1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MOT SO BIEN PHAP HOC TOT PHAN MON LUỴEN TU VA CAU PHAN TU DONG NGHIA

14 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong mảng kiến thức nghĩa của từ ở lớp 5 thì từ đồng nghĩa được dử dụng nhiều Nhắc đến nhiều bài tập.từ đồng nghĩa được biên soạn rất nhiều dạng bài tập khác nhau, khái niệm mang tính t

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO ĐĂK NÔNG PHÒNG GD-ĐT HUYỆN CƯ JUT

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN TÌM VÀ SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG

NGHĨA Ở LỚP 5

VÕ THỊ THÁI

TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN ĐĂNG LƯU

ĐĂK NÔNG 2010

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO ĐĂK NÔNG PHÒNG GD-ĐT HUYỆN CƯ JUT

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN TÌM VÀ SỬ DỤNG TỪ ĐỒNG

NGHĨA Ở LỚP 5

VÕ THỊ THÁI

TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN ĐĂNG LƯU

ĐĂK NÔNG 2010

Trang 3

I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chúng ta là những giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy Chúng ta biết rằng giáo dục ở bậc tiểu học là rất quan trọng Cấp tiểu học là bậc học nền tảng để giúp học sinh tiếp tục học lên bậc trên Ngày nay nước ta đang hội nhập quốc trên diện rộng về mọi mặt Mục tiêu giáo dục tiểu học là giáo dục con người toàn diện về” đức, trí, mĩ, dục” Mỗi môn học đều thực hiên mục tiêu trên Nhưng ở tiểu học , môn tiếng việt với tư cách là môn học công cụ nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp và tạo lập văn bản Trong bài nói chuyện của cố thủ tướng phạm văn đồng, ngày 8-9-1973 với các lãnh đạo bộ giáo dục cùng cán bộ nghiên cứu cải cách giáo dục và cán bộ biên soạn chương trình các môn học trong các bậc học , có đoạn đi sâu vào môn văn và môn tiếng việt như sâu:

“Tôi cho rằng trong dạy văn dạy từ là rất quan trọng Trong ngôn ngữ từ là quan trọng nhất, rồi đến câu ,đến đoạn, đến văn bản…… ”không phải mỗi học sinh chúng ta ddwwuf triwr thành nhà văn,nhưng các em sẽ trở thành những con người có công việc xứng đáng, có hoạt động về nhiều mặt, đều cần phải nói được, viết được một cách gộn gàng, rỗ rệt những điều mình muốn diễn đạt……… ”(tạp chí nghiên cứu giáo dục số 11-1973)

Ngày nay môn tiếng việt đã có nhiều thay đổi nhiều quan niệm về

vị trí ,vai trò, tính chất và nhiệm vụ cho đến chương trình và nội dung… đặc biệt trong phân môn tiếng việt có phân môn luyện từ và câu là phân môn quan trọng để phát triển năng lực trí tuệ , ngôn ngữ giao tiếp, những phẩm chất đạo đức cho trẻ Cụ thể phân môn này cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, sơ giản, tối thiểu, cần thiết, vừa sức đối với lứa tuổi tiểu học; giúp học sinh hiểu biết về cấu tạo từ, khái niệm từ loại, câu ,cấu tạo câu và các kiểu câu Luyện từ và câu còn rèn luyện cho các

em tư duy ,năng khiếu thẩm mĩ Trong phân mộn này mảng kiến thức nào cúng quan trọng nhưng để đặt câu ,viết văn bản được thì học sinh phải nắm được nghĩa của từ

Chương trình môn tiếng việt lớp 5 nói chung và phân môn luyện từ và câu nói riêng trên cơ sở thừa kế chương trình sách cũ thì cũng có nhiều đổi mới để ngang tầm với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.phân môn luyện từ và câu ở lớp 5 tiếp tục củng cố chương trình của

Trang 4

lớp 4 đồng thời nâng cao thêm về nội dung kiến thức mới Đó là phần nghĩa của từ , câu ghép, liên kết văn bản Các kiến thức mới đều khó nhưng phần quan trọng nhất là nghĩa của từ Vì học sinh có nắm được nghĩa của từ thì mới đặt câu và viết văn tốt

Trong mảng kiến thức nghĩa của từ ở lớp 5 thì từ đồng nghĩa được dử dụng nhiều Nhắc đến nhiều bài tập.từ đồng nghĩa được biên soạn rất nhiều dạng bài tập khác nhau, khái niệm mang tính tổng hợp, GV gặp nhiều khó khắn khi hướng dẫn HS lĩnh hội kiến thức và thực hành làm bài tập

Thực tế qua 3 năm giảng dạy chương trình lớp 5 mới , khi tổ chức các hoạt động cho học sinh , tôi nhận thấy HS nắm khái niệm từ đồng nghĩa rất mơ hồ, không chắc, gặp khó khăn khi giải nghĩa từ, khi lựa chọn từ đông nghĩa thích hợp trong văn cảnh, vốn từ còn nghèo nàn làm giảm chất lượng dạy học phân môn luyện từ và câu nói chung và từ đồng nghĩa nói riêng Chính vì vậy ,tôi đã nghiên cứu và tìm tòi được một số giải pháp giúp HS hiếu chắc về khái niệm từ đồng nghĩa , cách tìm và sử dụng từ đồng nghĩa cho phù hợp, tích lũy thêm vốn từ cho HS nay tôi tiếp tục bổ sung và hoàn thiện và mạnh dạn viết ra một số kinh nghiệm thành đề tài “Một số kinh nghiệm hướng dẫn tìm và sử dụng từ đồng nghĩa”, mong chia sẻ với đồng nghiệp và để trau dồi chuyên môn cho bản thân

Chương trình SGK đã thực hiện năm thứ 4, theo tìm hiểu thì đây là một đề tài mới mẻ , chưa thấy tài liệu nào đề cập tới

Năm học 2008-2009, tôi đã ghi lại thực trạng và rút ra một số kinh nghiệm, năm học 2009-2010 sau khi áp dụng , tôi đã bổ sung và hoàn thiện thêm Việc nâng cao chất lượng dạy học luyện từ và câu ở lớp 5 nói chung và nghĩa của từ nói riêng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, năng lực giảng dạy của GV, điều kiện và hoàn cnhr của học sinh

Phần nghĩa của từ gồm có: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Trong phạm vi đề tài sáng kiến kinh nghiệm cũng như hạn chế của GV ,tôi chỉ nói đến từ đồng nghĩa Phần từ đồng nghĩa mảng kiến thức khá rộng bài tập đa dạng, phong phú xen kẽ trong nhiều tiết học nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số giải pháp giúp HS nắm chắc khái niệm từ đồng nghĩa, tìm và sử dụng từ đồng phù hợp, tích lũy thêm

Trang 5

vốn từ đồng nghĩavới một số bài tập minh họa để làm sáng tỏ giải pháp được đưa ra

II/ THỰC TRẠNG

Trong chương trình tiếng việt lớp 5 hiện hành có phân môn luyện từ và câu, từ đồng nghĩa được đưa vào dạy chính thức 4 tiết , trong đó có

1 tiết lí thuyết, 3 tiết luyện tập Còn lại “ từ đồng nghĩa “ được lồng ghép vào trong các tiết mở rộng vốn tứ của các chủ điểm và các tiết ôn tập xuyên suốt trong cả năm học.phần tiết lí thuyết cung cấp khái về từ đồng âm cho HS khá mới mẻ với học sinh so với các lớp dưới nhưng rất cần thiết vì được sử dụng trong làm văn , trong giao tiếp hằng ngày

Trường tiểu học phan đăng lưu nằm trên địa bàn xã trúc sơn Một xã nghèo, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn do việc làm không ổn định, đất đai chật, bạc màu.học sinh chủ yếu là học một buổi, cong một buổi phải giúp bố mẹ làm một số công việc nhà, điều đó ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng dạy môn tiếng việt ở bậc tiểu học nói riêng trong đó có phân môn luyện từ và câu

Thực tế dạy chương trình phân môn luyện từ và câu ở lớp 5, khi dạy từ đồng nghĩa tôi nhận thấy những hạn chế học sinh thường gặp là:

-Một là, học sinh chưa nắm được khái niệm của từ đồng nghĩa và bản chất của nó

-Hai là, các em không giải nghĩa được nghĩa của từ đã cho, nên không tìm được từ đồng nghĩa với từ đó và hs không hiểu ,khồn nắm được nghĩa các từ đã cho nên không sắp xếp vừ phân loại được đâu là từ đồng nghĩa hoàn toàn, đâu là từ đồngnghĩa không hoàn toàn, từ đó các em không vận dựng được các từ đồng nghĩa trong văn cảnh một cách phù hợp , lúng túng làm cho câu văn tối nghĩa

-Ba là, vốn từ ngữ cảu các em còn nghèo nàn

Bản thân khái niệm từ đồng nghĩa các em chưa nhớ, tiếp thu chậm trong khi đó bài tập nằm rải rác trong các chủ điểm của môn tiếng việt, không liên tục nên các em học rồi lại quên ngay

Mặt khác, các em không tiếp thu phần từ đồng nghĩa một phần do các em về nhà còn chênh mảng việc học bài cũ

Trang 6

Trong năm học 2006-2007, 2008-2009 khi dạy cho học sinh về từ đồng nghĩa , tôi còn khá lúng túng vì khi hình thành kiến thức mới, giáo viên còn phải làm việc tương đối nhiều, tổ chức theo phương pháp mới lấy học sinh là trung tâm thật sự chưa có hiệu quả Học sinh chưa tích cục, chưa chue động, giáo viên còn phải làm việc gúp học sinh nhiều , học sinh mới hoàn thành bài tập

Kết quả bài làm của học sinh năng học 2008-2009 như sau

BẢNG 1: PHÂN LOẠI ĐIỂM

SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% Tìm từ đồng nghĩa với từ

đã cho hoặc tìm các từ

đồng nghĩa trong đoạn văn

2/21 9,52 6/21 28,57 7/21 33,33 6/21 28,57

Xếp các từ đã cho thành

nhóm từ đồng nghĩa thích

hợp

3/21 14,28 8/21 38,04 6/21 28,57 4/21 19,0

4

Chọn hoặc thay các từ

đồng nghĩa đã cho thích

hợp để hoàn chỉnh bài,

đoạn văn( điền vào chỗ

trống

1/21 4,76 6/21 28,57 8/21 38,09 5/21 23,8

Đặt câu với một cặp từ

đồng nghĩa hoặc viết đoạn

văn có các từ đồng nghĩa

1/21 4,76 6/21 28,57 6/21 28,57 7/21 33,33

BẢNG 2:TỈ LỆ HS ĐẠT ĐIỂM TRÊN TRUNG BÌNH

Tìm từ đồng nghĩa với từ đã cho hoặc tìm từ đồng nghĩa trong

Xếp các từ đã cho thành nhóm từ đồng nghĩa thích hợp 80,95%

Chọn hoặc thay các từ đồng nghĩa đã cho thích hợp để hoàn

chỉnh đoạn văn( điền vào chỗ trống). 76,19%

Trang 7

Đặt câu,hoặc viết đoạn văn có sử dụng các từ đông nghĩa 66,66%

Từ bảng thống kê trên cho thấy , dạng bài tập đặt câu , viết đoạn văn có sử dựng từ đồng nghĩa tỉ lệ bài làm đạt trên cung bình thấp hơn các dạng bài tập khác, HS dạt điểm giỏi chỉ có 1 em , tiếp đến là dạng bài tập tìm từ đồng nghĩa với một từ cho trước hoặc tìm từ đồng nghĩa trong đoạn văn thì tỉ lệ HS có điểm trên trung bình cũng thấp.Đặc biệt cũng dạng bài tập này sau khi học tiết lí thuyết khá lâu thì kết quả học tập của học còn thấp hơn nữa Tuy nhiên các dạng bài tập này nó khá tách bạch rõ ràng, không dạng bài tập nào liên quan đến dạng baig tập nào Nhưng các dạng bài tập này đều chung một điểm là HS phải nắm chắc khái niệm từ đồng nghĩa, biết phân loại từ đồng nghĩa( đồng nghĩa hoàn toàn , đồng nghĩa không hoàn toàn) và phải giải được nghĩa của từ

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả bài làm của các em đạt kết quả chưa cao là do học sinh chưa nắm vững lí thuyết khái niệm từ đồng nghĩa, không phân loại được từ đồng nghĩa Qua dạy hằng ngày và qua chấm bài tôi nhận thấy rằng HS làm bài sai , bài làm chưa tốt là các em không hiểu được “nghĩa của từ” đã cho, “không giải nghĩa” được từ đó nên không tìm được từ đồng nghĩa với từ đó và cũng từ đó các em không biết chọn từ đồng nghĩa phù hợp để điền vào chỗ trống hoặc chọn từ thích hợp để hoàn chỉnh đoạn văn cho hay Ngoài ra còn có các lí do khác không kém phân quan trọng :

-Đó là thời gian thực hành ở lớp còn ít, trong khi dod về nhà phụ huynh quan tâm nhiều đến việc học tập của con em mình , nhất là giúp các em mở rộng vốn từ

-Học sinh ít đọc sách báo nên vốn từ ngữ, vốn văn học chưa phong phú, khả năng tư duy hình tượng chưa cao

-Học sinh ở độ tuổi tiểu học còn ham chơi, ý thức tìm tòi suy nghĩ để tìm từ đồng nghĩa, ận dựng từ đồng nghĩa còn hạn chế

Về phía giáo viên , nhiều khi còn chủ quan, chưa tâm huyết thật sự với tiết dạy

Mặt hkacs đôi khi còn lệ thuộc SGK, giảng bài chưa kĩ, chưa khắc sâu kiến thức vì còn phải chạy đua với thời gian ,chỉ có 40 phút phải giải

Trang 8

quyết một lượng bài tập lớn, làm cho HS chưa mắn kĩ bài.thực trạng này cúng góp phần làm giảm chất lượng giảng dạy yếu tố nói trên

Đứng trước thực trạng trên , tôi thiết nghĩ, cần phải có một giải pháp cụ

HS nắm chắc phần lí thuyết, phân loại từ đồng nghĩa, giải nghĩa của từ, vận dụng từ đồng nghĩa phù hợp ,hiệu quả trong đặt câu , viết đoạn văn có dùng từ đồng nghĩa

PHẦN 2 : GIẢI PHÁP.

Đối với HS nói chung và HS tiểu học nói riêng, phần lí thuyết và thực hành phải đi đôi và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Muố làm được bài tập thực hành thì HS phải học lí thuyết Tôi xin trình bày theo thứ twjtwf lí thuyết đến thực hành

1/ Hướng dẫn HS nắm khái niệm ” Từ đông nghĩa”

Trước tiên tôi hướng dẫn HS phân tích dự liệu để rút ra : thế nào làn từ đồng nghĩa?” Tôi yêu cầu HS so sánh nghĩa của các từ trong 2 đoạn văn từ” xây dựng và kiến thiết”, các từ” vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm “ Sau khi HS trình bày xong , tôi lại yêu cầu HS : Các từ trên từ nào thay thế được cho nhau , từ nào không thay thế cho nhau được ? Vì sao? HS trình bày “ hai từ xây dựng và kiến thiết thay thế được cho nhau , các từ “vàng xuộm , vàng hoe, vàng lịm “không thay thế được cho nhau hỏi : thế nòa làn từ đồng nghĩa? Từ Đồng nghĩa như thế nào thì thay thế được, từ như thế nào không thay thế được? Sâu khi HS trình bày , tôi cho HS nêu ví dụ minh họa Các bước hình thành kiến thức mới nhe thế này thì GV nào cũng làm được nhưng với tôi khi HS phát biểu bằng lời tôi yêu cầu HS hãy vẽ một sơ đồ ghi nhớ về từ đồng nghĩa, khi nhìn vào HS nào cũng có thể nêu được khái niệm, HS không làm được tôi giúp đỡ

Trang 9

SƠ ĐỒ TỪ ĐỒNG NGHĨA

Từ có nghĩa giống nhau Từ có nghĩa gần giống nhau

Đồng nghĩa hoàn toàn Đồng nghĩa không

hoàntoàn

Có thể thay thế Không thay thế được , phải lựa chọn

VD: máy bay, tàu bay VD:đỏ au, đỏ thắm

Tôi yêu cầu HS vẽ vào sổ tay và về nhà phải thuộc sơ đồ

1/ Hướng dẫn HS làm bài tập

a Hướng dẫn tìm từ đồng nghĩa:

Ví dụ: Tìm từ đồng nghĩa với từ “ Tổ quốc” bài tập TV5 tập 1/ tr 18 Trước khi tìm từ đồng nghĩa tôi yêu cầu HS phải nêu được nghĩa của từ “ Tổ quốc”, yêu cầu HS tra từ điển để tìm nghĩa, nếu không có từ điển nếu từ cho là từ hán việt thì yêu cầu tách từng tiếng ra giải nghĩa rồi ghép lại, khuyết khích HS nói theo cách hiểu của các em ( ví dụ: tổ có nghĩa là tổ tiên, quốc có nghĩa là nước) Trước khi tìm từ đồng nghĩa với từ đó tôi cho HS nêu lại khái niệm từ đồng nghĩa , tiết thực hành nào cũng phải nêu lại lí thuyết thì HS mới nhớ.Cuối cùng yêu cầu HS tìm từ đồng nghĩa với từ “ Tổ quốc”( đất nước , non sông, giang sơn, quê hương) Sau khi hoàn thành bài tập tôi yêu cầu HS ghi các từ đồng nghĩa tìm được vào sổ tay để tích lũy vốn từ cho bản thân

Trang 10

Bất kì bài tập nào yêu cầu tìm từ đồng nghĩa tôi đều yêu cầu HS ghi vào sổ tay các từ đồng nghĩa vừa tìm được để học Cuối tuần có giờ sinh hoạt lớp cho HS giũa các tổ thi tìm từ đồng nghĩa với các từ GV chuẩn bị sẵn.Tương tự với các bài tập: tìm từ đồng nghĩa với từ hòa bình TV5 tập 1 tr47 ; bài tập 2 Tv5 tập 1 tr97 tìm từ đồng nghĩa với mỗi từ: bảo vệ, bình yên, đoàn kết, bạn bè, mênh mông. Tìm từ đồng nghĩa với mỗi từ :nhân hậu, trung thực, dũng cảm, cần cù

TV5 tập 1,trang 156 Sau khi HS thực hiện yêu cầu

Bằng phương pháp giao việc hoặc thảo luận nhóm nhỏ, tôi yêu cầu cho biết các từ đồng nghĩa vừa tìm được là từ đồng nghĩa hoàn toàn hay không hoàn toàn, lấy ví dụ để minh họa cách dừng từ đồng nghĩa.(

ví dụ: Cuộc sống nơi đây thật bình yên )

b Hướng dẫn chonï xếp từ đồng nghĩa cho phù hợp

Ví dụ: Xếp các từ cho dưới đây thành những nhóm từ đồng nghĩa ( bài 2, TV5 tập 1/ t r22)

Bao la, lung linh,vắng vẻ, hiu quạnh, long lanh, lóng lánh, mênh mông,vắng teo, vắng ngắt, bát ngát, lấp loáng, lấp lánh, hiu hắt, thênh thang

Đối với dạng bài tập này , trước khi xếp , tôi cho HS giải nghĩa nhanh các từ đã cho: Em hiểu từ mênh mông như thế nào? Từ mênh mông gợi tả đến không gian hay thời gian?Từ lóng lánh gợi tả sự vật như thế nào? Cảnh vật như thế nào được xem là”vắng vẻ “?

Khi HS hiểu cơ bản nghĩa của các từ rồi mới cho HS thực hiện yêu cầu của bài tập Vì GV yêu cầu HS thực hiện ngay yêu cầu của bài tập thì chỉ có một hai em khá, giỏi làm được còn các HS khác khó thực hiện được yêu cầu cầu bài, do tư duy hình tượng của các em hạn chế Sau khi HS trình bày xong GV giúp HS nêu được : các nhóm từ đồng nghĩa tìm được là những từ đồng nghĩa hoàn toàn hay là các từ đồng nghĩa không hoàn toàn? Khi sử dụng các từ đồng nghĩa đó ta chú ý điều gì? ( các nhóm từ là từ đồng nghĩa không hoàn toàn , khi sử dụng

ta phải lựa chọn cho phù hợp trong văn cảnh

Ví dụ: Cánh đồng rộng mênh mông Không đặt câu là: Cánh đồng rộng thênh thanh.)

Ngày đăng: 01/07/2014, 17:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1:  PHÂN LOẠI ĐIỂM - MOT SO BIEN PHAP HOC TOT PHAN MON LUỴEN TU VA CAU PHAN TU DONG NGHIA
BẢNG 1 PHÂN LOẠI ĐIỂM (Trang 6)
BẢNG 1:  PHÂN LOẠI ĐIỂM - MOT SO BIEN PHAP HOC TOT PHAN MON LUỴEN TU VA CAU PHAN TU DONG NGHIA
BẢNG 1 PHÂN LOẠI ĐIỂM (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w