02050007541 tomtat sự dung hợp giữa phật giáo và tín ngưỡng bản Địa qua khảo cứu tại chùa khúc thủy, huyện thanh oai, thành phố hà nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÀNH LONG
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA QUA KHẢO CỨU TẠI CHÙA KHÚC THỦY, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI - 2024
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÀNH LONG
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA QUA KHẢO CỨU TẠI CHÙA KHÚC THỦY, HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 8229009.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Liên
HÀ NỘI - 2024
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ, nhiều công trình nghiên cứu đồng tình với quan điểm Phật giáo ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên Với phương châm:
“Tùy duyên phương tiện”, Phật giáo trên con đường truyền bá và phát triển của mình đã hình thành nên tính bảo tồn, kế thừa, giao thoa đối với các tôn giáo bản địa của các vùng đất Phật giáo đi qua
Theo tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo
sử luận thì “Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu
kỷ nguyên Tây lịch Tài liệu cho biết vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn vinh, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên”
Trước khi Phật giáo vào Việt Nam, người Việt đã có
hệ thống tín ngưỡng bản địa phong phú và đa dạng bao gồm các hình thức: thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng Làng, thờ vua Hùng, thờ các anh hùng có công với nước, thờ mẫu … thờ thần cây, thần đá, thần sông, thần suối,… Phật giáo dung hợp cùng tín ngưỡng bản địa Việt Nam, điều đó không chỉ biểu hiện về mặt hình thức mà cả
Trang 4về mặt nội dung Một số người dân Việt khi bắt đầu thực hành tín ngưỡng bản địa thường bắt đầu bằng câu: “Nam
Mô A Di Đà Phật” Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa đã bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển Phật giáo hòa quyện cùng tín ngưỡng bản địa làm cho Phật giáo gắn bó hơn với văn hóa Việt Nam; tín ngưỡng bản địa hòa quyện cùng Phật giáo để bảo tồn, lưu trữ các giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới chính sách, hội nhập quốc tế,… đặt ra cho Phật giáo, tín ngưỡng truyền thống không ít những thách thức như hiện tượng
mê tín dị đoan, thị trường hóa tôn giáo, tín ngưỡng, làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc,… Do vậy, nhìn nhận lại
sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa qua nghiên cứu tại chùa Khúc Thủy sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc khuyến nghị các giải pháp để bảo tồn các giá trị tôn giáo, văn hóa từ sự dung hợp trên
Chùa Khúc Thủy, tên tự là Chùa Thắng Nghiêm, nằm trong quần thể thánh tích làng Khúc Thuỷ, mang đậm bản sắc văn hoá tâm linh Phật giáo và dân tộc, danh thắng nổi tiếng như chùa Linh Quang, chùa Thắng Nghiêm, chúc Phúc Khê; đình, đền, miếu, văn chỉ, nhà thờ…
Trang 5Trên đây là những lý do tôi lựa chọn đề tài “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa qua khảo cứu tại chùa Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, thành phố
Hà Nội” để thực hiện luận văn thạc sĩ ngành tôn giáo học
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Phật giáo và tín ngưỡng bản địa:
Ở mảng Phật giáo, luận văn kế thừa một số công trình viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam như: Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (3 tập) Tác giả Lê Mạnh Thát có công trình Lịch sử Phật giáo Việt Nam (3 tập),… Góc độ tiếp cận văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam của tác giả Phan Ngọc, tác giả đã khẳng định bề dày văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam là nền tảng của giao lưu quốc tế
Từ góc nhìn bên ngoài, Linh mục Léopold Michel Cadière, có công trình bộ sách gồm 3 tập với tên gọi Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt
Tác giả Ngô Đức Thịnh có công trình tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2012, Nxb Trẻ) Các tác giả đi vào nghiên cứu một số tín ngưỡng dân gian cụ thể
Trang 6Nguyễn Hạnh có công trình: Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam (2020, Nxb Trẻ) Tác phẩm biên khảo về tín ngưỡng của người Việt khởi từ thời dựng nước với khái niệm thờ: Trời, đất, tổ tiên Tiếp đến là sự giao thoa văn hóa với bốn tôn giáo lớn ở Việt Nam là Nho, Phật, Lão, Công Giáo
Và rất nhiều các công trình nghiên cứu về các tín ngưỡng cụ thể ở Việt Nam: Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẫu,… Luận văn đi sâu vào nghi lễ Phật giáo và thực hành nghi lễ Phật giáo tại chùa Thắng Nghiêm Từ đó phác họa, miêu tả những hoạt động nghi lễ của nhóm Phật tử đồng thời đánh giá vai trò Phật giáo thông qua nghi lễ trong đời sống xã hội
Dưới góc độ tiếp cận về di sản, kiến trúc có luận văn thạc sĩ đặc điểm, giá trị hệ thống di sản kiến trúc làng Khúc Thủy, Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội, của tác giả Bùi Quang Minh,…
Tác giả Phạm Thị Thu Hương có bài viết: “Sự dung hợp tôn giáo và tín ngưỡng trong thần tích một số nhân vật được thờ trong ngôi chùa Việt” Luận án của tác giả Phan Nhật Trinh với tên đề tài: “Sự dung hợp giữa Phật
Trang 7giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay”
Sự dung hợp giữa Phật giáo bắc truyền với tín ngưỡng truyền thống ở Tiền Giang qua khảo sát một số ngôi chùa của tác giả Lê Thị Thanh Thảo đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (2018, số 170)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn phân tích, làm rõ những biểu hiện cụ thể của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa tại chùa Khúc Thủy, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Từ đó đưa ra một số nhận xét về sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa tại chùa trên hai phương diện tích cực, giá trị cần bảo tồn, phát huy và một số vấn đề đặt ra Từ
đó đưa ra một số khuyến nghị khắc phục những vấn đề đặt ra nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của sự dung hợp đó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn của sự
dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa
Trang 8Hai là, phân tích những biểu hiện của sự dung hợp
giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa qua khảo cứu tại chùa Khúc Thủy
Ba là, đưa ra một số nhận xét về sự dung hợp giữa
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa qua khảo cứu tại chùa Khúc Thủy
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự dung hợp của Phật giáo và tín ngưỡng bản địa tại chùa Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của Luận văn dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
Trang 95.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu bao gồm các phương pháp tôn giáo học và phương pháp liên ngành: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát thực địa thông qua quan sát tham dự trong nghiên cứu thực địa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Về lý luận
Luận văn góp phần vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về Phật giáo, tín ngưỡng, mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam nói riêng và vấn đề dung hợp, giao thoa tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam nói chung
6.2 Về thực tiễn
Những giải pháp đưa ra trong luận văn có thể góp phần phát huy giá trị của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa tại chùa Khúc Thủy, góp phần vào sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương
Luận văn là tài liệu nghiên cứu có thể phục vụ cho hoạt động nghiên cứu tôn giáo tín ngưỡng cũng như các hoạt động quản lý tôn giáo tín ngưỡng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 02 chương, 06 tiết
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO
VÀ TÍN NGƯỠNG BẢN ĐỊA 1.1 Một số khái niệm
* Tôn giáo
“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được
du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX Thuật ngữ
“tôn giáo” vốn có nguồn gốc từ phương Tây và bản thân
nó cũng có một quá trình biến đổi nội dung Vì vậy trên thực tế đã xuất hiện rất nhiều quan niệm, định nghĩa
“Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (Tiếng Anh) và “religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (Tiếng Latinh) là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX và được đăng trên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là “Tôn giáo”
Trong luật tín ngưỡng, tôn giáo: “tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [34]
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm tôn giáo được thể hiện trong luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 11* Tín ngưỡng
Trong từ điển tôn giáo, tín ngưỡng được hiểu: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí; lực lượng siêu nhiên
đó có thể mang hình thức biểu tượng là “trời”, “phật”,
“chúa”, “thánh”, “thần”
Theo tác giả Đặng Nghiêm Vạn phân tích: “Trong Từ điển Hán - Việt, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa”
Nhiều nghiên cứu lại nhìn nhận tín ngưỡng như là một hình thức tồn tại dạng thấp, chưa hoàn chỉnh của tôn giáo Căn cứ tại mục 1, 2, 3 điều 2 của luật tín ngưỡng tôn
giáo số 02/2016/QH14: Tín ngưỡng là niềm tin của con
người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an
về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo
Trang 12lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của
cộng đồng
* Dung hợp tôn giáo, tín ngưỡng
Theo sách Đại từ điển tiếng Việt, “Sự dung hợp là dung hòa với nhau trong một thể thống nhất”
Theo sách Từ điển tiếng Việt, “Sự dung hợp là hòa
vào nhau để hợp thành một thể thống nhất”
Tác giả Phan Nhật Trinh: dung hợp văn hóa và dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo là: Quá trình năng động trong đó một nền văn hóa diễn tiến dưới ảnh hưởng của một văn hóa khác: văn hóa thống trị Và chúng được hòa hợp trong
một thể thống nhất để tồn tại, phát triển
Theo tác giả Nguyễn Đức Lữ thể hiện ở các mặt: + Trên điện thờ các tôn giáo có sự diện diện đối tượng thờ cúng của các tôn giáo khác nhau
+ Đối với người Việt Nam rất khó để xác định tiêu chuẩn tôn giáo cụ thể của họ Người Việt có thể đồng thời tham gia sinh hoạt, thực hiện nghi lễ của nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau
+ Về phía giáo sĩ, pha trộn nhiều yếu tố của các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau: “Ở Việt Nam có nhiều Tăng,
Ni, phật tử thông thạo giáo lý Phật giáo, đồng thời cũng
Trang 13am hiểu triết thuyết Khổng Mạnh và nghiên cứu cả Đạo giáo Ngược lại, các thầy pháp của Đạo giáo (phù thủy, chiêm tinh, bói toán) cũng không hề bài bác Phật giáo, Khổng giáo Thực tế nhiều nhà Nho nương thân trong chốn cửa thiền và cũng không ít Tăng Ni có tư tưởng yếm
thế, tu tiên”
Hiện tượng Tam giáo đồng nguyên thời Trần hay là sự dung hợp nhuần nhuyễn giữa ba tôn giáo: Nho - Phật - Đạo trong quá trình phát triển
1.2 Khái quát chung về truyền thống dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam
1.2.1 Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam
Ở thời kỳ lịch sử nào Phật giáo cũng luôn phát huy tinh thần đồng hành cùng dân tộc, tạo nên truyền thống
“hộ quốc an dân” Xét về lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể coi giai đoạn từ thế kỷ I - X là giai đoạn truyền giáo Phật giáo thế kỷ X - XV có thể coi là thời kỳ phát triển
rực rỡ của Phật giáo Từ triều Lê Sơ (thế kỷ XV) trở đi,
Phật giáo phát triển theo hướng mới là bám rễ sâu rộng trong văn hóa dân gian Những năm ba mươi của thế kỷ
XX, có sự khởi sắc trở lại bởi phong trào chấn hưng Phật giáo Sau năm 1975, các tổ chức hệ phái Phật giáo trong
Trang 14một tổ chức chung Tháng 11.1981, hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo đã tổ chức tại Hà Nội Chương trình hành động của Giáo hội với đường hướng “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Ngày nay với đường hướng tiến bộ “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”
1.2.2 Khái quát chung về tín ngưỡng bản địa Việt Nam
* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn thì thờ cúng tổ tiên có thể được chia thành ba cấp độ
Ở cấp độ gia đình, dòng tộc, người Việt thờ cúng
những người đã mất theo quan hệ huyết thống
Ở cấp độ làng xã: Người Việt thờ Thành Hoàng Làng,
đó có thể là một vị anh hùng có công với làng, với nước, hay một vị tổ nghề,…
Ở cấp độ cao nhất là cấp Quốc gia, dân tộc: Người
Việt thờ vua Hùng, tín ngưỡng thờ vua Hùng đã được duy trì hàng ngàn năm và lễ hội giỗ tổ Hùng Vương là quốc giỗ được tổ chức ở quy mô rất lớn
* Tín ngưỡng thờ mẫu:
Tín ngưỡng thờ nữ thần, thờ mẹ hay còn gọi là tục thờ
mẹ, tục thờ bà; Trong đó có thờ: mẹ Trời, mẹ Đất, mẹ
Trang 15Lúa, mẹ Nước, mẹ Trăng bà Mây, bà Mưa, bà Sấm, bà Chớp, tựu chung sau này đã thành tín ngưỡng thờ mẫu hay còn gọi là tục thờ mẫu Đến thế kỷ XVI, thờ tam phủ,
tứ phủ và sự ra đời của thánh mẫu Liễu Hạnh
1.2.3 Dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam
Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam được hình thành dựa trên đặc điểm “Tùy duyên phương tiện” của Phật giáo và đặc điểm khoan dung, hòa hợp, dung hòa, dung hợp của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam Không chỉ riêng Phật giáo, mà với các tôn giáo khác khi vào Việt Nam đều phản ánh đến vấn
đề hội nhập văn hóa dân tộc Sự linh hoạt tùy duyên của Phật giáo đã khiến cho sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam diễn ra sâu sắc, toàn diện,
dễ dàng, tự nhiên như “nước thấm vào lòng đất” Phật giáo dung hợp với các tôn giáo khác ở Việt Nam, hình thành nên hiện tượng tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam
ra đời từ rất sớm
Trong luận văn tác giả sẽ phân tích sự dung hợp của Phật giáo và tín ngưỡng bản địa Việt Nam qua trường hợp điển hình là tín ngưỡng thờ mẫu Phật giáo đã hòa
Trang 16hợp, dung nạp các yếu tố tín ngưỡng truyền thống vào thờ Phật, như: tục thờ mẹ hay tục thờ nữ thần, tục thờ tứ pháp Minh chứng cho sự dung hợp này là hình tượng Quan Âm Bồ Tát với khuôn mặt của nữ thần nghìn tay, nghìn mắt và nhiều vị nữ thần khác được thờ phụng phổ biến trong nhiều ngôi chùa
1.3 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Khái quát chung về vùng đất Khúc Thủy, Cự Khê, Thanh Oai, Hà Nội
Khúc Thủy là một vùng đất cổ, nay là thôn Khúc Thủy, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Làng Khúc Thủy có địa giới giáp các làng Cự Đà, Khê Tang của xã Cự Khê; làng Sái xã Mỹ Hưng; còn một mặt giáp dòng sông Nhuệ Giang
Lịch sử làng Khúc Thủy gắn với những trang sử hào hùng của dân tộc Tương truyền, vào thời Trần, khi còn nhỏ Trần Quốc Tuấn đã được đưa về ở ẩn ở chùa Khúc Thủy, sau này khi quân Mông sang xâm lược, tướng quân Trần Quốc Tuấn đã dẫn đại quân về Khê Tang - Khúc Thủy tuyển binh Đến những thời kỳ sau, kháng chiến chống đế quốc, thực dân, Khúc Thủy là nơi cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến và vừa là nơi trực