Akhmanova định nghĩa vẻ chủ ngữ trong Tủ điển thuật ngữ ngôn ngữ học là thành phân chỉnh của câu song phân, về phương điện ngữ pháp không lệ thuộc vào các thành phân khác của câu, đùng đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUOC GIA IIA NOI
TRUONG DAI HOC KHOA HOC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DO HONG DUONG
KHAO SAT CHU NGU TIENG VIET
DUGI GOC NHIN CỦA LÝ THUYÉT BIEN MAU
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 62.222.01.01
LUẬN ÁN TIỀN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
G§.LS NGUYÊN VĂN HIỆP
Hà Nội, 2011
Trang 2
MỤC LỤC
LOI CAM DOAN
MUC LUC ceesssecsesstiseieceeeseensiessteeeist
MO DAL,
Chuong } LICH SU VAN DE VA CO SO LY THUYET
Ll Các khuynh hướng nghiên cửu “chủ ngữ” trong các trường phải ngôn ngữ
1.11 Khưnh hướng cô `
1.1.2 Khuynh hướng cầu trúc và khạnh hưởng chức năng
1.1.3 Khupnh hucong ngit php ngit nga coccsessese ses sinensensoesisenieeinee 1,14 Khuynh hucong ngit php t0 S108 css esseses ses sineeinetnineeiseueieeieee 14
1.2 Cac quan điểm nghiên cửu chủ ngữ trong tiếng Việt "¬ 19
142.1 Quan diểm “câu tiếng Ưiệt có chủ ngữ”
1.2.1.1 Khunh hướng truyền thông
12.1.2 Khuanh hướng hiện dại
122 Quan điểm “câu tiéng ¥ “gt không có chữ ngữ.” hay chủ ¡ngữ không phải
là nhãn hiệu cân thiết dễ miễu tỏ cấu trúc câu tiẳng Việt
1.2.3 Quan điểm của luận án 33
1.3.2 Các công trình nghiên cứu áp đụng lý Huyết diễn mẫu, 35 1.3.2.1 Các công trình nghiên cửu của tác giã tước ngoài 35
Trang 31.3.3 Một số ứng dụng mẫu mực của lý thuyết diễn mẫu trong nghiên cứu củ
Trang 43.3 Chủ ngữ diễn mẫu của các câu không có hệ từ “là” (cáo câu có trật tự
SV(O) thông thường)
3.3.1 Các vai nghĩa của chủ ngữ diễn mí
4.3 Chủ ngữ không điễn mẫu của các câu có hệ từ “là” 134
4.2.1 Chủ ngữ được cấu tạo bởi động từlinh từ 125
4.2.2 Chủ ngữ được cấu tạo bởi một kết cầu C-V 127
4.2.3 Chủ ngữ được cấu tạo bởi giới từ hoặc ngũ giới từ 128
4.3 ChủngŒkhông điển mẫu của các câu không có hệ từ “la”
4.3.1 Chủ ngữ là thể từa -
43.11 Chủngữ có vai nghĩ puyên nhân"
4.3.1.2 Chủ ngữ có vai nghĩa “phương tiện, công eW” ccc 131 43.13 Chủ ngữ có vai nghĩa ˆvị trị vật chúa" 134
4.3.2 Chủ ngữ là động hit động ngữ tính tinh ngữ và kết cầu C-I” 141 4.3.3 Chủ ngữ của các câu có thành tổ chỉ không gian cầu tạo bởi cầu trúc
43.3.2 Trường hợp câu thường được xera là có chủ ngữ đão trí 151 43.3.3 Trường hợp câu thường được xera là có chủ ngữ zero (chú ngữ tỉnh
4.3.4, Chủ ngữ của các câu có thành tô chỉ thời gian đứng dâu, 159
Trang 5NGUON TU LIEU TRICH DAN TRONG LUAN AN — - 201
vì
Trang 6Danh mục các bảng
Bang 1.1 Vidu (1)
Bang 1.2 Vi du (2) phan tích phối hợp 3 kiểu cầu trúc của câu
Bang 1.3 Vi du (1) phân tích phối hợp 3 kiểu chủ thế có mặt trong cau
Bang 1.4 Vi du (2) phân tích phối hợp 3 kiểu chủ thể có mặt trong câu
Bang 1.5 Vi du (3) phan tich phối hợp 3 kiểu chủ thể có mặt trong câu
Bảng 1.6 Ví dụ (4) phân tích phổi hợp 3 kiểu chủ thê có mặt trong câu
Bang 3.4 Bang đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chí chủ ngữ điển mẫu cửa cáo thành
+6 trong ví dụ kiếu “Cơm bà ấy ăn bữa ba bát” 138
Bang 4.1 Mức độ đáp ứng bộ tiêu chí của chú ngữ trong câu có hệ từ là” 130 Bang 4.2 Mùe độ đáp ứng tiểu chí điển mẫu của chủ ngữ được cấu tạo bởi thể
Băng 4.6 Mức độ đáp ứng tiêu chí điển mẫu của “nó” với tư cách là chủ ngữ thực
vả ch ngữ hình thức
Bang 4.8 Bing phân loại cấp dỗ thành viêu trong pham trủ chủ ngữ
Bang 4.9 Bông phản loại các cấp dô chủ ngũ phi điển mẫu
vũ
Trang 7Bang 4.10 Bâng thếng kế số lượng chủ ngữ diễn mẫu và không diễn mẫu trong 6
viii
Trang 8Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Mô hinh 3.1 Quá trinh đỗ chiều khái niệm “tabls” lên mắc định vị “under” 100
Mô hình 3.2 Quá trình đỗ chiéu “the newspaper” lén méc dinh vi “under the
Mê hình 3.3 Mô hình truyền năng lượng từ F đến G ¬— .107
Mô hình 4.1 Phạm trủ chủ ngữ trong tiếng Việt TH se .183
Trang 9câu Dã cỏ một số công trình, luận án bàn về cách xác định chủ ngĩt tiếng V
cũng như đưa ra các biện pháp wham giải quyết vẫn đề thành phân câu tiếng V néi chung, song các quan điểm vẫn chua đi tới sự nhất trí
Sự không thống nhất trong các quan điểm còn khiển các nha ngén ngit hoe
thậm chỉ đã đưa ra giá thuyết “tiếng Việt không có chủ ngữ” (no Xuân Hạo) và
nghi ngờ tư cách xác đáng của cầu trúc chủ- vị được áp đụng lâu nay để rniều tả câu trúc củ pháp của câu tiếng Việt Cũng có một số tác giả, đủ không nghỉ ngờ sự tên tại của chủ ngữ tiếng Vi
song cũng nhận định rằng, việc x
dịnh chữ ngữ không phái là điều dễ dáng, cần phải xác lập các tiêu chỉ chặt chẽ thì mới cỏ thể xác định được Nhiễu tiêu chí đã được đưa ra để nhận điện thành phan quan trọng này của câu, cả các tiêu chí hình thức vả ngữ nghĩa Song, như lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt cho thấy, đây lá một việc làm hết sức khỏ khăn bởi hiện thục nhiều chiều kich
câu bao giờ cũng phức tạp hơn rất nhiều so với những lập thức lí thuyết ban dẫu, có lẽ bởi vậy mà dến hiện nay van chưa có một mô hình, một cách giải quyết nào thỏa đáng được đưa ra
Nguyên nhân sâu xa của sự tranh luận và bản cãi vẻ vẫn đẻ tiếng Việt có hay không có chủ ngữ nảy, chỉnh là bản chất củ pháp của tiếng, Việt, một ngôn ngữ đơn
Trang 10lập điển hình với câu hỏi ma cho dén nay các nhả ngữ pháp vẫn chưa thống nhất được câu trả lời: “tiếng Việt là ngôn ngữ thiên về chủ ngữ hay thiên vẻ chú để”? Trước những vận để đặt ra, chúng tôi muốn bất đâu tiếp cận vấn để chủ ngữ dưới một góc nhìn mới: “lý thuyết diễn mau” (Prototype Theory) dé tim dén câu trả lời
ma ching tôi hy vọng là có nhiều thỏa đáng Dây là một lý thuyết hiện được áp dụng phổ biển trong nhiều lình vực khoa học, đặc biệt có hiệu quả khi áp dựng cho những hiện tượng, sự vật có ranh giới phạm trù không rô ràng, Trong tiếng, Việt,
việc nghiên cứu lý thuyết điển mẫu như một chỗ đựa đề xáo định các vân dé tâm và
biên đã được ứng đụng trong nghiên cứu lừ vựng nưữ nghĩa Vậy Irong lĩnh vực ngữ pháp, khả năng ap dụng lý thuyết điển mẫu có thể đạt hiệu quả tới đâu? Trong luận
an nay chúng tôi sẽ áp dụng lý thuyết điển mẫu vào việc nghiên cứu thành phân
chỗ ngít mà raụø đích hướng đến là đựng nên một bức tranh về phạm bù chủ ngữ
của câu tiếng Việt với nhiêu loại chủ ngữ khác nhau cùng những đặc điểm riêng của chủng, những đặc điếm quyết định chúng sẽ ở vừng tam (dién mau) hay ving biên (không điển mầu) của pham trủ này
2 Dai tượng và phạm vi nghiên cứu
nguồn tự liệu được mỡ rộng ở cả phạm vì báo mạng, hay lời nói trực tiếp, để ngữ
liệu khảo sát đuợc đa diện và phong phú hơn, tức tư liệu của chúng tôi không chí la
tiếng Việt việt (written) mả còn là tiêng Việt nói (spoken)
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Áp dụng lý thuyết điển mẫu vào việc xem xét chú ngữ trong trếng Việt,
chúng lỗi muốn bắt đầu chỉ ra các cơ sở xác lập một điển mẫu chủ ngữ, bao gồm
cư cae tiéu chi chung dé tir dé xem xét các thành phan có thể dóng vai trỏ làm chủ ngữ trong câu Nếu thành phan nao dap ứng được các tiêu chí như vậy, thi thành phân đó
sẽ được xern là chủ ngữ điển mẫu Tuy rửtiên, trường hợp các thành phần không đáp từng được đây đó các tiêu chỉ trong danh sách thì có nhất thiết bị loại ra khỏi phạm
trủ chủ ngữ không? Có trường hợp ngoại lệ không, tức có thể nghĩ đến các chủ ngữ
không điển mẫu không? Và trong trường hợp nay thi cdc chủ ngữ không điển mâu
sẽ được xem xét như thé nao? T'ang hợp tất cả các kết quá nghiên cứu trên, luận án
sẽ góp ý kiến vao việc trả lời câu hỏi lý thuyết: về mặt loại hình học củ pháp tiếng
Việt thuộc loại hình ngôn ngữ nảo: thiê
chủ để (Topic-prominenÐ, tiếng Việt có chủ ngữ bay không, có thể đùng bộ khái
chủ ngĩt (Subject- promiuer) hay thiên
Tiệm câu trúc cú pháp nào để miêu tâ câu tiếng Việt?
4 Phương pháp nghiên cứu
Thương pháp nghiên cứu đặc thủ của luận án là phương pháp miêu tả và
phân loại theo tình thần của lý thuyết diễn mau Nhat quản với tình thần phân chia các thành viên theo mức độ trong phạm trủ chử không theo sự phân biệt rành zồi
giữa “có” và “không”, chúng tôi tiến hành phản tích, miêu tả các trường hợp rất cụ
thể dễ có thể xếp loại theo một mức độ hợp lý nhất Thông qua việc phản tích, miều
†ä, luận án sẽ tìm ra được các thang độ đi từ tâm ra biển của các thành viên trong
phạm trủ chủ ngữ Với legic như vậy, phương pháp luận của luận án là phương pháp quy nạp, các nhận định được nêu ra dựa trên dữ liệu thu dược tử các thủ pháp nghiên cửu sau day:
~ Phân tích củ pháp (theo mô hình tann điện của ký liệu học),
- Các thủ pháp so sánh tương phan, thay thé, tỉnh lược, cải biến, chêm xen
- Phương pháp định lượng, định tính;
~ Phương pháp đối chiếu (đối chiêu với cứ liệu tiếng Anh),
Trang 12~ Các kỹ nắng phân tích, thông kẻ, xử lý tư liêu bằng phan mém SPSS luge
đổ, bảng biểu hỗ trợ cho các miều tả định lượng,
5 nghĩa và đồng góp
Loan án sẽ tiến hành nghiên cửu diễn mẫu áp dụng cho chủ ngữ ở mức độ cụ thê nhất có thể, nhằm tránh những khó khăn lâu nay trong việc xác định và phân loại Việc chỉ ra các ngoại lê và các chủ ngữ không điển mẫu chắc chân sẽ giúp tránh được cai nhin phiển diện trong nghiên cứu, mà vẫn không làm mắt tịnh thông,
nhất của các thành phần vễn chỉ khác nhan vé mức độ Dường hướng này sẽ giải
quyết được những khỏ khăn mã đường hưởng nghiên cửu các vẫn đề dựa trén cách định nghĩa theo danh sách đặc trưng (essential features) đã gặp phải vả không tài
nảo giải quyết được
thôi: Hếng Việt là ngôn ngữ thiên về chủ ngữ hay thiên về chủ đề?
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận an sẽ có thể ung dụng, trong, việc biên soạn sách giáo khoa tiếng Việt, sách đạy tiếng Việt cho người nước ngoài
và các sách giãng đạy ngữ văn
Cái mới của luận ản: Như mọt người đều biết, thánh phần chú ngữ trong tiếng Viết đã là đổi tượng quen thuộc của nhiều công Irình nghiên cửu
ú pháp lâu nay Và trong thời gian gần dây lý thuyết diễn mẫu cũng dã bắt dau xuất hiện trên những bài báo, công trình nghiên cứu vẻ từ vựng, ngôn ngữ học xã hội, hay cú pháp (câu điều kiện, câu đặc biệt ) trong tiếng Việt Tuy nhiên, áp dung ly thuyết điển mẫu đề nghiên cửu thánh phẩn chủ ngữ trong câu tếng Việt lại là một đường,
trưởng chưa có tác giả nào thực hiện Luận án sẽ góp phân vào việc tim một hướng,
đi mới cho việc giải quyết một vẫn để của cú pháp tiếng Việt nói riêng
ä cú pháp
nói chung, và chứng tôi tin ring các kết quả đạt được của luận án sẽ góp phản giúp
lý thuyết điền mẫu được áp dung, sau rồng hơn trong các nghiên cứu về củ pháp, nơi
Trang 13mã ranh giới mờ giữa các phạm trủ luôn lúa hẹn là mảnh đất tốt cho lí thuyết này phát huy tỉnh hiệu quá
6 Bỗ cục
Ngoài phần mớ dâu, kết luận, luận án gồm 4 chương nội dung:
Chương 1 Lịch sử vần đà và Cơ sở ïp Huyết
Trong phân lịch sử van để, chúng tôi tổng kết lại các khuynh hướng nghiên cứu về thành phần “chú ngữ” nói riêng, kết câu “chủ- vị” nói chung của các tác giả
trong nước và trên thế giới Trong đó, chúng tôi đặc biệt nhân mạnh đến các nghiên
cứu gần đây theo khuynh hướng đặt ra nghủ vẫn “có hay không có chủ ngữ lương
tiếng Việt”
Thân Co sở lý thuyết trình bảy tập trưng vào lý thuyết chính của luận án Tý
thuyết điển mẫu Thông qua việc lỏm tắt các công trình nghiên cửu lý thuyết điển
1p dụng của lý thuyết điển mẫu vào nghiên cứu củ pháp, chúng tôi để xuất cách áp dung lý thuyết điến
xuấu trong nghiên cứu thành phản chủ ngữ ting Việt
Chương 2 Cơ sở xác lập và bộ tiêu chỉ xác định chú ngữ điễn mẫu
Chương này Irình bày các bộ tiêu chỉ được luận án lấy làm nên tầng (bộ tiêu
chi ctia Keenan, Dyvik, các tác giá Việt ngữ học ), đẳng thời xây dựng nên bộ tiêu
chỉ thích hợp để xác định chủ ngữ điển mẫu trong câu tiếng Việt gồm 3 nhóm tiểu
chỉ bị tiêu chỉ ngữ pháp, tiêu chí ngữ nghĩa, và tiêu chỉ ngữ dụng,
Chương 3 Các trường hợp chủ ngữ diễn mẫu trong câu tiếng Liệt
Thông qua số liệu thống kê và miêu tả các vi đụ, luận án tổng hợp lại các kiểu câu có chủ ngữ đáp ứng được đây đủ các tiêu chí đẻ ra trong bô tiêu chỉ điển mẫu Các trưởng, hợp nảy sẽ được khảo sát cụ thể ở tất cá các bình diện
Chương 4 Các trường hạp chủ ngũ không điền mẫu trong câu tiếng Việt
Trang 14tiêu chỉ mà chúng đáp ứng dược Từ dó, chúng tôi xây dựng sơ dỗ (từ tâm ra biên) của các thành viên điển mẫu và phí điển mẫu trong phạm trù chủ ngữ.
Trang 15Chương 1 LỊCH SỬ VAN BE VA CO SG LY THUYET
11 Các khuynh hướng nghiên cứu “chủ ngũ” trong các trường phải ngôn
ngữ học
1.11 Khuynh hưởng cỗ diễn
Thuật ngữ chủ ngữ xuất hiện trong các tác phẩm về logic hình thức của Aristotle từ những năm 300 trước công nguyên “Bằng việc sáng lập ra logic học và gắn liền với nó là việu nghiên cứu sự biểu dat tu duy bằng ngôn ngữ, Arislolle là người sảng lập ra ngữ pháp học logic ma ugay nay, người fa còn thây ảnh hưởng, sâu đậm trong ngữ pháp nhà trường cũng như trong ngữ pháp khoa học ö châu Âu và thể giới” |64: 153] Trong dỏ, chủ ngữ (hay chủ từ) dược biểu như muội trong hai bộ phận cấu thành nên phản đoán gồm 8 (subjeot chủ ngữ) và P (predicale vị ngữ) được việt đưới dạng & là/không là P Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, vào thời kì của Aristotlc, khi bản về ngôn ngữ người ta chưa dua ra một khải niệm về chủ ngữ một cach cy thé, ma chi dé cap đến thuật ngữ mà saư này được hiểu như chú ngữ/chủ tù,
dé 18 énéma Sé di Aristotle cho rằng “ónóma và réma đã phần nàa mang ý nghĩa của danh từ vả động từ, vi ông dã dựa vào những tiêu chi hinh thai học, rẻma od ¥ nghĩa độc lập, kèm theo sắc thái về thời gian, còn ónóma thì không có sắc thái vẻ thời gian, mà là những tên gọi thuộc giồng đực, giỏng cái hay giồng trưng Tuy vay,
ở nhiễu chỗ, rẻma bao gồm cá tính tử vẫn được tác giả coi như “vị ngữ” (dùng thuật
ngữ của ngôn ngữ học hiện đại) và ónóma cùng vẫn mang ý nghĩa của chủ ngĩt
Không tách biệt từ loại và chức năng cú pháp là một trong những đặc điểm của ngữ pháp học thời này” |64: 151 |
Trong một thời ki đài, logie học có ảnh hưởng một cách tực tiếp đến cách phân tích và lí giải về ngôn ngữ Đặc biệt đến thế kỉ 17, đo ảnh hưởng của logic học Aristotle, sy ra đời của cuốn “Ngữ pháp tổng quát và duy lý” do Arnauld và Lanecelot — 2 nhà giảo của rư viện Port-Royal - soạn năm 1660 đánh đâu một bước xgoặt của ngữ pháp học, mà cũng là cửa ngôn ngữ học châu Âu Hai tác giá Amauld
„
Trang 16và Lancclot đã đẻ cập dến thuật ngữ “chủ từ” (tương ứng với cách gọi “chủ ngữ” hiện tại) với tư cách là một thành tổ của phán đoán “Phản đoán má ta tiến hành đối
cái rondc), gọi là MỆNH ĐỀ: và thế
la mợi mệnh đẻ bao gồm hai thánh phần: một là chủ từ, lá cái dược ta khẳng định, như guả đất chẳng hạn; và hai là thuật từ (attribuQ là điều mà người ta khẳng định
xử (rên chẳng hạn: ngoài ra còn mỗi nói giữa hai thành phẩn là ca” |64: 299]
với gác vật như khi tôi nói gi đất tron (la tert
Mặc dủ không chú ý nhiều đến cú pháp ngôn ngữ mả chỉ chủ ý đến củ pháp
phân đoán, các tác giả oũng đã nêu ra một số quan điểm về thành phân gọi là chủ
1rgí? và các quy tắc liên quan đến chủ cách như sau
- Không bao giờ ta gặp chú cách má không có quan hệ với một động tử nảo
đó
- Không cỏ động lừ nêu không có chú cách của nó, đủ là được biểu lộ hay được hiểu ngâm là có Bởi vi thuộc tính của động từ lä bày tỏ sự khẳng định, cho niên đòi hỏi chủ từ phãi được khẳng định
(Dẫn theo |64: 301 |) Như vậy có thể thấy, ngữ pháp học Port-Roval bị chỉ phối mạnh mế bởi logic học cita Aristotle va triết học duy H của Baycen, T.eibniz va Descartes (ma dic biét 1a Dcscartcs) Theo đó, ngữ pháp Port-Royal đã dỏng nhất ngôn ngữ với tư duy, logie, đồng nhất cầu vả phán đoán, đồng nhất chủ ngữ của câu với chú từ của phán đoản, cũng như đồng nhất vị ngữ của câu với vì Lừ (thuật từ) của phún đoán Điểu này cũng thể hiện một cái nhìn hình thai hoe déi với phạm trừ “chú ngữ”
Tuy nhiên, như ngày nay mọi người đều biết, tư duy vả ngôn ngữ, logic và ngữ pháp không thẻ đồng nhất mặc đủ giữa chúng có môi quan hệ chặt chế Việc áp dụng một ngữ pháp phê quát cho mọi ngôn ngữ cũng là một điều không thể, Ngữ
phap Port-Royal chỉ giới han ở việc nghiên cứu một vài thứ tiếng chan Au ma lại
khái quát lên cho mọi ngôn ngữ là một điều hết sức sai lầm và đẫn đến nhiều tuân thuẫn về sau Tuy vậy, ngữ pháp Pori-Royal cũng đã chứng tố được tắm ánh hướng,
của mình cä về bẻ rộng và bẽ đài lịch sử về sau Bằng chứng là trong suất thé ky
XVII, “mọi công lrình ngôn ngữ hay triết lý — ngôn ngữ ö thé kỹ nảy đều mang
Trang 17theo ảnh hưởng của ngữ pháp Port-Royal" dưới dạng này hay dạng khác |64: 315] Chẳng hạn, về khái ruệm chú ngữ/chủ từ, tác giá Duy Miacxe (Các nguyễn lý ngũ
pháp học) đã lập luận: chủ từ phải đặt rước động từ vì “tự nhiên và lí trí dạy ta
rằng: 1/Cân tôn tại mới có thể hoạt dộng, 2/cän tổn tại mới có thể là dối tượng của một hoạt động nao đó, 3/cần tổn tại trong hiện thực hay trong sự tưởng tượng thì
angi có thể định nghĩa dược” |64: 320| hay Vico cho rằng “mênh dễ cần phải có một chú tử” nên “danh từ ra đời dần dân, trước động từ Động tử xuất hiện sau củng” [61 31]
Khuynh hướng ngữ pháp duy lý Pon-Royal cũng đã có những ảnh hưởng sâu rộng đến ngữ pháp tiếng Việt thời kì đầu tiên
Tuy nhiên, khuynh hướng tâm lý tự nhiên của ngôn ngữ học lí thuyết về sau
đã bắt đầu có sự thay đôi Không đồng nhât ngôn ugit
ói tư duy (mà chỉ xem ngôn ngữ là công cụ tạo nên tư tưởng, là phương tiện cơ bản của tư đuy và của ý thức)
nén Potebnja không tán thành quan điếm của trường phái logic về quan hệ giữa câu
va ménh dé (phan đoán) và cho rằng mệnh dễ ngữ pháp nói chưng không đồng nhất
với mệnh đẻ logic ([64: 453] Bởi vậy ông thừa nhận những mỏ hình câu không chú
ngí£ “Sự phát Iriển của câu không chủ ngũ chứng tô có gắng thay thế danh từ ngay
cũ khi nó làm chủ ngữ Ví đụ Gremuit' (Sắm vang) Cầu không chủ nạữ hiện cỏn it
nhưng theo sự phát triển của ngôn ngữ, loại câu ấy sẽ nhiều thêm” Bên cạnh đó,
ông cho rằng đặc điểm của chủ ngữ là danh cách của động từ (đẫn theo Nguyễn Kim Thán [64: 453])
Cách tiếp cận cấu trúc cú pháp câu từ góc độ hình thái học, định nghĩa chủ
ngữ là “danh ngữ có hình thái ở đanh cách" đã để cập đúng cương vị ngữ pháp của chủ ngữ trong côu, tức là chủ ngữ ngữ pháp Mặc dủ vậy, do không phải ngôn ngữ
ảo cũng có hiện tượng biến cách của danh từ và hình thức nhân xưng của động từ
niên đây không phải là một đặc điểm phễ quái
Cuối thé ki XIX dau thé ki XX, với sự phát triển của khuynh hưởng Ngữ
pháp trẻ với trường phái Laixich, trên quan điểm tâm lý học, Fortmatov có cách
tiếp cân độc đáo và cú pháp học Môi quan hệ của các biểu lượng với nhau thường
Trang 18được gọi là các phán đoán tâm li, trọng dỏ có thể chia làm 2 phản: phần thứ nhất
“đa phần thứ hai tiên giá định, gọi là chú ngữ tâm lý”, vả phản thủ hai “trong mỗi quan hệ với phần thứ nhất, gợi là vị ngữ tâm lý” Chủ ngữ tâm lý là biểu Lượng hay phức thẻ biểu tượng, hiện ra trước tiên trong ÿ thức của người nói hay người nghe
“Từ góc nhìn của ngồn ngủ, mỗi phán đoán tâm lý gồm có ba yếu tổ: 1) biểu tượng của đổi tượng lư tưởng thư nhất thuộc phạm trừ sự vật Hầu, 2) biểu Lượng cửa đối tượng, thử bai (trường thuộc phạm trủ vận động), 3) quan hệ hay sự khuyết quan hệ của các đổi tượng ây Ilinh thức biểu đạt phán đoán tâm lý là câu Song phân tích câu về mặt ngữ pháp có thể không trùng hợp với phân tích phân đoán tâm lý
Vị dụ: phản đoán tâm lý NN priekhal is Moskvy (NN tit Moskva téi) c6 chu
net tam ly “NN priekhal” (su kién đã biết), và vị ngữ tầm ly “iz Mfoskvy” (néu điều
andi) [64: 471}
Nhung phản đoán “Priekhal NN” lại có Priekhal là chủ ngữ tâm lý (điều đã biết) và N (thông báo mới) là vị ngữ tâm lý, háy khi prieklai NN tham gia vào vị tgữ tâm lý thì chỗ ngũ tâm lý lại là muột biểu tượng ð ngoài ngôn ngữ
Như vậy, Fortunatov có quan điểm động về môi quan hệ giữa các phạm trù tâm lý và logic Cách tiếp cân nay có ảnh hưởng mạnh đổi với lý thuyết chia câu theo thành phân thông tin trọng yếu của trường phai Praha thể kỹ XXX (còn dược gọi tên la li thuyết phân đoạn thục tại hay li thuyết phản đoạn thông tin)
Để thoát ra khỏi cách tiếp cận hình thái họe, một số nhá ngôn ngữ học (tiêu biéu nhu A.A.Reformatskij) đã dựa váo cơ sở lí thuyết ngữ đoạn, theo đỏ ngữ doan được chia ra bai loại: ngữ đoạn vị tính và ngữ đoạn phi vị tỉnh Ngữ đoạn vị tính lả ngữ đoạn có mỗi quan hệ biếu thị sự phụ thuộc của hai thánh phần có mỗi liên hệ bắt buộc về thời và thức Và từ đó, chú ngữ được định nghữa: “Chú ngữ lả cải được xác định có tính chất tuyệt đối, là thành phân được xác định của ngữ đoạn vị tính ” I61: 20] Tuy nhiên cách tiếp cận thuận Lấy cấu trúc này vẫn gặp phải rất nhiều hạn
chễ, ví dụ nhụ phạm trù thời không phái là phạm trủ đặc thù cúa ngữ đoạn vị tinh.
Trang 191.1.2 Khuỳnh hướng cầu trúc và khupnh hưởng chức năng
Có thé coi L.Bloomfickl là dại điện cho khuynh hướng câu trúc, ông định nghĩa chủ ngữ là thành phần “có vẽ giống đỗ vat hon” (more object-like) và phần còn lại là vị ngữ Cái phản “có vẻ giống để vật hơn” thực ra lả một cách nói đến danh ngữ, tuy nhiên cách định nghĩa này không làm rõ dược chức năng và đặc tỉnh ngữ pháp của đanh ngữ làm nhiệm vụ chủ ngữ
Akhmanova định nghĩa vẻ chủ ngữ trong Tủ điển thuật ngữ ngôn ngữ học là thành phân chỉnh của câu song phân, về phương điện ngữ pháp không lệ thuộc vào
các thành phân khác của câu, đùng để chỉ sự vật làm đẻ tài cho điêu được thông bao
trong vì ngữ, ngiữa là cái ngữ đơạm (hay lừ) biểu thị cái đối lượng của tư duy mã nhờ đó nội dung của điều phát ngỏn trong câu được xác dịnh và nêu rõ
Tuy nhiên, cách định nghĩa của các tác giả theo khuynh hướng câu trúc, như R.HRobis nhận xét, đã không phâu biệt chủ ngữ với tư cách là thành phẫu của cầu với chú ngữ logic, chủ ngữ tâm lý
Người đầu tiên định nghĩa chủ ngữ trên quan điểm chức năng là A Martinet
A Martinet cho ring, thanh phan chủ yếu củ
âu là vị ngũ, còn chủ ngữ được xác định là nhờ quan hệ nếi bật với vị ngữ sơ với các thánh phần khác Tác giá đưa ra
khái niệm “khai triển” (hay mở rộng) để định nghĩa: “Chủ ngữ là thành phan khai
triển của vi ngữ để cho kết hợp chủ ngữ - vi ngữ thành một câu” Từ đó, cỏ thể xác định chủ ngữ bằng cách loại bỏ các thành phần câu khác, sau đỏ chỉ còn lại cải lõi
mà vẫn không mắt tính chất câu, sẽ bao gồm chủ ngữ vả vị ngữ Cách miều tả chủ
ngữ của A Martinet có phản giống với cách miều tả sự tình trong, câu của Tesniere được trình bày đưới đây, nhưng có bổ sưng thêm một số tiêu chí hình thức (sau này
được các nhà Việt ngữ tiếp thu đề nhận điện chủ ngữ tiếng Việt Các tiêu chí hình
thúc đó là
-_ Dặc trung vị trí của chủ ngữ lã đúng trước vị ngữ
-_ Đặc Immg về tính không thể lược bỏ cửa chủ ngữ
-_ Đặc trưng về sự phủ ứng với dòng từ của chủ ngữ
-_ Đặc trưng vẻ tính không phổ quát
Trang 20- Co thé tham gia vào quả trình cải biến cầu bị đông (một dặc trưng của các ngồn ngữ thiên chủ ngữ)
Sau này, F.Keenan đã vận dựng khái niệm đa nhân tổ (Mulli — Faclor concept) để
trên cả 3 bình diện: ngữ pháp, ngù nghĩa, và hình thức Cách làm này tuy rằng có
tính sáng tạo, nhưng trên thực lễ không thể thành công, bổi các ngôn ngữ trên thế giới không cùng chung một loại hinh nên chủ ngữ trong các ngôn ngữ không thé
cừng có một bộ tiêu chí như vậy được, đỏ là chưa kế đến sự thể rằng không tìm thay
Trgốn ngữ? nào mà chủ ngữ cửa nó thốa mãn đây đủ tất cả 3Ô tiêu chí như vậy (Cao
Xuân Hạo 1991)
Simon Dik, theo khuynh hướng ngữ pháp chức răng hiện đại, đã phân biệt rã
xảng ba bình điện chức năng của ngôn ngữ: nghấa học, kết hợc,
ä dụng học Từ đó, tác giá xác định chủ ngữ là một chức năng củ pháp thuộc bình diện chức ning cu pháp “Chủ ngữ xuất hiện trong câu như một sự vận đụng một chúc năng củ phản dé biểu hiện một số chức năng nghĩa học thuộc binh điện chức năng nghĩa học” |84 13] Và tác giả định nghĩa chủ ngữ “như một thánh tế chỉ cải thực thể được cơi như
“thức Iphần dư” dùng đề thể biện nghĩa liên nhân), khác hắn với các tác giá khác thường đốt vào bình điện mủ pháp thuận tủy
Trang 21Tuy nhiên, không phải học giả nào cũng đồng ý với quan diễm “chủ ngữ tổn tại trong mọi ngôn ngữ” Có thể thấy luận điểm nay trong các khuynh hướng ngữ vị
Tiọp (các lác gid di lim các đặc điểm cầu trúc thuận tủy của ắc kiều kết cầu ngữ
doạn như kết cầu hướng, tâm và kết cấu ly tâm), trường phối miễu tả luận của Mỹ (L.11jelmslev, Z.S.Harris miu tả câu theo phương pháp thành tổ trực tiếp và thủ pháp thay thế, luy rằng vẫn cd dễ cập đến câu trúc hai thành phần) Đặc biệt sự phê phan sự phân đoạn chữ/vị có thể tìm thấy ở các tác giá như Tesniẻre và Fillmore, 1a
những tác giả theo khuynh hướng ngũ pháp ngữ nghĩa
1.1.3 Khuynh hướng ngữ phúp ngữ nghĩa
L.Tesniére trong tic pham của mình đã dễ hẳn một chương dẻ bác bỏ sự tên tại của các khái niệm này (chủ ngữ, vị ngữ) và bênh vực cho quan điểm ngữ pháp phụ thuộc của mình (dẫn theo Lê Xuân Thại, 1994 |6] J) Theo T Tesniére, edu chi
có một dĩnh đuy nhất lả vị tử trung tảm và các thành tổ khác đêu phụ thuộc hay bị khống chế bởi vị từ trung tâm của câu Tác giả đã chỉ ra một số nhược điểm của ngữ pháp truyền thống Irong việc phân chia hai khái miệm “chủ ngữ - vị ngữ” và sự phê phản nảy đã nhận được sự ủng hộ của ChJ.Fillmore Fillmore cho ring Tesnière hoàn toàn đứng khi nhận ra
sự phân chủa chủ ngữá ngữ là một xự nhập cảng vào bf dugt ngôn ngấ
học từ cái logie hình thức của một khái niệm không được các sự thực của
ngôn ngữ ủng hộ, và hơn nữa, ông cũng chủ trương rằng sự phan chia đó đã
làm mờ đi rất nhiều cải song song về kết cẫu giữa “chủ ngữ” và “bỗ ngữ” Các loại quan sát mà một số học giả đã làm về những sự khác nhau giữa
ngữ đoạn “vị ngữ” và ngữ đoạn “chỉ định” có thé được chấp nhận mà
không hệ phải tìn rằng sự phân chia chủ ngữềvị ngữ có dòng một với trỏ, trang các quan hệ cú pháp kết cấu sâu giữa các thành tổ của các cấu
[29: 28-29] Như vày, các tác giả theo dường hướng ngữ pháp Tosnidrc cho rằng, cấu trắc
củ pháp của câu thực ra là một nủt động từ và các diễn tế xung quanh lảm bễ ngũ
Trang 22cho nó Về mặt ngữ nghĩa, câu gồm sự kiện (vị tử trung tâm) với các nhân vật (diễn tổ) và hoàn cảnh (chu tổ) Sự phân chia chủ ngữ/vị ngữ là hoán toàn không xác
ding
11-4 Khuynh hưởng ngữ phúp tạo sink
Tắt cả các khuynh hướng lý thuyết ít nhiều đều có những mỗi liên quan, hoặc ít nhật cũng chưng một tên gọi với thành phân “chñ ngữ” Nhưng trong ngữ pháp tạo sinh, người ta cho rằng, rnô bình ngữ pháp không phải là cầu trúc phẳng (theo kiểu dân hàng ngang C-V-B) mã là câu trúc tổng bậc Do đó, đơn vị trưng tâm của cú
pháp không phải là cae cau tic (constructions) niia, ma thay vao đó là các trung,
tâm chức ning (functional heads) Cai goi Ja “chi ngữ” trong ngữ pháp truyền
thống được thay thể bằng thuật ngữ 'speoifier (yếu tổ loại biệt, thể hiện quan hệ giữa gác trung lâm chức năng trong mô hình (ngoài yếu lồ loại biết - spceifier còn
có các yếu tổ bổ sung - complement) Nếu như trong ngữ pháp truyền thống, trong
câu chỉ có một chủ ngữ, thi theo ngữ pháp tạo sinh, nhân tổ loại biệt (specifier) có
thê
ở bãI cứ quan hệ nào giữa các trung tâm chức năng ([unetional hoads) Điều
nay xuất phát từ việc quan sát thực tế: không có cái gọi là phổ niệm chủ ngữ giữa các ngôn ngữ
1.1.5 Khuynh hướng trí nhận
Muốn hiểu khuynh hướng trí nhận thủ tốt nhật là dặt khuynh hướng này doug
sự se sánh mang tính đồi trọng với ngĩ pháp tạo sinh Ngữ pháp tạo sinh là một loại
cũ pháp hình thức, gồm một tập hợp những nguyên tắc tô chức các tín higu ma không cản quan tâm dến nghĩa của ching Như vậy ngữ pháp tạo sinh tiền giả định một cách tiếp cận khách quan luận đối với sự trí nhận lrong khi đỏ, ngữ pháp trí xhhận cho rằng các mô hình trí nhận (eognilive modela) được gán nghĩa thông qua mới liên hệ của chúng với kinh nghiệm, dặc biệt những kinh nghiệm có tỉnh nghiệm thân (embodimenf) Theo đó, các thông số hình thức trong các kết cấu ngữ pháp không độc lập với nghe má là có nguyên do, và trong nhiều trường hợp thậm chú cỏ thể dự đoán trước dựa trên cơ sở ngữ nghĩa Theo cách hiểu như vậy, nhiều bình
Trang 23diện của cấu trúc cú pháp là cỏ nguyên do, hay là hệ quả dựa trên câu trúc của các znô hình trị nhận
T.akotT muốn chứng mình rằng các phạm trù xuyên tâm/lan tỏa (radial) cd mặt trong ngữ pháp và chúng có củng chức năng như là các phạm trủ xuyên tâm trong từ vụng, chủ yếu là làm rõ mỗi quan hệ tương liên giữa dang thức và nghĩa, Tầng phạm Irủ các cầu trúc của câu trong một ngôn ngữ được kiến tạo theo lối xuyên tâm, với một tiêu phạm trủ trung tâm vá nhiều tiểu phạm trù phi trung tâm Những,
câu trúc câu phi trung tâm có quan hệ một cách hệ thống với các câu trúc câu trung
tâm theo kiểu lăn lỏa, và quan hệ Lương liên dạng thức-nghữa của chúng phần lớn nay sinh từ môi quan hệ dạng thức-nghĩa cúa các câu trúc trưng tâm
1Lakoff chỉ trích những li thuyết ngữ pháp trước ngữ pháp trí nhận, chủ yêu là chỉ trích ngữ pháp lạo sinh, bằng những biện luận san đây
Thứ nhất, những lí thuyết về nghĩa được sử đựng bởi các lí thuyết ngữ pháp
đỏ nói chung là một phiên bản của ngữ nghĩa học khách quan luận (tức chí quan tâm dến quan lê giữa dụng thức biểu đạt và những đối tượng được biểu đại trong thể giới khách quan) Trong khi đó, ngữ nghĩa học trí nhận lại đỏi hỏi những mô tỉnh ân du và hoán dụ cũng như sử đụng lí thuyết không gian tĩnh thản
Thứ hai, những li thuyết như thể không giải thích thỏa đáng các kết cấu ngữ pháp như là một thể song đôi trực tiếp của các thông số hình thức va các thông số
cb li da (netivation) là khái niệm cản thiết
“Thử năm, các lí thuyết khác nỗi kết các trường hợp trung tim với phi trung, tâm thông qua cải biến cú pháp hoặc những công cụ tương tụ, đại loại như như cáo giêu quy tắc (melarules), các quy tắc rườm (rcdundaney rulcs) Những quy tắc nhụ
Trang 24thể thường để chỉ phục vụ chơ các môi quan hệ cú pháp Thay vào dó, ngữ pháp trí nhận cần một khái niệm về “ecological location”, tic cin mét tidu pham tra trang tâm cộng với những kết nổi từ các tiểu phạm Ini phi trung lâm đến tiểu phạm wit trung tâm Những kết nổi như thế mang đặc trưng của cái mả ngữ pháp trí nhận gọi
là các quan hệ “dựa trên” (“based on” relations) Chúng khác với các phép cải biến
ở chỗ chúng có thể cụ thể hóa những quan hệ về ngữ nghĩa và ngữ dụng, bao gồm
cá những mỏ hình ân dụ và hoán dụ (ý nảy phê phản bộ máy hình thức của ngữ phấp tạo sinh, trong đỏ có những khái niệm được đặt ra chỉ mang tính bộ lạc (filer}dé phuc vụ cho các mỗi quan hệ hình thức, chuyển từ hình thức này sang hình thức khác Còn theo ngữ pháp kết câu, mỗi cấu trúc có một nghĩa riêng, phản
ảnh một cách trí nhận riêng, và không có kết câu nào là cải biển của kết cấu nào-
chúng tôi chi thich, BHD)
Thứ sáu, hậu hết các lí thuyết khác (ngoại trừ đáng kế là ngữ nghĩa học tạo sinh) giả định rằng các phạm trù cú pháp vả các quan hệ ngữ pháp đêu mang tính
“bự trị”, tức độc lập hoàn toàn với nghĩa và cách sử đụng, Trong khi đỏ, ngữ pháp trì nhận lại cho rằng các phạm trủ củ pháp vả các quan hệ ngữ pháp đều có cầu trúc xuyên lâm, với một trung tâm điền mẫu có thể được dự đoản trên cơ sở ngữ nghữa Những thành viên phí trung tâm là những thành viên mở rộng, không phải là có thẻ đoán trước dụa trên cơ sở ngữ nghĩa nhưng lại có li do điển hình về ngữ nghĩa hoặc
agit dung
Thử báy, hậu hết các lí thuyết khác (một lần nữa, loại trừ ngữ nghĩa học tạo sinh) giả định rằng những chế định cú pháp đối với sự xuất hiện một kết cấu là không thế đoán trước từ nghĩa của kết cấu đó Ngữ pháp tri nhận có quan điểm ngược lại khi cho rằng rất nhiều chế định cú pháp có thể doàn trước được dựa trên
cơ sở nghĩa
Thứ tám, hầu như tắt cả lí thuyết khác đều giả đmh rằng có một sự phân chia
78 rang giữa ngữ pháp và từ vụng, với ngữ pháp lâm nhiệm vụ cung cấp cấu trúc,
còn từ vựng cung cắp những từ có nghĩa đề đưa vào các câu trắc cú pháp Trong khi
Trang 25đó, ngữ pháp trí nhận cho rằng sự phân chia như vậy là không thuyết phục, rằng, thay vào đó có thể có một thể liên tục giữa ngữ pháp và từ vựng
Thứ chín, hầu hết các lí thuyết hiện nay đều giã định rằng ngữ pháp thì độc
465)
Theo ngôn ngữ học trị nhận, bất cử một hiện bượng ngôn ngữ nảo cũng có thể được giải thích nhìn từ quan điểm trị nhận Cú pháp không phải là ngoại lệ Ngữ php in nhận đủ giải thích mô hình cầu trúc cú pháp của câu lrên cơ sở hệ thống lrí nhận, một hệ thông được tham vọng là có thể áp đụng để lý giải toàn bộ các hiện tượng ngôn ngữ khác nhau Theo đó, Langacker cho rằng mô hình S-V-O phân ảnh
xổ hình yi whan eda su phan doan (segregalion) Hinh (Figure - F) va Nén (Ground
- Œ), cụ thể là: chủ ngữ (SubjecÐ) tương ứng với Hình (F), bỗ ngữ (Object) tương, ứng với Nên (G), côn động lừ (Verb) tương ứng với đường dan (Path) biéu thi quan
hệ giữa Hình (F) và Mễn (G) Hai khải niêm khác, phẩn nào tương ứng với Hình và Nến, được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ học trị nhận, lá Vật được định vị (Trajcolor) và Mắc định vị (Landmark), theo đó lỗi đi (path) luôn bất đầu từ Trajeetor (tương dương với F) dén Landmark (tương đương với G) vá sẽ có nhiều kiêu đường dẫn (path) khác nhau
Nguyên tắc này áp dựng tốt nhất cho trường hợp những câu đổi xứng (symmetrical construction), kiéu nhu ; “Cé 4y gidng em gải tôi”/ “Hm gải tôi giống,
cô ấy”, theo đó chọn F (yéu té trdi) chinh là chọn vị trí chủ ngữ Tuy G không nồi
trội bằng E, nhưng Œ cũng quar trọng vì nó là mốc để qui chiếu (poirl o[ referenU
khi áp đựng phân đoạn F vả G vào củ pháp, một số tác gi4 (nhu Ungerer,
Schmid) dé nghi các thuật ngữ Hình cú phấp (syntactic figure) va
lên cú phản
(synlaclie groumd)
Trang 26Các nhà ngôn ngữ học trí nhận tiếp tuc mở rộng hệ thống trị nhận, áp dung cho các vai nghĩa Họ cho rằng từ kinh nghiệm, chứng ta biết rằng có thể gây một chuyển động hay tác động vật lí nào đó đối với các đối tượng khác, đó là đặc điểm
của tác thể (Agent) Còn déi tượng chịu tác động từ bẻn ngơải vả bị thay dối, bị chuyển dịch sẽ mang đặc điểm cia bi thé (Patient) Vai cng cy (Instrument) duce xem như là vật trung gian giữa Agent và PatenL còn vai nghiệm thể (Expericncer) dùng để chí người can dự vào một hoạt động tình thần, một trạng thái tỉnh cắm
Ca 4 vai này đều có thê làm chủ ngữ, vi đụ
-Cô ấy gọt táo
Loại tương tác cơ bản nhất, đỏ là tương tác tiếp xúc về vật lí Talmy nêu khái
xiệm lục vật lý (foroe dynamics) còn Langacker thì riêu khái niệm “sự truyền rằng, lượng” (eneray transrission) dễ giải thích câu trúc của câu Theo đó, sẽ có một thực thể đám trách việc phát năng lượng (be charged with energy), thực thể này Hiếp xúc với thực thể thứ hai, và năng lượng số được truyều đi và được tiếp nhậu bởi thục thể
thử hai
Trong trường hợp chỉ có tác thể (Agent) và bi thé (Patient) được biểu thị trong câu (như trong “Cô ấy gọt táo”) thì hiển nhiên là tác thế (Agent) lá thực thế cấp năng lượng, vả bị thể (Patient) lá thực thé hap thụ năng lượng Vi tác thể
(Agent) là thục thẻ khỏi phát năng lượng cho nên tác thé (Agent) la yếu tố trội
(prominerd) nhất, vì thế xu hướng tất yếu là tac the (Agent) sé được biểu đạt như là Linh o& phap (syntactic figure), tite chủ ngữ, còn Patient thi được biéu đạt như Nên
cú pháp (syntactic ground), tức bố ngữ
Trang 27Đôi với những cầu không có bỗ ngữ như “Kính vỡ”, ngôn ngữ học trị nhận giải thích là do không có năng lượng nào được truyền đi (emitted) nên không có việc xúc lập tiếp xúc vật lí với thực thể khác, và do đó không có Nên trí nhận (cognitive ground) nao được xác lập Hệ quả, câu sẽ là câu không có bỗ ngữ
Tiên đây, vẫn đề có thể được đặt ra là: “chủ ngữ có thật sự tốn tại hay không' tray đây chỉ là một công cự thuẫn lúy của các nhà củ pháp học dùng đễ rniều tã câu trúc củ pháp của câu theo quan điểm lí thuyết nào đó? Tạm gác lại những tranh luận
về lí thuyết ở cấp độ ngân ngữ học đại cương, van dé dan ching ta di quá xa se với
1nục đích của luận án, trong phân tiếp theo đây, chứng tôi chỉ tập trung thảo luận van để nảy trong tiếng Việt
1.2 Các quan điểm nghiên cứu chủ ngữ trong tiếng Việt
Như đã nói trên đây, cặp thuật ngữ chú vị đã xuất hiện lần đầu tiền trong tiếng,
Việt dưới lên gọi “chủ từ, vị tù”, trong cuốn Từ dig’ Anmarn —Lusitan — Lalitih xuất
bản tại Rome năm 1651 Tác giả A.de Rhodes đã có những ghỉ chú, dược trình bày đưới dạng các luật, vẻ chức năng của từ trong câu tiếng, Việt Lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt cho thấy trong một thời gian đài người ta đã áp dụng nguyên cách kiểu về “chủ ngữ” trong các ngôn ngữ châu Âu vào tiếng, Việt, đặc biệt là trong các sách ngữ pháp nhà trường,
Cách định nghữa đơn giản theo ngữ pháp truyền thống nhằm muục đích giới thiệu các khải niệm cơ bán về thành phần câu đã được áp dựng trong chương, trình dạy ở
nhà trường từ rât lâu Cách định nghĩa như vậy bàu như không quan tâm gì đến
những xu hướng ngữ pháp khác, đặc biết là đối với ngữ pháp chức răng, điều này
có thể giải thích bởi lí đo sự phạm
1.21 Quan điễm "câu tiẳng Liệt có chủ ngữ”
Trong các nghiên cứu sơ khai vẻ ngữ pháp tiếng Việt, hấu hết cdc tac gia déu thống, nhất quan điểm “tiếng Việt cò chủ ngữ” Khi đó, ngữ pháp tiếng Việt chịu ảnh lurởng nặng nề của nghiên cứu ngữ pháp chau Au, với một khưng lý thuyết về
Trang 28chủ ngữ - vị ngũ theo đúng khuôn hình cầu của các ngón ngữ biển hình, mặc dù trong các ngôn ngữ châu Âu, chứ ngữ được định nghĩa như một bộ phận quyết định dưng thức của động từ đi sau nó, gọi là “sự phủ hợp của động Là”, trong khi tiếng,
Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn không có biển hình từ, Các mục sau dây sẽ làm rõ
“hơn các khuynh hướng thừa nhận có chủ ngữ trong tiếng Việt
121.1 Khuynh hưởng truyền thông
Ngữ pháp truyền thông cho rắng một câu trong tình trạng bình thường sẽ gồm có tửi thành phần chỗ yếu là chủ ngữ và vị ngữ Quan niệm này có những hạt nhân hợp
lý của nó, đó là vừa phủ hợp thực tế (áp dụng được với rất nhiều ngôn ngữ, bằng, chứng là đã tên tại cả nghin nim nay ở các biển thể ngữ pháp nhà trường), vừa phầ
hợp logic (chỉ dựa vào một tiêu chuẩn là chức vụ), vừa phân biệt được cái chính và cải phụ Trong tỉnh trạng bình thưởng, câu bao gồm hai thành phân chính cốt: chủ
ngũ là đổi tượng hay sự việc mà vị ngữ tưởng thuật về đặc trưng của nó (hoạt
động, tính chất hay chứng loại), và vị ngữ lá thành phần tường thuật về chú ngữ TIai thành phần này gắn bó với nhau chặt chẽ và thường dựa vào nhau mà tổn tại Chúng làm thành nòng cốt câu, không phụ thuộc thành phân nào khác
Nhưng nếu lấy đó lám căn cử thi chưa phải là dựa váo tiểu chuẩn ngữ pháp mả
mới chỉ là dựa vào ý nghĩa của câu ndi và một giả định vẻ sự trơng ứng hoàn toàn
giữa câu (đơn vị ngôn ngĩ) và phán đoán (đen vị của logie) Quan điểm nhứ vậy chịu ảnh hướng của logic rất rõ, Có thể phân biệt những biến thể khác nhau thuộc
về khuynh hướng truyền thông như sau:
a Khuynh hưởng từ bản vị
Các tác giá Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỹ, Trần Trọng Kim trong Piệt Neơn văn
phạm (1940) mô tả thành phan câu tiếng Việt bằng việc mô phỏng cách phân tích
mệnh đề của ngữ pháp duy ly (vấn phố biến trong ngữ pháp nhà trướng Pháp), xác
định thành phân câu thực chất là phân loại các thực từ trong lời nói theo lừ loại và
Trang 29hình thái của chúng, theo đó tử loại và hình thải của từ có liên hệ mật thiết với chức
năng của từ trong câu
b Khuynh hướng “củ bản vị”
Than Khôi trong Việt ngữ nghiên cứu (1955) chủ trương “củ bản vị” và “đã
giải”, phân biệt 6 thành phân câu, xép vào 3 loại “thành phân chủ yếu, thành phan liên đổi, và thành phần phụ gia” Irong đó, chủ ngữ thuộc vào thành phân chú yếu
Khi nói, phản là mỏi về
cũng vị ngữ, và được định rụgí ‘cat gi” Ấy tức là “chủ thể” trong câu Chủ thê hoặc là người, hoặc là sự vật Cải tử chỉ vẻ chủ thể ấy gọi là “chú ngữ”, “chủ ngữ” đã đứng đại biểu cho người hoặc sự vật là chủ thể, cho nên thường, phải đùng thực thể từ là danh từ hay đại tử" [50: 196-197] Quan điểm nay được Nguyễn Lân (1956), Phan Ngọc (1957) tán thành ở những điểm co ban, va tac giả Nguyễn Lân đã là người đâu tiên đưa thuật ngữ “chủ ngữ” vào day cho học sinh phô
thông,
Cáo định nghĩa chủ ngữ này cũng mới chỉ là một sự áp dụng thuần tủy cách định nghĩa các thành phân mệnh đẻ của logie
e _Khuynh hướng chíu ảnh hướng cỗa chủ nghĩa cầu trúc châu Âu
Trương Văn Chỉnh và Nguyễn Hiển Lê gọi thánh phan chủ ngữ là “chủ từ” vả quan niệm rằng đỏ là thành phần có vai trò làm chủ trong câu, phân biệt với thành
phân chủ đê Ví dụ trong câu: “7Ö Giáp đã gãi rất" thì “thụ” là chủ đề, “Giáp” là
động tù, tỉnh từ biểu thị mà còn do những từ loại khác biểu dụ như danh lừ, số từ,
thậm chỉ phỏ từ ), không phân biệt được cải chủ yếu và cải thứ yêu (túc từ không, thể xếp ngang bàng với chủ ti)
Trang 30YuK Lekomtsev (1964) va L.C Thompson (1965), van ding phương pháp phận tích thành tổ trực tiếp (LƠ) của trường phái roiễu tá thời bấy giờ để nghiên cứu câu
:ch biểu điên sơ
tiếng Việt, Yu.K.T,ckomatev, theo tĩnh thân của Ngữ vị học Đan
dé day dú cầu trúc câu dơn tiếng, Việt theo tảng bậc của các thành tô trực tiếp
HI- (E2- (E3 ( (HS- (H6-(H7- (E9-H8) )- HG) H4) ) )
Xác định các thành tố ứng với tên gọi của ngữ pháp truyền thống và vị trí đổi đãi của nó đối với thành lỗ trực tiếp cùng bậc với nó (thường là một tổ hợp), lác giả xác
định chủ ngữ của câu là ES, được cấu tạo bởi thể từ hay ngữ thể từ không củ
giới từ Vị trí điển hình của I5 đổi với K5 (thành tổ trực tiếp cùng bậc với nó) là
TBS-KS (uekomlsev - Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp 2002 [41 ])
Cũng dụa vào phương pháp phân tích thánh tế trực tiếp nhưng 'Thompsøn có
một kiên giải khác về câu trúc câu tiếng Việt, theo đó chủ ngữ truyền thông được
xép hang chung với các thành phân chỉ thời giam, vị aí v.v ở đầu câu, với lên gọi chung là các bỗ ngữ tiêu điểm, được phân định với phần câu còn lại nhờ tác tử “thể” với chức năng đánh dâu bố ngữ tiêu điểm (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp 2002 [41])
Có thể thấy, cho đủ giải pháp cụ thể có khác nhau nhưng Lekomlsev và Thonnpson dêu cố gắng hình tức hoá tiêu chỉ nhận diện thành phân câu, áp dụng cho một ngôn tigír đơn lập như tiếng Việt Cũng trong xu hướng nảy, về sau côn có những cố gắng, khác, dùng các tiêu chí bình thức khác nhau để xác định thành phần câu tổng Việt (rong đỏ cỏ chủ ngữ) Mặc dù chưa thật sự đem lại kết quá thuyết phục nhưng, những cố gắng nảy là rất đáng ghỉ nhận"
d Khuynh hưởng dung hoá hải quan điểm “lý thuyết từ tổ” và "ngũ pháp truyền
thống"
Hoang Trọng Phiến trong "Vsữ pháp tiếng Việt - Cân” (1980) quan niệm “kết
câu ŒV là đơn vị cú pháp nhỏ nhất trong tiếng Việt”, Ioàng Trọng Phiên cho rằng,
1 Ở các sách giáo khoa tiếng Việt ở bậc tiền học, việc dùng hình thức đùng câu hỏi để lrrớng dẫn lọc sinln
nhận diện chủ ngất trong câu kế vẫn là cách làm được chấp nhận rộng rãi nhát hiện nay
k 8
Trang 31“ÿ nghĩa của chủ ngữ là ý nghĩa biểu thị dối tượng” Đổi tương này có quan hệ với
vị ngữ về phương điện chủ thể cúa hành động, chủ thể sở hữu, chủ thể tiếp nhận, chủ thể phẩm chất v.v Chủ ngữ còn có ý ngiền như là một chủ tố, còn gọi là yếu tố trung tâm thu hút các yêu tổ biên để làm thành nhóm chú ngữ” [56: 1111
Trong Cầu chủ vị trếng Liệt (199), Lê Xuan Thai vin pitt quan điểm cua truyền thông khi cho rằng, “chú ngữ là thành phần nêu lên đối tượng mang đặc trưng
được thuyết định ở vị ngữ” Vị trí của chú ngữ thưởng đứng “trước vị ngữ” Vả từ
đó, táo giả kết luận “trong tiếng Việt, cầu tạo của câu chủ vị tương từng cấu tạo của
anénh dé trong logie” [61: 37] Nhưng tuơng ứng ráy chỉ là kết quả của sự nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện cô lập ngữ cảnh, ở dạng lí tưởng, còn trong giao
tiếp thực tế thì ngôn ngữ và logic không thé đồng nhật với nhan đơn giãn như vậy
Định nghĩa mây không khác gì so với kiến giải của ngữ pháp ký hiệu học về chủ ngữ
1.212 Khuynh hướng hiện đạt
Trong công trinh “A Tagmemic comparison of the structure of English and
Vietnamese sentences” (1971), so sảnh câu trúc tiếng Anh và tiếng Việt tác giả
Duong Thanh Bình đã áp dụng Thao tác của ngữ pháp Tagrnemic để muiền tả cú pháp tiếng Việt Theo do, tác giả phân tích từ cấp dé câu dén cấp độ từ gdm 4 cáp dộ, và chủ ngữ thuộc cấp độ thứ 2 — cấp độ thân câu
đứng trước hoặc san bỗ nghĩa cho nó Cấp độ thứ Lư là cấp độ hạt nhân vị ngữ, gồm
4 vị trí lẫn lượt lá vị ngữ (Verbal position), tiểu ngữ (Particle position), tin ngữ
(Obieet position) và bá ngĩữ (Cemplement position).
Trang 32Mô hình cấu trúc nảy cũng nhận được sự déng tình của Nguyễn Đăng Liêm (1972), khi tác giá áp dụng phương pháp cúa ngữ pháp Tagmemic kết hợp với mô Tỉnh của ngữ pháp Cách để miễu tã cấu trúc câu tiếng Việt
Khuynh hướng chịu ánh hưởng của ngữ pháp Tagmemic rất gần với chú nghĩa xiêu tả Mỹ Khi áp dựng vào tiếng Việt, khuynh hướng này đã cho thấy sự cân đối trong tô hình cấu trúc câu, nhưng cũng dẳng thời thể hiện sự Irừu tượng, phúc tạp
mà những mô hình toán học thường đem lại khi áp dụng vào việc ruiêu tả ngôn ngữ
%b.- Khuynh hướng nghiên cứu theo ngữ pháp ngũ nghĩa
Ngữ pháp tống Liệt (1989) của Diệp Quang Dan chủ trương kết hợp cả bình điện ngữ ngửa lẫn bình điện ngữ pháp khi xem xét chủ ngữ Theo Diệp Quang Ban,
chủ ngữ “là yếu tế do ý nghĩa của vị tô ân dịnh với tư cách là thực thể mang đặc trưng hay quan hệ nêu ở vị tổ, đo đó chủ ngữ có quan hệ chặt chẽ với vị tố về mặt 1ighfa” Về hình thức, chủ ngữ trực liệp đứng trước vị tổ (vi trí hình thức đặc thủ của chủ ngũ tiếng Việt) Chủ ngũ cần phái được phân biệt với bổ ngữ, đó là cá hai đều
chịu sự ân định về phương điện nghĩa một chiều từ vị tổ, chủ ngữ phải có một giá trị
agit phap nao đó với vị tổ, nó là yếu tổ nêu lên cái cơ sở cho sự triển khai ý nói ở vĩ
tổ, còn bê ngữ lại chịu sự chi phối của vị tố về nghĩa và củ pháp,
“Thành phần câu tiếng Liệt (1998) của hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết -
Nguyễn Văn Hiệp chỉ ra nhược tủa một số ý kiến cho rằng “chủ rgữ chiếm vị
trí dầu tiên trong câu hoặc vị trí trước vị ngữ” cũng, như việc sử dụng cảu hỏi dễ xác
định chủ ngữ Từ việc phân tích các nhược điểm nảy, các tác giả của cuồn “7hành phân câu tiếng Liệt) dã xác lập khái miệm chủ ngữ và phương pháp nhận điện chủ ngữ dựa vào khuôn câu trủc nguyên nhân Các tác giá đã đưa ra những tiêu chí hình thức để phân biệt chủ ngữ với cáo thành phân câu khác, đặc biệt phân biệt chủ ngữ với bỏ ngữ, là vẫn dễ ít dược quan tâm trước đỏ trong Việt ngữ học Ngày nay chúng †a đều biết, thục chất của cách phân chia loại hình học cú pháp, đối lập các ngôn ngữ đổi cách (accusative) và các ngôn nạĩt chủ cách (ergative) chính la dựa trên sự dối lập hình thức nhằm phân biệt chủ ngữ và bổ ngữ trong cầu Nói như T,
Trang 33Givỏn, có thể xem “việc xác định một cách hình thức chủ ngữ trong eau chi là một phan của việc phân biệt chú ngữ và bễ ngữ” [1984] (dẫn theo Nguyễn Văn liiệp
2003 |41 J)
Tuy nhiên, trong, bài báo “Chú ngữ tiếng Việt qua kinh nghiệm một nhà nghiên cửu tiếng Nhat” (2005) Lé Tloang đã có nhận xét rằng cách giải quyết vẫn đề nhận điện chủ ngữ tiếng Việt bằng thủ pháp hình thúc “đặt vào khuôn kiến trúc nguyên nhân” một mặt lả “hợp logic”, tuy nhiên mặt khác sẽ gặp phái nhiều khó khăn, bởi
vi danh sách các động từ khiên động để câu tạo khuôn kiến trúc nguyên nhân là một danh sach không khép kín, nên khí ruột yêu tố không thoả mãn được phép thử với khuôn kiến trúc nguyên nhân nảo đó, ta vẫn khéng thể kết luận được bản chất của
nó nêu clnra kiếm tra các khuôn kiến trúc nguyễn nhân khác, với các động từ khiên
động khác, và đây quê là một nhiệm vụ bất khả thị, không thể thực hiện được (vì không biét khi nao thi qui trình kiểm tra nảy mới kết thúc)
Theo ý kiên của chúng tôi, dựa vào các thủ pháp hình thức và đàng phép thủ đề xác định chủ ngữ lả một ý kiến xác đảng Tuy cách làm này vẫn vấp phải khó khăn như Lễ Hoàng, đã chí ra (nhiều trường hợp không qua được phép thứ của khuôn kiến trúc nguyên nhân), nhưng chủng lôi cho đó chỉ là những trường hợp không điển tnh Trong ngôn ngữ tự nhiên, bao giờ cũng có những ngoại lệ Những ngoai lệ cỏ thể rất gần với mẫu điển hình, cũng có thể rất xa, tủy theo nó đáp ứng được bao nhiêu tiêu chí nhận điện chỗ ngữt Và nếu chúng ta chấp nhận ngoại lệ nảy, thi vide
giải quyết vẫn đẻ chrủ ngữ sẽ trở nên dơn giản hơn rất nhiêu
eo Khuynh hướng chập nhân đa giải pháp trong nghiên cửu củ pháp tiếng Việt
Để tìm ra một cách giải quyết thỏa đàng hơn, các nhà nghiền cứu đã chọn con
đường tảng hỏa các giải pháp Theo đó, khái niệm “chủ ngữ” vẫn được chấp nhận
và áp dụng đề phân tích câu, nhưng dồng thời di cùng với nó là khải niệm “đề ngũ”,
mà Trần Ngọc Thêm có lẽ lá người đầu tiên áp đụng cách lí giải này
Trần Ngọc Thêm đừng song song hai cặp khái niệm Đê/Thuyết và Chủ/Vị và hai cặp quan hé nay hoan toàn không đồng nhất với nhau, theo dỏ cầu trúc Chủ/Vị dong,
Trang 34vai trò như các câu trúc nòng cốt bộ phận của cấu trúc Đẻ/Thuyết Tac giả dã xác định 4 kiểu cầu trúc để - thuyết nòng cốt là: nòng cốt đặc trưng (C-Vđ), nẻng cốt
quan hệ (C-VuP), nông cốt tổn tại (Tr-VI-B),
với cách phân tích theo quan điểm chủ - vị ö chỗ, cầu trúc qua lại được coi nửar là
câu đơn có một nòng cốt đẻ thuyết chử không phải là một câu ghép với hai nòng cốt
chủ vị theo quan điểm truyền théng Diéu dé cho thay giải pháp của Trần Ngọc
cách tiếp cận chủ vị Hơn nữa, quan niêm phần Đề
là “trưng tâm ngữ pháp” (trung tâm tổ chúc) của câu” và kết hợp với phần thuyết là
“trung tâm ngữ nghĩa” cho thấy tác giả đã không chọn đứt khoát đứng ở địa hạt ngữ
Thêm chưa thực sự thoát h khỏi
ngít thiên chủ ngữ (subjecl-prorminenl) hay thién chr dé Clopic-prominent) Cac
ngôn ngữ thiên chú dễ là các ngôn ngữ mả trong đó, các danh ngữ đáp ứng dược xột số lượng qua it ỏi các thuộc tỉnh được dùng làm tiêu chí xác định chú ngữ phô quất đó, tức chúng i1 “ra vẽ là chủ ngữ” Cúc tác giá đua ra một bảng tiêu chí để phân biệt giửa dễ ngữ và clrú ngữ trong câu
Những tiêu chí phân biệt chủ ngữ và để ngữ của Li và Thompson có tác dựng rất lớn trong việc áp dụng vào phân tích cảu trúc câu tiếng Việt, và xác định loại hình học cú pháp của tiếng, Việt Theo cách xác định này, J3yvik chí ra tiếng Việt cũng, được xác định la ngôn ngữ thiên chủ để [85] Tuy nhiền, bởi khã năng tiếng Việt có thể có cầu trúc bị động, niên người ta có quyền nghữ dén mam mong của muội câu trúc chủ vị song song, tách biệt hẳn với cdu tric Dé- Thuyết [85: 63] Trong nghiên
cứu của Dyvik, tiếng Việt có khả năng tổn tại cả chủ ngữ và chủ đề.
Trang 35Cũng mang tĩnh thân của cầu trúc Dé-Thuyét, nhưng với tên gọi khác là cầu trúc HDễ-Diễn, Dững Vũ trong “Liếng Việt và ngôn ngữ học hiện đại Sơ thảo về cú pháp” với mội số gắng phân tích cầu trúc cú pháp tiếng Việt trên cơ sở so sánh với một loạt cầu trúc cú pháp của các ngôn ngữ khác (Anh, Đức } dã chỉ ra rằng,
“Ngôn ngữ châu Âu thiên về câu trúc chủ vị (subject-predicate) Theo cầu trúc
wy, vi tir trong câu lệ thuộc vào chủ rigữ trong câu Tiếng Việt cĩng có câu trúc này nhưng cũng có trường hợp chủ thê không nằm trong câu” Việc xác định chủ ngữ phải đựa vào vai theta của vị từ hạt nhân (vai tham tổ) theo nguyên tắc “vai theta tương đương với ruột tham số nằm đưới dạng một tập hợp các quan hệ chủ để đính chửm thành một” [120: 260]
Một tác giả khác chấp nhận cách tiếp cận đa giải pháp là Diệp Quang Ban trong
“Ngữ pháp tiếng Việt” (2005) Diệp Quang Ban áp dụng mô hình ngữ pháp chức
năng của IĨalliday và phản tích cấu trúc câu tiếng Việt thành 4 kiểu câu trúc, trong
đó cỏ 3 câu trúc thực hiện chức năng (câu trúc nghĩa biếu hiện, câu trúc thức, câu
tảng 1.1 Lí dụ (1) phân tích phối hợp 3 kiểu cầu trúc của câu
Bảng 1.2 Ví dụ (2) phân tích phối hợp 3 kiêu cầu trúc của câu
k 3
Trang 36Ứng với câu trúc cú pháp, cầu trúc nghữa biểu hiện, cău trúc đẻ thuyết, theo cách nhìn của llalliday, tác giá phân biệt thành ba kiểu chủ thể có zmặt trong câu: chủ thể
m lí [6: 50-51} Theo
dó, cách diễn dạt các kiểu chú thể có thể biểu diễn như các bảng 1.3, 1.4, 1.5, 1.6
xgữ pháp (thường gọi là chủ ngữ), chủ thể logic và chủ thd
Bang 1.3 Ví dụ (1) phân tích phối hợp 3 kiêu chủ thế có mặt trong câu
Trong đó, kiêu (4) (bảng 1.6) theo lắc giá là câu tốn tại, không có chữ ngĩt
Tuy nhiền, chủng tôi thấy rằng, không có cơ sở nào để có thể đặt 4 kiểu cầu trúc (cấu trúc nghĩa biểu hiện, câu trúc thúc, câu trúc để thuyết, cẩu trúc chủ vị) ngang
Trang 37hàng với nhau, đặc biệt việc đặt câu trúc cú pháp song song với 3 cầu trúc chuyển tải 3 loại nghĩa khác nhau (nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản) đã Tam mat di tinh logic
ặt ché trong ngữ pháp Halliday So với 3 loại cầu trúc dùng
dễ thực hiện chức năng rõ ràng là cầu trúc nghĩa biều hiện, cấu trúc thức, cầu trúc
48 thuyét thi thes Diệp Quang Dan, cầu trúc củ pháp hoàn toàn không có chức năng 1rgi? nghữa nào rửnr vậy, nó chỉ là cầu trúc “cho thấy cách tổ chức chung của các kiểu câu có thể cỏ trong một hệ thông ngôn ngữ cụ thể, giúp làm rõ các đặc điểm vẻ
LH: 5] Tu do, tác giả “xác nhận vai trò của câu trúc chủ vị với tự cách là cầu trúc
củ pháp của củ nhằm raâ hỏa nghĩa biểu hiện của nó và vai trỏ của cầu trúc để - thuyết với tự cách là cầu trúc cũ pháp cửa câu nhằm kỗ chức và truyền đạt ruột thông
”[11: 1] Như vậy, kết câu chủ - vị theo quan diễm của tác giả dược đây xuống,
là cấu trúc củ pháp của cú chứ không còn là của câu nữa Tuy nhiên, giải pháp này cing chỉ mới là kiến giải riêng của tác giả trang mong muốn mính định các khái
mém co ban duge ding trong miéu tá củ pháp
1.22 Quan diém "cầu Hồng Việt không có chủ ngữ” hay chủ ngữ không phải là
nhãn hiệu cần thiết đễ miêu tä cắu trúc câu tiéng Liệt
Ngay từ năm 1965, Thompson dã nhận dnh rằng “tiếng Việt không có chủ ngữ ngit phap (grammatical subject) ma chi cd chit dé logic (logical subject)” [117].
Trang 38Thompson cho rang khéng can phân thứ bang của chủ ngữ và bỏ ngữ Cách phần tích thành tổ trực tiếp của Thompson cho tháy câu trúc câu tiếng Việt là một kết cấu tiên điểm (Foal constracbion) “tạo ra những nữ hạn định với vị từ là đình (hoad) hay tâm Các loại thể từ, ngữ thể từ, và thậm chỉ vị từ xuất hiện như là các bê ngữ tiêu điểm” [17] Những miều tả của Thornpson về câu tiếng Việt thực chất đã tạo
cơ sở đễ một số nhà nghiên cửu sau này xếp tiếng Việt vào nhóm “ngôn ngữ thiên chú để” Phẩn lớn những gi được ông, gọi là bỏ ngữ chú đề và các loại bỗ ngữ khác
về sau được những người tuyên bề theo ngữ pháp chứ năng trong tiếng Việt gọi là phan Pé trong cầu trúc Để - Thuyết với tư cách cầu trúc cơ bản của câu tiếng Việt (Cao Xuân Hạo, 1991) Có thể nói, theo cách tiếp cận của Thompson thi không chi
tiếng Việt mà tất cả các ngắn ngữ đơn lập khác đu sẽ không có chủ ngữ
Chịu ảnh hưởng của “Tý thụ;
phân đoạn thục tại” cùng những nghiên gứu về
“phối cảnh chức nắng” của câu, Lưu Vân Lăng đã sớm ép dụng khái niệm
ế miêu 1â nông cốt câu tiếng Việt, thay cho câu trúc chủ ngũ - vị ngữ
trước kia (1968) Ong cho rằng, đối với cáo ngôn ngữ không biến hình như tiếng Han hay tiếng Việt, việc “phân biệt đề - thuyết khác chữ - vị cũng như phân biệt chủ ugit khac cha dé, hay chủ ngĩt tâm lý, phân biệt chủ ngít ngữ pháp, hình thức khác với chủ ngữ logic, ngữ nghĩa, không những không cần thiết mà cỏn thiếu căn cử vững chắc chí cần phân biệt phân tích ngữ pháp với phân tích thông tin mới” là duge 152: 327] Và do vậy, “khái tiệm chủ - vị trong ngôn ngữ học truyền thống, không những không chính xác, má thuật ngữ, nhất lả chủ ngữ subject dễ gây ra nhimg sự hiểu nhằm, vì nó gắn liên với khái niệm chủ thể” [5Z: 327]
Luu Van Lang quan niém “dé và thuyết là những thành tố nông cốt câu tạo nên mỏng cốt câu, hạt nhân đề thuyết là cầu trúc hạt nhân của câu/ Đây chính là cấu trúc tối giản." [S2: 327] Về bản chất, cặp khái niệm mà Lưu Vân Lăng sử đựng, có tác
thống, và khác xa với cặp khái niém Sé dé/Sé thuyét ma Cao Xuan Lao dùng sau
nay (Nguyén Van Hiép, 2002)
30
Trang 39Các tác giả của UBKHXH trong Ägữ pháp tiếng Việt (1983) cũng phân chúa cầu theo cầu trúc đề - thuyết Thanh phẫn để ngữ xét về qua trình tư duy là một yếu tố của câu trúc biểu Ứn một phản đoán, một sự phân ánh tương đối đầy đủ của một thực tại nhất định vào nhận thức Để ngữ thê hiện sự vật, hiện tượng, chủ đẻ dược nói đến Xét vẻ quá trình thông báo, để ngữ là yêu tổ thứ nhất của cấu trúc biểu thị
“nổi cải g”” Về trội ux, đề luôn đứng trước thuyết Cách gợi “dể ngữ” của UBKHXH vẻ mặt tên gọi trùng với cách gọi của ngữ pháp chúc ming sau nay,
nhưmg vẻ bản chất thì không có gì khác với thành phần chủ ngũ của ngữ pháp
truyền thông Nhận xét này cảng xác đẳng hơn khi theo quan niệm của các tác giả UIKIIXI, trong tiếng Việt có tổn tại câu bị động, một loại cầu mà theo H thuyết
chỉ tồn tại khi ngôn ngữ có câu trúc chủ vị
Đầu những năm 90, tác giá Cao Kuan Hạo trong Sơ thảo ngữ pháp chứo năng, Quyển 1 (19911- đã cho rằng về bản chất, kết cấu Chủ vị là một kết cầu mà “nội dung thực là một môi quan hệ hình thái học, không biếu hiện một quan hệ nhất định
ado về nghĩa và về logic, giữa môi đanh từ và một động từ dã chía (Mức là ở một
thức hữu tận), tự dung được coi lá tiêu chỉ để xác định Câu và phân loại câu (đơn,
phức) trong rượi ngôn ngữ, trong khi một kết cầu kì đị như vậy may ra chỉ có thể có
được trong những ngôn ngữ có “chia” đông từ và có biến cách danh từ” |40: 13] Như vậy là theo Cao Xuân Hạo, khái niệm chủ ngữ là hoàn toàn không phủ hợp, và
có thể nói là khó lòng tồn tai tong tiếng Việt Trên cơ sở tư liệu 85% cau tong hợp dược là câu “dễ thuyết”, Cao Xuân Hạo càng khẳng dịnh chắc chắn hơn “cấu trúc câu Hếng Việt là câu trúc để thuyết”, với định nghĩa vẻ phân để có ngoại điện rộng
hơn nhiễu so với chủ ngữ của ngữ pháp truyền thêng Không giếng như Li -
‘Thompson dé ra mô hình ngôn ngữ “thiên chủ để” (tức là vẫn có khá năng có cầu
trúc chủ vị tên tại song song tuy rằng yêu thẻ hơn), Cao Xuân Tạo phủ nhan tuyệt
đối sự có mặt của chủ rgữ trong tiếng Việt Và một trong những hệ quả của kết luận
nảy là sự phú nhận cấu trúc bị động trong tiếng Việt Theo cách phân tích nảy,
nhamg thành phân trước đây được xếp là chủ ngữ, khởi tình thái ngữ (đứng đầu
câu), Irạng ngữt chỉ thời gian - không gian đều được xp vào để ngũ của câu
31
Trang 40Theo Lê Xuân Thai sau này, “đứng về mặt dịnh nghĩa mà xét thì định nghĩa về
dé - thuyết của Cao Xuân llạo cũng chẳng khác rnấy so với định nghĩa về chủ ngữ -
vị ngữ của ngữ pháp Port — Royal và của các tác giả khác, nhất là các nhà Việt ngữ
Cao Xuân Tạo đã đựa vào 3 bình diện phân tích câu để kết luận, cấu trúc cú pháp
cửa câu phải là câu trúc “đê/thuyết", nhưng không phải là lại cầu trúc đề/huyết tương ứng với cấu trúc nêu/báo trong phân đoạn thực tại câu lo tiếng Việt là một
ngân ngữ không biển hình từ, không có sự phủ hợp vẻ dạng giữa chủ ngữ và động,
từ vị ngũ, nên cũng không tổn lại những cái gọi là danh cách, chủ cách như nhiều
ngôn ngữ khác trên thế giới Câu có chúc năng cơ bản là thông bao, bởi vậy cầu trắc
củ pháp phải làm nổi bật được tiêu điểm thông tỉa Cách giải quyết của Cao Xuân Hạo chính là nhằm vào rnục đích này và trên thực tẾ cách phân tích này đã giải quyết được một số lượng lớn câu trong tiếng Việt, đặc biệt hiệu quá đổi với nhiều
tục ngữ
Quan diém của Cao Xuân Hạo và các tác giả theo khuynh hướng Ngôn ngữ học chức năng được khẳng định lại một lần nữa trong bài viết cúa Nguyễn Dúc Dương (Sao không đưa tạc ngữ vào giảng dạy ở bậc tiểu học — Báo Thanh niên/2004) Tác
giả viết * đến bây giờ vấn chưa thấy một tập SGK nào cho biết đầu là chủ ngữ (cũng như đâu là Vị ngữ) trong loạt đơn vị Thành ngữ mà thành phần chỉ gồm toàn
ngữ vị từ, như trường hop sau: Béi 6, 1é di; dn that, lam doi; Nat déo, séng biti:
Hay khen, hen chê V.v và v.v hoặc chí gồm toàn ngữ danh tử, như trong,
trường hợp sau: a Chữn gá, cá nhậch; b Cảnh cau, màu chuỗi; e Dầu với, đuôi
chuối ” [20] Và với một số thành ngĩt, Lac giả đã chỉ ra việc áp dụng cầu trúc chủ
vị đề phân tích cầu trúc củ pháp đã “đem lại hậu quá rất đáng tiếc” như Cỏ eo
tắn hỗ về nhà
méo đậy hoặc Rắn mai tại lÂ,