1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản nghị luận Ở trung học phổ thông

125 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản nghị luận ở trung học phổ thông
Tác giả Hoàng Thị Thanh, Văn Dũng, Thủy Thư
Người hướng dẫn PGS. TS. Đồ Việt Hùng
Trường học Trường đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học (Ngữ văn)
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nên, dã là văn nghị luận là phải lập luận và lập luận phải chất chế, sáng rỡ Đặc điểm của lập luận là người viết sở dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề, trình bảy lí lẽ và qua đó đánh giá sự đún

Trang 1

DAI HOC QUOC GIA HA NOI

TRUONG DAI HOC GIAO DUC

HOANG THI THANH

VAN DUNG Li THUYET LAP LUAN TRONG

DAY HOC VAN BAN NGHI LUAN

O TRUNG HQC PHO THONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lý luận và phuong phap day hoc

Trang 2

CAC KY HIE£U VIET TAT

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Mục dích và nhiệm vụ nghiền cứu

$ Phương pháp nghiên cứn

6 Cấu trúc luận văn

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SO THUC TIEN CUA

VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LẬP LUẬN TRONG DẠY

1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông với việc dạy

vận dụng lý thuyết lập luận trong đạy học văn bản nghị luận

Chương 2: VẬN DỤNG LẬP LUẬN VÀ CÁCH KHAI THAC

LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN Ở

'TRUNG IKỌC PHỎ TIRÔNG

Trang 4

2.2.1 Cách lập luận

2.2.2 Cách khai thác văn bản

2.3 Hiệu quả của việc vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học

văn bản “Bình Ngô đại cáo” và "'Luyên ngôn độc lập”

Chương 3: THIẾT KẾ GIÁO AN VÀ THỰC NGHIỆM

3.2.4 Triển khai thực nghiệm

3.2.5 Đánh piá kết quả thực nghiệm

3.2.6 Kết quả rút ra qua thực nghiệm

Trang 5

MO DAU

1 Lý do chon dé tai

Pal nude ta dang từng ngày đổi mới và phát triển trong xu thể hội nhập

Mục tiêu đặt ra trước mắt, đó là đào tạo ra những con người toàn diên, tích cực và chủ động Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Giáo dục (GD)

mà là của loàn xã hội Nhưng ngảnh giáo dục giữ vai trỏ chủ chốt, với mot

trọng trách vô cùng lớn lao Quá trình đôi mới ở nước ta đã diễn ra bắt đầu từ

những năm 1960- 1980 của thé ky XX, với khẩu hiệt Šn quá trinh đảo lao

thành quá trình tự đào tạo” Cho đến nay, vấn dé déi moi trong quá trình dạy -

hoe càng trở nên bức thiết

Mục dích cuối củng của việc học môn Ngữ văn ở trường nhễ thông là piúp học sinh có thể tạo lập dược những văn bản hay, có tính sáng tạo Để đạt

được mục đích này, việc cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức về văn bản là

cần thiết Tuy nhiên, muốn học sinh độc lập tạo ra được văn bán có tỉnh sáng,

tạo thỉ việc cưng cấp trị thức là chưa đú, mà điều quan trọng là phải hình thành

và củng cế cho các em các kĩ năng, các cách khai thác văn bản sao cho đạt

được hiệu quả giao HIẾp cao

1.1 Lý thuyết lập luận có một vai trò rất quan trọng trong văn nghị luận Vì

vậy, hình (hành nắng lực lập luận cho học sinh (TIS) là một yêu cầu tất yếu

đặt ra trong quá trình day hoe vn ban ở trường trung học phố thông (THP 1)

Văn nghị luận đã được đưa vào giảng day trong nhà trường phổ thông

Học sinh được lâm quen với văn nghị luận ở cap THCS, lên đến THPT, văn

nghị luận là một kiểu bài trọng tâm và chiếm phần lớn thời lượng chương

trình Làm văn Đây là một kiểu bài rất khó, đời hói học sinh phải có óc tư duy

lâgic Bởi dặc trưng của văn nhị luận là phải lập luận để làm sáng tổ một vấn

để nào đây Nếu không cỏ lập luận, thì vấn đề đó sẽ trở nên thiếu tỉnh thuyết

phục, khiến ngưởi đọc không tin vào những diều mà người noi muốn dẫn dắt

người đọc hướng tới Như vậy, sẽ không đạt được đích của giao tiếp Cho

Trang 6

nên, dã là văn nghị luận là phải lập luận và lập luận phải chất chế, sáng rỡ

Đặc điểm của lập luận là người viết sở dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề, trình

bảy lí lẽ và qua đó đánh giá sự đúng — sai, đưa ra các phán đoán, nêu ra kiến

giải, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của bản thân Việc

trình bảy lí lẽ được người viết thể hiện thông qua các phương thức tư đuy

légic như khái niệm, phán đoán, suy lỉ và hệ thống các dẫn chứng nhằm đạt

được mục đích khiển người đọc tin theo Bởi vậy, lập luận được sử đụng rất

nhiều trong các văn bản, nhằm để thuyết phục người đọc Lập luận là đặc

trưng cơ bản của văn băn nghị luân Lập luận như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt

trong bài văn nghị luận ở trường phổ thông

Day van bản nghị luận cho học sinh chính là dạy cho các cm các thao

tác lập luận Việc sử dụng tắt các thao tác lập luận sẽ giúp học sinh tạo lập

được những văn bản nghị luận hay, đầy tính sáng tạo Đây cũng chính là mục

dích cuối củng của việc dạy các thao tác lập luận cho học sinh Qua đỏ chúng,

ta có thể đánh giá được năng lực hoàn thành từng thao tác lập luận cụ thể trong quá trình tạo lập văn bản của học sinh Chính vi vậy mà sách giáo khoa (SGK)

Ngữ Văn từ THCS đến THPT đã dưa các thao tác lập luận thành từng nội dung

cụ thể (Ở SGK Làm văn trước đây các thao tác này không được học một cách

tố rằng, cụ thể), nhằm giúp học sinh có cái nhìn rõ hơn, biểu sâu hơn bản chất ban chất của từng thao tác lập luận, và từ đó biết cách kết hợp các thao tác lập

luận đó vào quá trinh tạo lập văn bản

1.2 Nghiên cứu về lý thuyết lập luận ngày càng được quan tâm, những thành

tựu của nó đòi hỏi phải được tích hợp và ứng dụng vào dạy học văn bản, nhất

là vào vệc để xuất các phương pháp, hình thức rẻn luyện kỹ năng lập luận

trong văn bản nghị luận cho hợc sinh

Trong nghiên cứu về hoạt động ngôn ngữ, ngôn ngữ học đã chú ý xem

xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ vả Lư duy Theo đó, lập luận cũng lả dối Lượng

được các nhà ngôn ngữ quan tâm Sự quan tâm ở đây không phải là nhằm đi

Trang 7

sâu vào nghiên cứu lập luận theo hướng của quả trình tư duy mà chủ yếu là

xem xét sự điển đạt lập luận bằng ngôn từ, bằng nội dung các yếu tổ hình

thức của ngôn Lừ đùng để đánh đầu các quan hệ lập luận giữa các luận cứ với

kết luận Vi vậy, những kết quả của việc nghiên cứu nảy cần được vận dụng

vào dạy trong các văn bản nghị luận cho học sinh để học sinh có thể tự tạo lập

được những văn bản mang Lính lôgic cao

Lập luận là yêu tổ có mặt thường xuyên trong các bài văn nghị luận và

tồn tai như một yếu tố đặc thủ trong văn nghị luân Tuy vậy, việc nghiên cứu

lý thuyết lập luận trong văn bản nghị luận thì gần đây mới được chủ ý Những,

năm gần đây, lập luận đã được coi là một đơn vị lý thuyết và đưa vào dạy ở

bac phố thông trung hạc Tuy nhiên việc triển khai mới chỉ là bước dầu nên cũng chưa phải hoàn thiện và thống nhất xét trên các phương diễn: lập luận

trong bài văn, trong đoạn văn nghị luận hay trong các văn bản nghị luận.v.v

1.3 Xuất phát từ thực tẾ giảng day va thực tẾ cuộc sống, thì ta thấy với

những văn bản nghị luận khi giảng dạy để đạt hiệu quả cao trong giờ học

người giáo viên phải nắm bắt được đặc thủ của kiểu văn bản này từ đó có

phương pháp dạy học giúp học sinh năm hắt bài nhanh, dễ hiểu

Trong cuộc sống cững vậy, con người luôn luôn cần dủng đến lập luận

Dùng lập luận để chứng mình một điều gì đó Dùng lập luận để thanh mình, để

giải thích một sự kiện nào đó, để thuyết phục người khác tin vào một sự kiện

và cũng có thể lập luận để bác bẻ một ý kiến khác Vì vậy, lập luận có tâm

quan trọng đặc biệt

Một thực tế mà ai cũng cảm nhận được là có không íL những vấn để

trình bảy trên các phương tiên thông tin đại chúng của chúng ta, như truyền

hình, phát thanh, báo chí nhiều khi thiến sức thuyết phục Vì sao vậy? Câu

trả lời có thể khác nhau, song, rnột thực tế không thể phú dịnh dược là : Trong

rất nhiều ngành nghề, muốn trở thành những chuyên gia hàng đâu, làm việc

có hiệu quả thì cần học những cách lí lẽ, lập luận

Trang 8

ân dụng lý thuyết lập luận trong văn bân nghị luận không chi dé rén

luyện năng lực cho lập luận trong văn bản, ma đồng thời gớp phần rẻn luyện

tư duy cho học sinh

'Lừ những lý do nói trên, việc vận dụng lý thuyết lập luận trong văn bản nghị luận là một nhiệm vụ quan trọng trong quả trình giảng dạy vấn nghị luận

bac phổ thông trung học Với để tải này, chúng tôi thấy đầy lả một trong

những việc làm trọng tâm thiết thực nhất nhằm góp phần thục hiện có hiệu quả mục đích đạy học văn bán nghị luận ứ nhà trường phổ thông hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

21 Xét rên phương điện tư úy

Ngay từ thời cả đại, từ thể kỉ thứ V trước công nguyễn, người ta dã chú

ý nghiên cửu về lập luận Có truyền thuyết rằng, vùng dit Sicile van do hai

bạo chúa thống tri [Io chiếm đất đai và chia cho bình sĩ của mình Nhung

vào năm 467 TƠN (trước công nguyên) một cuộc nổi dạy đã lật dễ hai bao

chúa này Nhiều người tuyên bố tùng là chủ sở hữu những mảnh đất trước

đây bị cướp đoạt Thế là có những cuộc kiện cáo liên miên tại toà Trong tình

hình đó, Corax và học trỏ cứa ông là Tisias đã viết một tài liệu về “phương

pháp lí lề” khi nói trước toà Có lẽ, đỏ là văn bản đầu tiên của nhân loại để

cập tới phương thức lập luận [Planlin, 1996]

Buổi da

sự lập luận được coi là một lĩnh vực thuộc phạm vi của thuật hùng biện - một “nghệ thuật nói năng” Nó được trình bày trong “7ú từ học”

(A: Rhetoric) cia Aristote Tiếp sau đó, sự lập luận cũng được trình bảy lrong

các phép suy luận logic, trong thuật ngụy biện hay trong những cuộc nghị

luận, tranh cãi ở tỏa án

TNữa sau thể kí XX, lí thuyết lập luận dược quan tâm trở lại Mỡ dầu cho

thời ki này là “Khảo luận về sự lập luận - Tu từ học mới” của Perelman và

Qlbrechts - Tytcca (1958) vả S.Toulmin (1958).

Trang 9

‘Theo cách nhìn của lôgic học, suy luận vừa là một hình thức tư duy

nhằm liên kết các khái niệm, các phán đoán, tiền đề lại với nhau lại vừa là

một thao tác lỗgic nhằm rút ra kết luận theo một cách thức lân luận nhất định Như vậy, lập luân chính lả cách thức cụ thế để tổ chức nhân thức mả ở đó kết

luận được rút ra từ mối liên hệ lôgie xác định giữa các tiền dé Légic học đã

vạch ra các quy luật của tư duy, các quy tắc của lập luận lôgic, và chỉ ra hai

điều kiện phải tuân thủ khi lập luận đề thu được tri thức chân thực: (L) các

tiền đề của suy luân phải chân thực; (2) phải tuân theo quy tắc của lôgic lập

luận Trên tinh thần dó, căn cứ vảo cách thức lập luận của suy luân các

công trình nghiên cứu về lô gic học đã phân ra thành suy luận diễn dich va

suy luận quy nạp dồng thời tiếp tục chia nhỏ hơn nữa dễ nghiên cứu

Pháp suy luận trong lô gic thường dùng với hai nghĩa: (1) chỉ toàn bộ

quá trình tìm ra kết luận; (2) là một bước trong quá trình chứng mỉnh Từ đỏ

các công trình nghiên cửu về lôpe sau này dã chủ ý hơn dến việc nghiên cứu

các phương pháp chứng mình và bác bỏ, đặc biệt là bác bỏ luận đề, bác bỏ juan ching, vạch ra những sai lầm và nguy biện trong lập luận

Để đảm bảo cho tính ding dẫn của tư duy khi nắm bắt chân lý, ngoài

những vẫn đề rất quan hệ đến lập luận, lôgic hình thức cũng vạch ra bỗn quy

luật cơ bản của tư đuy (1) Luật đồng nhất; (2) Luật phi mâu thuẫn, (3) Luật

triệt tam; (4) Luật lý do đầy đủ Nhờ vây, lồ gic hình thức đã giúp cho chúng

ta nhận thức được những khía cạnh én định, bền vững tương đôi về chất của

sự vật hiện tượng cũng như thể hiện được sự nhất quan, dung din cla qua

trình tư duy

2.1 Xét trên phương điện ngôn ngữ

Trước dây, lập luận được nghiên cửu trong tu từ học và lôgic học Hai

nha ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre dA dic

biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận.

Trang 10

Sữ dụng ngôn ngữ trong khi nói viết con người mới tiến hành dược lập

luận để hiện thực hóa tư tưởng, tình cảm cửa mình Chính vì vậy, vấn đề lập luận từ lâu cũng được đặt ra trong Ngôn ngữ học Dựa vào tác phẩm Tu từ

học — công trình đầu tiên nghiên cứu lập luân của Aristore, người ta thấy rằng

lúc đầu né được cai là thuộc phạm vi của thuật hùng biện Về sau lập luận

được trình bảy trong các phép suy luận của lôgio hình thức, trong “ngụy biên”

tranh cãi ở các tòa án, trong các bài diễn thuyết Và các cuộc thi hủng biện

Cuỗi cùng, với Lính cách là một hành động ngôn ngữ, một thao lác ngôn ngữ,

lập luận đã trở thành một dối tượng nghiên cửu của chính ngôn ngữ học

Từ nửa sau của thế kỷ XS, lập luận được nhiều nhà ngôn ngữ học quan

tâm, đặc biệt là các tác giả: §.Tohmin (1958), Grize (1982) và O DueroL

(1983)[40] Những năm 70, người ta chú ý đến nghiên cứu lập luận thực tế,

lập luận mả con người dùng để thuyết phục người khác Các tac gid Johnson

and Blair (1977), Drecman (1988), Govier (1985) là những người có nhiều

đỏng góp về hướng nghiên cửu này Nghiên cứu lập luận trên góc độ hoạt động ngôn ngữ, người ta đã tập trung miều tả cầu trúc ngôn ngữ của lập luận,

phân biệt lập luận theo lôpic với lập luận thuyết phục, các yếu tố ngôn ngữ

thực hiện sự lập luận, các chiến lược lập luận, các lý lễ về sự thuyết phục

Theo hướng nghiên cứu này người ta đi đến quan niệm: “lập luận là đưa ra

những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhân một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới"[24,tr260] Như vậy, ở đây lập luận

đã được xem xét trên bình điện hoạt động ngôn ngữ nhằm hưởng tới giao tiếp

nhận thức

Ở Việt Nam, đi vào hướng nghiên cứu nảy, có một số nhà ngôn ngữ đã

thực sự quan tâm và đặc biết chủ ý dến các giá trị về mặt lập luận của các yếu

tố tiếng Việt Một số tác giả tiêu biểu như: Dã Hữu Châu, Nguyễn Dức Dân,

Hoàng Phê, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc Thêm, Đỗ Việt

Hùng, Trần Hữu Phong v.v

Trang 11

Ngôn ngữ học cũng quan tim dén légic: chỉ ra mỗi quan hệ giữa lépic và

ngôn ngữ bọc, phân biệt sự khác nhau giữa chủng, nghiên cửu sâu hơn các

yếu tố, các cấu trúc ngôn ngữ trong vai trò điển đạt các quan hệ lập luận

Hoàng Phê, Nguyễn Đức Dân là một trong những tác giả chủ trọng sự phân biệt này Theo Nguyễn Đức Dân: lôgie quan tâm tới phương diện hình thức

có nhiều cách khác nhau dé điển dạt củng một nội dung Chẳng hạn trước một

phan đoán P: "bức tranh này đẹp” thị trong lôgic, sự phủ định phán đoán trên

chỉ dược xác định bởi quy tắc duy nhất là “nếu D dùng thì P sai” hoặc “nếu P sai thì P đứng”, còn trong tiếng việt dễ phú định câu trên sẽ có nhiều cách nói

như: (1) bức tranh này không đẹp, (2) bức tranh này đẹp gì mà đẹp Với cách

nhìn trên, tác giá đã rút ra kết luận: “Phép suy luận trong lôgic hoàn toàn hình

thức còn phép suy luận trong ngôn ngữ thi ngoài suy luận hình thức như trong lôgic, người ta còn suy luận qua từ ngữ, qua tình huống, qua tri thức, kinh

nghiêm

Œó thé nói, nhờ tập trung vào hướng này, nhiêu nhả Việt ngữ học đã dùng

lôgic thời gian, lôgio tình thái vào nghiên cửu rất cụ thể ác “Luân từ lôgic phủ định”, “toán tử lôgic tỉnh thái”, các liên từ trong tiếng việt dùng để thể hiện sự khẳng định, bác bỏ, diễn đạt, các quan hệ thời gian, điều kiện, nhân

quả trong các cấu Irúc lập luận của ngôn ngữ Ngôn ngữ học cũng đã chú

trọng nghiên cứu các loại lý lẽ của lập luận thuyết phục và sự thực hiện nó

qua các biểu thức, hoặc qua các yếu tỗ nói trên của tiếng việt Nhờ vậy, người

ta di đến xây đựng được các khái niệm: Lập luận, đặc tính của quan hệ lập

luận, “tác tủ lập luận”, “kết tử lập luận”, cấu trúc lập luận, cơ sở của lập luận

Cuỗi củng, lý thuyết lập luận trong ngôn ngữ đã được dựa vào nhà trường day

cho học sinh phô thông trung học

Trang 12

Những thành tựu nghiên cứu về lập luận trên góc độ hoạt dộng ngôn ngữ

cũng có tác dụng góp phần làm hoàn thiện hơn lý thuyết lập luận nói chung,

tạo thêm các điều kiện để đi vào nghiên cứu và xây dựng lý thuyết lập luận

trong làm văn nhất là trong văn nghị luận Tuy nhiên, những nghiên cứu đó tuy cung cấp được rất nhiều đữ kiện để xây dựng tất các lời nói liên kết

nhưng chưa phải đã tạo ra được đầy đủ các Liền để lý luận cho toàn bộ hoạt

động dạy học văn nghị luận nhất là cho việc tạo lập các văn bán nghị luận

hoàn chinh, chặt chẽ, sâu sắc, thuyết phục

Văn nghị luận không những lá một hoạt đông tư duy, hoạt dộng ngôn ngữ

mà côn là một hoạt động tư tưởng, tỉnh cảm nhằm vào việc thuyết phục người

nghc Lập luận trong văn nghị luận, do đó “một mặt cần giữ dược về dặc thủ của loại văn này, mặt khác, phải là sự vận dung sách thức suy luận ma

logic học nghiên cứu, cũng như cách diễn đạt nó bằng ngôn từ mà ngôn

ngữ học chỉ ra” |138, tr 14| RG rang, lap Iwan trong một hoạt động như vậy

luôn luôn phải đựa trên nhiều căn cứ : (1) Lôgic học, (2) Ngôn ngữ học, (3)

Tâm lý học nhận thức

23 Xéttrén phuong điện văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là một loại văn có từ rất sớm Theo tác giả Nguyễn

Quốc Siêu thì văn nghị luận có mâm mống từ thời nhà Thương, hình thành

chính thức vào thời chiến quốc trong không khí của “trăm nhà đua tiếng” và các cuộc tung hoành du thuyết Cảng về sau, văn nghị luận cảng phát triển và

dẫn tới chỗ nó đã trứ thành đối Lượng được xem xét trên bình diện lý thuyết

Chẳng hạn, tiêu thống trong “văn tuyển” đã cắt nghĩa: “Luận, ấy là tổ chức

sắp xếp các ý kiến để làm sáng tỏ một dao ly nao đó” |149, tr Š{ Văn nghị

Tuận căn bản là loại văn thuyết lý, lấy nghị luận làm cách thức biểu dạt chính

nên “Lập luận là mẫu chốt của văn nghị luận” [138, tr 14] Từ đẻ có thể thấy

rằng lập luận cũng trở thánh một đối tượng của văn bắn nghị luận xét trên ca

binh điện nghiên cửu lý thuyết lẫn bình diện hoạt động dạy học ở nhà trường

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu

3.1 Đối tợng

Nghiên cứu quá trình vận dung lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản

nghị luận ở trung học phổ thông

3.2 Phạm ví nghiên cứu

Một số văn bản nghị luận ở trung học phố thông có vận dụng lý thuyết lập

luận, cụ thể các văn bản: Binh Ngô đại cáo (Xgữ văn 10 tập2, chương trình

cơ bản), Tuyên ngôn độc lập (Ngữ văn 12 tập2 , chương trình cơ bản)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tổng hợp lý thuyết lập luận theo hướng xem xét các khả năng

ứng dụng của nó đối với việc đạy học trong văn bản nghị luận cho học sinh

phé thang Tir do khang dịnh tỉnh hiệu quá và khả thì của việc giảng day văn

bản nghị luận với việc vân dụng lý thuyết lập luận

+42 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ khảo sát thực trạng việc sử dụng các lí thuyết lập

luận trong văn bản nghị hận ở chương trình phế thông Từ đó xác định cơ sở

Ty thuyết và cơ sở thực tiễn cho việc day hoc các kiểu bài này, đồng thời đề

xuất một phương pháp day hoc cu thé cho văn bản nghị luận

Ngoài ra luận văn còn có nhiệm vụ khảo sát khả năng thực thì việc ứng

dụng kiểu bài này bằng thực nghiệm sư phạm, để thấy được những van dé ma

luận văn để xuất có khả năng thực thi đến dâu và có hiệu quả như thể nào? trong thực tế đạy học văn bản nghị luận ở trường phd thông hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

‘Trong khi tiên hành làm luận văn đề thực hiện tốt nhiệm vụ má luận

văn để ra ở trên tôi sử dụng một số phương pháp sau:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Chúng tôi tiễn hành tập hợp các tài liệu có liên quan đến lý thuyết lập

luận nói chung và các văn bản nghị luận nói riêng Đặc biệt chúng tôi nghiên cứu các tài liệu chuyên sâu về lý thuyết lập luận

9

Trang 14

%2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Khảo sát, điều tra là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này Chúng tôi dùng phương pháp điều tra, khảo sát để tìm hiểu việc dạy học

kiểu văn bản nghị luận thông qua việc vân dung lý thuyết lập luận ở trường phổ thông hiện nay Đặc biệt với phương pháp này chúng tôi sẽ điều tra được

nhận thức của giáo viên và học sinh về kiểu bài nghị luận một wan để xã hội

trong văn bản văn học, dé ti đó chủng ta có thể đưa ra những giải pháp phủ

hop cho việc giàng dạy những kiểu bải này

5.3 Phương pháp thực nghiệm suc pham

Phương pháp thực nghiệm giúp chúng ta bước đầu đưa những vấn đề mà

luận văn đề xuất vào thực Lễ dạy học ở một số trường Trung học phé thang 'Từ phương pháp này chúng ta có thể, rút ra những kết luận cần thiết cho luận

văn

Ngoài những phương pháp trên chúng tôi côn sử dụng một số phương

pháp khác như phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích đối chiếu so sánh Đây là những phương pháp được sử dụng kêt hợp với các

phương pháp chính ở trên Việc sử dụng kết hợp các phương pháp đó giúp

chúng tôi nghiên cửu đề tải một cách chỉ tiết và đây đủ hơn

6 Cầu trúc luận văn

Ngoài phần mở đấu, kết luận và khuyến nghị, tải liệu tham khảo, luận văn được trình bảy trong ba chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực liễn của việc vận dung lý thuyết

lập luận trong dạy học văn bản nghị luận

Chương 2: Van dung lập luận và cách khai thác lập luận Irong đạy học

văn bắn nghị luận ở Trung học phổ thông,

Chương 3: Thiết kế giáo án vả thực nghiệm

10

Trang 15

CHUONG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC T

LÝ THUYÉT LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC VAN BAN NGHỊ LUẬN

iN CUA VIEC VẬN DỤNG

1.1 Cư sở lý luận

1.1.1 Một số vẫn đề về ÿ thuyết lập luận

1.1.1.1 Khải niệm của J} thuyết lập luận

Trước đây, lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và

trong lôgic học Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Duerot và Iean Claude

Anscombre dã dắc biệt quan tâm tới băn chất ngữ dụng học của lập luận

Ổ trên, chúng ta đã nói tới các phát ngôn miêu tâ với nội dung phan

ánh một hiện thực, sự kiện bên ngoaid ngồn ngữ bằng lời nói Các phát ngồn nảy là sân phẩm của hảnh vi khảo nghiệm và nội dung của chúng dược đánh

giá theo tiêu chuẩn lôgic đúng, sai

Hayakawa cỏ nhận xét: trong giao tiếp thông thường — không kể trong các

văn bản khoa học các phát ngôn miều tả kiểu như:

- Nhà của ông Nhuận cô hai tầng

- Con mèo này màu den

- Trời nhiều mây

Có số lượng thấp Trong giao tiếp thông thường, ít khi chúng ta miễu tả

để miêu tả Thường thường, chúng ta miêu tả một cái gì đấy là để hướng,

người nghe tới một cái gỉ đây nằm ngoài sự vật, hiện tượng, sự kiện được miểu tả

Cái mà người nói hướng người nghe tới qua thông tin miêu tả có thể là một

thái đệ, một linh cảm, một sự đánh giá, một nhận định hay một hành động

nảo dó cần phải thực hiện Nói vẫn tit, cái mà thông tin miễu tả hưởng tới là

một kết luận nào đó rút từ thông tin miêu tả đó

Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết

tuận hay chấp nhận một kết luận nào day ma ngudi ndi muốn đạt tôi,

11

Trang 16

Có thể biểu diễn quan hệ lập luận piữa các phát ngôn (nói dúng hơn là giữa

nội dung các phát ngôn) như sau:

p—r

p là lí lẽ, z là kết luân (ø zr có thể được diễn đạt bằng các phát ngén ul, u2,

vv.)

Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là iuận cứ (argumenU Vậy có thể nói

quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ (một hoặc một số) với kết luận

Luận cứ có thể lả thông tin miêu tả bay là một định luật, một nguyên lí xử thế

nao day Vi du

- Cơn mèo này màu đen (p) (nên) rất đễ sợ (r)

p là một thông tin miễu tả

- Mét môi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì dã làm việc liền 8 tiẳng rồi

{q)ì — cậu phải nghe nhạc một lái (r)

Ô ví dụ này, chúng ta có hai luận cứ, p lá một nguyễn lí sinh hoạt và q là nhận

xét về một trạng thái tâm sinh lí

1.1.1.2 Dặc trưng của lý thuyết lập luận

1ân cứ và kết luận là những thành phan trong lập luận Thuật ngữ lập

luận được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập

luận Thử hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, Lửc toàn bộ cấu trúc của lập luận, cả về nội dung, cả về hình thức Thuật ngữ quan hệ lập luận dùng để

chỉ quan hệ giữa các thành phần của một lập luận với nhau Có quan hệ lập

luận giữa luận cứ với luận cứ và có quan hệ lập luận giữa luận cứ và kết luận

Lại còn quan hệ lập luận giữa hai hay nhiều lập luận với nhau trong một phát

ngôn, hay trong mội điễn ngôn

Chúng ta dã biết có những diễn ngôn độc thoại (monolôgic,

monologique) tức điễn ngôn do một người nỏi ra, người tiếp nhận không

được đáp lại Diễn ngôn độc thoại phân biết với diễn ngôn dơn thoại

(monologal, monologal) ở chỗ điển ngôn đơn thoại do một người nói ra (hoặc

12

Trang 17

viết ra) trong, một cuộc hội thoại, người tiếp nhận có thể dáp lại Lại có diễn

ngôn song thoại (đialogal, dialoga]) tức điễn ngôn của những người đối thoại

nói qua lại với nhau trang một cuộc hội (hoại Diễn ngôn độc thaại có thể ở

dang nói hoặc viết

Những thí dụ về lập luận vừa dẫn có thé lam chung ta hiểu lầm rằng lập

luận chỉ xuất hiện trong một diễn ngôn đơn thoại, trong một phát ngôn hoặc

trong một văn bản viết một chiều Sự thực lập luận có thể nằm trong một phát

ngôn, trong một diễn ngôn má cũng có tắm trong lời đối đán qua lại giữa

các nhân vật hội thoại với nhau (sau này chúng ta sẽ gọi là lời thoại, lượt lời,

tham thoại cặp thoại) Những cuộc tranh luận, cãi cọ là những cuộc hội thoại

trong đó Sp1 và 8p2 dưa ra những luận cứ dẫn tới những kết luận khác nhau

nhằm gianh phan thing cho mình Lại có những phát ngôn trong hội thoại tưy

cũng do hai hoặc một số người khác nhau nói ra nhưng tất cả đều dẫn tới

củng một kết luận Đơn giản nhất là lập luận sau đây của 3 nhân vật hội thoại

Spl, Sp2, 5p3

Spl: Di Dé Sen làm gì, vừa đông vừa chật chội, nước biển lại đục

Sp2: Gần thành phố, thực phẩm ở do dất lắm Giá khách sạn cao mà

chưa chắc đã còn phòng mà thuê

Sp3 Nam nào cũng đi biển, chắn lắm rồi

Spl: Không đi Đồ Sơn thì ải đâu? Sa Pa nhé!

Sp2, Sp3: Hoan hồ Sa Pa

Ta người nêu ra 3 loại luận cử tắt cả đều dẫn đến kết luận “không đi Đồ Sơn”

Những cuộc hội thoại trong đó các nhân vật củng hỗ trợ nhau dẫn tới

củng một kết luận sau này sẽ được gọi là những hội thoại đồng hướng Cáo

cuộc hội thoại đồng hướng lập luận phức hợp lả những hột tháo thí dụ như về

phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường, v.v

'Trong một cuộc tranh luận, các nhân vật hội thoại có thể đưa ra những lập

luận dẫn tới những kết luận ngược nhau Chúng ta nói những lập luận đó là

13

Trang 18

nghịch hưởng với nhau Mỗi lập luận nghịch hướng là một phản lập luận

(eontro-argumentaLion) đối với nhau Diễn ngôn độc thoại hay song thoai không

phải chỉ có một lập luận mà thường là sự phối hop của một số lập luận (và phản

lập luận), các lập luận đó diễn tiến để dẫn đến kết luận cuối củng, đích của toàn

bộ diễn ngôn Lập luận thường vận động trong diễn ngôn Nghiên cứu mặt động, của diễn ngôn chủ yếu lả nghiên cứu vận động lập luận của nó Thyận ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hệ thông của những lập luận bộ phận, các lập

luận đó liên kết với nhau, lập luận trước đẫn đến lập luận sau, Iất cỗ tạo nên một vận động đi tới kết luận cuối cùng,

“Nước Việt Nam có quyên hưởng lự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thé dân tộc Việt Nam quyết đem tắt cả tỉnh

thần và lự lượng, tính mạng và của cải dễ giữ vững quyền tự do và độc

lap dy.”

Trong vận động lập luận này trật tự trước sau của các lập luận bệ phận không thé thay đối

Lời của cô Kiểu nói với Kim Trọng khi anh chàng "có chiểu 1â loi” là

một diễn ngôn đơn thoại mà kết luận cuối cùng vừa là một lời “đe dọa”

Gieo thoi trước chẳng gi giảng,

Dé sau nén thẹn cùng chàng bởi ai?

(Câu hỏi có hành vi gián tiếp là đe dọa: Nếu chúng ta không rút kinh nghiệm

của vụ gieo thoi ngày xưa mà cứ “làm tới” thì thiếp buộc phải hành động như

cô gái ngày xưa, ném thoi vào giữa mặt Tạ Côn Thiếp không làm như vậy,

sau này thiếp sẽ then với chàng, hạnh phúc dỗi ta sẽ tan vỡ Thiếp có giøo thơi thì không chỉ vị thiếp mà cỏn vì chính chàng nữa dây )

Vừa là một lòi hứa hơn ngọt ngào

Còn thân ät lại đền bôi có khi

kết luận này là hệ quả tất yếu của các lập luận bộ phận mà Kiều nói ở

trước Các lập luận trước đã vân động một cách hợp lí dến kết luận tổng thé cuỗi cùng nảy

14

Trang 19

Sau dây là thí dụ về vận động lập luận trong một cuộc dỗi thoại giữa hai

cô sinh viên tạm đặt tên là Iloa và Tâm

Yêu đương bây giờ nhạt nhẽo Toàn những chuyện vở vẫn

Ađàu nhạt tủ có ý Yêu cũng hay chớ sao

Hay hém gì cái trò ấy Dỡ ẹc Tao thì phải học cái đã lao nhiêu

chị học giôi ơi là giải, yêu vào là học đỒI ngay

Day là may bà không có bản lĩnh dy chit Tao quen một chị, chị

này mới đầu học cũng bình thường nhưng yêu một anh, anh này

học giỏi cực Thế là hai anh chị giúp nhau cùng tiễn

Nghe cứ như là tiểu thuyết ấy Làm gì có chuyện ây

ao mày cực đoan thế? Mày không tim a?

Địa đặt 1ao mà yêu vào thì chỉ có học đốt đi thôi Yêu là phải io

lắng nàp, suy nghĩ này, một củ người Nồi không map nb bé thi

có phải ôm cả tháng ý chủ Tao chả dại mà đâm đầu vào đấu

Yêu cũng có cải hay chứ Được dựa dẫm sướng qua con gi

Ôi đào, lao thêm vào ý Mã lao thấy thanh niên bây giữ toàn thằng dỡ hơi, tình tướng Anh cử lưỡng anh có cái xe máy là lo

lắm đấy, đi đâu mặi cũng vênh vác lên

Thôi tao chẳng thèm nói với mày nữa Mày bảo thi lam May

làm nhủ ai cũng xâu cả

Chứ còn gì nữa, mày mudn yêu thì di mà yêu Tao thì chịu thôi

Nói thế thôi chứ bây giờ ai rổ đạt mà đi yêu đương Có muốn yêu

bây giò cũng chẳng có ma nào nhàm ngó Yêu cũng phải tày

từng lúc chứ.

Trang 20

Tam 7: Tao thi ot phdi hoc xong ad

Hoa 7: Ù,

"Trong cuộc đối thoại nay, từ Tâm I đến Tâm 6, từ Iloa 1 đến Iioa 5 từng

đôi lời thoại lập thành từng cặp lập luận phản lập luận Mặc dầu Tâm và Hoa có những ý kiến khác nhau về chuyện yêu đương trong lúc còn đi học

nhưng cuỗi cùng hợ cũng di đến một kết luận (Hoa 6) dủ là kết luận có tỉnh

miễn cưỡng Từ Hoa 6 trở di, không cỏn phải lập luận nữa, lập luận của từng,

người (Hoa 6 và Tâm 6 rồi Hoa 7), đồng hướng với nhau Trên đây là tôm

lược vận động lập luận của từng người và của toán bộ cuộc hội thoại Lập luận có vận động thì cuộc hội thoại mới không dẫm chân tại chỗ, mới có tính

nang động

Trong một lập luận, kết luận cỏ thể ở vị trí dầu, vị trí piữa hoặc cuối

của luận cử Ở Tâm 1, kết luận: Yêu đương bây giờ nhạt nhẽo đừng trước luận

cử: toàn là chuyện vớ vẫn Ô Tâm 2 kết luận (ao thì phải hac cát đã ở giữa

hai luận cứ: hay hớm gi cat tre dy, dé ec và bao nhiêu chị yêu vào là học đổ! ngay Ö Tâm 3 kết luận lâm gì có chuyện ấy ở sau luận cứ nghe cứ như

tiểu thuyết ấy Sau luận cử là vị trí thường pặp trong lập luận của kết luận

"trong một lập luận, các thành phần luận cứ, kết luận có thể hiện diện

tường minh, tức có thể dược nói rổ ra Tuy nhiên không íL những trường hợp

trong đó một luận cứ hay kết luận có thể hàm ấn, người lập luận không nói ra,

người nghe phải tự mình suy ra mà biết

Có đoạn đối thoại sau đây:

Spl (một cô gái}

-Anh oi, toi nay minh oi xem han nhac “Tam ca áo trang” di!

Sp2 (chang trai)

- Đoàn này ở lại Hà Nội những một tháng kia ma Va lai anh trói nhận

lời với mấy thằng bạn réi Anh không muẫn em bị gò bó

Sp2:

-Con em H Van 4 thì sua? Không gò bỏ chứ?

16

Trang 21

Ở lời thoại của Sp2 kết luận từ chối rũ cơ gái ở dạng hàm Ẩn Sp2 đã dưa

ra hai luận cứ, thứ nhất là: Dokn này ở lại Hà Nội những một tháng và thứ hai: anh khơng muốn em bị gị bỏ vì anh đã nhận lời di xem với bạn trai Tai luân cứ nảy tự mình cũng lả hai lập luân 2ộn này ở lại Hà Nội là một lập

luận Điều nghe được là luận cứ, kết luận của luận cứ này “khơng đi xem hơm

nay vì cịn thời gian” là kết luận ẩn Lập luận thứ hai: Võ lại anh trỏi nhận lời anh khơng muốn em bị gị bỏ phức tạp hơn Anh trĩt nhận lời đi với mây thang

bạn là luận cứ Luận cứ này dẫn đến kết luận hàm an: “Em đi với anh ma cd ban

trai thi em sẽ bi go bo” Cái kết luận hảm Ấn này đến lượt mình, dịng vai trỏ

luận cứ cho kết luận anh khơng muơn em bị gị bỏ Kết luận chưng của lời thoại

của 8p2 là do hai luận cứ hàm Ẩn mà cĩ và hai luận cứ hàm ấn này tự thân lại là

những kết luận hàm ẩn bộ phận

Một chàng trai nĩi với một cơ gái như sau:

Anh yêu em vì tình yêu của anh dối với em nền anh sẽ yêu em mỗi mỗi

Lập luận này cĩ kết luận là anh yêu em mỗi mỗi, đặc biệt quan yêu trong kết luận nảy là từ mãi mãi Bằng kết luận này, chàng trai muốn “thơng báo” cho

cỗ gái biết lỏng thủy chung của minh (mãi mãi) Quan hệ lập luân ở dây như

thế nào? Lập luận nảy hàm ẩn một liận cứ: Đỏ là luận cứ “tỉnh yêu của anh đổi với em khơng bao giờ tan phai” Luận cứ này ham ẩn Cĩ thể khơi phục

các thành phần hàm ấn của luận cứ này như sau:

Anh yều em vì tình yêu của anh đổi với em (chứ khơng phải vì tình yêu

của em đối với anh)

ma Tinh yêu của anh đối với em sẽ là mãi mãi (vì là của anh nên anh biết

là nỗ sẽ mãi mii)

cho nên Anh sé yéu em mai mdi

Diéu quan trong 14, da kết luận hay luận cứ cĩ thể hàm ẩn nhưng về

nguyên ắc, người nĩi phải thể nào cho người nghe căn cứ vào ngữ cảnh, vào

ngơn cảnh, vào ngữ huồng cĩ thể tự mình suy ra mà nắm bắt lây kết luận (hay

17

Trang 22

luận cứ) ẩn Rất nhiều những kết luận hay luận cứ ham an do hành vi ngôn

ngữ giản tiếp tạo ra Thí đụ, chàng trai có thể thực hiện hành vi từ chối đi xem

bằng một lời trì hoãn Nếu chảng trai nói: Doàn này ở lại Hà Nội những một

thang kia mà, chúng ta không cần đi xem hôm nay thì hành vi thông báo việc hoãn này con ở lại 1à Nội một tháng không có hiệu lực từ chối gián tiếp nữa

Cũng như hành vi ở lời hứa của đứa bẻ Hôm may con được điểm mười về

?oản sẽ mất hiệu quả giản tiếp “đòi hỏi” nếu nó tường minh hóa hành vi đòi hỏi bằng phát ngôn, thí dụ: Ä⁄@ mua kem cho oon đi VỀ mặt lập luận, hành vĩ

ở lời giản tiếp thưởng là kết luận mà nội dung của những phát ngôn ngữ vì

tường mình là luận cứ Vì người nói đoán rằng người nghe của mình có thể tự

suy ra kết luận được cho nên mới dừng lại ở hành vi trực tiếp má không hoàn chỉnh phát ngôn của mình nữa bằng việc tường mình hóa hành vĩ pián tiếp

gười nghe cảng phải vất vả, tốn nhiều công sức, cảng phải huy động nhiều

quy tắc, nhiều nhân tố piao tiẾp dễ tìm ra những thành phần hảm Ấn (những

hành vi gián tiếp) của lập luận (như trường hợp phát ngôn amh yêu em vì }

thi lập luận càng hắp dẫn

Những diều nói trên cho thấy tiêu chí đễ xàc dịnh một lập luận là kết

luận TIễ tìm ra được một kết luận là ta có một lập luận

Có những lập luận đơn, có nghĩa là lập luận chỉ có mật kết luận, các thành

phan cỏn lại đều là luận cứ Tuy nhiên thường gặp là những lập luận phức hợp Tạm cho rằng lập luận phức hợp có hai dạng chính, biểu điển như sau:

Trang 23

"Trong mô hình nảy, R là kết luận chung, r1, r2, r3 là những kết luận

bộ phận Mô hình thứ nhất có nghĩa là từ luận cử p1, q1 ta có kết luận r1; r1 đồng vai trò luận cứ để có kết luận r2; r2 đóng vai trà luận cử để có kết luận

r3, cứ thế tiếp tục cho đến khi ta có kết luận chưng tổng thể R Mô hình này

đã gặp trong lận luận 1⁄3 !i anh trôi hẹn vải mấy thằng bạn rồi (n) đi với bạn

trai của anh, em sẽ bị gò bỏ (1) - > Anh không muốn em bị gỗ bỏ (r2)

Mô hình lập luận phức hợp thứ hai là mô hình của toán bệ lập luận của chàng

hôm nay (12)

không có diễn ngôn nào không phải là lập luận, lập luận đơn giản hay

phức hợp Tư tưởng chủ đề của toàn bệ điễn ngôn có thể xem là R lớn và Lư

tưởng chủ đề của từng đoan hợp thành diễn ngôn là những r Mỗi đoan văn là

một lập luận bộ phận, tất cả hợp lại lập luận lớn, chung cho toàn bậ diễn

ngôn Một cách hết sức đơn giãn, có thể xem các cầu chủ để (lường mình hay

ham dn) của từng đoạn của diễn ngôn là các r mả các ý trình bày trong đoạn

phải dẫn tới Cần phủ ý trong một diễn ngôn, không phải tất cả các kết luận

bộ phận r (tức lập luận bộ phận) déu đẳng hướng có nghĩa là đều dẫn tới R

Dễ cho diễn ngôn có sức thuyết phục, có khi người nói, người viết phải đưa ra

các phần lập luận dễ rồi bác hỗ phản lập luận dỏ (thi dụ trong lời thoại của cô

Kiều đã dẫn, câu lục bát:

19

Trang 24

Là chỉ một dóa yêu dào,

Vườn hông chỉ dâm ngăn rào chim xanh

là một phản lập luận sơ với kết luận tổng thể là: Chàng phải tình lại, dừng có

bờm xơm! Phân lập luận này đưa ra để rỗi bị phản bác ngay:

Đã cha vào bậc bổ lanh,

Pao tong phu lay chit trình làm đầu

Ra tuông trên Bộc trong dau,

Thì con người ấy di cầu làm chi

Phải điều ăn xỗi ở thì,

Tiết trăm năm nỡ bỗ đi mội ngày!)

Diễn ngôn càng đải thì lập luận cảng phức hợp (đây là nói về số lượng các

lập luận bộ phận, không nói về tổ chức nội tại của mối lập luận bộ phân) Hai

mô hình lập luận trên có thể là căn cứ để tìm hiểu tổ chức lập luận của các

điễn ngôn

Có thể nói, lập luận và vận động lập luận là một chiến lược hội thoại

nhằm din đắt người nghe, người đọc đến chỗ năm bắt được cái kết luận mả

người lập luận muốn đi tới Lập luận là một hành vi ở lời có đích thuyết phục

'Tuy nhiên không nên đồng nhất thuyết phục và lập luận Không phải cứ lập

luận là thuyết phục được người tiếp nhận Aristote nói tới ba nhân tổ phải đạt

được để lời nói của mình thuyết phục được người nghe Đó là

logo: nhân tố lí lẽ Muốn thuyết phục được phải có lí lẽ

patos: nhân tế xúc cẩm Có lí chưa đủ để thuyết phục Lời nói phá

ra được tình cắm, thiện cắm của người tiếp nhận

ethos: nhân tố tính cách, đặc điểm tâm lí, dân tộc, văn hóa của người

tiếp nhận Lời nói chẳng những phải có lí, phải có tỉnh cảm, gây

được thiện cảm mà còn phải phủ hợp với sở thích, tính cách hoặc truyền thống dân tộc, văn hỏa của người tiếp nhận

20

Trang 25

Khả nẵng thuyết phục của lời nói, của sự nói năng (kế cả diệu bộ, cử chỉ)

cia minh thy thuộc vào chỗ chúng có hội đủ ba nhân tế trên hay không Lập

luận chỉ là một điều kiện dé (huyết phục, còn kết luận có thuyết phục được

hay không là việc khác Theo quan điểm ngữ dụng học, hiệu quả thuyết phục

của một lập luận lả nhân tế hành vi mượn lời cho nên không thuộc phạm vị

nghiên cứu của ngữ dụng học

1.1.2, Ban chất ngữ dụng của lập luận

Trong lôgic só phép quy nạp và diễn dich Quy nap hay diễn dịch đều

là di từ luận cứ đến kết luận Nếu di từ luận cử cục bộ dến kết luận khái quát

thi ta cé quy nạp, nếu đi từ một tiền để (premise) khái quát để suy ra kết luận

cục bộ thì ta có điễn dịch Nói tới lập luận thường là nói tới suy luận thca diễn

dịch và ta thường nghĩ ngay đến lôgic, dến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận

Đừng là, trong văn nghị luận, tức là loại văn bản làm việc với các ý

kiến có vấn dễ then chất là lập luận Tuy nhiên, lập luận có mặt khắp nơi,

trong bắt cứ điễn ngôn nào, đặc biệt trong các điễn ngôn đời thường Thí dụ, khi mua ban, người mua phải lập luận để kết luận giá món hàng mà minh trả

là phải chăng còn người hán lại phải lập luận rằng giá món hàng mình nêu ra

cho khách là hop Hi [lon thế nữa, không phải chỉ khi nào cần phải lí luận,

tranh luận với nhau chúng ta mới lập luận Khi chúng ta kế lại một sự kiện,

miêu tả một hiện thực, chủng ta cũng thực hiện một vận động lập luận Như vậy có nghĩa là cần phân biệt lập luận lôgïc với lập luận đời thường,

Ở mục L1 chương I chúng ta đã nói ngữ dụng là lĩnh vực gủa ngữ nghĩa

không thể đánh giá được theo tiêu chuẩn đúng — sai légic Ching minh ban

chất ngữ dụng của lập luận đời thường là chimg minh rằng nú không bị chi

phối bối các quy tắc, các tiêu chuẩn dánh giá của lập luận lögic và chứng

mỉnh rằng giá trị các nội dung miêu tả được đưa vảo trong lập luận đời

thường không phải ở chỗ các nội dung này dùng hay sai so với thực tế ma la &

giá trị của nó đóng gớp vào lập luận với tư cách lả những luận cứ của lập luận

21

Trang 26

dai thuémg © Ducrot va J.C Anscombre đã làm việc trong các công trình về

lập luận của mỉnh theo hướng nói trên

Tam doan luận là cấu trúc điển hình của lập luận điễn dịch lâgio Tam đoạn

luận pồm một đại tiên đề (major premise), một tiểu tiền đề (minor premise) và một kết luận (conclusion) suy ra từ hai tiễn để trên Tam đoạn luận thường

được dẫn làm thí dụ trong các

ách lôgie học là tam đoạn luận sau đây

Tất cả mọi người đều phải chết (đại tiền đề)

Socrate là người (tiêu Liền đề)

Socrate phải chết (kết luận)

Lập luận đời thường cũng có cầu trúc của Lam đoạn luận lôgic này Thí

dụ có tam đoạn luận đời thường như sau:

Hàng hàa cảng rẻ thi cang nén mua

Chiée xe nay rẻ

Nén mua chiée xe nay

Phát ngôn thường pặp như: chiếc J2ream này giá có 13 triệu, mua dược

đấy là đã dựa vào tam đoạn luận nói trên

Vì có sự đồng nhất về cấu trúc như vậy cho nên ching ta thường đồng nhất

lập luận đời thường với tam đoạn luận lôg¡c

"Thực ra tam đoạn luận của những lập luận đời thường khác với tam đoạn luận

lôgic ở những điểm sau đây

Ở tam đoạn luận légic kết luận là hệ qua tat yêu của dai tiển đề, tiểu tiễn

để và của thao tác suy điễn Nếu đại tiền đề đúng, tiểu tiền để đúng và thao

tác suy diễn đúng thì kết luận tất yếu phải dùng Kết luận Socrafe phải chết

không thể bác bẻ bởi vì tiền đề zẩ cả mọi người đều phải chất và tiểu tiền đề

%ocrafe là người đã đúng, Tỉnh đúng sai của kết luận trong một lam doạn luận

légic do tinh ding sai của các tiền dé quyết định Một kết luận lôgic chỉ có

hai khả năng hoặc đúng, hoặc sai, đúng hay sai không, thể bị bác bỏ, có nghĩa

22

Trang 27

là nếu kết luận lôpic đã dũng thì không thể lập luận dễ chứng minh rằng nó

sai Ngược lại nếu nó đã sai thỉ không thé chimg minh rằng nó đúng

Tam doan luận đời thường thi khéng như vậy Đại tiền đề không phải

lả một chân lí khoa học, khách quan mả lả những “lẽ thường”, những kinh nghiệm sống được đúc kết lại duéi dang nguyên lí cha nên chúng không tất

yếu đứng Đại tiễn để đổ! cả mọi người đều phải chết không thể cỏ một đại

tiền đề khác trái ngược, mâu thuẫn với nó, còn “đại tiên đề” hàng hỏa cảng rẻ

thì cùng nên mua có thê bị phủ định bởi “đại tiền đề” khác thí dụ đại tiền đề

của rẻ là của ôi, hàng quá cũ, hàng chất lượng kém thì không nén mua vv

Vì lẽ thường này có thể trải ngược với lẽ thường kia nên mới có hiện tượng

đã nói: lập luân đời thường có phản lập luận Lập luận lôgic không thể có

phản lập luận Chúng ta không thể đưa ra mệt phản lập luận cho lập luận về

Socrate, trong khi đối với lập luận: nên mua chiếc Dream này vì nô rễ có thê

bị phủ định bởi lập luận thí dụ: Chiến Dream này giả có 13 triệu, đừng mua

Ca rê là của ôi mà, 1.v

Kèm theo hiện tượng có phân lập luận là hiện tượng trong một lập luận

dời thường cá thể dẫn ra hàng loạt luận cứ cùng một kết luận, thí dụ, chúng ta

có thể nói: Chưốc xe này rẻ, chất lượng còn tốt, đăng kí chỉnh chủ, số biển

đăng kí lại đẹp, rất nên mua! “Giá rẻ, chất lượng còn tốt, đang kí chính chủ,

số đăng kí đẹp” là bốn lân cứ củng dẫn tới một kết luân “nên mua” Lập luân

lâgic không thể như vậy Một kết luận đúng lâgic thì chỉ cần một luận cứ,

trong một lập luận lögic, không thể dẫn nhiều luận cứ cho cùng một kết luận

Hai đặc tính có phản lập luận và có nhiều luận cứ gộp lại thành tinh tranh biên cúa lập luận đời thường (polémiqu) Lập luận lögic nếu đã đúng thì

không thể tranh biện

Lập luận đời thường lại có thể chấp nhận những kết luận có về phi lôgic

Những phát ngôn sau dây lá rất bình thường, không ai cảm thấy “võ H”

Spl: Com xong rồi chứ?

23

Trang 28

Sp2: Xong réi a Chi xiu nữa thôi ạ

hoặc

Spl: Nghi chir?

Sp2: ĐĐøng mái việc này, không có thì giờ nhưng uống với anh ii cà phê

cũng chẳng sao

Tôi với một đầu óc lôgic “tỉnh táo” chặt chế thì phát ngôn của Sp2 có

mâu thuẫn nội tại: Đã tuyên bố xong rồi mà lại còn nói chí xíu nữa thôi, đã

tuyên bế là không có thì giờ mà lại còn nói có thì giờ nắng cả phê với bạn

Thế nhưng, bởi vi đây không phải là lôgic mà là đời thường cho nên quan hệ

lập luận giữa xong rồi với chút xiu nữa thôi, giữa không có thì giờ với udng

với anh một li cà phê vẫn chấp nhận được bởi vì các luận cứ này không phủ

định lẫn nhau mà, như chúng ta sẽ biết ở sau, chúng đồng hướng lập luận với

nhau

'Irong lấp luận lôgic, các luân cử (tức đại tiền để, tiểu tiền để) và kết

luận phải được điễn dat bằng một mệnh đề trần thuyết Chỉ phát ngôn (biểu

thức) ngữ vi của hảnh vì tái hiện (khảo nghiệm, xác tín, miêu tả) mới đảm

nhiệm được chức năng làm cái biểu đạt cho các thành phần của tam đoạn luận, của các suy luận lôgie Trong lập luận đời thường không phải như vậy Đóng vai trò cái biểu dat cho các thành phân của lập luân, ngoài phát ngôn

trần thuyết còn có thể là phát ngôn của các hành vi ở lời khác, thậm chỉ chính

hành vi ở lời cũng có thể là luận cứ hay kết luận của một lập luận

~ Sáng bảnh mắt ra rồi, đậy đi!

- Con mdy thước nữa, cổ lên, cổ lên!

p1 — Ngày mai chúng lôi sẽ làm lễ thành hôn cho hai châu, mời hai báo

sang dự mừng cho hai cháu

24

Trang 29

H faut tenter de vievre P Valéry)

Déy đi là hành vị điêu khiến, cổ lên, cố lên là biểu thức ngữ vi cỗ vũ, zờï hai

bác sang dự vừa là hành vì mời, vừa là phát ngôn mời Thế mào chúng tôi

cũng sang là hành vi và biểu thức ngữ vi nguyên cấp “hứa” Phái cd ma séng

;hôi là hành ví “khích lệ”

O DucroL nhận xét rằng các câu hỏi khép, lức cầu hỏi chỉ có hai cách trả lời, hoặc trả lời có, hoặc trả lời không (dá/chưa, rồi/chưa) có hiêu lực lập

luận nhất định Điều kiện thỏa mãn (điều kiện chuẩn bị và điều kiện chân

thành) của các câu hỏi là người hỏi thực sự không biết xảy ra khả năng nào

của sự kiên được hỏi bằng câu hỏi có/không và thực sự mong muốn dược trả lời để giải tổa trạng thái không biết đó của mình Đối với những câu hỏi

có/không người hỏi băn khoăn giữa hai khả năng của sự kiên, thứ nhất là khả

năng Ir (tra lai bang có hoặc bằng để hoặc rồi) và thứ hai là khả năng r (trả lời bằng không hoặc chưa) DucroL cho rằng nhiều khi trong một lập luận,

người hỏi đưa ra câu hỏi khép không phải do băn khoăn không biết khả năng, nao (cé khi anh ta đã biết khả năng nào xây ra rồi, tức vi phạm điều kiện chân

thành) mà để hướng người nghe không phải về phía + r ma về phía —r, tức về

phía trả lời bằng một phát ngôn phủ định Nói cách khác, câu hỏi khép có thể đồng vai trò là thành phần của lập luận đời thường và hiệu lực lập luận cửa câu hỏi khép lả phát ngôn tr lời + (trả lời bằng không hay chưa) hàm an Thi

dụ câu hồi:

Me gid, con dại, vợ dm, cdu có còn nhữn nhơ được nữa khong? chic chin

rằng ở câu hỏi này, người hỏi dã biết câu trả lời là không Lập luận này diễn

đạt lại bằng câu trân thuyết như sau:

Trang 30

Me gid, con đại, vợ ôm, cậu khong (thé) nhữn nhơ dược nữa

Nếu người được hỏi lrả lời

Cú Mẹ giả, con dại, vợ ôm, tôi nhn nhớ được

thi lap Lửc lập luận của người hỏi sẽ thành vô nghĩa

'rong Chiến quốc sách, câu hỏi có/không 14 một biện pháp tu từ mà các

nhà du thuyết thường sử đụng để buộc đối phương từ bổ một ý đồ chính trị

nảo đó của mình Thí dụ Tân Viên Diễn lả tướng của nước Nguy được vua

Tguy sai sang nước Triệu của Bình Nguyên Quân để khuyên hgụy tôn Tân

(lê thuộc vào nước Tần, không chống lại Tần nữa) Bình Nguyên Quân dã xiéu lòng, có ý muến khuyên vua Triệu dầu hàng nhà Tần Biết như vậy, Lễ

Trọng Liên, một tráng sĩ, sang Triệu ra mắt Binh Nguyên Quân, hồi:

- Người ngoài dường nói ngài sắp mưu tôn Tần làm dễ, việc ấy có

không?

TẤL nhiên Bình Nguyễn Quân trả lời phủ định, để cho Tân Viên Diễn xủi

giục

Bình Nguyên Quân lúng Lúng trả lời:

- Thẳng (tên hủy của Bình Nguyễn Quân) như con chín sợ cưng, hỗn

phách đã lạc rồi còn dâm nói gì nữa Uiệc ấy là do vua Ngụy sai tướng

quân Tân Viên Diễn sang nủi dõ thôi

Thế là Lễ Trọng Liên gặp Tân Viên Diễn hỏi

- Tân mà xưng dễ iắt lại thay déi các dại thân của chư hấu, duôi người

ghét mà đựng người yêu lên, lại dem con gái làm vợ các vua ch hẳu, vua

Ngụy chắc càn yên ôn mà ngôi không? Ngay như tưởng quân có còn giữ

được tước lộc không?

Câu hỏi của Lỗ Trọng Liên khiến Tân Viên Diễn phải đứng đậy, vái hai

vái và hứa sẽ nói với vua Ngụy hủy việc tôn lần Dưới đây là một thí dụ có

26

Trang 31

tinh ting hợp Trong truyện ngắn của Nam Cao A'hững chuyện buôn không

muốn viết bà vợ của nhà văn gào lên khi thấy nhà văn mới bước chân về nhà

đã ngồi vào bản sáng tác (với quyết tâm kiếm tiền cho vợ vì vợ vừa bị người

củng làng cùng tên Cao với mình giảnh mất bông sơi (phiếu phân phối sơi):

- Giời ơi là giời! Có chẳng can nhà nào thê không? Chỉ vác cái mặt lên

như con trêu nghành suối ngày Chẳng nhìn rối đến cới gì Đề cho con ăn

đắt ngoài sân kia kia

lời gào thét của bả vợ là một lập luận lớn mà kết luận R là hành vi cảm thần Giời ơi là giời! Đây là một lập luận phức hợp, với lập luận bộ phận thứ

nhất là Chỉ vác mặt kia kìa trong đó r1 là chẳng nhìn rõi đến cái gì và hai

luân cứ cũng là hai hành vi ở lời, một là đay nghién: chí vác mặt lên như con trâu nghênh suốt ngày, hai là nhắc nhà người nghe lưa ý đến hiện thực bên

ngoài: đỄ cho con ăn đất ngoài sân lúa kảa KẾU luận r1 lại được đừng làm

luận cứ cho kết luận r2: Có chồng con nhà nào thể không? Kết luận này là

một câu hỏi só/không và giá trị của nó hẳn là ở phía trả lời “không chông con

nhà nào thế cả” Chính vì cách xử sự của chỗng bả ta là duy nhất, “vô tỉnh”

theo quan điểm của bà ta nên bà ta mới bực mình gảo lên Giời ơi lá giời Kết

luận R Gởi ơi là giời là một hành vị ở lời, việc phal ra hanh vi cam than nay

(gào thét để trách phận) dược biên hộ bởi các luân cứ r1 và r2 Giả định khi

nghe bà ta hỏi Có chồng con nhà nào thể không? một anh hàng xóm vớ vẫn

náo dó nghe được, tưng tửng trả lời: Có, đản ông như chẳng bà thì khối thì

ba vo sé điền tiết hơn và anh ta sẽ bị chủi lây

Chỉ lập luận đời thường, không phải lập luận lôgic mới chấp nhận các

hành ví ở lời và các biểu thức (phát ngôn ngữ vị) làm thành phần

Ở trên, chúng ta đã nói tới nội đưng miêu tả của điễn ngôn, của phát

ngôn Nội dung miêu tâ có thể là nội dung mệnh đề của các phát ngôn ngữ vị

Chúng ta cũng đã biết nội dung miêu tả thuộc pham vi nghĩa học hiểu theo nghĩa hẹp, có thể đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic Một nội dung miều tả

27

Trang 32

có thể dược dùng làm luận cứ cho một lập luận dời thường Vậy muốn chứng,

minh lập luận đời thường là vấn để của ngữ dụng học thì ngoài việc chứng

minh cdc thành phần của nó khác với những thành phần của lập luận lâgic,

cỏn phải chứng minh giá trị của nội đụng miễu tả trong lập luận đời thường, không phải được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgìc Oswald Duerot đã phát

hiện ra rằng ÿ nghĩa đích thực,

ding Lite là giá trị đích thực của một nội dưng

miêu tả là giá trị lập luận của nó, có nghĩa là giá trị đích thực của nó là ở chỗ

nó được nói, viết ra là nhằm dẫn người nghe, người đọc tới một kết luận +r

hoặc —r nào đỏ Chúng ta đã dẫn ý kiến của Hayakawa: ft khi người ta miễu tả

để mà miêu tả Trừ những điển ngôn khoa học, trong giao tiếp đời thường,

chúng la miều tá một cái gì đỏ lả đặt cái nội dung miêu tả đỏ váo một lập luận nao day ‘Thi du, it khi bỗng nhiên chúng ta lại miều tả

- Xhà của thủ trưởng năm tổng, nội thất cực kì lông lẫy, hiện đại

Dộng cơ của chía mươi phần trăm những người nói ra phát ngôn tái hiện

này là bình luận về “phẩm chất” của ông thủ trưởng,

- Cứ từ từ, không di dâu mà vội

Về mặt thông lin miều tá để tâm giờ rỗi và mới tám giờ thôi là nhự nhau (tám giờ) Nhưng cải thông tin miéu t nay trong hai phát ngôn khác nhau về

chỉ dẫn lập luận đế và mới nên có hiệu lực lập luận khác nhau Chúng ta chỉ

có thể nói Đã tám giờ rãi với kết luận Khẩn trương lên, chậm rồi và nội Mới

28

Trang 33

tám giờ thôi với kết luận Cứ từ từ, không di dâu mà vội mà không thé lim

ngược lại

Có những nội dưng miêu tả tự nó đã có giá trị lập luận hướng về kết luận

tốt hoặc xấu, không cần những chỉ dẫn lập luận bổ xung để làm rỡ giá trị lập luận của chúng ra Thí dụ các nội dung miều ta:

X hay hứa suông

sẽ đẫn tới cáo kết luận đánh giá xấu Thậm chí những nội dung miều tả: nh

ta có nhiều bạn gái cũng được đánh giá tốt hơn nội dụng miêu tả 4nh ta có ÍF

ban gai

Wha vin Té Hoai có

ứ lã cảnh:

4Nhú lại quang cảnh phía nam Hà Đông, một khoảng trời xanh xám lạ

lùng úp chụp xuống đồng ruộng ngay sau vách ngồi nhà rách rưởi ở cuối

cải thị xã im lim dang mờ mịt hoàng hôn,

Giả định bây giờ ta viết lại như sau

Nhớ lại quang cảnh phía nam Hà Đông, mội khoảng trời xanh biếc trùm

lên trên đồng ruộng sái vách ngồi nhà đỏ màu ngói mới ở cuối cải thị xã

rộn rằng trong buôi bình mình,

29

Trang 34

Chắc chắn hai doan/câu sẽ hướng tới hai kết luận trái ngược nhau Vì ý nghĩa

đích thực của miêu tả là lập luận cho nên nhà văn nhà thơ thường lựa chọn

các chỉ tiế của cảnh, của người, việc và sử đụng những cách biểu cảm sao cho phủ hợp với kết luận dự định hướng tới Về tác phẩm Văn chiêu hẳn của

Nguyễn Du, IToài Thanh viết:

Mở đẩu ra là một cái nhìn rải bì thiết về cuộc đời Một cối đương ăm

đạm, một thể giới vắng lặng, mênh mông Toàn những màu chét: Mau bạc

của ngàn lau, màu vàng của lú rụng, tông sương sa lác đúc, Hỗng nura

khóc không thôi Và một hình ảnh dau xót sẽ tré di trỡ lại nhiều lẫn, hình

ảnh nấm xương khô lạnh buôi Cảnh tròi thu này chắc chắn không phải la

cảnh thực mà là cảnh hiện lên trong buẩn rấu, ngao ngắn của Nguyễn

Du

Hoài Thanh đã chỉ ra được sự lựa chọn chi tiết của hiện thực và cách trình

bảy chúng của Nguyễn Du để bộc lộ cho được cái tâm trạng buồn rầu ngao

ngắn của mình đối với cuộc đời Đồng thời, để chứng mình cho nhận định của

mình, Hoải Thanh cũng đã lựa chọn các chỉ tiết trong Văn chiêu hồn: Gối

đương âm đạm, vẫng lặng, mênh mông, toàn màu chết, năm xương khả đề

chứng mình cho nhận xét của minh: mở đầu bài Văn chiêu hẳn là một cải

nhìn rất bị thiết về cuộc dời (doan văn này của Hoài Thanh như sẽ biết sau

này có tính đa thanh: có lời (văn) của Nguyễn Du và lời của Hoài Thanh viết

về lời Nguyễn Du)

Trong văn bản, trong diễn ngôn, chủng ta thường nói tới tư tưởng chủ

để Tư tưởng chú để thường là kết luận tường minh hay hàm ẩn Nói khác đi,

một văn bán, một diễn ngôn (hay một doạn văn) là một lập luận dơn hay phức

hop bat kế văn bản viết (heo phong cách chức năng nào Tỉnh lập luận là sợi

chỉ dé dam bao tính mạch lạc (coherence) về nội dung bên cạnh tính liên kết

về hình thức (cohesion) của văn bản nghị luận

30

Trang 35

1.1.3 Khái quát văn bản nghị luận

1.1.3.1 Dặc trưng về thể loại văn bản nghị luận

Văn nghị luận: là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lí

luận, bao gỗm lí lẽ dẫn chứng trình bảy những ý kiến của mình để lảm rõ mét

van dé nao dé, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo

những ý kiến đó

Dặc trưng đầu tiên mẻ ta thấy của văn bản nghị luận là về ngôn ngữ sử dụng “ mang phong cách ngôn ngữ nghị luận” bởi nó luôn đòi hói tính chính

xác chặt chế, điều này phủ hợp với mục dich của diễn đạt trong văn nghị luận

nhằm lâm rõ vấn để thuộc về chân lý để thuyết phục người đọc nguời nghe

Béi vây, mà ngôn ngữ sử dụng trong văn nghị luận luôn phải phản anh rõ

chính xác quả trình tư duy, dễ dạt dến việc nhận thức chân lý Điều này doi

hỏi người viết phải sở dụng đúng và nhất quán các thuật ngữ chuyển môn, các

tử ngữ lập luận, sử dụng các kiểu câu và mở rộng thành phần câu hợp lí khi

trình bảy lí lẽ

Tuy nhiên nếu ngôn ngữ trong văn bản nghị luận chỉ dừng lại ở yêu cầu chính xác chặt chẽ thì văn bản nghị luận sẽ khônmg tránh khỏi sự khô khăn

giáo điều, thuyết giảng một bài văn hay luôn cần cả sự thuyết phục của chân

lý, lý lẽ, nhưng vẫn giàu hình ảnh vừa có lý vừa có tỉnh Sức thuyết phục

không chỉ nằm ở sức mạnh lý trí mà còn hun đúc trong những rung đông tinh

tế của can từn cũng bởi hiệu quả tác động của văn nghị luận” không chỉ lý trí

mà còn ở Linh cám, căm xúc, bởi vậy mà ngôn ngữ sử dụng trong văn nghị

luận luôn cần có sức hắp dẫn lôi cuốn giàu máu sắc biểu cảm của các từ ngữ

giảu hình lượng gợi cắm có sửc lan truyền với giọng điệu riêng Điều này

cũng cần cỏ cải tài, cải tâm thực sự của người cầm bút

Dé đạy và làm tốt một văn bản nghị luận đòi hỏi người đạy vả người viết

phải có những hiểu biết nhất định về thời sự, các vẫn để chính trị xã hội nóng

bồng, những vấn để thiết thức nỗi cộm, đang điễn ra xung quanh cuộc sống,

31

Trang 36

những kiển thức cơ bản về truyền thống lịch sử, dạo lý văn hóa, tâm lý xã hội

Có thải độ, nhận thức, đánh giá đúng din khi đứng trước các vấn đề nghị luận Cần có thái độ trung thực khi thế hiện đánh giá, ứng xử của mình Ngoài

ra một yêu cầu cần thiết để đảm bảo thành công khi viết một bai vin nghị luận là phải sử đụng thành thạo các thao tác lập luận, có phương pháp lập

luận để bài viết có sức thuyết phục, có hỗ cục chặt chế, viết Lập trung hướng,

tới luận điểm tránh lan man, tản mạn, sử dụng dẫn chứng xác đảng giàu sức

thuyết phục và người viết cũng cần có sự liên hệ với bản thân, chí ra được

hướng phát triển cũng như giải pháp cho van dé dang ban luận

1.1.3.2 Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn bằn nghị luận

a, Các thao táo lập luận trong văn bản nghị luận

Khái niệm lập luận: "là dưa ra các lý lẽ xác dáng, các bằng chứng dang

tin cậy được trinh bày một cách hợp lí nhằm dẫn đắt người đọc(người nghe)

dén một kết luận nào đó mà người viết (người nói) muốn đạt tới” “ Là sự tổ

chức các luận điểm và luận cứ; các lý lẽ va dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ các van dé, để người đọc hiểu và đồng tinh với điều mà người viết đặt ra và giải

quyết"

Để triển khai lập luận người viết phải thực hiện những thao tác lập luận

cụ thể để tổ chức phối hợp cáo lý lẽ, dẫn chứng nhằm lam cho luận cứ thuyết

minh được luận điểm, luận điểm thuyết minh được luân đẻ

Do đặc trưng của việc bản luận, làm sáng tổ một vấn dé chính trị xã hội

nảo đó cũng giống như những văn bản nghị luận nói chung, một văn bản nghị

luận cần kết hợp các thao tác nghị luận, lập luận chặt chẽ, một cách giàu sức

thuyết phục bên canh thao lac điễn dịch quy nạp các em đã được học ở bậc

THƠS§, các thao tác lập luân dược sử dụng trong văn bắn nghị luận bao gam

* Giải thích

La thao tác sử dựng lý lẽ phân tích li giải là chủ yếu, để giảng giải cắt

nghĩa cho người đọc, người nghe hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó

32

Trang 37

‘lrong văn bản nghị luận thao tác giải thích thể hiện ở việc lí giải giải

thích khái niệm những nhận xét, nhận định cần làm sáng tô cụ thể hơn là tập

trung lí giải các từ ngữ, khái niệm khó, nghĩa bóng, nghĩa đen, nghĩa hàm an,

nghĩa tường minh có khi giải thích tập trung làm rõ mối quan hệ giữa các

khái niệm

* Chứng minh

Thao tác lập luận chứng minh là thao tác chủ yếu dưng những cử liệu- dẫn chứng xác thực làm sáng tỏ một lý lẽ, ý kiến, làm sáng tỏ vẫn để xã hội đang ban

luận, thuyết phục người nghc tin tưởng vào vấn đề đang được nghị luận

Chimg minh làm sáng tỏ cho những thao tác giải thích trước đó, chứng

minh cho những luận điểm, luận cử trong bài Điều này đỏi hỏi người viết cần đưa ra những dẫn chứng xác dáng, tiêu biểu toàn diện Cần sắp xếp dẫn chứng,

theo hệ thống mach lac, chặt chế theo các mạch vấn để, theo trình tự chứng

minh được dịnh nghĩa: “là thao tác logic dùng để lập luận tính chân thực của

phán đoán nào đó nhờ các phán đoán chân thực khác có mối Hen hệ hữu cơ

với phán đoán ấy" Cấu trúc của chứng minh gồm ba thành phần liên quan

chặt chế với nhau: (I)luân đề; (2)luận cứ, (3)lâp luận luận dễ chính là các

luận điểm khoa học mả ta cần chứng minh, làm rõ Nó trả lời câu hỏi chứng

minh cái gì? Còn luận cứ lại trả lời cho câu hổi dung cái gì để chứng minh?

Nó có chức năng là tiền để logic của chứng mình Lập luận của chứng minh là mối lien hệ logic giữa luận cử và luận để Như vậy, chứng minh xét cho cùng

“ 4 một phương pháp sử dụng những lí do đầy di va su thực đáng tin cậy để

chứng minh các luận điểm”

Ô văn bản nghị luận, để trình bảy một cách sang rỡ thuyết phục về Lư

tưởng, người viết luôn phái tìm những cách thức lập luận khác nhau dễ sao

cho sự nghị luận vừa chặt chế, đanh thép lạt vừa sâu sắc, toàn điện vi vậy

cách chứng mình Irực tiến luôn được kết hợp với chứng mình giản liếp die

biệt là phương pháp phân chứng hoặc phương pháp loại trừ nó gợi mở nhiều

33

Trang 38

dạng thức lập luận cụ thể hơn nữa như trong hai văn bán nghị luận trong sách

giáo khao mà học sinh được tim hiểu: “ Bình ngô đại cáo "(ngữ văn 10 tập

mot) và “Tuyên ngôn độc lập”(ngữ văn 12 tập mộU)

* Phân tích

Là việc chia tách vẫn dé thành nhiễu bộ phận, yếu tổ nhỏ để xem xét đi

sâu một cách kỹ lưỡng từng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng

Mục tiêu của phân tích nhằm thấy được giá trị ỳ nghĩa của vấn để, mỗi

Ấn để đỏ, giúp người

liên hệ giữa hình thức bên ngoài và bãn chất bên trong cũa

đọc nhận thức dầy đủ, sâu sắc hơn về vẫn dễ xã hôi đang được bản luận

* Bình luận

Bình luận là bàn bạc, đánh giá vấn đề, sự việc hiện tượng chỉ ra sự đúng

sai, phải trái, tốt xấu, lợi hại để nhận thức một cách dúng dẫn về dỗi tượng Từ dó,

có cách ứng xử phủ hợp, có phương châm hành động đúng đẫn Đây là thao tác

tổng hợp bởi nó bao hảm cả cổng việc giải thích lẫn chứng minh Nó đỏi hỏi

người viết phải có vên hiểu biết rộng lớn và tư duy độc lập cao

Khi thực hiện thao tác bình luận, người tạo lập văn bản cần phải inh

hoạt, tránh cách nhìn phiến diện một chiều Người viết cũng phải trang bị cho

mỉnh vốn kiến thức phong phú về đời sống, hiểu biết xã hội, về các tư tưởng

trong một văn bản nghị luận người ta thường kết hợp cá 3 cách thức với nhau

Bác bố “là thao tác logic xác lập tính giả đối hoặc vô căn cử của luận

để được nêu ra” Khi để cập dến phương pháp phần bác, người ta thường lập

trung vào ba cách bác bỏ: (1) bác bỏ luận để, (2) bác bỏ luận cứ, (3) bác bổ

34

Trang 39

cách lập luận để bác bổ luận để, người ta tiến hành bác bỏ các dữ kiện; hoặc

chứng mình tính giả đối của hệ quả rút ra từ luận đề Bác bỏ luận cứ chủ yếu là

vạch ra Lính giả dối, nghỉ ngờ của các luận cứ còn bác bỏ luận cứ chủ yếu là chỉ

ra tính “phi logic” giữa các luận cứ và luận để hoặc chỉ ra mâu thuẫn, không vững chắc của lập luận các phương pháp phản bác do vậy cũng rất có giả trị ứng dụng trong việc tạo lập các bài tập thích hợp, luyện cho hcoj sinh các cách bác

bổ cụ thé, tạo ra sự lập luận chặt chế trong các văn bản nghị luận

Tuy nhiên, khi ứng dụng chứng mình va bác bö vào luyện lập luận,

ngoài “kỹ thuật” tiến hành, phải piúp học sinh biết them các quy tắc và “cánh

giác” với các nguy co mắc sai lầm trong chứng minh và bác bỏ đối với luận

đề thì có các quy tắc: (1) luận dễ phái xác dịnh, (2) luận đề phãi giữ nguyên trong quá trình lập luận dối với luận cử thì có các quy tắc: (1) luận cử khẳng,

định luận để phải chân thực, không mâu thuẫn,(2) luận cứ phải là cơ sở đầy đủ

để khẳng định luận đề;(3) luận cử phải là phán doán chân thựcvv đối với lập

Tuận thỉ các quy tắc của nó chính lả tuân thủ các quy tic logic của những cách suy luận điển dịch, quy nạp, tương tự từ những cơ sở trên chúng ta suy nghĩ dấn các bài tập luyện tập cho học sinh: chứng minh, phản bác, phát hiện những,

sai lâm, sửa chữa lỗi về luận đề, luận cứ, lập luanv.v để cho học sinh làm quen

với những thao tác cần thiết nhật khi tìm hiểu văn bản nghị luận

* 8ø sánh

Thao tác lập luận so sánh hướng đến mục đích chỉ rỡ sự giống nhau và

khác nhau, điểm tương đằng vả khác biệt, chưng và riêng từ đỏ má thấy rõ

đặc điểm có giá trị của van dé nghị luận

b, AMỗi quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn bản nghị luận

Một văn bản nghị luận có thành công hay không thi cần có sự kết hợp

một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn các thao tác lập luận Mỗi thao tác lập luận

có vai trò, vị trí, đặc điểm và ưu thể đặc biệt riêng va để triển khai dược rõ nét

toàn diện trọn vẹn một cách lý tưởng ¥ tưởng của người viết, không thé so

35

Trang 40

sánh mức độ quan trọng nhất piữa các thao tác bởi một văn bản nghị luận rất

Ít khí sử đụng riêng lê một thao tác lập luận mà thường là sử dụng phối hợp

một lỗ hợp các thao lắc lập luận khác nhau

"Tuy nhiên, khi tạo một văn bản nghị luân không phải lúc nào cũng huy

động đầy đú các thao tác Tủy thuộc vào vẫn để, vào đối tượng tiếp nhận mà

người viết có thể lựa chọn một số thao tác nhất định Bởi thế trong một văn

bản nghị luận sẽ có một hoắc hai thao tác chính có vai trò nòng cốt tạo nên sự

mạch lập luận của vấn đề đưa ra nghị luận và những thao tác phối hợp giúp

cho lập luận dược ssinh dộng, có chiều sâu

Mỗi thao tác lập luận đều ứng với mục tiêu cụ thể giải thích để làm rõ

giới hạn khái niệm, phân tích để di sâu vào những khía cạnh cụ thể, chứng minh và sơ sánh dễ lắm sáng tỏ vấn dé, bác bỏ làm nỗi bật sự dúng din của

vấn đề, bình luận để đánh giá nâng cao và mớ rộng vấn đề Do đó việc vân

dụng một cách linh hoạt các thao tác lập luận không chỉ phục vụ đắc lực cho việc tê chức một văn bản nghị luận thành công giàu sức thuyết phục mà còn

giúp vấn đề nghị luận Ấy được nhìn nhận một cách đầy đủ, sáng rõ sâu sắc

hơn, thuyết phục hơn va hip dẫn người dọc người nghe

Lý thuyết lập luận trên các bình điện : lôgic hạc, Ngôn ngữ học, là cơ sở

1í luận chủ yếu nhất làm cơ sở khoa học định hướng cho các giải pháp về nội dung hình thức vả tổ chức luyên cách lập luân qua hê thẳng các văn bản nghị

luận trong chương trình TIIPT Tuy nhiên, khi xây dựng hệ thống luyện tập, chúng tôi cũng phải đựa trên cả những căn cứ khác được gợi ý từ những trì thức của lý luận dạy học ; lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ; tâm lí học nhận thức đã nỏi khái quái ở trong luận án này Mặc dủ vậy, một trong những cơ

sở cho các giải pháp luyện tập của luận án không thể bö qua dó chính là thực tiễn đạy học vận dụng lý thuyết lập luận, về năng lực vận dụng lập luận của học sinh PTTH

36

Ngày đăng: 26/05/2025, 18:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (1991), “Trấn thuật một hình thức phát triển lời nói của học sinh”, Nghiên cứu giáo đục (3) tr 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trấn thuật một hình thức phát triển lời nói của học sinh
Tác giả: Lê A
Năm: 1991
2. Alecxeep, M. Onhisuev, V. Crugliac, M. Zabotin, V. Veexcu (1976), Phat triển tư duy hoc sink, NXB Gido dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phat triển tư duy hoc sink
Tác giả: Alecxeep, M., Onhisuev, V., Crugliac, M., Zabotin, V., Veexcu
Nhà XB: NXB Gido dục
Năm: 1976
3. Lé Thai At (1964), Kỹ thuật hành văn, Viện đại học Vạn Hạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật hành văn
Tác giả: Lé Thai At
Nhà XB: Viện đại học Vạn Hạnh
Năm: 1964
4. Diệp Quang Ban (1989), “Tính chất hai mặt của liên kết lâg¡c”, Thông báo khoa học, ĐHSP Hà Nội l, Hả Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo khoa học, ĐHSP Hà Nội
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1989
6. Diệp Quang Ban (1998), ăn bản và liên kết trong Tiếng Liệt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn bản và liên kết trong Tiếng Liệt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
8. Nguyễn Huy Cần (1981) “Bước đầu tim hiểu cách tổ chức sắp xếp và chức năng của đoạn văn trong một số bài bảo của Hỗ Chủ tịch”, Tĩoc tậpphong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hề Chí Minh, tr 395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tĩoc tậpphong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hề Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Huy Cần
Năm: 1981
9. Đỗ Hữu Châu (1982), “Ngữ ngiữu học hệ thông và ngữ nghĩa học hoạt động”, Ngôn ngữ (3), tr 18-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ ngiữu học hệ thông và ngữ nghĩa học hoạt động
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Ngôn ngữ
Năm: 1982
10. Đỗ IIữu Châu (1983), “Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ ngiĩa học hoạt động", Ngôn ngữ (1), tr 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ ngiĩa học hoạt động
Tác giả: Đỗ IIữu Châu
Năm: 1983
11. Dễ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngĩ học, tập II, Ngữ dụng học, NT Giáo đục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngĩ học, tập II, Ngữ dụng học
Tác giả: Dễ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NT Giáo đục
Năm: 1993
12.Đễ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Củ Đình Tú (1994), Tải liệu giáo khoa thí điểm Tiéng Viét 12, ban KIIXII, NXB Gido due, 114 N6i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tải liệu giáo khoa thí điểm Tiếng Việt 12
Tác giả: Đễ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Củ Đình Tú
Nhà XB: NXB Gido Due
Năm: 1994
13. Nguyễn Văn Chính Nguyễn Thành Chương, Nguyễn Gia Phong (1998), Dan bài Tập làm văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dan bài Tập làm văn 11
Tác giả: Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Thành Chương, Nguyễn Gia Phong
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. Hoang Ching (1983), Phương pháp thông kê toán học trong khoa học giáo dục, NXĐ Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thông kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoang Ching
Nhà XB: NXĐ Giáo dục
Năm: 1983
15. Nguyễn Đức Dân (1976), “LÓgic và sắc thái lên từ Tiếng Việt ,Ngôn ngữ (4), tr 15-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: LÓgic và sắc thái lên từ Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1976
16. Nguyễn. Due Dân (1983), “?Òhủ định và bác bỏ”, Ngôn ngữ (1), tr 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn. Due Dân
Năm: 1983
17. Nguyễn Đức Dân (1985), “Mới số phương thức thể hiện ý huyệt dối”, Ngôn ngữ (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1985
18. Nguyễn Đức Dân (1987), Logic — Ngit nghia — Cú pháp, NXB ĐH và TIICN, Hả Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic — Ngit nghia — Cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB ĐH và TIICN
Năm: 1987
19.Nguyễn Đức Dân (1998), Nei dung hoc, NXB Gido đục, Là Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nei dung hoc
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Gido đục
Năm: 1998
20.1rương Dĩnh (1974), Đề cương bài giảng Phương pháp dạy Tiếng Việt ở trường phố thông, trường ĐHSP Huê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Phương pháp dạy Tiếng Việt ở trường phố thông
Tác giả: Dương Dĩnh
Nhà XB: Trường ĐHSP Huế
Năm: 1974
21.Triệu Truyền Đống (2000), Phương pháp biện luận, Nguyễn Quốc Siêu tiên dich, NXB Gido due, 114 N6i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp biện luận
Tác giả: Triệu Truyền Đống
Nhà XB: NXB Gido
Năm: 2000
22. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ théo ngit phap chite nang, quyén I, X8 KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ théo ngit phap chite nang
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: KHXH
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  nào? - Luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản nghị luận Ở trung học phổ thông
nh ảnh nào? (Trang 85)
Hình  thức  nghệ  thuật  sinh  động  đa  dang - Luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản nghị luận Ở trung học phổ thông
nh thức nghệ thuật sinh động đa dang (Trang 93)
Bảng  kết  quả  lớp  |  Điểm  dưới  PB  |  Điểm  TH  Điểm  khá  giới - Luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản nghị luận Ở trung học phổ thông
ng kết quả lớp | Điểm dưới PB | Điểm TH Điểm khá giới (Trang 116)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm