Trong quá trình phát triển đó, hệ tư tưởng tư sản và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa đã không ngừng được hình thành, xác lập và điều chỉnh để thích ứng với yêu cầu lịch sử, sự biến đổi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA SỬ - ĐỊA - CHÍNH TRỊ
- -
SEMINAR
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, XÁC LẬP VÀ ĐIỀU CHỈNH HỆ
TƯ TƯỞNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2025
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ TƯ TƯỞNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 6
1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan 6
1.1.2 Các mô hình thể chế chính trị của tư bản chủ nghĩa 10
1.2 Các nhân tố tác động đến sự hình thành, xác lập và điều chỉnh hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước Tư bản Chủ nghĩa 14
1.2.1 Sự hình thành của giai cấp tư sản 14
1.2.2 Sự kìm hãm của Giáo hội Thiên Chúa giáo 16
1.2.3 Sự thành công của cách mạng tư sản 18
1.2.4 Sự xuất hiện của Chủ nghĩa Xã hội 19
1.2.5 Sự ảnh hưởng từ phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật 20
1.2.6 Sự ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá 21
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, XÁC LẬP VÀ ĐIỀU CHỈNH HỆ TƯ TƯỞNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 23
2.1 Quá trình hình thành, xác lập và điều chỉnh hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa 23
2.1.1 Quá trình hình thành hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa 23
2.1.2 Quá trình xác lập hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa 31
2.1.3 Quá trình điều chỉnh hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa 36
2.2 Quá trình hình thành, xác lập và điều chỉnh bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 41 2.2.1 Quá trình hình thành bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 41
2.2.2 Quá trình xác lập bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 49
2.2.3 Quá trình điều chỉnh bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 57
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HỆ TƯ TƯỞNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 61
3.1 Mối quan hệ giữa hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 61
3.1.1 Vai trò của hệ tư tưởng đối với bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 61
3.1.2 Tác động qua lại của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 63
3.2 Đặc điểm của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 67
3.2.1 Đặc điểm của hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa 67
Trang 33.2.2 Đặc điểm của bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 70
3.3 Tác động của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 76
3.3.1 Tác động tích cực của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 76
3.3.2 Tác động tiêu cực của hệ tư tưởng bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 78
3.4 Ý nghĩa của sự hình thành, xác lập và điều chỉnh hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa 85
3.5 Ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa trong quá trình xây dựng nha ̀ nước pha ́ p quyền ở Việt Nam 87
KẾT LUẬN: 92
Tài liệu tham khảo: 93
Trang 4MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa tư bản, từ khi xuất hiện đến nay, không chỉ là một hình thái kinh tế –
xã hội đặc thù, mà còn là một hệ thống tư tưởng và thể chế chính trị có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Trong quá trình phát triển
đó, hệ tư tưởng tư sản và bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa đã không ngừng được hình thành, xác lập và điều chỉnh để thích ứng với yêu cầu lịch sử, sự biến đổi của
xã hội cũng như những mâu thuẫn nội tại của chính bản thân chế độ tư bản
Từ sự tan rã của chế độ phong kiến và sự ra đời của giai cấp tư sản trong lòng xã hội châu Âu thời cận đại, đến các cuộc cách mạng tư sản điển hình như Cách mạng Hà Lan, Cách mạng Anh, Cách mạng Pháp và sự độc lập của Mỹ, hệ tư tưởng tư sản dần được định hình với những nội dung cốt lõi như quyền con người,
tự do cá nhân, chủ quyền quốc gia và nhà nước pháp quyền Đồng thời, bộ máy nhà nước tư sản cũng từng bước thay thế hình thức nhà nước quân chủ chuyên chế bằng các thiết chế mang tính dân chủ đại nghị, tam quyền phân lập và pháp trị Tuy nhiên, quá trình phát triển của nhà nước tư bản chủ nghĩa không phải là tuyến tính, mà luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp, các khủng hoảng kinh tế – chính trị và sự điều chỉnh tư tưởng – thể chế để duy trì quyền lực và sự
ổn định xã hội
Việc nghiên cứu quá trình hình thành, xác lập và điều chỉnh của hệ tư tưởng và
bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa không chỉ giúp nhận diện rõ các đặc trưng vận động của một hình thái nhà nước tiêu biểu trong lịch sử thế giới, mà còn góp phần
lý giải các xu hướng chính trị – xã hội hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, khủng hoảng giá trị dân chủ tự do, và những thách thức mới đối với chủ nghĩa
tư bản hiện đại
Trên cơ sở đó, đề tài tập trung làm rõ ba nội dung chính: (1) Quá trình hình thành
tư tưởng tư sản và bộ máy nhà nước tư sản trong các cuộc cách mạng cận đại; (2)
Sự xác lập mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX; (3) Những điều chỉnh tư tưởng và cải cách thể chế trong giai đoạn chủ nghĩa
tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản hiện đại Qua đó, đề tài hướng đến việc
Trang 5phân tích sự tương tác giữa tư tưởng và thể chế, cũng như mối quan hệ giữa nhà nước và giai cấp tư sản trong tiến trình vận động lịch sử
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp lịch sử – logic, phân tích – tổng hợp và so sánh để tái hiện tiến trình phát triển của hệ tư tưởng và nhà nước tư sản qua từng giai đoạn cụ thể, đồng thời rút ra những đặc điểm mang tính quy luật và xu hướng vận động hiện nay
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ
TƯ TƯỞNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
1.1 Một số vấn đề lý luận về hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước tư bản chủ
nghĩa
1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan
Hệ tư tưởng (Ý thức hệ)
Hệ tư tưởng (Ideology) là hệ thống những tư tưởng và quan điểm lí luận thể hiện
sự nhận thức và đánh giá hiện thực xung quanh, xuất phát từ những lợi ích xã hội nhất định Hệ tư tưởng mang tính lí luận, nghĩa là được hệ thống hoá một cách duy lí, khác với tâm lí xã hội gắn bền với cảm giác sống của ý thức đời thưởng
Hệ tư tưởng gồm các tư tưởng và quan điểm về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, thẩm mĩ, triết học1 Tuy nhiên, khái niệm về hệ tư tưởng vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng
Hệ tư tưởng chỉ đơn giản đề cập đến hệ thống các ý tưởng và niềm tin tạo thành
cơ sở cho một xã hội, kinh tế hoặc hệ thống chính trị Đó là những quan điểm, niềm tin và cách suy nghĩ đặc trưng cho một người, một nhóm người cụ thể con người hoặc một quốc gia Định nghĩa cổ xưa về ý thức hệ chỉ đơn giản có nghĩa
là khoa học về ý tưởng được rút ra phần lớn từ quan điểm của một nhà tư
tưởng/triết gia người Pháp Antoine Louis Claude Destutt De-Tracy đã đặt ra nó trong cuộc Cách mạng Pháp Calton C Rodee định nghĩa hệ tư tưởng là các giá
trị hoặc nguyên tắc mà những những người thực hiện hoặc tìm kiếm quyền lực
chính trị đề cập và ám chỉ đến, để hợp pháp hóa hành động của họ Theo Reo M Christenson hệ tư tưởng bao gồm một tập hợp các giả định cơ bản, cả chuẩn mực
và kinh nghiệm, về bản chất và mục đích của con người và xã hội2 Theo Louis Althusser, hệ tư tưởng không chỉ đơn thuần là tập hợp các niềm tin hay quan niệm
trừu tượng về thế giới, mà nó còn bao gồm các thực hành vật chất trong các thể chế cụ thể Những thực hành này góp phần hình thành chủ thể (subject formation)
1 Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, tr266-tập 2
2 Humanistic Capitalism: An Alternative Ideology for the 21 st Century, Bailey Saleh https://www.academia.edu/45107600/Humanistic_Capitalism_An_Alternative_Ideology_for_the_21_st_Century
Trang 7và tái tạo các mối quan hệ xã hội3 Định nghĩa của họ về Hệ tư tưởng thiên nhiều
về việc làm của những ý tưởng cho cuộc điều tra khoa học về các vấn đề của con người và xã hội, với quan điểm áp dụng nhiều nhất chiến lược phù hợp để giải quyết chúng
Có thể thấy, hệ tư tưởng giống như một nền móng mà trên cơ sở đó, các đảng phái, tổ chức, các lực lượng chính trị - xã hội khác nhau xác lập chiến lược, lý tưởng, xác lập đội ngũ mà tổ chức ấy sẽ đại diện, tức là xác lập chiến lược chính trị Vì vậy, hệ tư tưởng luôn gắn liền với chính trị và không thể tách rời chính trị
và ngược lại
Hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa
Bất kỳ hệ tư tưởng nào cũng đều là hệ tư tưởng của một giai cấp, bảo vệ các quyền lợi và lý tưởng chính trị của giai cấp đó Hệ tư tưởng với tính cách là đại diện của giai cấp sẽ đóng vai trò là vũ khí tinh thần trong cuộc đấu tranh vì các giá trị và
lý tưởng mà giai cấp theo đuổi Không có hệ tư tưởng nào đứng trên các giai cấp Chính trị là diễn đàn đấu tranh của các hệ thống, các trào lưu và khuynh hướng tư tưởng khác nhau
Như vậy hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa chính là hệ thống những tư tưởng và quan điểm lí luận xuất phát từ lợi ích của giai cấp tư sản nhằm bảo vệ quyền lợi và lý tưởng chính trị của mình Quyền lợi thể hiện ở quá trình sở hữu hoá tài sản (kể cả tài sản dùng trong sản xuất), lý tưởng chính trị thể hiện giai cấp tư sản chính là giai cấp cầm quyền
Bộ máy nhà nước
Khái niệm về bộ máy nhà nước được phát triển bởi các nhà lý thuyết Marxist, đặc biệt là Louis Althusser, người lập luận rằng nhà nước không phải là một thực thể trung lập mà là một công cụ của giai cấp thống trị để duy trì sự thống trị và kiểm soát xã hội Theo Althusser, bộ máy nhà nước có chức năng tái tạo các mối quan
hệ xã hội và cấu trúc giai cấp hiện có, do đó duy trì quyền lực của giai cấp thống trị Trong bài luận "Ideology and Ideological State Apparatus", Louis Althusser
3 Notes on Althusser: Ideology and Interpellation interpellation/#:~:text=Ideology%2C%20in%20Althusser's%20view%2C%20is,the%20reproduction%20of%20social%20rel ationships
Trang 8https://cah.ucf.edu/textstech/2017/01/27/notes-on-althusser-ideology-and-cho rằng bộ máy nhà nước bao gồm bộ máy nhà nước trấn áp (RSA – Repressive State Apparatuses) và bộ máy nhà nước ý thức hệ (ISA – Ideological State Apparatuses) Trước đó, theo lý thuyết của chủ nghĩa Marx, thì bộ máy nhà nước
(SA) chỉ bao gồm - Chính phủ, quân đội, hành chính, cảnh sát, nhà tù, tòa án,…mà theo Althusser thì những thứ này được gọi là bộ máy nhà nước trấn áp Bộ máy nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội, thực thi luật pháp và định hình các giá trị và niềm tin của người dân Trong đó, bộ máy nhà nước trấn áp (gồm cảnh sát, quân đội, tòa án, nhà tù, ) chịu trách nhiệm duy trì luật pháp và trật tự, bảo vệ nhà nước khỏi các mối đe dọa bên trong và bên ngoài,
và đảm bảo tuân thủ các quy tắc và quy định của nhà nước Mặt khác, bộ máy nhà nước ý thức (gồm tôn giáo, giáo dục, truyền thông, văn hóa, ) chịu trách nhiệm truyền bá hệ tư tưởng thống trị, định hình dư luận và xã hội hóa các cá nhân để chấp nhận và tái tạo các giá trị và chuẩn mực của nhà nước Như vậy có thể thấy được điểm khác biệt cơ bản giữa hai bộ máy nhà nước đó là: Bộ máy nhà nước trấn áp "hoạt động bằng bạo lực", trong khi bộ máy nhà nước ý thức "hoạt động bằng tư tưởng" Tuy nhiên thì cả hai bộ máy này đều hoạt động cùng nhau và có
sự tác động lẫn nhau Bộ máy nhà nước ý thức (ISA) rất đa dạng nhưng chức năng của chúng được thống nhất bởi một hệ tư tưởng duy nhất là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Chính giai cấp thống trị nắm giữ quyền lực nhà nước Vì vậy, để duy trì quyền lực của mình, giai cấp thống trị cần phải nắm quyền cả hai - Bộ máy nhà nước trấn áp cũng như bộ máy nhà nước ý thức hệ Như vậy có thể rút ra khái niệm chung nhất của bộ máy nhà nước là: “Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”4
Bộ máy nhà nước Tư bản Chủ nghĩa
“Bộ máy nhà nước Tư bản Chủ nghĩa” là chỉ hệ thống các cơ quan nhà nước được
tổ chức và hoạt động do giai cấp tư sản nắm quyền với mục đích duy trì quyền lực và bảo vệ lợi ích của mình trong nhà nước tư sản
4 Vũ Quang (2014), Giáo trình Pháp luật đại cương, Nxb Bách khoa Hà nội, tr 43
Trang 9Trong đó, bộ máy nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc phân chia quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Điều này nhằm hạn chế sự tập trung quyền lực vào một cơ quan duy nhất Với đảng chính trị đóng vai trò trung tâm trong bộ máy nhà nước, là công cụ của giai cấp tư sản để thực hiện quyền lực chính trị Thông thường có sự tồn tại của nhiều đảng phái, nhưng thực chất quyền lực thường nằm trong tay một hoặc hai đảng lớn
Thể chế chính trị
Thể chế chính trị là hệ thống các nguyên tắc và quy định xác định cách tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước trong một quốc gia Nó quy định ai nắm quyền, quyền đó được thực thi như thế nào, và quyền lực được kiểm soát ra sao Mỗi quốc gia có một thể chế chính trị riêng phản ánh bản chất nhà nước và ý thức hệ của mình Ví dụ, Hoa Kỳ theo thể chế cộng hòa tổng thống, trong đó quyền lực được phân chia rõ ràng giữa lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống) và tư pháp (Tòa án Tối cao) Trong khi đó, Vương quốc Anh lại theo thể chế quân chủ nghị viện, với vua (hoặc nữ hoàng) là nguyên thủ mang tính biểu tượng, còn quyền lực thực sự thuộc về Nghị viện và Thủ tướng.5
Hình thành, xác lập và điều chỉnh:
“Hình thành là thành hình và bắt đầu tồn tại như một thực thể”6
Trong định nghĩa trên, thì “hình” mang nghĩa là hình dạng, cấu trúc, còn “thành”
có nghĩa là tạo ra, hình thành Từ đó, “hình thành” thể hiện sự xuất hiện của một thứ mới từ những yếu tố cơ bản ban đầu Đặc điểm nổi bật của hình thành là sự kết hợp giữa các yếu tố khác nhau để tạo ra một tổng thể mới Đây là giai đoạn ban đầu, nơi các ý tưởng, nguyên tắc hay thực thể bắt đầu xuất hiện và được xây dựng
“Xác lập là lập nên dựa trên cơ sở vững chắc”7
Từ “xác lập” có nguồn gốc từ tiếng Hán Việt, trong đó “xác” có nghĩa là chắc chắn, rõ ràng và “lập” có nghĩa là thiết lập hoặc xây dựng Do đó, “xác lập” mang trong mình ý nghĩa tạo ra một cơ sở vững chắc cho một điều gì đó, từ các nguyên
5 Nguyễn Hữu Đổng (2016), “Thể chế chính trị và hệ thống chính trị”, Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (107), tr 3–8
6 Theo Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, tr.442
7 Theo Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, tr.1140
Trang 10tắc, quy định đến các mối quan hệ trong xã hội một cách rõ ràng và có hệ thống sau khi trải qua quá trình hình thành Đặc điểm của xác lập nằm ở tính chất quyết định và xác thực của nó Khi một điều gì đó được xác lập, điều đó có nghĩa là nó
đã được công nhận và có giá trị pháp lý hoặc xã hội Vai trò của xác lập thể hiện
sự cần thiết trong việc định hình các quy tắc và tiêu chuẩn trong một cộng đồng hoặc tổ chức Hành động này không chỉ tạo ra một khung tham chiếu mà còn góp phần vào việc duy trì trật tự và sự ổn định trong xã hội
“Điều chỉnh là sửa đổi, sắp xếp lại ít nhiều cho đúng hơn, cân đối hơn”8
Đây là quá trình liên tục nhằm hoàn thiện hệ thống theo thời gian, đảm bảo hiệu quả và phù hợp với bối cảnh mới Đặc điểm nổi bật của điều chỉnh là tính linh hoạt và khả năng thích nghi với các yếu tố bên ngoài hoặc nội tại Vai trò của điều chỉnh rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại nơi mà sự thay đổi diễn ra nhanh chóng Việc điều chỉnh kịp thời có thể giúp cá nhân và tổ chức duy trì được
sự cạnh tranh và phát triển bền vững Ngược lại, nếu không có sự điều chỉnh phù hợp, có thể dẫn đến những hệ quả tiêu cực, như sự lạc hậu trong công việc hoặc
sự không hài lòng trong mối quan hệ cá nhân
1.1.2 Các mô hình thể chế chính trị của tư bản chủ nghĩa
Giữa hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước có sự tác động qua lại lẫn nhau, hệ tư tưởng
sẽ mang một vai trò là nền tảng còn bộ máy nhà nước sẽ mang vai trò vận hành Thông qua nhà nước, hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước hoạt động dựa trên ý chí của giai cấp cầm quyền Thông qua các thể chế chính trị, chủ nghĩa tư bản tồn tại
4 thể chế chính trị chính: Quân chủ lập hiến, Cộng hoà đại nghị, Cộng hoà tổng thống, Cộng hoà lưỡng tính (hỗn hợp)
Đối với thể chế quân chủ lập hiến, là hình thức tổ chức nhà nước giữ nguyên vai
trò nguyên thủ quốc gia của người quân chủ (vua hoặc nữ hoàng) từ thời phong kiến, nhưng người quân chủ không còn quyền lực tuyệt đối như chế độ quân chủ chuyên chế, mà quyền lực đã bị giới hạn bởi hiến pháp Tuỳ theo hiến pháp mà người quân chủ có quyền lực lớn hay nhỏ Như đối với các nước theo quân chủ
8 Theo Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, tr.321
Trang 11đại nghị thì Vua bị giới hạn quyền lực một cách rõ ràng trong hiến pháp, quân chủ chỉ có vai trò nghi lễ và không tham gia và các yết định chính trị hàng ngày; đối với các nước theo quân chủ nhị nguyên, người quân chủ vẫn có những quyền lực chính trị nhất định và tham gia vào các quyết định quan trọng của quốc gia, mặc
dù quốc hội và chính phủ vẫn nắm quyền lực nhưng quân chủ có quyền phủ quyết
hoặc ảnh hưởng đến các quyết định quan trọng
Chính thể cộng hòa là hình thức tổ chức nhà nước dân chủ, văn minh của nhân loại, trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định.9 Ở các nước tư bản chủ nghĩa và một số nước đang phát triển, hình thức thể chế này có 3 loại: Cộng hòa tổng thống, Cộng hòa đại nghị, Cộng hòa lưỡng tính
Đầu tiên là thể chế cộng hoà đại nghị, xét về mặt lịch sử thể chế này có nguồn
gốc từ thể chế quân chủ đại nghị của Anh Hệ thống này hiện được áp dụng tương đối phổ biến trên thế giới Ngoài những quốc gia vốn là thuộc địa của Anh, như Singapore, Ấn Độ thì nhiều quốc gia khác cũng áp dụng mô hình này, chẳng hạn như Đức, Tây Ban Nha
Về mặt lý luận, thì thể chế cộng hoà đại nghị được thiết kế dựa trên lý thuyết tam quyền phân lập, theo đó, giữa các cơ quan quyền lực nhà nước có sự phân công
và kiểm soát lẫn nhau Tuy nhiên, sự phân quyền giữa các nhánh được tổ chức dưới hình thức mềm dẻo Trong bộ máy nhà nước ở những quốc gia theo mô hình cộng hoà đại nghị, người đứng đầu nhà nước là tổng thống và người đứng đầu hành pháp có sự tách biệt Người đứng đầu nhà nước không có thực quyền, không nhận được sự uỷ quyền trực tiếp từ dân, mà thường do quốc hội, hoặc đại cử tri
từ các khu vực bầu cử bầu ra, tuỳ theo quy định của từng nước Ở các nước này,
cơ quan lập pháp thường là quốc hội lưỡng viện Hạ viện đại diện cho người dân,
do dân bầu ra trực tiếp tại các đơn vị bầu cử Thượng viện có vị thế quyền lực kém hơn, vì thường đại diện cho các tiểu bang, hoặc các vùng lãnh thổ Trong hệ thống cộng hoà đại nghị, người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, do hạ viện bầu
và tổng thống phê chuẩn Hạ viện cũng là cơ quan phê chuẩn các thành viên của
9 Lưu Văn Quảng (2015), “Thể chế chính trị cộng hòa”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (95), tr 107–115
Trang 12chính phủ Do đó, chính phủ phải chịu trách nhiệm tập thể trước nghị viện, thường xuyên chịu sự giám sát và phải giải trình trước nghị viện Trong mô hình này, sự phân lập giữa các nhánh quyền lực không triệt để, vì chính phủ và quốc hội đều
do một đảng kiểm soát Thường thì trước khi trở thành bộ trưởng trong chính phủ, một người phải là nghị sỹ quốc hội Do đó nhân sự của nhánh lập pháp và nhánh hành pháp thường trùng với nhau Mức độ kiểm soát của nhánh lập pháp đối với nhánh hành pháp do vậy cũng bị hạn chế Thực hiện quyền tư pháp trong thể chế cộng hoà đại nghị chính là hệ thống toà án, gồm toà án tối cao và toà án các cấp
Để đảm bảo tính độc lập và khách quan trong quá trình xét xử ở tòa án, các thẩm phán thường không phải do dân bầu, mà do thủ tướng đề cử và tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ suốt đời, hoặc dài hạn Một số nước tiêu biểu đi theo thể chế cộng hòa đại nghị như Đức, Italia, Singapore,
Về thể chế cộng hoà tổng thống thì đây là hình thức tổ chức nhà nước mà trong
đó tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu bộ máy hành pháp, do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra Vì không do quốc hội bầu, nên tổng thống không thể bị quốc hội phế truất Mặc dù vậy, tổng thống vẫn có thể bị luận tội nếu cố ý làm sai, hoặc có các hành động vi hiến Mọi thành viên của chính phủ đều do tổng thống bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước tổng thống và không chịu trách nhiệm trước nghị viện, không có chức danh thủ tướng Các bộ trưởng không hợp thành một cơ quan, bàn bạc và chịu trách nhiệm tập thể mà các bộ trưởng chịu trách nhiệm trước tổng thống Trong chính thể cộng hoà tổng thống, áp dụng triệt để nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước Quyền lập pháp thuộc về nghị viện, quyền hành pháp thuộc về tổng thống, và quyền tư pháp thuộc về toà án Cách phân chia như vậy dựa trên cơ sở hệ thống uỷ quyền: quốc hội và tổng thống được bầu theo những cách thức khác nhau Nghị viện được tổ chức thành thượng viện và hạ viện Nhánh thứ ba trong bộ máy nhà nước là cơ quan tư pháp Cơ quan này có các nhiệm vụ chủ yếu, như bảo vệ hiến pháp thông qua hoạt động xét xử các vi phạm; giải thích hiến pháp và pháp luật; kiềm chế các thiết chế khác trong
hệ thống chính trị Hệ thống tư pháp bao gồm cả tòa án tối cao và hệ thống tòa án các cấp Thông thường, trong hệ thống này, tòa án tối cao vừa là tòa bảo hiến vừa
Trang 13là tòa phúc thẩm tối cao Các thẩm phán của tòa tối cao được nghị viện phê chuẩn
và tổng thống bổ nhiệm tuân theo các tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ và có nhiệm kỳ suốt đời, hoặc bổ nhiệm lâu dài, để đảm bảo sự độc lập, khách quan, chỉ
tuân theo pháp luật trong quá trình xét xử Một số quốc gia đi theo thể chế cộng hoà tổng thống như Hoa Kỳ, Argentina, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ,
Ngoài ra, còn có hình thức chính thể cộng hoà lưỡng tính (còn gọi là thể chế hỗn
hợp) là hình thức tổ chức nhà nước vừa có đặc điểm của cộng hoà tổng thống, vừa
có đặc điểm của cộng hoà đại nghị Nếu như mô hình đại nghị được xem là phân quyền mềm dẻo, mô hình tổng thống được xem là phân quyền cứng rắn, thì mô hình cộng hoà lưỡng tính chính là sự kết hợp của cả hai, đem lại một sắc thái chính trị riêng biệt Trong thể chế cộng hoà lưỡng tính, cơ quan lập pháp chính là quốc hội, thường gồm 2 viện: thượng viện và hạ viện Hạ viện đại diện cho dân cư tại các đơn vị bầu cử, còn thượng viện đại diện cho các vùng lãnh thổ, các tỉnh Điểm đặc trưng của hệ thống cộng hòa lưỡng tính là sự chia sẻ quyền hành pháp giữa thủ tướng và tổng thống Tổng thống do người dân trực tiếp bầu ra, còn thủ tướng thường là người của đảng chiếm đa số trong hạ viện Sự phân bổ quyền lực giữa hai chức danh này ở mỗi quốc gia có thể có sự khác biệt Như vậy có thể khẳng định rằng, thể chế chính trị cộng hòa có những giá trị mang tính phổ biến;
nó tạo ra một cơ chế dân chủ ổn định, quyền lực nhà nước được giới hạn và kiểm soát, tính pháp lý và tính chuyên môn hóa cao Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy nhà nước của các nước theo thể chế này cũng có những vấn đề đáng quan tâm Đối với mô hình cộng hòa đại nghị, quyền lực của nghị viện được cho là quá lớn, thời gian đưa ra các quyết định thường chậm và chính phủ thiếu sự ổn định Đối với
mô hình cộng hòa tổng thống, quyền lực được trao cho tổng thống rất lớn, có khả năng xảy ra các bế tắc chính trị khi quốc hội và tổng thống không cùng một đảng
Ở mô hình cộng hòa lưỡng tính, tình trạng “cùng chung sống” giữa tổng thống và thủ tướng thuộc về hai đảng khác nhau cũng tạo ra những điểm nghẽn trong quá trình hoạch định chính sách Một số quốc gia tiêu biểu đi theo chế độ cộng hoà
lưỡng tính như Pháp, Liên bang Nga, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Âu
Trang 141.2 Các nhân tố tác động đến sự hình thành, xác lập và điều chỉnh hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước Tư bản Chủ nghĩa
1.2.1 Sự hình thành của giai cấp tư sản
Giai cấp tư sản phương Tây không xuất hiện một cách đột ngột, mà là hệ quả tất yếu của quá trình chuyển hóa sâu sắc trong cơ cấu kinh tế – xã hội châu Âu từ Trung Cổ đến Cách mạng Công nghiệp Trong xã hội phong kiến, quyền lực nằm chủ yếu trong tay tầng lớp quý tộc sở hữu đất đai và giai cấp nông nô phụ thuộc Tuy nhiên, kể từ thế kỷ XI–XIII, cùng với sự gia tăng dân số và một số nông dân
tự do thoát khỏi lệ thuộc, các thị trấn nông nghiệp ven sông, ven biển phát triển thành trung tâm thương mại sầm uất
Để giai cấp tư sản ra đời dựa trên điều kiện nhất định Điều kiện đầu tiên là sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hoá, sự xuất hiện của thành thị trung đại gắn liền
với quá trình phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và sự “thoát li” của thủ công nghiệp trở thành một ngành nghề mới10, mang lại sự thay đổi trong xã hội phong kiến Trước hết sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã làm tan rã nhanh chóng nền kinh tế tự nhiên Trong cuộc sống hàng ngày, cư dân thành thị cần phải có lương thực thực phẩm (rau, thịt, hoa quả ) Trong việc sản xuất thủ công nghiệp, thành thị cần phải có nguyên liệu (nho, lông cừu) Tất cả những thứ đó thành thị đều dựa vào sự cung cấp của nông thôn, do đó đã tạo nên mối liên hệ kinh tế chặt chẽ giữa nông thôn và thành thị Tiếp đó nhờ có sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đã làm tan rã hệ thống nông nô, bởi vì hàng hoá xuất hiện càng ngày càng nhiều trên thị trường, nhu cầu của các giai cấp phong kiến ngày càng tăng dẫn đến
họ cần tiền để mua hàng hoá, họ quyết định dùng tô tiền để thay tô lao dịch và tô sản phẩm Nhờ đó, các nông nô phục vụ lãnh chúa đã có cơ hội dùng tiền của mình nhằm chuộc lại sự tự do, sau khi có được tự do một phần trong số họ tiếp tục đến thành thị và lại trở thành những thợ thủ công, những thương nhân buôn
10 Về cơ bản, thành thị trung đại xuất hiện chính là kết quả cho quá trình thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và trở thành một ngành riêng Bởi vì khi nông nghiệp phát triển thì sẽ cung cấp nguyên liệu cho thủ công nghiệp, thủ công nghiệp sẽ từ nguyên liệu của nông nghiệp tạo ra sản phẩm và bán chúng ra thành thị
Trang 15bán hay là những phú nông – đây là những tầng sẽ chuyển thành giai cấp tư sản sau này
Điều kiện thứ hai là quá trình sản xuất mang tính chất tư bản, trong quan hệ sản
xuất phong kiến chỉ chủ yếu liên quan đến địa tô và lao dịch, trả công bằng sản phẩm hoặc bằng hiện vật, sử dụng chủ yếu là những người nông dân lệ thuộc Tuy nhiên đối với tư bản thì sẽ trả công sẽ bằng tiền và sử dụng thêm các lao động thuê Trong các công trường thủ công, những hình thức của tư bản thể hiện rõ khi những lái buôn sẽ làm trung gian trong cung cấp nguyên liệu thô cho thợ thủ công
và sau đó sẽ tiếp tục cung cấp sản phẩm này cho một thợ thủ công khác nhằm
hoàn thành nên sản phẩm cuối cùng (công trường thủ công phân tán), với hình
thức này thì thợ thủ công phải phụ thuộc rất nhiều vào lái buôn và sẽ nhận khoản thù lao nhất định thông qua thoả thuận từ trước với lái buôn bao mua11 Đến một
bước cao hơn là công trường thủ công tập trung, khi mà các thợ thủ công khá giả
hơn đã bắt đầu mở rộng xưởng sản xuất và thuê những thợ thủ công thiếu tư liệu sản xuất, thể hiện tính chất của tư bản rõ ràng hơn12 Thậm chí cả trong nông nghiệp, việc các phú nông hay các địa chủ phong kiến cũng đã bắt đầu thuê thêm các lao động tự do và bóc lột họ thông qua thặng dư – điều kiện thiết yếu để giai cấp tư sản ra đời
Thoả mãn được hai điều kiện đó thì giai cấp tư sản sẽ hình thành Trong kì trung đại của Tây Âu, ngay trong lòng chế độ phong kiến đã có sự xuất hiện của những tầng lớp tư sản đầu tiên có thể kể đến là các thợ thủ công và các thương nhân sống trong những thành thị trung đại, họ đã sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hoá và thoát li với nền kinh tế tự cung tự cấp đã tồn tại từ lâu Tuy nhiên, với những tầng lớp nhỏ lẻ như thợ thủ công, thương nhân, phú nông,… thì họ vẫn chưa thể trở thành giai cấp tư sản trong xã hội vì họ vẫn chưa đảm bảo được tư liệu sản xuất
và quan hệ sản xuất13 Theo Marx, “Giai cấp tư sản là những nhà tư bản sở hữu
11 Tuy nhiên khi phân tích thì trên thực tế họ đã tập trung lại với nhau thành tổ chức tập đoàn dù cho họ có đang làm việc tại nhà, gọi là công trường thủ công phân tán Trong đó họ đã trở thành những người làm thuê và bị bóc lột giá trị thặng dư, còn lái buôn thực chất đã trở thành những ông chủ xí nghiệp
12 Trong các công trường thủ công tập trung, dù không quá lớn nhưng cũng đã có quy mô và mang khuynh hướng sản xuất tiến tới nền sản xuất lớn, góp phần tạo nên cơ sở về tổ chức cho việc thành lập nền đại công nghiệp tư bản sau này
13 "Không còn nghi ngờ gì nữa, có một số ít thợ cả nhỏ phường hội thủ công, một số đông hơn những thợ thủ công nhỏ độc lập, hay thậm chí cả những công nhân làm thuê nữa, cũng đã trở thành những nhà tư bản nhỏ, rồi dần dần mở rộng sự bóc lột lao
Trang 16tư liệu sản xuất xã hội và sử dụng lao động làm thuê”14 vì thế những nhà tư bản
đầu tiên có thể kể đến chính là những giai cấp thuộc giai cấp bóc lột trong xã hội phong kiến cũ như các địa chủ phong kiến, quý tộc phong kiến Họ đã thay đổi phương thức sản xuất tư bản nhằm kiếm lợi nhuận từ đó, họ trở thành những giai cấp mới mang tính chất của tư bản
Quá trình ra đời của giai cấp tư sản nằm trong lòng của xã hội phong kiến, một hình thái đã sắp lỗi thời so với thời đại, khi mà hệ tư tưởng của chế độ phong kiến
và hệ tư tưởng của giai cấp tư sản hướng đến là trái ngược nhau15, bộ máy nhà nước chủ yếu nhằm bảo vệ thế lực của phong kiến mà không đáp ứng được các quyền lợi của giai cấp mới xuất hiện tiến bộ, dù cho có sự điều chỉnh nhưng những điều chỉnh của phong kiến không hề phù hợp với hình thái hay tiến trình phát triển của xã hội Từ tất cả các yếu tố trên góp phần thúc đẩy đến sự hình thành và phát triển của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước của Chủ nghĩa Tư bản
1.2.2 Sự kìm hãm của Giáo hội Thiên Chúa giáo
Trong quá trình tồn tại của chế độ phong kiến châu Âu, hệ tư tưởng chủ yếu được hình thành dựa trên nền tảng của xã hội phong kiến và tôn giáo Giai cấp phong kiến đã sử dụng Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo làm cơ sở tư tưởng chính thống Tư tưởng này đã chi phối toàn bộ đời sống xã hội Tây Âu khi các triết lý, đạo đức và luật lệ xã hội đều được định hướng bởi các giáo lý tôn giáo Giáo hội không chỉ có quyền lực thống trị về mặt tinh thần của nhân dân, mà còn có quyền lực chính trị và kinh tế Trên mọi lĩnh vực trong đời sống đều được
phủ tấm màn của tư tưởng duy tâm thần học “Những giáo lý của giáo hội đồng thời là những định lý chính trị và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật pháp Ngay cả khi đã hình thành một đẳng cấp luật gia riêng biệt, khoa luật học trong một thời gian dài vẫn còn được đặt dưới sự giám
động làm thuê và đẩy mạnh tích luỹ tư bản một cách tương xứng mà trở thành những nhà tư bản sans phrase (thực thụ)" (K.Marx, Tư bản Quyển 1 tập III, trang 328)
14 C.Mác, Ph Ăngghen, tuyển tập Tập I, trang 580
15 Sự trái ngược này thể hiện ở trong tư tưởng của hai hình thái Khi mà tư tưởng xuyên suốt của giai cấp tư sản (đại diện cho hình thái tư bản chủ nghĩa) chính là tư hữu về tư liệu sản xuất, lợi nhuận,… đề cao chủ nghĩa cá nhân Trong khi đó thì xã hội phong kiến lại dựa trên tư tưởng quyền tối thượng của vương quyền/do Thượng đế (divine right), chế độ phân cấp xã hội chặt chẽ, nghĩa vụ phong kiến (lãnh chúa – tráng sĩ – nông dân), truyền thống tập thể, quyền sử dụng đất gắn liền với quyền lực quân sự và tôn giáo
Trang 17hộ của thần học Và sự thống trị tối cao của thần học trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tinh thần đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của cái vị trí mà giáo hội
đã chiếm ” 16 Điều này tạo ra sự hợp pháp hóa cho chế độ quân chủ và quyền
lực của quý tộc, đồng thời củng cố mối quan hệ giữa Giáo hội và nhà nước phong kiến Với sự liên kết chặt chẽ giữa thế lực phong kiến cùng Giáo hội, từ
đó tạo thành vỏ bọc kìm hãm sự phát triển của xã hội châu Âu Vào cuối thời trung đại, Giáo hội Thiên Chúa giáo ngày càng có xu hướng cản trở, chống lại
sự phát triển tiến bộ của văn hóa, khoa học Những gì thuộc về chủ nghĩa duy vật đều là kẻ thù không đội trời chung với giáo hội và bị thẳng tay tiêu diệt Như vậy, sự phát triển của những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa, và sự ra đời của giai cấp tư sản trong lòng xã hội với chủ trương đề cao con người, đề cao nhân tính, nhân quyền đối lại việc đề cao thần tính, thần quyền, đề cao tự do cá nhân, dân chủ và sự hưởng lạc, đề cao lòng yêu nước Thể hiện sự đối lập với sự kìm hãm dục vọng và sự ràng buộc của chế độ phong kiến và luật lệ Công giáo,
đề cao lòng yêu Thiên Chúa Vì vậy, giai cấp tư sản đã bị chế độ phong kiến khống chế, kìm kẹp với mục đích chủ yếu làm nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Với các đặc quyền và chính sách bảo thủ của giai cấp phong kiến không chỉ trở thành trở ngại lớn đối với tiến trình phát triển xã hội và kinh tế, mà còn làm dấy lên làn sóng bất mãn trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là giai cấp tư sản - những người mang khát vọng đổi mới để tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của một xã hội tiến bộ hơn Mặc dù nền kinh tế tư bản đã thay thế sản xuất phong kiến, nhưng xét về mặt kiến trúc thượng tầng, xã hội châu Âu vẫn chịu sự chi phối của chế độ phong kiến với những đặc điểm cơ bản của nó như sự chuyên chế, sự lạc hậu, sự kìm hãm phát triển Giai cấp tư sản đang phát triển và có thế lực về kinh tế, có tư tưởng tiến bộ nhưng lại bị Giáo hội và thế lực phong kiến kìm kẹp
vì không có thế lực về chính trị Và tất nhiên là họ không chấp nhận thực tế đó và muốn cải tạo xã hội Như vậy, giai cấp tư sản để bảo vệ quyền lợi về kinh tế và chính trị của mình đã tiến hành đấu tranh với giáo hội Về phía quần chúng nhân dân, thì họ bị Giáo hội và thế lực phong kiến bóc lột đến cùng cực Vì vậy, quần
16 Chiến tranh nông dân ở Đức, C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7, tr.476
Trang 18chúng nhân dân cũng có chung kẻ thù với giai cấp tư sản đó là Giáo hội và những giai cấp cầm quyền phong kiến (vua, quý tộc), với mục đích chung là lật đổ chế
độ phong kiến, và bảo vệ quyền lợi của mình
Đứng trước những mâu thuẫn không thể dung hòa đó, việc diễn ra cuộc đấu tranh
để cải biến xã hội có thể được xem là quy luật tất yếu khách quan, và các cuộc cách mạng đã nổ ra nhằm thay đổi, chuyển biến đến một hình thái kinh tế, chính trị, xã hội mới thỏa mãn được ý muốn của giai cấp cầm quyền mới
1.2.3 Sự thành công của cách mạng tư sản
Xuất phát từ những mâu thuẫn lợi ích trong xã hội phong kiến, khi giai cấp tư sản
bị chế độ phong kiến kìm hãm sự phát triển Từ đó đã thúc đẩy sự ra đời của các cuộc cách mạng tư sản với mục đích chính là để lật đổ chế độ phong kiến - giai cấp đang cầm quyền nhằm đưa giai cấp tư sản lên nắm quyền Cách mạng tư sản bắt đầu từ thế kỷ XVI kéo dài tới thế kỷ XX Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp
tư sản đã dành phần thắng về phía mình, đập tan nền quân chủ phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa
Sau khi cách mạng thành công, thì quyền lực tuyệt đối và sự độc quyền kinh tế của chế độ phong kiến đã bị xóa bỏ, mở cửa cho quyền tự do tư hữu Bên cạnh
đó, giai cấp tư sản cũng đã thiết lập nên nền tư tưởng dân chủ tư sản, và tiến lên nắm quyền thống trị thay cho giai cấp phong kiến Cách mạng tư sản đã mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Nhờ vào sự thành công của cuộc cách mạng, đã góp phần tạo điều kiện cho hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước Tư bản chủ nghĩa được chính thức hóa và đưa vào thực tiễn chính trị - xã hội, thiết lập nền tảng chính trị pháp lý cho chủ nghĩa tư bản Từ đó, mở ra thời kỳ xác lập chính thức của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước Tư bản chủ nghĩa
Điển hình như các tư tưởng về quyền tự do, bình đẳng, và phân quyền, đã được chính thức được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789 Tại một số quốc gia như Hà Lan, Anh, Pháp, đã đi đến thiết lập thể chế chính trị Tư bản chủ nghĩa với điểm chung
là áp dụng tư tưởng phân quyền quyền lực nhà nước được phân tách thành 3 loại
Trang 19quyền khác nhau là quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và ba loại quyền này được chia tương ứng cho các cơ quan nhà nước khác nhau
Như vậy có thể thấy rằng, cách mạng tư sản là nhân tố thúc đẩy dẫn đến sự xác lập của hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước Tư bản Chủ nghĩa Chúng không chỉ phá
vỡ trật tự chế độ phong kiến mà còn góp phần tạo điều kiện củng cố toàn bộ cơ
sở lý luận, thể chế pháp quyền - tư tưởng cần thiết của chủ nghĩa tư bản
1.2.4 Sự xuất hiện của Chủ nghĩa Xã hội
Chủ nghĩa Xã hội xuất hiện lần đầu được thể hiện trong hai tác phẩm đó là
“Politeia” của Plato và “Utopia” của Thomas More Tuy nhiên đến nửa đầu thế
kỷ 19 thì đã được khái quát lại thành hệ thống lý luận Được xác lập là đến từ cuộc cách mạng tháng 10 Nga thành công (7/11/1917) Có thể cho rằng Chủ nghĩa Xã hội hình thành chính là phản ứng đối với những thất bại của chủ nghĩa tư bản Nó phản ánh mong muốn cải thiện xã hội và mang lại công bằng cho mọi người Đặc biệt là giai cấp vô sản, giai cấp bị bóc lột trong xã hội Cuộc chiến về lý luận và chính trị giữa những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội là trung tâm của các sự kiện thế giới trong suốt thế kỷ XX Những người theo chủ nghĩa
xã hội hay ủng hộ chủ nghĩa xã hội công kích chủ nghĩa tư bản đã gây ra bất công
xã hội, phân hóa giàu nghèo, chế độ đẳng cấp, nạn bóc lột lao động, lối sống thực dụng, tha hoá con người
Thật vậy, Chủ nghĩa tư bản tồn tại không phải là một hệ thống tồn tại mà không khủng hoảng hay suy thoái, khủng hoảng và suy thoái của tư bản chủ nghĩa là quy luật tồn tại của nó
Tuy vậy, để có thể tồn tại cho đến hiện nay, Chủ nghĩa tư bản đã trải qua những lần điều chỉnh nhằm phù hợp hơn với quy luật của lịch sử, phù hợp hơn với thời đại Nhưng đặc biệt nhất chính là những sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản lại đến từ sự lo sợ rằng mình sẽ bị Chủ nghĩa xã hội thay thế như một quy luật của hình thái kinh tế - xã hội Sự đối lập trong hệ tư tưởng và bộ máy nhà nước được thể hiện qua những yếu tố cấu thành hệ tư tưởng của Xã hội chủ nghĩa: 1 Công hữu về tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích của đại đa số nhân dân; 2 Xoá bỏ chế độ người bóc lột người, áp bức bất công; 3 Giai cấp công nhân sẽ là giai cấp cầm
Trang 20quyền và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân sẽ là chủ đạo; 4 Giải phóng lực lượng sản xuất khỏi sự kiềm kẹp của quan hệ sản xuất
Chính vì đối lập nhau về hệ tư tưởng thì trong lịch sử có giai đoạn khiến hai hình thái này đối đầu chính là giai đoạn trong thế kỷ XX, với đại diện đó là Mỹ và Liên
Xô Để có thể chiến thắng trong thế giằng co thì chính Chủ nghĩa tư bản đã phải liên tục trải qua những đợt điều chỉnh từ trong tư tưởng đến trong bộ máy nhà nước của mình Mặt khác, chủ nghĩa xã hội, mặc dù bị khủng hoảng và tan rã ở một số nơi song vẫn là đối trọng thực tế của chủ nghĩa tư bản Sự thành công của Trung Quốc, sự đứng vững và đi lên của Việt Nam, Cu Ba đã khẳng định là chủ nghĩa xã hội không chết Tại các nước đã chuyển từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa tư bản như Nga, Ba Lan, nhân dân và những người cộng sản chân chính đã bắt đầu lấy lại sức mạnh của mình Trong điều kiện như vậy, nhà nước tư sản phải tìm mọi cách làm cho bộ mặt của mình dân chủ hơn, nhân dân hơn Điều đó được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và cũng mang nhiều ý nghĩa khác nhau Một số nước tư bản đã dành nhiều chi phí cho phúc lợi xã hội, cho giáo dục, y tế Tại những nước tư bản mà vai trò lãnh đạo nằm trong tay những người xã hội như
ở Thụy Điển và một số nước khác thì những thành tựu xã hội càng dễ nhận thấy hơn Vì vậy chính vì sự tồn tại của Chủ nghĩa xã hội đã khiến cho Chủ nghĩa tư bản phải đấu tranh để có thể tồn tại
1.2.5 Sự ảnh hưởng từ phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật
Bước vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên thế giới đã có trong mình những thành tựu lớn về khoa học - kỹ thuật, đủ để tạo tiền đề thúc đẩy sự bùng nổ của cuôc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại Bên cạnh đó, việc không ngừng cải tiến, hoàn thiện, sáng tạo những phương tiện sản xuất mới, thì con người lại cần thêm sự đòi hỏi trong cuộc sống, trong sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất
và tinh thần ngày càng cao của con người
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã phát triển như vũ bão kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt là kể từ giữa thập kỷ 1970 đến nay vừa quy định, vừa thúc đẩy sự tự điều chỉnh và do đó đảm bảo cho các nước tư bản phát triển đẩy lùi khuynh hướng ngừng trệ trong suốt cả thời kỳ dài Nhờ vậy Chủ
Trang 21nghĩa Tư bản đã có khả năng điều chỉnh để thích ứng và phát triển trên hầu khắp các lĩnh vực, đồng thời chế ước được nhiều quá trình xấu của Chủ nghĩa Tư bản Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã góp phần quyết định làm cho sự tự điều chỉnh đạt được những mục tiêu của nó Cạnh tranh trong nội bộ các quốc gia tư bản phát triển cũng như giữa các quốc gia này với nhau là một động lực của sự tự điều chỉnh Sử dụng mau lẹ thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ được xem là nhân tố chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Đi tiên phong trong lĩnh vực khoa học - công nghệ trở thành một điều kiện đảm bảo sự điều chỉnh đạt được mục tiêu mà mỗi quốc gia tư bản theo đuổi
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã từng bước tạo ra sự ảnh hưởng từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần nhờ những thành tựu lớn mà nó mang lại chỉ trong thời gian ngắn, nó đã làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, dần dần hình thành một thị trường thế giới bao gồm tất cả các nước có chế độ chính trị khác nhau, vừa hợp tác vừa đấu tranh và vừa chung sống trong hoà bình
Và chủ nghĩa tư bản cần phải tiếp tục điều chỉnh trong ý thức và mô hình sao cho phù hợp
1.2.6 Sự ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá
Kể từ khi cuộc cách mạng khoa học - công nghệ chuyển sang giai đoạn mới với việc lấy công nghệ thông tin làm then chốt và thị trường thế giới thống nhất được khôi phục và phát triển sâu rộng, thì quốc tế hóa đời sống xã hội cũng đã phát triển đạt đến trình độ cao, quá trình toàn cầu hóa được thúc đấy mạnh mẽ
Từ cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn phát triển mới, được gọi
là thời kỳ chủ nghĩa tư bản toàn cầu (global capitalism) với những đặc trưng mang tính toàn cầu; là sản phẩm của xu thế toàn cầu hóa gắn với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có trình độ xã hội hóa ở quy mô toàn cầu; mặt khác, sự bùng nổ mạng lưới các công ty xuyên quốc gia và internet tạo ra nền tảng to lớn để chủ nghĩa tư bản thực hiện tham vọng lũng đoạn, khống chế toàn cầu17.Bên cạnh đó, chủ nghĩa tư bản toàn cầu ra đời còn dựa trên sự hậu thuẫn từ nhiều biến cố chính
17 Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022
Trang 22trị, như sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực, sự sụp đổ của bức tường Berlin, sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa Liên Xô và các nước Đông Âu; sự phá sản của các phương án, mô hình phát triển kinh tế - xã hội do các chính quyền cánh tả, tiến bộ, cách mạng triển khai ở đông đảo các nước thuộc Thế giới thứ ba,
Từ bối cảnh đó kéo theo nhiều sự điều chỉnh và thay đổi nhằm phù hợp hơn với
xu thế của hiện tại, sự điều chỉnh này là cần thiết và quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội tư bản nhằm biến nó trở nên độc quyền, nó có những cách thức tồn tại và hình thức thống trị mới nhưng không thay đổi về bản chất cố hữu của nó Sự thích ứng của Chủ nghĩa Tư bản thông qua những điều chỉnh về nhiều mặt, không vượt được giới hạn lợi ích tư sản
Năm 1989, chương trình Đồng thuận Washington Concensus được ký kết giữa Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Bộ Tài chính Mỹ nhằm thống nhất 10 chính sách kinh tế vĩ mô áp dụng trên phạm vi toàn cầu, trong đó nhấn mạnh tự do hóa thương mại, đầu tư, thả nổi tỷ giá tiền tệ, tư nhân hóa, giảm can thiệp của nhà nước quốc gia, Đến năm 1995, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời, thay thế Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT), chính thức xác lập thị trường tự do toàn cầu đối với sự lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ, hình thành chuỗi giá trị toàn cầu Đây được xem như những sự kiện đánh dấu bước chuyển của chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu, với những đặc trưng là tư bản xuyên quốc gia, quyền lực nhà nước tư bản xuyên quốc gia và giai cấp tư sản toàn cầu; đồng thời, quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế kéo theo sự ra đời của hàng loạt công ty độc quyền xuyên quốc gia hoạt động như hệ thống quyền lực kiểm soát nền sản xuất, kinh doanh toàn cầu Mặt khác, điều kiện tiên quyết để tư bản xuyên quốc gia hoạt động thuận lợi là hạn chế, bãi bỏ mọi hàng rào, ranh giới trong hệ thống thị trường toàn cầu; bởi vậy, họ luôn giương cao lá cờ tự do hóa kinh tế, thương mại, đầu tư, phi điều tiết nhà nước
Nhà nước tư bản xuyên quốc gia là loại hình và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước tư bản vượt qua biên giới quốc gia (dù không thành lập chính phủ xuyên quốc gia), chi phối các quá trình an ninh và phát triển trên thế giới Trong nhiều
Trang 23trường hợp, quyền lực nhà nước tư bản xuyên quốc gia được thực hiện dưới vỏ bọc các hoạt động quản trị toàn cầu (global governance) trong bối cảnh không có chính phủ toàn cầu (global government), biểu hiện ở hệ thống định chế, thể chế, luật pháp quốc tế cùng các chuẩn mực, tiêu chuẩn, tiêu chí ngày càng chặt chẽ, tinh vi được thực hiện trên phạm vi toàn cầu thông qua hàng loạt công ước, hiệp định, hiệp ước quốc tế, Những năm gần đây, các thế lực tư bản toàn cầu chủ động đề xướng khung khổ chung cho nguồn hàng hóa công toàn cầu (global public good), chính sách công toàn cầu (global public policy), xã hội dân sự toàn cầu (global civil society), xã hội quốc tế (international society),
Như vậy với sự ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá, Chủ nghĩa tư bản đã phải tiếp tục điều chỉnh nhằm có thể phù hợp hơn với xu thế phát triển của xã hội Tuy nhiên, quá trình điều chỉnh chỉ nhằm để phù hợp hơn với bối cảnh thế giới mà không làm thay đổi bản chất cố hữu của tư bản
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, XÁC LẬP VÀ ĐIỀU CHỈNH
HỆ TƯ TƯỞNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
2.1 Quá trình hình thành, xác lập và điều chỉnh hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa 2.1.1 Quá trình hình thành hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa
Chủ nghĩa phong kiến Tây Âu, một hệ thống kinh tế - xã hội thống trị từ thời Trung cổ (khoảng thế kỷ V đến thế kỷ XV), bắt đầu suy yếu từ thế kỷ XI-XII, mở đường cho những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc xã hội Các cải tiến nông nghiệp như luân canh ba thửa, sử dụng cày nặng và ngựa kéo giúp tăng năng suất, tạo ra lượng dư thừa và thúc đẩy thương mại Thị trấn và thành phố dần phát triển đã làm cho dân cư rời bỏ nông thôn, làm giảm vai trò của lãnh chúa và nông nô Cùng với đó các cuộc Thập tự chinh và đại dịch Cái chết Đen càng đẩy nhanh sự tan rã của trật tự cũ khi dân số sụt giảm nghiêm trọng và giới quý tộc buộc phải nhượng
bộ trước yêu cầu của nông dân
Trong bối cảnh đó, thương mại ngày càng mở rộng mạnh mẽ, tiền tệ thay thế hình thức trao đổi hiện vật, các phường hội hình thành, và hệ thống ngân hàng sơ khai
ra đời Tầng lớp thương nhân và chủ xưởng tích lũy tài sản, dần vươn lên trở thành giai cấp tư sản, đòi hỏi quyền lực tương xứng với vị thế kinh tế Sự tan rã của
Trang 24phong kiến kết hợp cùng với sự nổi lên của kinh tế hàng hóa và tư tưởng cá nhân,
đã đặt nền móng cho một hệ tư tưởng mới đó là hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa – phản ánh lợi ích, khát vọng và thế giới quan của giai cấp đang lên
Cùng với đó, các luồng tư tưởng triết học, chính trị dần hình thành đã đặt nền móng lý luận cho của hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa
mạnh mẽ của thần quyền Mọi giá trị tri thức, đạo đức và xã hội đều gắn chặt với giáo lý Kitô giáo, trong đó con người bị xem là thực thể nhỏ bé, đầy tội lỗi và cần đến sự cứu rỗi từ Chúa.18 Học thuật thời kỳ này lấy Kinh Thánh làm trung tâm, còn tư duy lý tính bị xem là thứ yếu Tuy nhiên, từ thế kỷ XIV, khi kinh tế thương nghiệp phát triển và xã hội dần thoát khỏi những ràng buộc khắt khe của chế độ phong kiến, một tư trào mới đã xuất hiện – chủ nghĩa nhân văn Chủ nghĩa nhân văn ra đời như một sự phản kháng đối với tư duy thần quyền Nếu như thời Trung
cổ xem mọi tri thức đều đến từ Chúa, thì chủ nghĩa nhân văn nhấn mạnh vai trò của con người trong việc khám phá thế giới Những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa nhân văn không còn chấp nhận sự áp đặt của giáo hội trong mọi lĩnh vực, mà đề cao lý trí, quan sát và thực nghiệm Họ tin rằng con người không chỉ là tạo vật thụ động mà có khả năng sáng tạo, tự quyết định vận mệnh của mình và làm chủ cuộc sống Một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu là Desiderius Erasmus (1469-1536),
người đã chỉ trích sự lạm quyền của giáo hội trong tác phẩm Lời khen ngợi sự điên
rồ (1509), kêu gọi cải cách giáo dục và đạo đức cá nhân Một trong những giá trị
cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn là việc khẳng định tầm quan trọng của giáo dục Thay vì chỉ học những giáo lý tôn giáo, con người cần học các môn khoa học, triết học, văn học và nghệ thuật để phát triển toàn diện Hệ thống giáo dục từ thời kỳ này không còn tập trung vào thần học mà mở rộng sang các ngành nhân văn, khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo Nhờ đó, nhiều thành tựu khoa học, nghệ thuật và triết học đã ra đời, góp phần thúc đẩy sự phát triển của châu Âu Thomas More (1477-1535), trong tác phẩm Utopia (1516), đã tưởng tượng một xã hội lý
18 Đặng Thai Mai (1978), Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa Phục Hưng, Nxb Văn Học, Hà Nội, tr 326–355 Bản
điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện
Trang 25tưởng, phản ánh tinh thần công bằng và tự do mà chủ nghĩa nhân văn hướng đến Chủ nghĩa nhân văn cũng mang đến một cách nhìn mới về xã hội Trong khi tư tưởng phong kiến đề cao giai cấp quý tộc và thần quyền, xem vua chúa là đại diện của Chúa trên trần gian, thì chủ nghĩa nhân văn nhấn mạnh giá trị cá nhân Con người không được định đoạt bởi dòng dõi hay tầng lớp mà bởi khả năng và đóng góp của chính họ Điều này tạo tiền đề cho sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, khi các tầng lớp thương nhân, trí thức ngày càng có vai trò quan trọng hơn Michel de Montaigne (1533-1592) với Các bài luận (1580-1588) đã thể hiện tư tưởng hoài nghi và khám phá bản chất con người thông qua những trải nghiệm thực tế Sự phát triển của chủ nghĩa nhân văn không chỉ giới hạn trong lĩnh vực tri thức mà còn ảnh hưởng đến cả chính trị và triết học Nếu như trước đây, mọi quyền lực đều gắn liền với tôn giáo, thì tư tưởng mới đã thúc đẩy việc xây dựng những nhà nước thế tục, nơi chính quyền không còn chịu sự kiểm soát tuyệt đối của giáo hội Các nhà tư tưởng thời kỳ này đặt ra những câu hỏi về tự do, công bằng và vai trò của nhà nước đối với người dân, tạo tiền đề cho những cuộc cải cách chính trị sau này Niccolò Machiavelli, trong Quân vương (1532), đã thảo luận về nghệ thuật lãnh đạo và sự cần thiết của chính trị thực dụng, đặt nền móng cho tư duy chính trị hiện đại
Nói ngắn gọn hơn, chủ nghĩa nhân văn không chỉ là một trào lưu tư tưởng mà còn
là một cuộc cách mạng tri thức, đặt nền móng cho sự phát triển của xã hội hiện đại Nó giúp con người nhận thức rõ giá trị của bản thân, giải phóng tư duy khỏi những ràng buộc cứng nhắc và mở ra một thời đại mới, nơi lý trí, khoa học và nghệ thuật được tôn vinh Những tư tưởng này không chỉ tác động đến thời kỳ Phục hưng mà còn tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng đến văn minh nhân loại trong nhiều thế kỷ sau
lên từ thế kỷ XV đến XVII, là một hệ thống kinh tế tập trung vào việc tăng cường sức mạnh quốc gia thông qua thương mại quốc tế và tích lũy tài sản dưới dạng
19 Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013)
Trang 26vàng bạc Khác với các giai đoạn trước đó, khi kinh tế chủ yếu phục vụ tự cung
tự cấp hoặc giao thương nội địa, chủ nghĩa trọng thương đánh dấu sự chuyển hướng sang chính sách kinh tế có tổ chức, nhằm phục vụ lợi ích của các quốc gia quân chủ tập quyền đang hình thành ở châu Âu Đây là giai đoạn mà các nhà nước như Anh, Pháp, và Tây Ban Nha tìm cách khẳng định vị thế trên trường quốc tế, tận dụng thương mại như một công cụ chiến lược
Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa trọng thương là niềm tin rằng sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào lượng kim loại quý mà nó sở hữu Do đó, các chính phủ
áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để đảm bảo xuất khẩu vượt xa nhập khẩu, chẳng hạn như áp thuế cao lên hàng hóa nước ngoài, xây dựng các công ty độc quyền thương mại như Công ty Đông Ấn của Anh (1600), và khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu Thuộc địa trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu thô giá rẻ và thị trường tiêu thụ hàng hóa chế biến, như Tây Ban Nha khai thác bạc từ châu Mỹ hay Hà Lan mở rộng mạng lưới thương mại biển Các
nhà lý luận như Thomas Mun ở Anh với England’s Treasure by Foreign Trade
(1664) lập luận rằng thương mại là “mạch máu” của quốc gia, cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh thất thoát tài sản Chính sách này không chỉ làm giàu kho bạc quốc gia mà còn tài trợ cho các cuộc chiến tranh và mở rộng lãnh thổ, như chiến tranh Anh-Pháp thế kỷ XVII
Chủ nghĩa trọng thương cũng phản ánh sự hợp tác giữa nhà nước và tầng lớp thương nhân giàu có, những người đóng vai trò trung gian trong việc thực thi các chính sách kinh tế Tuy nhiên, nó bị hạn chế bởi sự cứng nhắc, khi quá chú trọng vào tích lũy vàng bạc mà bỏ qua tiềm năng của đổi mới công nghiệp và tự do thương mại Đến thế kỷ XVIII, các nhà kinh tế như Adam Smith đã phê phán chủ nghĩa trọng thương vì kìm hãm sự phát triển kinh tế dài hạn Dù vậy, theo Lars Magnusson, nó “là bước đệm cho sự hình thành các nền kinh tế quốc gia hiện đại”
(Mercantilism: The Shaping of an Economic Language, 1994) Chủ nghĩa trọng
thương để lại di sản trong việc định hình các chính sách kinh tế nhà nước và thúc đẩy cạnh tranh toàn cầu
Trang 27 Tư tưởng Khai sáng: Tư tưởng Khai sáng (Enlightenment), phát triển
mạnh mẽ từ thế kỷ XVII đến XVIII, là một phong trào trí tuệ đặt nền móng cho
hệ tư tưởng tư sản, thúc đẩy lý trí, quyền tự nhiên, và sự tiến bộ xã hội Trong bối cảnh các quốc gia châu Âu đang củng cố quyền lực tập trung và mở rộng ảnh hưởng toàn cầu, các nhà tư tưởng Khai sáng đã đặt câu hỏi về quyền lực tuyệt đối của vua chúa và Giáo hội, đề xuất những nguyên tắc mới về tự do, bình đẳng, và dân chủ Đây là thời kỳ mà các ý tưởng của John Locke, Montesquieu, Voltaire,
và Jean-Jacques Rousseau không chỉ định hình tư duy chính trị mà còn hỗ trợ sự trỗi dậy của giai cấp tư sản như một lực lượng dẫn dắt xã hội hiện đại
xuất tư tưởng về khế ước xã hội và quyền tự nhiên, đặt nền móng cho chính quyền hợp pháp Ông cho rằng trong trạng thái tự nhiên, con người sinh ra với quyền tự
do, bình đẳng và quyền sở hữu tài sản, nhưng do thiếu một hệ thống luật pháp và
cơ quan thực thi, xã hội dễ rơi vào hỗn loạn Để bảo vệ quyền lợi của mình, con người đồng thuận từ bỏ một phần quyền lực cá nhân, lập ra một nhà nước thông qua khế ước xã hội Nhà nước chỉ có tính chính danh khi thực hiện đúng chức năng bảo vệ quyền tự nhiên; nếu không, nhân dân có quyền lật đổ chính quyền để thiết lập một thể chế mới phù hợp hơn Locke cũng nhấn mạnh nguyên tắc phân quyền nhằm ngăn chặn sự lạm quyền Ông đề xuất ba quyền chính trong nhà nước: quyền lập pháp (ban hành luật), quyền hành pháp (thực thi luật) và quyền liên hiệp (đối ngoại) Dù chưa phát triển mô hình tam quyền phân lập hoàn chỉnh như Montesquieu sau này, nhưng tư tưởng của Locke đã đặt nền tảng quan trọng cho thể chế dân chủ pháp quyền Một điểm đáng chú ý khác trong tư tưởng của Locke
là quyền sở hữu tài sản, mà ông xem như một phần cốt lõi của quyền tự nhiên Theo Locke, tài sản được hình thành thông qua lao động, và không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách tùy tiện.21 Ông cũng khẳng định rằng một chính quyền không tôn trọng quyền sở hữu là một chính quyền không chính đáng Chính những quan điểm này đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa
20 Hai khảo luận về chính quyền
21 Locke, John (Lê Tuấn Huy dịch) 2007 Khảo luận thứ hai về chính quyền Hà Nội:
Nxb Tri thức
Trang 28tư bản cũng như các bản hiến pháp bảo vệ quyền sở hữu cá nhân Những tư tưởng của Locke đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các cuộc cách mạng dân chủ như Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, đặt nền tảng cho các bản hiến pháp hiện đại Quan điểm về quyền tự nhiên, khế ước xã hội, phân quyền và quyền sở hữu của ông không chỉ định hình thể chế chính trị phương Tây mà còn là cơ sở cho những tư tưởng về quyền con người và dân chủ trên toàn thế giới
Charles de Secondat Montesquieu (1689-1755) là một trong những triết gia
chính trị có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong thời kỳ Khai sáng, trong Tinh thần pháp luật (1748) ông đã trình bày những quan điểm quan trọng về bản chất của
nhà nước, quyền tự nhiên của con người và nguyên tắc phân quyền, đặt nền tảng cho thể chế dân chủ hiện đại Montesquieu cho rằng trong trạng thái tự nhiên, con người sinh ra bình đẳng và hòa bình, không có xu hướng gây chiến như quan điểm của Thomas Hobbes Theo ông, do con người yếu đuối nên họ tìm kiếm sự hợp tác và cùng nhau tổ chức xã hội Chính nhu cầu sống chung đã hình thành nên quy luật tự nhiên về quyền sống, quyền tự do và quyền sở hữu Tuy nhiên, khi con người bước vào xã hội, tự do tự nhiên không còn nữa mà được thay thế bằng tự
do chính trị, tức là làm những gì luật pháp cho phép Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Montesquieu là học thuyết phân quyền Ông nhận thấy rằng khuynh hướng tự nhiên của nhà cầm quyền là lợi dụng quyền lực để trục lợi, từ
đó dẫn đến chuyên chế và đàn áp nhân dân Để ngăn chặn điều này, ông đề xuất
mô hình tam quyền phân lập, trong đó quyền lực nhà nước phải được chia thành
ba nhánh độc lập:
Quyền lập pháp: Quyền ban hành luật, thuộc về nghị viện
Quyền hành pháp: Quyền thi hành luật, thuộc về chính phủ
Quyền tư pháp: Quyền xét xử, thuộc về tòa án.22
Montesquieu cảnh báo rằng nếu ba quyền này không được tách biệt, xã hội sẽ rơi vào tình trạng độc tài Ông lập luận rằng nếu quyền lập pháp và hành pháp nằm trong tay một người hoặc một cơ quan duy nhất, thì sẽ không còn tự do, vì
22 Montesquieu, Charles de Secondat 2004 Bàn về tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch) Hà Nội: Nxb Giáo dục
Trang 29người nắm quyền có thể đặt ra luật độc tài và thực thi một cách độc đoán Nếu quyền tư pháp không tách khỏi hai quyền còn lại, thì quan tòa có thể trở thành kẻ đàn áp hoặc người ban hành luật một cách tùy tiện Những tư tưởng của Montesquieu đã có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của các thể chế chính trị hiện đại, đặc biệt là mô hình tam quyền phân lập trong hiến pháp Mỹ và nhiều quốc gia khác Quan điểm của ông về tự do chính trị, phân quyền và sự hạn chế quyền lực nhà nước đã trở thành nguyên tắc cốt lõi của nền dân chủ và pháp quyền ngày nay
Voltaire (1694-1778), tên thật là François-Marie Arouet, là một triết gia và
nhà văn tiêu biểu của phong trào Khai sáng Ông sinh ra trong một gia đình trung lưu ở Paris, ban đầu theo học luật nhưng sớm từ bỏ để theo đuổi sự nghiệp văn chương Với ngòi bút sắc bén, Voltaire nổi tiếng qua các tác phẩm kịch, thơ và đặc biệt là những bài viết trào phúng phê phán chính trị và tôn giáo đương thời
Năm 1717, ông bị bắt giam gần một năm trong ngục Bastille vì bài thơ La Henriade chỉ trích chế độ phong kiến và giáo hội Tư tưởng cốt lõi của Voltaire là
tự do ngôn luận, khoan dung tôn giáo và chủ nghĩa duy lý Ông cho rằng con
người có quyền tự do bày tỏ quan điểm và phản đối sự đàn áp tư tưởng Dù thường được gán với câu nói "Tôi không đồng ý với những gì anh nói nhưng tôi sẽ bảo
vệ đến chết quyền được nói của anh", nhưng thực chất câu này xuất phát từ Evelyn
Beatrice Hall nhằm tóm lược tư tưởng của ông Năm 1734, tác phẩm Lettres Philosophiques của ông chỉ trích giáo hội và chính quyền, khiến ông phải rời
Paris Sau thời gian lưu vong, Voltaire trở về Paris và được tôn vinh như một biểu tượng của Khai sáng, góp phần đặt nền tảng cho tư tưởng dân chủ hiện đại
Jean-Jacques Rousseau (1712-1778) là một trong những nhà tư tưởng quan
trọng của phong trào Khai sáng, với tư tưởng chủ quyền nhân dân đóng vai trò nền tảng cho các cuộc cách mạng dân chủ sau này Trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội (1762), ông đề xuất rằng quyền lực nhà nước phải xuất phát từ nhân dân và chính quyền chỉ có tính chính danh khi đại diện cho ý chí chung Rousseau nhấn mạnh rằng chủ quyền nhân dân là một thực thể tập thể, không thể bị chia cắt hay đại diện bởi một cá nhân hay nhóm nhỏ nào Theo ông, xã hội được hình
Trang 30thành trên cơ sở một khế ước xã hội, trong đó mỗi cá nhân từ bỏ một phần tự do
cá nhân để đạt được sự bảo vệ chung, nhưng quyền lực tối cao vẫn thuộc về toàn thể nhân dân Ông cho rằng nhà nước tồn tại để phục vụ lợi ích chung, và mọi quyết định chính trị phải dựa trên ý chí chung thay vì ý chí của một nhóm thiểu
số có đặc quyền Bên cạnh đó, Rousseau phân biệt rõ quyền lập pháp và quyền hành pháp Ông cho rằng quyền lập pháp phải thuộc về nhân dân, bởi chỉ có nhân dân mới có quyền quyết định các nguyên tắc điều hành xã hội 23Quyền hành pháp, tuy cần thiết để thực thi luật pháp, nhưng nếu tập trung quá mức vào tay một cá nhân hoặc tổ chức, nó sẽ dẫn đến chuyên chế Rousseau cảnh báo rằng khi chính phủ trở nên độc đoán, không còn phản ánh ý chí chung, thì nhân dân có quyền bãi
bỏ khế ước và thiết lập một chính quyền mới Một điểm quan trọng khác trong tư tưởng của Rousseau là quyền phản kháng chuyên chế Ông cho rằng nếu chính phủ không còn phản ánh ý chí chung và vi phạm quyền lợi của nhân dân, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc lật đổ chính quyền đó Theo ông, quyền lực không phải là đặc quyền của một nhóm nhỏ mà phải thuộc về toàn thể xã hội, và chính quyền chỉ có thể tồn tại hợp pháp khi nhận được sự đồng thuận của nhân dân Những quan điểm này đã đặt nền móng cho tư tưởng dân chủ hiện đại, nhấn mạnh trách nhiệm của nhân dân trong việc bảo vệ quyền tự do và công bằng xã hội Các luận điểm trên đã cho thấy hệ tư tưởng TBCN, được xây dựng từ các luồng tư tưởng như chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa trọng thương và phong trào Khai sáng đã cung cấp cơ sở lý luận mạnh mẽ cho các cuộc CMTS Chủ nghĩa nhân văn, với việc đề cao giá trị con người và lý trí, đã khơi dậy khát vọng tự do
và công bằng trong các tầng lớp xã hội mới, đặc biệt là giai cấp tư sản, thúc đẩy
họ đấu tranh chống lại trật tự phong kiến bất công Chủ nghĩa trọng thương, bằng cách khuyến khích tích lũy vốn và phát triển kinh tế thị trường, đã tạo ra một giai cấp tư sản giàu có và đầy tham vọng, sẵn sàng sử dụng sức mạnh kinh tế để đòi hỏi quyền lực chính trị thông qua cách mạng Đặc biệt, tư tưởng Khai sáng – với các khái niệm như khế ước xã hội (John Locke), tam quyền phân lập (Montesquieu), tự do ngôn luận (Voltaire), và chủ quyền nhân dân (Rousseau) –
23 Rousseau Jean Jacques 2004 Bàn về Khế ước xã hội (Hoàng Thanh Đạm dịch) Đà Nẵng: Nxb Đà Nẵng
Trang 31đã đóng vai trò như ngọn lửa tư tưởng, khẳng định quyền của nhân dân trong việc lật đổ chính quyền áp bức và xây dựng một nhà nước dựa trên luật pháp và sự đồng thuận
Các cuộc CMTS chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hệ tư tưởng TBCN khi sử dụng các giá trị này để phá bỏ chế độ cũ và thiết lập thể chế mới Ý tưởng về quyền tự nhiên và quyền phản kháng chuyên chế đã truyền cảm hứng cho nhân dân đứng lên chống lại vua chúa và quý tộc, dẫn đến sự ra đời của các tuyên ngôn quyền lợi
và hiến pháp bảo vệ tự do cá nhân cùng quyền sở hữu Tư tưởng pháp quyền và phân quyền sau đó định hình cấu trúc nhà nước hậu cách mạng, đảm bảo quyền lực được phân chia và kiểm soát để ngăn chặn sự trở lại của chuyên chế Những thay đổi này không chỉ chấm dứt chế độ phong kiến mà còn tạo điều kiện cho kinh
tế thị trường phát triển, khi giai cấp tư sản giành được quyền tự do kinh doanh và bảo vệ tài sản thông qua các cuộc đấu tranh cách mạng
Sự tác động của hệ tư tưởng TBCN còn được khuếch đại qua các phương tiện truyền bá như sách báo, tác phẩm triết học, và các diễn đàn công khai Những
ý tưởng về tự do và dân chủ được các nhà tư tưởng lớn phổ biến đã thấm sâu vào nhận thức của giai cấp tư sản và nhân dân, biến tư tưởng thành hành động cách mạng cụ thể Khi các cuộc CMTS thành công – dù là qua nổi dậy tự phát hay cải cách từ trên xuống – chúng không chỉ củng cố các giá trị TBCN tại nơi khởi phát
mà còn truyền cảm hứng cho các phong trào cách mạng khác, tạo thành một chuỗi phản ứng lan rộng trên toàn cầu
Kết quả, hệ tư tưởng TBCN đã để lại dấu ấn sâu sắc qua các cuộc CMTS, tái cấu trúc xã hội từ phong kiến sang tư bản Các nhà nước mới được thành lập dựa trên luật pháp và sự đồng thuận, trong khi kinh tế chuyển từ tự cung tự cấp sang thị trường Tư tưởng TBCN không chỉ là động lực khởi phát cách mạng mà còn
là nền tảng để xây dựng xã hội hiện đại, với các giá trị tự do cá nhân, pháp quyền,
và kinh tế thị trường trở thành chuẩn mực chung
2.1.2 Quá trình xác lập hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa
Các tư tưởng về quyền tự do, chủ quyền nhân dân và phân quyền không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà đã được hiện thực hóa qua các cuộc cách mạng tư sản Sự
Trang 32xác lập của hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa không chỉ là kết quả của những chuyển biến trong lĩnh vực tư tưởng, mà còn là hệ quả tất yếu của những biến động lịch
sử sâu sắc làm thay đổi cấu trúc xã hội, kinh tế và chính trị của châu Âu từ cuối thời kỳ Trung cổ đến cận đại Trong đó, các cuộc cách mạng tư sản đóng vai trò như những bước ngoặt quyết định, tạo điều kiện để hệ tư tưởng TBCN từ chỗ là một hệ thống quan niệm mang tính tiềm năng, dần trở thành hệ tư tưởng thống trị, chi phối toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội
Sau các cuộc CMTS lớn như Cách mạng Hà Lan (thế kỷ XVI), Cách mạng Anh (thế kỷ XVII), Cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789), châu Âu
và nhiều khu vực khác trên thế giới bước vào thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang mô hình xã hội tư bản Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự tan rã của những cấu trúc quyền lực và sản xuất mang tính đẳng cấp và kế thừa, vốn được duy trì lâu dài trong xã hội phong kiến, để nhường chỗ cho một trật tự mới – trong
đó chủ nghĩa cá nhân, quyền sở hữu tư nhân, và quan hệ thị trường giữ vai trò trung tâm
Các cuộc CMTS không đơn thuần là sự thay thế triều đại hay thay đổi cục
bộ về chính quyền mà còn là sự phá vỡ nền tảng kinh tế - xã hội phong kiến Hệ thống lãnh địa vốn dựa trên chế độ sở hữu đất đai tập trung vào tầng lớp quý tộc
và bóc lột lao động nông nô, đã bị giải thể hoặc cải tổ sâu rộng Thay vào đó, các hình thức sản xuất và sở hữu mới được xác lập trên cơ sở tự do kinh doanh, hợp đồng lao động và cạnh tranh thị trường Trong bối cảnh ấy, giai cấp tư sản với nền tảng kinh tế được tích lũy từ hoạt động thương nghiệp, thủ công nghiệp và tài chính trong thời kỳ tiền tư bản đã từng bước trở thành lực lượng kinh tế và chính trị chủ đạo Sự nổi lên của giai cấp tư sản không chỉ phản ánh sự thay đổi trong phương thức sản xuất mà còn là chỉ dấu cho một sự thay đổi toàn diện về hệ hình
Trang 33hình này, nhà nước không còn dựa trên tính chính danh thần quyền hay dòng dõi vương triều, mà được thiết lập trên cơ sở hiến pháp, luật pháp và sự đồng thuận
xã hội Các văn kiện như Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789), Hiến pháp Hoa Kỳ (1787) hay các đạo luật cải cách ở Anh không chỉ giới hạn quyền lực nhà vua mà còn khẳng định các quyền cơ bản của con người – đặc biệt
là quyền sở hữu, quyền tự do cá nhân và tự do kinh doanh Đây chính là những nội dung cốt lõi của hệ tư tưởng TBCN được luật hóa và bảo vệ bởi các thiết chế công quyền
Sự chuyển đổi từ mô hình xã hội phong kiến sang xã hội tư bản còn kéo theo những biến đổi sâu rộng trong lĩnh vực văn hóa và tư tưởng Quan niệm về con người, vốn bị ràng buộc bởi trật tự thần quyền và định mệnh trong thế giới quan trung cổ, bắt đầu được thay thế bằng các tư tưởng nhân văn, nhấn mạnh vai trò của lý trí, cá nhân và tự do Các tư tưởng Khai sáng, vốn đã xuất hiện từ trước thời kỳ CMTS, nay được triển khai sâu rộng, trở thành cơ sở triết học cho các thể chế chính trị và mô hình kinh tế mới Giáo dục và tri thức không còn phục vụ mục tiêu duy trì trật tự phong kiến – tôn giáo, mà trở thành công cụ để phổ cập tư tưởng mới, đào tạo nguồn nhân lực cho nền sản xuất công nghiệp và tạo ra ý thức hệ phù hợp với xã hội tư bản Hệ thống trường học, đại học, báo chí và sách vở được cải
tổ và mở rộng, truyền bá rộng rãi các giá trị như tự do cá nhân, tinh thần khoa học,
sự tiến bộ và cạnh tranh
Sự hình thành một xã hội mới, trong đó quyền lực không còn gắn chặt với tước vị hay tôn giáo mà dựa trên sở hữu và năng lực cá nhân, đã đặt nền tảng thực tiễn cho hệ tư tưởng TBCN Từ chỗ chỉ tồn tại như một tập hợp tư tưởng mang tính phản biện đối với trật tự phong kiến, chủ nghĩa tư bản đã trở thành một hệ tư tưởng chi phối toàn diện đời sống xã hội Các giá trị như tự do, pháp quyền, quyền
tư hữu và cá nhân tự chủ không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà được thể chế hóa trong luật pháp, tổ chức nhà nước và thiết chế xã hội Những nguyên tắc này, một khi được vận hành hiệu quả trong thực tiễn, đã tạo ra một hệ thống xã hội có tính
ổn định, năng động và phù hợp với điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại
Trang 34Như vậy, quá trình chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang tư bản chủ nghĩa
đã được thúc đẩy bởi các cuộc cách mạng tư sản, điều này không chỉ làm thay đổi cấu trúc quyền lực và phương thức sản xuất mà còn là quá trình hiện thực hóa hệ
tư tưởng TBCN trong thực tiễn Sự sụp đổ của trật tự phong kiến, sự vươn lên của giai cấp tư sản, sự hình thành của các thể chế chính trị - pháp lý mới và sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã hội tụ để tạo nên một môi trường thuận lợi cho
hệ tư tưởng TBCN phát triển và lan tỏa Đây là tiền đề mang tính lịch sử, đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình hiện đại hóa của nhân loại và mở đường cho sự định hình toàn diện của hệ tư tưởng tư bản trong các giai đoạn tiếp theo
Tiếp đến trong quá trình xác lập là sự hệ thống hóa và phát triển các nguyên
tắc tư tưởng tư bản chủ nghĩa, nếu như trong giai đoạn xác lập ban đầu, hệ tư
tưởng tư bản chủ nghĩa chủ yếu được hình thành thông qua quá trình đấu tranh chống lại chế độ phong kiến và các trật tự thần quyền lạc hậu thì bước chuyển tiếp tiếp theo của nó chính là sự hệ thống hóa và phát triển thành một nền tảng lý luận hoàn chỉnh Ở giai đoạn này, tư tưởng tư bản không còn chỉ mang tính phê phán
và cách mạng, mà từng bước được định hình như một hệ tư tưởng tích cực, nhằm
tổ chức, duy trì và điều tiết đời sống xã hội trong khuôn khổ một trật tự mới Sự chuyển biến đó không chỉ phản ánh yêu cầu của một giai cấp đang lên cần một hệ thống lý luận chính danh để củng cố quyền lực, mà còn thể hiện nỗ lực lý tính hóa toàn bộ cấu trúc xã hội theo các nguyên tắc tự do, cá nhân, và thị trường Chính
từ đây, các nguyên lý nền tảng của tư bản chủ nghĩa dần được nâng tầm thành học thuyết, và từ học thuyết trở thành hệ hình tư tưởng chi phối đời sống chính trị -
kinh tế - xã hội hiện đại
Cũng cần nhấn mạnh rằng, quá trình hệ thống hóa này không chỉ diễn ra trong lý luận mà còn được củng cố bằng thực tiễn chính trị – xã hội Cách mạng
Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789) là hai sự kiện tiêu biểu, nơi các nguyên lý
tư bản chủ nghĩa được hiện thực hóa thành thể chế nhà nước: với hiến pháp, tam quyền phân lập, quyền công dân và quyền sở hữu tài sản tư nhân được bảo đảm bằng pháp luật Đây là điểm hội tụ giữa tư tưởng và hành động, nơi lý luận không còn nằm trên giấy mà được chuyển hóa thành cấu trúc xã hội cụ thể
Trang 35Sau khi được xác lập và hệ thống hóa thành một nền tảng tư tưởng vững chắc, chủ nghĩa tư bản không dừng lại ở phạm vi các quốc gia Tây Âu mà dần trở thành một mô hình tổ chức xã hội có tính chất phổ quát Tiến trình này gắn liền với sự mở rộng không gian kinh tế, chính trị và văn hóa của các quốc gia tư bản, đồng thời đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử tư tưởng – đó là quá trình phổ biến và toàn cầu hóa hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa Khác với hai giai đoạn trước vốn tập trung vào kiến tạo nội tại và hợp thức hóa quyền lực giai cấp tư sản, giai đoạn này mang tính chất bành trướng, trong đó tư bản chủ nghĩa được truyền bá,
áp đặt hoặc tiếp nhận bởi các không gian xã hội nằm ngoài cái nôi châu Âu, trở thành một khung tham chiếu toàn cầu
Trước hết, cần khẳng định rằng sự phổ biến của hệ tư tưởng tư bản không chỉ là một hiện tượng tư tưởng thuần túy mà còn gắn chặt với sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân và sau này là chủ nghĩa đế quốc Từ thế kỷ XIX, cùng với tiến trình công nghiệp hóa và nhu cầu mở rộng thị trường, các quốc gia tư bản phát triển đã tiến hành các cuộc chinh phục thuộc địa trên quy mô toàn cầu Dưới danh nghĩa “khai hóa văn minh”, hệ tư tưởng tư bản với các giá trị như quyền tư hữu,
tự do cá nhân, thị trường tự do và nhà nước pháp quyền được truyền bá như một
mô hình văn minh ưu việt đối lập với những hình thái xã hội bị xem là “lạc hậu”
ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh Tuy nhiên, quá trình truyền bá này không đơn thuần là sự “mở mang tri thức” mà gắn liền với cơ chế áp đặt, nơi hệ tư tưởng tư bản đóng vai trò biện minh cho các hành vi khai thác tài nguyên, bóc lột lao động
và kiểm soát chính trị tại các thuộc địa
Ở một tầng sâu hơn, sự phổ biến của tư bản chủ nghĩa không chỉ diễn ra thông qua các cơ chế cưỡng chế mang tính chính trị – quân sự, mà còn được thực hiện bằng các thiết chế kinh tế – văn hóa mang tính mềm dẻo và lâu dài Sự lan rộng của mạng lưới thương mại quốc tế, sự thống trị của tiền tệ và ngân hàng tư bản, cũng như sự truyền bá các mô hình giáo dục, pháp luật và quản trị công theo tiêu chuẩn phương Tây đã khiến hệ tư tưởng tư bản dần ăn sâu vào cấu trúc của nhiều xã hội khác nhau Những chuẩn mực như quyền cá nhân, cạnh tranh kinh
tế, hiệu quả tối đa và lý tính công cụ trở thành giá trị toàn cầu, bất kể sự khác biệt
Trang 36về truyền thống văn hóa hay cấu trúc xã hội Có thể nói, quá trình toàn cầu hóa tư tưởng tư bản chủ nghĩa không diễn ra theo chiều tuyến tính một chiều, mà là kết quả của nhiều lớp tương tác trong đó quyền lực mềm, kinh tế thị trường và diễn ngôn văn minh đóng vai trò trung tâm
2.1.3 Quá trình điều chỉnh hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa
Trong suốt quá trình phát triển, hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa không tồn tại như một cấu trúc bất biến, mà liên tục được điều chỉnh để thích ứng với những biến động sâu sắc trong đời sống kinh tế – xã hội Từ các cuộc khủng hoảng kinh
tế chu kỳ, những thay đổi trong cơ cấu giai cấp, đến sự trỗi dậy của phong trào công nhân, chủ nghĩa xã hội, toàn cầu hóa và các vấn đề môi trường, hệ tư tưởng
tư sản luôn phải đối mặt với những thách thức mang tính lịch sử Để bảo vệ lợi ích cốt lõi của giai cấp tư sản cũng như duy trì tính chính đáng của hệ thống, các nhà tư tưởng và thể chế tư sản đã tiến hành nhiều hình thức điều chỉnh: từ mở rộng vai trò nhà nước trong kinh tế, phát triển mô hình nhà nước phúc lợi, đến tích hợp các yếu tố như dân chủ đại diện, quyền con người, hay quản trị hiện đại Chính quá trình điều chỉnh không ngừng ấy đã giúp hệ tư tưởng tư sản giữ được tính linh hoạt, khả năng thích nghi và sức sống lâu dài trong thế giới đương đại Việc điều chỉnh này chủ yếu nhằm thích ứng với biến đổi xã hội, giải quyết xung đột chính trị, tăng cường hiệu quả quản lý và đảm bảo quyền tự do Nếu không có
sự điều chỉnh phù hợp, hệ thống chính trị có thể rơi vào khủng hoảng, và đất nước trở nên trì trệ
Sự điều chỉnh của hệ tư tưởng tư bản không diễn ra trong khoảng không trống rỗng, mà luôn gắn liền với bối cảnh lịch sử – xã hội cụ thể Trong quá trình phát triển, các quốc gia tư bản đã nhiều lần đối mặt với những biến động sâu sắc
về kinh tế, xã hội và chính trị Chính các thách thức này đóng vai trò như chất xúc tác, buộc hệ tư tưởng tư sản phải tự điều chỉnh để duy trì khả năng ổn định và tái sản xuất của hệ thống chính trị – kinh tế Có thể nhận diện ba nhóm thách thức chính mang tính lịch sử và cấu trúc: khủng hoảng kinh tế chu kỳ, xung đột giai cấp – xã hội, và những biến đổi toàn cầu thế kỷ XXI
Trang 37Thách thức đầu tiên là do các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ đã mang tính định kỳ đối với hệ tư tưởng tư bản Trong thời kỳ đầu phát triển, các quốc
gia tư bản chủ yếu vận hành theo mô hình kinh tế thị trường tự do, đặt niềm tin vào tính tự điều tiết của thị trường và vai trò tối thiểu của nhà nước Tuy nhiên, những khủng hoảng nghiêm trọng như cuộc Đại khủng hoảng 1929–1933 đã làm lung lay niềm tin ấy Khả năng tự điều chỉnh của thị trường không những không phát huy hiệu quả, mà còn dẫn đến suy thoái toàn diện: thất nghiệp lan rộng, bất
ổn xã hội gia tăng, và nhiều thể chế dân chủ rơi vào khủng hoảng chính trị Trước tình hình đó, nhà nước buộc phải can thiệp sâu vào nền kinh tế và đời sống xã hội, kéo theo sự điều chỉnh lớn về mặt tư tưởng – từ chủ nghĩa tự do cổ điển sang mô hình nhà nước phúc lợi và can thiệp kinh tế theo tư tưởng Keynes
Thứ hai là hệ tư tưởng tư sản còn phải đối mặt với xung đột giai cấp và
áp lực từ các phong trào xã hội Trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, sự
phát triển của giai cấp công nhân công nghiệp cùng với sự lan tỏa của chủ nghĩa Mác đã tạo ra một lực lượng phản biện và thách thức nghiêm trọng đối với trật tự
tư bản Các yêu sách về công bằng xã hội, quyền lao động, và dân chủ hóa đời sống chính trị buộc nhà nước tư bản phải tái cấu trúc các thể chế và chính sách Việc mở rộng quyền bầu cử phổ thông, hợp pháp hóa hoạt động công đoàn, ban hành các chính sách bảo hiểm xã hội, và công nhận quyền tham gia chính trị của giai cấp công nhân là những phản ứng không chỉ mang tính chính sách, mà còn thể hiện sự điều chỉnh về mặt tư tưởng để giữ vững tính chính danh của nhà nước
tư sản trước sự cạnh tranh của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa
Thách thức cuối cùng diễn ra từ cuối thế kỷ XX sang thế kỷ XXI , quá trình
toàn cầu hóa, cách mạng công nghệ, khủng hoảng môi trường và các vấn đề liên quốc gia đặt ra những thách thức mang tính hệ thống đối với tư tưởng
tư sản Việc các quốc gia bị lồng ghép ngày càng sâu vào mạng lưới sản xuất và
tài chính toàn cầu khiến mô hình nhà nước dân tộc truyền thống mất dần tính tự chủ trong hoạch định chính sách kinh tế – xã hội Đồng thời, sự trỗi dậy của các vấn đề như biến đổi khí hậu, bất bình đẳng toàn cầu, dịch bệnh xuyên biên giới và
di cư quốc tế làm xuất hiện những yêu cầu mới về quản trị toàn cầu, công lý liên
Trang 38thế hệ và bảo vệ các quyền con người phổ quát Những điều này buộc hệ tư tưởng
tư sản hiện đại phải mở rộng nội dung, tích hợp các yếu tố như quản trị minh bạch, phát triển bền vững, dân chủ đa nguyên và trách nhiệm xã hội, nhằm bảo đảm sự thích ứng của hệ thống trong điều kiện toàn cầu hóa
Chính sự tích lũy và chồng lấn của những thách thức trên đã định hình bối cảnh điều chỉnh của hệ tư tưởng tư bản trong các giai đoạn khác nhau Mỗi cuộc khủng hoảng, mỗi làn sóng phản kháng xã hội đều đóng vai trò như một cơ hội hoặc một sự bắt buộc để hệ thống tư tưởng này thay đổi, thích nghi, và từ đó duy trì tính bền vững của chính nó trong lịch sử hiện đại
Trước những thách thức lịch sử và xã hội hệ tư tưởng tư bản không còn giữ nguyên những mô hình tư duy ban đầu mà để thích nghi và duy trì tính chính danh trong bối cảnh liên tục biến đổi, hệ tư tưởng này đã vận động và điều chỉnh trên nhiều phương diện Quá trình điều chỉnh đó không chỉ là phản ứng mang tính kỹ thuật hay chính sách, mà còn là những tái cấu trúc sâu xa về mặt tư tưởng, diễn ngôn và hệ giá trị Có thể nhận diện ba hình thức điều chỉnh tư tưởng chủ yếu: sự chuyển biến trong mô hình nhà nước và vai trò của nó; sự biến đổi trong quan niệm về quyền và tự do; và sự mở rộng về mặt hệ giá trị, nhằm tích hợp các yếu
tố dân chủ, nhân quyền, môi trường và toàn cầu
Thứ nhất, sự điều chỉnh trong mô hình nhà nước và vai trò của nhà nước
là một trong những biểu hiện quan trọng và dễ nhận diện nhất của quá trình biến đổi tư tưởng tư sản Trong giai đoạn khởi đầu, hệ tư tưởng này gắn liền với chủ nghĩa tự do cổ điển – vốn đề cao tự do cá nhân, cạnh tranh thị trường và vai trò tối thiểu của nhà nước Tuy nhiên, mô hình này dần bộc lộ những giới hạn lớn khi đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính chu kỳ, đặc biệt là Đại khủng hoảng 1929–1933 Những hậu quả sâu rộng của khủng hoảng đã khiến nhà nước buộc phải can thiệp sâu vào đời sống kinh tế – xã hội, dẫn đến sự hình thành của
mô hình “nhà nước phúc lợi” Từ đó, khái niệm tự do không còn được hiểu một cách tuyệt đối theo nghĩa “tự do khỏi sự can thiệp của nhà nước”, mà dần chuyển sang “tự do để sống một cuộc sống có đảm bảo”, thông qua việc mở rộng các quyền xã hội và kinh tế như giáo dục, y tế, an sinh xã hội Đây là một sự điều
Trang 39chỉnh căn bản về mặt tư tưởng: tư bản chủ nghĩa không còn dựa hoàn toàn vào thị trường tự do, mà tái cấu trúc chính mình thông qua sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và vai trò quản lý của nhà nước
Thứ hai, hệ tư tưởng tư bản cũng điều chỉnh bằng cách tái định nghĩa các khái niệm quyền và tự do Trong thời kỳ đầu, quyền tự do chủ yếu được
hiểu như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do ngôn luận và chính trị Tuy nhiên, trong bối cảnh thế kỷ XX và XXI, dưới sức ép của các phong trào dân chủ, công nhân, nữ quyền, phong trào chống phân biệt chủng tộc và bảo
vệ môi trường, hệ tư tưởng tư sản buộc phải mở rộng phạm vi của khái niệm quyền
để bao hàm các yếu tố mới như quyền lao động, quyền được bảo vệ khỏi bất công
xã hội, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền của các nhóm thiểu
số và quyền tiếp cận thông tin Việc mở rộng khái niệm quyền này không chỉ mang tính chất đối phó, mà còn là một chiến lược tư tưởng nhằm bảo vệ tính phổ quát và tính hợp lý của hệ tư tưởng tư bản, trong khi vẫn duy trì những nguyên tắc cốt lõi như quyền sở hữu tư nhân, thể chế dân chủ đại diện và pháp quyền
Thứ ba, quá trình điều chỉnh tư tưởng còn thể hiện ở sự mở rộng và tái cấu trúc hệ giá trị trung tâm Từ chỗ đặt trọng tâm vào cá nhân, lý tính, và thị
trường, hệ tư tưởng tư bản ngày nay đã tích hợp thêm các giá trị mới như phát triển bền vững, đa nguyên chính trị, tôn trọng bản sắc văn hóa, quản trị minh bạch
và công nghệ số Điều này không chỉ phản ánh những thay đổi trong bối cảnh toàn cầu – đặc biệt là sau Chiến tranh Lạnh, khi chủ nghĩa tư bản trở thành mô hình phổ biến nhất – mà còn thể hiện nỗ lực tự làm mới mình của hệ thống tư bản Sự nổi lên của “chủ nghĩa tư bản xanh”, “chủ nghĩa tư bản nhân văn” hay các mô hình như “quản trị toàn cầu” và “chính phủ điện tử” đều là những minh chứng cho việc hệ tư tưởng tư bản đang linh hoạt hóa và hiện đại hóa, nhằm đáp ứng yêu cầu của một thế giới ngày càng phức tạp, kết nối và thay đổi nhanh chóng
Trong tất cả các hình thức điều chỉnh nói trên, có thể thấy rằng hệ tư tưởng
tư bản không vận hành như một tập hợp các nguyên lý cứng nhắc, mà là một hệ thống tư tưởng mềm dẻo, có khả năng thích ứng cao Việc chuyển từ chủ nghĩa tự
do kinh điển sang nhà nước phúc lợi, rồi sau đó lại chuyển sang làn sóng tân tự
Trang 40do chủ nghĩa (neoliberalism) từ cuối thế kỷ XX – với những đặc điểm như tư nhân hóa, phi điều tiết hóa và toàn cầu hóa – cho thấy tư tưởng tư bản có thể xoay trục
mà không đánh mất cốt lõi Đến thế kỷ XXI, khi các khủng hoảng môi trường, bất bình đẳng toàn cầu và khủng hoảng dân chủ trở nên gay gắt, hệ tư tưởng tư bản lại tiếp tục mở rộng diễn ngôn của mình để tích hợp các yếu tố “xanh”, “xã hội”,
“đa nguyên” và “kỹ thuật số”
Có thể thấy các hình thức điều chỉnh tư tưởng trong chủ nghĩa tư bản hiện đại phản ánh một quá trình vận động đa tầng và linh hoạt Chính khả năng điều chỉnh này chứ không phải sự bất biến đã làm nên sức sống và khả năng duy trì ảnh hưởng lâu dài của hệ tư tưởng tư sản trong thế giới đương đại Sau khi được
bổ sung và cải tiến để giải quyết các hạn chế nội tại và áp lực từ tầng lớp lao động cũng như hệ tư tưởng đối lập, hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa tiếp tục điều chỉnh để thích nghi với các bối cảnh đa dạng và duy trì ảnh hưởng trong bối cảnh toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế, và cạnh tranh tư tưởng từ thế kỷ XIX đến XX Quá trình này không chỉ giúp TBCN vượt qua các thách thức mà còn khẳng định vị thế thống trị của nó trong trật tự kinh tế - chính trị thế giới
Một trong những yếu tố cốt lõi giúp hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa duy trì ảnh hưởng lâu dài là khả năng thích nghi linh hoạt với bối cảnh lịch sử và xã hội Không bị ràng buộc vào một mô hình duy nhất, tư bản chủ nghĩa phát triển thành nhiều biến thể: từ mô hình tự do kinh điển ở Anh, Mỹ đến mô hình phúc lợi xã hội ở châu Âu, vừa khác biệt về chính sách nhưng vẫn giữ nền tảng tư tưởng như
đề cao tự do cá nhân, quyền sở hữu tư nhân và vai trò của thị trường
Khi đối mặt với khủng hoảng như Đại suy thoái 1929, hệ tư tưởng tư bản không sụp đổ mà tự điều chỉnh bằng cách chấp nhận sự can thiệp của nhà nước
đã một thay đổi lớn nhưng vẫn nằm trong tinh thần bảo vệ nền kinh tế thị trường Trong Chiến tranh Lạnh, tư bản chủ nghĩa kết hợp tự do kinh tế với dân chủ, nhân quyền, dùng toàn cầu hóa và viện trợ phát triển để lan tỏa ảnh hưởng, đối trọng với chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó, những giá trị văn hóa như cá nhân chủ nghĩa, sáng tạo và cạnh tranh cũng được truyền bá mạnh mẽ, biến tư bản chủ nghĩa không