên

cứu và đạy học văn trong nhà trưởng M.B.Khrapchenko, nhà lí luận văn học

xuất sắc của nước Nga thé kỉ XX trong “Suy nghĩ về việc phân tích văn học

theo phương pháp hệ thẳng” cuối cùng ải đến khẳng định: “Việc phân tích

theo hệ thông, một bộ phận của nghiên cứu văn học ở bình diện lịch sử và của

công tác phê bình, thiết tưởng sẽ nang việc nghiên cứu văn học lên một trình

độ mới ” Trước Khrapchenko, Tynyanov đã đút khoát hơn: “Nói một cách

nghiêm Lúc, không có chuyên xem xét những hiện tượng văn học bên ngoài

mỗi quan hệ tương tác giữa chúng [dẫn theo 1E, tr.27]

1.1.3.1 Trước hết tư duy hệ thống là tư đuy khoa hoc Rên luyện tư duy

hệ thống là một nội dung trong yêu cầu rẻn luyện tư đuy cho hoc sinh trong

quá trình dạy học Kết quả nghiên cứu của tâm lí học hiện đại từ Piaget đến Vugốtxki cho thấy: học tập là quá trình cá nhân kiến tạo các tri thức cho

mình, di từ sự thích ứng của cá thể với sự kích thích của mỗi trưởng dén qua

trình điều ứng để tạo ra cầu trúc mới Nhưng quá trình kiến tạo kiến thức dy

lại phụ thuộc vào sự trưởng thành và chín muỗi của các chức năng tâm sinh lí

15

Trang 19

thần kinh của lứa tuổi Học sinh trung học phố thông là là lứa tuổi đang dân

dan thoát khỏi tư duy lộn xộn, đang cần sự giúp đỡ để hình thảnh tr duy hệ

thống Vugốtxki khẳng định: “hệ thống là điểm then chốt, là tâm quay của

toàn bộ lịch sử khái niệm trong độ tuổi hoc smh Đó là cái mới xuất hiện

trong tư duy của trẻ đồng thời với sự phát triển của các khái niệm khoa học và

nâng trình dộ phát triển trí tuệ lên một mức cao hơn”.|dẫn thoo 18, tr 27|

1.1.3.2 Phương pháp hệ thống như đã phân tích chính là cách tiếp cân

ban thể luận, chéng lại việc xa rời bản chất, đặc trưng của văn học đã diễn ra

một thời pian dải trong nhả trường Tiếp cận hệ thắng, một mặt giúp cho

người tiếp cận phát huy được cách phân tích khoa học ma chủ nghĩa sầu trúc

(đúng hon 1a phương pháp cấu trúc) mang lại (nó buộc người tiếp nhận phải

dưa vào cấu trúc bề sâu của ngôn ngữ, của văn hắn, của thể giới hình tượng để

tìm hiểu ý nghĩa) Mặt khác, nó giúp khắc phục hạn chế mả chủ nghĩa cấu trúc

vấp phải Văn học được nhìn nhận, đánh giá gắn với thế giới nghệ thuật do

nhả văn sáng tao trong mỗi giao liên tương tác với nhận thức, cảm thu của người đọc đổi với văn hóa, ngôn ngữ, trong những tình huống xã hội, gắn với

tính chat lié

ăn bản của nó, không ngừng sản sinh những giá trị tư tưởng —

thấm mĩ mới Cách tiếp cận này, nói như Um Berto Hco: “Nó mở ra một trang

mới lrong xã hội họo và phương pháp sư phạm, cũng như một chương trình

mới trong lịch sử nghệ thuật Nó dễ ra những vẫn dễ thực hành mới bằng cách

tổ chức những tình trạng truyền thông móc [dẫn theo 18, tr.28 ]

“Phương pháp sư phạm” và cách tổ chức “những tỉnh trạng truyền

thông mới” như Heo nói, piúp cho chúng ta trả lời câu hỏi then chết nhất

trong hoạt động day học văn: trỏ và thầy cùng nhau “hiểu” như thế nào cho cả

cơ sở khaa học chặt chẽ dồng thời vẫn mở rộng dược fr do thich thi hưởng,

thụ và sáng tao thẩm mĩ khi tiếp nhận một tác phẩm văn chương?

1.1.3.3 Phương pháp tiếp cân hệ thống mở ra sự tự do — một cách khoa

học trong tiếp nhận vin hoc, tao nén tinh chất “da nguyên” trong tiếp nhận vả

16

Trang 20

đánh giá văn học của học sinh dưới sự giúp đỡ của giáo viên Trước một văn

bản, mỗi học sinh được quyền đọc, tiếp nhận, “phản tiếp nhận”, “hiểu nhằm” theo hệ thông mà mỉnh xác lập, lựa chọn Nó chống lại lêi dạy học áp

đặt, một chiều từ phía giáo viên Nó chống lại thực trạng dáng budn trong nhiều công trình thiết kế giáo án, nhiễu tải liệu hướng đẫn đạy học, tài liệu tham khảo dang tồn tại hiện nay Đó là việc dưa ra những cách hiểu đơn giản, bám vào văn bản một cách thô thiển máy móc, thu hẹp nghĩa của tác phẩm van trong cầu

trúc nội tại của văn bản, vô hình chung đã ngăn chặn sự phát sáng nhiều nội

dung thẩm mĩ qua nhiều kênh đối với tâm hỗn người đọc học sinh

'Tớm lại: phương pháp hệ thống là phương pháp tư duy khoa học,

phương pháp tư tưởng mở rộng, cho phép nó ôm vảo nhiều phương pháp,

biên pháp dạy học Nói cách khác nhiễu phương pháp, biện pháp nghiên cứu

và dạy học văn có thể phát huy, vận dụng một cách linh hoạt, sinh động để

góp phản làm sáng tổ hệ thống đã được thiết lập, xây dựng Như vậy, phương

pháp hệ thông là phương pháp tổng thể, vận dụng được nhiễu phương pháp

truyền thông

1.2 Mỗi quan hệ giữa văn họœăn hóa và hướng tiếp cận từ cái nhìn văn hớa 1.2.1 Vải nẻt về vẫn hoa

1.2.1.1 Khái niệm văn hóa

* Tình hình nghiên cửu văn hỏa ở phương Đông và phương Tây

Văn hóa lả một từ thường được hiểu, được đùng theo nghĩa rộng hẹp

khác nhau Trong sinh hoại ngôn ngữ hàng ngày, văn hóa thường dược dùng với nghĩa trình độ học vẫn Tuy nhiên văn hóa trong ngôn ngữ ngày thường

cũng không nhất thiết chỉ có nghĩa hẹp như vậy Một hảnh vị, một cung cách

nói năng ứng xử thiểu tế nhị, lễ độ, lịch sự, thiểu tính người thường bị phê

phản là “vô văn hóa”, “thiếu văn hóa” Như vậy ngay trong sinh hoạt ngôn

ngữ thường ngày, văn hóa cũng còn được hiểu theo nghĩa rộng nữa

'Từ văn hóa theo cái nphĩa thuật ngữ của nó là bắt npudn từ Châu Âu dễ

17

Trang 21

dịch từ Cultre của Pháp, Anh; Kultur của Đức Mây chữ này lại bắt nguồn từ

chữ Latinh Cultus mà nghĩa gốc lả trông trọt được dùng theo hai nghĩa cultus agri là “trồng trọt ngoài đồng” và cultus animi là “trồng trọt tính thân” tức là

“sự giao dục, bồi đưỡng tâm hồn con người” Vậy xét theo pốc văn hỏa pắn

liền với giáo dục đảo tạo con người, một tập thể người để cho họ có được

những phẩm chất tốt đẹp cần thiết cho toàn thể cộng đồng Cái nghĩa gốc nay

của văn hóa là nghĩa chính, cốt tử Nói khác di văn hóa không phải là một vật

con người tự nhiên có được mà lả một vật con người tiếp nhận trong quá trình

giáo dục

Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn từ rất sớm Văn

hóa là một từ Việt gốc Iián Theo những tài liệu cỗ xưa nhất của Trung Quốc

thì “văn” có nghĩa là "vẻ dẹp”, “hóa” có nghĩa là "thay dỗi, biến hóa, giáo

hóa” Gộp lại văn hóa hiểu theo nghĩa gốc là “làm cho trở nên đẹp” Nghĩa gốc

nay dua trên một câu trong Kinh Dịch (còn gọi là Chu Dịch): “Quan hồ nhân

văn dĩ hóa thành thiên hạ” (quan sát vẻ đẹp, cái đẹp trong con người, trong xã

hội loài người rỗi dựa vào mà giáo hóa cả thiên hạ; quan sát ở đây có thể hiểu

theo nghĩa “chú trọng tìm hiểu, khai thác ”) Văn và hóa trong hai câu trên

được dùng như hai từ đơn với những nét nghĩa đặc định, riêng biệt Thê ri, sau

đó vài Irăm năm, trong một số sách cố xuất hiện ở đời Hán (206tr.CN — 220 sau

CƠN), hai từ văn và hóa dã được kết hợp lại thành “văn hóa” và nhìn chung có hảm nghĩa: dùng thị, thư, lễ, nhạc, điễn chương, chế độ để giáo hóa chúng

dân (đối lập với việc dùng vũ lực, uy thế để cưỡng chế, bình dịnh, chính

phục ) Nghĩa trên dây của văn hóa trở nên thông dụng trong Hán ngữ suốt từ

đời Hán cho tới cuối đời Mãn Thanh (cuối thé kỉ XVIT) trước khi được bố

sung, mở rộng thêm nét nghĩa mới trong loại sách được gọi là tân thư Tuy nhiên nên lưu ý rằng những nét nghĩa mới của văn hóa do tân thư truyền bá lại

do người Nhật Bản cũng cấp trước tiên Trong phong trào “Minh Trị duy tân"

khởi xướng vào năm 1868, Nhật Ban đã dịch rất nhiều sách của Phương Tây

18

Trang 22

(thuộc đủ các chuyên ngành khoa học, từ khoa học tự nhiên công kỉ nghệ đến

khoa học xã hội và nhân văn) 1rong quá trình dịch thuật, các địch giả thường

gặp một từ có nguồn gốc la tỉnh là cultura rong tiếng Pháp và tiếng Anh là

ên dịch thể

culture, trong tiếng Đức là kuitur ) vả họ hing túng không bí

nao cho gon va day đủ ý nghĩa Qua nhiễu tim tòi lựa chọn, cudi củng hai chữ

Han “văn hóa” đã dược Nhật Bản đủng để dịch những từ có cùng một gốc La tinh “cultura” trong các ngôn ngữ phương Tây Từ dó, văn hóa trong Hán ngữ

cũng được hiểu theo nghĩa mở rộng tương ứng

Ổ Việt Nam từ “văn hóa” được các nha nho Tuy Tân đu nhập khi dọc

“Tan thư, Văn thư” Irung Quốc, bức là chỉ từ đầu thé ki XX Te “Tap chí

Nam Phong" (ra đời năm 1917) đến “Việt Nam văn hỏa sử cương” của Đảo

IDuy Anh (xuất bản năm 1938) cách biểu khái niêm văn hóa không những đã

theo cách phương lây mả cũng đã thay đổi dần tương ứng với sự phát triển

của khoa học Châu Âu đương đại Sau đó, vẫn đề nghiên cứu văn hóa học và

văn hóa Việt Nam ngày cảng có nhiều thành tựu Đặc biệt vào thập niên 90

của thé ki XX, văn hóa được nghiên cửu một cách toản diện: tử xác định khái

niệm, cầu trức văn hóa đến loại hình va biểu lượng văn hóa Thời gian này

hàng loạt các công trình nghiên cứu văn hóa ra đời: Irằn Ngọc Thêm “Cơ sở

văn hóa Việt Nam” (1995), Trần Quốc Vượng (chủ biên) “Cơ sở văn hóa Việt

Nam” (1997), Phan Ngọc “Đán sắc văn hóa Việt Nam”, “Một cách tiếp cân

văn hóa”; Nguyễn Tri Nguyên “Văn hóa tiếp cận từ vân để và hiện tượng”

(2000), Nguyễn San và Phan Đăng “Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam”

(2002}, Đăng Đức Siêu “Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam” (dảnh cho học

viên ngảnh kgữ Văn hệ đảo tạo tại chức và từ xa), Phạm Đức Dương “ Từ văn

hóa dến văn hóa học” (2002)

*Các cách định nghĩa về văn hóa

Mặc đủ có nhiều công trình nghiên cứu nhưng hiện nay văn hóa vẫn là

dấi tượng phức tạp còn nhiều vẫn để chưa thống nhất

19

Trang 23

- Theo én sĩ Nguyễn Tri Nguyên trong cuốn “Văn hóa tiếp cận từ van

đề và hiện tượng”, ông phân định nghĩa văn hóa theo 4 nhóm sau:

+ Nhóm định nghĩa theo hình thái chuẩn mực của văn hóa Ví dụ: “

Văn hóa là toàn bộ nếp sống được xác định bằng môi trường xã hội và thông,

qua các cả nhân với tư cách là thành viên của xã hội ấy” (Kôhhecgi)|30,

tr.28]: “Văn hóa là lối sống mà con người học được chứ không phải là sự kế

thừa sinh học” (R.Benidiee)|30, tr.28|

! Nhóm định nghĩa theo hình thải giá trị của văn hóa Vi đụ: “ Văn hóa

là những gì còn lại sau khi mọi thử khác đã mắt đi” (Valery)]30, tr.29], “ Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất vả tỉnh thần, được nhân loại sáng tao ra trong

quá trình hoạt đông thực tiễn lịch sử xã hôi; các giá trị ấy nói lên trình độ phát

triển của lịch sử loài người” (Từ diễn Triết học do NXP Chính trị Miát- cư —

va Ấn hành năm 1972) [30, tr.29]

+ Nhóm định nghĩa theo hình thái biểu tượng của văn hỏa Ví dụ: “ Văn

hóa là toàn bộ thông tin không kế đi truyền sinh vật, là mọi biện pháp nhằm tả

chức và bảo vệ thông tin” (Iuri l.ết - man) [30, tr.30]; “ Văn hóa là dèng thác

tư lưởng xuyên từ cá nhân này sang cá nhân khác, thông qua những ứng xử

(Pho-roi-dơ) |30,tr.31]

! Nhóm định nghĩa theo hướng bao quát, tổng hợp, theo bể rộng nội hàm

biểu tượng, những tử ngữ và qua sự bắt chước

khái niệm văn hóa Ví dụ: “Văn hóa là một phức thể bao gắm kiến thức, tín

ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và mọi khả năng và thói quen mà

con người, với tư cách là thành viên xã hi, dat duce” (KB Thai-lo) [30, #32]

'Pừ 4 nhóm định nghĩa trên đây, TS Nguyễn 'Iri Nguyên đã dựa ra một định nghĩa khái quát về văn hỏa: ° Văn hóa là một quá trinh hoại động sửa

con người biển đổi thế giới tự nhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn và có đấu ân người (có tính người) trong quá trình đó con người hình thành cái thiên nhiên bên trong của chính mình (cảnh quan nội tại của

chính mình), đồng thời thể hiện thái độ (ứng xử) với thiên nhiền thử nhất lẫn

thiên nhiên thứ hai va tng xử đối với chỉnh mình

20

Trang 24

Văn hóa là một hình thái xã hội toán diện gồm ba hình thái: Chuẩn

mực, giá trị và biểu tượng” [30, tr.32]

- Đoản Văn Trúc trong cuốn “Văn hóa học” lại đưa ra các cách định nghĩa dựa trên những quan điểm khác nhau

+ Quan điểm đân tộc học: Văn hóa “lả toàn thể những cấu trúc xã hội,

tôn giáo những biểu thị tri tué, nghệ thuật đặc định một xã hội” (PettiL L.arousse, 1982) [46, tr.47]

| Quan điểm đântộc xã hội học

+ Quan diểm tâm lí học

+ Quan điểm xã hội học

| Quan điểm tam lí — xã hội học

- Định nghĩa văn hóa của Lnesco: Ngay từ những năm 70,80 của thể kĩ

XX, nhiều cuộc họp bàn về văn hóa dưới sự chủ tri cha Liên hiệp quốc đã

được Lỗ chức, qua đó nhiều định nghĩa về văn hóa đã được đề xuất, có những

định nghĩa đã được thừa nhận một cách rộng rãi, được coi như là sự thể hiện quan niệm văn hóa của liền hợp quốc, cũng có nghĩa là của thế giới:

“ Vin héa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân

tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong

tục, tập quán, lỗi sống và lao động” [33, tr.15]

“Văn hóa theo nghữa rộng lả tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng,

thị hiểu thấm mĩ , những hiểu biết kĩ thuật cũng như toản việc tế chức môi

trường của con người những công cụ, nhá ở và nói chung là toàn bộ công

nghiệp có thể truyền lại dược, diễu tiết những quan hê và những ứng xử của

một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó "33, tr 16]

“Văn hóa là năng lực vả thành quả sáng mả nhân loại đã dạt được trong

quá trinh hoạt động thực tiễn trong xã hội Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao quát năng lực sẵn xuất vật chất và sân xuất tỉnh thần của nhân loại cùng toàn

bộ sản phẩm vật chat va tinh thần dược lâm ra Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp

21

Trang 25

trõ năng lực sẵn xuất tĩnh thần và sản phẩm tỉnh thần Văn hóa là hiện tượng

lịch sử cụ thể TTrong các giải đoạn lịch sử khác nhau của xã hội .văn hóa có

những đặc điểm khác nhau Các đân tộc khác nhau đã cấp cho văn hóa những

đặc diểm dân tộc khác nhau Trong xã hội có giai cấp, trên những mức dé

+khác nhau, văn hóa cũng có in dầu ấn giai cấp ”[33, tr L7]

- Chủ tịch Hỗ Chỉ Minh dinh nghĩa

Š văn hóa rất cụ thể và dễ hiểu

“Vi lé sinh tan cũng như mục dích sống của cuộc sống, loài người mới sáng,

giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngây về mặc „ ăn,

ở và các phương thức sử dụng Toàn bô những sáng tạo và phát minh đó tức là

văn hóa Văn hóa là sử tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu

hiện của nó mã loài người đã sản sinh ra _ nhằm thích ứng những như cầu dời

sống và đòi hỏi của sự sinh tôn ””

- Theo G§ Trần Quốc Vượng : “Văn hóa là một quan hệ Nó là quan hệ

giữa thế giới biểu tượng và thể giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một +kiểu lựa chọn riêng của một tộc ngưởi , một cá nhân so với một tộc người

khác, một cá nhân khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng La khác

mmả một tộc người liếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riỗng só mặt ở

mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác ”|47, tr.127]

- Gan với định nghĩ a trên là định nghĩa của GS Phan Ngọc: “Văn hóa là

mỗi quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong ác một cả nhân hay một lộc người

với gái thể giới thực tai ít nhiề u dã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình

hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ

mỗi quan hệ nảy „ đó lả văn hóa dưới hình thức dễ nhận thấy nhất _ biểu hiện thành một kiếu | ưa chọn riêng của cá nhân hay tộc người _ khác các kiểu lựa

chọn của cá nhân hay các tộc người khác ”[29, tr.18]

- Theo G8 lrần Ngọc Thêm : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá

22

Trang 26

trị vật chất vả linh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt

động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và

xã hội” [37, tr.I0]

1.2.1.2 Đặc trưng của văn hóa

Dặc tính của văn hóa và nội dưng của nó được xác định bởi bản chất

con người , những nét đặc trưng, liễm nắng của cơn ngưởi trong quá trình biến

chúng thành hiện thực Ide dé van hóa đủ ở thời dại nảo _ phương Đông hay

phương Tây đều có những đặc trưng cơ bản như sau :

Thử nhất, văn hóa phải có tỉnh nhân sỉ nh, tức là một hiển tượng xã hội

do con người sắng tạo ra Bởi văn hóa là cái tự nhiên được biển đổi bởi con

người Sự tác động của conn gưởi vảo tự nhiễntaora văn hóa như rèn đúc

công cụ lao dộng „ dặt tên chơ dòng sông, ngọn suối mang ý nghĩa tỉnh thần

'Lính nhân sinh thể hiện cao độ sự sáng tạo _, tài năng và tâm hỗn phong phú

đẹp để của con người Cho nên đặc trưng nảy của văn haa dé dang trở thành

sợi dây nối kết con người trong thé gid i lai voi nhau

Thứ hai, văn hóa phải có tính giá trị là thước đo mức độ nhân bán của

xã hội và con người Tỉnh giá trị khi phần theo mục đích : giá trị vật chất và

người Giá trị tĩnh thần là phục vụ cho nhu cầu tĩnh thần của son người Phân

chia tính giá trị theo ý nghĩa - giá trị sử dụng, giả trị đao dức giá trị thầm mỹ

Phân chia theo thởi gian : giá trị nhất thời và giá trị vĩnh củu Tính giá trị được

phân biệt với tính phi giá trị _ Tỉnh phi giá trị không bao giử có mắt trong

pham trù văn hóa

Thử ba, văn hỏa có tính lịch sứ Bởi văn hóa là sắn phẩm của một quá trình

được tích lũy qua nhiều thể hệ Văn hóa có bể dảy,, bể sâu hay chỉ là một hiện tượng thể hiển ở tính lịch sử của nó Tỉnh lịch sử được duy trì bằng truyền thẳng văn hỏa Những sáng tạo của công déng người trải qua thi gian, không gian, cấu thành nên những giá trị tương đối Ổn định tạo nên bản sắc của cộng đồng đó

Trang 27

Cuối cùng „ văn hóa lả một khái niệm mang lính hệ thông “Tỉnh hệ

thống chỉ ra mỗi quan hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc về một

nên văn hóa cụ thể hay một giai đoạn phát triển cụ thể của loài người Văn

hóa bao trùm toàn bộ đời sống xã hội _, từ ngôn ngữ, chính trị, đạo đức, tôn

giáo trong dời sống tỉnh thần dến các trang _ thiết bị trong đời sống vật chất

Do đó, tất ca nhimg phương diện , khía cạnh trong một giai đoạn ou thể đó đều phần ánh sự liền hệ mật thiết với nhau và sự lên hệ mật thiết khôn — g táchrời

ay tạo nên khái niệm văn hóa với nghĩa nền văn hóa

Ngoài những đặc trưng cơ bản nêu trên , có lế cũng cần phải nhân mạnh

thêm một số thuộc tỉnh cổ hữu của văn hóa :

Mét la, cần chủ ý dến tỉnh phố quát của văn hóa Văn hóa lả sản phẩm

mang tính xã hội cao đơ mọi ngưới cùng chung sức tạo ra Nó tất phải được toàn

thể thành viên của một xã hội, một cộng đồng cùng tiếp nhận mới trở thành văn

hóa, Thuần tủy chỉ là cái riêng của một cá nhân thâm chí của một nhóm, như sự

sĩ mê kì quặc của một số người nảo đó, không được các thành viên khác của xã

hội, của công đồng hiểu hoặc tiếp nhận thỉ không phải văn hóa

Hai la, cần phải thấy văn hóa là một quá trình vận động liên tục, không,

gián doạn Là sắn phẩm của một xã hội „ một thời đại nhất định , là di sản của

xã hội, văn hóa đồng thởi cũng lại lả một qua trình không ngừng tích lũy đỗi mới Mỗi thế hệ đều sinh ra trong một môi cảnh văn hóa nhất định, va rat tw

nhiên dã kế thừa những di sẵn văn hóa truyền thống tử thể hệ trước để lại —,

đồng thời mỗi thế hệ cũng đã căn cứ vào kinh nghiệm và nhụ cầu của mình

mã cải biến , hiệu chỉnh đi s an văn hóa truyền thống , đưa nội đung mời vảo

văn hóa truyền thống, loại bỏ những yếu tế lỗi thời , không hợp yêu câu của

thời đại trong văn hóa truyền thống,

Ba là, một nên văn hóa cụ thể nói chung déu mane tinh thoi dai, tinh

khu vực, tính dân Lic và tính giải cắp

Khi bản về văn hóa nói chung , thi vin hóa sẽ được để cập tới bình diện

phế quát, trừu tượng, khái quát hóa Nhưng đối với các xã hội , trong thực tế

24

Trang 28

thi thi chỉ có các nền văn hóa cụ thể, như văn hóa cổ Hy Lạp , văn hóa cỗ La

Mã, văn hóa Ấn Độ , văn hóa Trung ïIoa Một nên văn hoa cu thể phải chịu

sự chỉ phối, chế ước của hoàn cảnh tự nhiên vả điều kiện sinh hoạt vật chất xã

hội của loải người Thí dụ, trước hết phải có đá rồi mới có văn hóa đỗ đá., có

cây chẻ thì mới có văn hóa uống trà , có phỏng tiếp khách, có thì giờ nhàn rỗi

thì mới có cái gọi là “văn hóa xa -lông” của quý tộc Châu Âu

Một dân tộc sử dụng một ngôn ngữ œ hung, tuần thử phong lục tập quán

chung, cùng chia sẻ những yếu tô cơ sở chưng nhất của sinh hoạt vật chất và

sinh hoat tinh thin , nuôi duGng thanh t6 chat tm iva tinh cich chung, dé

chỉnh là biểu hiện của văn hóa dân tộ c

Trong xã hội có giai cấp , do chỗ các giai cấp có những diễu kiện hoan

cảnh sinh hoạt khác nhau dịa vị xã hôi khác nhau_„ vì vậy mà quan niệm về

giá trị, về niềm tin tin ngưỡng, , tập quán vả phương thức sinh hoại cũng khác nhau tử đó nảy sinh những sai biệt về văn hóa giữa các giai cấp

1.2.1.3 Chức năng của văn hóa

'thử nhất, văn hóa có chức năng điểu chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy

trì dược trạng thái cân bằng động không ngừng hoả n thiên và thích ứng với

những biến đổi của mỗi trường

Chức năng thử hai của văn hóa là chức năng giao tiếp De gắn liên với

con người và hoạt động của con người trong xãhội , văn hóa trở thành một

công cụ giao tiếp quan trọng Nêu ngôn ngữ lả hình thức của giao tiếp thì văn

hóa lả nội dung của nó

'Phử ba, văn hóa só chức năng giáo dục Văn hóa thực hiển chức nãng

giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã Ổn định (truyền thống), mả bằng cả

những giá trị đang hình thành _ TTai loại giá trị nảy tạo thành một hệ thống

chuẩn mực mà con người hướng tới Nhè nó mả văn hoa đóng vai trỏ quyết

định trong việc hình thành nhân cách (rồng người).

Trang 29

1.2.1.4 Vần hỗa ( hễ hiện dẫu an chung va riêng về trình độ sông của con

người trong lịch sử

Trong sự phát triển, văn hóa thởi kì trước , đù cho thời kì xa xưa nhất „

cũng khó mất di mả dược lưu giữ bằng nhiều hình thức khác nhau — : hội họa,

điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc, văn học, sân khấu Qua những chất liệu! ưu

giữ, chúng ta hiểu được trình độ sống của con người trong từng giai doạn lịch

sử cụ thể Văn hóa phát triển bằng sự tiếp biến (iếp thu và cải biến sáng tạo)

Nhớ sự lưu giữ cha vin hoa thởi kỷ trước mả thời kì sau có sự kế thửa nhất

dịnh để cải biển, sáng tạo ra nét mới To đó, tất cả những giải doạn, thời kì và nên văn hóa đều có những nét văn héa chung nhất định đồng thời cũng có nét

riêng không trùng lắp hoàn toàn

Văn hóa thể hiện dấu ấn chung và riêng về trình dộ sống của con người

trong lịch sử bởi sự giao lưu, xâm nhập mạnh mẽ và vô hình nhật luôn điển ra

trong quá trình đi lên vận động và sinh sôi không ngừng của nó Không có

một thời đại văn hóa nào lai tự nhiên sinh ra mà không bắt rễ từ một cơ sở côi nguồn nào đó Cái gi đào thải? Cải gi phát huy? Cái gì phải sáng tạo? Những

câu hỏi ấy không chủ đích thuộc về bất kì cá nhân ai mã thuộc về sự phát triển

tất yếu của lịch sử Do đó, không một giải đoạn, thời kì văn hỏa nào lặp lại y

nguyên giai đoạn văn hóa trước đó đồng thời không một giai đoạn vin hoa

nảo không nằm trong một cải nôi chung to lớn hơn lá nền văn hóa dân tộc,

vin hóa khu vực và văn hóa nhân loại

1.2.1.5 Văn hỏa, sự phan ảnh sức sông và bản sắc dân lộc

Mỗi một dân tộc đều có diều kiện dịa lý, hoàn cảnh sống riểng, diều

kiện kinh tế riêng, có thị hiểu thâm mỹ, cảm xúc thấm mỹ riêng để từ đó có

cách cảm nhận về thế giới tự nhiên riêng vá sảng tạo thể giới tự nhiên gũng,

không trủng lặp với các dân tộc khác Miặc đủ văn hóa luôn có sự phát triển và

giao lưu nhưng tính tiếp biến trong sự kế thừa từ đời này qua đời khác của

văn hỏa đã cầu thành nên cho mỗi dân tộc những bản sắc riêng Văn hóa bản

26

Trang 30

sắc là sắc diện, là mạch máu thể hiện sức sống dân tộc Không có được văn

hóa bản sắc, con người mất đi ý thức về tế quốc, đần tộc, mât đi ở thức làm

chủ, quyền tự quyết tương lai din tộc và mắt đi một phương điện tình thân

quỷ báu, vô giá và ý nghữa trong cuộc sống nhân sinh

Bản sắc văn hóa của con người Việt Nam thể hiện quy tụ vẻ đẹp trong

ứng xử và lối sống Người Việt Nam ban giờ cũng hưởng trọng cách ứng xử

*hợp lý hợp tình” (có cả lý và tỉnh) và lỗi sống dé cao nhân nghĩa Chữ nhân

trong văn hóa Việt Nam là biểu hiện sâu sắc, đậm nét nhất tình thương yêu và

trân trọng con người Chữ nghĩa trong văn hóa Việt Nam là hành đông xả

thân, quên mỉnh vì người khác, là sự hì sinh như thiên tính, ăn sâu vào ban

chất con người Lối sống của người Việt Nam là lỗi sống của “ba cây chụm

lại nên hèn núi cao”, là lối sống của “năm mươi con xuống bể, năm mươi con

lên non”, lỗi sống quy tụ được sức mạnh cao nhất của tinh thần đoàn kết

tương trợ Lương ái Do đó ý thức oộng đồng, ý thức dân tộc sáng ngồi, mạnh

mẽ là hệ quả tất yêu của lối sống để cao nhân nghĩa Iư tưởng nhân nghĩa Việt Nam là cốt lõi của văn hỏa Việt Nam, cốt lõi ấy được giữ gìn, được phát

huy truyền thống trong trường kỳ lịch sử đi lên phát triển cửa dân tộc đồng

thời là niềm tự hảo của nhân dân Việt am dối với nhân dân thé giới

1.2.2 Mỗi hrơng quan giữa văn hỏa — văn học

1.2.2.1 Lần học là dĩnh cao của văn hóa

Văn học là yếu tế lưu giữ văn hóa, là đỉnh cao của văn hóa, tồn tại với tư

cách là hoạt dông văn hóa bằng ngôn từ Văn học lả một hình thải ÿ thức xã hội,

phan ánh tồn tại xã hội Văn hóa thâm nhập và tổn tại trong toàn bộ mọi phương,

diện của xã hội Vì vậy, văn học tất yếu phái phân ánh văn hóa Văn học phán

ảnh sự thâm nhập và tồn tại của văn hóa trong các hiện tượng đời sống qua các

hình tượng nghệ thuật, từ đó phác họa bộ mặt vả chiếu sâu văn hóa

Văn hóa của một đất nước, một dân tộc đó là toàn bộ những gì đúc kết

từ ngàn xưa đễ lại, dó là truyền thống của cả một dân tộc nên đòi hoi moi

kè 3

Trang 31

người đều phải có ý thức tự báo vệ, lưu giữ nỏ vá truyền lại tử đời này sang

đời khác Chính vì vậy mà chúng ta thấy không có một sự truyén dat nao bén

vững bằng sự truyền đạt trên lĩnh vực văn học Văn học là cái nôi của mọi nên tảng văn hóa, nỏ góp phan truyền dạt, lưu prữ và nẵng cao các giá trị văn hóa

của dân tộc Các phong tục văn hóa, truyền thông vần hóa khi được đưa vào

văn học nó trở nên dẹp hơn, quan trọng hơn và tăng thêm phần giá trị Văn

học góp phần làm cho văn hóa dé dàng được tiếp nhận và ngảy cảng phát

triển rộng rãi hơn Từ một nền văn hóa mang đậm dau ấn của đân tộc khi đưa

vào văn học nó không những vẫn giữ nguyên được bản sắc văn hóa má còn lam cho vin hỏa đó ngày cảng được phát huy vả thu hút được nhiều người

biết đến và đi sâu hơn nữa vào đời sống sinh hoạt của con người

1

3.Liăn học không chỉ lưu giữ văn hóa mà còn là bộ phận quan trọng,

nòng côi của văn hóa, sng tạo ra văn hóa

Nói đến văn hóa đó là những nét Iruyền thống của một dân lộc, là ban

sắc của dân tộc nhưng đôi khi bản sắc vả truyền thống đó không được nhiều người biết đến mà chỉ qua văn học họ mới nhận biết và hiểu hết về nó Văn

học giúp chứng La nhìn nhận được nhiều vấn đề về bản sắc văn hóa của din

tộc, cho chúng ta thấy hết vẻ đẹp và vai trỏ quan trọng của văn hóa đổi với

một quốc gia Văn học không chỉ có vai trò lưu giữ văn hóa mà nó còn là

nông cốt của văn hỏa vả sảng tạo ra vẫn hóa Nếu không có văn học thi văn

hóa sẽ không được phát triển và không được lưu truyền một cách rộng rãi

Văn học là mánh đất dễ phát triển văn hóa, đến với văn học là dến với cái đẹp, dến với sự toản mỹ

Nói đến vai trò lưu giữ của văn học đối với văn hóa ta thấy Văn hóa bao giờ cũng lả cái có trước, những cái được truyền lai cho thé

hệ sau và đó cũng là những nét rất đặc trưng của mỗi dân tộc Ở đây văn học

có vai trò lưu giữ văn hóa là không làm mắt mát, sai lệch đi những gì đã thuộc

về truyền thông dân tộc Nhưng chỉ lưu giữ nó như một báu vật ở đời thì cũng

28

Trang 32

chưa hẳn đã là tốt ma trên cơ sở nền văn hóa đó khi đi vào văn học ching ta

phải làm sao vừa giữ được nên văn hóa mả lại vừa có sự sáng tạo, phát huy để

niên vần hóa trở nên hoàn thiện và ngày cảng phát triển hơn,

Sở dĩ văn học là một bộ phân quan trọng, nòng cốt của văn hỏa, sảng,

†ạo ra văn hóa là vi văn học có vai trò nâng cao giá trị vần hóa và phát huy giá

trị văn hóa đó, văn học góp phần quan trọng khi dưa văn hóa dén với đông dão quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng nhân dân hiểu sâu sắc hơn về

văn hóa và truyền thống của dân tộc

Từ những nét văn hóa của dân tộc, văn học còn có thể làm mới nó và

sáng tạo ra những nét văn hóa mang đậm bản sắc dân gian Văn học và văn

hóa bao giờ cũng luôn đi cùng và hé trợ cho nhau, không có một tác phẩm

văn hoc nado mả không có các yếu tổ vẫn hóa và cũng không có nền văn hớa

nao phat triển mà xa rời văn học được

Nhu vay, la thay van học và văn hóa luôn đồng hành cùng nhau, cùng

gắn bó và củng nhau phát triển

1.2.2.3 Uăn hóa là cơ sở, nền tảng của văn học

Văn hóa bao giờ cũng có lrước vá là tiền để cho văn học phát triển Văn

hóa là cơ sở, nền tang để văn học phát huy khả năng của mình lại sao nói

văn hóa là cơ sở, nền Lắng của văn học chính bởi vì văn hóa là cái để cho văn học dựa vào dó phát triển và sáng tạo

Ngày nay hắn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thông,

bao gồm nhiều y trong dé có văn học Như vậy, văn hoa chỉ phối văn học

với tư cách là hệ thống chỉ phối yếu tế, toàn thể chỉ phối bộ phân Đây là quan

hệ bất khả kháng Tuy nhiên, văn học so với các yếu tố khác là một yếu tố mạnh va năng động, bởi thể nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ thống, 'Irong khi đó thì hệ thông, nhất là hệ thông văn hóa luôn có xu hướng duy tri

sự ổn định, như Vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hóa là

không thể tránh khỏi Nhưng nhờ đó mà văn học có sáng tạo Sáng tạo những,

29

Trang 33

giá trị mới cho bắn thân nó và cho hệ thông Sáng Lạo lớn thi có thể dẫn tới sự

thay đối lớn của hệ thông

Nếu văn học chỉ là một bộ phận của vấn hóa, một yếu tế trong hệ thống

văn hóa thì nó không thể và không có quyền “vượt mặt” hệ thống để tiếp xúc với hoặc tác đồng trực tiếp đến hệ thống xã hôi, mà phải gián tiếp qua hệ thông

văn hỏa Từ dây có thể thầy văn học nếu có chức năng phản anh hiện thực thỉ cũng không thể phản ánh trực liếp được mà chỉ có thể thông qua “lăng kính”

văn hóa, (hông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa Nhò thế mà tránh được sự

phan ánh “gương” phản ánh một cách trần trụi Và, cỏ lẽ cũng nhờ thé mà tạo cho văn học một lối phản ảnh đặc trưng, phan ảnh như người ta thường nói, cỏ

nghệ thuật Nhưng liệu một tia sáng phản chiếu mà phải đi qua một bầu khí quyển văn hóa với nhiều khúc xạ như vậy thì có còn nguyên giá trị phản ảnh hay chỉ còn là giá trị thẳm mỹ? Vi thế, cũng có thể kết luận rằng, văn học

không thể có ảnh hưởng tức thời, trực tiếp đến hành động của con người mà chỉ

có thể tác động đến con người với tư cách là chú - khách thể của văn hóa, làm

cho con người biến chuyển rồi mới phát sinh hành động cụ thể

1.2.3.4 ăn học không chỉ thự dộng chịu sự chỉ phối , quạ dịnh của văn hóa

mà nó còn tích cực chủ động trong việc lựa chọn các giá trị văn hóa

Như ta đã

y, văn hỏa bao giờ cũng là cái có trước va là tiền dé cho

văn học phát triển Tuy nhiền, văn học không chỉ thụ động chịu sự chỉ phối,

quy định của văn hóa mà nó còn tích cực chủ đệng trong việc lựa chọn các giá tri vin hóa Các giá trị văn hóa được đề cập đến trong văn học bao giờ cũng là

những giá trị tiêu biểu và đặc sắc nhất, văn học lựa chọn những giá trị đó để

dể cao văn hóa của dân tộc và tê đậm thêm truyền thống của đất nước Chính

vì vậy mà văn học bao giờ cũng phải lich cực và chủ động trong việc lựa chọn

các giá trị văn hóa, có nhu vậy

Trang 34

về mắt nội dung mà đôi hỏi cả nghệ thuật vận dụng các giá trị văn hỏa lrong

táo phẩm đó như thế nào Vì thế mà việc giảng đạy tác phẩm văn chương trong nhả trường phế thông hiện nay không những chỉ tập trung khai thác về mặt văn học mà còn phải tập trung khai thác cả về mặt văn hóa của tác phẩm

Nếu như văn học hoản toàn thụ động chịu sự chỉ phối, quy dịnh của văn hóa thì nó sẽ không còn là một tác phẩm văn học nữa mà nó Irỗ thành một bài viết

thuận túy về văn hóa Văn học lá văn học, chúng ta không biến tắt cã văn học

thành văn hóa và ngược lại Vi vậy mà việc lựa chọn các giá trị văn hóa để

đưa vào văn học là một việc rất khó, đòi hỏi phải đùng hiểu biết về văn hóa để

lâm cơ sở trong quá trình lựa chọn và vận dụng

1.2.3 Tiép can tac phẩm văn hục tỳ góc độ văn hoa

1.2.3.1 Tiếp cận văn hóa

Văn hóa tồn tại và ảnh hưởng tới cuộc sống của con người từ bao đời

nay, nhưng thuật ngữ ° Văn hóa học” thì mới được hình thành va phát triển ở thế kỉ X% Thuật ngữ văn hóa học mới xuất hiện [tiếng Anh: Culturology],

với nghĩa là khoa học nghiên cứu về văn hóa Hiện nay trong bồi cảnh toàn

cầu hóa, con người ngày cảng nhận ra vai trò quan trọng của văn hóa dỗi với

sự phát triển mọi mặt của xã hội loài người Văn hóa và văn học có mỗi quan

hệ mật thiết với nhau Vỉ vậy, tiếp cận văn hóa là một hướng tiếp cận quan trong grip chứng ta khám phá ra nhiều vẻ đẹp của tác phẩm văn chương

Mặt khác, việc dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông

hiện nay không chỉ nhằm giúp các em lĩnh hội được các trì thức về văn học

(như nghệ thuật ngôn từ, phang cách và cá tỉnh sáng tạo của nhà văn, thi pháp

thể loại ) mà cao hơn nữa phải cho học sinh hiểu vả cảm nhận được giá trị

văn hóa trong hình tượng nghệ thuật, truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông ta từ bao đời nay Từ đó mở ra cách tiếp cận mới, đồng thời giúp học sinh

hình thành và phát triển nhân cách

'Tiễp cận văn hóa là một hướng đi mới và hiệu quả trong việc khai thác

tác phẩm văn chương dưới póc độ văn hóa Do đó, việc bỗ sung thêm hướng,

31

Trang 35

tiếp cận này trong day hoc lac phẩm văn chương sẽ làm giờ học không những,

đạt hiệu quả cao mà thực sự hay, hap din và lôi cuốn các em học sinh Tuy nhiên, văn học là văn học, chúng ta không thể biển tẤt cả văn học thành văn

hóa và ngược lại Tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương nhằm

mục đích kiểm tìm những vé dẹp vé đẹp văn hóa, giá trị văn hóa của tác phẩm chứ không phải biển giờ dạy hoe thành giờ học về văn hóa Có thể hiểu tiếp cận văn hóa như một con đường hiệu lực để khám phá tác phẩm văn chương thêm

một phương diện nữa (phương diện văn hóa) bên cạnh phương diện văn học một phương diện mà lâu nay trong đạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phế thông chúng ta luôn để câp tới Liếp cân văn hóa không đi chệch mục tiêu

tiếp cận tác phẩm văn chương dưới góc dộ văn học mà là sự hỗ trợ, bỗ sung, cần thiết để việc tiếp nhận tác phẩm được trọn vẹn dây đủ ý nghĩa hơn

1.3.3.2 Nghiên cứu văn học theo hưởng liếp cận văn hỏa ở Việt Nam

Một trong những người khởi xướng cho xu hướng tiếp cận văn học băng văn hóa học là giáo sư văn học người Nga thuộc Dại học Saransk

Mikhail M.Bakhtin Năm 1940 Bakhtin đã viết một công trình để rồi đến năm

1965 nó mới dược xuất bắn “Sang (ac cua Francois Rabelais vin van boa dan

gian thời trung đại va phuc hung” Trong công trình này, lần dầu liên MỸ

Bakhtin đã đưa cái nhìn văn hóa để phân tích và lý giải tác phẩm của nhà văn

Phuc Ilumg Phap Rabelais [din theo 7]

G Việt Nam, phương pháp nghiên cửu văn học theo hướng tiếp cận văn

hóa dược manh nha pẦn như củng thời diém voi Bakhtin Nam 1945, trong

công trình nghiên cứu "Kinh thi Việt Nam”, nhả nghiên cứu ‘Truong Tửu đã

viết: “Cải úc Việt Nam lúc nào cũng có cải hình te ấu kia ám ảnh Đến nỗi

hinh ay đã thành cái khuôn, bao nhiêu ngoại vật đều chiếu qua né, rồi mới được vào trong đầu Có thể nói người Việt Nam trông sự vật, tả sự vật bằng

cái giống” Trương Tứu đã dùng văn hóa đã cắt nghĩa văn học, ông giải thích

“Có lẽ đó là đi tích của một tôm giáo tự nhiên đã mit, lấy việc thờ phụng sự

sinh dé lam nghi 18” (7, tr.22]

32

Trang 36

Năm 1968, nhà Việt Nam học người Nga N Niculin dựa trên kết quả

nghiên cứu của Dakhtin về Rabelais, cũng đã so sánh sự xâm nhập của văn

hóa dân gian Việt Nam vào thơ Hỗ Xuân Hương giống như sự xâm nhập của văn hóa dân gian Pháp vào sáng tác của Rabelais

Năm 1995, cuốn “Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận dại” của tác

giả Trân Đình Hượu đã khảo sát văn hóa lịch sử, đặc biệt là Nho giáo, để giải

quyết một số úa văn hoc

Nhà nghiên cửu Trần Ngọc Vương với hai cuốn sách “Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam” và “Văn học Việt Nam đòng riêng giữa nguồn chung”, ông đã làm một cuộc khảo sát về mặt văn hóa đối với bức tranh văn học thời trung đại

Năm 2003, nhà nghiên cứa Trần Nho Thìn cho xuất bấn cuốn sách

“Văn học trung dại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa” Trong cuốn sách này,

Trần Nho Thìn đã khẳng định: “người viết chọn góc độ văn hỏa dé quan sat

và giải thích các hiện tượng văn học”

Gần đây nhất tháng 1/2008, PGS Lê Nguyên Cần công bố công trình

“Tiép cân Truyện Kiểu từ góc nhìn văn hóa” Ở tác phẩm nảy, tác giả đã chỉ

ra cơ sở của việc Liếp cân văn học “Chúng lôi tiếp cận Lác phẩm từ hệ thống các biểu tượng văn hóa” |5, tr9| Theo tác giả, “Tỉnh văn hóa trong Lac phim

văn học thể hiện trước hết qua cách nhìn nghệ thuật mang tinh din tộc về can người và cuộc đời, qua quan niệm ứng xử thẩm mĩ mang đặc trưng và phủ

hợp với chuẩn mực đời sống tâm li đạo đức của truyền thông dân tộc qua

cách thức xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện, cách thức mô hình hóa

hoặc điển hình hóa hệ thống các hình ảnh biểu trưng các mẫu đễ ”[S, tr23| Qua tư tưởng này, chứng tá nhận ra những vận để cơ bản, các cấp độ

của nghiên cứu văn học tiếp cận văn hóa

33

Trang 37

Chương 2

THỰC TRẠNG DẠY HỌC

TÁC PHẢM VĂN TẺ NGHĨA SĨ CÀN GIUỌC TRONG

NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỎ THÔNG

2.1 Vai trỏ, vị trí của Nguyễn Đình Chiếu và “Văn lễ nghĩa sĩ Cẩn Giuộc”

trong nền văn học dân tộc

2.1.1 Nguyễn Dinh Chiéu nhà thơ của lỏng yêu nước sâu sắc

Không phải đến Nguyễn Đình Chiếu, truyền thống yêu nước mới được

tộc lộ và thể hiện sâu sắc Có thể khăng định rằng: chủ nghĩa yêu nước, lòng tự

hảo về nền văn hiện lâu đời của dân lộc đã ăn sâu gốc rỄ trong lịch sử nước nhà

cũng như trong dòng chảy bắt tận của văn học Từ “Nam quốc sơn hả” của Lý Thường Kiệt tiếng vọng khẳng định chú quyền đã vang lên thật mạnh mế

Nam quốc sơn hà Nam dễ cực

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỖ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

(Nam quốc sơnhà Lý Thường Kiệt)

Đến Nguyễn Trãi, tỉnh thần tự tôn đân tộc, khẳng định chủ quyền đất

nước cũng đẹp để vô cùng,

Như nước Dại Ưiệt ta từ trước

Vẫn xưng nên van hiến dã lâu

4Núi sông bờ cối đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đình, LÍ, Trần, ban đời gây nên độc lập

Cùng Hán, Đường, Tổng, Nguyên mỗi bên hùng cử mội phương Tuy mạnh yếu khác nhau

Nhưng hào kiệt đời nào cũng có

(Bình ngõ đại cáo — Nguyễn Trãi)

34

Trang 38

Trái qua bắn nghìn năm đựng nước và giữ nước, trải qua biết báo bình

biến thing trim, chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng tự tôn dân tộc và ý thức bảo vệ

'Lễ quốc luôn thường trực trong mỗi người con đất Việt Từ Lý Thường Kiệt,

Nguyễn Trãi và đến cả chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong công cuộc chống

Pháp và chẳng Mỹ cứu nước sau nay déu một lòng khẳng dịnh tiếng nói bất diệt đó “Không có gì quý hơn độc lập ur do”, “Thả hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ ”, “Dú có đốt cháy

cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập tự do” Bay nhiêu thôi

cũng đủ để khẳng định bản lĩnh văn hóa người Việt trong suốt chiéu dai lich

sử dựng nước và g1 nước

Cũng không nằm ngoái truyền thống văn hóa tư tưởng ấy, Nguyễn

Đình Chiếu (1822 - 1888) là một tắm gương sảng choi về tình thần làm việc kiên cường và khí tiết yêu nước bất khuất Cuộc đời Nguyễn Đình Chiếu là

cuộc đời của một người yêu nước chãn chính

Khi thực đân Pháp đánh vào Gia Dinh (1859), trong lúc quan tướng

triều đình hoảng hốt chạy dài, Nguyễn Đình Chiểu đã ngay lập tức củng nhân dân và các sĩ nhu yêu nước chiến dấu để bảo vệ từng tẮc đất của cha ông

Không thể trực tế) gươm cằm súng xông ra giữa trận tiền Nguyễn Đỉnh

Chiếu tích cực cùng các lãnh tạ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc, đồng

thời sáng tác những vần thơ cháy bỏng tâm hồn để khích lệ tỉnh thần chiến

đầu chống giặc ngoại xâm của nhân dân Gia Dịnh mat, ông chạy về Cân

Giuộc Cần Giuộc mắt, ông chạy về Ba ri (Bến Tre) Rồi cả Nam ki lục tính dều lọt vào tay giặc, nỗi dau dỗn lên dầu ngọn bút và tắm lòng vẫn sáng tựa gương, nhà thơ mù đất Đồng Nai đã nêu cao lắm gương kiên trung, bất khuất

trước kê thủ Mọi sự đe dọa, mọi thủ đoạn dụ dỗ mua chuộc bằng tiền tài, đất đai, danh vọng của thực dân đều không lung lạc được ý chí Nguyễn Đình

Chiểu Dẫu “thua cuộc rồi”, Nguyễn Dình Chiểu “lưng vẫn thẳng, đầu vẫn cao, ngay kê thù cũng phải kính nễ” (Irần Văn Giàu) Ông vẫn tiếp tục chiến

dấu bằng ngòi bút cho dến hơi thở cuối cùng,

35

Trang 39

Cuộc đời, khí tiết của Nguyễn Đỉnh Chiểu đã làm nên một sự nghiệp vẻ

vang sự nghiệp văn chương chiến đầu đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi

tớ của chúng

Sự nghiệp văn chương của ông chia làm hai giai đoạn, gắn bó chặt chế

cuộc đời tác giá và vận mệnh đân tộc: giai đoạn trước và sau khi thực đân

Tháp dánh chiếm Việt Nam Giai đoạn đầu là giai doạn những năm 50 của thể

ki XIX ‘Trong giai doạn nảy, ngoài việc dạy học vả làm thuốc, ông dã sáng,

tac hai tập truyện dài là Lực Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu Đây là thời kì

tiếp tục hình thánh và khẳng dịnh tư tưởng yêu nước, thương dân, tư tưởng

nhân nghĩa — một bộ phân của triết lí nhân sinh của ông

Trước hết phải nhắc đến tác phẩm Lực Vân Tiên Lục Vân Tiên là tác

phẩm thơ nôm dầu tiên, trong dó thông qua những mỗi quan hệ tích cực vả

tiên cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lí tưởng như Lục

Vân Tiên, Nguyệt Nga, Ilớn Minh, Tử Trực, tiểu đồng, những người lao động

giàu lòng nhân nghĩa như vợ chồng ông Mgư, ông liều Nguyễn Đình Chiếu muốn khẳng định cuộc sống của con người tương thân tương ái với nhau trên

cơ sở nhân nghĩa Ngoài tư tưởng nhân nghĩa, Luc Vân Tiên là một tác phẩm

chiến đâu, thuộc một nên văn học chiến đấu của một tác giả đứng hẳn vào

hàng ngũ những chiến sĩ của nhân đân đấu tranh để thực hiện lí tưởng, hoài bão nhân nghĩa công bằng của nhân dân

Văn thơ yêu nước phải kể dén Duong Tie - Ha Mau Duong Ti - Ha Addu 1 mét tac phẩm lớn toát ra mệt tỉnh thần yêu nước, căm thù giặc sâu sắc Trước nguy cơ dỗ vỡ cá nền tảng dạo đức cố hữu do ÿ dỗ của quân thủ xâm

lược, Dương Từ - Hà Mậu như là một lời kêu gọi mọi người trở về với chính

dạo, đủ tạo ra một sức mạnh chống giặc cứu nguy cho TẾ Quốc Với một tỉnh thân chiến đâu, yêu nước thiết tha sôi nỗi, ông kêu gọi đồng báo sớm phải

nhận ra kẻ thù chung của dân tộc, và nói rõ trách nhiệm, bổn phận của mọi

người dân Việt Nam trước họa xâm lăng Việc chiến dấu chống giặc cứu nước

36

Trang 40

bây giờ là ngọn lửa thứ vàng cho mọi giá irị của mỗi người dân, không kế lá

lương hay giáo

Có thể nói tư tưởng yêu nước, căm thủ giặc, quyết tâm bảo vệ từng tic đất ngọn cỏ của quê hương được thể hiện trong suốt sự nghiệp sáng tác của

Nguyễn Đinh Chiểu Ở giai doạn thứ hai — là piai doan phát triển cao và rực

rỡ của sự nghiệp văn chương Nguyễn Đình Chiếu, chủ nghĩa yêu nước cảng

được thể hiện sâu đậm hơn

Nghiên cứu thơ văn yêu nước của ông, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại

đã đánh giá Đồ Chiếu rất cao: "Nếu trước 1858, với Lục Vân Tiên và Dương 1ừ - là Mậu Nguyễn Đình Chiều là nhà thơ cudi cùng của nên văn học cễ

đại, thì sau 1858, với các văn tế, hịch của mình Nguyễn Đình Chiếu dã dễ

lại cho chúng ta một khói lượng văn thơ khá phong phú, chứa chan tình thần

vêu nước, yêu nhân din va cam thù giặc Có lẽ đây là phần thành công nhất trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Chiễu Và có lẽ đây cũng là phần

đóng góp quan trọng nhất vào lịch sử thơ văn yêu nước chồng xâm lăng của

dân tộc trong giai đoạn cuối thế lý XIX ” [39, tr.99] Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu dã sưu tập dược cho đến nay gdm ba bai văn tế: Văn id nghĩa sĩ Can Giude (1862), Văn tê Trương Định (1864), Văn lễ nghĩa

vong luc tinh (sau 1874), 12 bài thơ Diểu Trương Dịnh (1864), 10 bai Diéw Phan Tòng (1868), một ít bài thơ khác va cuén New Tiéu y thuật vấn đáp đài

3614 câu có lẽ được sáng tác vào những năm cuỗi đời ông,

‘The vẫn yêu nước của Nguyễn Đỉnh Chiểu nhiệt liệt biểu đương những anh hùng nghĩa sĩ dã chiến dấu hy sinh vì TẾ quốc Họ là những sĩ phư như

Trương Định, vẫn nắng lỏng với hai chữ “trung quân”, nhưng vì đại nghĩa của

dân tộc đã dám chồng lại mệnh lệnh cứa ông vua hẻn yếu, ở lại cùng nhân đân

chiến đấu đến hơi thở cuối củng, bảo vệ giang sơn gắm vóc của cha ông:

"Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên từ chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền theo bụng dân phải chịu tróng quân phù, gánh vác một vai khẩn ngoại”

(Văn tế Trương Định)

Ngày đăng: 26/05/2025, 18:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  tượng.  ở  diy  có  một  bất  ngờ - Luận văn thạc sĩ tiếp cận hệ thống theo hướng văn hóa trong dạy học tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn Đình chiểu ngữ văn 11 tập 1
nh tượng. ở diy có một bất ngờ (Trang 101)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w