05050006268 trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và mối liên hệ với sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông 05050006268 trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và mối liên hệ với sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-
ĐÀO THỊ THU HƯƠNG
TRẢI NGHIỆM TIÊU CỰC TRONG QUAN HỆ BẠN BÈ
VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÂM LÝ HỌC
Hà Nội, năm 2025
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-
ĐÀO THỊ THU HƯƠNG
TRẢI NGHIỆM TIÊU CỰC TRONG QUAN HỆ BẠN BÈ
VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ “Trải nghiệm tiêu cực trong quan
hệ bạn bè và mối quan hệ với sức khoẻ tâm thần của học sinh Trung học phổ thông” là nghiên cứu của cá nhân tôi Quá trình thu thập dữ liệu đảm bảo các quy định và đạo đức Kết quả được trình bày trong nghiên cứu là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong nghiên cứu nào trước đây Các thông tin từ nghiên cứu khác được trích dẫn nguồn đầy đủ
Ngày tháng năm 2025
Đào Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn
cô Đỗ Thị Lệ Hằng và thầy Trần Thành Nam, những người thầy cô đã tận tâm, chu đáo hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Sự tận tình chỉ dẫn và những ý kiến quý báu của thầy cô đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn và đạt được kết quả như ngày hôm nay
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Các Khoa học Giáo dục - trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã hỗ trợ tôi rất nhiều trên hành trình học tập, đóng góp những ý kiến quý giá và tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Đồng thời, tôi xin được cảm ơn các thầy cô và các em học sinh từ các trường trung học phổ thông tại Hà Nội và Ninh Bình đã nhiệt tình hợp tác, hỗ trợ tôi trong quá trình điều tra thực trạng, thu thập thông tin và số liệu cần thiết cho nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và bạn bè - những người luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Dù đã rất nỗ lực, nhưng luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô để có thể hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Ngày tháng năm 2025
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1 Mối liên hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và vấn đề
sức khoẻ tâm thần 23
Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 28
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá SDQ 25 32
Hình 3.1 Phân bố điểm bị tẩy chay 37
Hình 3.2 Phân bố điểm bị bắt nạt 42
Hình 3.3 Phân bố điểm khó khăn sức khoẻ tâm thần 49
Bảng 3.1 Tần suất trải nghiệm các loại hành vi tẩy chay của bạn bè 38
Bảng 3.2 Tần suất trải nghiệm các loại hành vi bắt nạt của bạn bè 44
Bảng 3.3 So sánh tình trạng bị tẩy chay và bắt nạt của học sinh nam và nữ 46 Bảng 3.4 So sánh tình trạng bị tẩy chay và bắt nạt của học sinh các khối lớp 47
Bảng 3.5 Phân bố điểm khó khăn sức khoẻ tâm thần 50
Bảng 3.6 Kết quả phân tích các mô hình hồi qui dự báo của tẩy chay cho vấn đề sức khoẻ tâm thần 52
Bảng 3.7 Kết quả phân tích các mô hình hồi qui dự báo của tẩy chay cho vấn đề sức khoẻ tâm thần khi có yếu tố bảo vệ 54
Bảng 3.8 Kết quả phân tích các mô hình hồi qui dự báo của bắt nạt cho vấn đề sức khoẻ tâm thần 56
Bảng 3.9 Kết quả phân tích các mô hình hồi qui dự báo của bắt nạt cho vấn đề sức khoẻ tâm thần khi có yếu tố bảo vệ 58
Bảng 3.10 Kết quả phân tích các mô hình hồi qui dự báo của trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè cho vấn đề sức khoẻ tâm thần 60
Bảng 3.11 Kết quả phân tích các mô hình hồi qui dự báo của trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè cho vấn đề sức khoẻ tâm thần khi có yếu tố bảo vệ 61
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Nghiên cứu về trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè của vị thành niên 5
1.1.2 Nghiên cứu về mối liên quan giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè với sức khoẻ tâm thần của học sinh 9
1.1.3 Tác động của hỗ trợ xã hội và lòng tự trọng đến sức khoẻ tâm thần của học sinh 12
1.2 Một số khái niệm công cụ 15
1.2.1 Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè 15
1.2.2 Sức khỏe tâm thần 19
1.2.3 Hỗ trợ xã hội 20
1.2.4 Lòng tự trọng 21
1.3 Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học phổ thông 21
1.3.1 Một số luận điểm lý thuyết về mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần 21
1.3.2 Vận dụng các luận điểm lý thuyết xây dựng mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học phổ thông 22
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu 26
Trang 82.2.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 26
2.2.2 Mẫu nghiên cứu 27
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 29
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 29
2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 33
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 34
Tiểu kết chương 2 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRẢI NGHIỆM TIÊU CỰC TRONG QUAN HỆ BẠN BÈ VÀ MỐI QUAN HỆ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 37
3.1 Tần suất trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè của học sinh trung học phổ thông 37
3.1.1 Bị tẩy chay 37
3.2 So sánh trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè theo một số lát cắt 46
3.2.1 Sự khác biệt giới về tình trạng bị tẩy chay 46
3.2.2 Khối lớp 47
3.3 Tác động của trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè đến sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông 48
3.3.1 Thống kê mô tả biến phụ thuộc – sức khỏe tâm thần 48
3.3.2 Tác động của bị bạn tẩy chay đến sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông 51
3.3.3 Tác động của bị bạn bắt nạt đến sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông 55
Tiểu kết chương 3 64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Lứa tuổi thanh thiếu niên (10-19 tuổi) là giai đoạn quan trọng của cuộc đời Việc giải quyết thành công những khó khăn về phát triển, học tập và xã hội trong giai đoạn này sẽ giúp trẻ hướng tới một cuộc sống lành mạnh, tích cực và thành công trong cuộc sống Thật không may, nhiều thanh thiếu niên gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần Trên thế giới có khoảng 15% trẻ em
và thanh thiếu niên mắc rối loạn tâm thần và các bệnh lý tâm thần kinh là nguyên nhân hàng đầu gây khuyết tật ở trẻ Theo nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF, 2018), ước tính tại Việt Nam có ít nhất 3 triệu thanh thiếu niên có các vấn đề về sức khỏe tâm thần Các vấn đề sức khỏe tâm thần đang là gánh nặng đáng kể đối với trẻ vị thành niên ở Việt Nam Khi các vấn
đề sức khỏe tâm thần mới khởi phát mà không được điều trị, những vấn đề này
sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, kết quả học tập và tiềm năng của trẻ trong cuộc sống
Ở độ tuổi thanh thiếu niên, mối quan hệ bạn bè có vai trò vô cùng quan trọng Bạn bè không chỉ là những người cùng chung sở thích, thói quen mà còn được kết nối bởi sự tâm tình, thân mật, và những mục tiêu chung Mối quan hệ bạn bè có tác động quan trọng cho sự phát triển cảm xúc, xã hội và nhân cách của các em Tổng quan các nghiên cứu cho thấy những trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè tác động không tốt đến sự phát triển tâm lý của trẻ Theo UNICEF (2018), một nửa số học sinh từ 13 đến 15 trên toàn thế giới – ước tính khoảng 150 triệu – cho biết đã từng bị bạo lực bởi các bạn đồng trang lứa ngay trong nhà trường và ở các khu vực xung quanh trường học Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương và cộng sự (2021) cho thấy khoảng 86%
số học sinh đã từng trải nghiệm các vấn đề bạn bè Loại vấn đề trong quan hệ bạn bè phổ biến hơn cả là bị từ chối và bị xúc phạm
Trên thế giới, các nghiên cứu về trải nghiệm tiêu cực không còn quá mới
Trang 10Các trải nghiệm tiêu cực này khá đa dạng: bị bắt nạt, bị tẩy chay, bị xúc phạm,
bị đổ lỗi Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bắt nạt học đường tương đối nhiều trong thời gian gần đây nhưng những trải nghiệm khác thì chưa được quan tâm đầy đủ Trong các nghiên cứu về bắt nạt, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những con số đáng báo động về thực trạng bắt nạt học đường tại Việt Nam Trong một nghiên cứu khác, Trần Văn Công và cộng sự (2019) chỉ ra 51,6% học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông tại địa bàn Hà Nội đã bị bắt nạt trực tuyến, bị bắt nạt truyền thống hoặc bị bắt nạt bằng cả hai hình thức này Nguyễn Thị Nhân Ái, Phạm Thị Diệu Thúy (2019), Bùi Thị Thu Huyền (2020), Nguyễn Thị Anh Thư (2020) cho thấy hành vi gây hấn với bạn bè với các hình thức khác nhau chiếm tỷ lệ khá cao ở học sinh (thậm chí tỷ lệ đó là 96,6% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thư) Các con số đã phần nào nói lên rằng, trải nghiệm tiêu cực với bạn bè không phải hiếm nếu không nói là khá phổ biến trong trường học ở Việt Nam Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác tìm hiểu
về hệ quả của bắt nạt và các vấn đề sức khoẻ tâm thần của học sinh, nghiên cứu của Nguyễn Phương Hồng Ngọc và cộng sự (2016) về hậu quả của bắt nạt trực tuyến, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2017) về Mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu của Trần Văn Công và cộng sự (2019) về trải nghiệm tiêu cực và mối quan hệ của nó với vấn đề hướng nội và hướng ngoại ở thanh thiếu niên, v.v
Kế thừa nền móng của các nghiên cứu trước đó, đề tài “Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và mối quan hệ với sức khoẻ tâm thần của học sinh Trung học phổ thông” hướng tới việc làm rõ mức độ phổ biến của các loại trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và mối liên hệ của chúng đến sức khỏe tâm thần của học sinh THPT
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa các trải
Trang 11nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè – bao gồm tẩy chay và bắt nạt – với sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông Trên cơ sở phân tích lý luận
và khảo sát thực trạng, nghiên cứu hướng đến việc đề xuất một số biện pháp phòng ngừa và can thiệp mang tính khả thi trong môi trường học đường, góp phần xây dựng hệ thống hỗ trợ tâm lý – xã hội và nâng cao sức khỏe tâm thần cho học sinh THPT
3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Học sinh trung học phổ thông hiện nay trải nghiệm những dạng hành
vi tiêu cực nào trong quan hệ bạn bè và mức độ phổ biến của các trải nghiệm
đó ra sao?
(2) Có sự khác biệt đáng kể nào trong trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn
bè ở học sinh THPT theo các yếu tố giới tính, khối lớp và địa bàn cư trú không?
(3) Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè có mối quan hệ như thế nào với sức khoẻ tâm thần ở học sinh THPT?
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Học sinh trung học phổ thông có trải nghiệm các hành vi tiêu cực trong quan hệ bạn bè, trong đó các hành vi tẩy chay và bắt nạt xuất hiện với tần suất đáng kể
- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong trải nghiệm tiêu cực giữa các nhóm học sinh theo giới tính, khối lớp
- Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè (tẩy chay, bắt nạt) có mối liên
hệ tích cực với mức độ khó khăn về sức khỏe tâm thần ở học sinh THPT; nghĩa là tần suất trải nghiệm tiêu cực càng cao thì vấn đề sức khỏe tâm thần càng nghiêm trọng
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và mối liên hệ của nó với sức khỏe tâm thần
Trang 125.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung
- Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè có thể có nhiều loại, trong
nghiên cứu này, chúng chỉ giới hạn ở bắt nạt và tẩy chay
- Sức khỏe tâm thần có nhiều dạng khác nhau, trong nghiên cứu này,
SKTT được giới hạn ở các vấn đề cảm xúc và hành vi được đo lường bằng Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn (Strength and Difficulity Questionnaire) (Goodman, 1997)
Phạm vi về khách thể nghiên cứu
- Hai loại trải nghiệm tiêu cực Tẩy chay và bắt nạt có thể xuất hiện ở cả
thủ phạm cũng như nạn nhân, nhưng nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu trải nghiệm tiêu cực trên các khách thể là nạn nhân
- Trong khuôn khổ luận văn này, học sinh THPT tham gia nghiên cứu
được giới hạn ở 2 trường công lập, trong đó, 1 trường THPT tại Hà Nội
và 1 trường THPT tại Ninh Bình
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, hai nhóm phương pháp nghiên cứu chính được áp dụng là nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn Cụ thể:
- Nghiên cứu lý luận: Tiến hành tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên
cứu đã được thực hiện trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu; đồng thời thực hiện phân loại, hệ thống hóa tài liệu
để đưa ra các kết luận mang tính khoa học
- Nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và
phân tích dữ liệu bằng các công cụ thống kê toán học
Trang 13• Nghiên cứu về các dạng trải nghiệm tiêu cực của vị thành niên
Quan hệ bạn bè có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển cảm xúc, xã hội và nhân cách của trẻ vị thành niên Vì vậy những nghiên cứu về trải nghiệm bạn bè cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm và phần lớn các nghiên cứu tập trung hướng đến các trải nghiệm tiêu cực
Trong nghiên cứu của mình, Asher (2001) đã đưa ra danh mục các vấn
đề tiêu cực trong quan hệ bạn bè gồm 32 kiểu tẩy chay/ từ chối được chia thành
6 nhóm Đó là: Loại trừ và chấm dứt tương tác (chối bỏ, tẩy chay, xua đuổi, làm ngơ/ lờ đi…), Tẩy chay quyền tiếp cận (không chơi với, tẩy chay quyền tiếp cận người khác, tẩy chay quyền tiếp cận tài nguyên…), Gây hấn/ bạo lực/ bắt nạt (gây hấn về thể chất, bằng lời nói, gây thiệt hại về vật chất ), Sự thống trị (ra lệnh, gây mâu thuẫn…), Qui gán vi phạm về mặt đạo đức (không chấp thuận, đổ lỗi…), Có sự tham gia của bên thứ ba (mách tội, khen ngợi người tẩy chay, tẩy chay của bên thứ ba)
Dựa trên danh mục của Asher (2001), Lev-Wiesel và cộng sự (2013) đã xây dựng 1 thang đo lường vấn đề tiêu cực trong quan hệ bạn bè Theo đó, các thành phần cấu thành của sự tẩy chay của bạn bè sẽ được phản ánh trong thang
đo gồm 4 khía cạnh Đó là: Bị xúc phạm, bị phớt lờ, bị đổ lỗi, và bị bạo lực và hách dịch Mô hình này ngắn gọn và tập trung vào một số vấn đề nổi cộm và phổ biến nhất trong quan hệ bạn bè hiện nay của trẻ Dù có những khác biệt nhưng các mô hình trên đều có những khía cạnh quan tâm chung như tẩy chay
và bạo lực/bắt nạt Một điều đáng lưu ý là tất cả các dạng trải nghiệm tiêu cực này đều được đặt dưới cái ô mang tên tẩy chay xã hội (social rejection) Như
Trang 14thế, theo Asher và Lev-Wiesel, tẩy chay xã hội bao gồm trong đó các hành vi phớt lờ, loại trừ, đổ lỗi và cả bắt nạt, gây hấn, bạo lực
Xuất phát từ quan điểm về cái tôi xã hội khác biệt (social self –
discrepancy), Kupersmidt và cộng sự (1996) đã tổng hợp các kết quả nghiên
cứu và đề xuất 5 nhóm vấn đề sau trong quan hệ bạn bè đồng lứa của học sinh
có thể dẫn đến hành vi điều chỉnh sai của trẻ ở trường Đó là: Bị tẩy chay, Thiếu quan hệ tương hỗ, Không được quan tâm, thấu hiểu, Thiếu mạng lưới xã hội và Vấn đề về đặc điểm của người bạn được coi là tốt nhất của trẻ Phải hứng chịu, trải nghiệm những hành vi này từ bạn bè có thể dẫn đến những vấn đề về điều chỉnh sai, rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên
Các dạng hành vi bắt nạt bao gồm các hình thức: Bắt nạt về thể chất (hình thức đe dọa rõ ràng nhất và có thể bao gồm đá, đánh, cắn, véo, giật tóc và đe dọa), Bắt nạt bằng lời nói (gọi tên xấu, lan truyền tin đồn và trêu chọc dai dẳng),
Đe dọa về mặt tình cảm (cố tình loại bạn khỏi một hoạt động nhóm như tiệc tùng hoặc đi chơi ở trường), Bắt nạt phân biệt chủng tộc (nói xấu chủng tộc, chế giễu phong tục văn hóa của nạn nhân và có cử chỉ xúc phạm), Bắt nạt tình dục (tiếp xúc vật lý không mong muốn hoặc bình luận lăng mạ liên quan đến tình dục), Bắt nạt trên mạng (sử dụng các phương tiện điện tử qua máy tính và điện thoại di động để hành hạ, đe dọa, quấy rối, làm nhục, làm xấu hổ) (Storm out bullying, n.d.) Theo Brank và cộng sự (2012), có 4 dạng bắt nạt gồm: thể chất, lời nói, tâm lý, và bắt nạt qua mạng xã hội Berger và cộng sự (2014) cũng phân chia bắt nạt thành 4 loại: thể chất, bằng lời, quan hệ và bắt nạt qua mạng
Có thể thấy, trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè bao gồm việc hứng chịu nhiều dạng hành vi khác nhau, từ trực tiếp đến qua mạng Mỗi tác giả có những cách phân loại riêng từ quan điểm của mình, nhưng nói chung có thể gộp thành hai dạng phổ biến là tẩy chay và bắt nạt Dưới mỗi dạng này là những hành vi tẩy chay hoặc bắt nạt cụ thể mà nạn nhân của quan hệ bạn bè phải hứng chịu
Trang 15• Nghiên cứu về hiện trạng các trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn
Trên toàn thế giới, bắt nạt được thừa nhận là một vấn đề nghiêm trọng (Smith, Madsen, Moody, 1999; Wei & Huang, 2005), ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em trong trường học Tác giả Schwartz và các cộng sự (2011) cũng như của Longobardi và cộng sự (2017) đồng quan điểm và cho rằng bắt nạt, bạo lực trường học là phổ biến và là vấn đề nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu trong mối quan hệ với bạn đồng lứa tuổi vị thành niên Báo cáo chỉ ra nhiều hình thức bạo lực mà học sinh phải đối mặt trong và xung quanh trường học Theo số liệu năm 2018 từ UNICEF:
- Trên toàn cầu, cứ 3 em học sinh trong độ tuổi 13-15 thì có hơn 1 em từng
bị bắt nạt, và tỷ lệ học sinh tham gia đánh nhau cũng gần như vậy
- Cứ 10 sinh viên tại 39 quốc gia công nghiệp thì có 3 em thừa nhận đã từng bắt nạt bạn đồng trang lứa
- Tuy trẻ em gái và bé trai có nguy cơ bị bắt nạt như nhau, nhưng các bé gái có nhiều khả năng trở thành nạn nhân của các hình thức bắt nạt tâm
lý hơn còn các bé trai có nguy cơ bị bạo lực và đe dọa về thể chất
Trang 16Thực trạng bắt nạt được nghiên cứu và cập nhật trong các nghiên cứu khoa học Có 51,7% là nữ, 12,0% bắt nạt, 15,9% là học sinh bắt nạt Trong đó
bị bắt nạt, 52,1% bị bắt nạt bằng lời nói và 13,4% bị bắt nạt về thể chất Học sinh nam bị bắt nạt nhiều hơn nữ sinh 1,5 lần và học sinh ở cha mẹ ly thân bị bắt nạt nhiều hơn 2,7 lần so với những trẻ có cha mẹ sống cùng nhau (Çalışkan, Z., Evgin, D., Bayat, M., Caner, N., Kaplan, B., Öztürk, A., & Keklik, D., 2019) Trong các nghiên cứu khảo sát của Schwartz, nhiều thanh thiếu niên báo cáo rằng họ đã bị bạn bè bắt nạt vào một số thời điểm trong năm học Tuy vậy, đối với hầu hết những thanh niên này, sự ngược đãi của những người bạn đồng trang lứa không trở thành một vấn đề đáng kể và có cường độ tương đối nhẹ Nhưng với một số khác, tình hình lại rất nghiêm trọng Điều đó cho thấy mối quan hệ giữa bị bắt nạt với hệ quả về sức khỏe tâm thần có thể chịu sự ảnh hưởng khác cần được quan tâm
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bắt nạt và bạo lực học đường tương đối nhiều trong thời gian gần đây Bạo lực, gây hấn hay bắt nạt học đường diễn ra bằng nhiều con đường, bằng nhiều hình thức khác nhau, không chỉ có trực tiếp trong đời sống học đường, mà còn gián tiếp qua phương tiện trực tuyến Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Văn Công (2017) chỉ ra 16,7% học sinh từng là nạn nhân của bắt nạt trực tuyến Trong một nghiên cứu khác, Trần Văn Công và cộng sự (2019) chỉ ra 51,6% học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông tại địa bàn Hà Nội đã bị bắt nạt trực tuyến, bị bắt nạt truyền thống hoặc bị bắt nạt bằng
cả hai hình thức này Nguyễn Thị Nhân Ái, Phạm Thị Diệu Thúy (2019), Bùi Thị Thu Huyền (2020), Nguyễn Thị Anh Thư (2020) cho thấy hành vi gây hấn với bạn bè với các hình thức khác nhau chiếm tỷ lệ khá cao ở học sinh (thậm chí tỷ lệ đó là 96,6% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thư) Tương ứng với đó là tỷ lệ học sinh phải chịu đựng các loại hành vi này Con số này ở nghiên cứu của Lê Thị Hải Hà và cộng sự (2017) là khoảng 60% trong số tất cả học sinh được khảo sát đã từng bị bắt nạt với tư cách là nạn nhân, kẻ bắt nạt hoặc
Trang 17nạn nhân bị bắt nạt trong năm Trong số những sinh viên này, gần ba phần tư cho thấy vai trò bắt nạt không ổn định theo thời gian Các yếu tố về bạn bè (hỗ trợ xã hội, nỗ lực của học sinh để ngăn chặn bắt nạt ở trường), sự giám sát của cha mẹ, yếu tố trường học (nhận thức được sự hỗ trợ của xã hội, nỗ lực của giáo viên để ngăn chặn bắt nạt ở trường) đều có mối liên hệ đáng kể với mức
độ tham gia bắt nạt
Có thể thấy tại Việt Nam, chủ đề bắt nạt và bạo lực học đường đã và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng các trải nghiệm như tẩy chay thì chưa được quan tâm đầy đủ như một hiện tượng độc lập, dù các trải nghiệm này không phải hiếm Chúng thường được ẩn dưới thuật ngữ bắt nạt
1.1.2 Nghiên cứu về mối liên quan giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè với sức khoẻ tâm thần của học sinh
Sức khỏe tâm thần được xem là một bộ phận không thể tách rời trong định nghĩa về sức khỏe (WHO, 2001), trong đó sức khỏe tâm thần không chỉ là không bị mắc rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân Các trải nghiệm tiêu cực ở học sinh để lại nhiều hậu quả tiêu cực nên có rất nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu về vấn đề này Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè bao gồm trong đó những việc như là nạn nhân của bạo lực do bạn bè gây ra, bị loại trừ, bị xúc phạm, bị phản bội Các trải nghiệm này có thể được coi là mối đe dọa đối với cảm giác được thừa nhận, được thuộc về nhóm xã hội nào đó Điều này gây ra những tổn thương tâm lý nặng nề cho trẻ vị thành niên (Paquette & Underwood, 1999) Kwon và cộng
sự (2022) nhận thấy rằng trải nghiệm tiêu cực của bạn bè đồng trang lứa là trung gian cho mối liên hệ giữa trải nghiệm cảm xúc tiêu cực (buồn bã, tức giận) và hoạt động học tập tiếp theo (thành tích, sự gắn kết)
Không chỉ những khó khăn nội tâm, trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè còn liên quan đến các triệu chứng trầm cảm và vấn đề hành vi Nghiên
Trang 18cứu của Hawker và Boulton, (2000) đã chỉ rõ mối quan hệ này trên cơ sở tổng hợp kết quả của nhiều nghiên cứu khác nhau Bên cạnh đó, khi trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ với bạn cùng trang lứa, trẻ em có thể cảm thấy mất kiểm soát
và đối mặt với sự giảm sút về tương tác xã hội, điều này có thể liên quan đến các triệu chứng trầm cảm (Erdur-Baker, 2009; Hunter và cộng sự, 2010) Trong các nghiên cứu trường diễn cho thấy kết quả là các trải nghiệm tiêu cực này có liên quan đến việc gia tăng tâm trạng tiêu cực nói chung (Reynolds & Repetti, 2008), buồn bã (Morrow, Hubbard, Barhight & Thompson, 2014) và cảm thấy
bị sỉ nhục (Nishina, 2012) Trẻ em báo cáo mức độ tâm trạng chán nản cao hơn vào những ngày chúng có trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ với bạn Khi cảm nhận được mối đe dọa bị bạn bè từ chối, ở trẻ em và thanh thiếu niên có thể tăng suy nghĩ về trầm cảm và tự tử (DiFilippo & Overholser, 2000; Rigby, 2003) Hành vi hung hăng của thanh thiếu niên có liên quan đến việc đánh giá thấp hành vi trở thành nạn nhân của bạn bè trong các biện pháp tự báo cáo, so với báo cáo của bạn bè, trong khi các triệu chứng trầm cảm có liên quan đến việc đánh giá quá cao hành vi trở thành nạn nhân của bạn bè trong bản tự báo cáo, so với báo cáo của bạn bè (De Los Reyes và Prinstein, 2004)
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng và Đinh Thị Hồng Vân (2020) cho thấy, quan hệ bạn bè là yếu tố đứng thứ hai trong số các yếu tố trường học gây ra trạng thái buồn bã cho học sinh THCS mà các em nhớ nhất Trong đó, những trải nghiệm tiêu cực phổ biến trong quan hệ bạn bè khiến học sinh buồn bã gồm: bị bạn bè trêu quá đáng, bị bạn hiểu lầm, ghét bỏ, không quan tâm, không chơi cùng, xa lánh, tẩy chay, cãi vã, giận hờn, xích mích với bạn, bị bạn cà khịa, nói xấu sau lưng, bắt nạt Quan hệ bạn bè cũng
là yếu tố gây ra sự lo âu ở trường học cho hơn 40% số học sinh được khảo sát (Hong-Van Thi Dinh và cộng sự., 2021) Có thể thấy, những trải nghiệm tiêu cực xảy ra trong quan hệ bạn bè là những lưu giữ rất lâu trong trí nhớ của các
em học sinh
Trang 19Một số nghiên cứu tập trung vào một hay vài vấn đề cụ thể trong trải nghiệm tiêu cực của trẻ vị thành niên trong quan hệ với bạn Phổ biến hơn là ảnh hưởng của trải nghiệm bị bắt nạt Källmén, H., & Hallgren, M (2021) chỉ
ra rằng việc bị bắt nạt có liên quan bất lợi đến sức khỏe tâm thần Báo cáo về các vấn đề sức khỏe tâm thần ở những cậu bé bị bắt nạt cao gấp 4 lần so với những cậu bé không bị bắt nạt Con số tương ứng ở trẻ gái cao hơn 2,4 lần Việc bị bắt nạt ở trường có liên quan đến tỷ lệ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao hơn Các bé trai dường như dễ bị tổn thương hơn trước những tác động
có hại của bắt nạt so với các bé gái Tác giả Le và cộng sự (2016) có nghiên cứu phân tích theo chiều dọc về tình trạng bắt nạt trong thanh thiếu niên ở Việt Nam Bắt nạt dai dẳng và thường xuyên có liên quan chặt chẽ đến sức khỏe tâm thần kém ở nam và nữ Một quan sát mới cho thấy các bé gái Việt Nam dường như nhạy cảm hơn với việc bị bắt nạt ở mức độ thấp nhưng lâu dài hơn so với các bé trai Năm 2017 nhóm tác giả này ngoài việc chỉ ra thực trạng khoảng một phần ba số học sinh trong mẫu đều tham gia với tư cách là nạn nhân, kẻ bắt nạt hoặc nạn nhân bị bắt nạt, nhiều nam giới hơn nữ giới cho biết những trải nghiệm này Tác giả còn cho thấy có mối liên hệ qua lại giữa việc trở thành nạn nhân của bắt nạt và các vấn đề về sức khỏe tâm thần Việc trở thành nạn nhân của nạn bắt nạt được coi là một yếu tố dự đoán độc lập về các vấn đề sức khỏe tâm thần sau này; ngược lại, các vấn đề về sức khỏe tâm thần xảy ra trước việc học sinh trở thành nạn nhân hoặc nạn nhân bị bắt nạt Phụ nữ có vấn đề về sức khỏe tâm thần có nhiều khả năng trở thành nạn nhân hơn; trong khi những nam giới có tình trạng đau khổ tương tự lại dễ bị bắt nạt và trở thành thủ phạm
Khi nghiên cứu về việc bị bắt nạt và những tác động của nó đối với giấc ngủ, sức khoẻ tâm thần và kết quả học tập, Hysing M và cộng sự (2019) cho thấy những người từng bị bắt nạt cũng cho biết có nhiều vấn đề về cảm xúc hơn, trong khi những người bắt nạt người khác cho biết có nhiều rối loạn hành
vi hơn Nhóm tác giả đã có những phát hiện là những cậu bé từng bị bắt nạt ở
Trang 20trường có tỷ lệ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao gấp 4 lần so với những cậu bé không bị bắt nạt Con số tương ứng ở trẻ gái bị bắt nạt cao gấp 2,5 lần
so với trẻ gái không bị bắt nạt, điều này có thể cho thấy rằng bé trai dễ bị tổn thương hơn trước những tác hại của bắt nạt so với bé gái Ngoài ra, nó có thể chỉ ra rằng con trai (trung bình) bị bắt nạt thường xuyên hơn hoặc dữ dội hơn con gái, dẫn đến sức khỏe tâm thần tồi tệ hơn
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2017), học sinh nữ có xu hướng có nhiều biểu hiện về lo âu hơn học sinh nam khi có trải nghiệm tiêu cực trực tuyến Việc bị bắt nạt trực tuyến nói chung hay bị bắt nạt bởi các hình thức bằng lời và bằng hành vi ngụy tạo trên mạng nói riêng đều có tương quan thuận với tình trạng stress, lo âu, trầm cảm, tăng động, khả năng kiểm soát kém và tính bất thường Tác giả Trần Văn Công (2019) khi nghiên cứu về trải nghiệm bắt nạt và mối quan hệ với các vấn đề hướng nội và hướng ngoại cho thấy học sinh bị bắt nạt bởi cả hai hình thức truyền thống và trực tuyến có mức độ vấn
đề hướng nội và hướng ngoại cao hơn so với các học sinh không bị bắt nạt và học sinh chỉ chị bắt nạt bởi một hình thức Giữa nhóm học sinh bị bắt nạt bởi một trong hai hình thức không có sự khác biệt về mức độ vấn đề hướng nội và hướng ngoại Như vậy có thể thấy, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu khai thác tổng quan các trải nghiệm tiêu cực của học sinh và mối quan hệ của chúng tới vấn đề sức khoẻ tâm thần của các em mà thường tập trung nhiều hơn vào mối quan hệ giữa trải nghiệm bắt nạt với các vấn đề SKTT
1.1.3 Tác động của hỗ trợ xã hội và lòng tự trọng đến sức khoẻ tâm thần của học sinh
Ngoài khía cạnh thực trạng và tác động của những trải nghiệm tiêu cực đến sức khoẻ tâm thần của học sinh, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến các yếu tố hỗ trợ cá nhân khi có những trải nghiệm này Các yếu tố hỗ trợ được quan tâm nhiều phải kể đến bạn bè, thầy cô và gia đình
Những đứa trẻ có trải nghiệm tiêu cực cùng bạn bè mà không có ai can
Trang 21thiệp có tâm trạng tiêu cực hơn và ít tích cực hơn Đối với tâm trạng tiêu cực, kết quả này sẽ giảm đi nếu đứa trẻ có một người bạn thường hay giúp đỡ Điều này khẳng định vai trò tích cực của người ngoài cuộc trong những trải nghiệm tiêu cực của bạn bè (Salmivalli, Voeten, & Poskiparta, 2011) và nêu bật vai trò bảo vệ của tình bạn chất lượng cao Việc có một người bạn thân nhất có mặt trong một trải nghiệm đã làm giảm đáng kể tác động tiêu cực của trải nghiệm
đó lên cortisol và giá trị bản thân toàn cầu Khi người bạn thân nhất không có mặt, cortisol tăng lên đáng kể và giá trị bản thân toàn cầu giảm đáng kể khi sự tiêu cực của trải nghiệm tăng lên Khi có mặt một người bạn thân nhất, cortisol
và giá trị bản thân toàn cầu ít thay đổi hơn do trải nghiệm tiêu cực Đây là kết quả mà Adams cùng cộng sự (2011) đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình Izaro Babarro và cộng sự (2020) cho rằng trẻ em có mối quan hệ bạn bè chặt chẽ và nhận được sự hỗ trợ từ cộng đồng xã hội thường ít có nguy cơ bị bắt nạt hơn Điều này có nghĩa là khi học sinh có bạn bè thân thiết và sự ủng hộ từ những người xung quanh, họ thường có ít khả năng trải qua tình trạng bị bắt nạt Học sinh mối quan hệ tốt hơn với cha mẹ và sự hỗ trợ xã hội mạnh mẽ hơn có liên quan đến nguy cơ trở thành nạn nhân thấp hơn Tóm lại, sự kết nối với bạn bè
và môi trường gia đình ổn định cùng với sự ủng hộ từ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ trẻ em trải qua tình trạng bắt nạt
Gia đình và nhà trường cũng là những yếu tố hỗ trợ quan trọng Wallen
J (1997) cho rằng chất lượng của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là một yếu tố có thể bảo vệ trẻ em bất chấp môi trường bất lợi Mối quan hệ hỗ trợ giữa cha mẹ và con cái, được đo lường bằng sự ấm áp, giám sát, hỗ trợ và sự tham gia của cha mẹ, được phát hiện là làm giảm hành vi hướng ngoại Do đó, nguồn lực gia đình tích cực trùng hợp với việc không có các vấn đề về hành vi, trong khi bầu không khí gia đình bất lợi là nguyên nhân tiêu cực chính gây ra các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung Ravens-Sieberer U, Wille N, Erhart M (2007) Sự hỗ trợ của trường học có thể bù đắp cho sự thiếu hỗ trợ của phụ
Trang 22huynh, cũng có thể bảo vệ khỏi tác động của các yếu tố rủi ro như nạn nhân ngang hàng Nghiên cứu của Stadler và cộng sự (2010) cũng đồng quan điểm khi chỉ ra sự hỗ trợ của trường học có hiệu quả đối với cả thanh thiếu niên nam
và nữ bằng cách đóng vai trò như một tấm đệm chống lại tác động của việc trở thành nạn nhân, và sự hỗ trợ của trường học ngày càng trở nên quan trọng đối với những học sinh cuối cấp hơn Sự hỗ trợ của cha mẹ dường như có tác dụng bảo vệ khỏi tình trạng thích nghi kém, đặc biệt ở những bé gái là nạn nhân của bạn bè khi bước vào cấp hai Vì tác động của việc bạn bè trở thành nạn nhân
có thể được giảm bớt nhờ sự hỗ trợ của phụ huynh và nhà trường nên các biện pháp can thiệp mang tính giáo dục có tầm quan trọng rất lớn trong trường hợp bạn bè nạn nhân
Bên cạnh hỗ trợ xã hội, lòng tự trọng cũng được xác định là một yếu tố bảo vệ tâm lý có ý nghĩa đối với sức khỏe tinh thần của học sinh, đặc biệt trong bối cảnh các em phải đối diện với những trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn
bè Lòng tự trọng phản ánh mức độ đánh giá tích cực của cá nhân về giá trị và năng lực bản thân, từ đó ảnh hưởng đến khả năng điều chỉnh cảm xúc và thích nghi với môi trường xã hội Các nghiên cứu trong nước đã bước đầu ghi nhận mối liên hệ giữa lòng tự trọng và các vấn đề sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi vị thành niên Trần Thị Mai Phương và Nguyễn Đức Tài (2023) phát hiện rằng học sinh trung học phổ thông có mức lòng tự trọng thấp thường có nguy cơ cao hơn đối với trầm cảm và biểu hiện cảm xúc tiêu cực Ngoài ra, một nghiên cứu tại Đại học Huế (2021) cho thấy lòng tự trọng đóng vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và trầm cảm ở sinh viên – cụ thể, tác động bảo vệ của hỗ trợ
xã hội trở nên rõ ràng hơn khi lòng tự trọng thấp Các bằng chứng quốc tế cũng củng cố cho nhận định này Trong một phân tích tổng hợp quy mô lớn, Sowislo
và Orth (2013) khẳng định rằng lòng tự trọng thấp không chỉ là hệ quả mà còn
là yếu tố dự báo mạnh mẽ cho trầm cảm và lo âu ở thanh thiếu niên Tương tự, Mann và cộng sự (2004) nhấn mạnh vai trò của các chương trình nâng cao lòng
Trang 23tự trọng trong việc giảm thiểu hành vi tự hại và cải thiện sức khỏe tâm lý ở học sinh Rieger và cộng sự (2016) cho thấy rằng học sinh có lòng tự trọng thấp dễ
bị ảnh hưởng tiêu cực hơn bởi xung đột trong quan hệ bạn bè và có nguy cơ phát triển các rối loạn cảm xúc cao hơn Harter (2012) cũng lưu ý rằng lòng tự trọng của trẻ vị thành niên có mối liên hệ chặt chẽ với cảm giác được chấp nhận và tôn trọng từ người khác Những học sinh được sống trong môi trường quan hệ tích cực và có cảm nhận tích cực về bản thân sẽ dễ phục hồi hơn trước những tổn thương xã hội như bị tẩy chay, cô lập hoặc bị đánh giá tiêu cực từ bạn bè
Tóm lại, lòng tự trọng – cùng với hỗ trợ xã hội – là yếu tố trung gian có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực và sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học phổ thông Các can thiệp phòng ngừa và hỗ trợ tâm lý học đường cần chú trọng đến việc củng cố lòng tự trọng cho học sinh, nhất là những em dễ
bị tổn thương trong quan hệ xã hội, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ môi trường học đường và tăng cường khả năng thích nghi về mặt cảm xúc – xã hội
Ở Việt Nam, các khía cạnh này chưa được quan tâm nghiên cứu rộng rãi Việc xác định một yếu tố bảo vệ quan trọng góp phần nâng cao khả năng phục hồi của thanh thiếu niên là nạn nhân và cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp
sự hỗ trợ của cha mẹ vào các chương trình phòng ngừa cho thanh thiếu niên là nạn nhân của trải nghiệm tiêu cực với bạn bè
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè
Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè là một khái niệm đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tác động của môi trường xã hội lên sự phát triển tâm lý và hành vi của trẻ em và thanh thiếu niên Khái niệm này được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào phạm vi nghiên cứu và đối tượng khảo sát
Buhs và Ladd (2001) tiếp cận khái niệm trải ngiệm tiêu cực trong quan
hệ bạn bè từ góc độ tương tác xã hội trong môi trường học đường, với các hành
Trang 24vi tiêu cực như bị bắt nạt, từ chối tham gia nhóm, và bị loại trừ khỏi các hoạt động chung
Reavis và cộng sự (2015)định nghĩa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè bao gồm các hành vi tiêu cực như bắt nạt và bị loại trừ, nhấn mạnh rằng những trải nghiệm này có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm trạng, khiến nạn nhân cảm thấy buồn bã, tức giận, và giảm cảm giác tích cực
Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ đồng trang lứa được Adams và cộng
sự (2017) xem xét chủ thể của các trải nghiệm tiêu cực như là nạn nhân của bạn
bè, trong đó, các trải nghiệm tiêu cực được mở rộng hơn với các hình thức như
bị từ chối, bị phớt lờ và bị loại trừ khỏi các hoạt động xã hội, đặc biệt tập trung vào các thanh thiếu niên mắc rối loạn phổ tự kỷ
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy rằng trải nghiệm tiêu cực trong quan
hệ bạn bè được hiểu như một tập hợp các hành vi xảy ra trong tương tác xã hội giữa bạn bè đồng trang lứa có tác động bất lợi đến trạng thái tâm lý của nạn nhân
Trong nghiên cứu này, trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè được
định nghĩa là việc trải qua một thực tế, tình huống hoặc sự kiện trong tiếp xúc,
giao tiếp, tương tác với những người đồng đẳng khiến chủ thể cảm thấy khó chịu, có hại hoặc bị tổn thương thể chất và / hoặc tinh thần
Trải nghiệm tiêu cực này có thể gồm nhiều dạng: tẩy chay, bắt nạt, xúc phạm, cô lập, loại trừ, chấm dứt mối quan hệ Khái niệm này không chỉ phản ánh các khía cạnh tiêu cực của tương tác xã hội mà còn nhấn mạnh đến cảm nhận chủ quan của cá nhân về mức độ tác động của những hành vi hoặc sự kiện này đối với họ Trong nghiên cứu này, trải nghiệm tiêu cực được giới hạn ở trải nghiệm của nạn nhân bị tẩy chay và bị bắt nạt bởi bạn đồng trang lứa
1.2.1.1 Trải nghiệm bị tẩy chay
Trong từ điển tiếng Việt, tẩy chay là "coi như không biết gì đến, không mua, không dùng, không tham gia, không có quan hệ, để tỏ thái độ phản đối" (Hoàng Phê, 2003, trang 903) Trong từ điển tiếng Anh, tẩy chay được định
Trang 25nghĩa là sự loại trừ, theo sự đồng thuận chung, khỏi xã hội, tình bạn, cuộc trò chuyện, hoặc các đặc quyền khác (Dictionary.com)
Có thể thấy, theo các từ điển phổ thông cả tiếng Việt và tiếng Anh thì tẩy chay là một khái niệm rộng, có thể được áp dụng trong nhiều mối quan hệ xã hội, chính trị và cả quan hệ liên cá nhân Nội dung của thuật ngữ này bao gồm sự phủ nhận, loại trừ, tước bỏ mối quan hệ giữa các đối tượng của các mối quan hệ đó
Trong các tài liệu nghiên cứu tiếng Anh, tẩy chay gồm các thuật ngữ khá tương đồng về nội dung là tẩy chay “ostracism”, từ chối (rejection), và loại trừ/
cô lập xã hội (social exclusion) Theo Williams (2009a), chúng có thể được sử dụng tương đương nhau
Hai thuật ngữ này cũng được đề cập riêng biệt trong từ điển Tâm lý học của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ Theo đó, từ chối (rejection) được định nghĩa là hành động phủ nhận tình cảm, sự chú ý, sự quan tâm hoặc sự chấp nhận Nó cũng bao hàm thái độ chống đối hoặc phân biệt đối xử đối với một người hoặc một nhóm người (APA, n.d.a) Còn tẩy chay (ostracism) là một hình thức từ chối cực đoan, khi một người bị loại trừ và phớt lờ bởi người khác (APA, n.d.b) Theo Williams (2009b), tẩy chay là quá trình mà một người hoặc một nhóm người bị phớt lờ và loại trừ bởi một cá nhân hoặc một nhóm khác
Từ các định nghĩa trên, chúng tôi định nghĩa trải nghiệm bị tẩy chay là việc nạn nhân phải trải qua một thực tế, tình huống bị cô lập xã hội, trong
đó nạn nhân bị phớt lờ, bị loại khỏi các hoạt động, giao tiếp, tương tác xã hội hoặc các mối quan hệ một cách công khai hoặc ngầm ẩn khiến họ cảm thấy khó chịu, có hại và bị tổn thương về thể chất và/ hoặc tinh thần
Hình thức của tẩy chay rất đa dạng, bao gồm việc phớt lờ, không được chú ý, không được chấp nhận, bị từ chối, xa lánh, loại trừ hoặc bị phủ nhận Những hành vi này thường mang tính chủ động, nhằm mục đích cô lập nạn nhân khỏi các hoạt động hoặc mối quan hệ chung, và có thể được thực hiện công khai hoặc một cách ngầm ẩn để gửi thông điệp đến nạn nhân rằng họ đang
Trang 26bị loại trừ Tẩy chay tồn tại dưới hai dạng chính: tẩy chay cá nhân, khi một cá nhân bị loại trừ bởi một người khác, và tẩy chay tập thể, khi một người bị loại trừ bởi một nhóm người
1.2.1.1 Trải nghiệm bị bắt nạt
Bắt nạt (bullying) là một khái niệm đã được định nghĩa trong nhiều nghiên cứu khác nhau, với những điểm nhấn quan trọng về hành vi, tính lặp lại
và sự mất cân bằng quyền lực Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), bắt nạt được mô tả là hành vi đe dọa, hung hăng dai dẳng hoặc lạm dụng bằng lời nói nhắm vào người khác, đặc biệt là những người yếu thế hơn về độ tuổi, sức mạnh, hoặc đang trong tình huống bất lợi về quyền lực
Olweus (2000) định nghĩa rằng bắt nạt xảy ra khi một người liên tục và
có chủ ý nói hoặc thực hiện các hành động gây tổn thương đến người khác, đặc biệt là những người khó có khả năng tự bảo vệ mình Theo ông, khái niệm này bao gồm ba yếu tố chính: (1) bắt nạt là hành vi hung hãn với những hành động tiêu cực không mong muốn; (2) bắt nạt thường mang tính lặp đi lặp lại theo thời gian; (3) bắt nạt bao hàm sự mất cân bằng về quyền lực hoặc sức mạnh giữa các bên tham gia
Ngoài ra, bắt nạt còn được định nghĩa như một hình thức hành vi hung hãn, được đặc trưng bởi các hành động bạo lực, lời nói hoặc xã hội mang tính chủ ý và lặp đi lặp lại, nhằm vào một cá nhân hoặc nhóm có ít quyền lực hơn (Sullivan, 2011; Farrington, 1993)
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy rằng bắt nạt không chỉ là hành vi tiêu cực tức thời mà còn là một quá trình diễn ra có tính lặp lại, với mục tiêu làm suy yếu đối tượng thông qua sự áp đảo về quyền lực, lời nói hoặc hành động Trong giới hạn nghiên cứu này, chúng tôi kế thừa các định nghĩa ở trên về bắt
nạt và cho rằng, trải nghiệm bị bắt nạt là việc nạn nhân phải trải qua một thực
tế, tình huống mà họ phải chịu những hành vi hung hăng, tiêu cực có chủ ý, có tính lặp lại, từ những người có ưu thế quyền lực hơn khiến họ khó chịu, có hại
và bị tổn thương về thể chất và/ hoặc tinh thần
Trang 27Như vậy trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè, cụ thể là trải nghiệm
bị bắt nạt và bị tẩy chay có đặc điểm chung là:
- Nó diễn ra trong mối quan hệ, tương tác, tiếp xúc giữa nạn nhân và những người đồng đẳng
- Nó bao gồm việc nạn nhân phải trải qua, hứng chịu các hành vi tiêu cực
Điểm khác biệt của hai trải nghiệm này là mục đích của các loại hành vi
mà nạn nhân phải hứng chịu Ở trải nghiệm bị tẩy chay, mục đích của các hành
vi tiêu cực là khiến nạn nhân bị cô lập trong các mối quan hệ bạn bè Những hành vi tẩy chay có thể là phớt lờ, cô lập, xa lánh, phủ nhận mối quan hệ, từ chối … khiến nạn nhân cảm thấy cô độc, mất mát các mối quan hệ Còn ở trải nghiệm bị bắt nạt, mục đích của các hành vi tiêu cực là làm suy yếu nạn nhân
và khẳng định ưu thế sức mạnh, quyền lực của thủ phạm Các hành vi bắt nạt
có tính lặp lại và đàn áp như đánh, đấm, đá, chửi bới, lăng mạ… khiến nạn nhân cảm thấy đau đớn, có thể sợ hãi mà phải khuất phục
1.2.2 Sức khỏe tâm thần
Sức khỏe tâm thần được hiểu không chỉ là không bị mắc các rối loạn tâm thần, mà còn bao hàm hạnh phúc chủ quan, khả năng tự nhận thức, tự chủ, năng lực, sự phụ thuộc giữa thế hệ, và khả năng tự hiện thực hóa tiềm năng trí tuệ và tình cảm của một người (WHO, 2001) Đây là trạng thái tinh thần thoải mái, giúp con người đối phó hiệu quả với căng thẳng cuộc sống, nhận ra khả năng của bản thân, học tập và làm việc hiệu quả, đồng thời đóng góp tích cực cho cộng đồng Sức khỏe tâm thần là một phần thiết yếu của sức khỏe tổng thể, bên cạnh sức khỏe thể chất và sức khỏe xã hội
Trang 28Sức khỏe tâm thần được trải nghiệm như một chuỗi liên tục, khác nhau
ở mỗi cá nhân, với các mức độ khó khăn và đau khổ khác nhau, dẫn đến những
hệ quả xã hội và lâm sàng khác biệt (WHO, 2022a) Tình trạng sức khỏe tâm thần bao gồm các rối loạn tâm thần, khuyết tật tâm lý xã hội, và các trạng thái tâm thần khác có liên quan đến đau khổ đáng kể hoặc suy giảm chức năng trong các lĩnh vực hoạt động quan trọng, hoặc nguy cơ tự làm hại bản thân Rối loạn tâm thần thường được đặc trưng bởi sự rối loạn đáng kể về mặt lâm sàng trong nhận thức, điều chỉnh cảm xúc hoặc hành vi Các dạng rối loạn sức khỏe tâm thần rất đa dạng và được phân loại thông qua Bảng phân loại bệnh quốc tế phiên bản 11 (International Classification of Diseases 11th Revision – ICD11) (WHO, 2022b) Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu các công cụ đánh giá tình trạng khỏe mạnh tâm thần một cách toàn diện
Qua đó, sức khỏe tâm thần có thể được xem như một phổ liên tục, từ trạng thái rối loạn tâm thần đến hạnh phúc chủ quan Ở một đầu của phổ, các
cá nhân gặp đau khổ tâm lý và suy giảm chức năng hoạt động; ở đầu còn lại,
họ đạt trạng thái khỏe mạnh tâm thần, với cảm giác hạnh phúc, khả năng làm chủ bản thân và hiện thực hóa tiềm năng để học tập, làm việc hiệu quả và ứng phó với các căng thẳng hàng ngày Mỗi người nằm ở một vị trí nhất định trên phổ này, và vị trí đó có thể thay đổi trong suốt cuộc đời của họ
1.2.3 Hỗ trợ xã hội
Hỗ trợ xã hội nhận thức được (perceived social support) là sự đánh giá chủ quan của cá nhân về mức độ mà họ cảm nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, thấu hiểu và sẵn sàng hỗ trợ từ những người xung quanh, bao gồm gia đình, bạn bè và những người có ý nghĩa khác (Zimet et al., 1990)
Khác với hỗ trợ xã hội khách quan (tức là những gì thực sự được cung cấp), hỗ trợ xã hội nhận thức được phản ánh niềm tin của cá nhân rằng họ sẽ nhận được sự giúp đỡ khi cần, và do đó có ảnh hưởng mạnh đến sức khỏe tâm thần và hành vi xã hội
Trang 29Trong giai đoạn vị thành niên, hỗ trợ xã hội được xem như một yếu tố bảo vệ quan trọng, giúp học sinh giảm nhẹ tác động tiêu cực từ các trải nghiệm
xã hội bất lợi, bao gồm việc bị tẩy chay, cô lập hoặc bắt nạt trong môi trường học đường (Rueger et al., 2016)
1.2.4 Lòng tự trọng
Lòng tự trọng (self-esteem) được hiểu là thái độ tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân đối với bản thân, thể hiện qua mức độ mà họ tin rằng mình có giá trị, năng lực và xứng đáng được tôn trọng (Rosenberg, 1965) Lòng tự trọng
là một yếu tố nền tảng trong cấu trúc nhân cách, ảnh hưởng đến hành vi, cảm xúc và khả năng thích nghi xã hội của con người
Trong nghiên cứu này, lòng tự trọng được xem như một yếu tố bảo vệ tâm lý, giúp học sinh ứng phó hiệu quả hơn với những trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè Các nghiên cứu cho thấy học sinh có mức lòng tự trọng cao thường ít bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các hành vi tẩy chay, bắt nạt, và có khả năng duy trì trạng thái tinh thần ổn định hơn trong môi trường học đường (Mann
và cộng sự, 2004; Sowislo và Orth, 2013)
1.3 Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan
hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Một số luận điểm lý thuyết về mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần
Nhiều nghiên cứu đã sử dụng các mô hình lý thuyết để lý giải cơ chế mà hành vi bắt nạt và tẩy chay tác động đến sức khỏe tâm thần Mô hình của Ma
và cộng sự (2023) làm nổi bật vai trò quan trọng của các yếu tố bảo vệ, chẳng hạn như lòng tự trọng/ sự tự tin và sự hỗ trợ từ bạn bè, trong việc làm giảm tác động tiêu cực của bắt nạt Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng bắt nạt có xu hướng ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tự trọng, từ đó dẫn đến các vấn đề nội tại như trầm cảm và lo âu Tuy nhiên, khi có sự hỗ trợ từ bạn bè, mức độ ảnh hưởng này được giảm thiểu đáng kể
Trang 30Bên cạnh đó, mô hình của Haltigan và Vaillancourt (2014) đã theo dõi các quỹ đạo phát triển song song giữa hành vi bắt nạt và việc trở thành nạn nhân từ lớp 5 đến lớp 9 Kết quả cho thấy, cả hai nhóm trẻ em tham gia bắt nạt
và bị bắt nạt đều có nguy cơ cao gặp phải các vấn đề tâm lý như lo âu và rối loạn chú ý Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng hành vi bắt nạt và việc trở thành nạn nhân có thể tương tác và củng cố lẫn nhau, dẫn đến sự suy giảm dài hạn về sức khỏe tâm thần Ngoài ra, các cơ chế trung gian và yếu tố điều tiết cũng đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa bắt nạt và sức khỏe tâm thần Lin và cộng sự (2020) đã sử dụng phân tích đường dẫn để làm sáng tỏ vai trò của các yếu tố như hỗ trợ xã hội, khả năng phục hồi tâm lý và hiệu quả tự thân Kết quả chỉ ra rằng bắt nạt làm suy giảm những yếu tố trung gian này, từ đó gây ra các vấn đề tâm lý nghiêm trọng hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra sự gia tăng
hỗ trợ xã hội có thể làm giảm đáng kể tác động tiêu cực của bắt nạt Đồng thời,
sự hỗ trợ tích cực từ bạn bè và việc áp dụng các chiến lược đối phó chủ động không chỉ giúp giảm nhẹ các triệu chứng trầm cảm mà còn cải thiện khả năng
xử lý các tác động tiêu cực từ bắt nạt Kết quả này đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển các can thiệp nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần trong môi trường học đường (Yin và cộng sự, 2017)
1.3.2 Vận dụng các luận điểm lý thuyết xây dựng mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học phổ thông
Những nghiên cứu trên đã cung cấp nền tảng lý thuyết quan trọng để hiểu
rõ hơn về mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần Trong nghiên cứu này, mô hình lý thuyết nghiên cứu mối liên
hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần của học sinh THPT được hình thành như sau
Trang 31Hình 1 Mối liên hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và vấn đề
Mối quan hệ giữa các biến số
Trong mô hình này, một mặt trải nghiệm tiêu cực bao gồm tẩy chay và bắt nạt có thể tác động độc lập, trực tiếp gây ra vấn đề sức khỏe tâm thần Mặt khác, các nguồn lực tâm lý cá nhân và xã hội như lòng tự trọng và ủng hộ xã hội - là những yếu tố bảo vệ, có thể làm giảm vấn đề sức khỏe tâm thần – được đưa vào mô hình như là các biến kiểm soát để xem xét khả năng tác động của trải nghiệm bị tẩy chay và bị bắt nạt đến vấn đề sức khỏe tâm thần là như thế nào
Sức khoẻ tâm thần
Trang 32Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu mối quan
hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần của học sinh Trước hết, tổng quan về các nghiên cứu liên quan đã làm rõ rằng trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè, bao gồm tẩy chay và bắt nạt, là những vấn đề phổ biến và nghiêm trọng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của học sinh Các nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em
và thanh thiếu niên gặp phải các vấn đề này rất cao, với những hệ quả tâm lý như lo âu, trầm cảm, và giảm lòng tự trọng Đặc biệt, bắt nạt học đường đã được xác định là một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần, cả ở mức độ quốc tế và trong bối cảnh Việt Nam
Nội dung chương cũng nhấn mạnh vai trò của các yếu tố bảo vệ, chẳng hạn như sự hỗ trợ xã hội từ bạn bè, gia đình và nhà trường, trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của các trải nghiệm này Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình bạn chất lượng cao, sự giám sát của cha mẹ, và sự hỗ trợ từ môi trường học đường có thể giúp hạn chế tác động tiêu cực của tẩy chay và bắt nạt, đồng thời cải thiện sức khỏe tâm thần của học sinh
Bên cạnh đó, chương 1 đã đề cập đến khái niệm sức khỏe tâm thần như một phần không thể thiếu của sức khỏe tổng thể, nhấn mạnh sự cân bằng giữa trạng thái hạnh phúc chủ quan và các khó khăn tâm lý Cũng trong chương này,
mô hình lý thuyết được trình bày đã làm sáng tỏ cơ chế tác động của các trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè đến sức khỏe tâm thần Các mô hình đã cung cấp khung lý thuyết vững chắc để nghiên cứu các yếu tố trung gian và điều tiết, bao gồm lòng tự trọng và sự hỗ trợ xã hội, trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của tẩy chay và bắt nạt
Trang 33Tóm lại, chương 1 đã đặt nền tảng lý thuyết và thực tiễn quan trọng, định hướng cho nghiên cứu nhằm khám phá sâu hơn mối quan hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần của học sinh, đồng thời đánh giá vai trò của các yếu tố hỗ trợ cá nhân và xã hội trong việc giảm thiểu các tác động tiêu cực này
Trang 34bè và mối quan hệ với sức khỏe tâm thần của học sinh Trung học phổ thông” được tiếp cận theo hướng diễn dịch và áp dụng thiết kế nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định các giả thuyết và làm rõ các mối quan hệ nghiên cứu đề ra
2.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu bao gồm hai tỉnh thành: Hà Nội và Ninh Bình Hà Nội, với vai trò là thủ đô, là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục hàng đầu của cả nước, nơi học sinh có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn tài nguyên giáo dục hiện đại nhưng cũng đối mặt với áp lực học tập và cạnh tranh cao Trong khi đó, Ninh Bình là cố đô, là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, với điều kiện kinh tế và xã hội đặc trưng của khu vực nông thôn và bán đô thị, mang đến một môi trường sống ít chịu ảnh hưởng bởi tốc độ đô thị hóa nhanh như ở Hà Nội Sự kết hợp giữa hai địa bàn này giúp đảm bảo tính đa dạng trong nghiên cứu, cho phép so sánh và phân tích những ảnh hưởng khác nhau của bối cảnh địa lý và xã hội đến các biến số nghiên cứu, đặc biệt là trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông
Tại mỗi địa bàn, 1 trường THPT công lập được lựa chọn Trường được chọn tại Hà Nội thuộc quận Hoàng Mai, vốn trước kia thuộc huyện Thanh Trì, được sát nhập vào thành phố Hà Nội năm 2003 Trường được chọn ở Ninh Bình
Trang 35là trường thuộc địa bàn huyện Hoa Lư cũ, mới được chuyển thành khu vực đô thị năm 2023
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
2.2.2.1 Nguyên tắc chọn mẫu
- Nghiên cứu sử dụng chiến lược chọn mẫu thuận tiện – một phương pháp
thường được áp dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm xã hội khi việc tiếp cận mẫu đại diện ngẫu nhiên gặp nhiều khó khăn về nguồn lực và điều kiện tổ chức Cụ thể, mẫu khảo sát được lựa chọn từ hai trường trung học phổ thông tại hai địa bàn khác nhau nhằm đảm bảo yếu tố đa dạng về bối cảnh xã hội – giáo dục: một trường tại tỉnh Ninh Bình và một trường tại Hà Nội Việc lựa chọn hai trường này được thực hiện dựa trên khả năng tiếp cận của nhóm nghiên cứu và sự sẵn sàng hợp tác từ phía nhà trường
- Trước khi triển khai khảo sát, nhóm nghiên cứu đã gửi văn bản xin phép
và nhận được sự đồng thuận chính thức từ Ban Giám hiệu các trường, đồng thời phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để thông tin về mục tiêu nghiên cứu, nội dung khảo sát và cách thức thực hiện Đặc biệt, sự đồng thuận từ phụ huynh học sinh cũng đã được thu thập đầy đủ, đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng quyền tham gia của người chưa thành niên trong nghiên cứu
- Việc lựa chọn mẫu thuận tiện tuy không đảm bảo tính đại diện ngẫu nhiên
tuyệt đối cho toàn bộ học sinh THPT, song vẫn cho phép thu thập được
dữ liệu sơ cấp có ý nghĩa từ thực tiễn, đặc biệt khi kết hợp khảo sát ở hai vùng địa lý khác biệt nhằm tăng cường tính đa dạng của mẫu
- Nguyên tắc tự nguyện: Khách thể nghiên cứu đồng ý tham gia trả lời
bảng hỏi và khách thể có thể dừng tham gia bất cứ khi nào
- Khách thể nghiên cứu là học sinh không thuộc diện giáo dục đặc biệt,
học hoà nhập hoặc học sinh trường chuyên
Trang 362.2.2.2 Số lượng
- Gồm 462 học sinh các khối lớp 10, 11 và 12 Sự phân bố tương đối cân
bằng giữa giới tính và tỉnh thành Đặc điểm mẫu nghiên cứu thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
tự nguyện, đồng thời có sự đồng ý từ giáo viên chủ nhiệm và ban giám hiệu nhà trường
Trang 372.3 Các phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu lý luận đã được áp dụng nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận Quá trình này bao gồm việc tìm kiếm, đọc,
hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp các tài liệu trong nước và quốc tế Các tài liệu này bao gồm các bài báo khoa học, sách, tạp chí, luận án, luận văn, kỷ yếu hội thảo và các bài viết trên các trang web chuyên ngành liên quan đến chủ đề trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè, sức khoẻ tâm thần và mối liên hệ giữa trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè và sức khoẻ tâm thần
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
2.3.2.1 Xây dựng bảng hỏi
Phương pháp chính được sử dụng để thu thập dữ liệu trong nghiên cứu này là bảng hỏi, do tính phù hợp trong việc thu thập dữ liệu định lượng nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đề ra Việc hệ thống hóa cơ sở lý luận tạo nền tảng cho học viên thao tác hóa các khái niệm chính, đồng thời xây dựng hoặc lựa chọn các thang đo phù hợp để đưa vào bảng hỏi Đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông, học viên xác định rằng dung lượng bảng hỏi cần được giới hạn ở mức hợp lý, tránh thiết kế quá dài để đảm bảo hiệu quả thu thập dữ liệu
Từ mô hình nghiên cứu, các vấn đề sau đây được đo lường:
− Tần suất bị bạn học tẩy chay và bắt nạt ở trường với các hình thức khác nhau và mức độ này ở học sinh theo giới, khối lớp
− Mức độ của các vấn đề về sức khoẻ tâm thần (cảm xúc và hành vi)
− Mức độ học sinh được ủng hộ bởi gia đình và bạn bè khác và lòng tự trọng Theo đó, ngoài các thông tin cá nhân là giới tính, khối lớp, bảng hỏi bao gồm các nội dung sau đây:
Thang đo trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn bè, bao gồm tiểu thang
đo trải nghiệm bị bạn bè tẩy chay và tiểu thang đo trải nghiệm bị bạn bè bắt nạt, được phát triển bởi Phan Mai Hương (chủ nhiệm đề tài) và Đỗ Thị Lệ Hằng
Trang 38(thư ký đề tài), trong khuôn khổ đề tài “Trải nghiệm tiêu cực trong quan hệ bạn
bè và mối liên quan trường diễn của nó với sức khỏe tâm thần của trẻ vị thành niên”, do Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ, mã số 501.02-2021.09
(1) Thang đo trải nghiệm bị bạn bè tẩy chay
Thang đo này được phát triển dựa trên hệ thống khái niệm về hành vi tẩy chay đã được trình bày ở phần trên Thang gồm 10 mệnh đề đề cập đến các hành vi tẩy chay của bạn bè mà nạn nhân đã từng trải nghiệm trong thời gian 1 tháng vừa qua Thang bao gồm 8 hành vi tẩy chay trực tiếp (ví dụ: Loại trừ em khỏi hoạt động vui chơi hoặc cuộc trò chuyện, Cố tình phớt lờ, bỏ rơi, cô lập
em, Lôi kéo bạn khác không nói chuyện, không chơi, quay lưng lại với em, ghét em) và 2 hành vi tẩy chay trên mạng xã hội (Xóa em khỏi “Danh sách bạn bè” trên mạng xã hội; Viết những điều ác ý, lan truyền tin xấu về em trong
nhóm chat để mọi người xa lánh em)
Thang điểm 4 mức độ về tần suất trải nghiệm các hành vi tẩy chay của bạn bè được sử dụng gồm: 1 – Không có, 2 – 1 lần, 3 – 2 đến 3 lần và 4 – nhiều lần
Độ tin cậy Cronbach Alpha của thang đo là 0,912
Độ hiệu lực hội tụ của thang đo được xác định qua phân tích nhân tố khám phá (EFA) Kết quả cho thấy 10 item của thang đo hội tụ vào một nhân
tố duy nhất với hệ số tải nhân tố từ 0,606 đến 0,828 và có độ trích suất vào nhân
tố từ 0,433 đến 0,686) Nhân tố này giải thích được 57,702% phương sai của
dữ liệu Nội dung các item đều đề cập đến hành vi tẩy chay (phớt lờ, loại trừ, không chơi, không nói chuyện…) của bạn bè mà nạn nhân đã trải qua nên đảm bảo độ hiệu lực nội dung của thang đo này
(2) Thang đo trải nghiệm bị bạn bè bắt nạt
Thang gồm 14 mệnh đề đề cập đến các hành vi bắt nạt của bạn bè mà nạn nhân đã trải nghiệm trong 1 tháng vừa qua Thang bao gồm 11 hành vi bắt
Trang 39nạt trực tiếp (ví dụ: Cười cợt, chế giễu ngoại hình của em, trêu chọc em, Đe dọa đánh hoặc sẽ làm gì đó tổn hại đến em, Đẩy, xô ngã em, ném đồ vật vào
em hoặc nhốt em) và 2 hành vi bắt nạt trên mạng xã hội (Gửi cho em tin nhắn, email có nội dung khiến em khó chịu, lo sợ, Dùng từ ngữ ác ý, đăng hình ảnh, bình luận làm tổn thương em trên mạng xã hội)
Thang điểm 4 mức độ về tần suất trải nghiệm các hành vi bắt nạt của bạn
bè được sử dụng gồm: 1 – Không có, 2: 1 lần, 3: 2-3 lần và 4: nhiều lần
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) lần 1 cho thấy độ trích xuất vào nhân
tố của 14 item dao động từ 0,292 đến 0,561 Item “Gọi em bằng tên xấu hoặc
biệt danh em không thích” có độ trích xuất thấp (<0,3) nên bị loại khỏi thang
đo
Phân tích nhân tố lần 2 cho thấy 13 item còn lại của thang đo hội tụ vào một nhân tố duy nhất với hệ số tải nhân tố từ 0,556 đến 0,783 Nhân tố này giải thích được 46,775% phương sai của dữ liệu Kết quả này cho thấy, độ hiệu lực hội tụ của thang đo đảm bảo Nội dung các item được xây dựng đều đáp ứng nội dung đo lường hành vi bắt nạt
Độ tin cậy Cronbach Alpha của thang đo trải nghiệm bị bắt nạt 13 item
là 0,899
(3) Bảng hỏi điểm mạnh và khó khăn (SDQ) (Goodman, 1997)
Thang đo sức khỏe tâm thần SDQ 25 (Strengths and Difficulties Questionnaire) do Goodman và cộng sự phát triển, bao gồm 25 mục với 3 mức
độ trả lời cho mỗi mục (0 = Không đúng, 1 = Đúng một phần, 2 = Chắc chắn đúng) Điểm càng cao có thể cho thấy mức độ khó khăn về sức khỏe tâm thần càng nghiêm trọng Thang đo này đánh giá sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên qua 5 chiều cạnh, mỗi chiều cạnh 5 mục hỏi: các vấn đề cảm xúc, các vấn đề về hành vi, các vấn đề về tăng động, các vấn đề về bạn bè (vấn
đề hòa nhập với bạn), và các hành vi ủng hộ xã hội Với mục đích nghiên cứu, trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ sử dụng điểm của 4 vấn đề (vấn đề cảm
Trang 40xúc, hành vi, tăng động và vấn đề bạn bè) để đánh giá tổng quan về sức khỏe tâm thần của học sinh hay còn gọi là tổng điểm khó khăn Điểm hành vi ủng hộ
xã hội không được sử dụng
Cách tính điểm của thang đo: Các câu số 7; 11; 14; 21; 25 có cách cho điểm như sau: Không đúng: 2 điểm; Đúng một phần: 1 điểm; Chắc chắn đúng:
0 điểm Các câu còn lại có cách cho điểm như sau: Không đúng: 0 điểm; Đúng một phần: 1 điểm; Chắc chắn đúng: 2 điểm
Theo hướng dẫn của tác giả SDQ, sức khỏe tâm thần của học sinh được chia thành ba mức độ: bình thường/không có vấn đề (0 - 15 điểm), ranh giới lâm sàng (16 - 19 điểm), và ngưỡng lâm sàng/có khó khăn (20 - 40 điểm) (Goodman R, Meltzer H, Bailey V, 1998)
Tại Việt Nam, bảng hỏi SDQ 25 được Trần Tuấn dịch sang tiếng Việt và
sử dụng năm 2006 trong khuôn khổ dự án sàng lọc các vấn đề SKTT trẻ em Việt Nam với độ tin cậy từ 0,7 đến 0,79 tùy theo đối tượng, và Đặng Hoàng Minh thích nghi và sử dụng trong khuôn khổ đề tài “Sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” năm 2013
Bảng 2.2 Ngưỡng đánh giá của thang điểm SDQ 25