1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

02050007592 tomtat bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của người lô lô Ở việt nam (so sánh với người di Ở trung quốc)

19 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của người Lô Lô ở Việt Nam (so sánh với người Di ở Trung Quốc)
Tác giả Zhang Jia Min
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 778,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

02050007592 tomtat bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của người lô lô Ở việt nam (so sánh với người di Ở trung quốc) 02050007592 tomtat bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của người lô lô Ở việt nam (so sánh với người di Ở trung quốc)

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

Zhang Jia Min

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI LÔ LÔ Ở

VIỆT NAM (SO SÁNH VỚI NGƯỜI DI Ở TRUNG QUỐC)

Chuyên ngành:Việt Nam học

Mã số:8310630.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Hà Nội – 2024

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tiến Dũng

Phản biện 1: TS Trần Đức Nguyên

Phản biện 2: TS Lê Thị Thanh Tâm

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại Khoa Việt

Nam học và tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

Vào hồi 15 giờ 00 ngày 14 tháng 05 năm 2024

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

1

TÓM TẮT KẾT QUẢ LUẬN VĂN

Học viên: Zhang Jia Min

Tên luận văn: Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của người Lô Lô ở Việt Nam (so sánh với người Di

ở Trung Quốc)

Chuyên ngành: Việt Nam học và Tiếng Việt

Mã số: 8310630.01

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Tiến Dũng

Đơn vị nghiên cứu: Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn hóa là linh hồn của một quốc gia Văn hóa phản ánh trình độ phát triển của một dân tộc, đồng thời

là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc Văn hóa dân tộc là liên tục và không thể tách rời Sự tồn tại và phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào sự kế thừa và duy trì nền văn hóa truyền thống của quốc gia

đó

Hiện nay, di sản văn hóa Việt Nam là tài sản vô giá của các cộng đồng dân tộc Việt Nam Di sản văn hóa được xem là kết tinh trí tuệ, tình cảm và công sức của mỗi cá nhân, tập thể và cộng đồng, hình thành nên những chuẩn mực giá trị xã hội, phản ánh truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Thực tiễn đã khẳng định, ở đâu di sản văn hóa được bảo tồn và phát huy thì ở đó có động lực tốt để phát triển Bởi công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng nhằm giữ gìn các

di sản, đồng thời, phát huy các giá trị di sản trong việc sử dụng môi trường văn hóa mới, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc và hiện đại

Không những vậy, công tác bảo tồn và phát duy giá trị di sản văn hóa trở thành một hoạt động quan trọng và trở thành cốt lõi của quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế Chính vì thế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là một trong những nhiệm vụ to lớn và cấp bách của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc

Trong số 54 dân tộc ở Việt Nam hiện nay, dân tộc Lô Lô (còn gọi là Mùn Di, Màn Di, La La, Ô Man,

Lu Lộc Mà) cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang và tỉnh Cao Bằng (phía Bắc Việt Nam) Tuy là một trong những dân tộc có dân số ít nhất của Việt Nam (theo số liệu thống kê, có chưa đến 1.000 người sống tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang), sống xen kẽ lâu đời với các dân tộc khác nhưng đến nay người Lô Lô vẫn giữ nguyên trạng những giá trị truyền thống của dân tộc

Với những nhận thức nêu trên và với mong muốn tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Lô Lô, trong cách nhìn so sánh với tộc người Di (Di) – một dân tộc thiểu số ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chúng tôi lựa chọn đề tài: Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của người Lô Lô ở Việt Nam (so sánh với người Di ở Trung Quốc) làm Luận văn Thạc sĩ

Trang 4

2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Di sản văn hóa của dân tộc Lô Lô ở Việt Nam và dân tộc Di (Di) ở Trung Quốc

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian nghiên cứu: dân tộc Lô Lô sinh sống ở địa bàn các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Bảo Lạc(tỉnh Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai), dân tộc Di sinh sống ở địa bàn tỉnh Vân Nam, Trung Quốc

Phạm vi thời gian nghiên cứu: thời điểm khảo sát thực tiễn năm 2022 - 2023

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu di sản văn hóa (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) của dân tộc Lô

Lô của Việt Nam trong cách nhìn so sánh với dân tộc Di của Trung Quốc Từ đó, Luận văn mong muốn đưa

ra giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của hai tộc người này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu lớn này, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu:

- Xây dựng phương pháp luận về nghiên cứu bảo tồn và phát huy DSVH của người Lô Lô ở Việt Nam và người Di ở Trung Quốc

- Phân tích thực trạng bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc Lô Lô ở Việt Nam, so sánh với người Di tại Trung Quốc

- Đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy DSVH của dân tộc Lô Lô ở Việt Nam từ cách nhìn so sánh và bài học kinh nghiệm của dân tộc Di ở Trung Quốc

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hiện nay, nghiên cứu về văn hóa dân tộc của Việt Nam đang nhận được sự quan tâm và coi trọng càng ngày nhiều Dưới đây là một số nghiên cứu về văn hóa dân tộc tại Việt Nam:

Viện nghiên cứu học thuật: Việt Nam có rất nhiều viện nghiên cứu học thuật nghiên cứu văn hóa dân tộc,

chẳng hạn như Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Việt Nam, Trường Đại học văn hoá Hà Nội, v.v Những tổ chức này đã tiến hành rất nhiều chương trình nghiên cứu văn hóa dân tộc liên quan đến ngôn ngữ, dân gian, tôn giáo, âm nhạc, nghệ thuật và nhiều lĩnh vực khác

Tạp chí học thuật và các ấn phẩm: Một số tạp chí học thuật và các ấn phẩm đặc biệt xuất bản các kết quả

nghiên cứu văn hóa dân tộc của Việt Nam, cung cấp cho các học giả một nền tảng để trao đổi và xuất bản các kết quả nghiên cứu

Điều tra giã ngoại và nghiên cứu thực địa: Nhiều học giả và nhà nghiên cứu tích cực tiến hành điều tra

giã ngoại và nghiên cứu thực địa, sâu trong khu vực dân tộc, giao tiếp với người dân địa phương, ghi chép và nghiên cứu ngôn ngữ, phong tục, truyền thống kỹ thuật, và như vậy, cung cấp thông tin quan trọng và hỗ trợ cho sự bảo vệ di sản văn hóa dân tộc

Chính phủ hỗ trợ và ủng hộ chính sách: Chính phủ Việt Nam đánh giá cao việc bảo vệ và phát huy di sản

văn hóa dân tộc, phát hành một loạt các chính sách và quy định, khuyến khích học viện và các khu vực xã hội chú ý đến văn hóa dân tộc, thúc đẩy nghiên cứu và bảo vệ

Trang 5

3

Hợp tác và trao đổi quốc tế: Nghiên cứu văn hóa quốc gia Việt Nam cũng tích cực hợp tác và trao đổi

với học viện quốc tế, hấp thụ các phương pháp và ý tưởng nghiên cứu tiên tiến quốc tế, để thúc đẩy nghiên cứu văn hóa dân tộc

Nói chung, nghiên cứu về văn hóa dân tộc của Việt Nam đang phát triển mạnh, các học viện và các khu vực xã hội chú ý đến văn hóa dân tộc tiếp tục nâng cao, nghiên cứu kết quả cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa dân tộc

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chủ đạo của luận văn là phương pháp văn hóa học kết hợp với so sánh, định tính và quán sát thực tế, tiếp cận liên ngành du lịch học, dân tộc học, sử học, xã hội học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, chính văn của luận

văn có bố cục như sau:Chương 1: Lý luận chung về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa và tổng quan về dân tộc

Lô Lô (Việt Nam), dân tộc Di (Trung Quốc); Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Lô Lô ở Việt Nam và dân tộc Di ở Trung Quốc; Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Lô Lô tại Việt Nam (so sánh với dân tộc Di ở Trung Quốc)

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN VHOÁ VÀ TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC LÔ LÔ (VIỆT NAM), DÂN TỘC DI (TRUNG QUỐC)

1.1 Những vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy di sản văn hoá

1.1.1 Một số khái niệm về văn hóa và di sản văn hóa

Văn hóa

Văn hoá là nhân bản hóa, tức là tất cả những gì con người làm ra thông qua tư duy Nói một cách cụ thể, văn hóa là sự tác động và biến đổi không ngừng do quá trình phát triển không ngừng của con người tạo ra đối với thế giới vật chất bên ngoài và thế giới tinh thần của chính họ Mặc dù con người cũng là động vật, nhưng

họ là động vật duy nhất có khả năng suy nghĩ lâu dài Với năng lực tư duy này, con người có thể biến đổi (và thích ứng) tự nhiên, điều chỉnh (và sáng tạo) xã hội, dấu vết của sự biến đổi và điều chỉnh này được biểu hiện thành những thành tựu văn hóa của con người trong thế giới bên ngoài của họ; đồng thời, năng lực tư duy lâu dài của con người cũng bị loại hành vi này biến đổi, hình thành nên những thành tựu văn hóa tinh thần độc đáo của loài người

Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa chính xác về văn hóa, theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng hợp những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, theo nghĩa hẹp, văn hóa là ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật và toàn bộ những sản phẩm tinh thần trong đó có hệ tư tưởng

Văn hóa có tính phổ biến, tính đa dạng, tính dân tộc, tính kế thừa, tính phát triển và tính thời đại

Di sản văn hoá

Theo Luật Di sản văn hoá (2001) do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành tại

Điều 1, Văn bản ban hành số 28/1001/QH10 bàn hành ngày 29/06/2001 có quy định: “Di sản văn hoá quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có

Trang 6

4

giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Cũng tại Điều 4 của Luật Di sản văn hóa đã nêu rõ các khái niệm về Di sản văn hóa vật thể cũng như

Di sản văn hoá Phi vật thể như sau:

Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vất chất có giá trị lịch sử, nghệ thuật và khoa học, bao gồm di tích

lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng

trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền,

về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác

1.1.2 Khái niệm về bảo tồn di sản văn hoá

Di sản văn hóa là sự kết tinh trí tuệ của tổ tiên chúng ta, phản ánh trực quan về quá trình quan trọng của phát triển xã hội loài người, có giá trị lịch sử, xã hội, công nghệ, kinh tế và thẩm mỹ, là bằng chứng vật chất không thể thiếu đối với sự phát triển xã hội

Di sản văn hóa chứa đựng giá trị tinh thần, lối tư duy, óc tưởng tượng độc đáo của dân tộc, là sức sống

và sức sáng tạo của dân tộc, là kết tinh trí tuệ dân tộc, đồng thời là báu vật của nền văn minh nhân loại Bảo vệ di sản văn hóa đề cập đến việc kế thừa, bảo vệ và phổ biến di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

để bảo vệ lịch sử, văn hóa và ký ức xã hội của con người Di sản văn hóa vật thể bao gồm di sản văn hóa vật thể như kiến trúc, tác phẩm nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ, trong khi di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các

di sản văn hóa phi vật thể như ngôn ngữ, kỹ năng truyền thống và nghi lễ tôn giáo

Bảo tồn di sản văn hóa đề cập đến quá trình bảo tồn và truyền giao di sản văn hóa cổ đại hoặc hiện đại thông qua các biện pháp và phương thức khác nhau Di sản văn hóa có thể bao gồm các công trình kiến trúc,

di tích khảo cổ, tác phẩm nghệ thuật, đồ thủ công, truyền thống miệng, phong tục tập quán và lễ hội chúng đại diện cho văn hóa độc đáo của một quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc nhóm dân tộc

1.2 Tổng quan về người Lô Lô ở Việt Nam

1.2.1 Nguồn gốc của dân tộc Lô Lô

Ở Việt Nam, dân tộc Lô Lô có hai nhánh chính là Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa, là một dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, họ nói tiếng Lô Lô, thuộc phương ngữ phía nam của ngôn ngữ Lô Lô và tương đối giống nhau với tiếng Ni Tô của người Ni Tô thuộc nhánh Ni Tô dân tộc Di ở Hồng Hà, Nguyên Dương, và Kim Bình ở Vân Nam, Trung Quốc Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa chủ yếu sống ở vùng núi của huyện Đồng Văn

và Mẹo Vạc tỉnh Hà Giang, Việt Nam và phân bố rải rác ở vùng núi và vùng đất bằng của huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng và huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, Việt Nam Chi/nhánh Lô Lô ở huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng, gần khu vực Bách Sắc ở Quảng Tây cất giữ những bản kinh chữ Di, cho rằng là mang theo khi họ rời khỏi từ Trung Quốc, nhưng hiện tại không có người Lô Lô địa phương nào có thể đọc được Người Ni Tô

Trang 7

5

thuộc dân tộc Lô Lô ở Việt Nam phân bố ở làng Ma Lật huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Việt Nam vẫn lưu giữ những quyển kinh Lô Lô như “Kinh Chỉ Đường" và “Thư Tiễn Biệt”

1.2.2 Đặc điểm kinh tế

Người Lô Lô là dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có đặc điểm kinh tế độc đáo Trước hết, hoạt động kinh tế chính của người Lô Lô ở Việt Nam là nông nghiệp và đánh bắt cá Họ kiếm sống bằng cách trồng các loại cây trồng như lúa, ngô và đánh bắt cá Họ thường sống ở vùng núi, gần sông nước, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào để sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp Người Lô Lô ở Việt Nam có thói quen sống hòa hợp với thiên nhiên, hiểu rõ địa hình, khí hậu miền núi và có thể điều chỉnh hoạt động nông, ngư nghiệp theo sự thay đổi của môi trường

Người dân Lô Lô ở Việt Nam rất coi trọng hợp tác kinh tế và giúp đỡ lẫn nhau Họ thường sống thành từng nhóm nhỏ hoặc gia đình, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau

1.2.3 Đặc điểm văn hoá - xã hội

Trước năm 1945, hầu hết các dân tộc thiểu số ở miền bắc Việt Nam đều ở dưới chế độ phong kiến, và nền kinh tế phong kiến của người Thái, Choang, Mèo và một số dân tộc khác đã phát triển đến mức rất cao Các tộc trưởng chiếm giữ một vùng đất đai rộng lớn và thiết lập một tổ chức cai trị chặt chẽ Vào đầu thế kỷ

20, các tộc trưởng của dân tộc Mèo và Choang chiếm vị trí thống trị ở những huyện thuộc tỉnh Lào Cai và Hà Giang Trước năm 1945, sự phân hóa giàu nghèo rất rõ ràng Với sự hỗ trợ của chính phủ, các trưởng làng của gia tộc đã sử dụng phương thức thuê và mượn để chiếm một lượng lớn ruộng đất, khiến những người nông dân thuộc tầng lớp thấp hơn ít có cơ hội sở hữu ruộng đất Người Lô Lô khi di cư sang Việt Nam không có ruộng đất, họ sống trên đất của các tộc trưởng Mèo, Thái, Choang, các tộc trưởng dựa vào ảnh hưởng của các người quan chức bản địa, có quyền lực và khả năng trục xuất những người từ nơi khác đến Do nhu cầu bóc lột của các lãnh chúa địa phương, sau khi người Lô Lô vào Việt Nam, họ buộc phải nộp nhiều thuế hơn, đồng thời phải thực hiện nhiều công việc lao động hoặc đi lính, trả công nhiều hơn so với những cư dân địa phương sang định cư trước

Người Lô Lô chủ yếu làm nông nghiệp, ngoài ra còn có chăn nuôi, săn bắn, thu thập và một số nghề phụ như nghệ đan, dệt vải, v.v Theo điều kiện địa lý, có thể chia vùng canh tác của người Lô Lô thành hai vùng lớn: cao nguyên Thạch Sơn (huyện Đồng Văn và Mẹo Vạc, tỉnh Hà Giang) và cao nguyên Từ Sơn (huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng)

1.3 Tổng quan về người Di ở Trung Quốc

1.3.1 Nguồn gốc của dân tộc Di

Thời gian di cư của người Di có thể bắt nguồn từ chuyến chinh chiến phía nam của Gia Cát Lượng trong thời Tam Quốc, dẫn đến cuộc di cư về phía nam của người Di sống ở khu vực Đông Xuyên Theo những người

tự xưng là “Lô Lô” nói rằng là tổ tiên của họ là thuộc hạ của Mạnh Hoạch, trong khi Gia Cát Lượng dẹp loạn phía Nam, Mạnh Hoạch bị đánh bại, một số quan lại và binh lính đã mời người nhà chạy đến quận Phù Ninh

để định cư Thời kỳ thứ hai là triều đại nhà Đường và nhà Tống, theo lời kể của sử thi "Ca trống đồng", người

Di ở Quảng Tây cho rằng là tổ tiên của họ ban đầu sống ở phía bắc thuộc khu vực của Nam Chiếu, và di cư từ phía tây Vân Nam đến khu vực Bồn Điền do chiến tranh bộ tộc, sau đó, do chiến tranh giữa Nam Chiếu và Đại Đường, ông chuyển đến sống ở Giao Chỉ (Bảo Lạc, Việt Nam) Thời kỳ thứ ba là nhà Nguyên và nhà Minh,

Trang 8

6

nhà Nguyên đã thiết lập hệ thống thổ ty trên cơ sở chế độ bộ lạc truyền thống của người Di, và tăng cường sự quản lý hiệu quả của chính quyền trung ương phong kiến, sau đó chưa xuất hiện quy mô lớn về di cư của người

Di, và nhà Minh vẫn kế thừa hệ thống thổ ty Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào tháng 2 năm Thiệu Bình thứ

2 (1435), “nhân dân nước Điền Tư Lô Lô (tỉnh Hà Giang, Việt Nam) đến cống nạp, họ sống ở phía bắc, giáp Vân Nam, trang phục cũng giống Vân Nam, còn tạ ơn đều là tự phát.” Từ giữa đến cuối thời nhà Minh, việc quản lý nhà nước phải đối mặt với cuộc nổi loạn của các thủ lĩnh và khủng hoảng biên giới, đồng thời tiến hành cải cách ruộng đất và chiến tranh giữa Minh và Miến Điện trong một phạm vi nhất định, và chiến tranh

ở biên giới Trung - Việt cũng nổ ra trên một phạm vi nhất định và quy mô nhỏ

1.3.2 Đặc điểm kinh tế

Hoạt động kinh tế và những kỹ năng thực hành nghề nghiệp là một phần quan trọng trong truyền thống của người Di Hiện nay, đời sống kinh tế của người di Di đã có nhiều phát triển và đạt được những thành tựu lớn; song so với khu vực kinh tế của người Hán, nhìn chung còn kém phát triển hơn khá nhiều Điều này cũng

là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa người Di

Các giá trị kinh tế truyền thống của người Di chủ yếu được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Coi trọng nhân nghĩa hơn lợi ích

Coi trọng nhân nghĩa hơn lợi ích tức là nhấn mạnh đến nhân nghĩa hay đạo đức, đòi hỏi lời nói và việc làm của con người phải phù hợp với đạo nghĩa và đạo đức, không tính toán lợi ích vật chất hay hiệu quả và lợi ích Xã hội truyền thống của người Di dựa trên các chi/nhánh gia đình và tất cả các khái niệm xã hội đều lấy nhánh gia đình làm trung tâm

Coi trọng nông nghiệp, coi thường thương nghiệp

Người Di chủ yếu làm nông nghiệp, từ bao đời nay đều dựa vào nông nghiệp Từ lâu, họ đã sống một cuộc sống kinh tế tự nhiên “làm việc lúc mặt trời mọc và nghỉ ngơi khi mặt trời lặn” Hầu như tất cả các phương tiện sinh sống đều có được thông qua trồng trọt và chăn nuôi Do đó, họ rất coi trọng nông nghiệp và sản xuất lương thực “Dựa vào nông nghiệp" từ lâu đã là khẩu hiệu của xã hội Di

Chủ nghĩa bình đẳng

Do năng suất lao động thấp trong nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp, nên để tồn tại, con người đã hình thành quan niệm bình đẳng “cùng ruộng, cùng ăn, cùng chịu, cùng hưởng phúc” Trong quá trình phát triển của dân tộc Di, khái niệm bình đẳng đã dần phát triển thành ý tưởng về chủ nghĩa bình đẳng

1.3.3 Đặc điểm văn hóa - xã hội

Sau hàng nghìn năm gây dựng và phát triển, người Di tạo dựng được một nền văn hóa và nghệ thuật độc đáo của dân tộc mình Bài thơ tự sự dài và nổi tiếng “A Thi Mã” là một tài liệu quan trọng để nghiên cứu nguồn gốc của dân tộc Di

Bài thơ tự sự dài này được đặt theo tên của nữ nhân vật chính A Thi Mã, miêu tả tinh thần đấu tranh của anh chị em A Thi Mã và những người dân lao động của dân tộc Di không sợ cường quyền chống lại quyền lực của tầng lớp quý tộc phong kiến Từ điểm này có thể thấy, dân tộc Di tuy là thiểu số nhưng xét về mặt sáng tạo văn học thì họ không thua kém dân tộc Hán chút nào

Nếu bạn nhìn lại lịch sử lâu đời của dân tộc Di, không khó để nhận thấy rằng văn học kinh điển của dân tộc Di không chỉ rộng lớn mà còn bao hàm nhiều nội dung Nó được phản ánh trong văn học, triết học, lịch sử,

Trang 9

7

tôn giáo… “Tây nam Di Chí” là một sử liệu quan trọng ghi lại lịch sử và phong tục của dân tộc Di, được gọi là bách khoa toàn thư về dân tộc Di

Văn hóa và nghệ thuật do người Di tạo ra trong quá trình lịch sử thực sự là một nội dung quan trọng, thể hiện tư tưởng và tinh thần của người Di Mặc dù trong xã hội cổ đại, họ sống trong những điều kiện khó khăn hơn so với những vùng phía tây của Trung Quốc cổ đại Tuy nhiên, tổ tiên của dân tộc Di đã tạo nên một lịch sử huy hoàng, đầy nhiệt huyết và tinh thần chiến đấu không sợ hãi

Tiểu kết chương 1

Trong chương đầu tiên của Luận văn, chúng tôi trình bày và thảo luận về các vấn đề lý luận liên quan đến bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quan về người Lô Lô ở Việt Nam và người

Di ở Trung Quốc Đầu tiên, chúng tôi giới thiệu các khái niệm về văn hóa, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, cũng như bảo tồn di sản văn hóa Những khái niệm này cung cấp nền tảng lý thuyết cho phần nghiên cứu ở các chương tiếp theo.Trong chương tiếp theo, chúng tôi sẽ tiến hành điều tra, nghiên cứu chi tiết

về hiện trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của người Lô Lô ở Việt Nam và người Di ở Trung Quốc

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ CỦA DÂN TỘC

LÔ LÔ Ở VIỆT NAM VÀ DÂN TỘC DI Ở TRUNG QUỐC

2.1 Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của dân tộc Lô Lô ở Việt Nam

Người Lô Lô ở Việt Nam có một di sản văn hóa phong phú, bao gồm ngôn ngữ, âm nhạc, khiêu vũ, quần áo, thủ công mỹ nghệ, v.v Tuy nhiên, do những nguyên nhân lịch sử và nhiều yếu tố tác động khác nhau, cho nên công tác bảo tồn di sản văn hóa của người Lô Lô ở Việt Nam còn gặp một số vấn đề sau:

Thiếu tư liệu văn hóa: Do cư dân Lô Lô sống rải rác ở vùng núi nên nhiều thông tin văn hóa không được ghi chép, dẫn đến nhiều di sản văn hóa quý giá bị mai một theo thời gian

Kế thừa văn hóa truyền thống gặp nhiều thách thức: Chịu tác động bởi những chuyển biến xã hội và kinh tế, ngày càng nhiều người Lô Lô trẻ tuổi thiếu quan tâm và hiểu biết về văn hóa truyền thống, điều này cũng khiến việc kế thừa di sản văn hóa Lô Lô gặp phải những thách thức lớn

Các thiết chế, di sản văn hóa vật thể bị mai một: Nguyên nhân là do sự tàn phá của tự nhiên và sự hủy hoại của con người, nhiều thiết chế, di sản văn hóa vật thể của người Lô Lô, chẳng hạn như đền thờ và nơi tế lễ, rơi vào tình trạng đổ nát và cần được bảo tồn và sửa chữa

Thiếu sự đổi mới về văn hóa: Mặc dù văn hóa Lô Lô có một nét hấp dẫn độc đáo, nhưng sự đổi mới về văn hóa là cần thiết để thích ứng với nhu cầu và sự thay đổi, phát triển của xã hội hiện đại Tuy nhiên, sự đổi mới văn hóa của người Lô Lô vẫn còn tương đối yếu

Tóm lại, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của người Lô Lô ở Việt Nam đang tồn tại một số vấn đề cần được các cấp, giới học thuật, các phương tiện truyền thông, tổ chức xã hội và các cá nhân cùng chung tay để có những biện pháp hữu hiệu nhằm giúp di sản văn hóa của người Lô Lô được bảo tồn tốt hơn

2.1.1 Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ và chữ viết của người Lô Lô ở Việt Nam là một trong những di sản văn hóa quan trọng của

họ Tiếng Lô Lô thuộc ngữ hệ Hán - Tạng và là một hệ thống ngôn ngữ độc lập Ngôn ngữ Lô Lô có từ vựng

và cấu trúc ngữ pháp phong phú và là một trong những biểu hiện cốt lõi của văn hóa Lô Lô Hệ thống chữ viết của người Lô Lô chủ yếu bao gồm chữ viết vuông và chữ viết La Tinh

Trang 10

8

2.1.2 Nghệ thuật truyền thống

Nghệ thuật truyền thống của người Lô Lô ở Việt Nam là một phần quan trọng trong DSVH của họ Nghệ thuật truyền thống bao gồm nhiều khía cạnh như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điệu múa…

2.1.3 Nghề thủ công

Theo đặc điểm phong tục tập quán, ngôn ngữ và trang phục, các nhà dân tộc học Việt Nam chia người

Lô Lô thành hai nhánh: Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả, thực tế có một nhánh tương đối nhỏ - là Lô Lô Trắng với trang phục rất đặc biệt, và cũng không nên bỏ qua sự độc đáo về văn hóa của nhóm này

2.1.4 Lễ hội truyền thống của dân tộc Lô Lô

Hoạt động tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Lô Lô ở Việt Nam chủ yếu là thờ cúng rừng núi, khi định cư tại một nơi, họ sẽ chọn khu rừng nguyên sinh phía trên làng làm rừng thiêng Thời gian thờ cúng của làng tương ứng với tháng 2 và tháng 6 theo âm lịch, tức là vào Lễ hội Rồng và Lễ hội Đuốc Vào thời điểm

đó, tất cả đàn ông trong làng sẽ tổ chức tế lễ công khai Chặt cây trong rừng thiêng là nghiêm cấm, họ có những quy định nghiêm ngặt về bảo tồn rừng, ai vi phạm sẽ bị phạt rất nặng Các hoạt động thờ cúng tổ tiên khác là cúng tế trong gia đình, chẳng hạn như quét mộ vào Lễ hội Thanh minh, cúng tổ tiên vào tháng 7, hoặc tế Ruộng Công Địa Mục Những cá nhân khai khẩn đất hoang, khai thác gỗ cũng phải thờ cúng tổ tiên

2.1.5 Ẩm thực

Người Lô Lô là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chủ yếu sống ở miền bắc Việt Nam Họ

có một nền văn hóa ẩm thực độc đáo, sau đây là phần giới thiệu chi tiết về văn hóa ẩm thực của họ:

Thành phần

Thói quen ăn uống của người Lô Lô ở Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong di sản văn hóa của

họ Chịu ảnh hưởng của môi trường địa lý và sự phát triển lịch sử, thói quen ăn uống của người Lô Lô có phần khác biệt so với người Di Trong bữa ăn hàng ngày của người Lô Lô ở Việt Nam, cây trồng, vật nuôi, gia cầm, thịt và cá là nguyên liệu chính

2.1.6 Kiến trúc

Kiến trúc nhà ở của người Lô Lô ở Việt Nam là một trong những di sản văn hóa phong phú và đa dạng Người Lô Lô sống ở vùng núi cao của miền Bắc và miền Trung và kiến trúc của họ phản ánh sự thích nghi với môi trường Những công trình nhà ở của người Lô Lô ở Việt Nam thể hiện những nét độc đáo trong kết cấu và lựa chọn vật liệu

Điều đáng nói là các công trình nhà ở của người Lô Lô thường theo kiểu định cư, tức là gồm nhiều hộ gia đình xây dựng xung quanh một sân trung tâm Cách bố trí này không chỉ cung cấp không gian xã hội rộng rãi mà còn tạo điều kiện hỗ trợ và giao tiếp lẫn nhau giữa các cư dân

2.2 Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của dân tộc Di ở Trung Quốc

2.2.1 Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ Di là một ngôn ngữ cổ xưa, có lịch sử ít nhất 5.000 năm, được chứng minh bằng các tài liệu

và kết quả khảo cổ học Hầu hết các đồ gốm cổ, giáp cốt, chữ khắc trên đá chạm khắc và chữ khắc giáp cốt đều có thể được giải thích bằng ngôn ngữ Di, điều này cho thấy ngôn ngữ Di và chữ Hán có cùng nguồn gốc Tuân theo quy luật phát triển chữ viết “ký hiệu - hình tượng - biểu nghĩa - âm thanh”, tiếng Di đã dần trưởng

Ngày đăng: 25/05/2025, 16:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w