Theo đó, hoạt động MGCK có thé được định nghĩa như sau: “Hogt động môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán và chứa đựng nhiềurủi ro, tro
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO ĐỨC THỊNH
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT DONG MOI GIỚI CHUNG KHOÁN- THUC
TIEN
AP DUNG DOI VỚI CAC CONG TY CHUNG KHOAN Ở VIỆT NAM
DE AN TOT NGHIỆP THAC SĨ LUAT HOC
(Định hướng ứng dụng)
HÀ NOI, NĂM 2024
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Minh Hằng
2 TS Nguyễn Thị Phương Thảo
HÀ NOI, NĂM 2024
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các số liệu trong dé án tốt nghiệp là trung thực, đảm bảo độ tin cậy có nguồn góc
rõ ràng và được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Đề án tốt nghiệp
này./.
Tác giả Đề án tốt nghiệp
Đào Đức Thịnh
Trang 4DANH MỤC TU VIET TAT
Thi trường chứng khoán TTCK
Thi trường giao dich chứng khoán
Môi giới chứng khoán
Uy ban chứng khoán Nhà nước
Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Sở giao dịch chứng khoán Hỗ Chí Minh
Tông công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt
Nam
Moi giới chứng khoán — |MGCK _ [Uy ban chứng khoán Nhà nước — |UBCKNN|
So giao dịch chứng khoán | SGDCK
-LSở giao dịch chứng khoán Việt Nam — |vNx |
LSở giao dịch chứng khoán Hà Nội — LINX
_Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Mih — |HOSE |
Giao dịch chứng khoán
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Học viên xin gửi lời cảm ơn tới tập thể giảng viên tham gia giảng dạy Chương
trình đào tạo trình độ thạc sĩ ngành Luật kinh tế theo định hướng ứng dụng tại
Trường Đại học Luật Hà Nội vì đã dốc lòng đào tạo, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho học viên Đặc biệt, học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
tới Tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng và Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Thảo vì đã nhiệt tinhchỉ bảo, hướng dẫn và góp ý cho học viên Nếu không có sự hướng dẫn tận tình này,
học viên đã không thê hoàn thành được dé án tốt nghiệp này
Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, học viên xin gửi lời cảm
ơn đến gia đình và bạn bè vì đã động viên, hỗ trợ học viên rất nhiều về mặt tinh than
cũng như thời gian để học viên có thể chuyên tâm thực hiện đề án tốt nghiệp của
mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2024
HỌC VIÊN
Đào Đức Thịnh
Trang 6MỤC LỤC
MÔ HÀD sàtcccnteticbGiodbáitiediGiataidG5010 50065611ã56051ã0084611xi580444iảxg80,8384 |
1 Lý do chọn đề tài, Tính cấp thiết của đề tài 25-52 ec eceececeeseneeeeeeees 1
2: Tổng quan tinh Bình nghiÊh cu sesizsicsssssssscsscsscsssincasisuenieanusesnaasaresisieeee 2
2.1 Về luận văn, luận AM eee cccccccesccsesesessescsessesessvesescsncecseusavscevensenscsnearsaveavaavess 2 3:2 JŠ cáo app GÀ tauigdotuisgtiitDatlAilliistligftiaattdstigliai g0ii00Gi2S864S08auxỀ 3
3:MWgcdícCR nghiên CỬ g na 60060/3465555 06545 69053 869132489561854658865e5e 3 4: NBiệm vụ nghiên:CỨN.::::::::::¿:2:-222222202262221165633G1Ad44086615658055-Á6666 000816666 4
5 Dối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 2-2 5 2©5+zszsezxezszcxe- 4
8:1 iỗi tượng nghiÊn cỨu:::::.:.¿cc:-2c6t 020000610001 0605:600 64026086 606.c0016 02040306 d0sg8 4
5:2 PHAMK vì nghHiÊñ CỨN -s‹ ecccccci C25 nhá GA kg Ho gHẺ kg Hán in GHnc cha s4 ki 00018 S62 +
6 Phương pháp nghiên cứu - - s- Á- nh nh ng nen
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - ¿S55 sccczcszxecsrercerscer-v-.Ÿ
NỘI DŨNG án SiR NO AER 7
CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT DONG MOI GIỚI CHUNG KHOAN VA PHAP LUAT VE HOAT DONG MOI GIOI CHUNG
HO ẨNGuedaennendntaeiboniodtingi014c0000101800816161005013100103000409014ngig0hgseasdnskssesonul 7 1.1 Khái quát về hoạt động môi giới chứng khoán -cess ee scczcxesecxe2 7
1.1.1 Khái niệm về hoạt động môi giới chứng khoáhH ‹c.-ccceceeeeeeeseesess 7
1.1.2 Phân loại các hinh thức của hoạt động môi giới chứng khoán 10
1.2 Một số van đề lý luận pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán 12
1.2.1 Khái niệm pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán 12
1.2.2 Các nhóm quy định trong pháp luật về hoạt động môi giới 13 Zi) Bit CHU Tao csnonvensraniSGEEEDDERSEEDEEEHGSEEHESGESUENNii2N0DN02 20 CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIA THỰC TIEN AP DUNG PHAP LUAT VE HOAT
DONG MOI GIGI CHUNG KHOAN DOI VOI CAC CONG TI CHUNG
KHOAN Ở VIE TNAN co ntáhg o0 3g 00 i00 ruccuaencanernecstassanene teatoreissbuastesiunes: 22
2.1 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện pháp lí để thực hiện
hoạt động môi giới chứng khoán - Ăn ng tàn yệt 32
Trang 72.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về nội dung hoạt động môi giới
2.2.4 Quy định về thanh toán và hoàn tất giao dịch chứng khoán 34
2.2.5 Quy định về các dịch vụ phái sinh của nghiệp vụ môi giới chứng
2.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về hình thức pháp lí của hoạt độngmôi giới chứng khoẩN::::.:::::02:ãáaŸdqiug\iwWb(Wlqtevcauqsgiatitieqgwyaai 43
2.4 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm của các chủ thé thựchiện hoạt động môi giới chứng khoán ST ng rệt 47
2.4.1 Trách nhiệm bao dam hoạt động môi giới chứng khoán được thực hiện
đúng quy định pháp luật và Quy trình HỘi ĐỘ -ceccesĂeeeSSSSeSSSeeeeeeeeeeeee 47
2.4.2 Trách nhiệm quản lí tiền và chứng khoán của nhà đầu ttư 49
2.4.3 Trách nhiệm về đạo đức nghề nghiệp hành ngh môi giới chứng khoán50 2.5 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lí vi phạm quy định pháp luật
về hoạt động môi giới chứng khoán -¿2 2s s£szs+xzxvzxeeszsezxexesrerre D2
TIDHERẾT CHÍ NGáa ebeceeeoiioiiiaGitaedtidgibblecclgrtakds:äosttsosu3tskzss) 57
CHƯƠNG 3: MỘT SO KIÊN NGHỊ NHAM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VE
HOẠT DONG MOI GIỚI CHUNG KHOAN VÀ GIẢI PHÁP NANG CAO
HIỆU QUA AP DỤNG PHAP LUẠT VE HOAT DONG MOI GIỚI CHUNG
KHOAN DOI VOI CÁC CONG TI CHUNG KHOAN Ở VIET NAM 593.1 Cơ sở hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán 59
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động MGCK phải phù hợp với các chủ
trương, định hướng của Dang và Nhà nước về phát triển thi trường chứng
khoán nói riêng và thị trường tài chinh HÓI CHHHE co VĂẰẰỲẰ 66116611166 59
Trang 83.1.2 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động MGCK cân bảo đâm được sự ổn
định tà am toàn của TTC có co Ó 9 HH 9 4 G906 0090009 94 60
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về hoạt động MGCK cân bảo dam lợi ích hài hòagiữa khách hàng và CTCK, giữa CTCK với người hành nghề chứng khoán 613.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới chứng
3.2.1 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện pháp li để thực hiện
hoạt động môi giới chứng KNOG cc co mm 62
3.2.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nội dung hoạt động môi giới
Chứng KROGH ‹cocccoseccesesceseseeeesceeesleessSeessSeeeseeeeeeeesscdsssostasodsssl0608066666066685266850666 64
3.2.3 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức pháp lí của hoạtđộng môi giới chứng KNOG co dị KH 9 9 0 06000 8006.0009906 66 3.2.4 Kiên nghị nhăm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các chủ thể thực hiện hoạt động môi giới chứng KHOA « «eeeeeeSkiỲS 11 1 1 1196 67
3.2.5 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lí vi phạm quy định pháp
luật về hoạt động môi giới chứng khOÁáï ecccec<<eceeeeekeeseeeseeeeeerseereee 68
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu qua áp dụng pháp luật về hoạt động môi
giới chứng khoán đối với các công ti chứng khoán ở Việt Nam 70
TU KET CHƯƠNG 8 áo ancciibiooiniasnidiididiictiEgilili016450010054036618.038g03sa3i 73KET LUAN ăn ồ 74DANH MỤC 'TATLIỆU THAM KHẢO c6 c2 ccoii6cakiesaraieaao 76
Trang 9MO DAU
1 Lý do chọn đề tài, Tính cấp thiết của đề tài
Trên tinh thần kế thừa và điều chỉnh, bổ sung những quy định cũ, Luật chứng
khoán năm 2019 đã có những quy định mới Qua đó, củng cô, hoàn thiện hơn khuôn
khổ phap lí cho các hoạt động trên TTCK Việt Nam Trong đó, một hoạt động vô
cùng quan trọng đối với sự phát triển và tồn tại của TTCK chính là hoạt động
MGCK Nhờ có hoạt động MGCK, các nhà đầu tư có nguồn vốn nhàn rỗi có théđầu tư vào các sản phẩm trên TTCK Nhờ có hoạt động MGCK, các tổ chức phát
hành chứng khoán có cơ hội tiếp cận được nguồn vốn dai han dé phục vụ cho cácmục đích đài hạn của mình.
Qua gần 05 thực hiện, Luật chứng khoán 2019 đã chứng minh được vai trò của
mình trong việc quy định, tạo hành lang pháp lí, khuôn khổ pháp lí cho các chủ thé trên TTCK thực hiện, triển khai hoạt động của mình Những năm gan đây, TTCK
Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển bùng nổ Trong năm 2021 nhiều ky lục của
TTCK Việt Nam đã được thiết lập như chỉ số VN-index đạt mức cao kỷ lục khi
vượt 1.500 điểm vào ngày 25/11/2021 (Mức cao nhất tính tới hiện nay là 1.528
điểm vào ngày 06/01/2022) Về thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân của thịtrường cô phiếu tăng mạnh từ 19.000 tỷ đồng/phiên trong tháng 1 lên tới 40.000 tỷ
đồng/phiên (tháng 11/2021) Bình quân cả năm 2021, giá trị giao dịch bình quân đạt
hơn 26.455,17 tỷ đồng/phiên Không chi vậy, số tài khoản GDCK mở mới tắng cao
kỷ lục Điều này đã cho thay sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động MGCK nói riêng
và thị trường TTCK nói chung.
Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng bộc lộ ra một sô van đề bat cập trong thực
tiễn áp dụng Trong thời gian vừa qua, nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về hoạt
động MGCK với nhiều mức độ nghiêm trọng khác nhau đã liên tiếp xảy ra gây thiệthại nghiêm trọng cho các nhà đầu tư trên TTCK Có thê kê đến vụ việc liên quan tớiCông ti Cổ phần Chứng khoán Châu A - Thái Bình Dương, Công ti Cô phan Dau tưChâu A - Thái Bình Duong, Công ti Cô phần Đầu tư IDJ Việt nam, Công tỉ Cổ phần
Trang 10Chứng khoán Trí Việt Dac biệt là vu án hình sự liên quan tới ma chứng khoán ROS
của Công ti Cô phần Xây dựng FLC Faros có sự tham gia tiếp sức của Công ty côphần chứng khoán BOS Các vụ việc xảy ra đã đặt ra câu hỏi về tính chặt chẽ và
hiệu quả của các quy định pháp luật liên quan tới hoạt động MGCK.
Hoạt động MGCK là một hoạt động quan trọng, đóng góp không nhỏ vào sự
phát triển của TTCK Dé TTCK có thé phát triển lành mạnh, các quy định pháp luật
về hoạt động MGCK can được liên tục đánh giá, rà soát dé phat hiện những bất cập
đang tồn tại nhằm có những phương án điều chỉnh chính sách, quy định một cách
kịp thời Chính vì vậy, để làm rõ những điểm bất cập của pháp luật về hoạt động
MGCK hiện nay và việc áp dụng các quy định này tại các CTCK, học viên đã lựa
chon đề tài: “Pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán — thực tiên áp dungđối với các công ty chứng khoán ở Việt Nam”
2 Tống quan tình hình nghiên cứu
2.1 Về luận văn, luận án
Hiện nay, có một số luận án, luận văn nghiên cứu nội dung về pháp luật về
hoạt động môi giới:
- Tạ Thanh Bình, 2008, Hodn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thitrường giao dịch tập trung tại Việt Nam, Luan an tiễn sĩ luật học, Đại học Luật Hà
Nội.
- Doan Quốc Hùng, 2002, Pháp luật về hoạt động kinh doanh chứng khoản của
công ty chứng khoán — thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.
- Đặng Hà Phương, 2022, Ap dung pháp luật dé nâng cao tính minh bạch trongcác giao dịch tại thị trường chứng khoản tập trung, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại
học Luật Hà Nội.
- Vương Quốc Hiếu, 2021, Pháp luật về giám sát giao dịch chứng khoản trên
thị trường chứng khoản, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội.
Trang 11- Nguyễn Ngọc Anh, 2021, Pháp luật về bảo vệ quyén và lợi ích của nhà dau tư
trên thị trường chứng khoán tập trung tại Việt nam, Luan văn thạc sĩ Luật học, Dai học Luật Hà Nội.
Nhìn chung, các luận văn, luận án nêu trên đề cập tới hoạt động MGCK dưới
khía cạnh là một bộ phận trong pháp luật về hoạt động của TTCK, của CTCK màkhông phân tích, nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động MGCK Tuy vay, các luậnvăn, luận án nêu trên cũng đã đưa ra những nguyên tắc chung liên quan tới hoạt
động MGCK với tư cách là một hoạt động của CTCK nên có thể xem xét, kế thừa
trong đề án tốt nghiệp này
2.2 Về các tạp chí
Có một số bài viết đã được công bố có nội dung liên quan đến pháp luật vềhoạt động môi giới chứng khoán:
- Nguyễn Hoàng Nam, Dương Kim Thế Nguyên, 2023, “Dé xuất hoàn thiện
pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán tại Việt Nam”, Tạp chí khoa học vàcông nghệ, phát triển kinh tế, thang 06/2023.
- Bùi Kim Yến, 2005, “Hoan thiện nghiệp vụ môi giới tại CTCK”, Tap chi phat
triển kinh té, số 181, thang 11/2005;
Các bài viết trên đã đưa ra những vẫn đề lí thuyết cũng như thực tế về hoạtđộng MGCK Tuy nhiên, đo giới hạn về dung lượng, các bài viết chưa thể đánh giá
được toàn điện hoạt động MGCK Déng thời, nội dung của các bai viết cũng cầnphải được xem xét lại dé bảo dam tinh cập nhật
3 Mục đích nghiên cứu
Đề án tốt nghiệp có mục đích làm rõ cơ sở lí luận về pháp luật về hoạt động
MGCK, đánh giá thực trạng pháp luật về hoạt động MGCK hiện hành từ đó đề xuất
các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp dé nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật tại các CTCK Từ cơ sở lí luận đã được xây dựng một cách rõ ràng, người viết
mong muốn đóng góp vào việc tạo cơ sở pháp lí hoàn thiện, thúc đây hoạt động liên
Trang 12quan tới MGCK và tăng tính hiệu quả trong hoạt động môi giới của các CTCK Từ
đó, góp phần thúc đây sự phát triển của TTCK tại Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề đạt được mục đích nghiên cứu, cần thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu
Sau:
- Làm rõ một số van dé lí luận về hoạt động MGCK và pháp luật về hoạt động
MGCK;
- Tổng hợp, đánh giá thực trang pháp luật về hoạt động MGCK;
- Đánh giá thực tiễn áp đụng pháp luật về hoạt động MGCK đối với các CTCK
ở Việt Nam;
- Dưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động MGCK và giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dung pháp luật về hoạt động MGCK
5 _ Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật liên quan tới phápluật về hoạt động MGCK: Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành
Hệ thống các van bản hướng dẫn của UBCKNN, VSDC, VNX, HNX, HOSE
có liên quan tới hoạt động MGCK.
Thực tiễn thực hiện nghiệp vụ MGCK và các dịch vụ tài chính liên quan tới
nghiệp vụ MGCK các CTCK tại TTCK Việt Nam thông qua phân tích và tông hợp số
liệu bao cáo
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề án tập trung nghiên cứu các vấn đề lí thuyết về pháp luật về hoạt động
MGCK, cũng như quy định pháp luật về chứng khoán từ khi Luật chứng khoán số
54/2019/QH14 có hiệu lực Trong đó tập trung chủ yếu nghiên cứu pháp luật về
Trang 13hoạt động MGCK thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật chứng khoán mà có liên quan
trực tiếp tới hoạt động của các CTCK, người hành nghề chứng khoán
Đề án không nghiên cứu nội dung pháp luật về hoạt động MGCK đối với các
chứng khoán của nhà nước cũng như hoạt động của CTCK liên quan tới chứng khoán của nhà nước.
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Người viết sử dụng phương pháp luận của phép biện chứngduy vat’ nhằm lập luận, đúc kết các vấn dé lý luận, đưa ra quan điểm và đánh giávấn đề.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương
pháp lich sử phương pháp phân tích, phương pháp tong hợp, phương pháp đánh giá
nhằm đúc kết lý luận, tổng hợp các căn cứ pháp lí và đưa ra đánh giá, đối chiếu giữa
pháp luật về thực tiễn và đưa ra các giải pháp pháp lí có giá trị tham kháo cao
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của dé án tốt nghiệp có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau
đây:
Về ý nghĩa khoa học, kết quả nghiên cứu của đề án tốt nghiệp sẽ làm rõ hệthống hóa một cách khoa học những van dé lí luận về pháp luật về hoạt động
MGCK Bên cạnh đó, thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động
MGCK tại Việt Nam cũng được phân tích và đánh giá một cach cụ thể và có hệ
thống Từ đó, đánh giá được pháp luật về MGCK ảnh hưởng và tác động như thế
nào tới việc áp dụng áp dụng đối với các CTCK ở Việt Nam
Ngoài ý nghĩa khoa học, kêt quả nghiên cứu của đề án tôt nghiệp còn có tính
ứng dụng thực tiền Dé án tốt nghiệp đề xuất những giải pháp dé hoàn thiện pháp
: Trường Đại học Luật Ha Nội (2023), Triết học (sách chuyên khảo đùng cho hệ đào tạo sau đại học),
Nxb Tư pháp, Hà Noi, Trang 235,
Trang 14luật về hoạt động MGCK đề góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các CTCK
nói riêng và hoạt động của cả TTCK nói chung.
§ Kết cấu của đề án tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề án tốt nghiệpđược kết cầu thành 3 chương
Chương 1: Một số van dé lý luận về hoạt động môi giới chứng khoán và pháp
luật về hoạt động môi giới chứng khoán
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán và thực
tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán đối với các CTCK ở Việt
Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động môi giới
chứng khoán và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoạt động môigiới chứng khoán đối với các CTCK ở Việt Nam
Trang 15NỘI DUNG
CHUONG 1: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT DONG MOI GIỚICHUNG KHOAN VÀ PHÁP LUAT VE HOAT DONG MOI GIỚI CHUNGKHOAN
1.1 Khái quát về hoạt động môi giới chứng khoán
L1.1 Khái niệm về hoạt động môi giới chứng khoán
Trong từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điền hoc, “mdi giới” được định
nghĩa là hoạt động “/am trung gian dé cho hai bên gặp gỡ tiếp xúc giao thiệp với
nhau”° Người môi giới, là bên trung gian, chuyên thực hiện việc kết nối những chủthể có nhu cầu về một đối tượng nào đó với nhau Bằng khả năng và tài nguyên dữliệu tự tích góp được, họ nắm được các thông tin trong lĩnh vực họ hoạt động mànhững người ngoài ngành khó có thể có được Từ đó, người môi giới có khả năng
hỗ trợ khách hàng của mình - những người có nhu cầu nhưng có ít hoặc không cóthông tin gì về bên có thể đáp ứng được nhu cầu của mình Thông qua hoạt động
này, người môi giới được tiền công, thù lao, tiền hoa hồng Theo đó, hoạt động
MGCK có thé được định nghĩa như sau: “Hogt động môi giới chứng khoán là hoạt
động kinh doanh chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán và chứa đựng nhiềurủi ro, trong đó các bên trung gian giúp khách hàng thực hiện giao dịch chứngkhoán thông qua việc kết nỗi các khách hàng có nhu câu giao dịch chứng khoán vớinhau hoặc nhận ty quyên của khách hàng để thực hiện các giao dịch mua hoặc ban
chứng khoán trên thị tường chứng khoán, vì quyên lợi của khách hàng để được
nhận tiên thù lao dich vụ `.
Trong Luật chứng khoán, hoạt động MGCK được gọi là nghiệp vụ MGCK.
Theo từ điền tiếng Việt, “nghiép vu được định nghĩa là “kĩ năng, biện pháp thực
0172-02 ã Sẽ 5 Bee sg : ee ee F `
hiện công việc chuyên môn của một nghê”” Việc này thê hiện hoạt động MGCK
~ Trung tâm từ điển học, 2011, Tử điển tiếng Liệt, Nxb Da Nẵng, Hà Nội, tr.997
Ÿ Trung tâm từ điển học, 2011, Từ điển tiéng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, 201 1, tr.1065
Trang 16không đơn thuan chỉ là một hoạt động thương mại thông thường mà là một hoạtđộng yêu cầu chủ thể thực hiện phải kiến thức và kỹ năng phù hợp Thuật ngữ
“nghiệp vụ môi giới chứng khoán” được sử dụng dé dé cập tới hoạt động MGCK
khi được thực hiện bởi các chủ thể được phép thực hiện hoạt động MGCK Khi
dùng thuật ngữ “nghiép vụ môi giới chứng khoán” thì có nghĩa người dùng muốn dé
cập tới các hoạt động MGCK được thực hiện bởi các chủ thể được pháp luật cho
phép (CTCK, người hành nghề chứng khoán) Khi dùng thuật ngữ “hoat động môigiới chứng khoán” thì có nghĩa người dùng muốn đề cập tới hoạt động này một cách độc lập, không liên quan tới chủ thê thực hiện hoạt động này Tùy từng ngữ cảnh,hai thuật ngữ này có thé được sử dụng thay thế cho nhau
Từ định nghĩa nêu trên, ta có thê rút ra một số đặc điểm của hoạt động MGCK như sau:
a Muc dich của hoạt động môi giới chứng khoán là giúp khách hàng giao dịch chứng khoán.
Có thể thây, hoạt động môi giới xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực và lĩnh vực
chứng khoán cũng không phải là ngoại lệ Đúng như tên gọi của mình, hoạt độngMGCK có mục đích là giúp cho khách hàng có thể mua, bán được chứng khoán
một loại tài sản “Tai sản thực tạo ra của cải Tài sản tài chính thé hiện quyên đối
voi các phan hoặc toàn bộ của cai đó Tai san tài chính xác định cách thức phan bồ
quyền sở hữu các tài sản thực cho các nhà đâu tu, Chứng khoán là một loại tàisản tài chính Căn cứ vào tính chất của chứng khoán, có thé phân loại chứng khoán
thành chứng khoán vốn, chứng khoán có thu nhập cố định hoặc các công cụ pháisinh Chứng khoán vốn xác nhận sự góp vốn của chủ sở hữu vốn trong các đơn vị
nhận vốn (phổ biến nhất là công ti, quỹ đầu tư) Chứng khoán có thu nhập cố định
tạo ra cho người sở hữu một dòng thu nhập cố định hoặc một đòng thu nhập được
xác định theo một công thức cụ thể Chứng khoán phái sinh là loại chứng khoán
- ; Zvi Bodie — Alex Kane — Alan J.Marcus, 2019, Daw tie tài chính, Nxb Kinh tế TP Hỗ Chí Minh, Tp
Ho Chi Minh, tr.29.
Trang 17được xác định giá trên cơ sở giá của những tài sản cơ sở Một trong những mục đích
của chứng khoán phái sinh là dé phòng ngừa rủi ro hoặc chuyền dịch rủi ro cho cácđối tượng khác Ngoài ra, chứng khoán phái sinh cũng có thể được sử dụng đề thựchiện những vị thé đầu cơ
b Hoạt động môi giới chứng khoản là hoạt động trung gian nhằm kết nốinhững nhà dau tư có như cau giao dich chứng khoán
Khi có nhu cầu mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ dé phục vụ nhu cầu và kế
hoạch của mình, các chủ thé không phải lúc nào cũng có được đầy đủ các nguồn
thông tin về đối tượng và đối tác mà mình giao dịch Trong hoàn cảnh thiêu thông
tin để đưa ra quyết định, các chủ thể dễ dàng rơi vào tình thế bất lợi và đưa ra
những quyết định kém hiệu quả, thậm chi còn có thé được đánh giá là sai lam Xuất
phát từ nhu cầu thực tế, dé hạn chế những bat lợi, thiệt hại xảy ra từ việc đưa raquyết định giao dich trong điều kiện thiếu thông tin, hạn chế chi phí phải bỏ ra déthực hiện giao dich, hoạt động MGCK đã xuất hiện Đối với các GDCK trênTTGDCK tập trung, các nhà đầu tư không trực tiếp thực hiện GDCK với nhau mà
bắt buộc phải thông qua bên trung gian thực hiện hoạt động MGCK TTGDCK
được tô chức va là địa điểm nơi các lệnh GDCK, thông qua chủ thé thực hiện hoạtđộng MGCK, được đưa vào trong hệ thống khớp lệnh Trong hệ thống này, các lệnhgiao dịch tự động khớp với nhau nếu thông tin phù hợp Theo đó, các chủ thê thựchiện hoạt động MGCK cũng không còn cần phải trực tiếp tìm kiếm đối tác thực hiệngiao dịch như thời kì ban đầu của TTCK khi mà các GDCK được thực hiện một
cách thủ công.
c Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro
Khác với hoạt động môi giới thương mại khi mả chủ thé thực hiện hoạt động
môi giới thường chỉ cần kết nối các nhà đầu tư có nhu cầu thực hiện giao địch vớinhau Sau khi được kết nối các bên sẽ tự thương lượng và thực hiện giao dịch vớinhau Nếu giao địch thành công, chủ thé thực hiện hoạt động môi giới sẽ được nhậnhoa hồng Đối với các giao dịch MGCK, đặc biệt là MGCK trên TTGDCK tập
Trang 18trung, chủ thê môi giới là bên trung gian đại diện khách hàng thực hiện giao dịch
mua, bán chứng khoán Nếu việc thực hiện lệnh không chính xác, không đúng thôngtin mà khách hàng yêu cầu, chủ thé thực hiện hoạt động MGCK có thé phải bồi
thường thiệt hại cho khách hàng Đối với khách hàng, bên cạnh rủi ro CTCK thựchiện không đúng lệnh mà mình đã đặt, khách hàng sử dụng dịch vụ MGCK còn cóthé gặp rủi ro nếu chủ thé thực hiện hoạt động MGCK không có đạo đức hành nghề
lợi dụng ưu thé của mình dé kiếm lợi bất chính từ các lệnh GDCK của khách hàng
d Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh có điều kiện
Đề có thê thực hiện được hoạt động MGCK, chủ thê thực hiện hoạt động
MGCK phải đáp ứng các quy định của pháp luật chứng khoán Như phân tích ở trên, chứng khoán là một loại hàng hóa vô hình Việc xác định giá trị của loại hàng
hóa này là tương đối khó khăn và phức tạp nên gây có thể ra nhiều rủi ro cho các
bên Thiệt hại có thé dé dàng xảy ra nếu các bên tham gia giao dịch định giá sai giá
trị của chứng khoán, đặc biệt là những bên thiếu kiến thức, thông tin và kinh
nghiệm.
Đề hạn chế việc bên môi giới sử dụng những lợi thế của mình để xâm hại tới
quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư Pháp luật quy định hoạt động MGCK nói
riéng và hoạt động kinh doanh chứng khoán nói chung là hoạt động kinh doanh cóđiều kiện T6 chức kinh doanh dịch vu này — các CTCK — phải đáp ứng các điều
kiện dé được cấp giấy phép hoạt động Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt độngMGCK phải có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp.
1.1.2 Phân loại các hình thức của hoạt động môi giới chứng khoán
Đề có thé hiểu rõ hơn hoạt động MGCK, phục vụ việc đánh gia, nghiên cứuhoạt động động môi giới, ta có thể phân chia hoạt động môi giới thành các nhóm
như sau:
> Nội dung phan này có tham khảo bài viết “Hoan thiện nghiệp vụ môi giới tại CTCK” của tac giả Bùi
Kim Yên trên Tạp chỉ phát triển kinh tế, so 181, tháng 11/2005.
Trang 19a Theo tính chất hoạt động
Môi giới thừa hành: môi giới thừa hành là loại môi giới làm việc, kí hợp đồng
lao động với các CTCK có cung cấp địch vụ MGCK Đây chính là những người
trực tiếp thực hiện hoạt động MGCK của CTCK Môi giới thừa hành thực hiện công
việc dưới danh nghĩa CTCK, theo sự phân công công việc của CTCK, được CTCK
cung cấp các điều kiện làm việc và được trả lương theo thỏa thuận Đây là loại
MGCK dược pháp luật Việt Nam công nhận tại thời điểm hiện tại
Môi giới độc lập: là những nhà môi giới làm việc với tư cách cá nhân vàhưởng phí hoa hồng theo thỏa thuận với khách hàng Các môi giới độc lập tự bỏ chỉ
phi dé có địa điểm hoạt động tại sở GDCK Phan lớn khối lượng công việc của các
môi giới độc lập là xử lí các lệnh GDCK từ các CTCK theo thỏa thuận Điều này
xảy ra là do nhu cầu thực tế từ các CTCK Có những thời điểm khi TTCK sôi động
hơn bình thường, một sé lượng lớn lệnh chứng khoán có thé được gửi tới các CTCKvượt quá khả năng thực hiện của CTCK Khi này, để giải quyết tình thế, các CTCK
có thé thuê các nha môi giới độc lập
Môi giới chuyên môn: Cùng với sự phát triển của TTCK, rất nhiều các sản
phâm chứng khoán mới tạo ra dé phục vụ nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư Thờigian trước, dé thuận tiện cho việc gặp gỡ, trao đổi của những người có chung nhu
cau, mỗi loại chứng khoán lại được bồ trí giao dịch tại một địa điểm nhất định tại sở
GDCK Các địa điểm nay được gọi là quay giao dich (Post) Tại mỗi quay nay, có
thé xuất hiện các môi giới chỉ thực hiện các giao dịch liên quan tới loại chứng
khoán của quây này đề tăng tính chuyên môn
b Theo phạm vi cung cấp dich vu
Môi giới dich vụ: hoạt động MGCK không chỉ dừng lại ở việc thay mặt khách
hàng mua, bán chứng khoán và còn có rất nhiều địch vụ đi kèm Cụ thể, người môi
giới có thể giúp khách hàng quản lí cỗ phiếu của khách hàng, cung cấp các nguồntài chính cho khách hàng sử dụng thông qua việc cho vay, cung cấp thông tin về
chứng khoán cho khách hàng và rât nhiêu dịch vụ khác Những chủ thê môi giới
Trang 20cung cấp đầy đủ, đa dạng các dịch vụ cho khách hàng như vậy được gọi là môi giới
dịch vụ.
Môi giới chiết khấu: môi giới chiết khấu không cung cấp tat cả các loại dich
vụ cho khách hàng mà chỉ thực hiện cung cấp một số địch vụ cụ thể cho kháchhàng Do phạm vi dịch vụ ít hơn môi giới dịch vụ nên hoạt động của môi giới chiếtkhấu sẽ hẹp hơn và phi môi giới có thé thấp hơn
c Theo thị trường giao dịch chứng khoản
MGCK trên TTGDCK tập trung: rất nhiều GDCK được thực hiện trên
TTGDCK tập trung Đây là thị trường do một tô chức đứng ra thành lập và tô chứcgiao dịch Các chứng khoán giao dịch trên TTGDCK tập trung phải thỏa mãn cácđiều kiện được dé ra của chủ thê tô chức thị trường Tại thị trường này, các nhà đầu
tư không trực tiếp tham gia thương lượng, thực hiện giao dịch mà bắt buộc phải thông qua bên trung gian là các MGCK trên TTGDCK tập trung Chủ thé thực hiện
hoạt động MGCK đóng vai trò rất quan trọng trong các GDCK trên TTCK tập trungthông qua việc thay mặt khách hàng thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán.
MGCK trên TTCK phi tập trung: Không phải chứng khoán nào cũng được
phép giao dịch trên TTGDCK tập trung Đối với những chứng khoán chưa đủ điều
kiện giao dịch trên TTGDCK tập trung, các nhà đầu tư có nhu cầu GDCK này tựthực hiện giao dịch với nhau, tự thực hiện các thủ tục liên quan tới quản Li, chuyềnquyên sở hữu chứng khoán của mình Các nhà MGCK trên TTGDCK phi tập trung
không bắt buộc phải thay mặt khách hàng thực hiện toàn bộ giao dịch mà có thể chỉ
đừng lại ở việc thu xếp cho các bên gap mặt dé các bên tự thỏa thuận với nhau
1.2 Một số vấn đề lý luận pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán1.2.1 Khái niệm pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán
“Pháp luật là hệ thong các quy tắc xử sự mang tinh chất bắt buộc chưng do
` , ` y ` ˆ v oa ° ‘ As ˆ ~ Ae
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điêu chỉnh các môi quan hệ xã hội theo
Trang 21mục tiêu, định hướng cụ thể” Đề bao dam hoạt động MGCK được diễn ra một
cách ôn định, có trật tự và bảo đảm được quyền lợi của các bên như đã phân tích ởtrên, pháp luật có những quy định cu thé đề điều chỉnh hoạt động MGCK Dé có thé
nghiên cứu, phân tích, đánh giá được các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt
động MGCK, chúng ta cần phải xác định pháp luật về hoạt động MGCK là gì
Thông thường, dé có thé xác định được phạm vi các quy định pháp luật cần xem
xét, ta có thể căn cứ vào đối tượng điều chỉnh mà các quy định pháp luật cần xem
xét hướng tới Bảng cách tiếp cận này, người viết không có ý định xác định pháp
luật về hoạt động MGCK là một ngành luật độc lập với pháp luật chứng khoán machỉ có ý định xác định rõ các quy định pháp luật liên quan, điều chỉnh hoạt động
MGCK Dé có thể điều chỉnh được hoạt động MGCK, pháp luật về hoạt động
MGCK cần có các quy định để điều chỉnh các nội dung sau:
- Điều chỉnh về điều kiện pháp lí dé thực hiện hoạt động MGCK
- Điều chỉnh về nội dung nghiệp vụ MGCK;
- Điều chinh về hình thức pháp lí của hoạt động MGCK;
- Điều chỉnh về trách nhiệm của các chủ thé thực hiện hoạt động MGCK
- Điều chỉnh về việc xử lí vi phạm quy định trong hoạt động MGCK.
Căn cứ vào phân tích trên, có thé định nghĩa pháp luật về hoạt động MGCK
như sau: “Pháp luật về hoạt động môi giới chứng khoán là một bộ phận của phápluật chứng khoán và là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh và quy định
về điều kiện pháp lí dé thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, nội dung nghiệp
vu môi giới chứng khoản, hình thức pháp lí của hoạt động môi giới chứng khoán,
trách nhiệm của các chủ thé thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán, xử lý viphạm quy định trong hoạt động môi giới chứng khoán ”
1.2.2 Các nhóm quy định trong pháp luật về hoạt động môi giới
: Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013, Giáo trinh fi luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an Nhân
đân, tr 96.
Trang 221.2.2.1 Nhóm quy định về điều kiện pháp lí dé thực hiện hoạt động môi giới
chưng khoán
Như đã trình bày ở trên, không phải bat kỳ doanh nghiệp nào cũng được cung
cấp dịch vụ MGCK Điều này xuất phát từ thực tế hoạt động MGCK, với tính chat
là một trong số các hoạt động kinh doanh chứng khoán, là một hoạt động kinhdoanh “tiém ẩn nhiều rủi ro và những biến động lớn, có khả năng tạo ra những ảnhhưởng dây chuyên mang tính hệ thống đến toàn bộ nên kinh té cũng như ảnh hướng
xau đến lợi ích của nhà đâu tư” Trường hợp muốn thực hiện nghiệp vụ MGCK,chủ thể kinh doanh phải thành lập công tỉ chuyên hoạt động trong lĩnh vực chứngkhoán Điều này giúp tăng tính chuyên môn về hoạt động giảm thiểu rủi ro trong
quá trình cung cấp dịch vụ chứng khoán, tránh việc công ti sử dụng nguồn lực kinh tế,
nhân lực của mình cho các hoạt động kinh doanh khác.
Có nhiều loại điều kiện kinh doanh khác nhau Đối với tổ chức cung cấp dịch
vụ MGCK pháp luật về hoạt động MGCK có những quy định về vốn điều lệ, về cơ
SỞ Vật chất và điều kiện về nhân sự Đây là những điều kiện liên quan trực tiếp tớinghiệp vụ MGCK của CTCK Ngoài các điều kiện này, CTCK còn phải đáp ứng
một số các điều kiện khác để được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kinh
doanh chứng khoán (tạm gọi là “điều kiện bổ sung”), bao gồm: loại hình doanhnghiệp điều kiện về cỗ đông, thành viên góp vốn, điều kiện về cơ cấu côđông/thành viên góp vốn, điều kiện về dự thảo Điều lệ Các điều kiện bỗ sungkhông liên quan trực tiếp tới hoạt động MGCK của CTCK nhưng nếu không đáp
ứng các điều kiện này thì CTCK cũng không được cấp giấy phép thành lập và hoạt
động kinh doanh chứng khoán Dé tập trung vào hoạt động MGCK, dé án tốt nghiệpnày sẽ tập trung phân tích, làm rõ những điều kiện liên quan trực tiếp tới nghiệp vụ
MGCK.
1.2.2.2 — Nhóm quy định về nội dung hoạt động môi giới chứng khoản.
ˆ Đoàn Quốc Hùng, 2002, Pháp luật về hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoản
— thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội tr.32.
Trang 23Như đã trình bày ở trên, “mdi giới chứng khoán là việc làm trung gian thựchiện mua, bản chứng khoán cho khách hàng "È Quy trình cơ bản dé thực hiện một
GDCK trên hệ thống GDCK tập trung có thể được phân tích thành các giai đoạn
như sau:
1 Mở tài khoản GDCK;
2 Đặt lệnh và nhận lệnh và chuyền lệnh GDCK vào hệ thông GDCK;
3 Khớp lệnh trên hệ thống GDCK va thông báo kết quả khớp lệnh;
4 Thanh toán và hoàn tất giao dịch;
Việc phân chia các giai đoạn như trên không phải là tuyệt đối mà chỉ nhằm
mục đích tạo ra sự thuận tiện và rõ ràng khi nghiên cứu pháp luật về hoạt động
MGCK Mỗi một giai đoạn, pháp luật về hoạt động MGCK sẽ có những quy định
cụ thé để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động
MGCK.
Bên cạnh các hoạt động cơ bản vừa nêu, CTCK khi được cấp phép thực hiện
nghiệp vụ MGCK, tùy theo chiến lược kinh doanh và khả năng, CTCK có thé cung
cấp thêm một số các dịch vu chứng khoán như “hận ủy thác quan lý tai khoản
giao dịch chứng khoán của nhà đâu tur cá nhân; thực hiện phân phối hoặc làm đại
lý phân phối chứng khoán; quản lý tài khoản giao dich chứng khoán; cung ứng dich
vụ quan lý danh sách người sở hữu chứng khoản cho các doanh nghiệp khác "Ẻ,
“Cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán tực tuyến; cung cấp hoặc phối hợp với
các tổ chức tin dung cung cấp dịch vụ cho khách hang vay tiền mua chứng khoảnhoặc cung cấp dịch vụ cho vay chứng khoán; cung cấp hoặc phối hợp với các tổ
chức tín dụng cung cấp dịch vụ ứng trước tiền ban chứng khoán; lưu ký chứng
Ÿ Khoản 29 Điều 4 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2019
k Điểm a khoản | Điều §6 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2019
Trang 24Hoạt động MGCK thé hiện dưới hình thức pháp lí là hợp đồng MGCK Dé
thực hiện cung cấp dịch vụ MGCK, CTCK phải kí hợp đồng bằng văn bản với
khách hàng Do hoạt động MGCK là hoạt động kinh doanh có điều kiện, chứa đựngnhiều rủi ro cho các bên, đặc biệt là nhà đầu tư sử dụng dịch vụ MGCK nên pháp
luật có những quy định về nội dung tối thiêu mà hợp đồng mở tài khoản GDCKphải có.
Hợp đồng MGCK cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng môi giới đóbên môi giới sẽ đứng ra làm trung gian cho các bên mua bán hàng hóa và được
hưởng thi lao theo hợp đồng môi giới Bên trung gian sẽ đại điện cho khách hang
tìm kiếm đối tác có nhu cầu GDCK phù hợp với yêu cầu của khách hàng Đối với
TTGDCK tập trung, tồn tại một nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc trung gian Các
GDCK thực hiện trên TTGDCK tập trung được thực hiện thông qua các bên trung
gian Khi này, bên môi giới không chỉ đơn thuần là nhận yêu cầu của khách hàng đểtìm kiếm, kết nối các nhà đầu tư dé họ tự thực hiện giao dịch mà còn đứng ra thay
mặt các nhà đầu tư để thực hiện GDCK Chính vì đặc điểm nêu trên, hợp đồng
MGCK cần phải có thêm những quy định dé điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các
bên, làm rõ phạm vi ủy quyên, nội dung ủy quyên, trách nhiệm của các bên trong
tham gia vào hoạt động MGCK.
1.2.2.4 Nhóm quy định về (rách nhiệm của các chủ thể thực hiện hoạt động
môi giới chứng khoán
Theo quy định pháp luật, chỉ có pháp nhân là CTCK mới được cung cấp dịch
vụ MGCK cho khách hàng Tuy nhiên, pháp nhân không thẻ trực tiếp thực hiện các
a Điểm b khoản | Điều 86 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2019
Trang 25lợi của khách hàng, pháp luật cần thiết phải có những quy định quy định về trách
nhiệm mà các chủ thê thực hiện hoạt động môi giới phải thực hiện Các quy định
này quy định về những việc mà các chủ thé thực hiện hoạt động MGCK bat buộc
phải làm, quy định về những việc mà các chủ thể thực hiện hoạt động môi giớikhông được làm.
Căn cứ vào chủ thé chịu trách nhiệm, có thé phân loại các trách nhiệm trong
hoạt động MGCK thành:
- Trách nhiệm của tổ chức cung cấp dich vụ MGCK
- Trách nhiệm của người hành nghề MGCK.
- Trách nhiệm của các tổ chức lưu kí chứng khoán, quản lí tài sản của khách
hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện lưu kí chứng khoán, gửi tiền
GDCK tại tổ chức cung cấp dịch vụ MGCK
Căn cứ vào tính chất của các loại trách nhiệm, có thé phân loại các trách
nhiệm trong hoạt động MGCK thành:
- Trách nhiệm chung của các chủ thé đối với toàn bộ hoạt động MGCK
- Trách nhiệm cụ thé của các chủ thé đối với từng hoạt động trong nghiệp vụ
MGCK.
Trong đó, liên quan tới trách nhiệm của các chủ thê cần phải xem xét kỹ lưỡng
các loại trách nhiệm sau:
- Trách nhiệm bảo đảm hoạt động MGCK được thực hiện đúng quy định pháp luật và quy trình nội bộ
- Trách nhiệm quản lí tiền và chứng khoán của nhà đầu tư
Trang 26- Trách nhiệm về đạo đức nghề nghiệp hành nghề MGCK
1.2.2.5 Nhóm quy định về xử lí vi phạm quy định pháp luật về hoạt động
môi giới chứng khoán
Các chủ thể thực hiện hoạt động MGCK là các chủ thể nhận uy quyền đề đại
điện cho khách hàng thực hiện các GDCK Các chủ thể này có lợi thế về thông tin
về tình hình biến động giá, thông tin về nhu cầu giao dịch, thông tin về các chứngkhoán là đối tượng giao dịch Do đó, các CTCK có thé lợi dụng những lợi thé củamình để kiếm lợi bất chính từ các giao dịch của khách hàng Nhằm hạn chế các thiệt
hại có thê xảy ra cho các nhà đầu tư và bảo đảm các chủ thê thực hiện hoạt động
MGCK thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình, thực hiện đúng các quy định
pháp luật, pháp luật về hoạt động MGCK cần phải có những quy định về xử phạt vi
phạm.
Có thé định nghĩa vi phạm pháp luật trong hoạt động MGCK như sau: “Vi
phạm pháp luật trong hoạt động môi giới chứng khoán là hành vi làm trái pháp luật
về hoạt động môi giới chứng khoán của các chủ thể thực hiện hoạt động môi giới
chứng khoán xám hại tới các quan hệ xã hội trong lĩnh vực môi giới chứng khoản”
Vi phạm pháp luật về hoạt động MGCK là loại vì phạm pháp luật trong một
lĩnh vực cụ thé Vì vậy loại vi phạm này có những đặc điểm chung của vi phạm
pháp luật Cụ thể, vi phạm pháp luật về hoạt động MGCK là những hành vi gây
nguy hiểm cho xã hội Vi phạm pháp luật về hoạt động MGCK có thể được thựchiện bởi các chủ thể dưới dạng hành động hoặc không hành động Các hành vi viphạm này là các hành vi không đúng không phù hợp với quy định của pháp luật về
hoạt động MGCK Chủ thé thực hiện hành vi vi phạm có lỗi trong việc thực hiện viphạm, đây có thé là lỗi có ý hoặc lỗi vô ý Chủ thê thực hiện hành vi vi phạm có day
đủ năng lực pháp luật và nang lực hành vi.
Tuy nhiên, do vi phạm pháp luật về hoạt động MGCK là loại vi phạm phápluật trong một lĩnh vực cụ thê nên loại vi phạm này cũng có những đặc điêm riêng.Thứ nhất, các quy định pháp luật bị vi phạm trong loại vi phạm này là các quy định
Trang 27thuộc pháp luật về hoạt động MGCK Thứ hai, các hành vi vi phạm pháp luật vềhoạt động môi giới thường thường do các chủ thé là CTCK, người hành nghề chứngkhoán thực hiện hoạt động MGCK gây ra Điều này cũng là dễ hiểu do đây là những
chủ thê chủ yếu thực hiện hoạt động này Tuy nhiên, cũng có thể có các chủ thê
khác không phải là CTCK và người hành nghề chứng khoán cũng vi phạm quy định
pháp luật về hoạt động MGCK Thứ ba, hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động
MGCK rất phức tạp Các vi phạm phức tạp thường là các vi phạm quy định về
GDCK.
Có thé phân loại các vi phạm pháp luật về hoạt động MGCK thành các nhómsau:
- Vi phạm qui định về điều kiện pháp lí đề thực hiện hoạt động MGCK;
- Vi phạm qui định về nội dung nghiệp vụ MGCK;
- Vi phạm qui định về hình thức pháp lí của hoạt động MGCK;
- Vị phạm qui định về trách nhiệm của các chủ thé thực hiện hoạt động MGCK;Tùy vào tính chất và mức độ vi phạm, chủ thé vi phạm có thé phải chịu trách
nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự.
Trang 28TIỂU KÉT CHƯƠNG 1
Chương | của đề án đã trình bày một số van dé lý luận về hoạt động MGCK
và pháp luật về hoạt động MGCK Cụ thé, hoạt động MGCK là hoạt động kinhdoanh chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán và chứa đựng nhiều rủi ro,trong đó các bên trung gian giúp khách hàng thực hiện GDCK thông qua việc kếtnối các khách hàng có nhu cầu GDCK với nhau hoặc nhận ủy quyền của kháchhàng để thực hiện các giao dịch mua hoặc bán chứng khoán trên TTCK, vì quyền
lợi của khách hàng dé được nhận tiền thù lao dich vụ
Tùy theo nhưng tiêu chí khác nhau và mục đích nghiên cứu, hoạt động MGCK
có thê được phân chia thành các nhóm khác nhau Trong số các tiêu chí phân loại
hoạt động môi giới, tiêu chí phân loại theo TTGDCK sẽ được sử dụng chủ yếu
trong các chương tiếp theo Đây là một tiêu chí quan trong dé phân loại hoạt động
môi giới do mỗi một thị trường lại có một cách thức giao dịch khác nhau Từ đó,
cần phải có những quy định đặc thù đề điều chỉnh
Sau khi đã làm rõ, nhận diện được hoạt động MGCK, đề án tiếp tục làm rõ
khái niệm pháp luật về hoạt động MGCK Cụ thể pháp luật về hoạt động MGCK là
một bộ phận của pháp luật chứng khoán và là tông thể những quy phạm pháp luậtđiều chỉnh và quy định về điều kiện pháp lí để thực hiện hoạt động MGCK, nội
dung nghiệp vụ MGCK, hình thức pháp lí của hoạt động MGCK, trách nhiệm của
các chủ thé thực hiện hoạt động MGCK, xử lý vi phạm quy định trong hoạt động MGCK Mục đích của việc xác định được khái niệm pháp luật về hoạt động MGCK
là nhằm xác định chính xác, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động MGCK
Cụ thé, chương | đã xác định pháp luật về hoạt động MGCK bao gồm 5 nhómquy định bao gồm: Nhóm quy định về điều kiện pháp lí để thực hiện hoạt động
MGCK, Nhóm quy định về nội dung hoạt động MGCK, Nhóm quy định về hìnhthức pháp lí của hoạt động MGCK, Nhóm quy định về trách nhiệm của các chủ théthực hiện hoạt động MGCK và Nhóm quy định về xứ lí vi phạm quy định pháp luật
về hoạt động MGCK
Trang 29Trong chương tiếp theo, đề án tiếp tục đánh giá thực trang của pháp luật về
hoạt động MGCK và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật này đối với các công
ty chứng khoán tại Việt Nam.
Trang 30t9 tà)
CHƯƠNG 2: DANH GIÁ THỰC TIEN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VE HOẠT
DONG MOI GIỚI CHUNG KHOAN DOI VỚI CÁC CONG TI CHUNG
KHOAN O VIET NAM
2.1 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện pháp lí dé thựchiện hoạt động môi giới chứng khoán.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chỉ có CTCK mới có thé được cấpphép thực hiện nghiệp vụ MGCK nếu như đáp ứng các quy định của pháp luật Dé
được thực hiện hoạt động MGCK, CTCK phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh
bao sồm: điều kiện về vốn; điều kiện về cé đông, thành viên góp vốn; điều kiện về
cơ cầu cô đông thành viên góp vốn; điều kiện về cơ sở vật chất; điều kiện về nhân
sự; và điều kiện về Điều lệ của doanh nghiệp” Nhìn chung, pháp luật chứng khoán
đã có những quy định về điều kiện kinh doanh để CTCK có thẻ cung cấp dịch vụ
MGCK Tuy nhiên, pháp luật về hoạt động MGCK vẫn tôn tại một số bat cập sau:
Thứ nhất, “hiện nay trong luật Chứng khoán 2019 chưa có một quy định chính
+s12thức nào về điều kiện kinh doanh chứng khoan”'* Các điều kiện quy định về điềukiện được thực hiện hoạt động môi giới thực chất đang nằm trong điều kiện dé được
cấp Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán (Giấy phép kinh
doanh) Chưa có điều luật nào trong luật chứng khoán quy định về điều kiện đầu tư
kinh doanh đành riêng cho hoạt động MGCK Bên cạnh đó, pháp luật cũng có một
số quy định gián tiếp ma CTCK can đáp ứng nếu muốn thực hiện được nghiệp vụ
môi giới Cụ thể, ngoài các điều kiện để được cấp Giấy phép kinh doanh, CTCK
muốn thực hiện được nghiệp vụ MGCK còn cần phải đáp ứng các điều kiện sau
1 Là thành viên lưu kí
3 Các điều kiện này được quy định cụ thể tại Điều 74 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26
tháng 11 năm 2019 và Điểm a khoản I Điều 175 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 thang 12 năm 2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoản
?
B Nguyễn Hoàng Nam, Dương Kim Thế Nguyên, 2023, “Dé xuất hoàn thiện pháp luật về hoạt động
môi giới chứng khoản tại Việt Nam "Hoàn thiện nghiệp vụ môi giới tại CTCK”, Tạp chí khoa học và công
nghệ, phát triển kính tế, tháng 06/2023.
Trang 312 Là thành viên bù trừ hoặc “hy hợp đồng uy thác bù trừ, thanh toản với thành
viên bù trừ chung’
3 Là thành viên thành viên giao dịch
Như vậy, có thể thấy, mặc dù không được xác định là các điều kiện kinh
doanh nhưng dé có thé thực hiện được hoạt động MGCK, CTCK bắt buộc phải trở
thành thành viên giao dịch của VNX, trở thành viên lưu kí của VSDC, trở thành
thành viên bù trừ của VSDC hoặc “hy hợp đồng úy thác bù trù, thanh toán vớithành viên bù trừ chung””“ Như vậy, cũng có thé xác định việc trở thành viên giao
dich của VNX , trở thành thành viên lưu kí của VSDC và trở thành thành viên bù
trừ hoặc “ky hợp đông ty thác bù trừ, thanh toán với thành viên bù trừ ching”! * là cácđiều kiện kinh doanh của hoạt động MGCK.
Thứ hai, mức vén điều lệ tối thiểu đối với nghiệp vụ MGCK được pháp luật
quy định còn khá thấp Tính từ thang 1 năm 2021 tới tháng 9 năm 2024, giá trị giaodịch bình quân của TTCK Việt Nam trung bình dat 30.110 tỷ đồng một tháng,
tương đương 2.509,16 tỷ đồng một ngay'® Trong khi đó, mức vốn điều lệ tối thiểuđối với nghiệp vụ MGCK của CTCK chi là 25 tỷ đồng'”, chưa bằng 1% giá trị giaodich của toàn thị trường trong một ngày giao dịch Ti lệ chênh lệch này quá lớn, dẫnđến tiềm ân nhiều rủi ro cho các nhà dau tư trong trường hợp CTCK mất khả năngthanh toán Bên cạnh đó, mức vốn 25 tỷ đồng chưa phù hợp trong điều kiện chi phíđầu tư cho hệ thống giao dịch của các CTCK đã tăng lên đáng kể để đáp ứng yêu
cầu của các Sở GDCK cũng như trong bối cảnh chuyên đổi số hiện nay Thực tế,
13 Lhoán 1 Điều 97 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật chứng khoán
Mf khoản 1 Điều 97 Nghi định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định chỉ tiết thi
hành một số điều của Luật chứng khoán
LỄ khoản 1 Điều 97 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định chỉ tiết thi
hành một số điều của Luật chứng khoán
'© Số liệu thé hiện cụ thẻ tại Phụ luc I của Dé án tốt nghiệp
Bus Diém a khoản I Điều 175 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngay 31 tháng 12 năm 2020 quy định chỉ
tiết thi hành một sô điều của Luật chứng khoán
Trang 32trên TTCK Việt Nam, nhiều CTCK thậm chí có vén điều lệ còn cao hơn cả một số
tô chức tín dụng Có thé kẻ tới như Công ty Cổ phan Chứng khoán SSI với số vốn
điều lệ là 15.111,3 tỷ đồng (theo báo cáo tài chính tài chính Hợp nhất Soát xét 6
tháng đầu năm 2024) Ngoài ra, trong danh sách các CTCK là thành viên của
HOSE, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Public Việt Nam là CTCK có vốn
điều lệ thấp nhất Tuy nhiên, mức vốn điều lệ của Công ty TNHH Chứng khoán
Ngân hang Public Việt Nam đã là 135 tỷ đồng
Thứ ba, pháp luật chưa có quy định rõ ràng về việc liệu các điều kiện đầu tưkinh doanh của nghiệp vụ MGCK tại Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn
có áp dụng đối với hoạt động MGCK trên TTGDCK phi tập trung hay không Theo
định nghĩa của Luật chứng khoán về hoạt động môi giới chứng: “Méi giới chứng
khoản là việc làm trung gian thực hiện mua, bản chứng khoán cho khách hàng5,
CTCK sẽ phải đứng ra thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng mà không
chi đơn thuần là “/dm rưng gian để cho hai bên gặp gỡ, tiếp xúc, giao dich với
"!? Điều này đã được khăng định rõ tại khoản 1 Điều 15 Thông tư
khoản GDCK của khách hàng Tuy nhiên, đối với các GDCK trên TTGDCK phi tập
trung, CTCK không bắt buộc phải “/am trưng gian thực hiện mua, bản chứng khoáncho khách hàng” mà hoàn toàn có thê chi đứng ra két nôi nhu câu của các nhà dau
tư và dé ho tự thực hiện GDCK với nhau Nếu hợp đồng môi giới giữa CTCK và
'8 khoản 29 Điều 4 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2019
12 Trung tâm tir điển học, 2011, Tix điền tiếng Việt, Nxb Da Nẵng, Hà Nội, tr.997.
*? Khoản | Điều 15 Thông tư 121/2020/TT-BTC quy định: “Dé thye biện giao dịch mua, bán chứng
khoản cho khách hàng, công ty chứng khoản phải làm thủ tục mở tài khoản giao dịch cho ning khách hàng
trên cơ sở hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoản với khách hàng ”
Trang 33tN n
khách hang không có thỏa thuận thêm về việc khách hàng ủy quyền cho CTCK thực
hiện giao dịch thay khách hàng thì định nghĩa về hoạt động MGCK tại luật chứng
khoán sẽ không quy định tới trường hợp này Điều này thé hiện pháp luật về hoạt
động MGCK hiện nay đang thiếu quy định điều chính hoạt động MGCK trên
TTGDCK phi tập trung Dây chính là một điểm bất cập cần được khắc phục dé bảo đảm
sự chặt chẽ của pháp luật về hoạt động MGCK
Cuối cùng, trong số các điều kiện để được CTCK được cấp Giấy phép kinh
doanh đó là “có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang bị, thiết bị văn phòng, hệ thông
công nghệ phù hợp với quy trình nghiệp vụ về hoạt động kinh doanh chứng
khoán"”Ì Có thé thay, quy trình nghiệp vụ MGCK do CTCK tự ban hành dé áp
dụng tại chính công tỉ mình Điều này dẫn tới khả năng mỗi một CTCK có thê cómột quy trình nghiệp vụ khác nhau Bên cạnh đó, trong bối cảnh GDCK trực tuyến
chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số các GDCK, việc đầu tư cho cơ sở vật chất, hệ
thống công nghệ là vô cùng quan trọng Nếu không được đầu tư thích đáng, rủi rogây thiệt hại cho các CTCK nói riêng và hệ thống GDCK” là rất lớn Tuy nhiên,pháp luật hiện nay lại không có một quy định cu thé và rõ rang về điều kiện nay.Thay vào đó, các sở GDCK, VSDC cũng sẽ có những điều kiện về cơ sở, vật chất
riêng mà các thành viên phải đáp ứng Điều này mặc di có thé phù hợp với hệ thống
của mỗi bên nhưng vô tình tạo ra nhiều điều kiện khác nhau mà CTCK phải đáp
ứng.
Bên cạnh điều kiện kinh doanh của các CTCK thì cũng không thể không bàn
tới điều kiện hành nghề của người hành nghề chứng khoán thực hiện nghiệp vụ môigiới Pháp luật về hoạt động MGCK hiện tại quy định chỉ có CTCK mới được kinh
doanh dich vụ MGCK Tuy nhiên, do là pháp nhân nên CTCK không thé tự mình
Trang 34thực hiện các hoạt động kính doanh mà phải thông qua những thê nhân có chứng chỉ
hành nghề chứng khoán Để được cấp chứng chỉ hành nghề MGCK, người hànhnghề chứng khoán phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định Nhìn chung,
các điều kiện này tương đối day đủ và hợp lí Cụ thé, trong số các điều kiện dé được
„2cấp chứng chi hành nghề MGCK có điều kiện “có trinh độ từ đại học trở lên” ** mà
không bắt buộc phải tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế Trong khi đó TTCK
có sự tham ra của các tổ chức phát hành đến từ nhiều ngành, nghề khác nhau Có
thé nhận định điều kiện này chi hợp lí khi kết hợp với điều kiện người hành nghéphải có trình độ chuyên môn về chứng khoán Tuy nhiên, pháp luật về hoạt động
MGCK không có quy định cụ thể để xác định điều kiện “có trình độ chuyên môn về
chứng khoán” Có quan điểm cho răng, “có trinh độ chuyên môn về chứng khoán"
thê hiện qua việc đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch cấp chứng chi hành nghề chứng
khoán nhưng quan diém này không hợp lí bởi lẽ việc “dar yêu cau trong kỳ thi sát
hạch cấp chứng chỉ hành nghề ’ đã được xác định là một điều kiện riêng, độc lập
2.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về nội dung hoạt động môi giớichứng khoán
2.2.I Quy định về mở tài khoản giao dịch chứng khoán
Đối với các chứng khoán giao dịch trên hệ thống GDCK, để mua bán các
chứng khoán này nhà đầu tư cần thực hiện việc mở tài khoản GDCKTM băng cách kíkết hợp đồng với CTCK CTCK có hai phương thức để mở tai khoản cho kháchhàng bao gồm: mở tài khoản trực tiếp và mở tài khoản trực tuyến” Dé bảo đảm
23 Điểm b khoản 2 Điều 97 Luật chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2019
a Tai khoản giao địch chứng khoán là tài khoản ma khách hang mở tại công ty chứng khoán Chức
năng cơ bản nhất của tài khoản nảy là được sử dụng dé đặt lệnh giao dịch chứng khoản Tiếp theo, nếu công
ty chứng khoán có cung cap dịch vụ lưu kí chứng khoán, quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán thi tải
khoản nảy còn có thẻ được sử dụng để quản lý tiền và chứng khoán của khách hàng và đồng thoi là tai khoản lưu kí chứng khoán của khách hang luôn Nếu công ty chứng khoán không cung cap hai dịch vụ vừa nêu thì
khách hang can mở tài khoản ngân hang dé quản lý tiền vả tải khoản lưu kí chứng khoán tại tô chức lưu kí khác, thông thường là ngân hang được phép cung cấp dịch vụ lưu kí chứng khoán, dé quản lý chứng khoán.
2 £ ` :
2 M6 tai khoản trực tiếp là phương thức mở tai khoản truyền thong Theo đó, khách hàng trực tiếp tới
công ty chứng khoán (hoặc các địa điểm mà công ty chứng khoán đã kí với UBCKNN) dé thực hiện các thủ
Trang 35khách hàng không hiéu nhằm về các điều khoản, điều kiện của hợp đồng mở tàikhoản GDCK, CTCK có trách nhiệm bố trí người có chứng chỉ hành nghề chứngkhoán thực hiện việc tư vấn, giải thích hợp đồng cho khách hàng Các thủ tục mở tài
khoản GDCK cho khách hàng phải được thực hiện bởi những nhân viên có chứng
chỉ hành nghề chứng khoán Dé mở tài khoản chứng khoán GDCK, khách hàng phải
cung cấp một số loại thông tin cho cho CTCK, bao gồm một số loại thông tin bắt
buộc sau: thông tin nhận biết khách hàng, thông tin về khả năng tài chính, mức độ
chịu đựng rủi ro và kỳ vọng lợi nhuận thu được của khách hàng Theo quy định, tại
mỗi CTCK, mỗi một nhà đầu tư cá nhân hoặc tổ chức (không kinh doanh chứngkhoán, không kinh doanh bảo hiểm) chỉ được mở 01 tài khoản GDCK
Thực tế trên TTCK đã xảy ra nhiều vụ án liên quan đến hành vi thao túng thị
trường Đặc điểm chung của các vụ án này là các đối tượng cầm đầu thường chỉ huy
các đôi tượng khác mở nhiều tài khoán chứng khoán tại các CTCK khác nhau dé
liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán, tạo cung cầu giả trên thị trường nhằm thao
túng giá của chứng khoán Điền hình có thé kê đến vụ việc thao túng TTCK do cựu
Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ti Cổ phần Chứng khoán Trí Việt cùng các đồngphạm thực hiện Cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ti Cô phần Chứng khoán Tri
Việt đã chỉ đạo nhân viên sử dụng 109 tài khoản nội nhóm để mua — bán chéo cô
phiếu TVB và TVC”” Hay vụ án “Thao túng thị trường chứng khoán” liên quanđến cựu Chủ tịch hội đồng quan trị Hội đồng quan trị Công ti CP Tập đoàn FLC đã
chỉ đạo nhiều người thân trong gia đình và một số người khác điều hành nhân viên
Công ti CP Chứng khoán BOS và các công ti con sử dụng khoảng 20 tài khoản
tục mở tải khoản Tại đây, nhân viên cộng ty chứng khoán có chứng chỉ hành nghề sẽ thực hiện tư vấn,
hướng dan, giải thích các nội dung hợp đồng cho khách hàng, thực hiện kiểm tra thông tin cá nhân của khách
hàng có khớp đúng với các giây tờ nhận biết khách hang ma khách hàng củng cap hay không Phương thức
mở tài khoản thứ hai là mở tai khoản trực tuyến Theo Điều 19 Luật phòng, chống rửa tiền, công ty chứng
khoán có quyền lựa chọn việc có gặp mặt khách hàng trong lần dau tiên tiếp xúc khách hàng hay không Trường hợp không gặp mặt khách hàng, công ty chứng khoán cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp dé nhận biết khách hang và có các biện pháp quan trị rủi ro thích hợp dé phòng chống nguy cơ rửa tiền có thể
Xảy ra
26
Itps://cand.com.vn/ban-tin-I13/cuu-chu-tich-chung-khoan-tri-viet-bi-phat-2-ty-đong-vi-thao-tung-thi-truong-chung-khoan-i741701/
Trang 36chứng khoán của 11 tô chức dé thực hiện việc “làm giá””” Tính đến tháng 7/2024,
trên TTCK Việt Nam có khoảng 82 CTC K? Như vậy, theo quy định pháp luật hiện
nay, mỗi một nhà đầu tư có thể mở tới 82 tài khoản GDCK Thực tế này cho thay
việc kiêm soát hoạt động mở tài khoản GDCK đang chưa được hợp lí Pháp luật
chứng khoán hiện nay mới chỉ chú trọng tới tính chặt chẽ khi mở tài khoản đối với
từng tài khoản GDCK một cách riêng lẻ mà thiếu các quy định về việc quản lí hoạt
động mở tài khoản GDCK của một nhà đầu tư Việc thiếu quy định như vừa nêu tạo
ra kẽ hở dé những các chủ thể lợi dụng phục vu cho hành vi thao túng TTCK của
thức nhận lệnh GDCK giữa khách hàng và CTCK quy định tại Hợp đồng mở tài
khoản GDCK, khách hàng thực hiện việc gửi lệnh GDCK tới CTCK Lệnh GDCK
này là bằng chứng thê hiện ý chí của nhà đầu tư Lệnh GDCK có thê hiện dưới các
hình thức khác nhau như văn bán, dữ liệu điện tử hoặc file ghi âm nhưng phải đảm
bảo có thé xuất trình được và có thé xác thực được người tạo ra lệnh này
Một lệnh GDCK phải chứa đựng các thông tin mô tả được đối tượng của giao
dịch — chứng khoán Các thông tin này bao gồm: loại chứng khoán khách hàng cónhu cầu giao dịch, phương thức giao dịch, số lượng chứng khoán mà khách hàng cónhu cầu mua hoặc bán, mức giá ma khách hàng chấp nhận dé giao dịch thành công
Ngoài ra, CTCK cũng phải ghi nhận day du, chính xác thông tin liên quan tới khách
2?
https;//tuoitre 20220330001022301.htm
vn/kich-ban-thao-tung-gia-chung-khoan-cua-chu-tich-fle-trinh-van-quyet-ra-sao-https://tapchichungkhoan dau-an-va-tricn-vong-trong-tuong-lai-d18-t40870.html
Trang 37vin/tin-tuc-—su-kien/24-nam-thi-truong-chung-khoan-viet-nam-bhung-hàng, thời gian CTCK nhận lệnh từ khách hàng đề phục vụ cho việc đối chiếu, khớp
lệnh sau này.
Đối với các GDCK thực hiện theo phương thức khớp lệnh tập trung, chỉ cần
các thông tin về loại chứng khoán, số lượng, giá cả và phương thức đặt lệnh là công
ti đã có thé thực hiện giao dịch mua, bán chứng khoán cho khách hàng Đối vớiphương thức khớp lệnh tập trung, nhà đầu tư không thỏa thuận cụ thể về quyền vanghĩa vụ của các bên trong giao dịch mua bán Đây cũng là một điểm đặc thù đối
với các GDCK thực hiện thông qua phương thức khớp lệnh tập trung do các bên
không biết được mình giao dịch với ai nên không thé tiến hành thỏa thuận về các
vã : Mare SA ; 20
điều khoản và điều kiện khác
Ngay khi lệnh GDCK được gửi tới CTCK thành công, khách hàng phải chịu
trách nhiệm về quyết định này của mình Các CTCK vẫn cho phép khách hàng đượcquyền hủy lệnh, sửa lệnh nếu như lệnh của khách hàng vẫn chưa khớp trênTTGDCK Khi lệnh của khách hàng đã đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật
và quy định theo thỏa thuận giữa CTCK và khách hàng, “công ty chứng khoản phải
thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác lệnh giao dịch của khách hàng cat
Đề đảm bảo cho GDCK được thực hiện thành công, CTCK cần phải có các biệnpháp để bảo đảm khả năng thanh toán cho giao dịch của khách hàng (thanh toán tiền
và chuyền giao chứng khoán).
Theo quy định của pháp luật chứng khoán, có thể phân chia các hình thức
wl
nhận lệnh thành hai hình thức gồm: “nhận lệnh trực tiếp tại quay giao địch ””" và
? Ngược lại với phương thức khớp lệnh tập trung, đối với phương thức giao dịch thoa thuận các bên
trong giao dịch có thể xác định được đối tác thực hiện giao dịch với mình nên có thể thỏa thuận được với
nhau vẻ các điêu kiện giao dịch khác tại hợp đồng mua bán chứng khoán Tất nhiên, việc thanh toán và chuyển a chứng khoán thi vẫn được thực hiện thông qua hệ thống giao dich chứng khoán.
Ở Khoản 5 Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định vẻ hoạt
động của công ty chứng khoán.
= Điểm a khoán | Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định về
hoạt động của công ty chứng khoán.
Trang 381332
“nhận lệnh từ xa qua điện thoại, fax, internet va các đường truyền khde’~ Đôi vớihình thức nhận lệnh trực tiếp tại quầy, khách hàng sẽ thực hiện viết phiếu lệnh, kí
tên trên phiếu lệnh và bàn giao cho CTCK Các hình thức nhận lệnh còn lại không
phải là nhận lệnh trực tiếp tại quầy có thê được xác định là nhận lệnh từ xa
Đề có thể nhận lệnh từ xa, CTCK phải đáp ứng điều kiện dé được chấp thuận
cung cấp dịch vụ GDCK trực tuyến Khi nhận nhận lệnh GDCK trực tuyến, nhận
lệnh GDCK qua điện thoại, qua fax và các đường truyền khác, CTCK phải tuân thủ
các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 16 Thông tư 121/2020/TT-BTC, cụ thê:
“3 Trường hợp nhận lệnh giao dich chứng khoán trực tuyển, qua điện thoại,
qua fax va các đường truyền khác, công ty chứng khoản phải tuân thủ:
a) Luật Giao dịch điện tử và các văn ban hướng dan;
b) Xác thực khách hàng và đảm bảo có ghi nhận lại đây du thông tin tại thời
điểm nhận lệnh, lưu giữ bằng chứng chứng minh về việc đặt lệnh của khách hàng
dé có thé tra cứu được khi can thiết;
c) Dam bảo nguyên tắc xác nhận với khách hàng trước khi nhập lệnh vào hệ
thống giao dịch;
d) Có biện pháp dam bảo an toàn, an ninh đường truyền và biện pháp khắc
phục thích hợp khi không nhập được lệnh của khách hàng vào hệ thong giao dịch
đề io hh a „ii
do lôi của công ty.
Do MGCK là hoạt động kinh doanh có điều kiện, người thực hiện việc nhậnlệnh phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ phù hợp thi mới có thé
bảo đảm được tính chính xác khi thực hiện công việc nên pháp luật chứng khoán
= Điểm b khoản 1 Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định về
hoạt động của công ty chứng khoản.
33 Khoản 3 Điều 16 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định về hoạt
động của công ty chứng khoán.
Trang 39quy định CTCK phải bố trí người hành nghề chứng khoán thực hiện việc “hận
lệnh, kiểm soát lệnh giao dịch chứng khoán của khách hàng ate
Dé bảo đảm quyền lợi của khách hàng với nguyên tắc xác định khách hàng là
những đối tượng cần được bảo vệ do họ không có nhiều thông tin và lợi thế so với
CTCK khi GDCK, CTCK có trách nhiệm ưu tiên thực hiện các lệnh GDCK của
khách hàng trước khi thực hiện các lệnh tự doanh của CTCK Tuy nhiên, với thực tếcác GDCK chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thông giao dịch điện tử, các lệnh
GDCK hiếm khi trùng khớp tại một thời điểm Theo quy định hiện nay, chỉ có
CTCK là thành viên giao dịch mới có thé truyén lệnh vào hệ thống GDCK do VNX
và các công ti con tổ chức
Thực tế trên TTCK hiện nay, tồn tại tình trạng chủ tài khoản giao mật khâu, số
điện thoại, email của mình cho một bên thứ ba dé bên này thay nhà đầu tư thực hiện
GDCK Mặc dù pháp luật đã có quy định đối với các lệnh GDCK trực tuyến, CTCKphải có các biện pháp dé xác thực khách hàng Các biện pháp xác thực này phải có
độ an toàn tối thiểu tương đương giải pháp xác thực hai yếu tố trở lên Tuy nhiên,
do các yếu tố xác thực này vẫn có thé được chuyên giao cho người khác nên trong
nhiều trường hợp người đặt lệnh không thực sự là chủ tài khoản Phổ biến với
trường hợp nay 1a việc nha dau tư thực hiện “ủy thác đầu tư” cho người khác
Người được “ủy thác” sẽ tiếp nhận tài khoản của chủ tài sản (email, điện thoại, mậtkhâu) dé thay nhà dau tư đặt lệnh Hoạt động nay tiềm an rất nhiều rủi ro cho cácbên và cân phải có biện pháp dé ngăn chặn, không cho việc này xảy ra.
Trên thực tế, trong việc nhận lệnh giao dịch của CTCK SSI, khách hàng được
sử dụng phương thức xác thực bang Smart OTP Cu thé, dé giao dịch, khách hang
CTCK SSI được hướng dẫn cai đặt phần mềm GDCK trực tuyến trên điện thoại
thông minh Trong phần mềm này có tích hợp chức năng tạo mật khâu Thông qua
việc sử dung phương thức xác thực bằng Smart OTP, CTCK SSI có thé xác thực
đà vay $ 3 s H " A `
s Điểm c khoán | Điều 13 Thông tư số 121/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định về
hoạt động của công ty chứng khoán.
Trang 40Ww tk)
được khách hàng thông qua hai yếu tố bao gồm: thông tin mà khách hàng biết là mã
PIN và thông tin mà khách hàng có là điện thoại mà khách hang đã đăng ký với
CTCK Như đã trình bày ở phần trên, mặc dù đảm bảo được các quy định về việc
xác thực khác hàng theo quy định của pháp luật nhưng việc áp dụng quy định này
vẫn có thể không xác thực được chính xác nhà đầu tư nếu như nhà đầu tư vô tình
hoặc có ý cài đặt phương thức xác thực bằng Smart OTP tại điện thoại của người
khác.
2.2.3 Quy định về khớp lệnh trên hệ thống giao dịch chứng khoán và trả
kết quả khóp lệnh
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 120/2020/TT-BTC “Sở giao dịch chứng
khoán tô chức giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh tập trung vàphương thức giao dịch thỏa thuận seas Trong đó, “phuong thức khớp lệnh tap trung
là phương thức giao dịch được thực hiện trên hệ thong giao dịch chứng khoán trên
cơ sở so khớp với các lệnh mua và lệnh bán chứng khoản ”” Lệnh GDCK do các
CTCK là thành viên giao dịch của các SGDCK nhận từ các khách hàng của minh sẽ
được chuyên vào hệ thống GDCK Bằng sự hỗ trợ của máy tính, các lệnh giao dịch
này sẽ được tự động so khớp với nhau thay vì việc nhân viên MGCK trực tiếp lên
SGDCK để tìm kiếm đối tác Hiện nay, phương thức khớp lệnh tập trung nêu trên
được chia thành hai phương thức là phương thức khớp lệnh định kì và phương thức
khớp lệnh liên tục” Thực hiện phương thức khớp lệnh tập trung bên mua và bên
* Khoản 1 Điều 3 Thông tr số 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định giao dịch cô
phiếu niêm yết, đăng ký giao dich và chứng chỉ quỳ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo dam niêm
yết trêneC thông giao dịch chứng khoán.
° Khoản 4 Điều2 Thông tư só 120/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định giao dich cổ
phiếu niềm yết, đăng ký giao dich và chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, chứng quyền có bảo đảm niêm
yet trên - thống giao dịch chứng khoán.
7 Kop lệnh định kỳ là phương thức giao dịch được thực hiện trên hệ thong giao dich chứng khoán
trên cơ sở khớp các lệnh mua và lệnh bản chứng khoản tại một thời điểm xác định ”, thường lả đầu phiên (ATO) và cuôi phiên (ATC) “Xhớp lệnh liên tục là phương thức giao dịch được thực hiện trên hệ thống giao
dịch chứng khoán trén cơ sở khớp các lệnh mua và lệnh ban chứng khoản ngay khi lệnh được nhập vào hệ
thông giao dịch chứng khoán”