nên, dã là văn nghị luận là phải lập luận và lập luận phải chất chế, sáng rỡ Đặc điểm của lập luận là người viết sở dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề, trình bảy lí lẽ và qua đó đánh giá sự đún
Trang 1
DAI HOC QUOC GIA HA NOI
TRUONG DAI HOC GIAO DUC
HOANG THI THANH
VAN DUNG Li THUYET LAP LUAN TRONG
DAY HOC VAN BAN NGHI LUAN
O TRUNG HQC PHO THONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý luận và phuong phap day hoc
Trang 2CAC KY HIE£U VIET TAT
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Mục dích và nhiệm vụ nghiền cứu
$ Phương pháp nghiên cứn
6 Cấu trúc luận văn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SO THUC TIEN CUA
VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LẬP LUẬN TRONG DẠY
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông với việc dạy
vận dụng lý thuyết lập luận trong đạy học văn bản nghị luận
Chương 2: VẬN DỤNG LẬP LUẬN VÀ CÁCH KHAI THAC
LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN Ở
'TRUNG IKỌC PHỎ TIRÔNG
Trang 42.2.1 Cách lập luận
2.2.2 Cách khai thác văn bản
2.3 Hiệu quả của việc vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học
văn bản “Bình Ngô đại cáo” và "'Luyên ngôn độc lập”
Chương 3: THIẾT KẾ GIÁO AN VÀ THỰC NGHIỆM
3.2.4 Triển khai thực nghiệm
3.2.5 Đánh piá kết quả thực nghiệm
3.2.6 Kết quả rút ra qua thực nghiệm
Trang 5MO DAU
1 Lý do chon dé tai
Pal nude ta dang từng ngày đổi mới và phát triển trong xu thể hội nhập
Mục tiêu đặt ra trước mắt, đó là đào tạo ra những con người toàn diên, tích cực và chủ động Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Giáo dục (GD)
mà là của loàn xã hội Nhưng ngảnh giáo dục giữ vai trỏ chủ chốt, với mot
trọng trách vô cùng lớn lao Quá trình đôi mới ở nước ta đã diễn ra bắt đầu từ
những năm 1960- 1980 của thé ky XX, với khẩu hiệt Šn quá trinh đảo lao
thành quá trình tự đào tạo” Cho đến nay, vấn dé déi moi trong quá trình dạy -
hoe càng trở nên bức thiết
Mục dích cuối củng của việc học môn Ngữ văn ở trường nhễ thông là piúp học sinh có thể tạo lập dược những văn bản hay, có tính sáng tạo Để đạt
được mục đích này, việc cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức về văn bản là
cần thiết Tuy nhiên, muốn học sinh độc lập tạo ra được văn bán có tỉnh sáng,
tạo thỉ việc cưng cấp trị thức là chưa đú, mà điều quan trọng là phải hình thành
và củng cế cho các em các kĩ năng, các cách khai thác văn bản sao cho đạt
được hiệu quả giao HIẾp cao
1.1 Lý thuyết lập luận có một vai trò rất quan trọng trong văn nghị luận Vì
vậy, hình (hành nắng lực lập luận cho học sinh (TIS) là một yêu cầu tất yếu
đặt ra trong quá trình day hoe vn ban ở trường trung học phố thông (THP 1)
Văn nghị luận đã được đưa vào giảng day trong nhà trường phổ thông
Học sinh được lâm quen với văn nghị luận ở cap THCS, lên đến THPT, văn
nghị luận là một kiểu bài trọng tâm và chiếm phần lớn thời lượng chương
trình Làm văn Đây là một kiểu bài rất khó, đời hói học sinh phải có óc tư duy
lâgic Bởi dặc trưng của văn nhị luận là phải lập luận để làm sáng tổ một vấn
để nào đây Nếu không cỏ lập luận, thì vấn đề đó sẽ trở nên thiếu tỉnh thuyết
phục, khiến ngưởi đọc không tin vào những diều mà người noi muốn dẫn dắt
người đọc hướng tới Như vậy, sẽ không đạt được đích của giao tiếp Cho
Trang 6nên, dã là văn nghị luận là phải lập luận và lập luận phải chất chế, sáng rỡ
Đặc điểm của lập luận là người viết sở dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề, trình
bảy lí lẽ và qua đó đánh giá sự đúng — sai, đưa ra các phán đoán, nêu ra kiến
giải, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của bản thân Việc
trình bảy lí lẽ được người viết thể hiện thông qua các phương thức tư đuy
légic như khái niệm, phán đoán, suy lỉ và hệ thống các dẫn chứng nhằm đạt
được mục đích khiển người đọc tin theo Bởi vậy, lập luận được sử đụng rất
nhiều trong các văn bản, nhằm để thuyết phục người đọc Lập luận là đặc
trưng cơ bản của văn băn nghị luân Lập luận như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trong bài văn nghị luận ở trường phổ thông
Day van bản nghị luận cho học sinh chính là dạy cho các cm các thao
tác lập luận Việc sử dụng tắt các thao tác lập luận sẽ giúp học sinh tạo lập
được những văn bản nghị luận hay, đầy tính sáng tạo Đây cũng chính là mục
dích cuối củng của việc dạy các thao tác lập luận cho học sinh Qua đỏ chúng,
ta có thể đánh giá được năng lực hoàn thành từng thao tác lập luận cụ thể trong quá trình tạo lập văn bản của học sinh Chính vi vậy mà sách giáo khoa (SGK)
Ngữ Văn từ THCS đến THPT đã dưa các thao tác lập luận thành từng nội dung
cụ thể (Ở SGK Làm văn trước đây các thao tác này không được học một cách
tố rằng, cụ thể), nhằm giúp học sinh có cái nhìn rõ hơn, biểu sâu hơn bản chất ban chất của từng thao tác lập luận, và từ đó biết cách kết hợp các thao tác lập
luận đó vào quá trinh tạo lập văn bản
1.2 Nghiên cứu về lý thuyết lập luận ngày càng được quan tâm, những thành
tựu của nó đòi hỏi phải được tích hợp và ứng dụng vào dạy học văn bản, nhất
là vào vệc để xuất các phương pháp, hình thức rẻn luyện kỹ năng lập luận
trong văn bản nghị luận cho hợc sinh
Trong nghiên cứu về hoạt động ngôn ngữ, ngôn ngữ học đã chú ý xem
xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ vả Lư duy Theo đó, lập luận cũng lả dối Lượng
được các nhà ngôn ngữ quan tâm Sự quan tâm ở đây không phải là nhằm đi
Trang 7sâu vào nghiên cứu lập luận theo hướng của quả trình tư duy mà chủ yếu là
xem xét sự điển đạt lập luận bằng ngôn từ, bằng nội dung các yếu tổ hình
thức của ngôn Lừ đùng để đánh đầu các quan hệ lập luận giữa các luận cứ với
kết luận Vi vậy, những kết quả của việc nghiên cứu nảy cần được vận dụng
vào dạy trong các văn bản nghị luận cho học sinh để học sinh có thể tự tạo lập
được những văn bản mang Lính lôgic cao
Lập luận là yêu tổ có mặt thường xuyên trong các bài văn nghị luận và
tồn tai như một yếu tố đặc thủ trong văn nghị luân Tuy vậy, việc nghiên cứu
lý thuyết lập luận trong văn bản nghị luận thì gần đây mới được chủ ý Những,
năm gần đây, lập luận đã được coi là một đơn vị lý thuyết và đưa vào dạy ở
bac phố thông trung hạc Tuy nhiên việc triển khai mới chỉ là bước dầu nên cũng chưa phải hoàn thiện và thống nhất xét trên các phương diễn: lập luận
trong bài văn, trong đoạn văn nghị luận hay trong các văn bản nghị luận.v.v
1.3 Xuất phát từ thực tẾ giảng day va thực tẾ cuộc sống, thì ta thấy với
những văn bản nghị luận khi giảng dạy để đạt hiệu quả cao trong giờ học
người giáo viên phải nắm bắt được đặc thủ của kiểu văn bản này từ đó có
phương pháp dạy học giúp học sinh năm hắt bài nhanh, dễ hiểu
Trong cuộc sống cững vậy, con người luôn luôn cần dủng đến lập luận
Dùng lập luận để chứng mình một điều gì đó Dùng lập luận để thanh mình, để
giải thích một sự kiện nào đó, để thuyết phục người khác tin vào một sự kiện
và cũng có thể lập luận để bác bẻ một ý kiến khác Vì vậy, lập luận có tâm
quan trọng đặc biệt
Một thực tế mà ai cũng cảm nhận được là có không íL những vấn để
trình bảy trên các phương tiên thông tin đại chúng của chúng ta, như truyền
hình, phát thanh, báo chí nhiều khi thiến sức thuyết phục Vì sao vậy? Câu
trả lời có thể khác nhau, song, rnột thực tế không thể phú dịnh dược là : Trong
rất nhiều ngành nghề, muốn trở thành những chuyên gia hàng đâu, làm việc
có hiệu quả thì cần học những cách lí lẽ, lập luận
Trang 8
ân dụng lý thuyết lập luận trong văn bân nghị luận không chi dé rén
luyện năng lực cho lập luận trong văn bản, ma đồng thời gớp phần rẻn luyện
tư duy cho học sinh
'Lừ những lý do nói trên, việc vận dụng lý thuyết lập luận trong văn bản nghị luận là một nhiệm vụ quan trọng trong quả trình giảng dạy vấn nghị luận
bac phổ thông trung học Với để tải này, chúng tôi thấy đầy lả một trong
những việc làm trọng tâm thiết thực nhất nhằm góp phần thục hiện có hiệu quả mục đích đạy học văn bán nghị luận ứ nhà trường phổ thông hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
21 Xét rên phương điện tư úy
Ngay từ thời cả đại, từ thể kỉ thứ V trước công nguyễn, người ta dã chú
ý nghiên cửu về lập luận Có truyền thuyết rằng, vùng dit Sicile van do hai
bạo chúa thống tri [Io chiếm đất đai và chia cho bình sĩ của mình Nhung
vào năm 467 TƠN (trước công nguyên) một cuộc nổi dạy đã lật dễ hai bao
chúa này Nhiều người tuyên bố tùng là chủ sở hữu những mảnh đất trước
đây bị cướp đoạt Thế là có những cuộc kiện cáo liên miên tại toà Trong tình
hình đó, Corax và học trỏ cứa ông là Tisias đã viết một tài liệu về “phương
pháp lí lề” khi nói trước toà Có lẽ, đỏ là văn bản đầu tiên của nhân loại để
cập tới phương thức lập luận [Planlin, 1996]
Buổi da
sự lập luận được coi là một lĩnh vực thuộc phạm vi của thuật hùng biện - một “nghệ thuật nói năng” Nó được trình bày trong “7ú từ học”
(A: Rhetoric) cia Aristote Tiếp sau đó, sự lập luận cũng được trình bảy lrong
các phép suy luận logic, trong thuật ngụy biện hay trong những cuộc nghị
luận, tranh cãi ở tỏa án
TNữa sau thể kí XX, lí thuyết lập luận dược quan tâm trở lại Mỡ dầu cho
thời ki này là “Khảo luận về sự lập luận - Tu từ học mới” của Perelman và
Qlbrechts - Tytcca (1958) vả S.Toulmin (1958).
Trang 9‘Theo cách nhìn của lôgic học, suy luận vừa là một hình thức tư duy
nhằm liên kết các khái niệm, các phán đoán, tiền đề lại với nhau lại vừa là
một thao tác lỗgic nhằm rút ra kết luận theo một cách thức lân luận nhất định Như vậy, lập luân chính lả cách thức cụ thế để tổ chức nhân thức mả ở đó kết
luận được rút ra từ mối liên hệ lôgie xác định giữa các tiền dé Légic học đã
vạch ra các quy luật của tư duy, các quy tắc của lập luận lôgic, và chỉ ra hai
điều kiện phải tuân thủ khi lập luận đề thu được tri thức chân thực: (L) các
tiền đề của suy luân phải chân thực; (2) phải tuân theo quy tắc của lôgic lập
luận Trên tinh thần dó, căn cứ vảo cách thức lập luận của suy luân các
công trình nghiên cứu về lô gic học đã phân ra thành suy luận diễn dich va
suy luận quy nạp dồng thời tiếp tục chia nhỏ hơn nữa dễ nghiên cứu
Pháp suy luận trong lô gic thường dùng với hai nghĩa: (1) chỉ toàn bộ
quá trình tìm ra kết luận; (2) là một bước trong quá trình chứng mỉnh Từ đỏ
các công trình nghiên cửu về lôpe sau này dã chủ ý hơn dến việc nghiên cứu
các phương pháp chứng mình và bác bỏ, đặc biệt là bác bỏ luận đề, bác bỏ juan ching, vạch ra những sai lầm và nguy biện trong lập luận
Để đảm bảo cho tính ding dẫn của tư duy khi nắm bắt chân lý, ngoài
những vẫn đề rất quan hệ đến lập luận, lôgic hình thức cũng vạch ra bỗn quy
luật cơ bản của tư đuy (1) Luật đồng nhất; (2) Luật phi mâu thuẫn, (3) Luật
triệt tam; (4) Luật lý do đầy đủ Nhờ vây, lồ gic hình thức đã giúp cho chúng
ta nhận thức được những khía cạnh én định, bền vững tương đôi về chất của
sự vật hiện tượng cũng như thể hiện được sự nhất quan, dung din cla qua
trình tư duy
2.1 Xét trên phương điện ngôn ngữ
Trước dây, lập luận được nghiên cửu trong tu từ học và lôgic học Hai
nha ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre dA dic
biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận.
Trang 10Sữ dụng ngôn ngữ trong khi nói viết con người mới tiến hành dược lập
luận để hiện thực hóa tư tưởng, tình cảm cửa mình Chính vì vậy, vấn đề lập luận từ lâu cũng được đặt ra trong Ngôn ngữ học Dựa vào tác phẩm Tu từ
học — công trình đầu tiên nghiên cứu lập luân của Aristore, người ta thấy rằng
lúc đầu né được cai là thuộc phạm vi của thuật hùng biện Về sau lập luận
được trình bảy trong các phép suy luận của lôgio hình thức, trong “ngụy biên”
tranh cãi ở các tòa án, trong các bài diễn thuyết Và các cuộc thi hủng biện
Cuỗi cùng, với Lính cách là một hành động ngôn ngữ, một thao lác ngôn ngữ,
lập luận đã trở thành một dối tượng nghiên cửu của chính ngôn ngữ học
Từ nửa sau của thế kỷ XS, lập luận được nhiều nhà ngôn ngữ học quan
tâm, đặc biệt là các tác giả: §.Tohmin (1958), Grize (1982) và O DueroL
(1983)[40] Những năm 70, người ta chú ý đến nghiên cứu lập luận thực tế,
lập luận mả con người dùng để thuyết phục người khác Các tac gid Johnson
and Blair (1977), Drecman (1988), Govier (1985) là những người có nhiều
đỏng góp về hướng nghiên cửu này Nghiên cứu lập luận trên góc độ hoạt động ngôn ngữ, người ta đã tập trung miều tả cầu trúc ngôn ngữ của lập luận,
phân biệt lập luận theo lôpic với lập luận thuyết phục, các yếu tố ngôn ngữ
thực hiện sự lập luận, các chiến lược lập luận, các lý lễ về sự thuyết phục
Theo hướng nghiên cứu này người ta đi đến quan niệm: “lập luận là đưa ra
những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhân một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới"[24,tr260] Như vậy, ở đây lập luận
đã được xem xét trên bình điện hoạt động ngôn ngữ nhằm hưởng tới giao tiếp
nhận thức
Ở Việt Nam, đi vào hướng nghiên cứu nảy, có một số nhà ngôn ngữ đã
thực sự quan tâm và đặc biết chủ ý dến các giá trị về mặt lập luận của các yếu
tố tiếng Việt Một số tác giả tiêu biểu như: Dã Hữu Châu, Nguyễn Dức Dân,
Hoàng Phê, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc Thêm, Đỗ Việt
Hùng, Trần Hữu Phong v.v
Trang 11Ngôn ngữ học cũng quan tim dén légic: chỉ ra mỗi quan hệ giữa lépic và
ngôn ngữ bọc, phân biệt sự khác nhau giữa chủng, nghiên cửu sâu hơn các
yếu tố, các cấu trúc ngôn ngữ trong vai trò điển đạt các quan hệ lập luận
Hoàng Phê, Nguyễn Đức Dân là một trong những tác giả chủ trọng sự phân biệt này Theo Nguyễn Đức Dân: lôgie quan tâm tới phương diện hình thức
có nhiều cách khác nhau dé điển dạt củng một nội dung Chẳng hạn trước một
phan đoán P: "bức tranh này đẹp” thị trong lôgic, sự phủ định phán đoán trên
chỉ dược xác định bởi quy tắc duy nhất là “nếu D dùng thì P sai” hoặc “nếu P sai thì P đứng”, còn trong tiếng việt dễ phú định câu trên sẽ có nhiều cách nói
như: (1) bức tranh này không đẹp, (2) bức tranh này đẹp gì mà đẹp Với cách
nhìn trên, tác giá đã rút ra kết luận: “Phép suy luận trong lôgic hoàn toàn hình
thức còn phép suy luận trong ngôn ngữ thi ngoài suy luận hình thức như trong lôgic, người ta còn suy luận qua từ ngữ, qua tình huống, qua tri thức, kinh
nghiêm
Œó thé nói, nhờ tập trung vào hướng này, nhiêu nhả Việt ngữ học đã dùng
lôgic thời gian, lôgio tình thái vào nghiên cửu rất cụ thể ác “Luân từ lôgic phủ định”, “toán tử lôgic tỉnh thái”, các liên từ trong tiếng việt dùng để thể hiện sự khẳng định, bác bỏ, diễn đạt, các quan hệ thời gian, điều kiện, nhân
quả trong các cấu Irúc lập luận của ngôn ngữ Ngôn ngữ học cũng đã chú
trọng nghiên cứu các loại lý lẽ của lập luận thuyết phục và sự thực hiện nó
qua các biểu thức, hoặc qua các yếu tỗ nói trên của tiếng việt Nhờ vậy, người
ta di đến xây đựng được các khái niệm: Lập luận, đặc tính của quan hệ lập
luận, “tác tủ lập luận”, “kết tử lập luận”, cấu trúc lập luận, cơ sở của lập luận
Cuỗi củng, lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ đã được dựa vào nhà trường day
cho học sinh phô thông trung học
Trang 12Những thành tựu nghiên cứu về lập luận trên góc độ hoạt dộng ngôn ngữ
cũng có tác dụng góp phần làm hoàn thiện hơn lý thuyết lập luận nói chung,
tạo thêm các điều kiện để đi vào nghiên cứu và xây dựng lý thuyết lập luận
trong làm văn nhất là trong văn nghị luận Tuy nhiên, những nghiên cứu đó tuy cung cấp được rất nhiều đữ kiện để xây dựng tất các lời nói liên kết
nhưng chưa phải đã tạo ra được đầy đủ các Liền để lý luận cho toàn bộ hoạt
động dạy học văn nghị luận nhất là cho việc tạo lập các văn bán nghị luận
hoàn chinh, chặt chẽ, sâu sắc, thuyết phục
Văn nghị luận không những lá một hoạt đông tư duy, hoạt dộng ngôn ngữ
mà côn là một hoạt động tư tưởng, tỉnh cảm nhằm vào việc thuyết phục người
nghc Lập luận trong văn nghị luận, do đó “một mặt cần giữ dược về dặc thủ của loại văn này, mặt khác, phải là sự vận dung sách thức suy luận ma
logic học nghiên cứu, cũng như cách diễn đạt nó bằng ngôn từ mà ngôn
ngữ học chỉ ra” |138, tr 14| RG rang, lap Iwan trong một hoạt động như vậy
luôn luôn phải đựa trên nhiều căn cứ : (1) Lôgic học, (2) Ngôn ngữ học, (3)
Tâm lý học nhận thức
23 Xéttrén phuong điện văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận là một loại văn có từ rất sớm Theo tác giả Nguyễn
Quốc Siêu thì văn nghị luận có mâm mống từ thời nhà Thương, hình thành
chính thức vào thời chiến quốc trong không khí của “trăm nhà đua tiếng” và các cuộc tung hoành du thuyết Cảng về sau, văn nghị luận cảng phát triển và
dẫn tới chỗ nó đã trứ thành đối Lượng được xem xét trên bình diện lý thuyết
Chẳng hạn, tiêu thống trong “văn tuyển” đã cắt nghĩa: “Luận, ấy là tổ chức
sắp xếp các ý kiến để làm sáng tỏ một dao ly nao đó” |149, tr Š{ Văn nghị
Tuận căn bản là loại văn thuyết lý, lấy nghị luận làm cách thức biểu dạt chính
nên “Lập luận là mẫu chốt của văn nghị luận” [138, tr 14] Từ đẻ có thể thấy
rằng lập luận cũng trở thánh một đối tượng của văn bắn nghị luận xét trên ca
binh điện nghiên cửu lý thuyết lẫn bình diện hoạt động dạy học ở nhà trường
Trang 133 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
3.1 Đối tợng
Nghiên cứu quá trình vận dung lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản
nghị luận ở trung học phổ thông
3.2 Phạm ví nghiên cứu
Một số văn bản nghị luận ở trung học phố thông có vận dụng lý thuyết lập
luận, cụ thể các văn bản: Binh Ngô đại cáo (Xgữ văn 10 tập2, chương trình
cơ bản), Tuyên ngôn độc lập (Ngữ văn 12 tập2 , chương trình cơ bản)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tổng hợp lý thuyết lập luận theo hướng xem xét các khả năng
ứng dụng của nó đối với việc đạy học trong văn bản nghị luận cho học sinh
phé thang Tir do khang dịnh tỉnh hiệu quá và khả thì của việc giảng day văn
bản nghị luận với việc vân dụng lý thuyết lập luận
+42 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ khảo sát thực trạng việc sử dụng các lí thuyết lập
luận trong văn bản nghị hận ở chương trình phế thông Từ đó xác định cơ sở
Ty thuyết và cơ sở thực tiễn cho việc day hoc các kiểu bài này, đồng thời đề
xuất một phương pháp day hoc cu thé cho văn bản nghị luận
Ngoài ra luận văn còn có nhiệm vụ khảo sát khả năng thực thì việc ứng
dụng kiểu bài này bằng thực nghiệm sư phạm, để thấy được những van dé ma
luận văn để xuất có khả năng thực thi đến dâu và có hiệu quả như thể nào? trong thực tế đạy học văn bản nghị luận ở trường phd thông hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
‘Trong khi tiên hành làm luận văn đề thực hiện tốt nhiệm vụ má luận
văn để ra ở trên tôi sử dụng một số phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi tiễn hành tập hợp các tài liệu có liên quan đến lý thuyết lập
luận nói chung và các văn bản nghị luận nói riêng Đặc biệt chúng tôi nghiên cứu các tài liệu chuyên sâu về lý thuyết lập luận
9
Trang 14%2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Khảo sát, điều tra là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này Chúng tôi dùng phương pháp điều tra, khảo sát để tìm hiểu việc dạy học
kiểu văn bản nghị luận thông qua việc vân dung lý thuyết lập luận ở trường phổ thông hiện nay Đặc biệt với phương pháp này chúng tôi sẽ điều tra được
nhận thức của giáo viên và học sinh về kiểu bài nghị luận một wan để xã hội
trong văn bản văn học, dé ti đó chủng ta có thể đưa ra những giải pháp phủ
hop cho việc giàng dạy những kiểu bải này
5.3 Phương pháp thực nghiệm suc pham
Phương pháp thực nghiệm giúp chúng ta bước đầu đưa những vấn đề mà
luận văn đề xuất vào thực Lễ dạy học ở một số trường Trung học phé thang 'Từ phương pháp này chúng ta có thể, rút ra những kết luận cần thiết cho luận
văn
Ngoài những phương pháp trên chúng tôi côn sử dụng một số phương
pháp khác như phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích đối chiếu so sánh Đây là những phương pháp được sử dụng kêt hợp với các
phương pháp chính ở trên Việc sử dụng kết hợp các phương pháp đó giúp
chúng tôi nghiên cửu đề tải một cách chỉ tiết và đây đủ hơn
6 Cầu trúc luận văn
Ngoài phần mở đấu, kết luận và khuyến nghị, tải liệu tham khảo, luận văn được trình bảy trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực liễn của việc vận dung lý thuyết
lập luận trong dạy học văn bản nghị luận
Chương 2: Van dung lập luận và cách khai thác lập luận Irong đạy học
văn bắn nghị luận ở Trung học phổ thông,
Chương 3: Thiết kế giáo án vả thực nghiệm
10
Trang 15CHUONG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC T
LÝ THUYÉT LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC VAN BAN NGHỊ LUẬN
iN CUA VIEC VẬN DỤNG
1.1 Cư sở lý luận
1.1.1 Một số vẫn đề về ÿ thuyết lập luận
1.1.1.1 Khải niệm của J} thuyết lập luận
Trước đây, lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và
trong lôgic học Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Duerot và Iean Claude
Anscombre dã dắc biệt quan tâm tới băn chất ngữ dụng học của lập luận
Ổ trên, chúng ta đã nói tới các phát ngôn miêu tâ với nội dung phan
ánh một hiện thực, sự kiện bên ngoaid ngồn ngữ bằng lời nói Các phát ngồn nảy là sân phẩm của hảnh vi khảo nghiệm và nội dung của chúng dược đánh
giá theo tiêu chuẩn lôgic đúng, sai
Hayakawa cỏ nhận xét: trong giao tiếp thông thường — không kể trong các
văn bản khoa học các phát ngôn miều tả kiểu như:
- Nhà của ông Nhuận cô hai tầng
- Con mèo này màu den
- Trời nhiều mây
Có số lượng thấp Trong giao tiếp thông thường, ít khi chúng ta miễu tả
để miêu tả Thường thường, chúng ta miêu tả một cái gì đấy là để hướng,
người nghe tới một cái gỉ đây nằm ngoài sự vật, hiện tượng, sự kiện được miểu tả
Cái mà người nói hướng người nghe tới qua thông tin miêu tả có thể là một
thái đệ, một linh cảm, một sự đánh giá, một nhận định hay một hành động
nảo dó cần phải thực hiện Nói vẫn tit, cái mà thông tin miễu tả hưởng tới là
một kết luận nào đó rút từ thông tin miêu tả đó
Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết
tuận hay chấp nhận một kết luận nào day ma ngudi ndi muốn đạt tôi,
11
Trang 16Có thể biểu diễn quan hệ lập luận piữa các phát ngôn (nói dúng hơn là giữa
nội dung các phát ngôn) như sau:
p—r
p là lí lẽ, z là kết luân (ø zr có thể được diễn đạt bằng các phát ngén ul, u2,
vv.)
Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là iuận cứ (argumenU Vậy có thể nói
quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ (một hoặc một số) với kết luận
Luận cứ có thể lả thông tin miêu tả bay là một định luật, một nguyên lí xử thế
nao day Vi du
- Cơn mèo này màu đen (p) (nên) rất đễ sợ (r)
p là một thông tin miễu tả
- Mét môi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì dã làm việc liền 8 tiẳng rồi
{q)ì — cậu phải nghe nhạc một lái (r)
Ô ví dụ này, chúng ta có hai luận cứ, p lá một nguyễn lí sinh hoạt và q là nhận
xét về một trạng thái tâm sinh lí
1.1.1.2 Dặc trưng của lý thuyết lập luận
1ân cứ và kết luận là những thành phan trong lập luận Thuật ngữ lập
luận được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập
luận Thử hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, Lửc toàn bộ cấu trúc của lập luận, cả về nội dung, cả về hình thức Thuật ngữ quan hệ lập luận dùng để
chỉ quan hệ giữa các thành phần của một lập luận với nhau Có quan hệ lập
luận giữa luận cứ với luận cứ và có quan hệ lập luận giữa luận cứ và kết luận
Lại còn quan hệ lập luận giữa hai hay nhiều lập luận với nhau trong một phát
ngôn, hay trong mội điễn ngôn
Chúng ta dã biết có những diễn ngôn độc thoại (monolôgic,
monologique) tức điễn ngôn do một người nỏi ra, người tiếp nhận không
được đáp lại Diễn ngôn độc thoại phân biết với diễn ngôn dơn thoại
(monologal, monologal) ở chỗ điển ngôn đơn thoại do một người nói ra (hoặc
12
Trang 17viết ra) trong, một cuộc hội thoại, người tiếp nhận có thể dáp lại Lại có diễn
ngôn song thoại (đialogal, dialoga]) tức điễn ngôn của những người đối thoại
nói qua lại với nhau trang một cuộc hội (hoại Diễn ngôn độc thaại có thể ở
dang nói hoặc viết
Những thí dụ về lập luận vừa dẫn có thé lam chung ta hiểu lầm rằng lập
luận chỉ xuất hiện trong một diễn ngôn đơn thoại, trong một phát ngôn hoặc
trong một văn bản viết một chiều Sự thực lập luận có thể nằm trong một phát
ngôn, trong một diễn ngôn má cũng có tắm trong lời đối đán qua lại giữa
các nhân vật hội thoại với nhau (sau này chúng ta sẽ gọi là lời thoại, lượt lời,
tham thoại cặp thoại) Những cuộc tranh luận, cãi cọ là những cuộc hội thoại
trong đó Sp1 và 8p2 dưa ra những luận cứ dẫn tới những kết luận khác nhau
nhằm gianh phan thing cho mình Lại có những phát ngôn trong hội thoại tưy
cũng do hai hoặc một số người khác nhau nói ra nhưng tất cả đều dẫn tới
củng một kết luận Đơn giản nhất là lập luận sau đây của 3 nhân vật hội thoại
Spl, Sp2, 5p3
Spl: Di Dé Sen làm gì, vừa đông vừa chật chội, nước biển lại đục
Sp2: Gần thành phố, thực phẩm ở do dất lắm Giá khách sạn cao mà
chưa chắc đã còn phòng mà thuê
Sp3 Nam nào cũng đi biển, chắn lắm rồi
Spl: Không đi Đồ Sơn thì ải đâu? Sa Pa nhé!
Sp2, Sp3: Hoan hồ Sa Pa
Ta người nêu ra 3 loại luận cử tắt cả đều dẫn đến kết luận “không đi Đồ Sơn”
Những cuộc hội thoại trong đó các nhân vật củng hỗ trợ nhau dẫn tới
củng một kết luận sau này sẽ được gọi là những hội thoại đồng hướng Cáo
cuộc hội thoại đồng hướng lập luận phức hợp lả những hột tháo thí dụ như về
phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường, v.v
'Trong một cuộc tranh luận, các nhân vật hội thoại có thể đưa ra những lập
luận dẫn tới những kết luận ngược nhau Chúng ta nói những lập luận đó là
13
Trang 18nghịch hưởng với nhau Mỗi lập luận nghịch hướng là một phản lập luận
(eontro-argumentaLion) đối với nhau Diễn ngôn độc thoại hay song thoai không
phải chỉ có một lập luận mà thường là sự phối hop của một số lập luận (và phản
lập luận), các lập luận đó diễn tiến để dẫn đến kết luận cuối củng, đích của toàn
bộ diễn ngôn Lập luận thường vận động trong diễn ngôn Nghiên cứu mặt động, của diễn ngôn chủ yếu lả nghiên cứu vận động lập luận của nó Thyận ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hệ thông của những lập luận bộ phận, các lập
luận đó liên kết với nhau, lập luận trước đẫn đến lập luận sau, Iất cỗ tạo nên một vận động đi tới kết luận cuối cùng,
“Nước Việt Nam có quyên hưởng lự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thé dân tộc Việt Nam quyết đem tắt cả tỉnh
thần và lự lượng, tính mạng và của cải dễ giữ vững quyền tự do và độc
lap dy.”
Trong vận động lập luận này trật tự trước sau của các lập luận bệ phận không thé thay đối
Lời của cô Kiểu nói với Kim Trọng khi anh chàng "có chiểu 1â loi” là
một diễn ngôn đơn thoại mà kết luận cuối cùng vừa là một lời “đe dọa”
Gieo thoi trước chẳng gi giảng,
Dé sau nén thẹn cùng chàng bởi ai?
(Câu hỏi có hành vi gián tiếp là đe dọa: Nếu chúng ta không rút kinh nghiệm
của vụ gieo thoi ngày xưa mà cứ “làm tới” thì thiếp buộc phải hành động như
cô gái ngày xưa, ném thoi vào giữa mặt Tạ Côn Thiếp không làm như vậy,
sau này thiếp sẽ then với chàng, hạnh phúc dỗi ta sẽ tan vỡ Thiếp có giøo thơi thì không chỉ vị thiếp mà cỏn vì chính chàng nữa dây )
Vừa là một lòi hứa hơn ngọt ngào
Còn thân ät lại đền bôi có khi
kết luận này là hệ quả tất yếu của các lập luận bộ phận mà Kiều nói ở
trước Các lập luận trước đã vân động một cách hợp lí dến kết luận tổng thé cuỗi cùng nảy
14
Trang 19Sau dây là thí dụ về vận động lập luận trong một cuộc dỗi thoại giữa hai
cô sinh viên tạm đặt tên là Iloa và Tâm
Yêu đương bây giờ nhạt nhẽo Toàn những chuyện vở vẫn
Ađàu nhạt tủ có ý Yêu cũng hay chớ sao
Hay hém gì cái trò ấy Dỡ ẹc Tao thì phải học cái đã lao nhiêu
chị học giôi ơi là giải, yêu vào là học đỒI ngay
Day là may bà không có bản lĩnh dy chit Tao quen một chị, chị
này mới đầu học cũng bình thường nhưng yêu một anh, anh này
học giỏi cực Thế là hai anh chị giúp nhau cùng tiễn
Nghe cứ như là tiểu thuyết ấy Làm gì có chuyện ây
ao mày cực đoan thế? Mày không tim a?
Địa đặt 1ao mà yêu vào thì chỉ có học đốt đi thôi Yêu là phải io
lắng nàp, suy nghĩ này, một củ người Nồi không map nb bé thi
có phải ôm cả tháng ý chủ Tao chả dại mà đâm đầu vào đấu
Yêu cũng có cải hay chứ Được dựa dẫm sướng qua con gi
Ôi đào, lao thêm vào ý Mã lao thấy thanh niên bây giữ toàn thằng dỡ hơi, tình tướng Anh cử lưỡng anh có cái xe máy là lo
lắm đấy, đi đâu mặi cũng vênh vác lên
Thôi tao chẳng thèm nói với mày nữa Mày bảo thi lam May
làm nhủ ai cũng xâu cả
Chứ còn gì nữa, mày mudn yêu thì di mà yêu Tao thì chịu thôi
Nói thế thôi chứ bây giờ ai rổ đạt mà đi yêu đương Có muốn yêu
bây giò cũng chẳng có ma nào nhàm ngó Yêu cũng phải tày
từng lúc chứ.
Trang 20Tam 7: Tao thi ot phdi hoc xong ad
Hoa 7: Ù,
"Trong cuộc đối thoại nay, từ Tâm I đến Tâm 6, từ Iloa 1 đến Iioa 5 từng
đôi lời thoại lập thành từng cặp lập luận phản lập luận Mặc dầu Tâm và Hoa có những ý kiến khác nhau về chuyện yêu đương trong lúc còn đi học
nhưng cuỗi cùng hợ cũng di đến một kết luận (Hoa 6) dủ là kết luận có tỉnh
miễn cưỡng Từ Hoa 6 trở di, không cỏn phải lập luận nữa, lập luận của từng,
người (Hoa 6 và Tâm 6 rồi Hoa 7), đồng hướng với nhau Trên đây là tôm
lược vận động lập luận của từng người và của toán bộ cuộc hội thoại Lập luận có vận động thì cuộc hội thoại mới không dẫm chân tại chỗ, mới có tính
nang động
Trong một lập luận, kết luận cỏ thể ở vị trí dầu, vị trí piữa hoặc cuối
của luận cử Ở Tâm 1, kết luận: Yêu đương bây giờ nhạt nhẽo đừng trước luận
cử: toàn là chuyện vớ vẫn Ô Tâm 2 kết luận (ao thì phải hac cát đã ở giữa
hai luận cứ: hay hớm gi cat tre dy, dé ec và bao nhiêu chị yêu vào là học đổ! ngay Ö Tâm 3 kết luận lâm gì có chuyện ấy ở sau luận cứ nghe cứ như
tiểu thuyết ấy Sau luận cử là vị trí thường pặp trong lập luận của kết luận
"trong một lập luận, các thành phần luận cứ, kết luận có thể hiện diện
tường minh, tức có thể dược nói rổ ra Tuy nhiên không íL những trường hợp
trong đó một luận cứ hay kết luận có thể hàm ấn, người lập luận không nói ra,
người nghe phải tự mình suy ra mà biết
Có đoạn đối thoại sau đây:
Spl (một cô gái}
-Anh oi, toi nay minh oi xem han nhac “Tam ca áo trang” di!
Sp2 (chang trai)
- Đoàn này ở lại Hà Nội những một tháng kia ma Va lai anh trói nhận
lời với mấy thằng bạn réi Anh không muẫn em bị gò bó
Sp2:
-Con em H Van 4 thì sua? Không gò bỏ chứ?
16
Trang 21Ở lời thoại của Sp2 kết luận từ chối rũ cơ gái ở dạng hàm Ẩn Sp2 đã dưa
ra hai luận cứ, thứ nhất là: Dokn này ở lại Hà Nội những một tháng và thứ hai: anh khơng muốn em bị gị bỏ vì anh đã nhận lời di xem với bạn trai Tai luân cứ nảy tự mình cũng lả hai lập luân 2ộn này ở lại Hà Nội là một lập
luận Điều nghe được là luận cứ, kết luận của luận cứ này “khơng đi xem hơm
nay vì cịn thời gian” là kết luận ẩn Lập luận thứ hai: Võ lại anh trỏi nhận lời anh khơng muốn em bị gị bỏ phức tạp hơn Anh trĩt nhận lời đi với mây thang
bạn là luận cứ Luận cứ này dẫn đến kết luận hàm an: “Em đi với anh ma cd ban
trai thi em sẽ bi go bo” Cái kết luận hảm Ấn này đến lượt mình, dịng vai trỏ
luận cứ cho kết luận anh khơng muơn em bị gị bỏ Kết luận chưng của lời thoại
của 8p2 là do hai luận cứ hàm Ẩn mà cĩ và hai luận cứ hàm ấn này tự thân lại là
những kết luận hàm ẩn bộ phận
Một chàng trai nĩi với một cơ gái như sau:
Anh yêu em vì tình yêu của anh dối với em nền anh sẽ yêu em mỗi mỗi
Lập luận này cĩ kết luận là anh yêu em mỗi mỗi, đặc biệt quan yêu trong kết luận nảy là từ mãi mãi Bằng kết luận này, chàng trai muốn “thơng báo” cho
cỗ gái biết lỏng thủy chung của minh (mãi mãi) Quan hệ lập luân ở dây như
thế nào? Lập luận nảy hàm ẩn một liận cứ: Đỏ là luận cứ “tỉnh yêu của anh đổi với em khơng bao giờ tan phai” Luận cứ này ham ẩn Cĩ thể khơi phục
các thành phần hàm ấn của luận cứ này như sau:
Anh yều em vì tình yêu của anh đổi với em (chứ khơng phải vì tình yêu
của em đối với anh)
ma Tinh yêu của anh đối với em sẽ là mãi mãi (vì là của anh nên anh biết
là nỗ sẽ mãi mii)
cho nên Anh sé yéu em mai mdi
Diéu quan trong 14, da kết luận hay luận cứ cĩ thể hàm ẩn nhưng về
nguyên ắc, người nĩi phải thể nào cho người nghe căn cứ vào ngữ cảnh, vào
ngơn cảnh, vào ngữ huồng cĩ thể tự mình suy ra mà nắm bắt lây kết luận (hay
17
Trang 22luận cứ) ẩn Rất nhiều những kết luận hay luận cứ ham an do hành vi ngôn
ngữ giản tiếp tạo ra Thí đụ, chàng trai có thể thực hiện hành vi từ chối đi xem
bằng một lời trì hoãn Nếu chảng trai nói: Doàn này ở lại Hà Nội những một
thang kia mà, chúng ta không cần đi xem hôm nay thì hành vi thông báo việc hoãn này con ở lại 1à Nội một tháng không có hiệu lực từ chối gián tiếp nữa
Cũng như hành vi ở lời hứa của đứa bẻ Hôm may con được điểm mười về
?oản sẽ mất hiệu quả giản tiếp “đòi hỏi” nếu nó tường minh hóa hành vi đòi hỏi bằng phát ngôn, thí dụ: Ä⁄@ mua kem cho oon đi VỀ mặt lập luận, hành vĩ
ở lời giản tiếp thưởng là kết luận mà nội dung của những phát ngôn ngữ vì
tường mình là luận cứ Vì người nói đoán rằng người nghe của mình có thể tự
suy ra kết luận được cho nên mới dừng lại ở hành vi trực tiếp má không hoàn chỉnh phát ngôn của mình nữa bằng việc tường mình hóa hành vĩ pián tiếp
gười nghe cảng phải vất vả, tốn nhiều công sức, cảng phải huy động nhiều
quy tắc, nhiều nhân tố piao tiẾp dễ tìm ra những thành phần hảm Ấn (những
hành vi gián tiếp) của lập luận (như trường hợp phát ngôn amh yêu em vì }
thi lập luận càng hắp dẫn
Những diều nói trên cho thấy tiêu chí đễ xàc dịnh một lập luận là kết
luận TIễ tìm ra được một kết luận là ta có một lập luận
Có những lập luận đơn, có nghĩa là lập luận chỉ có mật kết luận, các thành
phan cỏn lại đều là luận cứ Tuy nhiên thường gặp là những lập luận phức hợp Tạm cho rằng lập luận phức hợp có hai dạng chính, biểu điển như sau:
Trang 23"Trong mô hình nảy, R là kết luận chung, r1, r2, r3 là những kết luận
bộ phận Mô hình thứ nhất có nghĩa là từ luận cử p1, q1 ta có kết luận r1; r1 đồng vai trò luận cứ để có kết luận r2; r2 đóng vai trà luận cử để có kết luận
r3, cứ thế tiếp tục cho đến khi ta có kết luận chưng tổng thể R Mô hình này
đã gặp trong lận luận 1⁄3 !i anh trôi hẹn vải mấy thằng bạn rồi (n) đi với bạn
trai của anh, em sẽ bị gò bỏ (1) - > Anh không muốn em bị gỗ bỏ (r2)
Mô hình lập luận phức hợp thứ hai là mô hình của toán bệ lập luận của chàng
hôm nay (12)
không có diễn ngôn nào không phải là lập luận, lập luận đơn giản hay
phức hợp Tư tưởng chủ đề của toàn bệ điễn ngôn có thể xem là R lớn và Lư
tưởng chủ đề của từng đoan hợp thành diễn ngôn là những r Mỗi đoan văn là
một lập luận bộ phận, tất cả hợp lại lập luận lớn, chung cho toàn bậ diễn
ngôn Một cách hết sức đơn giãn, có thể xem các cầu chủ để (lường mình hay
ham dn) của từng đoạn của diễn ngôn là các r mả các ý trình bày trong đoạn
phải dẫn tới Cần phủ ý trong một diễn ngôn, không phải tất cả các kết luận
bộ phận r (tức lập luận bộ phận) déu đẳng hướng có nghĩa là đều dẫn tới R
Dễ cho diễn ngôn có sức thuyết phục, có khi người nói, người viết phải đưa ra
các phần lập luận dễ rồi bác hỗ phản lập luận dỏ (thi dụ trong lời thoại của cô
Kiều đã dẫn, câu lục bát:
19
Trang 24Là chỉ một dóa yêu dào,
Vườn hông chỉ dâm ngăn rào chim xanh
là một phản lập luận sơ với kết luận tổng thể là: Chàng phải tình lại, dừng có
bờm xơm! Phân lập luận này đưa ra để rỗi bị phản bác ngay:
Đã cha vào bậc bổ lanh,
Pao tong phu lay chit trình làm đầu
Ra tuông trên Bộc trong dau,
Thì con người ấy di cầu làm chi
Phải điều ăn xỗi ở thì,
Tiết trăm năm nỡ bỗ đi mội ngày!)
Diễn ngôn càng đải thì lập luận cảng phức hợp (đây là nói về số lượng các
lập luận bộ phận, không nói về tổ chức nội tại của mối lập luận bộ phân) Hai
mô hình lập luận trên có thể là căn cứ để tìm hiểu tổ chức lập luận của các
điễn ngôn
Có thể nói, lập luận và vận động lập luận là một chiến lược hội thoại
nhằm din đắt người nghe, người đọc đến chỗ năm bắt được cái kết luận mả
người lập luận muốn đi tới Lập luận là một hành vi ở lời có đích thuyết phục
'Tuy nhiên không nên đồng nhất thuyết phục và lập luận Không phải cứ lập
luận là thuyết phục được người tiếp nhận Aristote nói tới ba nhân tổ phải đạt
được để lời nói của mình thuyết phục được người nghe Đó là
logo: nhân tố lí lẽ Muốn thuyết phục được phải có lí lẽ
patos: nhân tế xúc cẩm Có lí chưa đủ để thuyết phục Lời nói phá
ra được tình cắm, thiện cắm của người tiếp nhận
ethos: nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lí, dân tộc, văn hóa của người
tiếp nhận Lời nói chẳng những phải có lí, phải có tỉnh cảm, gây
được thiện cảm mà còn phải phủ hợp với sở thích, tính cách hoặc truyền thống dân tộc, văn hỏa của người tiếp nhận
20
Trang 25Khả nẵng thuyết phục của lời nói, của sự nói năng (kế cả diệu bộ, cử chỉ)
cia minh thy thuộc vào chỗ chúng có hội đủ ba nhân tế trên hay không Lập
luận chỉ là một điều kiện dé (huyết phục, còn kết luận có thuyết phục được
hay không là việc khác Theo quan điểm ngữ dụng học, hiệu quả thuyết phục
của một lập luận lả nhân tế hành vi mượn lời cho nên không thuộc phạm vị
nghiên cứu của ngữ dụng học
1.1.2, Ban chất ngữ dụng của lập luận
Trong lôgic só phép quy nạp và diễn dich Quy nap hay diễn dịch đều
là di từ luận cứ đến kết luận Nếu di từ luận cử cục bộ dến kết luận khái quát
thi ta cé quy nạp, nếu đi từ một tiền để (premise) khái quát để suy ra kết luận
cục bộ thì ta có điễn dịch Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận thca diễn
dịch và ta thường nghĩ ngay đến lôgic, dến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận
Đừng là, trong văn nghị luận, tức là loại văn bản làm việc với các ý
kiến có vấn dễ then chất là lập luận Tuy nhiên, lập luận có mặt khắp nơi,
trong bắt cứ điễn ngôn nào, đặc biệt trong các điễn ngôn đời thường Thí dụ, khi mua ban, người mua phải lập luận để kết luận giá món hàng mà minh trả
là phải chăng còn người hán lại phải lập luận rằng giá món hàng mình nêu ra
cho khách là hop Hi [lon thế nữa, không phải chỉ khi nào cần phải lí luận,
tranh luận với nhau chúng ta mới lập luận Khi chúng ta kế lại một sự kiện,
miêu tả một hiện thực, chủng ta cũng thực hiện một vận động lập luận Như vậy có nghĩa là cần phân biệt lập luận lôgïc với lập luận đời thường,
Ở mục L1 chương I chúng ta đã nói ngữ dụng là lĩnh vực gủa ngữ nghĩa
không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng — sai légic Ching minh ban
chất ngữ dụng của lập luận đời thường là chimg minh rằng nú không bị chi
phối bối các quy tắc, các tiêu chuẩn dánh giá của lập luận lögic và chứng
mỉnh rằng giá trị các nội dung miêu tả được đưa vảo trong lập luận đời
thường không phải ở chỗ các nội dung này dùng hay sai so với thực tế ma la &
giá trị của nó đóng gớp vào lập luận với tư cách lả những luận cứ của lập luận
21
Trang 26dai thuémg © Ducrot va J.C Anscombre đã làm việc trong các công trình về
lập luận của mỉnh theo hướng nói trên
Tam doan luận là cấu trúc điển hình của lập luận điễn dịch lâgio Tam đoạn
luận pồm một đại tiên đề (major premise), một tiểu tiền đề (minor premise) và một kết luận (conclusion) suy ra từ hai tiễn để trên Tam đoạn luận thường
được dẫn làm thí dụ trong các
ách lôgie học là tam đoạn luận sau đây
Tất cả mọi người đều phải chết (đại tiền đề)
Socrate là người (tiêu Liền đề)
Socrate phải chết (kết luận)
Lập luận đời thường cũng có cầu trúc của Lam đoạn luận lôgic này Thí
dụ có tam đoạn luận đời thường như sau:
Hàng hàa cảng rẻ thi cang nén mua
Chiée xe nay rẻ
Nén mua chiée xe nay
Phát ngôn thường pặp như: chiếc J2ream này giá có 13 triệu, mua dược
đấy là đã dựa vào tam đoạn luận nói trên
Vì có sự đồng nhất về cấu trúc như vậy cho nên ching ta thường đồng nhất
lập luận đời thường với tam đoạn luận lôg¡c
"Thực ra tam đoạn luận của những lập luận đời thường khác với tam đoạn luận
lôgic ở những điểm sau đây
Ở tam đoạn luận légic kết luận là hệ qua tat yêu của dai tiển đề, tiểu tiễn
để và của thao tác suy điễn Nếu đại tiền đề đúng, tiểu tiền để đúng và thao
tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu phải dùng Kết luận Socrafe phải chết
không thể bác bẻ bởi vì tiền đề zẩ cả mọi người đều phải chất và tiểu tiền đề
%ocrafe là người đã đúng, Tỉnh đúng sai của kết luận trong một lam doạn luận
légic do tinh ding sai của các tiền dé quyết định Một kết luận lôgic chỉ có
hai khả năng hoặc đúng, hoặc sai, đúng hay sai không, thể bị bác bỏ, có nghĩa
22
Trang 27là nếu kết luận lôpic đã dũng thì không thể lập luận dễ chứng minh rằng nó
sai Ngược lại nếu nó đã sai thỉ không thé chimg minh rằng nó đúng
Tam doan luận đời thường thi khéng như vậy Đại tiền đề không phải
lả một chân lí khoa học, khách quan mả lả những “lẽ thường”, những kinh nghiệm sống được đúc kết lại duéi dang nguyên lí cha nên chúng không tất
yếu đứng Đại tiễn để đổ! cả mọi người đều phải chết không thể cỏ một đại
tiền đề khác trái ngược, mâu thuẫn với nó, còn “đại tiên đề” hàng hỏa cảng rẻ
thì cùng nên mua có thê bị phủ định bởi “đại tiền đề” khác thí dụ đại tiền đề
của rẻ là của ôi, hàng quá cũ, hàng chất lượng kém thì không nén mua vv
Vì lẽ thường này có thể trải ngược với lẽ thường kia nên mới có hiện tượng
đã nói: lập luân đời thường có phản lập luận Lập luận lôgic không thể có
phản lập luận Chúng ta không thể đưa ra mệt phản lập luận cho lập luận về
Socrate, trong khi đối với lập luận: nên mua chiếc Dream này vì nô rễ có thê
bị phủ định bởi lập luận thí dụ: Chiến Dream này giả có 13 triệu, đừng mua
Ca rê là của ôi mà, 1.v
Kèm theo hiện tượng có phân lập luận là hiện tượng trong một lập luận
dời thường cá thể dẫn ra hàng loạt luận cứ cùng một kết luận, thí dụ, chúng ta
có thể nói: Chưốc xe này rẻ, chất lượng còn tốt, đăng kí chỉnh chủ, số biển
đăng kí lại đẹp, rất nên mua! “Giá rẻ, chất lượng còn tốt, đang kí chính chủ,
số đăng kí đẹp” là bốn lân cứ củng dẫn tới một kết luân “nên mua” Lập luân
lâgic không thể như vậy Một kết luận đúng lâgic thì chỉ cần một luận cứ,
trong một lập luận lögic, không thể dẫn nhiều luận cứ cho cùng một kết luận
Hai đặc tính có phản lập luận và có nhiều luận cứ gộp lại thành tinh tranh biên cúa lập luận đời thường (polémiqu) Lập luận lögic nếu đã đúng thì
không thể tranh biện
Lập luận đời thường lại có thể chấp nhận những kết luận có về phi lôgic
Những phát ngôn sau dây lá rất bình thường, không ai cảm thấy “võ H”
Spl: Com xong rồi chứ?
23
Trang 28Sp2: Xong réi a Chi xiu nữa thôi ạ
hoặc
Spl: Nghi chir?
Sp2: ĐĐøng mái việc này, không có thì giờ nhưng uống với anh ii cà phê
cũng chẳng sao
Tôi với một đầu óc lôgic “tỉnh táo” chặt chế thì phát ngôn của Sp2 có
mâu thuẫn nội tại: Đã tuyên bố xong rồi mà lại còn nói chí xíu nữa thôi, đã
tuyên bế là không có thì giờ mà lại còn nói có thì giờ nắng cả phê với bạn
Thế nhưng, bởi vi đây không phải là lôgic mà là đời thường cho nên quan hệ
lập luận giữa xong rồi với chút xiu nữa thôi, giữa không có thì giờ với udng
với anh một li cà phê vẫn chấp nhận được bởi vì các luận cứ này không phủ
định lẫn nhau mà, như chúng ta sẽ biết ở sau, chúng đồng hướng lập luận với
nhau
'Irong lấp luận lôgic, các luân cử (tức đại tiền để, tiểu tiền để) và kết
luận phải được điễn dat bằng một mệnh đề trần thuyết Chỉ phát ngôn (biểu
thức) ngữ vi của hảnh vì tái hiện (khảo nghiệm, xác tín, miêu tả) mới đảm
nhiệm được chức năng làm cái biểu đạt cho các thành phần của tam đoạn luận, của các suy luận lôgie Trong lập luận đời thường không phải như vậy Đóng vai trò cái biểu dat cho các thành phân của lập luân, ngoài phát ngôn
trần thuyết còn có thể là phát ngôn của các hành vi ở lời khác, thậm chỉ chính
hành vi ở lời cũng có thể là luận cứ hay kết luận của một lập luận
~ Sáng bảnh mắt ra rồi, đậy đi!
- Con mdy thước nữa, cổ lên, cổ lên!
p1 — Ngày mai chúng lôi sẽ làm lễ thành hôn cho hai châu, mời hai báo
sang dự mừng cho hai cháu
24
Trang 29H faut tenter de vievre P Valéry)
Déy đi là hành vị điêu khiến, cổ lên, cố lên là biểu thức ngữ vi cỗ vũ, zờï hai
bác sang dự vừa là hành vì mời, vừa là phát ngôn mời Thế mào chúng tôi
cũng sang là hành vi và biểu thức ngữ vi nguyên cấp “hứa” Phái cd ma séng
;hôi là hành ví “khích lệ”
O DucroL nhận xét rằng các câu hỏi khép, lức cầu hỏi chỉ có hai cách trả lời, hoặc trả lời có, hoặc trả lời không (dá/chưa, rồi/chưa) có hiêu lực lập
luận nhất định Điều kiện thỏa mãn (điều kiện chuẩn bị và điều kiện chân
thành) của các câu hỏi là người hỏi thực sự không biết xảy ra khả năng nào
của sự kiên được hỏi bằng câu hỏi có/không và thực sự mong muốn dược trả lời để giải tổa trạng thái không biết đó của mình Đối với những câu hỏi
có/không người hỏi băn khoăn giữa hai khả năng của sự kiên, thứ nhất là khả
năng Ir (tra lai bang có hoặc bằng để hoặc rồi) và thứ hai là khả năng r (trả lời bằng không hoặc chưa) DucroL cho rằng nhiều khi trong một lập luận,
người hỏi đưa ra câu hỏi khép không phải do băn khoăn không biết khả năng, nao (cé khi anh ta đã biết khả năng nào xây ra rồi, tức vi phạm điều kiện chân
thành) mà để hướng người nghe không phải về phía + r ma về phía —r, tức về
phía trả lời bằng một phát ngôn phủ định Nói cách khác, câu hỏi khép có thể đồng vai trò là thành phần của lập luận đời thường và hiệu lực lập luận cửa câu hỏi khép lả phát ngôn tr lời + (trả lời bằng không hay chưa) hàm an Thi
dụ câu hồi:
Me gid, con dại, vợ dm, cdu có còn nhữn nhơ được nữa khong? chic chin
rằng ở câu hỏi này, người hỏi dã biết câu trả lời là không Lập luận này diễn
đạt lại bằng câu trân thuyết như sau:
Trang 30Me gid, con đại, vợ ôm, cậu khong (thé) nhữn nhơ dược nữa
Nếu người được hỏi lrả lời
Cú Mẹ giả, con dại, vợ ôm, tôi nhn nhớ được
thi lap Lửc lập luận của người hỏi sẽ thành vô nghĩa
'rong Chiến quốc sách, câu hỏi có/không 14 một biện pháp tu từ mà các
nhà du thuyết thường sử đụng để buộc đối phương từ bổ một ý đồ chính trị
nảo đó của mình Thí dụ Tân Viên Diễn lả tướng của nước Nguy được vua
Tguy sai sang nước Triệu của Bình Nguyên Quân để khuyên hgụy tôn Tân
(lê thuộc vào nước Tần, không chống lại Tần nữa) Bình Nguyên Quân dã xiéu lòng, có ý muến khuyên vua Triệu dầu hàng nhà Tần Biết như vậy, Lễ
Trọng Liên, một tráng sĩ, sang Triệu ra mắt Binh Nguyên Quân, hồi:
- Người ngoài dường nói ngài sắp mưu tôn Tần làm dễ, việc ấy có
không?
TẤL nhiên Bình Nguyễn Quân trả lời phủ định, để cho Tân Viên Diễn xủi
giục
Bình Nguyên Quân lúng Lúng trả lời:
- Thẳng (tên hủy của Bình Nguyễn Quân) như con chín sợ cưng, hỗn
phách đã lạc rồi còn dâm nói gì nữa Uiệc ấy là do vua Ngụy sai tướng
quân Tân Viên Diễn sang nủi dõ thôi
Thế là Lễ Trọng Liên gặp Tân Viên Diễn hỏi
- Tân mà xưng dễ iắt lại thay déi các dại thân của chư hấu, duôi người
ghét mà đựng người yêu lên, lại dem con gái làm vợ các vua ch hẳu, vua
Ngụy chắc càn yên ôn mà ngôi không? Ngay như tưởng quân có còn giữ
được tước lộc không?
Câu hỏi của Lỗ Trọng Liên khiến Tân Viên Diễn phải đứng đậy, vái hai
vái và hứa sẽ nói với vua Ngụy hủy việc tôn lần Dưới đây là một thí dụ có
26
Trang 31tinh ting hợp Trong truyện ngắn của Nam Cao A'hững chuyện buôn không
muốn viết bà vợ của nhà văn gào lên khi thấy nhà văn mới bước chân về nhà
đã ngồi vào bản sáng tác (với quyết tâm kiếm tiền cho vợ vì vợ vừa bị người
củng làng cùng tên Cao với mình giảnh mất bông sơi (phiếu phân phối sơi):
- Giời ơi là giời! Có chẳng can nhà nào thê không? Chỉ vác cái mặt lên
như con trêu nghành suối ngày Chẳng nhìn rối đến cới gì Đề cho con ăn
đắt ngoài sân kia kia
lời gào thét của bả vợ là một lập luận lớn mà kết luận R là hành vi cảm thần Giời ơi là giời! Đây là một lập luận phức hợp, với lập luận bộ phận thứ
nhất là Chỉ vác mặt kia kìa trong đó r1 là chẳng nhìn rõi đến cái gì và hai
luân cứ cũng là hai hành vi ở lời, một là đay nghién: chí vác mặt lên như con trâu nghênh suốt ngày, hai là nhắc nhà người nghe lưa ý đến hiện thực bên
ngoài: đỄ cho con ăn đất ngoài sân lúa kảa KẾU luận r1 lại được đừng làm
luận cứ cho kết luận r2: Có chồng con nhà nào thể không? Kết luận này là
một câu hỏi só/không và giá trị của nó hẳn là ở phía trả lời “không chông con
nhà nào thế cả” Chính vì cách xử sự của chỗng bả ta là duy nhất, “vô tỉnh”
theo quan điểm của bà ta nên bà ta mới bực mình gảo lên Giời ơi lá giời Kết
luận R Gởi ơi là giời là một hành vị ở lời, việc phal ra hanh vi cam than nay
(gào thét để trách phận) dược biên hộ bởi các luân cứ r1 và r2 Giả định khi
nghe bà ta hỏi Có chồng con nhà nào thể không? một anh hàng xóm vớ vẫn
náo dó nghe được, tưng tửng trả lời: Có, đản ông như chẳng bà thì khối thì
ba vo sé điền tiết hơn và anh ta sẽ bị chủi lây
Chỉ lập luận đời thường, không phải lập luận lôgic mới chấp nhận các
hành ví ở lời và các biểu thức (phát ngôn ngữ vị) làm thành phần
Ở trên, chúng ta đã nói tới nội đưng miêu tả của điễn ngôn, của phát
ngôn Nội dung miêu tâ có thể là nội dung mệnh đề của các phát ngôn ngữ vị
Chúng ta cũng đã biết nội dung miêu tả thuộc pham vi nghĩa học hiểu theo nghĩa hẹp, có thể đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic Một nội dung miều tả
27
Trang 32có thể dược dùng làm luận cứ cho một lập luận dời thường Vậy muốn chứng,
minh lập luận đời thường là vấn để của ngữ dụng học thì ngoài việc chứng
minh cdc thành phần của nó khác với những thành phần của lập luận lâgic,
cỏn phải chứng minh giá trị của nội đụng miễu tả trong lập luận đời thường, không phải được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgìc Oswald Duerot đã phát
hiện ra rằng ÿ nghĩa đích thực,
ding Lite là giá trị đích thực của một nội dưng
miêu tả là giá trị lập luận của nó, có nghĩa là giá trị đích thực của nó là ở chỗ
nó được nói, viết ra là nhằm dẫn người nghe, người đọc tới một kết luận +r
hoặc —r nào đỏ Chúng ta đã dẫn ý kiến của Hayakawa: ft khi người ta miễu tả
để mà miêu tả Trừ những điển ngôn khoa học, trong giao tiếp đời thường,
chúng la miều tá một cái gì đỏ lả đặt cái nội dung miêu tả đỏ váo một lập luận nao day ‘Thi du, it khi bỗng nhiên chúng ta lại miều tả
- Xhà của thủ trưởng năm tổng, nội thất cực kì lông lẫy, hiện đại
Dộng cơ của chía mươi phần trăm những người nói ra phát ngôn tái hiện
này là bình luận về “phẩm chất” của ông thủ trưởng,
- Cứ từ từ, không di dâu mà vội
Về mặt thông lin miều tá để tâm giờ rỗi và mới tám giờ thôi là nhự nhau (tám giờ) Nhưng cải thông tin miéu t nay trong hai phát ngôn khác nhau về
chỉ dẫn lập luận đế và mới nên có hiệu lực lập luận khác nhau Chúng ta chỉ
có thể nói Đã tám giờ rãi với kết luận Khẩn trương lên, chậm rồi và nội Mới
28
Trang 33tám giờ thôi với kết luận Cứ từ từ, không di dâu mà vội mà không thé lim
ngược lại
Có những nội dưng miêu tả tự nó đã có giá trị lập luận hướng về kết luận
tốt hoặc xấu, không cần những chỉ dẫn lập luận bổ xung để làm rỡ giá trị lập luận của chúng ra Thí dụ các nội dung miều ta:
X hay hứa suông
sẽ đẫn tới cáo kết luận đánh giá xấu Thậm chí những nội dung miều tả: nh
ta có nhiều bạn gái cũng được đánh giá tốt hơn nội dụng miêu tả 4nh ta có ÍF
ban gai
Wha vin Té Hoai có
ứ lã cảnh:
4Nhú lại quang cảnh phía nam Hà Đông, một khoảng trời xanh xám lạ
lùng úp chụp xuống đồng ruộng ngay sau vách ngồi nhà rách rưởi ở cuối
cải thị xã im lim dang mờ mịt hoàng hôn,
Giả định bây giờ ta viết lại như sau
Nhớ lại quang cảnh phía nam Hà Đông, mội khoảng trời xanh biếc trùm
lên trên đồng ruộng sái vách ngồi nhà đỏ màu ngói mới ở cuối cải thị xã
rộn rằng trong buôi bình mình,
29
Trang 34Chắc chắn hai doan/câu sẽ hướng tới hai kết luận trái ngược nhau Vì ý nghĩa
đích thực của miêu tả là lập luận cho nên nhà văn nhà thơ thường lựa chọn
các chỉ tiế của cảnh, của người, việc và sử đụng những cách biểu cảm sao cho phủ hợp với kết luận dự định hướng tới Về tác phẩm Văn chiêu hẳn của
Nguyễn Du, IToài Thanh viết:
Mở đẩu ra là một cái nhìn rải bì thiết về cuộc đời Một cối đương ăm
đạm, một thể giới vắng lặng, mênh mông Toàn những màu chét: Mau bạc
của ngàn lau, màu vàng của lú rụng, tông sương sa lác đúc, Hỗng nura
khóc không thôi Và một hình ảnh dau xót sẽ tré di trỡ lại nhiều lẫn, hình
ảnh nấm xương khô lạnh buôi Cảnh tròi thu này chắc chắn không phải la
cảnh thực mà là cảnh hiện lên trong buẩn rấu, ngao ngắn của Nguyễn
Du
Hoài Thanh đã chỉ ra được sự lựa chọn chi tiết của hiện thực và cách trình
bảy chúng của Nguyễn Du để bộc lộ cho được cái tâm trạng buồn rầu ngao
ngắn của mình đối với cuộc đời Đồng thời, để chứng mình cho nhận định của
mình, Hoải Thanh cũng đã lựa chọn các chỉ tiết trong Văn chiêu hồn: Gối
đương âm đạm, vẫng lặng, mênh mông, toàn màu chết, năm xương khả đề
chứng mình cho nhận xét của minh: mở đầu bài Văn chiêu hẳn là một cải
nhìn rất bị thiết về cuộc dời (doan văn này của Hoài Thanh như sẽ biết sau
này có tính đa thanh: có lời (văn) của Nguyễn Du và lời của Hoài Thanh viết
về lời Nguyễn Du)
Trong văn bản, trong diễn ngôn, chủng ta thường nói tới tư tưởng chủ
để Tư tưởng chú để thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn Nói khác đi,
một văn bán, một diễn ngôn (hay một doạn văn) là một lập luận dơn hay phức
hop bat kế văn bản viết (heo phong cách chức năng nào Tỉnh lập luận là sợi
chỉ dé dam bao tính mạch lạc (coherence) về nội dung bên cạnh tính liên kết
về hình thức (cohesion) của văn bản nghị luận
30
Trang 351.1.3 Khái quát văn bản nghị luận
1.1.3.1 Dặc trưng về thể loại văn bản nghị luận
Văn nghị luận: là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lí
luận, bao gỗm lí lẽ dẫn chứng trình bảy những ý kiến của mình để lảm rõ mét
van dé nao dé, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo
những ý kiến đó
Dặc trưng đầu tiên mẻ ta thấy của văn bản nghị luận là về ngôn ngữ sử dụng “ mang phong cách ngôn ngữ nghị luận” bởi nó luôn đòi hói tính chính
xác chặt chế, điều này phủ hợp với mục dich của diễn đạt trong văn nghị luận
nhằm lâm rõ vấn để thuộc về chân lý để thuyết phục người đọc nguời nghe
Béi vây, mà ngôn ngữ sử dụng trong văn nghị luận luôn phải phản anh rõ
chính xác quả trình tư duy, dễ dạt dến việc nhận thức chân lý Điều này doi
hỏi người viết phải sở dụng đúng và nhất quán các thuật ngữ chuyển môn, các
tử ngữ lập luận, sử dụng các kiểu câu và mở rộng thành phần câu hợp lí khi
trình bảy lí lẽ
Tuy nhiên nếu ngôn ngữ trong văn bản nghị luận chỉ dừng lại ở yêu cầu chính xác chặt chẽ thì văn bản nghị luận sẽ khônmg tránh khỏi sự khô khăn
giáo điều, thuyết giảng một bài văn hay luôn cần cả sự thuyết phục của chân
lý, lý lẽ, nhưng vẫn giàu hình ảnh vừa có lý vừa có tỉnh Sức thuyết phục
không chỉ nằm ở sức mạnh lý trí mà còn hun đúc trong những rung đông tinh
tế của can từn cũng bởi hiệu quả tác động của văn nghị luận” không chỉ lý trí
mà còn ở Linh cám, căm xúc, bởi vậy mà ngôn ngữ sử dụng trong văn nghị
luận luôn cần có sức hắp dẫn lôi cuốn giàu máu sắc biểu cảm của các từ ngữ
giảu hình lượng gợi cắm có sửc lan truyền với giọng điệu riêng Điều này
cũng cần cỏ cải tài, cải tâm thực sự của người cầm bút
Dé đạy và làm tốt một văn bản nghị luận đòi hỏi người đạy vả người viết
phải có những hiểu biết nhất định về thời sự, các vẫn để chính trị xã hội nóng
bồng, những vấn để thiết thức nỗi cộm, đang điễn ra xung quanh cuộc sống,
31
Trang 36những kiển thức cơ bản về truyền thống lịch sử, dạo lý văn hóa, tâm lý xã hội
Có thải độ, nhận thức, đánh giá đúng din khi đứng trước các vấn đề nghị luận Cần có thái độ trung thực khi thế hiện đánh giá, ứng xử của mình Ngoài
ra một yêu cầu cần thiết để đảm bảo thành công khi viết một bai vin nghị luận là phải sử đụng thành thạo các thao tác lập luận, có phương pháp lập
luận để bài viết có sức thuyết phục, có hỗ cục chặt chế, viết Lập trung hướng,
tới luận điểm tránh lan man, tản mạn, sử dụng dẫn chứng xác đảng giàu sức
thuyết phục và người viết cũng cần có sự liên hệ với bản thân, chí ra được
hướng phát triển cũng như giải pháp cho van dé dang ban luận
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn bằn nghị luận
a, Các thao táo lập luận trong văn bản nghị luận
Khái niệm lập luận: "là dưa ra các lý lẽ xác dáng, các bằng chứng dang
tin cậy được trinh bày một cách hợp lí nhằm dẫn đắt người đọc(người nghe)
dén một kết luận nào đó mà người viết (người nói) muốn đạt tới” “ Là sự tổ
chức các luận điểm và luận cứ; các lý lẽ va dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ các van dé, để người đọc hiểu và đồng tinh với điều mà người viết đặt ra và giải
quyết"
Để triển khai lập luận người viết phải thực hiện những thao tác lập luận
cụ thể để tổ chức phối hợp cáo lý lẽ, dẫn chứng nhằm lam cho luận cứ thuyết
minh được luận điểm, luận điểm thuyết minh được luân đẻ
Do đặc trưng của việc bản luận, làm sáng tổ một vấn dé chính trị xã hội
nảo đó cũng giống như những văn bản nghị luận nói chung, một văn bản nghị
luận cần kết hợp các thao tác nghị luận, lập luận chặt chẽ, một cách giàu sức
thuyết phục bên canh thao lac điễn dịch quy nạp các em đã được học ở bậc
THƠS§, các thao tác lập luân dược sử dụng trong văn bắn nghị luận bao gam
* Giải thích
La thao tác sử dựng lý lẽ phân tích li giải là chủ yếu, để giảng giải cắt
nghĩa cho người đọc, người nghe hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó
32
Trang 37‘lrong văn bản nghị luận thao tác giải thích thể hiện ở việc lí giải giải
thích khái niệm những nhận xét, nhận định cần làm sáng tô cụ thể hơn là tập
trung lí giải các từ ngữ, khái niệm khó, nghĩa bóng, nghĩa đen, nghĩa hàm an,
nghĩa tường minh có khi giải thích tập trung làm rõ mối quan hệ giữa các
khái niệm
* Chứng minh
Thao tác lập luận chứng minh là thao tác chủ yếu dưng những cử liệu- dẫn chứng xác thực làm sáng tỏ một lý lẽ, ý kiến, làm sáng tỏ vẫn để xã hội đang ban
luận, thuyết phục người nghc tin tưởng vào vấn đề đang được nghị luận
Chimg minh làm sáng tỏ cho những thao tác giải thích trước đó, chứng
minh cho những luận điểm, luận cử trong bài Điều này đỏi hỏi người viết cần đưa ra những dẫn chứng xác dáng, tiêu biểu toàn diện Cần sắp xếp dẫn chứng,
theo hệ thống mach lac, chặt chế theo các mạch vấn để, theo trình tự chứng
minh được dịnh nghĩa: “là thao tác logic dùng để lập luận tính chân thực của
phán đoán nào đó nhờ các phán đoán chân thực khác có mối Hen hệ hữu cơ
với phán đoán ấy" Cấu trúc của chứng minh gồm ba thành phần liên quan
chặt chế với nhau: (I)luân đề; (2)luận cứ, (3)lâp luận luận dễ chính là các
luận điểm khoa học mả ta cần chứng minh, làm rõ Nó trả lời câu hỏi chứng
minh cái gì? Còn luận cứ lại trả lời cho câu hổi dung cái gì để chứng minh?
Nó có chức năng là tiền để logic của chứng mình Lập luận của chứng minh là mối lien hệ logic giữa luận cử và luận để Như vậy, chứng minh xét cho cùng
“ 4 một phương pháp sử dụng những lí do đầy di va su thực đáng tin cậy để
chứng minh các luận điểm”
Ô văn bản nghị luận, để trình bảy một cách sang rỡ thuyết phục về Lư
tưởng, người viết luôn phái tìm những cách thức lập luận khác nhau dễ sao
cho sự nghị luận vừa chặt chế, đanh thép lạt vừa sâu sắc, toàn điện vi vậy
cách chứng mình Irực tiến luôn được kết hợp với chứng mình giản liếp die
biệt là phương pháp phân chứng hoặc phương pháp loại trừ nó gợi mở nhiều
33
Trang 38dạng thức lập luận cụ thể hơn nữa như trong hai văn bán nghị luận trong sách
giáo khao mà học sinh được tim hiểu: “ Bình ngô đại cáo "(ngữ văn 10 tập
mot) và “Tuyên ngôn độc lập”(ngữ văn 12 tập mộU)
* Phân tích
Là việc chia tách vẫn dé thành nhiễu bộ phận, yếu tổ nhỏ để xem xét đi
sâu một cách kỹ lưỡng từng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng
Mục tiêu của phân tích nhằm thấy được giá trị ỳ nghĩa của vấn để, mỗi
Ấn để đỏ, giúp người
liên hệ giữa hình thức bên ngoài và bãn chất bên trong cũa
đọc nhận thức dầy đủ, sâu sắc hơn về vẫn dễ xã hôi đang được bản luận
* Bình luận
Bình luận là bàn bạc, đánh giá vấn đề, sự việc hiện tượng chỉ ra sự đúng
sai, phải trái, tốt xấu, lợi hại để nhận thức một cách dúng dẫn về dỗi tượng Từ dó,
có cách ứng xử phủ hợp, có phương châm hành động đúng đẫn Đây là thao tác
tổng hợp bởi nó bao hảm cả cổng việc giải thích lẫn chứng minh Nó đỏi hỏi
người viết phải có vên hiểu biết rộng lớn và tư duy độc lập cao
Khi thực hiện thao tác bình luận, người tạo lập văn bản cần phải inh
hoạt, tránh cách nhìn phiến diện một chiều Người viết cũng phải trang bị cho
mỉnh vốn kiến thức phong phú về đời sống, hiểu biết xã hội, về các tư tưởng
trong một văn bản nghị luận người ta thường kết hợp cá 3 cách thức với nhau
Bác bố “là thao tác logic xác lập tính giả đối hoặc vô căn cử của luận
để được nêu ra” Khi để cập dến phương pháp phần bác, người ta thường lập
trung vào ba cách bác bỏ: (1) bác bỏ luận để, (2) bác bỏ luận cứ, (3) bác bổ
34
Trang 39cách lập luận để bác bổ luận để, người ta tiến hành bác bỏ các dữ kiện; hoặc
chứng mình tính giả đối của hệ quả rút ra từ luận đề Bác bỏ luận cứ chủ yếu là
vạch ra Lính giả dối, nghỉ ngờ của các luận cứ còn bác bỏ luận cứ chủ yếu là chỉ
ra tính “phi logic” giữa các luận cứ và luận để hoặc chỉ ra mâu thuẫn, không vững chắc của lập luận các phương pháp phản bác do vậy cũng rất có giả trị ứng dụng trong việc tạo lập các bài tập thích hợp, luyện cho hcoj sinh các cách bác
bổ cụ thé, tạo ra sự lập luận chặt chế trong các văn bản nghị luận
Tuy nhiên, khi ứng dụng chứng mình va bác bö vào luyện lập luận,
ngoài “kỹ thuật” tiến hành, phải piúp học sinh biết them các quy tắc và “cánh
giác” với các nguy co mắc sai lầm trong chứng minh và bác bỏ đối với luận
đề thì có các quy tắc: (1) luận dễ phái xác dịnh, (2) luận đề phãi giữ nguyên trong quá trình lập luận dối với luận cử thì có các quy tắc: (1) luận cử khẳng,
định luận để phải chân thực, không mâu thuẫn,(2) luận cứ phải là cơ sở đầy đủ
để khẳng định luận đề;(3) luận cử phải là phán doán chân thựcvv đối với lập
Tuận thỉ các quy tắc của nó chính lả tuân thủ các quy tic logic của những cách suy luận điển dịch, quy nạp, tương tự từ những cơ sở trên chúng ta suy nghĩ dấn các bài tập luyện tập cho học sinh: chứng minh, phản bác, phát hiện những,
sai lâm, sửa chữa lỗi về luận đề, luận cứ, lập luanv.v để cho học sinh làm quen
với những thao tác cần thiết nhật khi tìm hiểu văn bản nghị luận
* 8ø sánh
Thao tác lập luận so sánh hướng đến mục đích chỉ rỡ sự giống nhau và
khác nhau, điểm tương đằng vả khác biệt, chưng và riêng từ đỏ má thấy rõ
đặc điểm có giá trị của van dé nghị luận
b, AMỗi quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận
Một văn bản nghị luận có thành công hay không thi cần có sự kết hợp
một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn các thao tác lập luận Mỗi thao tác lập luận
có vai trò, vị trí, đặc điểm và ưu thể đặc biệt riêng va để triển khai dược rõ nét
toàn diện trọn vẹn một cách lý tưởng ¥ tưởng của người viết, không thé so
35
Trang 40sánh mức độ quan trọng nhất piữa các thao tác bởi một văn bản nghị luận rất
Ít khí sử đụng riêng lê một thao tác lập luận mà thường là sử dụng phối hợp
một lỗ hợp các thao lắc lập luận khác nhau
"Tuy nhiên, khi tạo một văn bản nghị luân không phải lúc nào cũng huy
động đầy đú các thao tác Tủy thuộc vào vẫn để, vào đối tượng tiếp nhận mà
người viết có thể lựa chọn một số thao tác nhất định Bởi thế trong một văn
bản nghị luận sẽ có một hoắc hai thao tác chính có vai trò nòng cốt tạo nên sự
mạch lập luận của vấn đề đưa ra nghị luận và những thao tác phối hợp giúp
cho lập luận dược ssinh dộng, có chiều sâu
Mỗi thao tác lập luận đều ứng với mục tiêu cụ thể giải thích để làm rõ
giới hạn khái niệm, phân tích để di sâu vào những khía cạnh cụ thể, chứng minh và sơ sánh dễ lắm sáng tỏ vấn dé, bác bỏ làm nỗi bật sự dúng din của
vấn đề, bình luận để đánh giá nâng cao và mớ rộng vấn đề Do đó việc vân
dụng một cách linh hoạt các thao tác lập luận không chỉ phục vụ đắc lực cho việc tê chức một văn bản nghị luận thành công giàu sức thuyết phục mà còn
giúp vấn đề nghị luận Ấy được nhìn nhận một cách đầy đủ, sáng rõ sâu sắc
hơn, thuyết phục hơn va hip dẫn người dọc người nghe
Lý thuyết lập luận trên các bình điện : lôgic hạc, Ngôn ngữ học, là cơ sở
1í luận chủ yếu nhất làm cơ sở khoa học định hướng cho các giải pháp về nội dung hình thức vả tổ chức luyên cách lập luân qua hê thẳng các văn bản nghị
luận trong chương trình TIIPT Tuy nhiên, khi xây dựng hệ thống luyện tập, chúng tôi cũng phải đựa trên cả những căn cứ khác được gợi ý từ những trì thức của lý luận dạy học ; lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ; tâm lí học nhận thức đã nỏi khái quái ở trong luận án này Mặc dủ vậy, một trong những cơ
sở cho các giải pháp luyện tập của luận án không thể bö qua dó chính là thực tiễn đạy học vận dụng lý thuyết lập luận, về năng lực vận dụng lập luận của học sinh PTTH
36