02050007522 tomtat Ảnh hưởng của giáo lý nhân quả phật giáo trong Đời sống văn hóa tinh thần người dân thành phố Đà lạt 02050007522 tomtat Ảnh hưởng của giáo lý nhân quả phật giáo trong Đời sống văn hóa tinh thần người dân thành phố Đà lạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hồng Yến
Phản biện 1: PGS.TS Đỗ Lan Hiền
Phản biện 2: TS Lê Trung Kiên
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp tại: Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Ngày 22 tháng 12 năm 2023
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3A PHẦN DẪN NHẬP
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm bước vào sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, trở thành nước đang phát triển, nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, văn hóa, xã hội có bước phát triển mới, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên Tuy nhiên, mặt trái của quá trình phát triển nhanh và kinh tế thị trường, cũng đã làm nảy sinh những bất cập Đặc biệt là, sự lệch chuẩn đạo đức ở một bộ phận người dân, trong giới trẻ, cán bộ, đảng viên và nhất là một số cán bộ giữ vai trò quản lý đã không thể đứng vững trước sức mạnh của đồng tiền, tham
ô, tham nhũng, như báo chí đưa tin gần đây Thực trạng trên đã chỉ
ra, để xã hội phát triển bền vững, bên cạnh sự phát triển về kinh tế, cần xây dựng những con người có nhân cách đạo đức, đặc biệt, phải xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, vững chắc
Cũng như các tôn giáo khác, Phật giáo không thể đứng ngoài
sự phát triển của đất nước, đã và đang nhập thế, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước Với thế mạnh là tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu đời, có sức ảnh hưởng và lan tỏa lớn, những giá trị đạo đức Phật giáo, trong đó, giáo lý Nhân Quả sẽ có đóng góp không nhỏ vào đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay
Giáo lý Nhân Quả Phật giáo đã và đang tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của mỗi con người Đây là giáo lý về sự báo ứng từ những suy nghĩ, lời nói, việc làm của con người đối với đời sống của chính mình Việc nghiên cứu giáo lý Nhân - Quả và phổ biến sâu rộng hơn nữa ở các chùa và xã hội sẽ góp phần hạn chế thực trạng lệch chuẩn về đạo đức, tệ tham ô, tham nhũng, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần dân tộc lành mạnh, trong sạch, vững mạnh Đặc biệt, khi thấm nhuần, Giáo lý Nhân Quả có sức mạnh điều chỉnh hành
vi con người theo hướng Thiện, phù hợp với đạo đức truyền thống của người Việt Nam Hơn nữa, việc nghiên cứu giáo lý Nhân quả của Phật giáo cũng nhằm đề cao các giá trị văn hóa của Phật giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 4Với những lý do nêu trên, là một học viên (đồng thời là nhà
tu hành Phật giáo), tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ảnh hưởng của giáo lý
Nhân Quả Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người dân thành phố Đà Lạt” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những kỷ nguyên đầu Tây lịch cho đến nay, những tư tưởng, triết lý Phật giáo đã và đang ảnh hưởng rất lớn đối với đất nước và con người Việt Nam trên nhiều phương diện khác nhau Tiêu biểu nhất là giáo lý Nhân Quả Nền giáo lý nhân bản ấy đã trở thành nếp sống, tưới mát tâm hồn người dân Việt Nam
Đề cập đến các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, trước hết cần xem xét một số lĩnh vực sau:
1 Những cuốn sách, công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam nói chung và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam nói riêng
Tác giả Nguyễn Hồng Dương (2008) với bài viết: “Nghiên
cứu và ứng dụng các giá trị Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay”
Ngô Thị Lan Anh (2008) đã có bài viết “Ảnh hưởng chữ
“tâm” trong Phật giáo đối với văn hóa tinh thần của người Việt nam
hiện nay
Tác giả Đặng Văn Bài (2008) trong bài viết: “Nhận diện để
phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam
Tác giả Ngô Văn Minh (2009) với bài viết: “Phát huy giá trị
nhân văn Phật giáo trong xây dựng xã hội mới hiện nay”
Nguyễn Khắc Đức (2008) với bài viết: “Vai trò của Phật
giáo ở VN hiện nay”
Tác giả Trần Văn Giàu (1986) với bài viết: “Đạo Phật và một số
vấn đề của lịch sử tư tưởng Việt Nam”, (trong cuốn sách Mấy vấn đề
về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam)
Nguyễn Tài Thư (1986) đã có bài viết: “Phật giáo và thế giới
quan người Việt Nam trong lịch sử”, (trong cuốn sách Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam)
Trang 5Trên đây là một số công trình, bài viết tiêu biểu đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam nói chung và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam nói riêng
2 Những công trình viết về giáo lý Nhân Quả Phật giáo và ảnh hưởng của giáo lý
Trước hết, là các công trình của các nhà tu hành Phật giáo
viết về giáo lý nhân quả như cuốn sách Nhân quả của Ấn Quang đại
sư, năm 2010 (Như Hòa dịch); Luận về nhân quả của tác giả Thích Chơn Quang, năm 2000; Tìm hiểu nhân quả của tác giả Thích Hoằng Trí, 2020; và nhiều bài viết khác đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học như: “Quan niệm về nhân quả trong Triết học Phật giáo” của
Nguyễn Đức Điện, 2021; “Nhân quả” của Nguyễn Tiến Nghị, năm
2016
Tiếp theo là những bài viết, công trình nghiên cứu trực tiếp ảnh hưởng của giáo lý Nhân Quả Phật giáo đối với đời sống văn hóa dân tộc
như công trình của Thích Nhuận Ân (2012), Ảnh hưởng của giáo lý
Nhân Quả trong đời sống văn hóa dân tộc; cuốn sách Luật nhân quả trong Phật giáo đối với đời sống tinh thần người Hà Nội ngày nay do
tác giả Tạ Thị Ngọc Lan (chủ biên, 2019)
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến Luận văn cho thấy, từ nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau (Sử học, Triết học, Phật học…), có nhiều công trình nghiên cứu, cuốn sách, bài viết đề cập đến nội dung giáo lý Nhân Quả, ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa Việt Nam, đến đời sống tinh thần của người Việt Nam… từ các tác giả Phật gia và thế gia
Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp đến chủ đề ảnh hưởng của giáo lý Nhân Quả Phật giáo trong đời sống văn hóa dân tộc hoặc đến đời sống tinh thần của người dân Hà Nội Tuy nhiên, các công trình vừa nêu trên nghiên cứu chưa rõ nét và chưa
có hệ thống về chủ đề này
Chính vì vậy, tác giả Luận văn sẽ nghiên cứu để bổ sung những khiếm khuyết nêu trên Dưới góc độ của Tôn giáo học, Nhân học Tôn giáo, tác giả Luận văn sẽ nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về giáo lý Nhân Quả và tìm hiểu ảnh hưởng của giáo lý
Trang 6này đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở thành phố Đà Lạt Trên cơ sở đó, đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy hơn nữa các giá trị của giáo lý Nhân Quả tại thành phố Đà Lạt
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Có thể nói, giáo lý Nhân Quả rất gần gũi với mỗi người Việt Nam, ăn sâu vào hệ tư tưởng của mọi tầng lớp nhân dân Giáo lý Nhân Quả không chỉ ảnh hưởng trên lý thuyết thông qua những bài giảng, qua kinh sách mà còn được thể hiện rõ nét qua cách sống, qua ý thức thực hành một cách tự nhiên, trở thành một bản năng vốn
có của con người
Việc nghiên cứu luận văn này nhằm những mục đích sau:
- Tìm hiểu giáo lý Nhân Quả của Phật giáo, đồng thời chỉ ra những giá trị cốt lõi của giáo lý nền tảng cơ bản của hệ thống luân lý đạo đức Phật giáo
- Chỉ ra ảnh hưởng của giáo lý Nhân quả của Phật giáo đối với văn hóa tinh thần của người dân thành phố Đà Lạt hiện nay
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy hơn nữa giá trị giáo lý Nhân Quả Phật giáo trong đời sống tinh thần người Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là: Ảnh hưởng của giáo lý Nhân Quả của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người dân thành phố Đà Lạt
Trang 75 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của các quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo
- Luận văn sử dụng lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong Luận văn này, người viết sử dụng người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
⁕Phương pháp so sánh lịch sử - loại hình
Người viết sử dụng phương pháp này để nghiên cứu so sánh
sự ảnh hưởng của giáo lý Nhân quả Phật giáo trong văn hóa tinh thần người dân nói chung và người dân tại thành phố Đà Lạt nói riêng Có thể nói, ảnh hưởng này dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đặt ra tư tưởng
- giáo lý Nhân Quả Phật giáo vào đời sống xã hội một cách sâu sắc nhất
⁕Phương pháp thống kê - hệ thống
Phương pháp này được sử dụng nhằm khảo sát tỷ lệ sử dụng
tư tưởng - giáo lý Nhân quả Phật giáo trong đời sống, nhằm đánh giá
vị trí ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa tinh thần người dân nói chung và người dân tại thành phố Đà Lạt nói riêng
Qua đó, làm rõ hơn Phật giáo với ảnh hưởng mạnh mẽ và tác động sâu sắc của mình ở khía cạnh tích cực nhất, đã có mặt trong văn hóa tinh thần của người dân, hòa quyện với văn hoá dân tộc, góp phần tăng giá trị tư tưởng văn hoá tinh thần dân tộc, một phần nào đó bồi đắp cho nền văn hoá dân tộc được trường tồn
⁕Phương pháp phân tích đối chiếu
Đây là phương pháp được sử dụng nhằm tìm hiểu, phát hiện những đặc điểm của Phật giáo trong đời sống, qua đó tìm ra sự dung hợp - ẩn dụ…, của tư tưởng giáo lý Phật giáo đối với con người Ngoài ra, trong luận văn, người viết còn vận dụng những kiến thức và các thể loại khác để nghiên cứu vấn đề Trong số các phương pháp trên, phương pháp phân tích đối chiếu có một tầm quan trọng trong quá trình nghiên cứu của luận văn
Trang 8*Phương pháp điền dã dân tộc học/nhân học với các công cụ: quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởng giáo lý Nhân quả Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần người dân trên thực tế tại thành phố Đà Lạt và tập trung nghiên cứu ở ngôi chùa nơi tác giả đang tu hành
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn tìm hiểu ảnh hưởng của giáo lý Nhân Quả và ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân tại thành phố Đà Lạt Đây cũng là sự giao thoa, tiếp biến văn hóa của giáo lý Phật giáo với văn hóa truyền thống của người Việt Nam, sau
đó lan tỏa những giá trị tốt đẹp ra cộng đồng, xã hội, gia đình, dòng
7.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát huy hơn nữa
sự ứng dụng giáo lý Nhân Quả của Phật giáo vào cuộc sống xã hội và môi trường
Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, học sinh, sinh viên và có thể làm tài liệu tham khảo rất hữu ích trong công tác nghiên cứu và giảng dạy đối với các đạo tràng tu tập của
Phật tử
8 Cấu trúc của bài viết
Luận Văn được chia thành ba phần:
A Phần Dẫn Nhập
B Phần Nội Dung
Trang 9C Phần Kết Luận
Trong phần nội dung của luận văn được chia làm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài luận văn
Chương 2: Ảnh hưởng của giáo lý nhân quả của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người dân thành phố Đà Lạt
Chương 3: Một số vấn đề đặt ra, khuyến nghị nhằm phát huy giáo lý Nhân Quả trong đời sống xã hội ở thành phố Đà Lạt
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Đã có nhiều định nghĩa về văn hóa Các tác giả khác nhau thường hiểu khái niệm văn hóa theo những nội dung khác nhau tùy theo hướng tiếp cận của từng người, từng ngành khoa học Sau đây là một số định nghĩa về văn hóa:
- “Văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm do con người sáng tạo ra, hữu hình và vô hình, trong quá trình con người phải chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện bản thân mình Tất cả những gì thuộc thế giới thứ hai, do con người sáng tạo ra mà không phải do thiên nhiên tự có, đều thuộc phạm vi văn hóa” (Đình Quang, 1999, tr 64)
1.1.2 Văn hóa tinh thần
Khi nghiên cứu về văn hóa, các nhà khoa học thường chia, văn hóa thành ba lĩnh vực:
- Văn hóa vật chất (material culture)
Văn hóa vật chất là tổng hòa tất cả sản phẩm vật chất, hữu hình do lao động sáng tạo của con người tạo nên trong một xã hội nhất định Có thể lấy ví dụ như: nhà ở, trang phục, cơ sở tôn giáo, công cụ sản xuất, phương tiện di chuyển…
- Văn hóa tinh thần (spiritual culture)
Trang 10Văn hóa tinh thần hội tụ những khía cạnh thuộc về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán (liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội…), các loại hình sân khấu, văn học dân gian, nghệ thuật, lễ hội…
- Văn hóa xã hội (social culture)
Văn hóa xã hội bao gồm những ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội, các quy tác về xã hội, hôn lễ, tang lễ, hội đoàn, tổ chức hôn nhân gia đình, các thiết chế văn hóa, xã hội, đời sống pháp luật,
tổ chức chính trị…
Tổ chức UNESCO chia văn hóa thành hai loại chính:
- Văn hóa vật thể gồm những yếu tố vật chất trong hiện vật văn hóa như: đình, chùa, miếu, nhà cửa, trang phục, ẩm thực…
- Văn hóa phi vật thể gồm những yếu tố tinh thần trong văn hóa như: âm nhạc, múa, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi lễ, bí quyết của nghệ nhân trong chế tác nghề thủ công (Trần Quốc Vượng, Cb, 2000,
tr 24)
Như vậy, từ các định nghĩa nêu trên cho thấy, nội hàm của văn hóa tinh thần rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực cụ thể như: tôn giáo, tín ngưỡng, đạo đức, tư tưởng, phong tục tập quán, các loại hình sân khấu, văn học dân gian, nghệ thuật, lễ hội, tri thức dân gian, kinh nghiệm sản xuất …
1.1.3 Đời sống văn hóa tinh thần
- PGS TS Trần Đức Ngôn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đã đưa ra và phân biệt hai khái niệm: (1) Đời sống tinh thần và (2) Đời sống văn hóa tinh thần như sau:
Theo ông, hai khái niệm trên rất gần nhau, tuy nhiên, chúng
không phải là đồng nhất Khái niệm “đời sống tinh thần” rộng hơn khái niệm “đời sống văn hóa tinh thần” Đời sống tinh thần là toàn
bộ những biểu hiện tâm lý của con người, khẳng định con người là một thực thể sống trong những mối tương quan xã hội nhất định Toàn bộ nhận thức, tư tưởng, tình cảm là đời sống tinh thần nhưng không phải tất cả trong đó đều là đời sống văn hóa tinh thần Chỉ khi nào những nhận thức, tư tưởng và tình cảm này hướng tới các giá trị
và chuẩn mực thì khi đó chúng mới trở thành đời sống văn hóa tinh thần Việc hướng tới các giá trị và chuẩn mực thường chiếm vị trí
Trang 11quan trọng, cốt lõi trong đời sống tinh thần của con người (Trần Đức Ngôn, 2017, tr 7-8)
1.2 Khái quát giáo lý Nhân Quả
1.2.1 Khái niệm nhân quả theo quan niệm khoa học
Theo quan niệm của triết học Mác-Lênin: “nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó
Kết quả là một phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra” (Tô Thị Phương Dung, 2023)
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ qua lại như sau:
1.2.2 Khái niệm nhân quả theo quan niệm của Công Giáo
Một người theo đạo Công giáo ít nhiều tin vào thuyết nghiệp quả Chẳng hạn, người ta thường tóm lược giáo lý Công giáo trong lời dạy: làm lành lánh dữ Làm lành để được hưởng phúc Thiên Đàng, lánh dữ để khỏi phải sa hoả ngục đời đời
Thánh Phao-lô thì dạy rằng: “Ai gieo giống nào, thì sẽ gặt giống đó” Giuse Cao Gia An, 2021, tr.17) Tuy nhiên, niềm tin Công Giáo và niềm thuyết nghiệp quả có những khác biệt rất tận căn
1.2.3 Giáo lý Nhân Quả theo quan niệm của Phật giáo
Theo quan niệm của Phật giáo, khái niệm Nhân Quả được hiểu như sau:
“Nhân Quả theo tiếng Phạn: Hetu- phala, nguyên nhân và kết quả, cũng chỉ cho luật Nhân Quả Trong hệ thống giáo nghĩa của Phật giáo, đây là luận cứ cơ bản để thuyết minh tất cả mối liên hệ trong thế giới Trong sự hình thành của tất cả các pháp thì nhân là năng sanh, còn quả là sở sanh Tức pháp nào có khả năng sanh ra kết quả
là nhân, còn pháp nào từ nhân sanh ra là quả.” (Thích Minh Cảnh,
2004, tr 3123 - 4019) Hay nói cách khác, nhân là mầm, là hạt quả là trái, nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành cuả năng lực
ấy Trong thế giới tương quan, tương duyên của sự vật, hiện tượng, mỗi hiện hữu điều có nguyên nhân của nó Nguyên nhân sự có mặt
Trang 12các pháp gọi là nhân, và sự hiện hữu các pháp gọi là quả Và do nhân
mà có quả, quả lại làm nhân, nhân nào quả nấy
1.3 Một số nhận thức về giáo lý Nhân quả
Luật Nhân quả là một định luật phổ quát, tất yếu đã chi phối
và tác động ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy như: giữa động vật và thực vật, giữa cơ thể sống và môi trường, giữa các cá nhân, giữa các nhóm người khác nhau hay các quốc gia và giữa các hình thức của nhận thức… Mối liên hệ nhân quả
ấy là khách quan, là sự tất yếu của các pháp hữu vi, của thế giới hiện tượng đang nằm trong vòng tương đối và bị chi phối bởi chấp thủ và tham ái Mọi sự vật trên thế gian đều phải chịu sự chi phối của luật Nhân quả Vạn vật đều giả ảo, vô thường, nhưng luật nhân quả lại là một chân lý vĩnh cửu và bất biến
1.4 Giá trị cốt lõi của Giáo lý Nhân Quả
Giáo lý Nhân Quả đã xóa tan mọi quan niệm về định mệnh
cố hữu, tư tưởng thần quyền, mê tính dị đoan đã ăn sâu trong tiềm thức của nhân loại
Phật giáo không nhìn nhận có một linh hồn trường cửu được tạo nên một cách ngẩu nhiên và độc đoán, cũng không chủ trương có
sự thưởng phạt do một đấng thần linh toàn tri, toàn năng tối thượng nào ban bố cho những linh hồn đã làm việc lành hay gây điều ác
Chính sự hiểu biết về luật Nhân quả, giúp con người bình tĩnh sáng suốt, biết nhận lấy trách nhiệm của mình, từ đó mỗi người luôn thận trọng trong từng cử chỉ, lời ăn tiếng nói và trong suy nghĩ của mình Đồng thời luật Nhân Quả giúp mọi người có cái nhìn khách quan về cuộc đời và tạo nền tảng cho một nền đạo đức nhân bản, luôn mở rộng tình thương, tha thứ và thông cảm đối với mọi người xung quanh dựa trên cơ sở chúng ta giúp đỡ họ để họ nhận ra lỗi lầm và trở thành người tốt
1.5 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội thành phố Đà Lạt
1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang, cách
Tp Hồ chí Minh 293 km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội 1.481 km
về phía Bắc, cách T.p Nha Trang 205 km Về phía Bắc Đà Lạt giáp
Trang 13với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với huyện Lâm Hà và Đức Trọng Diện tích tự nhiên: 424 km2
Dân số của Thành phố gần 258.014 người (Chi cục thống kê dân số thành phố Đà Lạt, 2022)
Về địa hình, bề mặt địa hình và đại khối Đà Lạt đã có từ lâu đời, cách ngày nay hàng trăm triệu năm, nhưng so với niên đại địa chất thì nó tương đối trẻ Địa hình Đà Lạt thuộc dạng sơn nguyên với
độ cao trung bình 1.520 m so với mực nước biển
Về thổ nhưỡng thành phố Đà Lạt, có diện tích đất đai bỏ hoang
và rừng chiếm diện tích khá lớn nên diện tích đất nông nghiệp chỉ khoảng 12 nghìn ha, trong đó, diện tích nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn là 5.493 ha (chiếm 53./ trên tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp)
Về khí hậu, Đà Lạt được mệnh danh là “Xứ sở sương mù” thời tiết mát mẻ, nhiệt độ trung bình năm khoảng 180C
Về thủy văn, các sông suối trên cao nguyên do chảy qua nhiều loại đá khác nhau nên lòng sông có nhiều ghềnh thác
Về sinh vật, do đặc điểm về khí hậu và thổ nhưỡng nên sự phân bố thảm thực vật tự nhiên tại Đà Lạt rất phong phú và đa dạng
với nhiều kiểu rừng khác nhau
1.5.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội
Thành phố Đà Lạt là trung tâm kinh tế hành chính – xã hội tỉnh Lâm Đồng bao gồm 16 đơn vị hành chính: 12 phường và 4 xã (Xuân thọ, Xuân Trường, Trạm Hành, Tà Nung)
Vào những năm đầu thế kỷ XX, Đà Lạt chỉ có khoảng hơn
100 người Việt định cư tại đây và 30 năm sau (1923) dân số Đà Lạt lên đến 1500, 50 năm sau (1943) đạt 20.000 người
Dân số Đà Lạt từ kết quả Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2022 là 237.565 người Dân số Đà Lạt từ kết quả Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2022 là 237.565 người Đây là đô thị miền núi đông dân đứng thứ hai cả nước, chỉ sau thành phố Buôn
Ma Thuột (Chi cục thống kê Dân số thành phố Đà Lạt, 2022) Nguồn gốc dân cư Đà Lạt phong phú, đa dạng