Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bán khi bên mua vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng mua bán hàng hóa trong CISG Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên c
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: Luật Thương mại quốc tế
ĐỀ BÀI:
Trình bày khái quát quy định của CISG về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng bên mua Phan tích một án lệ điển hình để minh họa
Hà Nội, 2023
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM
GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Nhóm số: 5
Khoa Luật Kinh tế
Tổng số sinh viên của nhóm: 11
Lớp: N02-TL1 Khóa: 46
+ Có mặt: 11
+ Vắng mặt: 0 Có lí do: … Không lí do: ……
Môn học: Luật Thương mại quốc tế
MỤC LỤC
STT MÃ SV HỌ VÀ TÊN
ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN SV KÝ
TÊN
1 461940 Nguyễn Thanh Phương x Phương
5 461944 Nguyễn Phương Thảo x Thảo
8 461947 Hoàng Thị Thu Thùy x Thùy
Kết quả điểm bài viết:… Hà Nội, 8 tháng 11 năm 2023
Kết quả điểm thuyết trình:… Nhóm trưởng
Điểm kết luận cuối cùng:…
Trang 3
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái quát chung về quyền hủy bỏ hợp đồng của người mua theo CISG 1
1 Khái niệm Hợp đồng thương mại quốc tế 1
2 Vi phạm của bên mua trong hợp đồng thương mại quốc tế 1
3 Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bán khi bên mua vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng mua bán hàng hóa trong CISG 2
4 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại 2
5 Quy định của CISG về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên mua 3
II Thực tiễn áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại của CISG 1980 khi bên mua vi phạm hợp đồng thông qua án lệ “Downs Invest P/L v Perwaja Steel SDN BHD [2001] QCA 433” 5
1 Tóm tắt vụ tranh chấp 5
2 Lập luận của nguyên đơn, bị đơn và cơ quan tài phán 6
III Phân tích, bình luận án lệ 9
1 Có căn cứ xác định hành vi VPPL dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không? 9
2 Bên bán có áp dụng Điều 75 CISG để yêu cầu bồi thường thiệt hại hay không? 10
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
PHỤ LỤC 14
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4MỞ ĐẦU
Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Vai trò của Công ước Viên năm 1980 đã được khẳng định trong thực tiễn với việc giải quyết rất nhiều những tranh chấp Đặc biệt, một trong những vấn đề khó khăn và hay gây ra tranh cãi trong các tranh chấp thương mại quốc tế, đó là vấn đề về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà theo đó có áp dụng CISG để giải quyết Nhằm tìm hiểu
rõ hơn về các quy định trong CISG, nhóm chúng em sẽ phân tích đề tài:
“Trình bày khái quát quy định của CISG về việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên mua Phân tích một án lệ điển hình để minh họa”
NỘI DUNG
I Khái quát chung về quyền hủy bỏ hợp đồng của người mua theo CISG
1 Khái niệm Hợp đồng thương mại quốc tế
Về mặt thuật ngữ, “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” được hiểu đơn giản là “hợp đồng mua bán hàng hóa” có tính chất quốc tế
Về mặt pháp lý, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa
vụ giữa các bên với nhau trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
2 Vi phạm của bên mua trong hợp đồng thương mại quốc tế
Biểu hiện cụ thể của hành vi VPHĐ của bên mua là việc bên mua không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ của hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế Theo Điều 53 CISG: “Bên mua phải thanh toán tiền
mua hàng và nhận hàng theo quy định trong hợp đồng và các quy định trong Công ước này.”
VPHĐ không chỉ là vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà còn là
vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Hành vi VPHĐ mua bán hàng
Trang 5hóa quốc tế của bên mua là căn cứ để áp dụng đối với chế tài BTTH do VPHĐ
3 Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bán khi bên mua vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng mua bán hàng hóa trong CISG
Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên
có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại Theo CISG, việc giải quyết bồi thường thiệt hại theo 04 điều khoản của Công ước (từ Điều 74 đến điều 77)
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, hai bên chủ thể đều có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại với hành vi vi phạm mà bên kia đã gây ra Trong bài làm, nhóm em xin trình bày những hiểu biết của mình về quy định yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên mua
Khoản 1, khoản 2 Điều 61 Công ước CISG quy định:
“1 Nếu bên mua không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào theo quy định trong hợp đồng hoặc các quy định trong Công ước này thì bên bán có thể:
a Thực hiện quyền của mình theo các quy định tại Điều 62 – 65;
b Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo các quy định tại Điều 74 – 77
2 Bên bán không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi họ áp dụng các chế tài khác.”
Theo đó, khi bên mua có hành vi vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, bên bán có quyền yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại theo các quy định tại công ước Đây là một hình thức trách nhiệm do không thực hiện đúng nghĩa
vụ của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên mua có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng không bị mất đi khi bên bán có áp dụng thêm các chế tài khác Cụ thể, các quy định về bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 74 đến 77 của Công ước CISG
4 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trang 6BTTH trong hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng và theo hợp đồng
dân sự nói chung được thống nhất theo nguyên tắc: “Người gây ra thiệt hại
thì phải bồi thường”, trong trường hợp này là bên mua Theo đó, vi phạm cơ
bản hợp đồng được xác định dựa trên các yếu tố:
Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: Bên bán không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng các nghĩa vụ của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế
Thứ hai, có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm hợp
đồng của bên bán, thiệt hại này là căn cứ bắt buộc phải có khi áp dụng chế tài BTTH Thiệt hại được đền bù bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại
về tinh thần
5 Quy định của CISG về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của bên mua
5.1 Phạm vi bồi thường thiệt hại
Phạm vi bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 74 CISG Trong
đó, có 02 loại thiệt hại được bồi thường bao gồm:
(i) Tổn thất mà bên bị vi phạm đã gánh chịu Trong thực tế, thiệt hại xảy ra do vi phạm hợp đồng thường sẽ là: Những tài sản bị mất mát hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút về tài sản, chi phí mà bên bị vi phạm trong hợp đồng phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những hậu quả do bên vi phạm hợp đồng gây ra (ví dụ: Chi phí sửa chữa hàng hóa
hư hỏng); người mua không thể đòi lại khoản lợi nhuận bị mất nếu người mua không thông báo theo Điều 44 và trường hợp loại trừ tại Điều 5 Công ước này;
(ii) Khoản lợi bị bỏ lỡ (thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút) đối với bên bị vi phạm, là hậu quả của sự vi phạm hợp đồng, lợi nhuận bị mất cần được xác lập một cách hợp lý
Trang 7Mức BTTH ở đây sẽ bao gồm một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên vi phạm phải chịu do sự vi phạm hợp đồng Tiền
BTTH không thể cao hơn thiệt hại thực tế
5.2 Tính dự đoán trước của thiệt hại
Theo CISG, các thiệt hại được bồi thường không thể cao hơn những tổn thất và khoản lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm có khả năng đã dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết CISG không quy định rõ ràng về tính chất trực tiếp hay gián tiếp của thiệt hại được bồi thường nhưng các khoản thiệt hại phải được tính toán và chứng minh một cách hợp lý Tính hợp lý ở đây được đánh giá một cách khách quan, dựa trên thực tiễn các yếu tố tranh chấp và thị trường Nguyên tắc này không cho phép các bên thổi phồng thiệt hại của mình lên một cách vô căn cứ, bất hợp lý
5.3 Cách tính toán thiệt hại
Điều 75 và Điều 76 của CISG đã quy định về cách tính toán thiệt hại
Cụ thể:
Điều 75 đưa ra cách tính toán thiệt hại với hai điều kiện cần áp dụng: (i) có tồn tại việc hủy bỏ hợp đồng; (ii) có tồn tại giao dịch thay thế và giao dịch thay thế này phải có tính “hợp lý”, nghĩa là được thực hiện “một cách hợp lý” và “trong một thời gian hợp lý” Điều này quy định một trường hợp
là bên bán đã bán lại hàng, theo đó người bán có thể yêu cầu bồi thường phần chênh lệch giữa giá hàng hóa trong hợp đồng và giá hàng hóa trong giao dịch thay thế và các thiệt hại khác trên thực tế
Điều 76 Công ước CISG đưa ra cách tính toán thiệt hại trong trường hợp hủy hợp đồng nhưng bên bị thiệt hại không ký hợp đồng thay thế Trường hợp bên bị vi phạm không ký hợp đồng thay thế, bên vi phạm bồi thường chênh lệch giữa giá hợp đồng bị hủy và giá thị trường hiện hành cao hơn giá hợp đồng đã bị hủy
5.4 Nguyên tắc hạn chế tổn thất
Trang 8Ðiều 77 CISG liên quan đến nguyên tắc hạn chế tổn thất, theo đó, bên
bị vi phạm hợp đồng phải thực hiện các biện pháp hợp lý nhằm hạn chế thiệt hại, nếu không làm như vậy khoản bồi thường thiệt hại từ vi phạm hợp đồng
sẽ bị giảm một khoản tương ứng với những thiệt hại có thể tránh được Bên
có quyền lợi bị ảnh hưởng hoặc bị đe dọa ảnh hưởng từ hành vi vi phạm hợp đồng cần phải thiện chí hạn chế mọi thiệt hại có thể tránh được trong điều kiện khả năng của mình dựa vào bối cảnh thực tế của giao dịch và vào một thời điểm hợp lý
II Thực tiễn áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại của CISG 1980 khi bên mua vi phạm hợp đồng thông qua án lệ “Downs Invest P/L v Perwaja Steel SDN BHD [2001] QCA 433”
1 Tóm tắt vụ tranh chấp
1.1 Các bên tham gia tranh chấp và giải quyết tranh chấp
- Nguyên đơn (Bên bán): Công ty Downs Investments Pty Ltd (tại thời điểm tranh chấp là Wanless Metal Industries Pty Ltd)
- Bị đơn (Bên mua): Perwaja Steel SDN BHD
- Cơ quan giải quyết tranh chấp: Supreme Court of Queensland (Tòa
án tối cao Queensland)
1.2 Sự kiện pháp lý
Wanless Metal Industries, một công ty ở Úc (người bán) đã ký hợp đồng với công ty Perwaja Steel (người mua) ở Malaysia để mua và vận chuyển thép phế liệu từ Úc đến Malaysia Theo quy định hợp đồng, người mua phải mở thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable letter of credit) cho người bán trước khi giao hàng Ngay trước khi phải mở thư tín dụng này, Perwaja Steel đã trải qua một đợt tái cơ cấu quản lý và thay đổi lại đội ngũ quản lý Theo cơ cấu quản lý mới, người mua có nghĩa vụ phải xin sự chấp thuận của ban điều hành công ty trước khi mở thư tín dụng Bên mua đã không thể mở thư tín dụng theo như yêu cầu của bên bán do ban điều hành công ty không thể đưa ra chỉ dẫn trong thời gian ngắn Khi nhận được thông
Trang 9tin này từ người mua, Wanless Metal Industries cho rằng Perwaja Steel đã
từ chối thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng giữa hai bên bằng cách không phát hành thư tín dụng Theo đó, Wanless Metal Industries đã trả lời rằng họ sẽ chấp nhận sự thoái thác các nghĩa vụ hợp đồng của bên mua và huỷ hợp đồng giữa hai bên Wanless Metal Industries vào thời điểm đó đã phải chịu một khoản lỗ đáng kể khi bán lại 30.000 tấn thép phế liệu mà họ đã chuẩn bị sẵn sàng để vận chuyển đến Perwaja theo hợp đồng cũng như phải chịu thêm một khoản tiền là 343.163,47 USD phát sinh từ chi phí thuê tàu để giao nguyên liệu cho Perwaja
1.3 Quá trình tố tụng
Ngày 17/11/2000, vụ việc đã được đưa ra xét xử tại Supreme Court of Queensland (Tòa án tối cao Queensland) Trước đó, phiên điều trần đã được tiến hành vào ngày 29, 30, 31 tháng 5 và các ngày 1, 5, 6 tháng 6 năm 2000
1.4 Vấn đề pháp lý
- Liệu việc không mở thư tín dụng đúng thời hạn có cấu thành vi phạm
cơ bản nghĩa vụ hợp đồng hay không?
- Người bán có quyền hủy hợp đồng và yêu cầu người mua bồi thường thiệt hại trên cơ sở người mua từ chối thực hiện nghĩa vụ/ không tuân theo điều khoản thiết yếu của hợp đồng hay không?
- Người bán đã thực hiện những biện pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại chưa?
1.5 Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp
Tòa án đã xác định rằng Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp vì cả hai bên hợp đồng là Úc và Malaysia đều là thành viên của Công ước này
Tòa án áp dụng các Điều 25, 54, 63, 64, 72, 74, 75, 77, 78 (CISG) để giải quyết tranh chấp
2 Lập luận của nguyên đơn, bị đơn và cơ quan tài phán
2.1 Lập luận của nguyên đơn
Trang 10Thứ nhất, nguyên đơn khởi kiện bị đơn do hành vi vi phạm hợp đồng
từ phía bị đơn Nguyên đơn cho rằng bị đơn đã không hoàn thành nghĩa vụ
trong hợp đồng, cụ thể là thanh toán dưới hình thức thư tín dụng để Wanless trang trải chi phí kim loại phế liệu theo hợp đồng ngày 8 tháng 9 năm 1996
đã dẫn đến vi phạm hợp đồng cơ bản
Thứ hai, về việc nguyên đơn huỷ hợp đồng với bị đơn và thực hiện các biện pháp xử lý tổn thất, nhận thấy những sai phạm trong việc thực hiện hợp
đồng của bên bị đơn, nguyên đơn đã nhanh chóng thực hiện biện pháp xử lý tổn thất Trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 7 năm 1996 đến ngày 8 tháng 10 năm 1996, nguyên đơn đã thực hiện việc mua bán hợp lý với bên Pernas cũng như giảm thiểu thiệt hại chi phí vận chuyển Ngày 9 tháng 8 năm 1996, bên bán - Wanless sau khi nhận được phản hồi từ phía luật sư đại diện của Perwaja đã chấp nhận việc Perwaja từ chối các nghĩa vụ hợp đồng
và huỷ hợp đồng giữa 02 bên
Thứ ba, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại , nguyên đơn
họ đã phải chịu một khoản lỗ đáng kể khi bán lại 30.000 tấn thép phế liệu mà
họ đã sẵn sàng vận chuyển đến Perwaja theo hợp đồng Ngoài ra, một khoản tiền nữa là 343.163,47 USD phát sinh từ việc phải thuê lại tàu MV Dooyang Winner để giao phế liệu cho Perwaja
2.2 Lập luận của bị đơn
Về lý do không phát hành thư tín dụng thanh toán, bị đơn đưa ra lý do
mới thay đổi cơ cấu quản lý Ban quản lý mới không biết đến sự tồn tại của hợp đồng mua bán phế liệu được thiết lập trước đó giữa Perwaja và Wanless Thêm vào đó, với cơ cấu mới, muốn thiết lập thư tín dụng thanh toán phải
có sự thông qua của Ban điều hành mới nên cần thời gian xử lý
Về lý do từ chối phát hành thư tín dụng thanh toán, bị đơn cho rằng
nguyên đơn tức bên bán trên thực tế đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, chỉ ra bên mua không sẵn sàng giao thép phế liệu theo thỏa thuận tại thời điểm thuê tàu vận chuyển Ngoài ra, bị đơn cho rằng nguyên đơn có sự vi phạm đối với điều khoản vận chuyển khi không được sự chấp thuận của bị đơn trước khi
Trang 11thuê tàu MV Dooyang Winner Do đó, bị đơn từ chối thiết lập thư tín dụng thanh toán vào thời điểm tàu đang chờ để bốc hàng vận chuyển
2.3 Lập luận của cơ quan tài phán
Thứ nhất, về vấn đề xác định vi phạm của các bên trong quan hệ hợp
đồng mua bán hàng hoá: Xét về phía Wanless – nguyên đơn, căn cứ khoản 1
Điều 64 về trường hợp người bán tuyên bố hủy hợp đồng, Điều 72 về quyền tuyên bố hợp đồng bị hủy, cơ quan tài phán đưa ra nhận định nguyên đơn
không vi phạm bất kỳ điều nào theo thỏa thuận Xét về phía Perwaja – bị
đơn, căn cứ Khoản 1 Điều 64 về người bán tuyên bố huỷ hợp đồng, Điều 25
về vi phạm hợp đồng, Điều 52 về nghĩa vụ thanh toán, Tòa án xác định việc không/ từ chối thiết lập thư tín dụng của Perwaja là vi phạm cơ bản, không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán giá của hàng hóa theo hợp đồng Lý do thay đổi
cơ cấu quản lý, đòi hỏi Ban điều hành mới phê duyệt từ phía bị đơn không
có ý nghĩa về mặt pháp lý
Thứ hai, về vấn đề Wanless có quyền hủy hợp đồng và đòi lại từ
Perwaja những tổn thất hay không? Tòa án thể hiện quan điểm bên mua rõ ràng không có ý định tuân thủ thỏa thuận theo hợp đồng Phản hồi từ bên mua với phàn nàn, câu hỏi của bên bán về việc thực hiện hợp đồng cũng không rõ ràng Do đó, Wanless có quyền hủy hợp đồng và bồi thường tổn thất mà họ phải gánh chịu do Perwaja từ chối và/hoặc không tuân thủ một điều khoản thiết yếu trong hợp đồng với Wanless
Thứ ba, Tòa án giải quyết vấn đề bị đơn đặt ra: Wanless có sẵn sàng
và có khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tại thời điểm thuê tàu hay không? Tòa đã kiểm tra dựa trên tài liệu được nguyên đơn cung cấp và chấp nhận nguồn bằng chứng này Lập luận của bị đơn về vi phạm của nguyên đơn trên khía cạnh này bị từ chối
Thứ tư, Tòa án xác định quyền đòi bồi thường thiệt hại của nguyên đơn
và xác định thiệt hại với vi phạm của bị đơn căn cứ Điều 74, 75 CISG cùng những bằng chứng thực tế Theo Tòa án, người bán đã nhanh chóng thực