Nhiệm vụ nghiện cửu - 16 thống hóa những vẫn đề lý thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên cứu: sự phát triển ngữ nghĩa; nghiệm thân và những khái niệm của ngôn ngữ học trị nhận liên
Trang 1
TRUONG DAI TIQC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN
NGUYÊN THỊ HẠNH PHƯƠNG
SỰ PHÁT TRIÊN NGỮ NGHĨA
CỦA NHỮNG TỪ NGỮ CHỈ CẮM GIÁC TRONG
TIENG VIET TREN CO'SO NGHTEM THAN
LUAN AN TIEN SI NGON NOU HOC
Trang 2` ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI a
TRUONG DAI TIQC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN
NGUYÊN THỊ HẠNH PHƯƠNG
SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA CA NHỮNG TỪ NGO
CHỈ CẮM GIÁC TRONG TIẾNG VIỆT
TREN CO SO NGHIEM THAN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62 22 02 40
LUAN AN TLEN Si IN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG ĐÁN KHOA HỌC
G5 1S Nguyễn Văn Hiệp
Tà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là oông trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu
được sử dụng trong luận án có xuất xứ rõ rằng, Những số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bổ trong bat ky
công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hạnh Phương
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Trý do chọn để lài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đồi lượng, phạm vi và nguồn ngữ héu nghién orm
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Những dóng góp mới của luận án,
6 Bồ cu của luận ám
Chương 1: TONG QUAN TINH HINA NGHTEN CUU VA COSO LY T VAN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa từ và sự phat triển ngữ nghĩa của từ
1.1.1.1 Những nghiên cứu trên thể giới
1.1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2 Tình hình nghiên cửu về nghiệm thân (embodiment)
1.1.2.1 Những nghiền cứu ở ngoài nước
1.1.2.2 Những nghiền cứu ở trong nước
1.1.3 Tình hình nghiên cửu về từ ngữ chí cảm giác trong tiếng,
1.2.1.3 Một số khái niệm của ngôn ngít học trí nhận liên quan đền trì nhận nghiệm thân
« Ý niêm, ý niêm hỏa; ân dụ ý niềm và hoán đụ ý niêm
+ Phạm trù và phạm trù hóa
Trang
ta
Trang 5® Diễn mẫu, mạng tỏa tia và lược đỏ hình ảnh
« Khung, miễn trí nhận, không gian linh thần và pha lrên ý niệm
se Biến đổi nghĩa, sáng tạo nghĩa và sự điển giải
1.2.2 Từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt
1.3.2.1 Khải niệm câm giác, quá trinh câm giác
Chương2: KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ NGỦ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHÍ CẢM
GIAC TRONG TLENG VIET
3.3.3 Kết quả phân loại pham trủ từ ngữ chỉ cầm giác
2.3 Ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu trong tiếng Việt
2.3.1 Xác lập hệ thống từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu
2.3.1.1 Bộ tiêu chỉ
2.3.1.2 Danh sách từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu trong tiéng Vide
2.3.2 Miễu tả ngữ nữa của một số tỉ: ngữ chỉ câm giác điền mẫu Irong tiếng Việt
2.3.2.1 Nghĩa góc và ngÌữa phái sinh được ghỉ trong từ điển
2.3.2.2 Nghĩa khởi nguồn và nghĩa phát triển đùng trong cuộc sóng hằng ngày
3.4 Tiểu kết chương 2
Chương 3: CƠ SỞ NGHIỆM THÂN CHO SỰPHÁT TRIENNGU NGHĨA
CÚA TỪ NGỮ CHÍ CẮM GIÁC ĐIÊN MẪU TRONG TIENG VI it
3.1 Dẫn nhip
3.2 Cơ sở trị nhộn nghiện t than cho sw ve phat triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm
giác điển mẫu
3.3.1 Mô hình trí nhận khái quát các miễn NGUÔN- ĐỈCH của sự phát triển ngữ
Trang 6
nghĩa của từ ngữ chí cảm giác
3.2.1.1 Mỏ hình tổng quát chiếu xạ trong ấn dụ ý miệm (A2YN)
3.2.1.2, Mé hinh chiếu xạ ADYN từ miễn nguồn cảm giác sang các miễn đích chỉnh
3.313 Một số ADYN tử miễn nguồn cảm giác
2 Diễn giải cụ thể cơ sở trí nhận nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghị của
từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu
3.3.2.1 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của CHỎI, LOA
3.2.3.2 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của DIÚC, Ù
2.3.3 Cơ số nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của TỊT, NG.AT
4 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của NGỬA, XÓT
3 Cơ sở nghiệm thân cho sư phát triển ngĩt nghĩa của NGẮN, TỢM
2.8 Cơ số nghiêm thân cho sự phát triển ngữ nghữa của SAY, CHOÁNG
29 Cơ ö nghiệm thân cho sự phát triển ngữ ngHữa của ĐỒ, CÔNG, NGẮN,
3.2.2.10 Cơ sở nghiêm thân cho sự phát triển ngữ aghia cia ON, RE
3.2.2.1 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ ngiữn của THƠM, TAKH
3.2.3.12 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghữa của ÊM, TRƠN
3.2.3.13 Cơ sỡ nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của NGON, CHUA
32 .3 Mô hình tỏa tia ý niệm biểu hiện qua mang lưới phát triển ngữ nghĩa của một
số từ ngữ chỉ căm giác điển mẫu
3.3 Một số nét tư duy- văn hòa người Việt qua sự phát triển ngữ nghĩa của tử ngữ
Trang 7DANH MUC BANG BIẾU TRONG LUẬN ÁN
Băng 21 Kết quả nhận điện những, nhỏn từ ngữ (theo gợi ý) KHONG a
ane =" | sade vé pham ti cam gide qua phiéu hoi
Bang 2.2 | Kết quả phân loại từ ngữ chí cảm giác $
Kết quả thông kê về số lượng và tỷ lệ theo tiêu nhóm của từ ngữ
chí cảm giác trong từ điển tiếng Việt
Bing 2A Sự thê hiện các tiêu chí chưng vẻ ngĩt nghĩa ở hai nhóm từ ngĩ 20
nhóm trong tiếng Việt
Bing 28 Ke quit hin điên 3 tù ngữ tiêu biểu của mỗi tiểu nhỏm qua 14
phiểu hồi TNgiữa góc và các nghĩa phái sinh được ghi trong từ điền của từ -
ngữ chỉ cảm giác diện mâu
Nghĩa khỏi nguồn và sự thể hiện của các nghĩa phát triển dùng =
trơng cuộc sống hỗng ngày của từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu
Trang 8
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN
Inh 3.1 | Mô hình tổng quát chigu xa NGUON- DICII trong ADYN s
lình32 Mô hình chiên xạ từ một miễn nguễn cảm giác sang miễn đích là %
các cảm piác khác
lEl:33 Mô hình chiều xe từ Tội miễn nguễn câm giác sa rriển đích là %
midn tam i, tinh cdma
a3 se s ‘es aut » cầu trúc ý niệm/câu trúc ngữ nghïa/mô hình 126
Trang 9
MOT SỐ QUY ƯỚC VIET TAT
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngơn ngữ học trì nhận (Cogniive Tảnguisties) (XNHTN) là một khuynh
Hưởng mới của ngơn ngữ học hiện đại, đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của
nhiêu nhà nghiên cứu ngân ngữ học thẻ giới, trỏ thành một trong những điểm nhân của ngơn ngữ học thể giới ở giai doan hiện nay Vi vậy, áp dụng lí thuyết này, với hệ khải niệm vả phương pháp của nĩ, để nghiên cửu về tiếng Việt là việc lắm cân thiết
và hữu ích
Trong NNHTN, nghiệm thân (ernbodimenf) là một khái niệm võ củng quan
trọng Nến ngơn ngữ học truyền thống cho răng ngơn ngữ mở ra cảnh cửa cho ta đến với thể giới khách quan quanh ta, thì theo quan điểm của NNHTN, ngơn ngữ lại là cửa số để đi vào thể giới tính thần, tri tuệ của con người, là phương tiện để kham pha
những bí mật của các quả trình tư đuy Bỏi lẽ, các biếu hiện ngân ngữ phản ánh cach
sơn người tư duy Hệ luận lả tư dưy cơng như ngơn nạữ dêu mang tính nghiệm than
và những trải nghiệm mang tính nghiệm thần là cơ sở cho sự phát triển ngữ nghĩa
trong ngồn ngữ
1.2 Vén tir vung hing ngày của tiếng Việt cĩ vơ số những trường hợp minh:
Tiọa cho giã thuyết nghiệm thân Trong đĩ, sự phái triển stgữ nghĩa của những tù ngữ chí sự trải nghiệm cảm giác kiểu như trải nghiệm vị gide ngon wong Mon dn nay ngọn đền ngon trong cách sử dụng Diễm vậy là ngon rồi ; trải nghiệm cảm giác
khửu giác bắc trong Aùi hoa này hắc đên hẳe trong cách sử đựng Cá ấu bác lắm ; hay trải nghiệm cảm giác của thị giác zmẻo trong Chiếc hộp bị méo đến méo trong, cách đùng Sự thật đã bị bĩp mĩo; Su nghĩ của nĩ rất máo mĩ v v khiển chúng tơi Thực sự quan tâm và tuuốn tìm hiểu sâu hơn dé lí giải về sự phát triển ngữ nghĩa của
chủng trên cơ sở nghiệm thân vì theo giá thuyết nghiệm thần của NNLITN, chỉnh sự
trải nghiệm của con người là cơ sở cho những ấn dụ như vậy Nghiệm thân vi thế
khơng phải là một giả thuyết thuần tủy mang tính chất triết lý, siêu hành, mà là dựa trên những dẫn chứng thực tế cĩ được trong ngơn ngữ Qua kho sát sự phát triển ngữ
Trang 11nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt, chúng tôi mong muốn góp phan lam rỡ hơn vẫn đề này,
Với những lí đo trẻi
chúng tôi lựa chọn vẫn để: “Sự phái triển ngữ ngiữa của những từ ngữ chỉ cm giác trong tiếng Việt trên cơ sử nghiệm thân" làm đề tải
cho luận ám
2 Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mue dich nghiên cứu của luận án là đúng lí thuyết nghiệm thân cũng
chur Hi thuyết của NNITTN nói chung làm cơ sở để lí giải cho sự phát triển ngữ nghĩa
của từ ngữ trên ngữ liệu những tử ngữ chí căm giác trong tiếng Việt Qua sự diễn
giải cụ thể về cơ sở nghiệm thân cho những con đường phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác, luận án hướng tới việc góp thêm tiếng nói khẳng định năng lực giải thích của NNHTN Ngoài ra, luận án cũng bước dầu dễ cập lối trí nhận vừa
mang những nói chung đựa rên đặc trưng gắn với khả năng lrì giác của con người, vừa mang những rớt riêng gắn với đặc thù tư duy- văn hóa nguời Việt
2.2 Nhiệm vụ nghiện cửu
- 16 thống hóa những vẫn đề lý thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên
cứu: sự phát triển ngữ nghĩa; nghiệm thân và những khái niệm của ngôn ngữ học
trị nhận liên quan dén nghiệm thân, tử ngữ chí cảm giác trong tiếng Việt
- Xáo định phạm trủ khái niệm nghiệm thân cùng như khái niệm /ở' ngữ chỉ cảm giác theo quan điểm của luận án
- Khảo sắt, thông kê, miêu tả ngữ nghĩa (trên cơ sở phân loại) những từ ngữ chỉ cảm giáo trong tiếng Việt Xác định danh sách những từ ngữ chỉ cảm giáo tiêu
biểu của các tiểu loại theo bộ tiêu chí điển mẫu
- Diễn giải sự phát triển ngữ nglữa của một số trường hợp điễn mẫu lrên cơ
sở nghiệm thâu, xây dựng rạng lưới ngữ nghĩa của chúng theo mô hình tổa tia
(radiality); bước đầu chỉ ra một số nét từ duy-vấn hóa người Việt được thể hiện qua
sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu trong tiếng Việt
Trang 123, Đấi tượng, phạm vi và nguằn ngũ liệu nghiên cứu
3.1 Dồi tượng nghiên cứu của luận án là sự phát triển ngir nghĩa của những,
từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thâu
3.2 Phạm vi nghiên cửu của luận án: Sau khi xác định phạm trừ tử ngũ chí
cảm giác theo quan điểm của luận án, chúng tôi tiễn hành thống kê, phân loại, cưng
câp một cái nhìn toàn cảnh về lừ ngữ chỉ cảm giác trong tHếng Việt như là một bức
mẫu (ở mỗi tiêu nhỏm) trong tiếng Việt cũng như sơ dé hoa mạng lưới ngữ nghĩa theo câu trúc tỏa tỉa của những từ ngữ điền mẫu này
3.3 Nguễn ngữ liệu nghiên cứu: Đề có thể bao quả hiện tượng đa nghĩa ngôn ngữ (hiện tượng một từ trong hệ thống có nhiều nghĩa) vá hiện tượng, đa nghĩa lời nói (hiện tượng các nghĩa của từ xuất hiện lâm thời trong hoản cảnh sử dựng cụ thể), chúng tôi tiễn hành khảo sát ngữ liệu không chỉ qua nguẫn khách quan trong tir điển mã côn mổ rộng trong ngôn ngữ tự nhiên hằng ngày Cụ thế:
Một là, khảo sát, thống kẻ ngữ nghĩa của những từ ngấữ chỉ cảm giác trong,
tiếng Việt qua Tử điển tiếng Viét (Hoang Phê chủ biên (2011), NXE Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học, H.) Hai là, tiến hành thu thập mẫu qua nhiều nguồn: quan
sat trực tiếp, mạng xã hội, internet, khảo sát qua bảng hồi [Phụ lục 2] với 150 phiếu
phát ra và thu về (30 phiêu của giảng viên Trường ĐHSP Thái Nguyên, 120 phiếu
của sinh viên vả học viên Trường DHSP Thai Nguyén)
Mục đích của việc thu thập mẫu qua nhiều nguồn là để có khả năng tiếp cận
xuột cách đây đủ nhật (cho đến thời điểm biện tại) các nghĩa phát triển trên thực tế
đời sống của tử ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt, đáp ứng tốt nhát yêu cầu nghiên
sứu của luận án
4 Phương pháp nghiên cứu
41 Phương pháp miêu tã
Taiận án sử dụng phương pháp miêu tả để phân tích ngữ nghĩa, miều lả quá
trình ý niệm hỏa các pm trù tù ngữ chỉ cảm giác trong liễng Việt, miêu tà tgít nghĩa của những tử ngữ chỉ cẩm giác trong từ điển liễng Việt và trung cuộc sống
Trang 13hẳng ngày, phương pháp nảy cũng dược sử dụng dé phân tích, điển giải cơ sở trí nhận nghiệm thân của những từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu
Cụ thể những thủ pháp giải thích bên ngoài và những thủ pháp giải thích bên trong của phương pháp miều tâ được luận áu sử dụng gồm có:
e Những thủ pháp giải thích bên ngoài
- Thủ pháp thống kẻ, phân loại: sử dụng đề thông kê, phản loại phạm trủ từ ngữ chỉ cầm giác trong tiếng Việt thành các tiểu nhóm
- Thủ pháp phân tích ngữ cảnh: trong chừng mực nhất dụnh, luận án sử dụng thủ pháp này để phản tích những yếu tố thuộc vẻ ngữ cảnh văn hóa và ngữ cánh tỉnh
hung để nhận biết những con đường phát triển ngữ nghĩa trên cơ sở trí nhận
nghiệm thân những từ ngít chỉ câm giác trong tiếng Việt
« Những thủ pháp giải thích bên trong
- 'Thũ pháp phân tích ý niệm (phân tích ngữ nghĩa): sử dụng để nhận điện,
phan tich các thuộc tính cơ bản thuộc về ý niệm của phạm trủ từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng, Việt
~ Thủ pháp nội quan: đây là thủ pháp đặc trưng cho phương pháp nghiên rửu
của ngôn ngữ học trí nhận; sử dụng đề suy luận, phan đoán, điễn giải cơ sở trị nhận
nghiệm thân của những trải nghiệm cảm giác được biểu đạt qua sự phát triển ngữ
Trghữa của những từ ngŒ chỉ cảm giác trong Hẻng Việt
43 Củc phương pháp nghiên cứu thực tiẫn
Đề mở rộng phạm vị khảo sát tư liệu, chúng tôi sử dụng những phương pháp
nghiên củu thực liễn như quan sát trực tiếp, thu thập ngữ liệu trên imiernel, man xã hội và khảo sát qua bảng hỏi Kết quả thu dược giúp chúng tồi có sự nhận biểu về quan diễm của số dông với những vấn dẻ liên quan dén déi tượng nghiên cứu, dây
là một kênh tham khảo hữu ích cho luận án
4:8 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Luan án không thuộc mã ngành so sánh đổi chiếu, vi vậy, phương pháp so
sánh đổi chiếu không phải là phương pháp chính của luận án Song trong phạm vi
có giới hạn, hiận án cũng bước đầu so sánh đối chiều sự phát triển ngữ nghĩa của 1nột số từ ngũ chỉ câm giác trong Lồng Việt và tử ngữ tương đương trong tiếng Anh
Trang 14với mong muốn trên cơ sở dó, nhận thây rõ hơn phản nào đặc trưng tư duy- vẫn hóa của người Việt để trong tương lai, cỏ thể tiếp tục mở rộng dé tai theo hướng nghiên
cứu này
5 Những đóng góp mới của luận án
- Về li luận Góp phần củng cỗ và làm rõ thêm một số vấn đẻ h thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là vai trò của giả thuyết nghiệm thản, từ đỏ góp phan chimg minh va khang định năng lực giải thích ngữ nghĩa của ngôn ngữ học trí
nhận Mặt khác,
tên khai nhiệm vụ nghiên cứu, chứng lôi phải xác lập một quan
qua việ
niệm về từ ngữ chỉ cảm g ty dựng khái niệm từ ngữ chỉ cảm giác, góp
thêm tiếng nói trong việc xác đt phạm trù bừ ngữ chỉ cảm giác Irong tiếng Việt và
sự phát triển ngữ nghĩa của chúng, lĩnh vực dường như chưa được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm théa dang,
- Về thực liển: Kết quả nghiên cứn của luận án sé được ứng dụng để giải thích con đường chuyển nghĩa của nhỏm từ ngữ chỉ cắm giác trong tiếng Việt nói riêng, giải thích sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ nói chung; 14 tai liệu tham khảo him ich dé day học ngữ văn trong nhà trường cũng như để dạy tiếng Việt cho người
THƯỚC IgOài
6 Bễ cục của liận án
Ngoài phần Mở dẫu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
gm 3 chương:
- Chương L: Tổng quan tỉnh hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận
- Chương 2: Khảo sát và miêu tả ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác
trong tiếng Việt
- Chương 3: Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của những từ
Trgữ chỉ cầm giác điển mẫu trong tiếng Việt
Trang 15Chương 1
'TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu vỀ nghĩa từ và sự phát triỀn ngữ nghĩa của tử
Vấn dễ ngữ ngiữa từ xưa cho đến nay luôn là vẫn đề nhận được sự quan lâmt
đặc biệt không chỉ cũa các nhà nghiên cửu ngôn ngữ học mã còn của các nhà lô gic
học, các nhà triết học ngôn ngữ Nói riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ học, hầu như không có một công trinh nghiên cứu ngôn ngữ nảo lại không it nhiều dễ cập tới nghũa Vì với Lư cách là một hệ thống tín hiệu đặc biệL, chức năng tối thượng của ngôn ngữ chính là chúc năng biểu đạt nghĩa nên đà có đặt trựng lãm nghiên cứu hình thức, cẩu trúc của ngôn ngữ tử cũng không thể bỏ qua mặt nội dưng của nó Béi vay, trong phan nay, chúng tôi chỉ có thể điểm lại một cách sơ lược về vẫn đề
xrghiển cứu ngữ nghĩa trêu thế giới và ở Việt Nai
1.1.1.1 Những nghiễn cúu trên thể giới
Trên thẻ giới những ý trởng về nghĩa của từ cũng như biên đỗi nghĩa từ đã
được đề cập từ rất sớm trong những công trình của các nhà triết học cễ đại và tiếp tục được duy trị trong suốt thời kì tamg đại Những nghiên cứu biển đổi nghĩa này đã
dược dây lên một bước mới khi thuật ngữ ngữ nghĩa học từ vựng (somasiolosy) được
đề xuất |69, 5| Thuật ngít này bãi nguồn từ lư tưởng trong những: bài viết về ngít
nghĩa tiếng Latin vào năm 1825 ở Dức của Reizig Berary và được học trò của ông là
Fridrich Haase tap hop lại, xuất bán năm 1839 với tên goi Semasiology Ổ Anh, người có công dầu trong việc thiết lập nên tảng khoa học ngữ nghĩa 1a Benjamin
số bài nghiên cứu Ngoài mm, phải k công trình
THưmplưey SmuarL với một
Metaphysical Etymology của Horne Tooke xuất bản năm 1850 cũng với tên gọi
Semasiology, vv Tuy nhiên, phải đến Michel Bréal, voi công trinh Essai de
Sémantique (Science des signification), nim 1877, mới được xem lả người di tiên phong trong nghiên cứu khoa học ngũ nghũa Dù công trình của M Bréøl ra đời sau, nhưng được đánh giá là công trình “đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn +khoa học nhãn văn” [122,7] Như vậy, có thể nói, ngữ nghĩa học đã được manh nha
trong các công trình triết học từ thởi cỗ đại và được khỏi đầu bởi những tư tướng,
Trang 16nghiên cứu ngữ nghĩa của Reizig Berary và sau nảy chính thức tạo thành một xu
thưởng nghiên cứu phát triển ranh trong hai thập kỉ cuối của thể kỉ XTX, được nhiều người hưởng ứng vả phát triển, tiêu biếu là Fridrich Haase, A Darmester ma đặc
tiệt là M Bréal, tac gid voi céng trinh nghiên cứu được coi là đã đánh đấu mốc ra
đời của ngữ nghĩa học như một khoa học nhân văn Đây cũng là diễm mốc trong
lich sử nghiên cứu ngĩt nghữa học
Tac gid Lê Quang Thiêm [122, 13] đã khái lược rất rõ về 3 thời kì phát triển
trong tiền trình ngữ nghĩa học De là thời kì điển cấu trúc luận, thời kì cầu trúc luận
và thời ki hậu cấu trúc luận Cụ thể
+ Thời lạ thứ nhất: ngữ nghĩa học thời ki tiền cầu trúc luận dược đánh dâu từ
XI kéo
sự ra đời của công trình của M Bréal (da nhắc Lới ở trên) vào cuối thể
đài cho đến 20 năm đầu của thể kỉ XX, đặc biệt phát triển ở Tây Âu (3 nước tiểu biểu: Pháp, Dức và Anh) Ở Phdp, néu M Lréal chi yến tiếp cận ngữ nghĩa theo
hướng tâm lí học, A Meillet theo hướng tiếp cận xã hội học, L Darmesteter theo Thưởng sinh học thì Ch Bally theo hướng tụ từ học Nghiên cửu ngữ nghĩa lập trưng
vào nghĩa của rừ sự biến đối nghĩa và quy luật tương tác tâm lí, tác động xã hội
cũng nhu tu từ của sự thay đối nghĩa của từ với tư tưởng triết học duy l Ở Đức, ngữ nghĩa học thời ki này dược gọi là ngữ nghĩa học lịch sử vi tư tưởng lịch sử chủ phối mạnh mẽ những phân tích, diễn giải các hiện tượng nghĩa Phạm vì nghiên cứu
Tập trung vào nghĩa từ vựng, chú trọng nghiên cứu lịch sử của sự thay đối nghĩa,
nguyên nhân của biển đối nghĩa Những nhà nghiên cứu tiêu biếu là K Reisig, A Benary, 1° LHaase, ̰ Ileerdegen Ở Inh, ngữ nghĩa được nghiên cứu một mặt theo
quan diễm lịch sử tiếp nhận từ Đức, chú trọng vao binh diện thay dỗi và nguyễn nhân thay đối nghĩa từ với những tên tuổi như: H Took, Benjamin H Smart, Jamas
Munay ;, mặt khác là đảo sâu và có nhiều kiến giải về các bình điện tín hiệu học
với những nhá ngữ nghĩa- kí hiệu học nổi tiếng Ch Ogden, I Richards, Ngữ nghĩa hoc Anh cũng lần dâu tiên dễ
at quan niệm triết học kinh nghiệm
+ Thời lQ thứ 2: ngữ nghĩa học thời kì cấu trúc luận được tính tù khoảng sau
Trhững năm 20 cia thé ki KX với đầu mốc là sự ra đời của GHáo trình ngôn ngữ học đại cương của È, de Saussure, công trinh ngôn ngữ học lí thuyết được xem như đặt
Trang 17nên móng cho ngôn ngữ học cầu trúc Tuy nhiền, phải từ sau 1960 dén 1980, những công trình tiêu biểu cho ngữ nghĩa học cầu trúc (phân biệt với ngữ nghấa Liên câu trúc) mới thục sự xuât hiện Ở thời kì này, thành tựu ngíf nghĩa học câu trúc, ngít
nghia hoc theo quan điểm tin hiệu học chủ yêu là đáng góp của ngôn ngũ học Châu
Âu với những tên tuổi như: B Guiraud, B Potticz, K Baldinger, G Lecch, 7
Tuyons; một nhánh ngữ pháp tạo sinh của N Chomsky như: F Kal, Ch J Filmore
và đặc biệt, đáng lưu ý ở thời ki này là khuynh hưởng nghiên cứu nghĩa gắn với logie toán và tâm lí thục nghiệm Dây cững là thời kì ra đời và phát triển của ngữ
nghữa học hình thức hay ngữ nghĩa học logic với những tên tuổi như: 13, Rusell,
G.Erege, R Montogue
+ Thời kì thứ 3: ngữ nghĩa học thời kì hậu cấu trúc luận được bắt đầu vào khoảng cuối những năm 50 của thế kỉ XX với những đầu hiệu của cuộc cách mạng, tri nhận llưởng ngữ nghĩa học trị nhận xuất hiện từ cuối những năm 60 và phát triển những năm gân dây có thể coi là hướng mới đặc trưng cho ngữ nghĩa học hậu câu trúc luận với những công trình gắn hẻn tên tuổi của các tác giả Œ L.akolT và M
Tohnson, G Lakoff, G Lakoff va M Tumer
Sự chuyển nghĩa của từ là một trong những vấn dé được đặc biệt quan tâm
trong nghiên cửa ngữ nghữa học Có thẻ kẻ dến ba klruynh hướng chính trên thể giới
trong nghiên cứu hiện lượng chuyển ngiữa: (1) Khuynh hướng nghiên cứu theo
logic học mà Paul là người khới xướng Những quan niệm của ẻng được thể hiện
qua bảng phân loại logic học cáo hiện tượng chuyến nghĩa, trong đó chủ ý đến so
sánh nội dang khái niệm trước vả sau khi biển đổi, đẳng thời nêu lên mối quan hệ
logic giữa chúng, (2) Khuynh hưởng nghiên cứu theo tâm lý học mà dại diện là
Wundt Khuynh hướng này giải thích hiện tượng chuyến nghĩa căn cứ vào đặc trưng,
tâm lý với phương châm việc nghiên cứu sự chyển nghĩa cuối cùng, phải vĩnh viễn quy thánh nghiên cửu tâm lý, (3) Khuynh hướng nghiên cửu theo lịch sử do
Wellander đứng đầu Họ quan niệm sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sứ,
và chỉ trưởng thành một cách vừa ý khi được chứng thực trong quả trình thực
Với quan niêm này, họ chủ trọng đi tìm sự trả lời cho câu hồi ý nghữa mới của Lừ
nấy sinh như thể nào trong lịch sứ Lio cho rằng kết quả của quá trình chuyển nghĩa
14
Trang 18được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ (102, 3-5] Có nhiều nguyễn nhân của sự
chuyển nghĩa được để cập tới như đặc điểm thuộc vé bau chất của ngôn ngữ và tâm
lý của người sử dụng, yêu tả xã hội, phong tục tập quán; sự tái cầu trúc ngôn ngữ
trong quá trình học tiếng của trẻ hay sự thay đối xã hội
1.1.1.2 Những nghiền cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngữ nghĩa học còn là một chuyên ngành chưa có chiêu đây số
với nghiên cửu ngữ âmu, từ vựng ngữ pháp Sự xuất hiện bạn đầu của ngữ nghĩa học
6 Việt Nam gắn liên với từ vựng học Vì vậy, những trí thức ban đầu của ngũ ngÌña thọc chủ yếu được để cập đến trong những giáo Irình cơ sở về từ vựng học Người đặt nên móng cho ngành từ vựng học ở Việt Nam là tác giâ Nguyễn Văn Tu với
cuỗn Từ vựng học tiếng Uiệt hiện đại (1968) và cuốn Từ và vẫn từ tồng Việt (1916) Tiếp đến là tác giả Đã Hữu Châu với cuỗn 7 vựng- ngữ nghĩa tiếng Vist (1981);
tác giả Nguyễn Thiên Giáp với công trình Từ vựng học Hắng Việt (1985) [ đẫn theo 69], Nhin chưng, các tác giả đã quan tâm nghiên cứu bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ vựng, các quan hệ vẻ nghữa, đặc biệt là đa nghĩa, hiện tượng, chuyển noghia, trải nghĩa của từ Tuy nhiên, những chuyên khảo riêng vẻ ngữ nghĩa học thì còn rất hiểm Năm 1998, cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của tác giả Đỗ Hữu Châu ra đời, lần đầu tiên ở Việt Nam, các vận đẻ lí thuyết ngữ nghữa học được giới
thiệu |đân theo 34, 21] Tiếp theo dó, ngữ nghĩa hoc đã từng bước được quan tâm
như một bộ môn độc lập với sự xuất hiện của một số công trình như Cơ sở øgỗn
ngữ: học của tác giá Nguyễn Thiện GHáp |31], cuồn Ngữ nghĩa học của lắc giả Lê Quang Thiém [122] cũng, dã được biên soạn như là rnột giáo trình chuyên sâu, giới thiệu một cái nhìn loàn cảnh về ngữ nghĩa học với các trì thức chuyên ngành, các trường phải, khuynh hưởng và phương pháp tiếp cận riêng, theo đỏ ngữ nghĩa học chỉnh thức được xác lập với tư cách là ruột bộ môn ngôn ngữ học độc lập, cuỗn Ngữ
ngiấu học- Từ bình diện hệ thông đến hoạt động của tác giả Đỗ Việt Hing phat triển từ giáo trình trước đó giữa của tín hiệu ngôn ngữ (Từ bình điện hệ thông đến
hoạt động) [55] đã có chương khái quát về ngữ nghĩa học cũng như triển khai ngít nghĩa trên cả hai bình diện hệ thống và hoạt động Có thể nói, ngữ nghĩa học đã từng bước được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam tiếp cận và vận đựng
trong nghiên cứu vẻ tiếng Việt Với mơng muốn “là một trong những cách làm thiết
Trang 19thực để thúc dây sự phát triển cũa ngữ nghĩa học ở Việt Nam nói chung, đặc biết là
ngữ nghĩa học ngữ pháp nói riêng” |7, 8|, tác giả Nguyễn Văn Hiệp địch cuỗn Ngữ
nghĩa học dẫn luận của Tolm Lyons va tiéng Việt, Đây là cuỗn dẫn luận ngữ nghữa hoc dau tién của nước ngoài được chính thức giới thiệu ở Việt Nam, cung cấp mội
gái nhìn bao quái, cơ bản về ngữ nghĩa trên mội phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng,
ngữ nghĩa của câu và ngữ nghĩa của phát ngân Phạm Văn Lam gân đây cứng dịch cuốn Các li (huyết ngữ nghĩa học từ vựng của lác già Dnk Geeraerts [29] Cuốn
sách như một công trình mang tinh tống quan vẻ các khuynh hướng lí thuyết chính
trong ngít nghĩa học từ vựng Có thế nói, tất cả những công trình kế trên đá góp phan quan trọng trong việc đưa trị thức tổng quát về ngữ nghĩa học đến với khoa
học ngôn ngữ ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu biển đổi nghña trong Hỗng Việt và một số khia cạnh liên quan cũng đã được đề cập trong những công trình của các tác giả: ITaàng Phê, Iloàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dân, Lý Toản Thắng, Hà Quang Năng, Nguyễn Đức Tên,
Phạm Liủng Việt, Vũ Dửc Nghiệu, Nguyễn Văn Liệp Trước đó, trang cuốn 7i vựng
bạc tổng Liệt biện đại [132], táo giá Nguyễn Văn Tú đã dành một chương đẻ cập tới lý thuyết về biển đổi nghĩa, tập trung vào bán chất và nguyên nhân biến đổi nghĩa cũng, như phân lơại biển đổi nghĩa Tác giả Nguyễn Thiên Giáp trong cudn Nghia hoe Việt ngữ, dã
đánh mục 3 trong, chương 2 [34, 79] để nói về biển dối y nebia cua don vi tr vung, tac
giả cũng dễ cập tới nguyên nhân và cơ sở của sự biển dổi ngữ nghĩa Nhìn chưng, các
tác giả quan tâm nhiều đến hiện tượng da nghĩa, sự biên đôi nghĩa từ dược dễ cập theo quan điển truyền thống với sự chuyên đổi tên gọi: ân đụ, hoán dụ, mở rộng nghia va the hep nghia Gần dây, ruột số tác giả cũng dễ cập túi ân dụ ý mêm, hoán dụ ý niềm như là phương thức chuyên nghữa theo góc nhìn của ngôn ngữ học trí nhân Những vấn đề ngữ
Tphữa học nổi chưng, git nghia học tiếng Việt nói riêng trong những công trình trên là trí
thức quan trong gitp ching téi cỏ cải nhìn toàn cảnh vẻ ngữ nghĩa học nói chưưng cũng
xu triển klmi nghiên cứu về sự chuyên nghĩa trên ngữ liệu nhỏ Lù ngữ chỉ cảm giác
trong tiếng Việt theo góc nhìn của ngữ nghĩa học trí nhận
1.1.2 Tình bình nghiên cứu về nghiệm than (embodiment)
Trong ba thập kỉ gần đây, ngồn ngữ học trì nhận đã phái triển thành một trang những cách tiếp cận năng động và hập dẫu nhất của ngôn ngữ học lí thuyết và mô tả Rất
Trang 20nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu vẻ lĩnh vục này dã ghủ dầu tên tuổi của những,
uh nghidn eda: 1én én thé gidi nbur T Tabny, R Langacker, G Lakoff, M Tohmsơri,
G Fauconnier, Ch Fillmore Viét Nam, khuynh hướng ngôn ngít học trí nhận chính
{hức được chủ ý kể từ khi cuỗn Ngôn ngữ học tri nhận- Từ lý thuyết đại cương đến
thực tiễn tiếng Liệt [109 của tác giả Lý Toàn Thắng dược công bố Trong cuốn sách tay, tác giả đã trực liếp giới thiệu về ngôn ngữ học tri nhận Nắm 3006, lac gia Tran
Vin Cơ trong cuỗn Aigôn ngữ học mi nhận (ghỉ chép va suv nghi) [11] da dé cap t6i xmột danh sách các hệ thuật ngữ của ngôn ngữ học trí nhận Năm 2011, với cuỗn Neon
điễn tường giải và đối chiều [14], tác giả 'Irần Văn Cơ đã thêm
ngit hoe trì nhận- 1
„một lần dưa ngôn ngữ học trị nhận dến gần hơn với dòng dao ban dọc Việt Nam qua
việc giải thích nghĩa của những (huật ngữ thường gặp trong ngôn ngữ học tì nhận
Ngoài ra, có nhiều bài viết đề cập tới nhiều phương điện khác nhau của ngên ngũ học trị nhận xuất hiện trên các tạp chỉ chuyên ngành, nhiều luận án đã được thục hiện theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học trí nhận
Trong số các khải niệm cơ bản của ngôn ngữ học trị nhận đã được giới thiệu,
có thuật ngữ nghiệm thân (embodwmen) Nghiệm thân được coi là một trong những
khải niệm cực kì quan trọng trong ngôn ngữ học trí nhận [45], là tư tưởng trưng tâm của ngôn ngữ học tri nhận 133, 211], la mét trong những đặc tính quan trọng nhất của sự trì nhận ð cơn người [112,15-16| bởi lẽ khái niệm này phản ánh rõ nhất sự
đối lập về quan điểm giữa cách tiếp cận của ngôn ngữ học trí nhận với ngĩt pháp tạo
sinh, đó là: nêu ngĩt pháp tạo sinh cho răng trị thức mà chúng ta có được về ngôn
ngữ là bằm sinh, dị truyền, được lập trình sẵn trong não thi ngôn ngữ học trị nhận lại cho rằng tất cá tri trức mà chúng ta có về ngôn ngữ là kết qúa của một quá tinh
tương tác lâu đải giữa cơn người với thê giới tự nhiên và xã hội, dựa trên những trải
nghiệm than thé eta ching ta
1.1.2.1 Nhig nghién ciru vé nghiém than & ugoai nước
Nói đến giả thuyết nghiệm thân (Embodiment Hypothesis) cling nhu trường,
phái Ngôu ngữ học trị nhận (Cognitive Linguistics), khong thé không nhắc tới công,
trình nghiên cứu gây tiếng vàng Àetaphor Te 1ie bụ cũa hai nhà nghiên cứu Œ
Lakoff va M Johnson [136] Lý thuyết mang tinh cach mang vé ADYN trong céng
Trang 21trình nay chính là diém khỏi dầu cho một cuộc cách mạng lớn trong ngôn ngữ, là
‘bude đi đầu tiên trong việc nghiên cửu ngôn ngữ trong môi liên hệ với các ngành
khoa học khác Những luận điểm trung tâm trong lý thuyết về ADYN được hai ang phát hiện là: Tính hệ thông của các ADVN cũng nhù một số lượng các ADYN sử dụng chủ yếu các miễn nguồn lừ trải nghiệm cơ thể, các miễn nguồn thuộc
vo thé
xảy thực hiện phân lớn việc cầu trúc các khái niệm trừu tượng của con người
Với công trình này, giả thuyết nghiệm thân được coi là có xuất xứ từ sự khái quát hóa trong định hướng Ẩn dụ Với tư cách là một phương thức của tư đuy, các ăn đụ ý niêm có xu hưởng mô tA cái trừn tướng thông qua cái ou thé: “Ban đầu, chúng tôi đã gợi ý rằng có tỉnh định hướng trong Gn du, cb nghĩa là chúng (a
có thể hiểu dược một khái niệm này thông qua một cái khác Nói một cách cụ thể,
chúng ta muốn làm rõ các khái niệm không cu ff mơ hỗ (như những cải thuộc
về cảm xúc) thành những cái cụ thể hơn, có thể đỗ dàng mô tả hơn theo kinh
nghiệm của chúng ia” [136, 112] Công trình xác định rõ 3 nguồn cụ thế, làm cơ
nghiệm thân đã bao gồm trong đó sự nghiên cứu dựa trên cỗ cơ số trải nghiệm tiỏi
chung lẫn cơ sở nền lang 14 cơ thể người, cho dù những nghiên cứu nghiệm thân ban dau gắn liên với nghiên cửu về ADYN
Nam 1987 đánh đấu nhiều công trình nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận
có dễ cập lới nghiệm thân Theo tài liêu đã dẫn [142|, Tohmaon trong phần mỡ dẫu: The Body in the Mind (Co thé trong tam tri) (1987 xii- xiii) 44 tinh bày sảu phân
khác nhau vé bing chimg gid thuyét nghiệm thân, được hiểu là quy tắc ngữ nghĩa có
định hướng; Langacker [139] với lý thuyết về ngữ pháp wi nhận (lý thuyết được thủc đây bởi các mỗi quan hệ không gian, với tư cách lả những trải nghiệm cơ bản của con người) đã khẳng định sự quan tảm ngày cảng lớn dén vai trò của cơ thé
trong việc định hình ngôn ngữ và các cần trúc ý miệm nhưng; TakoiT trong
Trang 22Woman, fire and dangerous things |137| da tiép tue những thành quả của ngôn
ngữ học trị nhận để đi đến hình thành và xây dựng khái mệm Kinh nghiệm luận (Experientialism) Ông miêu tñ chủ nghĩa hiện thực theo kinh nghiêm ở cốt lối của giả thuyết nghiệm thân dối lập trực tiếp với quan diém vẻ tính nhiều nghĩa trong, ngôn ngữ của triết học truyền thống: “mọi điều cấu thành kinh nghiệm thực tế hoặc tiềm lùng của cá nhân hoặc tập thé— thi không chỉ là quan diém, chuyén động vận động mà đặc biệt còn là sự hình thành bên trong về di truyền học của
sinh vat va ban chất các mỗi tương tác trong cd môi uùng vật lý lẫn xã bội" [dẫn
theo 142, 38] Như vậy, cho đến năm 1987, giả thuyết nghiệm thân đã vất phát triển và được mở rộng hơn nhiều so với nguồn gốc khiêm tốn của nó, vốn chí như
một sự tắng hợp về tính định hướng của ấn dụ
Sau đó, trong Philosophy in the Flesh, ở mục 6, Takolf chính thức ưa ra thuật ngữ Hiện rhực nghiệm thân luận (Embodied Realism) [138, 74] 4é phan biét với khách quan luận truyền thẳng Cũng trong công trình này, trước đó, ở mục 3 [138, 16], ông đã đưa ra hai khía cạnh như là những phát hiện cúa khoa học trí nhận
củng có cho giả thuyết nghiệm thân: (1) Lý trí cơn người lá một dạng của lý tri dang vật, một lý trí gắn bó chặt chế với cơ thế và những đặc thủ của bộ não chúng ta (2) Thân thể, nào bộ và sự tương tác của can người với môi trường xung quanh hing ngày cùng cấp nên tổng cho những cắm nhận của chúng †z rnột cách hoản toàn vô thức Cảm nhận của chúng ta về cải có thật dược khởi nguồn và cơ bản bị lệ thuộc
vào thôn thế chúng la, nhất là bộ phần cảm xúc và cầu trúc cụ thể của não bộ, nh
đó chúng ta có khã năng trí nhận, chuyến động và thực hiện các thao tác khác Với công trình nảy, ông chuyên hướng nghiền củu nghiệm than từ chỗ được hiểu rộng,
=như chủ nghĩa kinh nghiệm sang một phạm vi hẹp và sâu hơn, dỏ là cách thức mà
niên lãng cơ thể chỉ phối hình thức ngôn ngữ
Cũng đã xuật hiện những bải nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về nghiệm
thin va gid thuyét nghiém than Trén Tap chi Psychonomic Bulletin & Review, tac
“quan điểm nổi bật của trị nhận nghiệm thân cho
giả Margaret Wilson [148] viết
răng quá trình trị nhận dược bất nguồn từ sự sương đác của cơ thể với thể giới Và
có ý kiên rắng chủng †a đã tiên hỏa từ sinh vật có hệ thân kinh chủ yêu là đế đành
Trang 23cho qua trình vận động và trí giác, và phản lớn các hoạt dộng trí nhận là mang tính
trực tiếp, có sự Lương tác trực luyến với môi trường” Mặc đủ vẫn dé nay nhận được
sự hưởng ứng ngảy cảng rộng lớn, nhưng thực tế vẫn có rất nhiêu tranh cãi Bài viết
'phân tích và đánh giá sáu quan điểm nổi bật nhất, đó là
(1) Trị nhận trong hoàn cánh xác định: được liễu một cách đơn giân là trì
nhận bị rằng buộc trong bối cảnh của môi trường thế giới thực, liên quan đến trí giác và hành động Đây cũng là nên tảng của trí nhận nghiệm thân Dù có thế còn
nhiêu tranh luận nhưng luận điểm trị nhận trong hoàn cảnh xáo định luôn lả luận
điểm mẫu chết đối với sự trị nhận của con người
(1) Trì nhận chịu áp lực về thời gian: Quan diễm này nhân mạnh dẫn trí nhận
trong lương lắc với thời gian thục của môi trưởng Ngày cảng xuất hiện thường,
xuyên hơn tuyên bỏ rằng các tác nhân trong hoàn cảnh xác định phải đối phó với
các khỏ khăn về thời gian
(3) Trí nhận dựa sào môi trường: Quan điềm này cho rằng, vì có những bạn chế trong khả năng xử lý thông tăm (vĩ như giới hạn ong khâ năng chú ý và bộ nhớ
làm việc) nên chúng ta khai thác triệt để mỏi trường để giảm khối lượng công việc
trị nhận Chúng ta bắt môi trường phải giữ thêng tin hay cũng cập thông tín cho
chủng ta, và chúng ta sẽ nhận thông tin đó khi cản
(4) Môi trường là mội phần của hệ thông trí nhận: Thông tìn giữa tĩnh thân
và thể giới rất nhiều và liên tục Nhận thức sâu sắc rằng sự tương tác giữa cơ thế và
xôi trường đóng vai trò quan trọng trong việc ha tro hoạt động trị nhận, một số tác
giả đưa ra khẳng định mạnh mnẽ: không chí bộ não thúc đẩy hoạt động trí nhận và trí nhận không chỉ là hoạt dộng, của tính thản, trí nhận bao phú toàn bộ tình huồng,
tương tác, bao gồm cA tinh thân, cơ thế và môi tường Ví môi trường là một phan
của hệ thống trí nhận nên chúng ta phải nghiên cứu tình huồng và trí nhận trong,
hoán cảnh xác định
(5) Trì nhận dành cho hành động: Quan diễm này cho rằng trì nhận thủc dây hoạt động vận động Người ta phát hiện ra rằng đầu vào thị giác không chỉ là để xây dựng biểu tượng liên trong của thể giới nhận thức để rỗi việc xử lí những biểu tượng nảy là công việc của lĩnh vực trị nhận cao hơn mả thực ra nó có thể kich hoạt, định
Trang 24thưởng cho hoạt dông vận déng Chang han việc nhìn thấy một hình chữ nhật có hướng cụ thể tạo điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ năm bắt tiếp theo vả hệ
thống thị giác có thể tham giá vào chức năng vận động mà không nhát thiết hành
động ấy diễn ra ngay lập tức
(6) Tri nhận gián tiếp đựa vào cơ thể: Dây là quan niệm về sự trì nhận nghiệm
thân gián tiếp, là cách trì nhận ý tiệm hóa, có về như dược diễn ra tách rồi khỏi tuôi
trưởng Dù vậy, các hoạt động của tĩnh thân đều căn cử vào cáo cơ chế xứ lý cảm giác
và kiếm soát vận động trang sự tương táo với môi trường Trên thục tê, nhiêu hoạt
động trì nhận được cho là trừu tượng đã có sự vận động cảm gì ác theo cach bi mat
nảy Nói chung, chức năng của các nguồn vận động cảm giác này là mô phỏng một số
*khia cạnh của thế giới vật chất như mật phương tiện thế hiện thông tin và suy luận 'Mặc đù khia cạnh trì nhận nghiệm thân gián tiếp nảy ít được phủ ý hơn so với trí nhận
trong hoàn cảnh xác định , song bằng chủng ứng hộ đã tăng lên lặng lẽ trong nhiều năm Bởi những mê phỏng vận động cảm giác của các tỉnh huống bên ngoài trong, thực tế thực sự có liên quan rộng rãi dén Iri nhận của con người
Đánh giá những quan điểm nay, tac gia cho rằng ba tuyên bố đầu tiên và tuyên bồ thứ năm có một phần chính xác, chúng hữa dụng trong phạm ví khả th
Tuyên bỏ thử tư khá mơ hỗ và cân phảu bản luận nhiều thêm nữa Tuyên bê thứ sáu
ít được chú ý nhất trong các tải liệu về trí nhận nghiệm thân, nhưng thực tế lại là tuyên bố đáng để tham khão và co tinh thuyết phục nhật Tác giả khẳng định: có
một sự vận dộng dang dược tiến hanh trong khoa học trị nhận đẻ giao cho cơ thể một vai trò chủ chết trong việc hình thành nên tinh thần Theo truyền thống, các ngành khác nhan đã xem tinh than như một bộ xứ lý thông tin trừu tượng, sư kết nối của nó với thể giới bên ngoài gần như không có tầm quan trọng về mặt lý thuyết
Trong khi đó, những người đề xướng trị nhận nghiệm thân cho rằng: không phải là
tĩnh thân lâm việc trên các vẫn đề trừm Lượng, má là một cơ thể đời hỏi tính thân
phải thục hiện nhiệm vụ của mình Theo đỏ, tính thần phải được hiểu trong môi
quan hệ của nó và một cơ thẻ vật lý tương tác với thế giới Thay vì tâm trị hoạt động,
để phục vụ cho cơ thể, chúng ta nhận thay chính cơ thế hoạt động phục vụ lâm trí
Trang 25Đặc biết phải nhắc tới tải liệu tổng hợp về khoa học trí nhận và trí nhận
ngbigm thin Oxford Handbook of Cognitive Linguistic [142] Với 50 chương được
viết bởi các chuyên gia trong lĩnh vục ngôn ngữ hẹc tri nhận, cuên sách đã để cập
đến một phạm vi rộng lớn, từ những khái niệm cơ bản cho tới những ứng dụng thực
†ế của lĩnh vực này, Ở chương 2 của cuốn sách, Tim Rolirer viết về nghiệm thân và
kinh nghiệm hiện (Embodimem and Experientialien), bao gồm 7 phẩm 1 Giải thiệu, 2 Các nghĩa cũa embođiment (7Öe senses oƒEmmbodimemi); 3 Nguôn gắc của giả thuyết nghiệm thân (Origins of the Embodiment [ppothesis), 4 Sw hinh thành
và mở rộng của giá thuyết nghiệm thin (/laborations and Lixtensions of the Embodiment Hypothesis), 5 Cac lap thức dương dại của giá thuyết nghiệm thân
(Contemporary Formulations of the Embodiment Hypothesis), 6 Cac clip dộ của
khumg li thuyét diéu tra (The ‘Levels of Investigation’ Theoretical Framework); 7 Ké&t luan (Conclusions), Cé thé néi, day 4 mét nghién ctru tổng hop về nghiệm thân
và giả thuyết nghiệm than
Ngay lời dẫu nhập của chương, Tim Rolrcr đá khẳng định rằng vận đề cơ
‘ban của ngôn ngữ là vẫn đề hiểu nghĩa và chia sẻ nghĩa, theo dé nghĩa không phải là
cái gì đó trừu tượng, mang tỉnh mệnh đẻ hoặc biêu tượng như truyền thống của triết học và ngôn ngữ học đã từng tin tưởng, mà chúng ta có thể nhìn nhận ngôn ngữ thơo cách nó đang được sử dụng trong thục tế Và mục đích chỉnh của ngôn ngữ
kháng phải là mồ tả khách quan thế giới nảy mà thay vào dé la dé giao tiép va chia
sẽ cáo trải nghiệm Ông nhân mạnh “Mộ! trọng ẩm mà con người nhận thầy có
nhiều ÿ nghĩa cần thiết phải nghiên cứu là nghiệm thân nhận thúc, nghiệm thân vật
lì và nghiệm thân xã hội, thứ dịnh bình và chế ngự sự diễn dạt nhiều ÿ nghĩa ” [142, 26] Trang phân 2 (Các nghĩa của nghiệm thân), Tim Rohrer đã khảo sát những,
cách thức mà thuật ngữ nghiệm thân được đưa ra bởi rất nhiều nhà nghiên cứu của
ngôn ngữ học trị nhận Ông khẳng dinh ring thuat ngit “embodiment” co thé được
sử dụng với it nhất 12 nghĩa quan trọng khác nhau liên quan dén nhận thức của chúng ta Đây là tổng kết của ông:
7.- Thuật ngữ “nghiệm thân” trong ngôn ngữ học trị nhận có nguồn gốc từ sự trìuhi
bày ban đầu của Lakoff va Johnson về phương chiều của quá trình cầu trúc hóa
Trang 261
an du Lakoff va Johnson cho rằng chủng ta thường phóng chiếu độc hướng
tên nguồn được tồi
nghiệm nhiên hơn đề hiển một miễn đích ít được trải nghiệm hơn Giả thuyết những mô hừnh sơ đỗ hình ảnh cửa sự hiểu biết đ từ một
nghiệm thân theo đó, được hiểu như là zmổt hạn lệ đối với phương chiều của quá
trình cấu trúc hóa dn dy, hay phương chiều của sự chiếu xạ an đụ
Giá thuyết nghiệm thin tong céch tinh bay ban đầu của Takof[ và Tohnson
cũng bao gôm sự khái quát hỏa về các loại miễn ý niệm căn bân thường
được sử dụng làm các miễn nguôn cho các ấn dụ ý niệm Nghĩa này được
giải thích rõ hơn trong “giả thuyết nên tăng” của Lakoff và Trner, rằng,
dựng trên cơ sở lựa chọn một số lượng, hữu hạn các miễn
điểm lí tính phí nghiêm thân
“Nghiệm than” còn được sử dụng, dễ đề cập tới bối cảnh xã hội và văn hỏa trong mỗi quan hệ mật thiết với con người, nơi mà thân thể, sự nhận thức
tà ngôn ngữ cứ ngụ Đó là bôi cảnh của các yêu tô như chính sách ngôn
/định kiến giao thoa văn hóa hay ảnh hưởng của
vả mang tỉnh chủ định trên cầu trúc trái nghiệm của chúng ta
“Nghiệm thin” con cô thể liên quan tới wu thé mang tính chú quan riêng biệt, do Tà nguồn gốc của những quan điểm bái ngược với Iruyền thông
Trong mội nghĩa quan trọng khác, “nghiệm thân” ñiên quan tới những thay
đổi mang tinh phát triển mà các sinh vật phải trái qua khi biển đổi từ hợp tứ
Trang 27thành bào thai và từ trẻ om thánh người trưởng thành Nghiên cứu nỗi trội trong lĩnh vực này là nghiên cửu về việc học ngôn ngữ “thông thường” và
nghiên cửu về chứng rồi loạn phát triển ngôn ngĩt Sinha và Jensen de Lopez
đã xem xét quá trình thu được thuật ngũ quan hệ không gian qua vị trí các bộ
phan co thé trong nhiều ngôn ngữ để xác dịnh chúng xuất hiện ban dâu với tư
gian và hai nghĩa nói trên có xuất hiện độc lập hay
mang tịnh cách mạng mà một loài nào đó đã phải trải qua trong lich sit di
truyền của loài đó Trong lịch sử tiến hòa, loài người không phải lúc nao
cũng có khả nẵng ngôn ngữ, vậy bằng chứng từ các nghiên cứu của
nghiệm thân về phạm vi tiến hóa trở nên vô cùng quan trọng đề hiển được lý
do tại sao việc xứ lý ngôn ngữ có vé như không phải chỉ tập trung ở một vùng độc lập trong bộ não ma thay vio dé, có thể diễn ra trên các hệ thông,
phụ khác nhau từ các phương thúc giác quan hay toàn bộ cơ thê
Ngoài ra, “nghiệm thân” còn có nghĩa như ï.akoff và Jotmsơn (1999) đã gọi
là ứï nhận vô thức Theo đô, “nghiệm thân” có liên quan tới cái cách mà việc
tư duy nhận thức của chúng †a được định hình bằng rất nhiều quá trình dưới
ngưỡng của ý thức hoại động của chúng ta, như được thấy thông qua lâm lý học thực nghiệm
10 Theo nghĩa trọng sinh học thắn kinh, “nghiệm thân” có thẻ liên guan tới các
11
cấu trúc và các khu vực thân kinh cụ thể đăm nhiệm các kỹ tích như chiều xạ
ân dụ, sự phổi kết hợp của các sơ dỗ hình ánh, các khung quy chiếu trong hệ thông hinh ảnh trong thao tác tư đuy của con người
“Nghiệm thân” có thể cũng liền quan tới các mô hình ngôn ngữ máy tính mô
phóng bộ não con người, cụ thể là liên quan dụ ÿ niệm hoặc ngôn ngit
không gian Cáo mạng lười thần kinh nói trên dược cho là nghiệm thân theo
Trang 28trúc thản kinh đặc trưng dã dược hiểu rõ, diễn hình là từ trong các phương,
thúc giác quan Thứ ba, chúng có thể được coi là các mỗ hình xử lý cũa hoạt động trải nghiêm
12 Cuối cũng, thuật ngữ “nghiệm thân” và “tri nhận nghiệm thản” hiện giò cũng,
dược sử dụng rất rộng rãi trong ngành khoa học trì nhận người máy
Theo Tim Rolrer, danh sách mô tâ tảy cho thấy rằng phạm vi cửa giả thuyết nghiệm thân đời hỏi quá trình tư duy phải thông qua các bằng chứng được rút ra từ vô
số các quan điểm vẻ nghiệm thân, cũng như từ rắt nhiền phương pháp Và tắt nhiên,
hấu như không có mội nhà nghiên cứu hay một dự án nghiên cứu nảo có thể bao quát
toàn bộ các nghĩa khác nhau này của nghiệm thân cũng như dưa ra mọi căn cử khoa
học chắc ch
hắn Tuy nhiêu, ông cũng cho rằng, các nghữa này có thể kết hợp lại thành
ít nhật hai cực hấp dẫn, hai phạm vi rộng lén để sử dụng thuật ngữ nghiệm thân:
(1).Nghiệm thân như là trai nghiém chung (embodinent as broadly experiential) (2).Ngluém thân như là cơ tảng mang, tinh thin xic (embodiment as the bodily substrate)
(Cu thể: các nghĩa từ (3) đến (6): nghiệm thân liên quan đến các phạm vỉ tập
trung vào các trãi nghiệm theo bôi cảnh chủ quan cụ thể, văn hóa vả lịch sử của
người sử dựng ngôn ngữ, các nghĩa từ (8) dến (12) kết lợp quanh cực nhân mạnh cơ
sở của cơ thể sinh học thần kinh và tâm H, nghĩa (7) lưu ý tới các đặc trưng vé that
gian mà mô tá các phạm vi phát triển; nghĩa (8) mô tả các phạm vi tiến hóa) Ong
cũng cho rằng, không phải tắt cả các nghĩa đều có thể kết hợp lại với nhau một cách
Tõ ràng, Ở múc tối thiểu, một khung lí thuyết đây đủ dành cho ngôn ngữ học trì nhận sẽ phái ghi nhận cả các nghữa thực nghiệm lẫn các nghĩa lấy cơ thể làm nên tảng của nghiệm thân vả đưa ra một cách đơn giản hóa nhằm hỏa hợp cuộc nghiên
cứu đo được trong tất cả các phạm vi khác nhau này
'Thục tế, những nghiên cứu về nghiệm thân vẫn không ngừng được tiếp nối
Lawrence Shapiro, giao sư Khoa Triết học tại Đại học Wisconsin- Madison, Mỹ
tiện đang nghiên cửu tập trung vào những vẫn dễ và những tranh luận xung quanh trí thận nghiệm thân Gan đây, năm 2011, trong cuốn Trí nhận nghiệm thân (1mbodied Cognition) [145], ông đã để cập tới ba chú để của nghiệm thân Theo
Trang 29ông dủ những vẫn đẻ dược thảo luận trong các nh vực trí nhận nghiệm thân là
xông lớn, thi cũng nỗi lên ba chủ đề: (1)- Ý miệm hóa (Coneepiualisation); (2)- Sự thay thé (Replacement); (3)- Str két cdu (Constitution) Lam 16 va phat triển các chữ
đề này là công việc giúp phát triển sự hiểu biết về trị nhận nghiệm thân
Tháng 7 nim 2013, giao su Farzad Sharifian dén tir Dai hoc Monash dii od budi thuyé tinh tại Viện Ngôn ngữ học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam: v6i chit 4é: Culnwal linguistics and Embodiment (cultural conceptualisation of internal body paris across cultures), (Ngan ngit hoc van hea va nghiém thin (qua
trình ý mệm hỏa các bộ phận cơ thể người qua các nên văn hóa) Ông cho rằng đi nhận tức là sự ÿ niệm hóa Theo quan niệm truyền thông, tư duy nằm ở bộ não
Những ngày nay, ngôn ngữ học trí nhận lại cho thé
ng lự duy và cm xúc không
chỉ tập trung ở bộ não mà cỏn ở toàn bộ cơ thế Tư đưy dù trừu tượng ng con người vẫn có thể đừng bộ phận cơ thể dé cụ thể hóa nó Ông khẳng định rằng sự
nghiệm thân dã được ghi nhận trong triết học Và trong ngôn ngữ học trí nhận,
nghiệm thân được thể hiện qua các ADAYN Ông cũng lập luận theo quan điểm của Lakoff: 4n đụ ý niệm là những mẫu thức văn hóa ADYN phổ quát là giỗng nhau
nhưng thục ra, ở những nên văn hỏa khác nhau sẽ lá khác nhau Con người được đem
ra làm trung tâm để phân tích, mà cá nhân thì nắm trong xã hội Vì vậy, cơn người
phải được coi nÏục là mội thực thê văn hóa xã hội Điều đỏ đồng nghĩa với việc con
người sẽ phải thuộc về một nên văn hóa nào đó Farzad Sharifian cé một công trình
tiêu biểu cho hướng nghiên cứu ngôn ngĩ- nghiệm thân- văn hóa, đó là cuỗn của tập
thé cha bién: Sharifian, I’, Dirven, R., Yu, N., & Neiemier, 8 (eds.) (2008) Culture, Body, and language: Conceptualisations of internal body organs across cultures and
languages [143] Cuén sach nay khang định: Một trong những chứ đẻ trung tâm của
ngòn ngít học trí nhận lả sự gắn bó của cơ thể và tam ti, được biết đến như là sự
nghiệm thân Các tác giả cũng thảo luận về những phát hiện trọng mỗi quan hệ với
„một số học thuyết triết học dã giải quyết mỗi quan hệ giữa tâm trị, cơ thể và ngôn ngữ như thể rào, chẳng hạn như của Descartes Ở phương Tây, tâm tỉ (mind) và thân thé
(body) có sự phân biệt rõ răng trong khỉ ð phương Đông, chúng trộn lấn vào nhau
Nguyên nhân là do phương Tây chịu ánh hưởng thuyết nhị nguyên của lÖesoartes, cón.
Trang 30phương Đông lại qua thân thể đề thẻ hiện tâm trí của mình Tóm lai, Farzad Sharifian tiêu biểu cho hướng nghiên cứu nghiệm thân rong môi quan hệ với ngôn ngữ- vẫn
hóa Nói cách khác, ông và các đồng sự đã hướng nghiên cứu của mình tới nghiệm thân, không chỉ lả sự gắn bó của cơ thể và tâm trí mã còn bao hàm trong đó sự tương
tác giữa cơ thể con người, ngôn ngữ và các nén van hoa
Ngoài ra, rong cuỗn Dẫn luận ngôn ngữ bạc tri nhận (bần tiếng Việt do Đào Thị Hà Ninh dich) [94, 68-69], tac gia Triệu Diễm Phương đã khẳng định vai
tro của nghiệm thân khi để cập tới hai quan điểm chính của trị nhận quan chủ
nghia kinh nghiệm: (1) Tư duy không thể thoát ly khói hình thể Cấu trúc trí nhận của loài người xuất phát từ kinh nghiệm của cơ thể người, đồng thời thực hiện
việc tổ chức và xây dựng cáo sơ dỗ ý tượng, phạm trủ cơ bản và ý niềm truc tiếp
trên cơ sở kinh nghiệm xã hội, vật chất, mô hình vận động cơ thể và cảm giác của cơn người (2) Tư đuy mang tinh chất tưởng tượng Các ý niém gián tiếp (không phải những ý niệm trực tiếp dến từ kinh nghiệm) là kết quả của việc vận dung phương thức tự đuy 4n dụ và hoán dụ, trên cơ sở đó chúng biểu trưng hoặc phân chiến trực tiếp thể giới bên ngoài Ngôn ngữ là kết quả của nhímg hoạt động trì
nhận thông thường của cơn người, cấu trúc và chức năng của nó là sản phẩm của
kinh nghiệm nhân loại, không phải sự liên hệ đổi ứng trục tiếp với thẻ giới khách
quan Trung gian của ngôn ngữ lä những ý niệm của nhân loại được kích thích tạo
ra bởi những trải nghiệm của con người
Trong Các lí thuyết ngữ nghĩa học từ vựng của Dirk Geeraerts (ban tiếng Việt do Phạm Văn Lam dịch), khi để cập tới ngữ nghĩa học trị nhận [29, 269], tác
giả đã bản dến bốn đóng góp cụ thể của ngữ nghĩa học trí nhận dỗi với việc nghiên cứu nghĩa từ (mô hinh điền mẫu của cầu trúc phạm trủ, lí thuyết ân dụ và hoán đụ
khai niệm; các mồ hình trị nhận lí tưởng hóa và lí thuyết khung: những đóng góp
của ngữ nghĩa học trị nhận đối với việc nghiên cứu biển đổi nghĩa) Trong phần ban
vẻ lí thuyết ẫn dụ khải niệm, tác giả dã đê cập tới thuyết nghiệm thân: “Trụ cột thứ
ăn dụ khối niệm chink la quan điểm cho rằng an dụ đã bén rễ từ kinh
nghiệm: kiửh nghiệm của con người đã định hình ngôn ngữ” Và “có một hướng
nghiên cửu quan trọng liên quan đến li thuyết ản dụ khái niệm tập trung vào bán
tỳ a
Trang 31chất hữu bình vật chất của nên tầng kinh nghiệm, đỏ chính là sự nghiệm thân” Tác giả nhắc đếu tông kết về nghiệm than cia Tim Rohrer, đẳng quan niệm rằng nghiệnt
thân là một khái niệm đa điện
Gan day nhất, cuốn 71Ãn luận ngôn ngữ học trí nhận của David Lee (bản tiếng Việt do Nguyễn Văn Hiệp & Nguyễn Hoàng An dịch (2016) |75j đế được xuất bàn,
gúp phân thúc đây các nghiên cửu theo ngôn ngữ học trị nhận ở Việt
trong đó không có phản riêng nào đề cập trực tiếp tới nghiệm thân nhưmg tỉnh thân của
tần hết các phân không hệ xa rồi tư trởng trí nhận nghiệm thân Từ những khái niệm
cơ bắn như sự điễn giải, bối cảnh, cận cảnh, ân dụ, khung, đến sự diễn giải vẻ vật thể
và quan hệ không gian, mở rộng nghĩa không gian, phạm trủ tỏa tia và biến dai ngôn
thức quyết dịnh cách con người có dược hiểu biết về thể giới Điều đó cũng có
nebia, nghiệm thân chỉnh là đặc tính cơ bâu nhất của sự trị nhận ở con người, thông qua sự trải nghiệm của con người mà các quá trinh phạm trù hỏa, ý niệm hóa, sự suy li của con người được khám phá
1.L2.2 Những nghiên cứu về øghiểm thấu ở trong nước
Cho đến nay, trang nước chưa có một công trình riêng nào dễ cập tới nghiệm
thin (embodiment) Nghiệm thân chỉ được nhắc tới như lá một trong những khai niệm co ban của ngẻn ngít học tri nhận và được để cập đến trong một số công trình,
bai bao khoa học về ngôn ngữ học tri nhận hay một số luận án, luận văn nghiên cửu ngôn ngữ theo quan diễm của ngôn ngữ học tri nhận
Công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học trí nhận một cách có hệ thống dẫn tiên ở Việt Nam là Ngôn ngữ học trị nhận, từ lí thuyết đại cương đến thực tin tiéng
Việt (2005, tải bán 2009) [109] của Lý Toàn Thắng, Dây lả công trình chính thức
Trang 32giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận như một xu hướng nghiên cửu mới ở Việt Nam Công trình không chỉ có ý nghĩa lí luận mà còn hết síe thực tiễn khi áp đụng lí
thuyết của ngôn ngữ học tri nhận vào việc nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra nhiều kết
hiận thuyết phục Trong công trình này, dù không dé cập trực tiếp tới nghiệm thân
những việc tác giả áp dựng nguyễn lí ĐỸ nhấn vì trưng (lây con người làm trụng tâm
của vũ trụ) để nghiên cứn về cảch thức trí nhận không gian và thời gian trong ngôn
ngữ cũng đã gián tiếp khẳng định tâm quan trọng của li thuyết này trong ngôn ngữ
học trí nhận
Tác giá Nguyễn Văn Liệp trong [45]46] đã tiến hành kháo sát, lí giải ngữ
nghĩa của RA, VÀO tron tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân Đây cũng lá một trong
ngữ học trí nhận Nguyễn Tải Thắng cũng đã có những bài bảo đề cập lới thuật ngữ
“embodiment” véi tén gọi hiện thân [114], [116] Các bài báo này khang định mỗi quan hệ chặt chẽ giủa ngôn ngữ và nghiệm thân qua bằng chứng về tiếng Anh và
tiếng Việt, rằng ngữ nghĩa cũng như cú pháp của ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ
với trải nghiệm và đo đỏ trãi nghiệm của chứng ta đồng vai trò quan trọng trong
việc sử dụng ngôn ngữ Tuy nhiên, trong các bài viết, lý thuyết về nghiệm thân mới
chỉ dược tác giã để cập đến một cách khái quát, chủ yếu là mang tính giới thiệu để
sau đò phân tích một số hiện tượng ngôn ngữ cụ thể như là những minh chứng để khẳng định Tảo giá Trịnh Sâm [99, 72] cho rằng trí não của con người, thông qua những trải nghiệm (hoặc có tính cá nhân hoặc dựa vào hệ thống ý niệm của công,
đồng điển ngôn) đung nạp, xử lý, hm trừ, phục hỗi và cả truy xuất trí thức không,
“hoàn toàn thụ động mà có tỉnh tương tác theo những phương thúc trí nhận nhất định
Và đương tác dễ quan sát nhật là với chính cơ thể của con người dược gọi là những trải nghiệm nghiệm thân Bao gòm (1) Nghiệm thân xinh lý: xuất phát từ thân xác con Trgười - một thục thẻ gần gũi, nơi thư nhận thông tin đầu vào, nơi khởi phát những ý niệm cụ thể, (2) nghiệm thân (v1) tự nhiên: là sự tương tác với môi trường vật chất
Trang 33xung quanh Ngôn ngữ học trị nhận đẻ cao vai trỏ của chủ thể kinh nghiêm, nhưng, không phủ nhận chức năng phóng chiếu của hiện thực với tư cách là miễn nguồn (3) nghiệm thân xã hội: là tương tác với người khác trong mỗi quan hệ liên nhân, trước
tiết lả cáo rằng buộc gắn liên với tri thức nên, với niễm tim, với những chia sẽ chưng,
trong một nền văn hỏa chủ đạo (mainstream culture) và các giá trị của các văn hỏa nhôm (subeulure) Như vậy, nghiệm thân không tách rời văn hỏa Trải lại, Lương tác
về văn hóa sẽ phan nao chỉ phổi cách thức chủng ta tri nhận nghiệm thân Và cũng,
như tương tác trí nhận, trang tác văn hỏa cũng có cơ sở từ môi trưởng kinh nghiệm
ấu (2015)
Gan day, trong Ngắm ngữ học mì nhận- Những nội dung quan
TH2], tác giả Lý Toán Thắng có trực tiếp danh một mục dé viết vẻ nghiệm thân
hay lâm trí nghiệm thâu: "Nghiệm thin (crubodiment) bay tau tri nghiém than (embodied mind) la mét trong nhiing dic tinh quan trong nat otia sur tri nhận ở con
người” [112, 15-16] Tác giá cũng đã tổng kết một số phương điện các nhá trí nhận
học thường nhẫn mạnh khi sử đụng thuật ngữ nghiệm thân: (} Mọi phương diệu (aspecls) của trì nhận đều được tạo hình (shaped) bởi sác bình điệu của (hẳn xác (body) Trí nhận nói ở đây bao gôm những phương điện như: các kết cầu tinh thin bậc cao (như ý niệm và phạm trừ) và sự thực thi những nhiệm vụ trị nhận khác nhau (như suy lí hay phản doán) Cón thân xác bao gồm các phương điện như: hệ thông động (moler) và hệ thông trí giác, cũng như là sự tương tóc của thân xác với môi trường xung quanh (1ï) Tri nhận phụ thuộc vào nhiều thứ của kinh nghiệm do cơn người cé thân xác với nhiều khả năng cảm giác-vận đệng (sensori-mortor) Những khả năng nay tự thân chúng ở mỗi cá nhân được 'nghiệm thân” trong những,
bối cảnh bao quanh vẻ sinh học, tâm lí và văn hỏa (1ii) Trị nhận nghiệm thân không,
chỉ phụ thuộc váo thân xác mà còn phụ thuộc cả vào sự “tương tác" (Inieracion) với
ội rễ trong các
cơ chế {được
và vận động, Về mặt này, có thé xem trí nhận nghiệm thản như là sự bồi âm
én hoá để tương tác với môi trường) như là các cơ chế
Trang 34biệt kinh nghiệm nghiệm thâu và trí nhận nghiệm thân cũng như dễ cập tới triết
thuyết kinh nghiệm luận (Experientislien) hay hiện thực luận kinh nghiệm
(Experiential Realism)
Neoai ra, nghiém Thân còn được nhắc đến trong những liận án về ngôn ngữ học
tri nhận, như của Trần Bá Tiên (2012), Nghiên cứu thành ngữ biểu thị lâm lí tình cẩm
trang tiếng Anh và tông Liội từ bình diện ngôn ngữ học trí nhận |126], Vi Trường Phúc (2013), Nghiên cứu thành ngữ chỉ tâm Ïf tình câm trong tiếng Hán từ gác độ ngôn ngữ
học trí nhận (có liên hệ với tiếng Việj[92†, Trnh Thủ Hương (20120, Giới từ trong thành ngữ nếng Inh (có so sánh với thành ngữ rếng ƯiệU [60], của Nguyén Thi Bich
Hanh (2014), 4m dy trí nhận trong ca inh Công Sơn, [38]
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ câm giác trong tiếng Việt
Tủ thuộc lớp từ ngữ cơ bản của tiếng Việt và có vị trí khá quan trọng trong
kệ thống từ vựng tiếng Việt nỏi chung, nhưng những từ ngữ chỉ cảm giác chưa được
nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học trí nhận Cũng dã có những tài liệu dẻ cập tới chúng hoặc những từ ngữ liên quan trục tiếp tới chúng nhưng côn sơ lược với nhiều
cách hiểu chưa thông nhất về phạm vỉ và tên gọi
Về lớp từ ngữ chỉ hoạt động của các cơ quan cảm giác như: ni (rồng, xem,
thấu), nghe, sở, nếm, ngứi Đỗ Hữu Châu (1975) trong bài báo “Khái niệm trường
và việc nghiên cửu hệ thông từ vựng”, Ngôn ngữ, số 2, 1975) gọi là những từ chỉ
hoat động câm quan [dan theo 93] Nguyễn Kim Thân (1977) từ góc độ từ vựng,
cho rằng chúng thuộc nhóm động từ cảm ngÏữ - nói năng, vì những động tù này
biểu thị sự hoạt động của trì não, của các cơ quan cám giác và ngồn ngữ; Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng một vị từ trí giác, chẳng hạn như zin, biểu thị một quá trinh
tứng xử, có hai điển tế (hành thế và mục tiêu) [đẫn theo 90] Đinh Trọng Lạc [65]
đã coi thấu, nghe (ngủi, nếm, sở ) là những động từ cảm giác Nguyễn Ngọc
‘Tram [131] lại gọi nhóm từ trên là đồng £ừ cảm nhận Nguyễn Văn Phổ [91] gọi
chung la vj fir tri giác, và cho rằng tên gọi vị đử ứr/ giác chí có ý nghĩa quy ước,
bới lẽ rong danh sách dó có thể kể đến hai tiểu nhóm phân biệt nhau: (1) vị từ
tiểu thị hành động nhằm trì giác đối tượng, và (2) vị lừ biểu thị trị giác Tuy nhiên, trong bài báo này, chú yếu tác giá tiến hành phân tích những vị từ thị giác
31
Trang 35(nhìn, thấy, xem, trông) làm cơ sở dễ tiếp cận các vị từ đại diện cho các nhom
khảo (nghe, sở, ngấi, nêm và thấy) Ngoài ra, một số luận văn, luận ám cũng đã liên
hành nghiên cứu về lớp từ nảy Trần Thị Hường [62], đưới góc nhìn của lí thuyết
trường từ vựng- ngữ nghĩa, đã tiền hành nghiên cứu 12 từ vị biểu thị hoạt động thị
giác của con người trong tiếng Việt: nhìn, trồng, xem, thấy, ngắm, chiêm ngưỡng,
ngước, lắc, lườm, ngó, nhằm, đọc, so gánh với tiếng Pháp và đưa ra một số kết luận
về cầu trúc ngữ nghĩa: điếm giảng và khác nhau giữa hai ngôn ngữ về đặc trưng văn
hóa Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là 12 từ vị biểu thị hoạt động thị
giác và các đơn vị từ vụng phải sinh xung quanh 12 từ vị này, các từ ngữ chí cảm
giác thị giác nói chung cũng như chỉ các cảm giác khác không được dé cap Gi
n dây nhất, Hoàng Thị Hòa [S0] đã gọi tên lớp từ chỉ hoại động cửa giác quan là động
từ trí giác Dỗi tượng nghiên cứu chính của luận án là lớp động từ trị giác trong tiếng Anh (cò liên hệ với những tử tương đương trong tiếng Việt) Tác giá đã vận
dụng ngôn ngữ học chức năng (tiêu chỉ Percep0) và lý thuyết của ngôn ngữ học trí
nhận (lý thuyết điển mẫu) để nhận diện, phân loại và đưa ra được mội danh sách các động từ trị giác co bản trong tiếng Anh và tiếng Việt Đặc biệt, đá đành mệt chương
để nghiên cửu hiện tượng chuyến nghĩa của động từ trị giác s¿ø/ #hẩy; hiện tượng,
chuyển loại của một số dộng từ trí giác ook, fouch, taste, smell; nghe, coi, xem
Tuy nhiên, trong phần liên quan đến tiếng Việt, luận án cứng chỉ tập lung nghién
cứu lớp động từ chỉ hoạt động tri giác mà không quan tâm tới các từ ngữ chỉ cảm giáo nói chưng
Về nhóm từ ngữ chỉ căm giáo trong téng Việt, Dỗ LIữu Châu (1986), trong
chuyên luận Các nhân 1ó dựng hoc trong cấu trúc ngữ ngÌữa của từ, (Bảo cáo tại Hội phi lần thử tư giữa các nước XHCN về ngôn ngữ phương Déng, tai Ha Nai) [dan theo
93] gọi các tính từ như nóng, lạnh, ẩm là các tình từ có tính chất vat Ii, có cảm giác xúc
giác
trong Hồng Việt Cũng Đỗ Hữu Châu |4], rong đoạn phín biết cơ chế ân dụ đã gọi
ihững từ như chua, ngợi, nhại, mặn, cay, chái, nặng, nhẹ, ôm là ri lie chi cam giác
khi ông để cập tới loại ân dụ kết quá, hay còn gọi là Ấn dụ chuyển đổi cảm giác, ẩn dụ bỗ
Trang 36sung: “Trong những ân dụ kết quả, có một loại dáng dược chủ ý dặc biệt, đó là những ấn
dụ đẳng tên gợi của những cảm giác thuộc giác quan này đ
giác quan khác hay những cảm giác của trí tuệ tỉnh cảm” Ong dan ra vi du: “Nhu chua,
ngọi, nhạt, mặn, cay, chát là những cảm giác vị giáo được dùng đễ gọi cáo cảm giác
gợi lên những cấm giác của
thỉnh giác nói chua loi, lời ngọt ngào, pha trò nhạt quả, nói cay quá ”: “Các cảm giác xúc giác thư nống , nhẹ, ôm được đảng cho cảm giác thỉnh giác như (iếng nói vùng
biễn rất nặng, nhẹ giọng cin+ ” Ông cũng nhận xét: “thục ra trong cách nói lời ngọt
ngào, pha trò nhạt, giọng chua chát cáo cảm giáo không có tính chất thính giác thuần tủy mà đã mang nặng tính chất trí tuệ, tỉnh căm” [4,159-160] Dù Dỗ Hữu Châu không
liệt kê được hết và cũng không cỏ tuyên bố nào vẻ khải niệm tử ngữ chỉ cảm giác nhưng,
eụ thể: Theo tác giả, từ cảm giác thường biếu thị các mặt: cảm giác vị giác (cám,
ngắn, ngây lọm ), cảm giác xúo giáo (buồn, ngứa, xói, rát ), (cảm giáo đau đếm ( dau, mỗi, nhức, tê, ê ), cảm giác thăng bằng (choáng, say ); (cảm giáo nông lạnh ( ghê, rợn, buấi ), dân giác về nhủ cầu sinh lí (đói, khát, thêm ) Các nhónn tù cỗm
giác còn được chia theo các kiểu ý nghĩa: những tù biếu thị phân ứng của cơ thế,
của giáo quan trước tác động bên ngoài (đau, rút, xót, 6, mải ), những từ biểu thị
căm giác về nhu cau sinh ly đơn giản, chia thành hai nhỏm nhỏ: nhỏm có cảm giác
vẻ nlyu câu nào đỏ dang cần dược dáp ứng (dai, khái, buôn ngũ, thêm ) và nhôm có câm giác không cèn có nhu câu nào đó, có thể vi nhu cần đã được đáp ứng đầy đủ (
no, đã (kháÐ), hoặc do nha cầu đã được đáp ứng nhiêu quá múc đôi hỏi (chán,
ngắn, ngấy ) [131, 43-44] Tác giá cũng tiên hành so sảnh tỉnh chất của hai loại phản ứng cảm giác và tỉnh cảm dễ chết lại rằng cảm giác là phẩm ứng trực tiếp của
cơ thể trước táo động của hiện thục không qua phân tích cũa ñr duy, lí trí, Quá trình tình thành cam giác gắn với quá trình cảm nhận hiện thực còn quá trình hình
thành tỉnh căm gắn với quá trinh phản tích hiện thực, Kết quá cảm nhận hiện thực
33
Trang 37có thê là câm giác và cũng có thể là một thuộc tính của sự vật: màu sắc dược cảm
xrhận bằng tÌủ giác, âm thanh được cảm nhận bằng thính giác, mùi được cẩm nhận
bằng khứu giác, vị được căm nhận bằng vị giác, v.v [131, 45] Có thể thấy,
Nguyễn Ngọc Trâm chỉ quan tâm tới những từ chỉ cảm giác có ngữ nghĩa gần gửi
với các từ tâm li- tình cảm (đặc biệt là nhỏm từ ngữ chỉ câm giác chung của toàn
bộ cơ thể), đỏ cũng là những từ có khả năng chuyên nghĩa đầu đặn sang từ tâm Hí- tình cảm, để hướng tới khẳng định ngữ nghĩa của các từ tâm lí-tỉnh cảm tuy là kết
quả của quá trình phân tích hiện thực nhưng vẫn mang đấu ân của quá trình cảm
nhận hiện thực Cũng có lẽ chính vi thể má tác giá chưa có sự quan tâm mớ rộng đến tất cả những, từ ngữ chí cảm giác khác dé có n
cái nhìn khải quát, toản diện
về nhóm từ ngũ nảy, tác giả cũng phân biệt từ chỉ câm giác với những từ ngữ chỉ thuộc tính của sự vật hiện tượng, đủ không ít những từ ngữ chỉ thuộc tính oó liên
quan trực tiếp đến căm giác vả hoạt động của các giác quan
Đỗ Thị Hằng |40|, dã xác dịnh An dụ bổ sung là hiện tượng chuyển nghĩa
trong phạm vị trường ng]ữa cảm giác Tác giã để cập tới trưởng nghĩn căm giác bao
gôm: nhìn, nghe, ngữi, nếm, sở, chỉ ra nét nghĩa cœ bản của các hoạt động cảm giác
xảy cũng như hai phương, diện kết hợp các nét nghĩa của chúng: cách kết hợp bình
thường (Ví dụ: Nghe+ âm thank+ nghĩa biểu miệm) và cách kết hợp không bình
thường (Ví dụ: Nghet âm thanh— hiệu quả của khứu giác ) Từ đó, tác giả hướng, tới đối tượng nghiên cứu là những kết hợp nghĩa bắt thường, là sự chuyến nghĩa lâm thời trong ngũ cảnh sử đụng, không giống với sự chuyến nghĩa trong cấu tạo từ
xnởi, nhằm tạo ra những cách điển đạt tỉnh tế, mới lạ, gây cắm giác bất ngờ, thủ vị, dem lai cho cảm xúc sự chuyển dỗi linh hoạt, từ dó mỡ rộng không gian nghệ thuật
và nâng cao tư đuy nghệ thuật, đỏ chính là ấm dụ bổ sung Có thế nói, trong công
trình này, tác giả đã đê cập khả toàn điện vẻ hình thải- câu trủc- ngữ nghĩa của ân
dụ bổ sưng, qua ngữ liệu thơ văn Việt Nam từ 1930-2006 dưới góc độ tụ từ học Tác
giả pọi những từ như: nghe, nhìn, ngữi, nếm, sở là động tứ cảm giác [40, 62], chia
cam giác xúc giác thành hai loại xúc giác (những câm nhận qua lan da ubu rat, bồng, nhẫn, sân, ráp ) và cảm giác cơ thế (những cảm nhận như nặng, nhẹ, say ), tác giá cũng gọi tên một loại cám giác chung đỏ lá cám giác tổng hợp [40, 70] Tuy
34
Trang 38vay, cong trinh mới chỉ tập trung nghiên cứu ân du chuyên đổi cam giác như là sự
kết hợp của hai hay nhiều từ ngữ chỉ nhímg cỗm giác si ra từ những bung khu
câm giác khác nhau từ góc nhịn tu từ học mà không đặt vẫn đẻ nghiên cứu về nhóm
từ ngữ chỉ cảm giác nói chung, cũng như không xem xét sự phát triển ngữ nghĩa của
chúng dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học tí nhận
Cũ lẽ bài việt Vài nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác của Nguyễn Vân Phố 190] là một trong ít công trinh đẻ cập trực tiếp tới nhỏm từ chỉ cảm piác trong tiếng
Việt Tác giả gọi chúng là vị đừ cảm giác và nêu nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác qua góc nhin chức năng luận, tác giá cũng đã đưa ra những nhận xét khái quát
vẻ từ ngữ trong, nhỏm này Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bải bảo, tác giả
chưa thể có những phân tích, phân leại sâu sắc và cụ thể các từ trong nhóm Ông
sếp chưng tất cả những từ chỉ cảm nhận của con người như cảm thdy, nghe
thấy vời những từ chí cắm giác cụ thể của con người như đau, xót, mới, đói, nóng,
lạnh, buốt, tức, rát, tổ, choảng, với tên gợi chung là vị từ câm gide
Củng quan lâm tực tiếp tới những từ chỉ cảm giác, Nguyễn Thị Phương
trong luận văn thạc sĩ Đặc trưng ngữ pháp- ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị cảm
giác trong tiẳng Vide [93] đã vận dụng lí thuyết ngữ pháp chức năng về cáo quá
trình tỉnh thân của Halliday dễ khảo sát và từm hiểu nhóm từ chỉ cảm giác trên hai
phương điện cân trúc ngữ phép và ngữ nghĩa Tác giả đưa ra một số kết luận: Vẻ ngữ pháp: các từ chỉ cảm giác thường là những từ có cẫu trúc đa từ loại, vừa là động
tí, vừa là tinh tir, chúng có khả năng kết hợp đa dang với nhiều yêu tổ bao gồm cả
thực bử (yếu tổ chi người, chí bộ phân cơ thể) và hư từ (các phỏ từ hơi, rất, quá, lắm, cực kì đặc biệt là dang; một sẽ tình thái từ hoặc yêu tổ chêm xen dẻ bộc lộ sắc thái biên cảm); từ chi câm giác giữ chức vụ ngữ pháp chính là vai trỏ vị tố trong
câu Về ngữ nghĩa: câu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ cảm giác bao giờ cũng gồm hai
thành tổ bắt buộc: yếu tổ tác động v: wu tổ tác động đóng vai trò là
nguyên nhân gây ra cảm giác, yếu tổ thứ hai là phản ứng của cơ thẻ trước tae dong
đó Tác giả cũng khẳng dịnh chuyển nghữa là hiện Lượng ngữ rig]ña nỗi bột nhất của xrhớm từ chỉ cảm giác, liên quan trục liếp đến hai nhóm từ gần gũi với nó: nhóm chỉ thuộc tính cứa sự vật, hiện tượng và nhóm biểu thị trạng thái tâm Ii, tinh cam [93,
35
Trang 39105-106] Luận văn đã có cái nhìn khá toàn diện về nhóm từ chỉ câm giác ở cả hai xuặi cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa theo góc nhìn ngữ pháp chức năng Đó là
những gợi ý cho chúng tôi khi tiếp tục lựa chon đổi tượng nghiên cứu là những từ
ngữ chỉ căm giác Tuy nhiên, tác già quan niệm “cảm giác là phản ứng bên trong, là
sự trả lời của cơ thể trước một kích thích, một tác dộng nào dó, vi thé, cảm giác
thuộc về chủ quan” |93, 29] Nhóm từ biểu thị câm giác, vì vậy, theo quan điểm của
tác giả chỉ giỏi hạn là những từ chuyên chỉ cảm giác của con người như: đzu, nhức, rát, buồn, xót, đối, mỏi còn những từ như ngon, ngọt, mặn, nhạt, nóng, lạnh là
những từ vốn chỉ thuộc tính của sự vật, không được
Vi thể, luận văn mới chỉ gidi hạn dỗi tượng nghiên cửu ở những từ biểu thị căm
p vào nhóm từ chí cảm giác
giác dược sinh ra do các tác động từ bên ngoài dến cơ thể: đau, rải, xói, ngửa, lúa,
mỗi, ở, tê và những từ biểu thị cảm giác được sinh ra do những rửm cần từ bên
trong cơ thể: đói, khát, thèm, no, đã, há Luận văn cũng mới dừng lại ở những nhận
định khái quát về sự chuyển nghĩa của những từ biểu thị cảm giác theo giới hạn Trghiên cứu mã chưa Hến hành muiêu tả toàn điện sự phát triển ngữ nghĩa cũng như lý giải cơ sở phát triển nghña của chúng dưới góc nhìn của ngĩt nghĩa học trí nhận
Liên quan đền những nghiên cứu riêng lẻ vẻ từ ngữ chỉ cảm giác, cùng thời
gian này, tác giã Nguyễn Văn Hiệp [43] nhắc dến vai trò của thị giác trong khi bàn về
khái niệm tỉnh thái, tác giả Nguyễn Tất Thắng |115] đã bàn riềng về vai trò của thị
giác trong ngôn ngữ đưới góc nhìn trí nhận luận Năm 2014, tác giả Bùi Minh Toán
cổng bổ bài bảo Từ ngữ chỉ mủi vị trong truyện Kiển [129] Cũng còn phải kế đến
những bài báo được công bổ rải rác trước đỏ hoặc gần đây như: tác giả DĐáo Thân với bài viết khả thủ vị về Nehia và sắc thái ngiềa cũa từ “ngọt”, Một sợi rơm vàng, tập 1
[194] Màu đồ và thơ, Một soi rơm vàng, tập 2 [105], Nguyễn Thi Bich Hop (2013),
Tiễu trường từ vựng biểu thị cảm giác của con người với món ăn và ý niệm con người (trong tắng Liệt và tiếng Anh) [51], Nguyễn Thị Liuyên (2013), Nghĩa của từ NGỌT"
tiếng liệt trong sự sơ sánh với den vi tương đương tiéng Anh (qua một số cuốn từ
diễn) |SS|: Phương thúc chuyển nghĩa Ân dụ của các từ chỉ vị trang tiếng Việt (201 3),
[56] Nguyễn Thi Hạnh Phương (2016), Sự phải triển ngữ ng]ĩa của từ ngon trong
tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân (so sanh voi don vị hương đương trong tiéng Anh)
36
Trang 40195}, Nguyễn Thị Hương (2016), Đổi chiếu nghĩa của từ “eat” trong tiếng Anh với từ
“ăn” trong tiếng Liệt từ góc độ ngữ nghĩa | 61 |
Tóm lại, cảm giác có vai trò quan trọng trong sự trị nhận cửa con người,
không có căm giác với sự hoạt động của 5 giác quan cơ bản, con người không thể trí nhận thể giới Nhóm từ ngữ biểu thị cảm giác vì vậy có thể nói là nhóm từ cơ bản
trong hệ thống từ vựng của mọi ngôn ngữ Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu từ trước tới nay trong tiếng Việt, gần như chỉ có nhóm đông từ chỉ hoạt động của các cơ
quan cảm giác với tên gọi vị từ trí giác hay động từ cảm nhận, từ chỉ hoạt động cảm quan được quan tâm chủ ý nhiều hơn, con nhém từ ngữ chí căm giác nói chung, dường, như it dược quan tâm nghiên cửu một cách hệ thông, Cho đến thời điểm hiện
tại, theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có một công trình nghiên cứu riêng nào đễ cập tới những từ ngữ biểu thị cảm giáo nói chung (khảo sát, phân loại, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa) dưới góc nhìn trí nhận luận, đặc biệt là xem xét sự phát triển ngữ nghĩa của chúng và tiển hành lý giải sự phát triển ngữ nghĩa ấy trên cơ sở
Tri nhdn (cognitive) 1a thuật ngữ liên quan trực tiếp tới một khuynh huớng lí
thuyết chung, xuất hiện trong tật cả các khoa học xã hội và nhân văn trên thê giới
vào riưững nấm 70 của thê kỉ 20, đó là Khoa hoc iri nhan (cognitive sciense) Khoa
học trí nhận bao gém rất nhiều ngành như triết học, tâm lí học, ngôn ngữ học, khoa
học thân kinh, khoa học xuáy tính, nhân học Khoa học trị nhận tập trung nghiên
cứu hệ thông ÿ niệm và các quá trinh xử lí thông tin cũng như các hệ thông biếu
hiện trí thức và các nguyên lí tổ chức khả năng tri nhận của con người với một cơ
chế thống nhất trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chúng [113, 6]
Tác giá Lý Toàn Thắng cho rằng trí nhận theo nghĩa rộng dược hiểu là
“một hệ thống những khả năng và quá trình tĩnh thân của cơn người liên quan
đêm trị thức như: tr giác, ngôn ngữ, chú ý, kí ức, suy H, ra quyết định, giải quyết vẫn để, tư duy, học tập, đôi khi tủy theo tác giả, có thể kế thêm cả xúc cám”