ii Các quy định của các quốc gia được lựa chọn và pháp luật Việt Nam vàcác học thuyết liên quan đến Hợp đồng Nhà nước và tranh chấp Hợp đồng Nhànudéc; iii Các án lệ về tranh chap Hợp đồn
Pham vi nghiên cứu va đối tượng nghiên cứu ¿- 5+ + ti ti tt t1 11c ưu 10 5 Nội dung fighlÊf,CỮsises6ssss46561640414433611 003 03838531681944834614A40438501343947848IA839138108@ 10 6:.Etriơ:PHáD TrrhHhầi1ỂTi:6 Úlbunsseoaese1eoigsisssea4ll440619334301-0489604s068xxàA3i2p53Si828hd8Grdibizvkittcogoecpdpiche 11 7 Sản phẩm chính của Đề tài - 5256-2522 1213 1112712210211 7111111111 1 1g 12
Hợp đồng Nhà nước và nội hàm “khoản đầu tư” theo các hiệp định đầu tư
Để xác định liệu một hiệp định đầu tư có bảo hộ khoản đầu tư theo Hợp đồng Nhà nước hay không, cần xem xét định nghĩa về “khoản đầu tư” trong hiệp định và các điều khoản giải quyết tranh chấp liên quan Nhiều hiệp định đầu tư định nghĩa “khoản đầu tư” theo cách tiếp cận rộng, bao gồm “mọi loại tài sản” và nhấn mạnh đến việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà nước sở tại nợ nhà đầu tư từ nước ký kết khác Quyền theo hợp đồng có thể bao gồm các quyền từ thỏa thuận nhượng quyền cho phép nhà đầu tư tìm kiếm, thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Ví dụ về các điều khoản trong BIT Ecuador - Vương quốc Anh năm 1994 cho thấy "khoản đầu tư" bao gồm mọi loại tài sản, không giới hạn ở một số loại cụ thể.
Các thỏa thuận trao quyền kinh doanh được hình thành dựa trên luật pháp hoặc hợp đồng, bao gồm cả các thỏa thuận liên quan đến việc tìm kiếm, nuôi trồng, chiết xuất hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Hoặc BIT Canada - Philippines nam 1995:
Khoản đầu tư nghĩa là bất kỳ loại tài sản nào được sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nhà đầu tư của một Bên Ký kết, hoặc thông qua một nhà đầu tư của một Nước thứ ba, trên lãnh thổ của Bên Ký kết kia, phù hợp với luật pháp của Bên Ký kết đó Tài sản này bao gồm nhưng không giới hạn ở nhiều hình thức khác nhau.
` Điều 1(a)(v) BIT UK - Ecuador 1994 hosed
Quyền được tạo ra theo luật hoặc hợp đồng cho phép thực hiện các hoạt động kinh tế và thương mại, bao gồm quyền tìm kiếm, nuôi trồng, chiết xuất hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên Sự thay đổi về hình thức của khoản đầu tư không làm ảnh hưởng đến tính chất của nó như một khoản đầu tư.
Các thỏa thuận trao quyền trong hiệp định đầu tư bao gồm các Hợp đồng Nhà nước giữa Nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài Định nghĩa “khoản đầu tư” trong các hiệp định này đảm bảo rằng các thỏa thuận trao quyền cho nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực cần vốn lớn như phát triển cơ sở hạ tầng và khai thác tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ Thuật ngữ “quyền thực hiện hoạt động kinh tế, thương mại” hay “đặc quyền kinh doanh” trong hiệp định đầu tư được coi là đủ rộng để bao gồm các Hợp đồng Nhà nước trao đặc quyền kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực hoặc dự án cụ thể.
Một số hiệp định đầu tư định nghĩa “khoản đầu tư” bao gồm toàn bộ các quyền theo hợp đồng Ví dụ, Điều I.d.iii của BIT Hoa Kỳ - Bolivia năm 1998 quy định rõ ràng về định nghĩa này.
Khoản đầu tư của một công dân hoặc công ty được hiểu là bất kỳ khoản đầu tư nào mà công dân hoặc công ty đó sở hữu hoặc kiểm soát, bao gồm các khoản đầu tư được hình thành hoặc thực hiện thông qua các hình thức như hợp đồng chia khóa trao tay, hợp đồng xây dựng hoặc quản lý, hợp đồng sản xuất hoặc chia sẻ doanh thu, nhượng quyền, và các hợp đồng tương tự khác.
Cách quy định này đủ rộng để bao trùm nhiều quyền theo hợp đồng, bao gồm cả những quyền không thuộc luật công Việc đưa vào điều khoản như vậy có thể nâng toàn bộ hợp đồng vào lĩnh vực bảo vệ theo hiệp định đầu tư Một số hiệp định đầu tư, đặc biệt là những hiệp định định nghĩa “khoản đầu tư” theo cách rộng, có thể loại trừ một số hợp đồng cụ thể khỏi phạm vi áp dụng Ví dụ, Điều 1139(h) của NAFTA loại trừ các hợp đồng thương mại khỏi chương đầu tư, quy định rằng đầu tư không bao gồm quyền đòi tiền chỉ phát sinh từ hợp đồng thương mại mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ giữa doanh nghiệp trên lãnh thổ của một Bên với doanh nghiệp trên lãnh thổ của Bên kia.
Điều khoản giải quyết tranh chấp tại hiệp định đầu tư có áp dụng cho các tranh chấp
Trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng nhà nước, câu hỏi quan trọng là liệu tranh chấp này có thể được xử lý theo điều khoản giải quyết tranh chấp trong hiệp định đầu tư giữa nước ký kết hợp đồng và nhà đầu tư hay không Điều này phụ thuộc vào nội dung của điều khoản giải quyết tranh chấp, đặc biệt là thẩm quyền của cơ quan giải quyết Một số hiệp định định nghĩa "tranh chấp đầu tư" là tranh chấp giữa một bên ký kết và công dân hoặc công ty của bên kia.
Các bên ký kết hiệp định có thể phát sinh tranh chấp liên quan đến khoản đầu tư được bảo hộ hoặc công nhận theo hiệp định Nhiều hiệp định quy định rằng các tranh chấp giữa một bên ký kết và công dân của bên ký kết kia liên quan đến đầu tư sẽ được giải quyết theo điều khoản giải quyết tranh chấp trong hiệp định Ví dụ, Điều XL1 của BIT Hoa Kỳ - Bolivia năm 1998 đã quy định rõ về vấn đề này.
Theo Hiệp định này, tranh chấp đầu tư được định nghĩa là sự tranh chấp giữa một Bên Ký kết và công dân hoặc công ty của Bên Ký kết kia, phát sinh từ hoặc liên quan đến chấp thuận đầu tư, hợp đồng đầu tư, hoặc vi phạm quyền được công nhận bởi Hiệp định đối với khoản đầu tư được bảo hộ Ví dụ, Điều 9 của BIT Việt Nam - Thổ Nhĩ Kỳ năm 2014 minh họa rõ ràng cho khái niệm này.
1 Bat kỳ tranh chấp pháp ly nao phát sinh trực tiếp từ khoán đầu tư giữa một Bên Ký kết và một nhà đầu tư của Bên Ký kết kia liên quan đến cáo buộc vi phạm nghĩa vụ theo Hiệp định, và gây thiệt hại cho khoản đầu tư, sẽ được nỗ lực giải quyết thông qua tham vấn và đàm phán trên cơ sở thiện chí giữa nhà đầu tư và Bên Ký kết liên quan Vì mục đích này, một thông báo dam phan bằng văn bản bao gồm các thông tin chỉ tiết sẽ được nha đầu tư gửi đến Bên Ký kết la một bên trong tranh chấp.
Cách quy định này cho thấy rằng tất cả các tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến khoản đầu tư đều có thể được giải quyết theo điều khoản giải quyết tranh chấp trong hiệp định Khi định nghĩa về “đầu tư” đủ rộng để bao gồm cả Hợp đồng Nhà nước mà không có sự loại trừ rõ ràng nào, có thể khẳng định rằng các tranh chấp từ Hợp đồng Nhà nước cũng có thể được giải quyết theo điều khoản này.
Điều khoản bao trùm trong các hiệp định đầu tư và VIỆC giải thích điều khoản bao trùm liên quan đền các cam kêt của một nha nước theo Hợp đông Nhà nước
Nhiều hiệp định đầu tư bao gồm điều khoản bao trùm (umbrella clause), bảo vệ các nghĩa vụ mà một bên ký kết cam kết với công dân hoặc công ty của bên ký kết còn lại Chẳng hạn, Điều 2 của Hiệp định BIT giữa Chile và Ao nêu rõ điều này.
“(4) Mối Bên Ký kết sẽ tuân thủ bắt kỳ nghĩa vụ hợp dong nào mà Bên
Ký kết này đã xác nhận cam kết với nhà đầu tư của bên ký kết kia về các khoản đầu tư được phê duyệt trên lãnh thổ của mình.
Nhiều án lệ đã chỉ ra rằng điều khoản bao trùm trong hiệp định đầu tư có thể cho phép giải quyết các khiếu kiện theo Hợp đồng Nhà nước thông qua điều khoản giải quyết tranh chấp của hiệp định đầu tư, thay vì phải tuân theo điều khoản giải quyết tranh chấp trong Hợp đồng Nhà nước đang bị tranh chấp.
Hội đồng trọng tài trong vụ SGS v Pakistan đã giải thích Điều 11 của BIT
1995 giữa Pakistan và Thụy Sĩ“, rằng trừ khi được tuyên bố rõ ràng, một điều
2 Nếu tranh chấp không thê được giải quyết theo cách nêu trên trong vòng sáu (6) tháng kế từ ngày gửi thông báo bằng văn ban theo quy định tại đoạn 1, tùy thuộc vào lựa chọn của nhà đầu tư, tranh chấp có thé được đệ trình đến:
(a) Tòa án có thâm quyền của Bên Ký kết nơi khoản đầu tư được thành lập;
Trung tâm Quốc tế về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư được thành lập theo Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước và công dân của nhà nước khác, áp dụng cho các Bên Ký kết là thành viên của Công ước này.
Trong trường hợp chỉ một trong các Bên Ký kết là thành viên của Công ước, Co chế Phụ trợ của Trung tâm sẽ được áp dụng Ngoài ra, một hội đồng trọng tài ad hoc có thể được thành lập theo Quy tắc Trọng tài của Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế Liên hợp quốc (UNCITRAL), trừ khi các bên tranh chấp có thỏa thuận khác Điều này được quy định trong Điều 11 của BIT Pakistan - Thụy Sĩ năm 1995.
Tuân thủ cam kết khoản bao trùm không vi phạm nguyên tắc luật quốc tế, và một vi phạm hợp đồng không đồng nghĩa với vi phạm luật quốc tế, đặc biệt khi hợp đồng có điều khoản lựa chọn nơi giải quyết tranh chấp hợp lệ Hội đồng trọng tài nhận định rằng điều khoản bao trùm không phải là nghĩa vụ ưu tiên, mà tạo ra cam kết chung của các nước ký kết hiệp định trong việc bảo đảm tính hiệu lực của Hợp đồng Nhà nước.
Các bảo lưu của quốc gia thành viên trong hiệp định đầu tư 2- 22-52 3l 1.3 Tranh chấp Hợp đồng Nhà nước -2-©©2©EE+2CE2271122112711221127117111211211 2e 33 1.3.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp Hợp đồng Nhà nước -. ccccccccccec 34 1.3.2 Mỗi quan hệ giữa điều khoản giải quyết tranh chấp tại Hợp đồng Nhà nước và điều khoản giải quyét tranh chap tại hiệp định dau tư có liên quan +<-++s+<<>~s+ 35 1.3.3 Một số loại tranh chấp liên quan đến Hợp đồng Nhà nước phổ biến
Việc xác định liệu một hiệp định đầu tư có bảo vệ khoản đầu tư theo Hợp đồng Nhà nước hay không phụ thuộc vào các bảo lưu của quốc gia thành viên trong quá trình đàm phán và thực hiện hiệp định Các bảo lưu này thường được nêu rõ trong hiệp định đầu tư cụ thể Hợp đồng Nhà nước thường được áp dụng trong các lĩnh vực đầu tư nhạy cảm về chính trị và được điều chỉnh bởi cơ chế pháp lý đặc biệt, cho phép Chính phủ có quyền quyết định lớn trong quá trình ký kết Cơ chế này thể hiện quyền của Chính phủ trong việc điều chỉnh chính sách đầu tư theo ưu tiên quốc gia Tuy nhiên, việc thực hiện một số quyền hạn của nhà nước liên quan đến Hợp đồng Nhà nước có thể dẫn đến vi phạm quyền của nhà đầu tư nước ngoài được bảo vệ theo hiệp định đầu tư Để tránh tình huống này và bảo vệ quyền hợp pháp của Chính phủ trong việc điều chỉnh chính sách đầu tư vì lợi ích quốc gia, các điều khoản của hiệp định đầu tư thường được soạn thảo để công nhận nhu cầu về không gian chính sách của nước tiếp nhận đầu tư.
Điều 18 Hiệp định Hiến chương Năng lượng khẳng định quyền chủ quyền quốc gia đối với các nguồn năng lượng của các nước thành viên Các bên ký kết công nhận quyền sở hữu của mỗi quốc gia và nhấn mạnh rằng Hiến chương không ảnh hưởng đến các quy tắc điều chỉnh hệ thống sở hữu năng lượng của từng bên Họ cũng cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận nguồn năng lượng thông qua việc thông báo rộng rãi và đảm bảo không phân biệt đối xử.
Một trong hai Bên ký kết cam kết liên tục đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ đã ký kết liên quan đến các khoản đầu tư của nhà đầu tư bên kia.
5 Điều 18 Hiệp định Hién chương Năng lượng chuẩn về giấy phép, thỏa thuận trao quyền, hợp đồng để thăm dò và khai thác các nguồn năng lượng.
Hiệp định đầu tư có thể được thiết kế để công nhận tính hợp pháp của các hành động pháp lý liên quan đến nhà đầu tư, như kiểm soát các khoản thanh toán bất hợp pháp và bảo lưu các biện pháp vì lý do an ninh quốc gia hoặc các lý do chính sách công quan trọng khác.
Hiệp định đầu tư không chỉ duy trì không gian chính sách quốc gia mà còn thiết lập các nghĩa vụ của Nhà nước đối với nhà đầu tư tư nhân nước ngoài Các điều khoản này có thể bao gồm trách nhiệm của Nhà nước về rủi ro chính trị đối với khoản đầu tư và bảo mật thông tin Một điều khoản như vậy có thể được quy định theo cấu trúc cụ thể.
Sau khi đầu tư được thực hiện, mọi sửa đổi đáng kể trong luật pháp của Bên ký kết sẽ không áp dụng hồi tố đối với khoản đầu tư Do đó, các khoản đầu tư thực hiện theo Hiệp định này sẽ được bảo vệ.
Việc một Nhà nước vi phạm Hợp đồng Nhà nước có thể dẫn đến vi phạm theo hiệp định đầu tư, tùy thuộc vào phạm vi áp dụng của hiệp định, các bảo lưu của Nhà nước trong quá trình đàm phán và nội dung cụ thể của hiệp định Nhiều tranh chấp liên quan đến hiệp định đầu tư thực tế xuất phát từ các tranh chấp Hợp đồng Nhà nước.
1.3 Tranh chấp Hợp đồng Nhà nước
Hợp đồng Nhà nước thường có thời gian thực hiện dài và diễn ra trong bối cảnh rộng lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm về chính sách Do đó, tranh chấp liên quan đến Hợp đồng Nhà nước thường xảy ra phổ biến.
Tranh chấp hợp đồng nhà nước có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân, bao gồm sự thay đổi chính sách của nhà nước, quốc hữu hóa khoản đầu tư, hủy bỏ hợp đồng, và các vấn đề trong quá trình thực hiện dự án Những vướng mắc này có thể liên quan đến việc không bồi thường thỏa đáng cho người phải di dời tái định cư, nhà đầu tư tiến hành dự án mà chưa được phê duyệt theo Điều XII(3) BIT mẫu Italia, hoặc nhà đầu tư thiếu năng lực thực hiện dự án và không thu xếp được tài chính Ngoài ra, việc nhà nước chậm giao đất cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tranh chấp hợp đồng nhà nước.
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp Hợp đồng Nhà nước
Tranh chấp Hợp đồng Nhà nước tương tự như tranh chấp hợp đồng thông thường, xảy ra khi các bên ký kết không đạt được sự đồng thuận về việc giải thích hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, cũng như các hạn chế hoặc giá trị bồi thường cho việc vi phạm nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Hợp đồng Nhà nước được ký kết giữa nhà đầu tư và Nhà nước hoặc cơ quan/doanh nghiệp do Nhà nước chỉ định, trong đó một bên tham gia tranh chấp luôn là Nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền Thông thường, các doanh nghiệp nhà nước, bộ quản lý ngành, hoặc chính quyền địa phương đại diện cho Nhà nước ký kết hợp đồng với nhà đầu tư Chẳng hạn, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đại diện cho Nhà nước ký kết hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí với nhà đầu tư nước ngoài, trong khi Bộ Công Thương ký kết hợp đồng BOT điện với các bên phát triển dự án điện nước ngoài để phát triển năng lượng tại Việt Nam.
Hợp đồng Nhà nước thường được ký kết để thực hiện các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực công, bao gồm phát triển cơ sở hạ tầng, dự án năng lượng, và thăm dò, khai thác khoáng sản Thời hạn của các hợp đồng này thường dài, trung bình khoảng 30 năm.
Tranh chấp Hợp đồng Nhà nước thường diễn ra trong bối cảnh rộng lớn của quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng Những dự án này thu hút sự quan tâm của dư luận do liên quan đến lợi ích công và ảnh hưởng đến cộng đồng địa phương Do đó, có thể khẳng định rằng các tranh chấp Hợp đồng Nhà nước mang tính chất chính trị rất lớn.
On April 22, 2013, Decree 33/2013/NĐ-CP was issued, establishing a model contract for oil and gas product sharing This regulation is significant in shaping investor-state contracts and clarifying host-state commitments, addressing common misconceptions in the industry.
Stability in International Law, The American Review of International Arbitration, Vol 24 No 3 (2013), p 377
Lĩnh vực đầu tư của Hợp đồng Nhà nước thường yêu cầu vốn lớn, thời gian thực hiện kéo dài và thời gian thu hồi vốn chậm, dẫn đến giá trị các tranh chấp thường rất cao Chẳng hạn, trong vụ Hochtief kiện Argentina, nhà đầu tư yêu cầu bồi thường hơn 157 triệu USD; trong vụ Lidercon kiện Peru, yêu cầu bồi thường là 123 triệu USD; và trong vụ Flughafen Zurich kiện Venezuela, nhà đầu tư cũng đưa ra yêu cầu bồi thường lớn.
79 triệu CHF (tương đương với khoảng hơn 82 triệu USD).
KINH NGHIỆM QUỐC TE VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP PHÁT
KHÁI QUÁT VE HỢP DONG NHÀ NƯỚC VÀ TRANH CHAP HỢP DONG
1.1 Các vấn đề lý luận chung về Hợp đồng Nhà nước
1.1.1 Lịch sử phát triển của Hợp đồng Nhà nước
Hợp đồng Nhà nước mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, bằng cách tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ công Những quốc gia này thường không đủ ngân sách để trang trải các chi phí này, do đó, họ thực hiện các thỏa thuận hợp đồng cụ thể với nhà đầu tư nước ngoài Việc sử dụng Hợp đồng Nhà nước trở nên phổ biến nhằm thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực công mà nhà nước đang thiếu hụt tiềm lực tài chính để đầu tư.
Hợp đồng Nhà nước thường được nhìn nhận pho biến nhất với thuật ngữ
Hợp đồng trao quyền, hay còn gọi là "concession contract", được áp dụng để phát triển cơ sở hạ tầng như kênh đào, đường sắt, cầu, cảng, hoặc cung cấp dịch vụ công và khai thác tài nguyên thiên nhiên Tại Pháp, hình thức hợp đồng này đã được sử dụng từ rất sớm, chủ yếu trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đường xá, với người sử dụng phải đóng phí Hợp đồng trao quyền đầu tiên được ký vào năm 1554, cho phép một công dân xây dựng và bảo trì một con kênh trong vòng 10 năm Đến thế kỷ 19, hợp đồng trao quyền trở nên phổ biến trong việc thực hiện các công trình công cộng tại Pháp, với các nhà thầu thường được quyền khai thác và thu phí trong khoảng thời gian từ 6 đến 10 năm.
Từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, nhiều Hợp đồng Nhà nước đã được áp dụng để cho phép khu vực tư nhân tham gia vào các dự án công như đào kênh, xây dựng đường xá và đường ray ở Châu Âu, sau đó mở rộng sang Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản Một ví dụ điển hình cho mô hình hợp tác này là việc đầu tư vào các dự án hạ tầng công cộng.
39 https://www.researchgate.net/publication/334233867 Public private partnerships in France a significant and decreasing role in the delivery of public infrastructure and services (truy cập gần nhất ngày 18/01/2024) Nhu trén
35 Như trên thi công kênh dao Suez ở AI Cập bởi Univeral Company of the Maritime Canal of Suez”®.
Sau giai đoạn can thiệp mạnh mẽ của Chính phủ vào cơ sở hạ tầng từ cuối thế kỷ 19 đến những năm 1970, việc chuyển đổi cơ sở hạ tầng sang nền kinh tế thị trường đã trở nên phổ biến trong những năm 80.
Vào năm 1992, Vương quốc Anh đã triển khai Chương trình thu hút đầu tư tư nhân vào các dự án công (PFI), cho phép khu vực công mua lại dịch vụ từ tư nhân Theo mô hình này, các nhà đầu tư chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời có quyền thu phí trong khoảng thời gian từ 15 đến 30 năm Các dự án PFI chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như đường xá, đường tàu, nhà tù, nhà ở và dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Tất cả các dự án này đều được đàm phán và thực hiện trên cơ sở Hợp đồng Nhà nước.
Đến đầu thế kỷ XX, Hợp đồng Nhà nước đã trở nên phổ biến trên toàn cầu do sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế vĩ mô Các chính phủ đã khuyến khích khu vực tư nhân, bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài, tham gia vào việc đầu tư xây dựng hạ tầng công cộng nhằm giảm bớt gánh nặng ngân sách tài chính công và nâng cao vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế Các lĩnh vực được khuyến khích bao gồm xây dựng đường, bến cảng, sản xuất năng lượng, và các nhà máy cung cấp nước, xử lý nước thải, chất thải rắn Trong các lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên quan trọng, nhà đầu tư nước ngoài thường ký hợp đồng trao quyền với các pháp nhân do nhà nước kiểm soát, như trong lĩnh vực dầu khí, nơi các hợp đồng thường được ký kết bởi các công ty dầu khí do nhà nước nắm giữ hoặc kiểm soát.
1.1.2 Khái niệm Hợp đồng Nhà nước
Theo UNCTAD, Hợp đồng Nhà nước là hợp đồng giữa Nhà nước hoặc cơ quan của Nhà nước với công ty nước ngoài hoặc pháp nhân có quốc tịch nước ngoài Hợp đồng này bao gồm nhiều loại hình như vay vốn, mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, đầu tư xây dựng hạ tầng và khai thác tài nguyên thiên nhiên Lịch sử cho thấy các lĩnh vực này đóng vai trò quan trọng, mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân sách quốc gia và thường được Chính phủ đầu tư, quản lý Do đó, nhà đầu tư nước ngoài cần ký Hợp đồng Nhà nước với Chính phủ hoặc thực thể do Chính phủ kiểm soát khi tham gia vào các lĩnh vực này.
Hợp đồng Nhà nước có tính chất đặc thù do sự kết hợp giữa yếu tố công và tư, với mục tiêu đầu tư lợi nhuận của nhà đầu tư và lợi ích công cộng mà Nhà nước hướng tới Vì vậy, Hợp đồng Nhà nước được phân biệt rõ ràng với hợp đồng thương mại thông thường Trong bối cảnh này, Hợp đồng Nhà nước thu hút sự chú ý lớn từ cộng đồng, đặc biệt là các yếu tố chính sách công như dự án đầu tư, trách nhiệm bảo lãnh của Nhà nước và lợi ích chung của cộng đồng, cần được xem xét kỹ lưỡng.
Sự phân biệt giữa hợp đồng thương mại thông thường và Hợp đồng Nhà nước được ghi nhận trong nhiều hệ thống pháp luật, như ở Cộng hòa Pháp với khái niệm “hợp đồng hành chính” (contrat administratif), trong đó một bên ký kết là cơ quan nhà nước hoặc đại diện của họ Quy định này thường được quy định trong pháp luật nội địa, xác định thẩm quyền ký kết hợp đồng giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài, mở rộng lĩnh vực công cho sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cùng với các điều kiện và hạn chế đi kèm Do đó, việc ký kết hợp đồng với Nhà nước là cách duy nhất để nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực công do Nhà nước kiểm soát.
4) https:/Awww.legifrance.gouv.fr/codes/article_lc/LEGIARTI000037704553 (truy cập gan nhất ngày
Tại Việt Nam, Hợp đồng Nhà nước đã được quy định từ năm 1992 dưới hình thức hợp đồng BOT và từ năm 2020, với sự ra đời của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP), được gọi là hợp đồng dự án PPP Ngoài ra, Việt Nam cũng có văn bản pháp luật riêng quy định về mẫu hợp đồng chia sản phẩm dầu khí.
Hợp đồng Nhà nước là một hình thức phổ biến trong hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên Pháp luật Việt Nam hiện nay đã công nhận hầu hết các loại hình Hợp đồng Nhà nước.
Việt Nam, với tư cách là một nước đang phát triển, đang đối mặt với nhu cầu đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng Hợp đồng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Do đó, Nhà nước cần chú trọng đến loại hình hợp đồng này và cần lưu ý đến việc thực hiện hợp đồng trong bối cảnh lâu dài trong quá trình đàm phán.
1.1.3 Đặc điểm của Hợp đồng Nhà nước
Hợp đồng Nhà nước là hình thức hợp đồng thể hiện sự hợp tác giữa bên tư nhân và chính phủ để thực hiện dự án công, đặc biệt khi chính phủ không đủ nguồn lực đầu tư hoặc không muốn ưu tiên sử dụng nguồn lực của Nhà nước Một số đặc điểm nổi bật của Hợp đồng Nhà nước bao gồm sự chia sẻ trách nhiệm và lợi ích giữa các bên tham gia.
Hợp đồng Nhà nước bao gồm một bên là Chính phủ và một bên là tư nhân, tạo nên sự khác biệt rõ rệt so với các hợp đồng thương mại thông thường Sự kết hợp giữa yếu tố công và tư trong các Hợp đồng Nhà nước yêu cầu quản lý chặt chẽ để khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân vào lĩnh vực công, giảm bớt gánh nặng đầu tư cho nhà nước Đồng thời, cần tạo ra cơ chế hợp lý để các nhà đầu tư tư nhân có thể thu lợi nhuận, đồng thời đảm bảo rằng việc hợp tác theo Hợp đồng Nhà nước không bị lạm dụng để trục lợi.
Sự khác biệt nổi bật giữa Hợp đồng Nhà nước và các hợp đồng thương mại thông thường là sự kết hợp giữa yếu tố công và tư Trong khi nhà đầu tư thực hiện dự án để thu lợi nhuận, Nhà nước lại có trách nhiệm cung cấp dịch vụ công và cơ sở hạ tầng thiết yếu cho công dân Do đó, các bên trong Hợp đồng Nhà nước cần phải cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố này.