1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân

202 3 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Phát Triển Ngữ Nghĩa Của Những Từ Ngữ Chỉ Cảm Giác Trong Tiếng Việt Trên Cơ Sở Nghiệm Thân
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh Phương
Người hướng dẫn Nguyễn Văn Hiệp
Trường học Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Nghiệp Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 2,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiện cửu - 16 thống hóa những vẫn đề lý thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên cứu: sự phát triển ngữ nghĩa; nghiệm thân và những khái niệm của ngôn ngữ học trị nhận liên

Trang 1

TRUONG DAI TIQC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN

NGUYÊN THỊ HẠNH PHƯƠNG

SỰ PHÁT TRIÊN NGỮ NGHĨA

CỦA NHỮNG TỪ NGỮ CHỈ CẮM GIÁC TRONG

TIENG VIET TREN CO'SO NGHTEM THAN

LUAN AN TIEN SI NGON NOU HOC

Trang 2

` ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI a

TRUONG DAI TIQC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN

NGUYÊN THỊ HẠNH PHƯƠNG

SỰ PHÁT TRIỂN NGỮ NGHĨA CA NHỮNG TỪ NGO

CHỈ CẮM GIÁC TRONG TIẾNG VIỆT

TREN CO SO NGHIEM THAN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62 22 02 40

LUAN AN TLEN Si IN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG ĐÁN KHOA HỌC

G5 1S Nguyễn Văn Hiệp

Tà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là oông trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu

được sử dụng trong luận án có xuất xứ rõ rằng, Những số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bổ trong bat ky

công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hạnh Phương

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Trý do chọn để lài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đồi lượng, phạm vi và nguồn ngữ héu nghién orm

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Những dóng góp mới của luận án,

6 Bồ cu của luận ám

Chương 1: TONG QUAN TINH HINA NGHTEN CUU VA COSO LY T VAN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa từ và sự phat triển ngữ nghĩa của từ

1.1.1.1 Những nghiên cứu trên thể giới

1.1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2 Tình hình nghiên cửu về nghiệm thân (embodiment)

1.1.2.1 Những nghiền cứu ở ngoài nước

1.1.2.2 Những nghiền cứu ở trong nước

1.1.3 Tình hình nghiên cửu về từ ngữ chí cảm giác trong tiếng,

1.2.1.3 Một số khái niệm của ngôn ngít học trí nhận liên quan đền trì nhận nghiệm thân

« Ý niêm, ý niêm hỏa; ân dụ ý niềm và hoán đụ ý niêm

+ Phạm trù và phạm trù hóa

Trang

ta

Trang 5

® Diễn mẫu, mạng tỏa tia và lược đỏ hình ảnh

« Khung, miễn trí nhận, không gian linh thần và pha lrên ý niệm

se Biến đổi nghĩa, sáng tạo nghĩa và sự điển giải

1.2.2 Từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt

1.3.2.1 Khải niệm câm giác, quá trinh câm giác

Chương2: KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ NGỦ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHÍ CẢM

GIAC TRONG TLENG VIET

3.3.3 Kết quả phân loại pham trủ từ ngữ chỉ cầm giác

2.3 Ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu trong tiếng Việt

2.3.1 Xác lập hệ thống từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu

2.3.1.1 Bộ tiêu chỉ

2.3.1.2 Danh sách từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu trong tiéng Vide

2.3.2 Miễu tả ngữ nữa của một số tỉ: ngữ chỉ câm giác điền mẫu Irong tiếng Việt

2.3.2.1 Nghĩa góc và ngÌữa phái sinh được ghỉ trong từ điển

2.3.2.2 Nghĩa khởi nguồn và nghĩa phát triển đùng trong cuộc sóng hằng ngày

3.4 Tiểu kết chương 2

Chương 3: CƠ SỞ NGHIỆM THÂN CHO SỰPHÁT TRIENNGU NGHĨA

CÚA TỪ NGỮ CHÍ CẮM GIÁC ĐIÊN MẪU TRONG TIENG VI it

3.1 Dẫn nhip

3.2 Cơ sở trị nhộn nghiện t than cho sw ve phat triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm

giác điển mẫu

3.3.1 Mô hình trí nhận khái quát các miễn NGUÔN- ĐỈCH của sự phát triển ngữ

Trang 6

nghĩa của từ ngữ chí cảm giác

3.2.1.1 Mỏ hình tổng quát chiếu xạ trong ấn dụ ý miệm (A2YN)

3.2.1.2, Mé hinh chiếu xạ ADYN từ miễn nguồn cảm giác sang các miễn đích chỉnh

3.313 Một số ADYN tử miễn nguồn cảm giác

2 Diễn giải cụ thể cơ sở trí nhận nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghị của

từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu

3.3.2.1 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của CHỎI, LOA

3.2.3.2 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của DIÚC, Ù

2.3.3 Cơ số nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của TỊT, NG.AT

4 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của NGỬA, XÓT

3 Cơ sở nghiệm thân cho sư phát triển ngĩt nghĩa của NGẮN, TỢM

2.8 Cơ số nghiêm thân cho sự phát triển ngữ nghữa của SAY, CHOÁNG

29 Cơ ö nghiệm thân cho sự phát triển ngữ ngHữa của ĐỒ, CÔNG, NGẮN,

3.2.2.10 Cơ sở nghiêm thân cho sự phát triển ngữ aghia cia ON, RE

3.2.2.1 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ ngiữn của THƠM, TAKH

3.2.3.12 Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghữa của ÊM, TRƠN

3.2.3.13 Cơ sỡ nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của NGON, CHUA

32 .3 Mô hình tỏa tia ý niệm biểu hiện qua mang lưới phát triển ngữ nghĩa của một

số từ ngữ chỉ căm giác điển mẫu

3.3 Một số nét tư duy- văn hòa người Việt qua sự phát triển ngữ nghĩa của tử ngữ

Trang 7

DANH MUC BANG BIẾU TRONG LUẬN ÁN

Băng 21 Kết quả nhận điện những, nhỏn từ ngữ (theo gợi ý) KHONG a

ane =" | sade vé pham ti cam gide qua phiéu hoi

Bang 2.2 | Kết quả phân loại từ ngữ chí cảm giác $

Kết quả thông kê về số lượng và tỷ lệ theo tiêu nhóm của từ ngữ

chí cảm giác trong từ điển tiếng Việt

Bing 2A Sự thê hiện các tiêu chí chưng vẻ ngĩt nghĩa ở hai nhóm từ ngĩ 20

nhóm trong tiếng Việt

Bing 28 Ke quit hin điên 3 tù ngữ tiêu biểu của mỗi tiểu nhỏm qua 14

phiểu hồi TNgiữa góc và các nghĩa phái sinh được ghi trong từ điền của từ -

ngữ chỉ cảm giác diện mâu

Nghĩa khỏi nguồn và sự thể hiện của các nghĩa phát triển dùng =

trơng cuộc sống hỗng ngày của từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

Inh 3.1 | Mô hình tổng quát chigu xa NGUON- DICII trong ADYN s

lình32 Mô hình chiên xạ từ một miễn nguễn cảm giác sang miễn đích là %

các cảm piác khác

lEl:33 Mô hình chiều xe từ Tội miễn nguễn câm giác sa rriển đích là %

midn tam i, tinh cdma

a3 se s ‘es aut » cầu trúc ý niệm/câu trúc ngữ nghïa/mô hình 126

Trang 9

MOT SỐ QUY ƯỚC VIET TAT

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngơn ngữ học trì nhận (Cogniive Tảnguisties) (XNHTN) là một khuynh

Hưởng mới của ngơn ngữ học hiện đại, đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của

nhiêu nhà nghiên cứu ngân ngữ học thẻ giới, trỏ thành một trong những điểm nhân của ngơn ngữ học thể giới ở giai doan hiện nay Vi vậy, áp dụng lí thuyết này, với hệ khải niệm vả phương pháp của nĩ, để nghiên cửu về tiếng Việt là việc lắm cân thiết

và hữu ích

Trong NNHTN, nghiệm thân (ernbodimenf) là một khái niệm võ củng quan

trọng Nến ngơn ngữ học truyền thống cho răng ngơn ngữ mở ra cảnh cửa cho ta đến với thể giới khách quan quanh ta, thì theo quan điểm của NNHTN, ngơn ngữ lại là cửa số để đi vào thể giới tính thần, tri tuệ của con người, là phương tiện để kham pha

những bí mật của các quả trình tư đuy Bỏi lẽ, các biếu hiện ngân ngữ phản ánh cach

sơn người tư duy Hệ luận lả tư dưy cơng như ngơn nạữ dêu mang tính nghiệm than

và những trải nghiệm mang tính nghiệm thần là cơ sở cho sự phát triển ngữ nghĩa

trong ngồn ngữ

1.2 Vén tir vung hing ngày của tiếng Việt cĩ vơ số những trường hợp minh:

Tiọa cho giã thuyết nghiệm thân Trong đĩ, sự phái triển stgữ nghĩa của những tù ngữ chí sự trải nghiệm cảm giác kiểu như trải nghiệm vị gide ngon wong Mon dn nay ngọn đền ngon trong cách sử dụng Diễm vậy là ngon rồi ; trải nghiệm cảm giác

khửu giác bắc trong Aùi hoa này hắc đên hẳe trong cách sử đựng Cá ấu bác lắm ; hay trải nghiệm cảm giác của thị giác zmẻo trong Chiếc hộp bị méo đến méo trong, cách đùng Sự thật đã bị bĩp mĩo; Su nghĩ của nĩ rất máo mĩ v v khiển chúng tơi Thực sự quan tâm và tuuốn tìm hiểu sâu hơn dé lí giải về sự phát triển ngữ nghĩa của

chủng trên cơ sở nghiệm thân vì theo giá thuyết nghiệm thần của NNLITN, chỉnh sự

trải nghiệm của con người là cơ sở cho những ấn dụ như vậy Nghiệm thân vi thế

khơng phải là một giả thuyết thuần tủy mang tính chất triết lý, siêu hành, mà là dựa trên những dẫn chứng thực tế cĩ được trong ngơn ngữ Qua kho sát sự phát triển ngữ

Trang 11

nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt, chúng tôi mong muốn góp phan lam rỡ hơn vẫn đề này,

Với những lí đo trẻi

chúng tôi lựa chọn vẫn để: “Sự phái triển ngữ ngiữa của những từ ngữ chỉ cm giác trong tiếng Việt trên cơ sử nghiệm thân" làm đề tải

cho luận ám

2 Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mue dich nghiên cứu của luận án là đúng lí thuyết nghiệm thân cũng

chur Hi thuyết của NNITTN nói chung làm cơ sở để lí giải cho sự phát triển ngữ nghĩa

của từ ngữ trên ngữ liệu những tử ngữ chí căm giác trong tiếng Việt Qua sự diễn

giải cụ thể về cơ sở nghiệm thân cho những con đường phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ cảm giác, luận án hướng tới việc góp thêm tiếng nói khẳng định năng lực giải thích của NNHTN Ngoài ra, luận án cũng bước dầu dễ cập lối trí nhận vừa

mang những nói chung đựa rên đặc trưng gắn với khả năng lrì giác của con người, vừa mang những rớt riêng gắn với đặc thù tư duy- văn hóa nguời Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiện cửu

- 16 thống hóa những vẫn đề lý thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên

cứu: sự phát triển ngữ nghĩa; nghiệm thân và những khái niệm của ngôn ngữ học

trị nhận liên quan dén nghiệm thân, tử ngữ chí cảm giác trong tiếng Việt

- Xáo định phạm trủ khái niệm nghiệm thân cùng như khái niệm /ở' ngữ chỉ cảm giác theo quan điểm của luận án

- Khảo sắt, thông kê, miêu tả ngữ nghĩa (trên cơ sở phân loại) những từ ngữ chỉ cảm giáo trong tiếng Việt Xác định danh sách những từ ngữ chỉ cảm giáo tiêu

biểu của các tiểu loại theo bộ tiêu chí điển mẫu

- Diễn giải sự phát triển ngữ nglữa của một số trường hợp điễn mẫu lrên cơ

sở nghiệm thâu, xây dựng rạng lưới ngữ nghĩa của chúng theo mô hình tổa tia

(radiality); bước đầu chỉ ra một số nét từ duy-vấn hóa người Việt được thể hiện qua

sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu trong tiếng Việt

Trang 12

3, Đấi tượng, phạm vi và nguằn ngũ liệu nghiên cứu

3.1 Dồi tượng nghiên cứu của luận án là sự phát triển ngir nghĩa của những,

từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thâu

3.2 Phạm vi nghiên cửu của luận án: Sau khi xác định phạm trừ tử ngũ chí

cảm giác theo quan điểm của luận án, chúng tôi tiễn hành thống kê, phân loại, cưng

câp một cái nhìn toàn cảnh về lừ ngữ chỉ cảm giác trong tHếng Việt như là một bức

mẫu (ở mỗi tiêu nhỏm) trong tiếng Việt cũng như sơ dé hoa mạng lưới ngữ nghĩa theo câu trúc tỏa tỉa của những từ ngữ điền mẫu này

3.3 Nguễn ngữ liệu nghiên cứu: Đề có thể bao quả hiện tượng đa nghĩa ngôn ngữ (hiện tượng một từ trong hệ thống có nhiều nghĩa) vá hiện tượng, đa nghĩa lời nói (hiện tượng các nghĩa của từ xuất hiện lâm thời trong hoản cảnh sử dựng cụ thể), chúng tôi tiễn hành khảo sát ngữ liệu không chỉ qua nguẫn khách quan trong tir điển mã côn mổ rộng trong ngôn ngữ tự nhiên hằng ngày Cụ thế:

Một là, khảo sát, thống kẻ ngữ nghĩa của những từ ngấữ chỉ cảm giác trong,

tiếng Việt qua Tử điển tiếng Viét (Hoang Phê chủ biên (2011), NXE Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học, H.) Hai là, tiến hành thu thập mẫu qua nhiều nguồn: quan

sat trực tiếp, mạng xã hội, internet, khảo sát qua bảng hồi [Phụ lục 2] với 150 phiếu

phát ra và thu về (30 phiêu của giảng viên Trường ĐHSP Thái Nguyên, 120 phiếu

của sinh viên vả học viên Trường DHSP Thai Nguyén)

Mục đích của việc thu thập mẫu qua nhiều nguồn là để có khả năng tiếp cận

xuột cách đây đủ nhật (cho đến thời điểm biện tại) các nghĩa phát triển trên thực tế

đời sống của tử ngữ chỉ cảm giác trong tiếng Việt, đáp ứng tốt nhát yêu cầu nghiên

sứu của luận án

4 Phương pháp nghiên cứu

41 Phương pháp miêu tã

Taiận án sử dụng phương pháp miêu tả để phân tích ngữ nghĩa, miều lả quá

trình ý niệm hỏa các pm trù tù ngữ chỉ cảm giác trong liễng Việt, miêu tà tgít nghĩa của những tử ngữ chỉ cẩm giác trong từ điển liễng Việt và trung cuộc sống

Trang 13

hẳng ngày, phương pháp nảy cũng dược sử dụng dé phân tích, điển giải cơ sở trí nhận nghiệm thân của những từ ngữ chỉ cảm giác điển mẫu

Cụ thể những thủ pháp giải thích bên ngoài và những thủ pháp giải thích bên trong của phương pháp miều tâ được luận áu sử dụng gồm có:

e Những thủ pháp giải thích bên ngoài

- Thủ pháp thống kẻ, phân loại: sử dụng đề thông kê, phản loại phạm trủ từ ngữ chỉ cầm giác trong tiếng Việt thành các tiểu nhóm

- Thủ pháp phân tích ngữ cảnh: trong chừng mực nhất dụnh, luận án sử dụng thủ pháp này để phản tích những yếu tố thuộc vẻ ngữ cảnh văn hóa và ngữ cánh tỉnh

hung để nhận biết những con đường phát triển ngữ nghĩa trên cơ sở trí nhận

nghiệm thân những từ ngít chỉ câm giác trong tiếng Việt

« Những thủ pháp giải thích bên trong

- 'Thũ pháp phân tích ý niệm (phân tích ngữ nghĩa): sử dụng để nhận điện,

phan tich các thuộc tính cơ bản thuộc về ý niệm của phạm trủ từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng, Việt

~ Thủ pháp nội quan: đây là thủ pháp đặc trưng cho phương pháp nghiên rửu

của ngôn ngữ học trí nhận; sử dụng đề suy luận, phan đoán, điễn giải cơ sở trị nhận

nghiệm thân của những trải nghiệm cảm giác được biểu đạt qua sự phát triển ngữ

Trghữa của những từ ngŒ chỉ cảm giác trong Hẻng Việt

43 Củc phương pháp nghiên cứu thực tiẫn

Đề mở rộng phạm vị khảo sát tư liệu, chúng tôi sử dụng những phương pháp

nghiên củu thực liễn như quan sát trực tiếp, thu thập ngữ liệu trên imiernel, man xã hội và khảo sát qua bảng hỏi Kết quả thu dược giúp chúng tồi có sự nhận biểu về quan diễm của số dông với những vấn dẻ liên quan dén déi tượng nghiên cứu, dây

là một kênh tham khảo hữu ích cho luận án

4:8 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Luan án không thuộc mã ngành so sánh đổi chiếu, vi vậy, phương pháp so

sánh đổi chiếu không phải là phương pháp chính của luận án Song trong phạm vi

có giới hạn, hiận án cũng bước đầu so sánh đối chiều sự phát triển ngữ nghĩa của 1nột số từ ngũ chỉ câm giác trong Lồng Việt và tử ngữ tương đương trong tiếng Anh

Trang 14

với mong muốn trên cơ sở dó, nhận thây rõ hơn phản nào đặc trưng tư duy- vẫn hóa của người Việt để trong tương lai, cỏ thể tiếp tục mở rộng dé tai theo hướng nghiên

cứu này

5 Những đóng góp mới của luận án

- Về li luận Góp phần củng cỗ và làm rõ thêm một số vấn đẻ h thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt là vai trò của giả thuyết nghiệm thản, từ đỏ góp phan chimg minh va khang định năng lực giải thích ngữ nghĩa của ngôn ngữ học trí

nhận Mặt khác,

tên khai nhiệm vụ nghiên cứu, chứng lôi phải xác lập một quan

qua việ

niệm về từ ngữ chỉ cảm g ty dựng khái niệm từ ngữ chỉ cảm giác, góp

thêm tiếng nói trong việc xác đt phạm trù bừ ngữ chỉ cảm giác Irong tiếng Việt và

sự phát triển ngữ nghĩa của chúng, lĩnh vực dường như chưa được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm théa dang,

- Về thực liển: Kết quả nghiên cứn của luận án sé được ứng dụng để giải thích con đường chuyển nghĩa của nhỏm từ ngữ chỉ cắm giác trong tiếng Việt nói riêng, giải thích sự phát triển ngữ nghĩa của từ ngữ nói chung; 14 tai liệu tham khảo him ich dé day học ngữ văn trong nhà trường cũng như để dạy tiếng Việt cho người

THƯỚC IgOài

6 Bễ cục của liận án

Ngoài phần Mở dẫu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án

gm 3 chương:

- Chương L: Tổng quan tỉnh hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận

- Chương 2: Khảo sát và miêu tả ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác

trong tiếng Việt

- Chương 3: Cơ sở nghiệm thân cho sự phát triển ngữ nghĩa của những từ

Trgữ chỉ cầm giác điển mẫu trong tiếng Việt

Trang 15

Chương 1

'TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu vỀ nghĩa từ và sự phát triỀn ngữ nghĩa của tử

Vấn dễ ngữ ngiữa từ xưa cho đến nay luôn là vẫn đề nhận được sự quan lâmt

đặc biệt không chỉ cũa các nhà nghiên cửu ngôn ngữ học mã còn của các nhà lô gic

học, các nhà triết học ngôn ngữ Nói riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ học, hầu như không có một công trinh nghiên cứu ngôn ngữ nảo lại không it nhiều dễ cập tới nghũa Vì với Lư cách là một hệ thống tín hiệu đặc biệL, chức năng tối thượng của ngôn ngữ chính là chúc năng biểu đạt nghĩa nên đà có đặt trựng lãm nghiên cứu hình thức, cẩu trúc của ngôn ngữ tử cũng không thể bỏ qua mặt nội dưng của nó Béi vay, trong phan nay, chúng tôi chỉ có thể điểm lại một cách sơ lược về vẫn đề

xrghiển cứu ngữ nghĩa trêu thế giới và ở Việt Nai

1.1.1.1 Những nghiễn cúu trên thể giới

Trên thẻ giới những ý trởng về nghĩa của từ cũng như biên đỗi nghĩa từ đã

được đề cập từ rất sớm trong những công trình của các nhà triết học cễ đại và tiếp tục được duy trị trong suốt thời kì tamg đại Những nghiên cứu biển đổi nghĩa này đã

dược dây lên một bước mới khi thuật ngữ ngữ nghĩa học từ vựng (somasiolosy) được

đề xuất |69, 5| Thuật ngít này bãi nguồn từ lư tưởng trong những: bài viết về ngít

nghĩa tiếng Latin vào năm 1825 ở Dức của Reizig Berary và được học trò của ông là

Fridrich Haase tap hop lại, xuất bán năm 1839 với tên goi Semasiology Ổ Anh, người có công dầu trong việc thiết lập nên tảng khoa học ngữ nghĩa 1a Benjamin

số bài nghiên cứu Ngoài mm, phải k công trình

THưmplưey SmuarL với một

Metaphysical Etymology của Horne Tooke xuất bản năm 1850 cũng với tên gọi

Semasiology, vv Tuy nhiên, phải đến Michel Bréal, voi công trinh Essai de

Sémantique (Science des signification), nim 1877, mới được xem lả người di tiên phong trong nghiên cứu khoa học ngũ nghũa Dù công trình của M Bréøl ra đời sau, nhưng được đánh giá là công trình “đầu tiên xác lập ngữ nghĩa học như một bộ môn +khoa học nhãn văn” [122,7] Như vậy, có thể nói, ngữ nghĩa học đã được manh nha

trong các công trình triết học từ thởi cỗ đại và được khỏi đầu bởi những tư tướng,

Trang 16

nghiên cứu ngữ nghĩa của Reizig Berary và sau nảy chính thức tạo thành một xu

thưởng nghiên cứu phát triển ranh trong hai thập kỉ cuối của thể kỉ XTX, được nhiều người hưởng ứng vả phát triển, tiêu biếu là Fridrich Haase, A Darmester ma đặc

tiệt là M Bréal, tac gid voi céng trinh nghiên cứu được coi là đã đánh đấu mốc ra

đời của ngữ nghĩa học như một khoa học nhân văn Đây cũng là diễm mốc trong

lich sử nghiên cứu ngĩt nghữa học

Tac gid Lê Quang Thiêm [122, 13] đã khái lược rất rõ về 3 thời kì phát triển

trong tiền trình ngữ nghĩa học De là thời kì điển cấu trúc luận, thời kì cầu trúc luận

và thời ki hậu cấu trúc luận Cụ thể

+ Thời lạ thứ nhất: ngữ nghĩa học thời ki tiền cầu trúc luận dược đánh dâu từ

XI kéo

sự ra đời của công trình của M Bréal (da nhắc Lới ở trên) vào cuối thể

đài cho đến 20 năm đầu của thể kỉ XX, đặc biệt phát triển ở Tây Âu (3 nước tiểu biểu: Pháp, Dức và Anh) Ở Phdp, néu M Lréal chi yến tiếp cận ngữ nghĩa theo

hướng tâm lí học, A Meillet theo hướng tiếp cận xã hội học, L Darmesteter theo Thưởng sinh học thì Ch Bally theo hướng tụ từ học Nghiên cửu ngữ nghĩa lập trưng

vào nghĩa của rừ sự biến đối nghĩa và quy luật tương tác tâm lí, tác động xã hội

cũng nhu tu từ của sự thay đối nghĩa của từ với tư tưởng triết học duy l Ở Đức, ngữ nghĩa học thời ki này dược gọi là ngữ nghĩa học lịch sử vi tư tưởng lịch sử chủ phối mạnh mẽ những phân tích, diễn giải các hiện tượng nghĩa Phạm vì nghiên cứu

Tập trung vào nghĩa từ vựng, chú trọng nghiên cứu lịch sử của sự thay đối nghĩa,

nguyên nhân của biển đối nghĩa Những nhà nghiên cứu tiêu biếu là K Reisig, A Benary, 1° LHaase, ̰ Ileerdegen Ở Inh, ngữ nghĩa được nghiên cứu một mặt theo

quan diễm lịch sử tiếp nhận từ Đức, chú trọng vao binh diện thay dỗi và nguyễn nhân thay đối nghĩa từ với những tên tuổi như: H Took, Benjamin H Smart, Jamas

Munay ;, mặt khác là đảo sâu và có nhiều kiến giải về các bình điện tín hiệu học

với những nhá ngữ nghĩa- kí hiệu học nổi tiếng Ch Ogden, I Richards, Ngữ nghĩa hoc Anh cũng lần dâu tiên dễ

at quan niệm triết học kinh nghiệm

+ Thời lQ thứ 2: ngữ nghĩa học thời kì cấu trúc luận được tính tù khoảng sau

Trhững năm 20 cia thé ki KX với đầu mốc là sự ra đời của GHáo trình ngôn ngữ học đại cương của È, de Saussure, công trinh ngôn ngữ học lí thuyết được xem như đặt

Trang 17

nên móng cho ngôn ngữ học cầu trúc Tuy nhiền, phải từ sau 1960 dén 1980, những công trình tiêu biểu cho ngữ nghĩa học cầu trúc (phân biệt với ngữ nghấa Liên câu trúc) mới thục sự xuât hiện Ở thời kì này, thành tựu ngíf nghĩa học câu trúc, ngít

nghia hoc theo quan điểm tin hiệu học chủ yêu là đáng góp của ngôn ngũ học Châu

Âu với những tên tuổi như: B Guiraud, B Potticz, K Baldinger, G Lecch, 7

Tuyons; một nhánh ngữ pháp tạo sinh của N Chomsky như: F Kal, Ch J Filmore

và đặc biệt, đáng lưu ý ở thời ki này là khuynh hưởng nghiên cứu nghĩa gắn với logie toán và tâm lí thục nghiệm Dây cững là thời kì ra đời và phát triển của ngữ

nghữa học hình thức hay ngữ nghĩa học logic với những tên tuổi như: 13, Rusell,

G.Erege, R Montogue

+ Thời kì thứ 3: ngữ nghĩa học thời kì hậu cấu trúc luận được bắt đầu vào khoảng cuối những năm 50 của thế kỉ XX với những đầu hiệu của cuộc cách mạng, tri nhận llưởng ngữ nghĩa học trị nhận xuất hiện từ cuối những năm 60 và phát triển những năm gân dây có thể coi là hướng mới đặc trưng cho ngữ nghĩa học hậu câu trúc luận với những công trình gắn hẻn tên tuổi của các tác giả Œ L.akolT và M

Tohnson, G Lakoff, G Lakoff va M Tumer

Sự chuyển nghĩa của từ là một trong những vấn dé được đặc biệt quan tâm

trong nghiên cửa ngữ nghữa học Có thẻ kẻ dến ba klruynh hướng chính trên thể giới

trong nghiên cứu hiện lượng chuyển ngiữa: (1) Khuynh hướng nghiên cứu theo

logic học mà Paul là người khới xướng Những quan niệm của ẻng được thể hiện

qua bảng phân loại logic học cáo hiện tượng chuyến nghĩa, trong đó chủ ý đến so

sánh nội dang khái niệm trước vả sau khi biển đổi, đẳng thời nêu lên mối quan hệ

logic giữa chúng, (2) Khuynh hưởng nghiên cứu theo tâm lý học mà dại diện là

Wundt Khuynh hướng này giải thích hiện tượng chuyến nghĩa căn cứ vào đặc trưng,

tâm lý với phương châm việc nghiên cứu sự chyển nghĩa cuối cùng, phải vĩnh viễn quy thánh nghiên cửu tâm lý, (3) Khuynh hướng nghiên cửu theo lịch sử do

Wellander đứng đầu Họ quan niệm sự chuyển hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sứ,

và chỉ trưởng thành một cách vừa ý khi được chứng thực trong quả trình thực

Với quan niêm này, họ chủ trọng đi tìm sự trả lời cho câu hồi ý nghữa mới của Lừ

nấy sinh như thể nào trong lịch sứ Lio cho rằng kết quả của quá trình chuyển nghĩa

14

Trang 18

được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ (102, 3-5] Có nhiều nguyễn nhân của sự

chuyển nghĩa được để cập tới như đặc điểm thuộc vé bau chất của ngôn ngữ và tâm

lý của người sử dụng, yêu tả xã hội, phong tục tập quán; sự tái cầu trúc ngôn ngữ

trong quá trình học tiếng của trẻ hay sự thay đối xã hội

1.1.1.2 Những nghiền cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ngữ nghĩa học còn là một chuyên ngành chưa có chiêu đây số

với nghiên cửu ngữ âmu, từ vựng ngữ pháp Sự xuất hiện bạn đầu của ngữ nghĩa học

6 Việt Nam gắn liên với từ vựng học Vì vậy, những trí thức ban đầu của ngũ ngÌña thọc chủ yếu được để cập đến trong những giáo Irình cơ sở về từ vựng học Người đặt nên móng cho ngành từ vựng học ở Việt Nam là tác giâ Nguyễn Văn Tu với

cuỗn Từ vựng học tiếng Uiệt hiện đại (1968) và cuốn Từ và vẫn từ tồng Việt (1916) Tiếp đến là tác giả Đã Hữu Châu với cuỗn 7 vựng- ngữ nghĩa tiếng Vist (1981);

tác giả Nguyễn Thiên Giáp với công trình Từ vựng học Hắng Việt (1985) [ đẫn theo 69], Nhin chưng, các tác giả đã quan tâm nghiên cứu bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ vựng, các quan hệ vẻ nghữa, đặc biệt là đa nghĩa, hiện tượng, chuyển noghia, trải nghĩa của từ Tuy nhiên, những chuyên khảo riêng vẻ ngữ nghĩa học thì còn rất hiểm Năm 1998, cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của tác giả Đỗ Hữu Châu ra đời, lần đầu tiên ở Việt Nam, các vận đẻ lí thuyết ngữ nghữa học được giới

thiệu |đân theo 34, 21] Tiếp theo dó, ngữ nghĩa hoc đã từng bước được quan tâm

như một bộ môn độc lập với sự xuất hiện của một số công trình như Cơ sở øgỗn

ngữ: học của tác giá Nguyễn Thiện GHáp |31], cuồn Ngữ nghĩa học của lắc giả Lê Quang Thiém [122] cũng, dã được biên soạn như là rnột giáo trình chuyên sâu, giới thiệu một cái nhìn loàn cảnh về ngữ nghĩa học với các trì thức chuyên ngành, các trường phải, khuynh hưởng và phương pháp tiếp cận riêng, theo đỏ ngữ nghĩa học chỉnh thức được xác lập với tư cách là ruột bộ môn ngôn ngữ học độc lập, cuỗn Ngữ

ngiấu học- Từ bình diện hệ thông đến hoạt động của tác giả Đỗ Việt Hing phat triển từ giáo trình trước đó giữa của tín hiệu ngôn ngữ (Từ bình điện hệ thông đến

hoạt động) [55] đã có chương khái quát về ngữ nghĩa học cũng như triển khai ngít nghĩa trên cả hai bình diện hệ thống và hoạt động Có thể nói, ngữ nghĩa học đã từng bước được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam tiếp cận và vận đựng

trong nghiên cứu vẻ tiếng Việt Với mơng muốn “là một trong những cách làm thiết

Trang 19

thực để thúc dây sự phát triển cũa ngữ nghĩa học ở Việt Nam nói chung, đặc biết là

ngữ nghĩa học ngữ pháp nói riêng” |7, 8|, tác giả Nguyễn Văn Hiệp địch cuỗn Ngữ

nghĩa học dẫn luận của Tolm Lyons va tiéng Việt, Đây là cuỗn dẫn luận ngữ nghữa hoc dau tién của nước ngoài được chính thức giới thiệu ở Việt Nam, cung cấp mội

gái nhìn bao quái, cơ bản về ngữ nghĩa trên mội phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng,

ngữ nghĩa của câu và ngữ nghĩa của phát ngân Phạm Văn Lam gân đây cứng dịch cuốn Các li (huyết ngữ nghĩa học từ vựng của lác già Dnk Geeraerts [29] Cuốn

sách như một công trình mang tinh tống quan vẻ các khuynh hướng lí thuyết chính

trong ngít nghĩa học từ vựng Có thế nói, tất cả những công trình kế trên đá góp phan quan trọng trong việc đưa trị thức tổng quát về ngữ nghĩa học đến với khoa

học ngôn ngữ ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu biển đổi nghña trong Hỗng Việt và một số khia cạnh liên quan cũng đã được đề cập trong những công trình của các tác giả: ITaàng Phê, Iloàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dân, Lý Toản Thắng, Hà Quang Năng, Nguyễn Đức Tên,

Phạm Liủng Việt, Vũ Dửc Nghiệu, Nguyễn Văn Liệp Trước đó, trang cuốn 7i vựng

bạc tổng Liệt biện đại [132], táo giá Nguyễn Văn Tú đã dành một chương đẻ cập tới lý thuyết về biển đổi nghĩa, tập trung vào bán chất và nguyên nhân biến đổi nghĩa cũng, như phân lơại biển đổi nghĩa Tác giả Nguyễn Thiên Giáp trong cudn Nghia hoe Việt ngữ, dã

đánh mục 3 trong, chương 2 [34, 79] để nói về biển dối y nebia cua don vi tr vung, tac

giả cũng dễ cập tới nguyên nhân và cơ sở của sự biển dổi ngữ nghĩa Nhìn chưng, các

tác giả quan tâm nhiều đến hiện tượng da nghĩa, sự biên đôi nghĩa từ dược dễ cập theo quan điển truyền thống với sự chuyên đổi tên gọi: ân đụ, hoán dụ, mở rộng nghia va the hep nghia Gần dây, ruột số tác giả cũng dễ cập túi ân dụ ý mêm, hoán dụ ý niềm như là phương thức chuyên nghữa theo góc nhìn của ngôn ngữ học trí nhân Những vấn đề ngữ

Tphữa học nổi chưng, git nghia học tiếng Việt nói riêng trong những công trình trên là trí

thức quan trong gitp ching téi cỏ cải nhìn toàn cảnh vẻ ngữ nghĩa học nói chưưng cũng

xu triển klmi nghiên cứu về sự chuyên nghĩa trên ngữ liệu nhỏ Lù ngữ chỉ cảm giác

trong tiếng Việt theo góc nhìn của ngữ nghĩa học trí nhận

1.1.2 Tình bình nghiên cứu về nghiệm than (embodiment)

Trong ba thập kỉ gần đây, ngồn ngữ học trì nhận đã phái triển thành một trang những cách tiếp cận năng động và hập dẫu nhất của ngôn ngữ học lí thuyết và mô tả Rất

Trang 20

nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu vẻ lĩnh vục này dã ghủ dầu tên tuổi của những,

uh nghidn eda: 1én én thé gidi nbur T Tabny, R Langacker, G Lakoff, M Tohmsơri,

G Fauconnier, Ch Fillmore Viét Nam, khuynh hướng ngôn ngít học trí nhận chính

{hức được chủ ý kể từ khi cuỗn Ngôn ngữ học tri nhận- Từ lý thuyết đại cương đến

thực tiễn tiếng Liệt [109 của tác giả Lý Toàn Thắng dược công bố Trong cuốn sách tay, tác giả đã trực liếp giới thiệu về ngôn ngữ học tri nhận Nắm 3006, lac gia Tran

Vin Cơ trong cuỗn Aigôn ngữ học mi nhận (ghỉ chép va suv nghi) [11] da dé cap t6i xmột danh sách các hệ thuật ngữ của ngôn ngữ học trí nhận Năm 2011, với cuỗn Neon

điễn tường giải và đối chiều [14], tác giả 'Irần Văn Cơ đã thêm

ngit hoe trì nhận- 1

„một lần dưa ngôn ngữ học trị nhận dến gần hơn với dòng dao ban dọc Việt Nam qua

việc giải thích nghĩa của những (huật ngữ thường gặp trong ngôn ngữ học tì nhận

Ngoài ra, có nhiều bài viết đề cập tới nhiều phương điện khác nhau của ngên ngũ học trị nhận xuất hiện trên các tạp chỉ chuyên ngành, nhiều luận án đã được thục hiện theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học trí nhận

Trong số các khải niệm cơ bản của ngôn ngữ học trị nhận đã được giới thiệu,

có thuật ngữ nghiệm thân (embodwmen) Nghiệm thân được coi là một trong những

khải niệm cực kì quan trọng trong ngôn ngữ học trí nhận [45], là tư tưởng trưng tâm của ngôn ngữ học tri nhận 133, 211], la mét trong những đặc tính quan trọng nhất của sự trì nhận ð cơn người [112,15-16| bởi lẽ khái niệm này phản ánh rõ nhất sự

đối lập về quan điểm giữa cách tiếp cận của ngôn ngữ học trí nhận với ngĩt pháp tạo

sinh, đó là: nêu ngĩt pháp tạo sinh cho răng trị thức mà chúng ta có được về ngôn

ngữ là bằm sinh, dị truyền, được lập trình sẵn trong não thi ngôn ngữ học trị nhận lại cho rằng tất cá tri trức mà chúng ta có về ngôn ngữ là kết qúa của một quá tinh

tương tác lâu đải giữa cơn người với thê giới tự nhiên và xã hội, dựa trên những trải

nghiệm than thé eta ching ta

1.1.2.1 Nhig nghién ciru vé nghiém than & ugoai nước

Nói đến giả thuyết nghiệm thân (Embodiment Hypothesis) cling nhu trường,

phái Ngôu ngữ học trị nhận (Cognitive Linguistics), khong thé không nhắc tới công,

trình nghiên cứu gây tiếng vàng Àetaphor Te 1ie bụ cũa hai nhà nghiên cứu Œ

Lakoff va M Johnson [136] Lý thuyết mang tinh cach mang vé ADYN trong céng

Trang 21

trình nay chính là diém khỏi dầu cho một cuộc cách mạng lớn trong ngôn ngữ, là

‘bude đi đầu tiên trong việc nghiên cửu ngôn ngữ trong môi liên hệ với các ngành

khoa học khác Những luận điểm trung tâm trong lý thuyết về ADYN được hai ang phát hiện là: Tính hệ thông của các ADVN cũng nhù một số lượng các ADYN sử dụng chủ yếu các miễn nguồn lừ trải nghiệm cơ thể, các miễn nguồn thuộc

vo thé

xảy thực hiện phân lớn việc cầu trúc các khái niệm trừu tượng của con người

Với công trình này, giả thuyết nghiệm thân được coi là có xuất xứ từ sự khái quát hóa trong định hướng Ẩn dụ Với tư cách là một phương thức của tư đuy, các ăn đụ ý niêm có xu hưởng mô tA cái trừn tướng thông qua cái ou thé: “Ban đầu, chúng tôi đã gợi ý rằng có tỉnh định hướng trong Gn du, cb nghĩa là chúng (a

có thể hiểu dược một khái niệm này thông qua một cái khác Nói một cách cụ thể,

chúng ta muốn làm rõ các khái niệm không cu ff mơ hỗ (như những cải thuộc

về cảm xúc) thành những cái cụ thể hơn, có thể đỗ dàng mô tả hơn theo kinh

nghiệm của chúng ia” [136, 112] Công trình xác định rõ 3 nguồn cụ thế, làm cơ

nghiệm thân đã bao gồm trong đó sự nghiên cứu dựa trên cỗ cơ số trải nghiệm tiỏi

chung lẫn cơ sở nền lang 14 cơ thể người, cho dù những nghiên cứu nghiệm thân ban dau gắn liên với nghiên cửu về ADYN

Nam 1987 đánh đấu nhiều công trình nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận

có dễ cập lới nghiệm thân Theo tài liêu đã dẫn [142|, Tohmaon trong phần mỡ dẫu: The Body in the Mind (Co thé trong tam tri) (1987 xii- xiii) 44 tinh bày sảu phân

khác nhau vé bing chimg gid thuyét nghiệm thân, được hiểu là quy tắc ngữ nghĩa có

định hướng; Langacker [139] với lý thuyết về ngữ pháp wi nhận (lý thuyết được thủc đây bởi các mỗi quan hệ không gian, với tư cách lả những trải nghiệm cơ bản của con người) đã khẳng định sự quan tảm ngày cảng lớn dén vai trò của cơ thé

trong việc định hình ngôn ngữ và các cần trúc ý miệm nhưng; TakoiT trong

Trang 22

Woman, fire and dangerous things |137| da tiép tue những thành quả của ngôn

ngữ học trị nhận để đi đến hình thành và xây dựng khái mệm Kinh nghiệm luận (Experientialism) Ông miêu tñ chủ nghĩa hiện thực theo kinh nghiêm ở cốt lối của giả thuyết nghiệm thân dối lập trực tiếp với quan diém vẻ tính nhiều nghĩa trong, ngôn ngữ của triết học truyền thống: “mọi điều cấu thành kinh nghiệm thực tế hoặc tiềm lùng của cá nhân hoặc tập thé— thi không chỉ là quan diém, chuyén động vận động mà đặc biệt còn là sự hình thành bên trong về di truyền học của

sinh vat va ban chất các mỗi tương tác trong cd môi uùng vật lý lẫn xã bội" [dẫn

theo 142, 38] Như vậy, cho đến năm 1987, giả thuyết nghiệm thân đã vất phát triển và được mở rộng hơn nhiều so với nguồn gốc khiêm tốn của nó, vốn chí như

một sự tắng hợp về tính định hướng của ấn dụ

Sau đó, trong Philosophy in the Flesh, ở mục 6, Takolf chính thức ưa ra thuật ngữ Hiện rhực nghiệm thân luận (Embodied Realism) [138, 74] 4é phan biét với khách quan luận truyền thẳng Cũng trong công trình này, trước đó, ở mục 3 [138, 16], ông đã đưa ra hai khía cạnh như là những phát hiện cúa khoa học trí nhận

củng có cho giả thuyết nghiệm thân: (1) Lý trí cơn người lá một dạng của lý tri dang vật, một lý trí gắn bó chặt chế với cơ thế và những đặc thủ của bộ não chúng ta (2) Thân thể, nào bộ và sự tương tác của can người với môi trường xung quanh hing ngày cùng cấp nên tổng cho những cắm nhận của chúng †z rnột cách hoản toàn vô thức Cảm nhận của chúng ta về cải có thật dược khởi nguồn và cơ bản bị lệ thuộc

vào thôn thế chúng la, nhất là bộ phần cảm xúc và cầu trúc cụ thể của não bộ, nh

đó chúng ta có khã năng trí nhận, chuyến động và thực hiện các thao tác khác Với công trình nảy, ông chuyên hướng nghiền củu nghiệm than từ chỗ được hiểu rộng,

=như chủ nghĩa kinh nghiệm sang một phạm vi hẹp và sâu hơn, dỏ là cách thức mà

niên lãng cơ thể chỉ phối hình thức ngôn ngữ

Cũng đã xuật hiện những bải nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về nghiệm

thin va gid thuyét nghiém than Trén Tap chi Psychonomic Bulletin & Review, tac

“quan điểm nổi bật của trị nhận nghiệm thân cho

giả Margaret Wilson [148] viết

răng quá trình trị nhận dược bất nguồn từ sự sương đác của cơ thể với thể giới Và

có ý kiên rắng chủng †a đã tiên hỏa từ sinh vật có hệ thân kinh chủ yêu là đế đành

Trang 23

cho qua trình vận động và trí giác, và phản lớn các hoạt dộng trí nhận là mang tính

trực tiếp, có sự Lương tác trực luyến với môi trường” Mặc đủ vẫn dé nay nhận được

sự hưởng ứng ngảy cảng rộng lớn, nhưng thực tế vẫn có rất nhiêu tranh cãi Bài viết

'phân tích và đánh giá sáu quan điểm nổi bật nhất, đó là

(1) Trị nhận trong hoàn cánh xác định: được liễu một cách đơn giân là trì

nhận bị rằng buộc trong bối cảnh của môi trường thế giới thực, liên quan đến trí giác và hành động Đây cũng là nên tảng của trí nhận nghiệm thân Dù có thế còn

nhiêu tranh luận nhưng luận điểm trị nhận trong hoàn cảnh xáo định luôn lả luận

điểm mẫu chết đối với sự trị nhận của con người

(1) Trì nhận chịu áp lực về thời gian: Quan diễm này nhân mạnh dẫn trí nhận

trong lương lắc với thời gian thục của môi trưởng Ngày cảng xuất hiện thường,

xuyên hơn tuyên bỏ rằng các tác nhân trong hoàn cảnh xác định phải đối phó với

các khỏ khăn về thời gian

(3) Trí nhận dựa sào môi trường: Quan điềm này cho rằng, vì có những bạn chế trong khả năng xử lý thông tăm (vĩ như giới hạn ong khâ năng chú ý và bộ nhớ

làm việc) nên chúng ta khai thác triệt để mỏi trường để giảm khối lượng công việc

trị nhận Chúng ta bắt môi trường phải giữ thêng tin hay cũng cập thông tín cho

chủng ta, và chúng ta sẽ nhận thông tin đó khi cản

(4) Môi trường là mội phần của hệ thông trí nhận: Thông tìn giữa tĩnh thân

và thể giới rất nhiều và liên tục Nhận thức sâu sắc rằng sự tương tác giữa cơ thế và

xôi trường đóng vai trò quan trọng trong việc ha tro hoạt động trị nhận, một số tác

giả đưa ra khẳng định mạnh mnẽ: không chí bộ não thúc đẩy hoạt động trí nhận và trí nhận không chỉ là hoạt dộng, của tính thản, trí nhận bao phú toàn bộ tình huồng,

tương tác, bao gồm cA tinh thân, cơ thế và môi tường Ví môi trường là một phan

của hệ thống trí nhận nên chúng ta phải nghiên cứu tình huồng và trí nhận trong,

hoán cảnh xác định

(5) Trì nhận dành cho hành động: Quan diễm này cho rằng trì nhận thủc dây hoạt động vận động Người ta phát hiện ra rằng đầu vào thị giác không chỉ là để xây dựng biểu tượng liên trong của thể giới nhận thức để rỗi việc xử lí những biểu tượng nảy là công việc của lĩnh vực trị nhận cao hơn mả thực ra nó có thể kich hoạt, định

Trang 24

thưởng cho hoạt dông vận déng Chang han việc nhìn thấy một hình chữ nhật có hướng cụ thể tạo điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ năm bắt tiếp theo vả hệ

thống thị giác có thể tham giá vào chức năng vận động mà không nhát thiết hành

động ấy diễn ra ngay lập tức

(6) Tri nhận gián tiếp đựa vào cơ thể: Dây là quan niệm về sự trì nhận nghiệm

thân gián tiếp, là cách trì nhận ý tiệm hóa, có về như dược diễn ra tách rồi khỏi tuôi

trưởng Dù vậy, các hoạt động của tĩnh thân đều căn cử vào cáo cơ chế xứ lý cảm giác

và kiếm soát vận động trang sự tương táo với môi trường Trên thục tê, nhiêu hoạt

động trì nhận được cho là trừu tượng đã có sự vận động cảm gì ác theo cach bi mat

nảy Nói chung, chức năng của các nguồn vận động cảm giác này là mô phỏng một số

*khia cạnh của thế giới vật chất như mật phương tiện thế hiện thông tin và suy luận 'Mặc đù khia cạnh trì nhận nghiệm thân gián tiếp nảy ít được phủ ý hơn so với trí nhận

trong hoàn cảnh xác định , song bằng chủng ứng hộ đã tăng lên lặng lẽ trong nhiều năm Bởi những mê phỏng vận động cảm giác của các tỉnh huống bên ngoài trong, thực tế thực sự có liên quan rộng rãi dén Iri nhận của con người

Đánh giá những quan điểm nay, tac gia cho rằng ba tuyên bố đầu tiên và tuyên bồ thứ năm có một phần chính xác, chúng hữa dụng trong phạm ví khả th

Tuyên bỏ thử tư khá mơ hỗ và cân phảu bản luận nhiều thêm nữa Tuyên bê thứ sáu

ít được chú ý nhất trong các tải liệu về trí nhận nghiệm thân, nhưng thực tế lại là tuyên bố đáng để tham khão và co tinh thuyết phục nhật Tác giả khẳng định: có

một sự vận dộng dang dược tiến hanh trong khoa học trị nhận đẻ giao cho cơ thể một vai trò chủ chết trong việc hình thành nên tinh thần Theo truyền thống, các ngành khác nhan đã xem tinh than như một bộ xứ lý thông tin trừu tượng, sư kết nối của nó với thể giới bên ngoài gần như không có tầm quan trọng về mặt lý thuyết

Trong khi đó, những người đề xướng trị nhận nghiệm thân cho rằng: không phải là

tĩnh thân lâm việc trên các vẫn đề trừm Lượng, má là một cơ thể đời hỏi tính thân

phải thục hiện nhiệm vụ của mình Theo đỏ, tính thần phải được hiểu trong môi

quan hệ của nó và một cơ thẻ vật lý tương tác với thế giới Thay vì tâm trị hoạt động,

để phục vụ cho cơ thể, chúng ta nhận thay chính cơ thế hoạt động phục vụ lâm trí

Trang 25

Đặc biết phải nhắc tới tải liệu tổng hợp về khoa học trí nhận và trí nhận

ngbigm thin Oxford Handbook of Cognitive Linguistic [142] Với 50 chương được

viết bởi các chuyên gia trong lĩnh vục ngôn ngữ hẹc tri nhận, cuên sách đã để cập

đến một phạm vi rộng lớn, từ những khái niệm cơ bản cho tới những ứng dụng thực

†ế của lĩnh vực này, Ở chương 2 của cuốn sách, Tim Rolirer viết về nghiệm thân và

kinh nghiệm hiện (Embodimem and Experientialien), bao gồm 7 phẩm 1 Giải thiệu, 2 Các nghĩa cũa embođiment (7Öe senses oƒEmmbodimemi); 3 Nguôn gắc của giả thuyết nghiệm thân (Origins of the Embodiment [ppothesis), 4 Sw hinh thành

và mở rộng của giá thuyết nghiệm thin (/laborations and Lixtensions of the Embodiment Hypothesis), 5 Cac lap thức dương dại của giá thuyết nghiệm thân

(Contemporary Formulations of the Embodiment Hypothesis), 6 Cac clip dộ của

khumg li thuyét diéu tra (The ‘Levels of Investigation’ Theoretical Framework); 7 Ké&t luan (Conclusions), Cé thé néi, day 4 mét nghién ctru tổng hop về nghiệm thân

và giả thuyết nghiệm than

Ngay lời dẫu nhập của chương, Tim Rolrcr đá khẳng định rằng vận đề cơ

‘ban của ngôn ngữ là vẫn đề hiểu nghĩa và chia sẻ nghĩa, theo dé nghĩa không phải là

cái gì đó trừu tượng, mang tỉnh mệnh đẻ hoặc biêu tượng như truyền thống của triết học và ngôn ngữ học đã từng tin tưởng, mà chúng ta có thể nhìn nhận ngôn ngữ thơo cách nó đang được sử dụng trong thục tế Và mục đích chỉnh của ngôn ngữ

kháng phải là mồ tả khách quan thế giới nảy mà thay vào dé la dé giao tiép va chia

sẽ cáo trải nghiệm Ông nhân mạnh “Mộ! trọng ẩm mà con người nhận thầy có

nhiều ÿ nghĩa cần thiết phải nghiên cứu là nghiệm thân nhận thúc, nghiệm thân vật

lì và nghiệm thân xã hội, thứ dịnh bình và chế ngự sự diễn dạt nhiều ÿ nghĩa ” [142, 26] Trang phân 2 (Các nghĩa của nghiệm thân), Tim Rohrer đã khảo sát những,

cách thức mà thuật ngữ nghiệm thân được đưa ra bởi rất nhiều nhà nghiên cứu của

ngôn ngữ học trị nhận Ông khẳng dinh ring thuat ngit “embodiment” co thé được

sử dụng với it nhất 12 nghĩa quan trọng khác nhau liên quan dén nhận thức của chúng ta Đây là tổng kết của ông:

7.- Thuật ngữ “nghiệm thân” trong ngôn ngữ học trị nhận có nguồn gốc từ sự trìuhi

bày ban đầu của Lakoff va Johnson về phương chiều của quá trình cầu trúc hóa

Trang 26

1

an du Lakoff va Johnson cho rằng chủng ta thường phóng chiếu độc hướng

tên nguồn được tồi

nghiệm nhiên hơn đề hiển một miễn đích ít được trải nghiệm hơn Giả thuyết những mô hừnh sơ đỗ hình ảnh cửa sự hiểu biết đ từ một

nghiệm thân theo đó, được hiểu như là zmổt hạn lệ đối với phương chiều của quá

trình cấu trúc hóa dn dy, hay phương chiều của sự chiếu xạ an đụ

Giá thuyết nghiệm thin tong céch tinh bay ban đầu của Takof[ và Tohnson

cũng bao gôm sự khái quát hỏa về các loại miễn ý niệm căn bân thường

được sử dụng làm các miễn nguôn cho các ấn dụ ý niệm Nghĩa này được

giải thích rõ hơn trong “giả thuyết nên tăng” của Lakoff và Trner, rằng,

dựng trên cơ sở lựa chọn một số lượng, hữu hạn các miễn

điểm lí tính phí nghiêm thân

“Nghiệm than” còn được sử dụng, dễ đề cập tới bối cảnh xã hội và văn hỏa trong mỗi quan hệ mật thiết với con người, nơi mà thân thể, sự nhận thức

tà ngôn ngữ cứ ngụ Đó là bôi cảnh của các yêu tô như chính sách ngôn

/định kiến giao thoa văn hóa hay ảnh hưởng của

vả mang tỉnh chủ định trên cầu trúc trái nghiệm của chúng ta

“Nghiệm thin” con cô thể liên quan tới wu thé mang tính chú quan riêng biệt, do Tà nguồn gốc của những quan điểm bái ngược với Iruyền thông

Trong mội nghĩa quan trọng khác, “nghiệm thân” ñiên quan tới những thay

đổi mang tinh phát triển mà các sinh vật phải trái qua khi biển đổi từ hợp tứ

Trang 27

thành bào thai và từ trẻ om thánh người trưởng thành Nghiên cứu nỗi trội trong lĩnh vực này là nghiên cửu về việc học ngôn ngữ “thông thường” và

nghiên cửu về chứng rồi loạn phát triển ngôn ngĩt Sinha và Jensen de Lopez

đã xem xét quá trình thu được thuật ngũ quan hệ không gian qua vị trí các bộ

phan co thé trong nhiều ngôn ngữ để xác dịnh chúng xuất hiện ban dâu với tư

gian và hai nghĩa nói trên có xuất hiện độc lập hay

mang tịnh cách mạng mà một loài nào đó đã phải trải qua trong lich sit di

truyền của loài đó Trong lịch sử tiến hòa, loài người không phải lúc nao

cũng có khả nẵng ngôn ngữ, vậy bằng chứng từ các nghiên cứu của

nghiệm thân về phạm vi tiến hóa trở nên vô cùng quan trọng đề hiển được lý

do tại sao việc xứ lý ngôn ngữ có vé như không phải chỉ tập trung ở một vùng độc lập trong bộ não ma thay vio dé, có thể diễn ra trên các hệ thông,

phụ khác nhau từ các phương thúc giác quan hay toàn bộ cơ thê

Ngoài ra, “nghiệm thân” còn có nghĩa như ï.akoff và Jotmsơn (1999) đã gọi

là ứï nhận vô thức Theo đô, “nghiệm thân” có liên quan tới cái cách mà việc

tư duy nhận thức của chúng †a được định hình bằng rất nhiều quá trình dưới

ngưỡng của ý thức hoại động của chúng ta, như được thấy thông qua lâm lý học thực nghiệm

10 Theo nghĩa trọng sinh học thắn kinh, “nghiệm thân” có thẻ liên guan tới các

11

cấu trúc và các khu vực thân kinh cụ thể đăm nhiệm các kỹ tích như chiều xạ

ân dụ, sự phổi kết hợp của các sơ dỗ hình ánh, các khung quy chiếu trong hệ thông hinh ảnh trong thao tác tư đuy của con người

“Nghiệm thân” có thể cũng liền quan tới các mô hình ngôn ngữ máy tính mô

phóng bộ não con người, cụ thể là liên quan dụ ÿ niệm hoặc ngôn ngit

không gian Cáo mạng lười thần kinh nói trên dược cho là nghiệm thân theo

Trang 28

trúc thản kinh đặc trưng dã dược hiểu rõ, diễn hình là từ trong các phương,

thúc giác quan Thứ ba, chúng có thể được coi là các mỗ hình xử lý cũa hoạt động trải nghiêm

12 Cuối cũng, thuật ngữ “nghiệm thân” và “tri nhận nghiệm thản” hiện giò cũng,

dược sử dụng rất rộng rãi trong ngành khoa học trì nhận người máy

Theo Tim Rolrer, danh sách mô tâ tảy cho thấy rằng phạm vi cửa giả thuyết nghiệm thân đời hỏi quá trình tư duy phải thông qua các bằng chứng được rút ra từ vô

số các quan điểm vẻ nghiệm thân, cũng như từ rắt nhiền phương pháp Và tắt nhiên,

hấu như không có mội nhà nghiên cứu hay một dự án nghiên cứu nảo có thể bao quát

toàn bộ các nghĩa khác nhau này của nghiệm thân cũng như dưa ra mọi căn cử khoa

học chắc ch

hắn Tuy nhiêu, ông cũng cho rằng, các nghữa này có thể kết hợp lại thành

ít nhật hai cực hấp dẫn, hai phạm vi rộng lén để sử dụng thuật ngữ nghiệm thân:

(1).Nghiệm thân như là trai nghiém chung (embodinent as broadly experiential) (2).Ngluém thân như là cơ tảng mang, tinh thin xic (embodiment as the bodily substrate)

(Cu thể: các nghĩa từ (3) đến (6): nghiệm thân liên quan đến các phạm vỉ tập

trung vào các trãi nghiệm theo bôi cảnh chủ quan cụ thể, văn hóa vả lịch sử của

người sử dựng ngôn ngữ, các nghĩa từ (8) dến (12) kết lợp quanh cực nhân mạnh cơ

sở của cơ thể sinh học thần kinh và tâm H, nghĩa (7) lưu ý tới các đặc trưng vé that

gian mà mô tá các phạm vi phát triển; nghĩa (8) mô tả các phạm vi tiến hóa) Ong

cũng cho rằng, không phải tắt cả các nghĩa đều có thể kết hợp lại với nhau một cách

Tõ ràng, Ở múc tối thiểu, một khung lí thuyết đây đủ dành cho ngôn ngữ học trì nhận sẽ phái ghi nhận cả các nghữa thực nghiệm lẫn các nghĩa lấy cơ thể làm nên tảng của nghiệm thân vả đưa ra một cách đơn giản hóa nhằm hỏa hợp cuộc nghiên

cứu đo được trong tất cả các phạm vi khác nhau này

'Thục tế, những nghiên cứu về nghiệm thân vẫn không ngừng được tiếp nối

Lawrence Shapiro, giao sư Khoa Triết học tại Đại học Wisconsin- Madison, Mỹ

tiện đang nghiên cửu tập trung vào những vẫn dễ và những tranh luận xung quanh trí thận nghiệm thân Gan đây, năm 2011, trong cuốn Trí nhận nghiệm thân (1mbodied Cognition) [145], ông đã để cập tới ba chú để của nghiệm thân Theo

Trang 29

ông dủ những vẫn đẻ dược thảo luận trong các nh vực trí nhận nghiệm thân là

xông lớn, thi cũng nỗi lên ba chủ đề: (1)- Ý miệm hóa (Coneepiualisation); (2)- Sự thay thé (Replacement); (3)- Str két cdu (Constitution) Lam 16 va phat triển các chữ

đề này là công việc giúp phát triển sự hiểu biết về trị nhận nghiệm thân

Tháng 7 nim 2013, giao su Farzad Sharifian dén tir Dai hoc Monash dii od budi thuyé tinh tại Viện Ngôn ngữ học - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam: v6i chit 4é: Culnwal linguistics and Embodiment (cultural conceptualisation of internal body paris across cultures), (Ngan ngit hoc van hea va nghiém thin (qua

trình ý mệm hỏa các bộ phận cơ thể người qua các nên văn hóa) Ông cho rằng đi nhận tức là sự ÿ niệm hóa Theo quan niệm truyền thông, tư duy nằm ở bộ não

Những ngày nay, ngôn ngữ học trí nhận lại cho thé

ng lự duy và cm xúc không

chỉ tập trung ở bộ não mà cỏn ở toàn bộ cơ thế Tư đưy dù trừu tượng ng con người vẫn có thể đừng bộ phận cơ thể dé cụ thể hóa nó Ông khẳng định rằng sự

nghiệm thân dã được ghi nhận trong triết học Và trong ngôn ngữ học trí nhận,

nghiệm thân được thể hiện qua các ADAYN Ông cũng lập luận theo quan điểm của Lakoff: 4n đụ ý niệm là những mẫu thức văn hóa ADYN phổ quát là giỗng nhau

nhưng thục ra, ở những nên văn hỏa khác nhau sẽ lá khác nhau Con người được đem

ra làm trung tâm để phân tích, mà cá nhân thì nắm trong xã hội Vì vậy, cơn người

phải được coi nÏục là mội thực thê văn hóa xã hội Điều đỏ đồng nghĩa với việc con

người sẽ phải thuộc về một nên văn hóa nào đó Farzad Sharifian cé một công trình

tiêu biểu cho hướng nghiên cứu ngôn ngĩ- nghiệm thân- văn hóa, đó là cuỗn của tập

thé cha bién: Sharifian, I’, Dirven, R., Yu, N., & Neiemier, 8 (eds.) (2008) Culture, Body, and language: Conceptualisations of internal body organs across cultures and

languages [143] Cuén sach nay khang định: Một trong những chứ đẻ trung tâm của

ngòn ngít học trí nhận lả sự gắn bó của cơ thể và tam ti, được biết đến như là sự

nghiệm thân Các tác giả cũng thảo luận về những phát hiện trọng mỗi quan hệ với

„một số học thuyết triết học dã giải quyết mỗi quan hệ giữa tâm trị, cơ thể và ngôn ngữ như thể rào, chẳng hạn như của Descartes Ở phương Tây, tâm tỉ (mind) và thân thé

(body) có sự phân biệt rõ răng trong khỉ ð phương Đông, chúng trộn lấn vào nhau

Nguyên nhân là do phương Tây chịu ánh hưởng thuyết nhị nguyên của lÖesoartes, cón.

Trang 30

phương Đông lại qua thân thể đề thẻ hiện tâm trí của mình Tóm lai, Farzad Sharifian tiêu biểu cho hướng nghiên cứu nghiệm thân rong môi quan hệ với ngôn ngữ- vẫn

hóa Nói cách khác, ông và các đồng sự đã hướng nghiên cứu của mình tới nghiệm thân, không chỉ lả sự gắn bó của cơ thể và tâm trí mã còn bao hàm trong đó sự tương

tác giữa cơ thể con người, ngôn ngữ và các nén van hoa

Ngoài ra, rong cuỗn Dẫn luận ngôn ngữ bạc tri nhận (bần tiếng Việt do Đào Thị Hà Ninh dich) [94, 68-69], tac gia Triệu Diễm Phương đã khẳng định vai

tro của nghiệm thân khi để cập tới hai quan điểm chính của trị nhận quan chủ

nghia kinh nghiệm: (1) Tư duy không thể thoát ly khói hình thể Cấu trúc trí nhận của loài người xuất phát từ kinh nghiệm của cơ thể người, đồng thời thực hiện

việc tổ chức và xây dựng cáo sơ dỗ ý tượng, phạm trủ cơ bản và ý niềm truc tiếp

trên cơ sở kinh nghiệm xã hội, vật chất, mô hình vận động cơ thể và cảm giác của cơn người (2) Tư đuy mang tinh chất tưởng tượng Các ý niém gián tiếp (không phải những ý niệm trực tiếp dến từ kinh nghiệm) là kết quả của việc vận dung phương thức tự đuy 4n dụ và hoán dụ, trên cơ sở đó chúng biểu trưng hoặc phân chiến trực tiếp thể giới bên ngoài Ngôn ngữ là kết quả của nhímg hoạt động trì

nhận thông thường của cơn người, cấu trúc và chức năng của nó là sản phẩm của

kinh nghiệm nhân loại, không phải sự liên hệ đổi ứng trục tiếp với thẻ giới khách

quan Trung gian của ngôn ngữ lä những ý niệm của nhân loại được kích thích tạo

ra bởi những trải nghiệm của con người

Trong Các lí thuyết ngữ nghĩa học từ vựng của Dirk Geeraerts (ban tiếng Việt do Phạm Văn Lam dịch), khi để cập tới ngữ nghĩa học trị nhận [29, 269], tác

giả đã bản dến bốn đóng góp cụ thể của ngữ nghĩa học trí nhận dỗi với việc nghiên cứu nghĩa từ (mô hinh điền mẫu của cầu trúc phạm trủ, lí thuyết ân dụ và hoán đụ

khai niệm; các mồ hình trị nhận lí tưởng hóa và lí thuyết khung: những đóng góp

của ngữ nghĩa học trị nhận đối với việc nghiên cứu biển đổi nghĩa) Trong phần ban

vẻ lí thuyết ẫn dụ khải niệm, tác giả dã đê cập tới thuyết nghiệm thân: “Trụ cột thứ

ăn dụ khối niệm chink la quan điểm cho rằng an dụ đã bén rễ từ kinh

nghiệm: kiửh nghiệm của con người đã định hình ngôn ngữ” Và “có một hướng

nghiên cửu quan trọng liên quan đến li thuyết ản dụ khái niệm tập trung vào bán

tỳ a

Trang 31

chất hữu bình vật chất của nên tầng kinh nghiệm, đỏ chính là sự nghiệm thân” Tác giả nhắc đếu tông kết về nghiệm than cia Tim Rohrer, đẳng quan niệm rằng nghiệnt

thân là một khái niệm đa điện

Gan day nhất, cuốn 71Ãn luận ngôn ngữ học trí nhận của David Lee (bản tiếng Việt do Nguyễn Văn Hiệp & Nguyễn Hoàng An dịch (2016) |75j đế được xuất bàn,

gúp phân thúc đây các nghiên cửu theo ngôn ngữ học trị nhận ở Việt

trong đó không có phản riêng nào đề cập trực tiếp tới nghiệm thân nhưmg tỉnh thân của

tần hết các phân không hệ xa rồi tư trởng trí nhận nghiệm thân Từ những khái niệm

cơ bắn như sự điễn giải, bối cảnh, cận cảnh, ân dụ, khung, đến sự diễn giải vẻ vật thể

và quan hệ không gian, mở rộng nghĩa không gian, phạm trủ tỏa tia và biến dai ngôn

thức quyết dịnh cách con người có dược hiểu biết về thể giới Điều đó cũng có

nebia, nghiệm thân chỉnh là đặc tính cơ bâu nhất của sự trị nhận ở con người, thông qua sự trải nghiệm của con người mà các quá trinh phạm trù hỏa, ý niệm hóa, sự suy li của con người được khám phá

1.L2.2 Những nghiên cứu về øghiểm thấu ở trong nước

Cho đến nay, trang nước chưa có một công trình riêng nào dễ cập tới nghiệm

thin (embodiment) Nghiệm thân chỉ được nhắc tới như lá một trong những khai niệm co ban của ngẻn ngít học tri nhận và được để cập đến trong một số công trình,

bai bao khoa học về ngôn ngữ học tri nhận hay một số luận án, luận văn nghiên cửu ngôn ngữ theo quan diễm của ngôn ngữ học tri nhận

Công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học trí nhận một cách có hệ thống dẫn tiên ở Việt Nam là Ngôn ngữ học trị nhận, từ lí thuyết đại cương đến thực tin tiéng

Việt (2005, tải bán 2009) [109] của Lý Toàn Thắng, Dây lả công trình chính thức

Trang 32

giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận như một xu hướng nghiên cửu mới ở Việt Nam Công trình không chỉ có ý nghĩa lí luận mà còn hết síe thực tiễn khi áp đụng lí

thuyết của ngôn ngữ học tri nhận vào việc nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra nhiều kết

hiận thuyết phục Trong công trình này, dù không dé cập trực tiếp tới nghiệm thân

những việc tác giả áp dựng nguyễn lí ĐỸ nhấn vì trưng (lây con người làm trụng tâm

của vũ trụ) để nghiên cứn về cảch thức trí nhận không gian và thời gian trong ngôn

ngữ cũng đã gián tiếp khẳng định tâm quan trọng của li thuyết này trong ngôn ngữ

học trí nhận

Tác giá Nguyễn Văn Liệp trong [45]46] đã tiến hành kháo sát, lí giải ngữ

nghĩa của RA, VÀO tron tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân Đây cũng lá một trong

ngữ học trí nhận Nguyễn Tải Thắng cũng đã có những bài bảo đề cập lới thuật ngữ

“embodiment” véi tén gọi hiện thân [114], [116] Các bài báo này khang định mỗi quan hệ chặt chẽ giủa ngôn ngữ và nghiệm thân qua bằng chứng về tiếng Anh và

tiếng Việt, rằng ngữ nghĩa cũng như cú pháp của ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ

với trải nghiệm và đo đỏ trãi nghiệm của chứng ta đồng vai trò quan trọng trong

việc sử dụng ngôn ngữ Tuy nhiên, trong các bài viết, lý thuyết về nghiệm thân mới

chỉ dược tác giã để cập đến một cách khái quát, chủ yếu là mang tính giới thiệu để

sau đò phân tích một số hiện tượng ngôn ngữ cụ thể như là những minh chứng để khẳng định Tảo giá Trịnh Sâm [99, 72] cho rằng trí não của con người, thông qua những trải nghiệm (hoặc có tính cá nhân hoặc dựa vào hệ thống ý niệm của công,

đồng điển ngôn) đung nạp, xử lý, hm trừ, phục hỗi và cả truy xuất trí thức không,

“hoàn toàn thụ động mà có tỉnh tương tác theo những phương thúc trí nhận nhất định

Và đương tác dễ quan sát nhật là với chính cơ thể của con người dược gọi là những trải nghiệm nghiệm thân Bao gòm (1) Nghiệm thân xinh lý: xuất phát từ thân xác con Trgười - một thục thẻ gần gũi, nơi thư nhận thông tin đầu vào, nơi khởi phát những ý niệm cụ thể, (2) nghiệm thân (v1) tự nhiên: là sự tương tác với môi trường vật chất

Trang 33

xung quanh Ngôn ngữ học trị nhận đẻ cao vai trỏ của chủ thể kinh nghiêm, nhưng, không phủ nhận chức năng phóng chiếu của hiện thực với tư cách là miễn nguồn (3) nghiệm thân xã hội: là tương tác với người khác trong mỗi quan hệ liên nhân, trước

tiết lả cáo rằng buộc gắn liên với tri thức nên, với niễm tim, với những chia sẽ chưng,

trong một nền văn hỏa chủ đạo (mainstream culture) và các giá trị của các văn hỏa nhôm (subeulure) Như vậy, nghiệm thân không tách rời văn hỏa Trải lại, Lương tác

về văn hóa sẽ phan nao chỉ phổi cách thức chủng ta tri nhận nghiệm thân Và cũng,

như tương tác trí nhận, trang tác văn hỏa cũng có cơ sở từ môi trưởng kinh nghiệm

ấu (2015)

Gan day, trong Ngắm ngữ học mì nhận- Những nội dung quan

TH2], tác giả Lý Toán Thắng có trực tiếp danh một mục dé viết vẻ nghiệm thân

hay lâm trí nghiệm thâu: "Nghiệm thin (crubodiment) bay tau tri nghiém than (embodied mind) la mét trong nhiing dic tinh quan trong nat otia sur tri nhận ở con

người” [112, 15-16] Tác giá cũng đã tổng kết một số phương điện các nhá trí nhận

học thường nhẫn mạnh khi sử đụng thuật ngữ nghiệm thân: (} Mọi phương diệu (aspecls) của trì nhận đều được tạo hình (shaped) bởi sác bình điệu của (hẳn xác (body) Trí nhận nói ở đây bao gôm những phương điện như: các kết cầu tinh thin bậc cao (như ý niệm và phạm trừ) và sự thực thi những nhiệm vụ trị nhận khác nhau (như suy lí hay phản doán) Cón thân xác bao gồm các phương điện như: hệ thông động (moler) và hệ thông trí giác, cũng như là sự tương tóc của thân xác với môi trường xung quanh (1ï) Tri nhận phụ thuộc vào nhiều thứ của kinh nghiệm do cơn người cé thân xác với nhiều khả năng cảm giác-vận đệng (sensori-mortor) Những khả năng nay tự thân chúng ở mỗi cá nhân được 'nghiệm thân” trong những,

bối cảnh bao quanh vẻ sinh học, tâm lí và văn hỏa (1ii) Trị nhận nghiệm thân không,

chỉ phụ thuộc váo thân xác mà còn phụ thuộc cả vào sự “tương tác" (Inieracion) với

ội rễ trong các

cơ chế {được

và vận động, Về mặt này, có thé xem trí nhận nghiệm thản như là sự bồi âm

én hoá để tương tác với môi trường) như là các cơ chế

Trang 34

biệt kinh nghiệm nghiệm thâu và trí nhận nghiệm thân cũng như dễ cập tới triết

thuyết kinh nghiệm luận (Experientislien) hay hiện thực luận kinh nghiệm

(Experiential Realism)

Neoai ra, nghiém Thân còn được nhắc đến trong những liận án về ngôn ngữ học

tri nhận, như của Trần Bá Tiên (2012), Nghiên cứu thành ngữ biểu thị lâm lí tình cẩm

trang tiếng Anh và tông Liội từ bình diện ngôn ngữ học trí nhận |126], Vi Trường Phúc (2013), Nghiên cứu thành ngữ chỉ tâm Ïf tình câm trong tiếng Hán từ gác độ ngôn ngữ

học trí nhận (có liên hệ với tiếng Việj[92†, Trnh Thủ Hương (20120, Giới từ trong thành ngữ nếng Inh (có so sánh với thành ngữ rếng ƯiệU [60], của Nguyén Thi Bich

Hanh (2014), 4m dy trí nhận trong ca inh Công Sơn, [38]

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ câm giác trong tiếng Việt

Tủ thuộc lớp từ ngữ cơ bản của tiếng Việt và có vị trí khá quan trọng trong

kệ thống từ vựng tiếng Việt nỏi chung, nhưng những từ ngữ chỉ cảm giác chưa được

nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học trí nhận Cũng dã có những tài liệu dẻ cập tới chúng hoặc những từ ngữ liên quan trục tiếp tới chúng nhưng côn sơ lược với nhiều

cách hiểu chưa thông nhất về phạm vỉ và tên gọi

Về lớp từ ngữ chỉ hoạt động của các cơ quan cảm giác như: ni (rồng, xem,

thấu), nghe, sở, nếm, ngứi Đỗ Hữu Châu (1975) trong bài báo “Khái niệm trường

và việc nghiên cửu hệ thông từ vựng”, Ngôn ngữ, số 2, 1975) gọi là những từ chỉ

hoat động câm quan [dan theo 93] Nguyễn Kim Thân (1977) từ góc độ từ vựng,

cho rằng chúng thuộc nhóm động từ cảm ngÏữ - nói năng, vì những động tù này

biểu thị sự hoạt động của trì não, của các cơ quan cám giác và ngồn ngữ; Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng một vị từ trí giác, chẳng hạn như zin, biểu thị một quá trinh

tứng xử, có hai điển tế (hành thế và mục tiêu) [đẫn theo 90] Đinh Trọng Lạc [65]

đã coi thấu, nghe (ngủi, nếm, sở ) là những động từ cảm giác Nguyễn Ngọc

‘Tram [131] lại gọi nhóm từ trên là đồng £ừ cảm nhận Nguyễn Văn Phổ [91] gọi

chung la vj fir tri giác, và cho rằng tên gọi vị đử ứr/ giác chí có ý nghĩa quy ước,

bới lẽ rong danh sách dó có thể kể đến hai tiểu nhóm phân biệt nhau: (1) vị từ

tiểu thị hành động nhằm trì giác đối tượng, và (2) vị lừ biểu thị trị giác Tuy nhiên, trong bài báo này, chú yếu tác giá tiến hành phân tích những vị từ thị giác

31

Trang 35

(nhìn, thấy, xem, trông) làm cơ sở dễ tiếp cận các vị từ đại diện cho các nhom

khảo (nghe, sở, ngấi, nêm và thấy) Ngoài ra, một số luận văn, luận ám cũng đã liên

hành nghiên cứu về lớp từ nảy Trần Thị Hường [62], đưới góc nhìn của lí thuyết

trường từ vựng- ngữ nghĩa, đã tiền hành nghiên cứu 12 từ vị biểu thị hoạt động thị

giác của con người trong tiếng Việt: nhìn, trồng, xem, thấy, ngắm, chiêm ngưỡng,

ngước, lắc, lườm, ngó, nhằm, đọc, so gánh với tiếng Pháp và đưa ra một số kết luận

về cầu trúc ngữ nghĩa: điếm giảng và khác nhau giữa hai ngôn ngữ về đặc trưng văn

hóa Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là 12 từ vị biểu thị hoạt động thị

giác và các đơn vị từ vụng phải sinh xung quanh 12 từ vị này, các từ ngữ chí cảm

giác thị giác nói chung cũng như chỉ các cảm giác khác không được dé cap Gi

n dây nhất, Hoàng Thị Hòa [S0] đã gọi tên lớp từ chỉ hoại động cửa giác quan là động

từ trí giác Dỗi tượng nghiên cứu chính của luận án là lớp động từ trị giác trong tiếng Anh (cò liên hệ với những tử tương đương trong tiếng Việt) Tác giá đã vận

dụng ngôn ngữ học chức năng (tiêu chỉ Percep0) và lý thuyết của ngôn ngữ học trí

nhận (lý thuyết điển mẫu) để nhận diện, phân loại và đưa ra được mội danh sách các động từ trị giác co bản trong tiếng Anh và tiếng Việt Đặc biệt, đá đành mệt chương

để nghiên cửu hiện tượng chuyến nghĩa của động từ trị giác s¿ø/ #hẩy; hiện tượng,

chuyển loại của một số dộng từ trí giác ook, fouch, taste, smell; nghe, coi, xem

Tuy nhiên, trong phần liên quan đến tiếng Việt, luận án cứng chỉ tập lung nghién

cứu lớp động từ chỉ hoạt động tri giác mà không quan tâm tới các từ ngữ chỉ cảm giáo nói chưng

Về nhóm từ ngữ chỉ căm giáo trong téng Việt, Dỗ LIữu Châu (1986), trong

chuyên luận Các nhân 1ó dựng hoc trong cấu trúc ngữ ngÌữa của từ, (Bảo cáo tại Hội phi lần thử tư giữa các nước XHCN về ngôn ngữ phương Déng, tai Ha Nai) [dan theo

93] gọi các tính từ như nóng, lạnh, ẩm là các tình từ có tính chất vat Ii, có cảm giác xúc

giác

trong Hồng Việt Cũng Đỗ Hữu Châu |4], rong đoạn phín biết cơ chế ân dụ đã gọi

ihững từ như chua, ngợi, nhại, mặn, cay, chái, nặng, nhẹ, ôm là ri lie chi cam giác

khi ông để cập tới loại ân dụ kết quá, hay còn gọi là Ấn dụ chuyển đổi cảm giác, ẩn dụ bỗ

Trang 36

sung: “Trong những ân dụ kết quả, có một loại dáng dược chủ ý dặc biệt, đó là những ấn

dụ đẳng tên gợi của những cảm giác thuộc giác quan này đ

giác quan khác hay những cảm giác của trí tuệ tỉnh cảm” Ong dan ra vi du: “Nhu chua,

ngọi, nhạt, mặn, cay, chát là những cảm giác vị giáo được dùng đễ gọi cáo cảm giác

gợi lên những cấm giác của

thỉnh giác nói chua loi, lời ngọt ngào, pha trò nhạt quả, nói cay quá ”: “Các cảm giác xúc giác thư nống , nhẹ, ôm được đảng cho cảm giác thỉnh giác như (iếng nói vùng

biễn rất nặng, nhẹ giọng cin+ ” Ông cũng nhận xét: “thục ra trong cách nói lời ngọt

ngào, pha trò nhạt, giọng chua chát cáo cảm giáo không có tính chất thính giác thuần tủy mà đã mang nặng tính chất trí tuệ, tỉnh căm” [4,159-160] Dù Dỗ Hữu Châu không

liệt kê được hết và cũng không cỏ tuyên bố nào vẻ khải niệm tử ngữ chỉ cảm giác nhưng,

eụ thể: Theo tác giả, từ cảm giác thường biếu thị các mặt: cảm giác vị giác (cám,

ngắn, ngây lọm ), cảm giác xúo giáo (buồn, ngứa, xói, rát ), (cảm giáo đau đếm ( dau, mỗi, nhức, tê, ê ), cảm giác thăng bằng (choáng, say ); (cảm giáo nông lạnh ( ghê, rợn, buấi ), dân giác về nhủ cầu sinh lí (đói, khát, thêm ) Các nhónn tù cỗm

giác còn được chia theo các kiểu ý nghĩa: những tù biếu thị phân ứng của cơ thế,

của giáo quan trước tác động bên ngoài (đau, rút, xót, 6, mải ), những từ biểu thị

căm giác về nhu cau sinh ly đơn giản, chia thành hai nhỏm nhỏ: nhỏm có cảm giác

vẻ nlyu câu nào đỏ dang cần dược dáp ứng (dai, khái, buôn ngũ, thêm ) và nhôm có câm giác không cèn có nhu câu nào đó, có thể vi nhu cần đã được đáp ứng đầy đủ (

no, đã (kháÐ), hoặc do nha cầu đã được đáp ứng nhiêu quá múc đôi hỏi (chán,

ngắn, ngấy ) [131, 43-44] Tác giá cũng tiên hành so sảnh tỉnh chất của hai loại phản ứng cảm giác và tỉnh cảm dễ chết lại rằng cảm giác là phẩm ứng trực tiếp của

cơ thể trước táo động của hiện thục không qua phân tích cũa ñr duy, lí trí, Quá trình tình thành cam giác gắn với quá trình cảm nhận hiện thực còn quá trình hình

thành tỉnh căm gắn với quá trinh phản tích hiện thực, Kết quá cảm nhận hiện thực

33

Trang 37

có thê là câm giác và cũng có thể là một thuộc tính của sự vật: màu sắc dược cảm

xrhận bằng tÌủ giác, âm thanh được cảm nhận bằng thính giác, mùi được cẩm nhận

bằng khứu giác, vị được căm nhận bằng vị giác, v.v [131, 45] Có thể thấy,

Nguyễn Ngọc Trâm chỉ quan tâm tới những từ chỉ cảm giác có ngữ nghĩa gần gửi

với các từ tâm li- tình cảm (đặc biệt là nhỏm từ ngữ chỉ câm giác chung của toàn

bộ cơ thể), đỏ cũng là những từ có khả năng chuyên nghĩa đầu đặn sang từ tâm Hí- tình cảm, để hướng tới khẳng định ngữ nghĩa của các từ tâm lí-tỉnh cảm tuy là kết

quả của quá trình phân tích hiện thực nhưng vẫn mang đấu ân của quá trình cảm

nhận hiện thực Cũng có lẽ chính vi thể má tác giá chưa có sự quan tâm mớ rộng đến tất cả những, từ ngữ chí cảm giác khác dé có n

cái nhìn khải quát, toản diện

về nhóm từ ngũ nảy, tác giả cũng phân biệt từ chỉ câm giác với những từ ngữ chỉ thuộc tính của sự vật hiện tượng, đủ không ít những từ ngữ chỉ thuộc tính oó liên

quan trực tiếp đến căm giác vả hoạt động của các giác quan

Đỗ Thị Hằng |40|, dã xác dịnh An dụ bổ sung là hiện tượng chuyển nghĩa

trong phạm vị trường ng]ữa cảm giác Tác giã để cập tới trưởng nghĩn căm giác bao

gôm: nhìn, nghe, ngữi, nếm, sở, chỉ ra nét nghĩa cœ bản của các hoạt động cảm giác

xảy cũng như hai phương, diện kết hợp các nét nghĩa của chúng: cách kết hợp bình

thường (Ví dụ: Nghe+ âm thank+ nghĩa biểu miệm) và cách kết hợp không bình

thường (Ví dụ: Nghet âm thanh— hiệu quả của khứu giác ) Từ đó, tác giả hướng, tới đối tượng nghiên cứu là những kết hợp nghĩa bắt thường, là sự chuyến nghĩa lâm thời trong ngũ cảnh sử đụng, không giống với sự chuyến nghĩa trong cấu tạo từ

xnởi, nhằm tạo ra những cách điển đạt tỉnh tế, mới lạ, gây cắm giác bất ngờ, thủ vị, dem lai cho cảm xúc sự chuyển dỗi linh hoạt, từ dó mỡ rộng không gian nghệ thuật

và nâng cao tư đuy nghệ thuật, đỏ chính là ấm dụ bổ sung Có thế nói, trong công

trình này, tác giả đã đê cập khả toàn điện vẻ hình thải- câu trủc- ngữ nghĩa của ân

dụ bổ sưng, qua ngữ liệu thơ văn Việt Nam từ 1930-2006 dưới góc độ tụ từ học Tác

giả pọi những từ như: nghe, nhìn, ngữi, nếm, sở là động tứ cảm giác [40, 62], chia

cam giác xúc giác thành hai loại xúc giác (những câm nhận qua lan da ubu rat, bồng, nhẫn, sân, ráp ) và cảm giác cơ thế (những cảm nhận như nặng, nhẹ, say ), tác giá cũng gọi tên một loại cám giác chung đỏ lá cám giác tổng hợp [40, 70] Tuy

34

Trang 38

vay, cong trinh mới chỉ tập trung nghiên cứu ân du chuyên đổi cam giác như là sự

kết hợp của hai hay nhiều từ ngữ chỉ nhímg cỗm giác si ra từ những bung khu

câm giác khác nhau từ góc nhịn tu từ học mà không đặt vẫn đẻ nghiên cứu về nhóm

từ ngữ chỉ cảm giác nói chung, cũng như không xem xét sự phát triển ngữ nghĩa của

chúng dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học tí nhận

Cũ lẽ bài việt Vài nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác của Nguyễn Vân Phố 190] là một trong ít công trinh đẻ cập trực tiếp tới nhỏm từ chỉ cảm piác trong tiếng

Việt Tác giả gọi chúng là vị đừ cảm giác và nêu nhận xét về ngữ nghĩa vị từ cảm giác qua góc nhin chức năng luận, tác giá cũng đã đưa ra những nhận xét khái quát

vẻ từ ngữ trong, nhỏm này Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bải bảo, tác giả

chưa thể có những phân tích, phân leại sâu sắc và cụ thể các từ trong nhóm Ông

sếp chưng tất cả những từ chỉ cảm nhận của con người như cảm thdy, nghe

thấy vời những từ chí cắm giác cụ thể của con người như đau, xót, mới, đói, nóng,

lạnh, buốt, tức, rát, tổ, choảng, với tên gợi chung là vị từ câm gide

Củng quan lâm tực tiếp tới những từ chỉ cảm giác, Nguyễn Thị Phương

trong luận văn thạc sĩ Đặc trưng ngữ pháp- ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị cảm

giác trong tiẳng Vide [93] đã vận dụng lí thuyết ngữ pháp chức năng về cáo quá

trình tỉnh thân của Halliday dễ khảo sát và từm hiểu nhóm từ chỉ cảm giác trên hai

phương điện cân trúc ngữ phép và ngữ nghĩa Tác giả đưa ra một số kết luận: Vẻ ngữ pháp: các từ chỉ cảm giác thường là những từ có cẫu trúc đa từ loại, vừa là động

tí, vừa là tinh tir, chúng có khả năng kết hợp đa dang với nhiều yêu tổ bao gồm cả

thực bử (yếu tổ chi người, chí bộ phân cơ thể) và hư từ (các phỏ từ hơi, rất, quá, lắm, cực kì đặc biệt là dang; một sẽ tình thái từ hoặc yêu tổ chêm xen dẻ bộc lộ sắc thái biên cảm); từ chi câm giác giữ chức vụ ngữ pháp chính là vai trỏ vị tố trong

câu Về ngữ nghĩa: câu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ cảm giác bao giờ cũng gồm hai

thành tổ bắt buộc: yếu tổ tác động v: wu tổ tác động đóng vai trò là

nguyên nhân gây ra cảm giác, yếu tổ thứ hai là phản ứng của cơ thẻ trước tae dong

đó Tác giả cũng khẳng dịnh chuyển nghữa là hiện Lượng ngữ rig]ña nỗi bột nhất của xrhớm từ chỉ cảm giác, liên quan trục liếp đến hai nhóm từ gần gũi với nó: nhóm chỉ thuộc tính cứa sự vật, hiện tượng và nhóm biểu thị trạng thái tâm Ii, tinh cam [93,

35

Trang 39

105-106] Luận văn đã có cái nhìn khá toàn diện về nhóm từ chỉ câm giác ở cả hai xuặi cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa theo góc nhìn ngữ pháp chức năng Đó là

những gợi ý cho chúng tôi khi tiếp tục lựa chon đổi tượng nghiên cứu là những từ

ngữ chỉ căm giác Tuy nhiên, tác già quan niệm “cảm giác là phản ứng bên trong, là

sự trả lời của cơ thể trước một kích thích, một tác dộng nào dó, vi thé, cảm giác

thuộc về chủ quan” |93, 29] Nhóm từ biểu thị câm giác, vì vậy, theo quan điểm của

tác giả chỉ giỏi hạn là những từ chuyên chỉ cảm giác của con người như: đzu, nhức, rát, buồn, xót, đối, mỏi còn những từ như ngon, ngọt, mặn, nhạt, nóng, lạnh là

những từ vốn chỉ thuộc tính của sự vật, không được

Vi thể, luận văn mới chỉ gidi hạn dỗi tượng nghiên cửu ở những từ biểu thị căm

p vào nhóm từ chí cảm giác

giác dược sinh ra do các tác động từ bên ngoài dến cơ thể: đau, rải, xói, ngửa, lúa,

mỗi, ở, tê và những từ biểu thị cảm giác được sinh ra do những rửm cần từ bên

trong cơ thể: đói, khát, thèm, no, đã, há Luận văn cũng mới dừng lại ở những nhận

định khái quát về sự chuyển nghĩa của những từ biểu thị cảm giác theo giới hạn Trghiên cứu mã chưa Hến hành muiêu tả toàn điện sự phát triển ngữ nghĩa cũng như lý giải cơ sở phát triển nghña của chúng dưới góc nhìn của ngĩt nghĩa học trí nhận

Liên quan đền những nghiên cứu riêng lẻ vẻ từ ngữ chỉ cảm giác, cùng thời

gian này, tác giã Nguyễn Văn Hiệp [43] nhắc dến vai trò của thị giác trong khi bàn về

khái niệm tỉnh thái, tác giả Nguyễn Tất Thắng |115] đã bàn riềng về vai trò của thị

giác trong ngôn ngữ đưới góc nhìn trí nhận luận Năm 2014, tác giả Bùi Minh Toán

cổng bổ bài bảo Từ ngữ chỉ mủi vị trong truyện Kiển [129] Cũng còn phải kế đến

những bài báo được công bổ rải rác trước đỏ hoặc gần đây như: tác giả DĐáo Thân với bài viết khả thủ vị về Nehia và sắc thái ngiềa cũa từ “ngọt”, Một sợi rơm vàng, tập 1

[194] Màu đồ và thơ, Một soi rơm vàng, tập 2 [105], Nguyễn Thi Bich Hop (2013),

Tiễu trường từ vựng biểu thị cảm giác của con người với món ăn và ý niệm con người (trong tắng Liệt và tiếng Anh) [51], Nguyễn Thị Liuyên (2013), Nghĩa của từ NGỌT"

tiếng liệt trong sự sơ sánh với den vi tương đương tiéng Anh (qua một số cuốn từ

diễn) |SS|: Phương thúc chuyển nghĩa Ân dụ của các từ chỉ vị trang tiếng Việt (201 3),

[56] Nguyễn Thi Hạnh Phương (2016), Sự phải triển ngữ ng]ĩa của từ ngon trong

tiếng Việt trên cơ sở nghiệm thân (so sanh voi don vị hương đương trong tiéng Anh)

36

Trang 40

195}, Nguyễn Thị Hương (2016), Đổi chiếu nghĩa của từ “eat” trong tiếng Anh với từ

“ăn” trong tiếng Liệt từ góc độ ngữ nghĩa | 61 |

Tóm lại, cảm giác có vai trò quan trọng trong sự trị nhận cửa con người,

không có căm giác với sự hoạt động của 5 giác quan cơ bản, con người không thể trí nhận thể giới Nhóm từ ngữ biểu thị cảm giác vì vậy có thể nói là nhóm từ cơ bản

trong hệ thống từ vựng của mọi ngôn ngữ Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu từ trước tới nay trong tiếng Việt, gần như chỉ có nhóm đông từ chỉ hoạt động của các cơ

quan cảm giác với tên gọi vị từ trí giác hay động từ cảm nhận, từ chỉ hoạt động cảm quan được quan tâm chủ ý nhiều hơn, con nhém từ ngữ chí căm giác nói chung, dường, như it dược quan tâm nghiên cửu một cách hệ thông, Cho đến thời điểm hiện

tại, theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có một công trình nghiên cứu riêng nào đễ cập tới những từ ngữ biểu thị cảm giáo nói chung (khảo sát, phân loại, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa) dưới góc nhìn trí nhận luận, đặc biệt là xem xét sự phát triển ngữ nghĩa của chúng và tiển hành lý giải sự phát triển ngữ nghĩa ấy trên cơ sở

Tri nhdn (cognitive) 1a thuật ngữ liên quan trực tiếp tới một khuynh huớng lí

thuyết chung, xuất hiện trong tật cả các khoa học xã hội và nhân văn trên thê giới

vào riưững nấm 70 của thê kỉ 20, đó là Khoa hoc iri nhan (cognitive sciense) Khoa

học trí nhận bao gém rất nhiều ngành như triết học, tâm lí học, ngôn ngữ học, khoa

học thân kinh, khoa học xuáy tính, nhân học Khoa học trị nhận tập trung nghiên

cứu hệ thông ÿ niệm và các quá trinh xử lí thông tin cũng như các hệ thông biếu

hiện trí thức và các nguyên lí tổ chức khả năng tri nhận của con người với một cơ

chế thống nhất trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chúng [113, 6]

Tác giá Lý Toàn Thắng cho rằng trí nhận theo nghĩa rộng dược hiểu là

“một hệ thống những khả năng và quá trình tĩnh thân của cơn người liên quan

đêm trị thức như: tr giác, ngôn ngữ, chú ý, kí ức, suy H, ra quyết định, giải quyết vẫn để, tư duy, học tập, đôi khi tủy theo tác giả, có thể kế thêm cả xúc cám”

Ngày đăng: 20/05/2025, 15:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  trên. - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
ng trên (Trang 79)
Hình  dạng, - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh dạng, (Trang 84)
Bảng  2.1U:  Nghĩa  khởi  nguồn  va  sự  thể  hiện  của  các  nghĩa  phát  triển  dùng  rong  cuộc  sống  hằng  ngày  của  tử  ngữ  chỉ  cảm  giác  diễn  mẫu - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
ng 2.1U: Nghĩa khởi nguồn va sự thể hiện của các nghĩa phát triển dùng rong cuộc sống hằng ngày của tử ngữ chỉ cảm giác diễn mẫu (Trang 88)
3.2.1.1.  A2  hình  tổng  quát  chiếu  xạ  trong ADYN - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
3.2.1.1. A2 hình tổng quát chiếu xạ trong ADYN (Trang 100)
Hình  3.4  Sơ  đỗ  tổng  quát  về  cầu  trúc  ý  niên  cầu  trúc  ngữ  nghĩa/  mô  hình  tỏa  tia - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.4 Sơ đỗ tổng quát về cầu trúc ý niên cầu trúc ngữ nghĩa/ mô hình tỏa tia (Trang 129)
Hình  3.5  Sơ  đỏ  tốa  tia  của  CHOL - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.5 Sơ đỏ tốa tia của CHOL (Trang 130)
Hình  3.6  8ơ  dễ  tỏa  tia  của  ĐIẾC - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.6 8ơ dễ tỏa tia của ĐIẾC (Trang 131)
Hình  3.7  Sơ  dỗ  tổa  tia  của  TIT - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.7 Sơ dỗ tổa tia của TIT (Trang 132)
Hình  3.8  Sơ  để  tỏa  tỉa  của  NGỨA. - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.8 Sơ để tỏa tỉa của NGỨA (Trang 133)
Hình  3.9  Sơ  dỗ  tỏa  tia của NGÁN. - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.9 Sơ dỗ tỏa tia của NGÁN (Trang 134)
Hình 3.11 Sơ dễ  tổa tia của HẢO - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
Hình 3.11 Sơ dễ tổa tia của HẢO (Trang 136)
Hình  3.16  Sơ  để  tóa  tía  của  BM - Luận văn sự phát triển ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ cảm giác trong tiếng việt trên cơ sở nghiệm thân
nh 3.16 Sơ để tóa tía của BM (Trang 141)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm