Trong quả trình tương tác đó, sự năng động vẻ kinh tế, văn hoá - xã hội của các tộc người được thế hiện qua các tương Táo, trao đổi hàng hóa, giao địch thương mại và giao lưu văn hóa - x
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIA NOI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ IIỌI VÀ NIÂN VĂN
Ta Thi Tam
CHO VUNG BIEN VA NHUNG NANG DONG
KINH TE - XA HOI O VUNG BIEN GIOI
VIET - TRUNG TU 1990 DEN NAY
LUẬN ÁN TIÊN SĨ NHÂN HỌC
Ha Nai - 2020
Trang 2
DAI HOC QUOC GIA HA NOT
TRUONG DAl HQC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN
CHỢ VÙNG BIÊN VÀ NHỮNG NĂNG ĐỘNG
KINH TE - XÃ HỘI Ở VÙNG BIÊN GIỚI
VIỆT - TRUNG TỪ 1990 ĐÈN NAY
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 62 31 93 02
LUẬN ẤN TIẾN SĨ NHÂN HỌC:
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.PGS.TS Nguyễn Văn Chính
2 TS Nguyén Thi Thanh Binh
XÁC NIIẬN NCS DA CHIN SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Trang 3LỒI CAM ĐOAN
Tỏi xin cam đoan đây là công trình nghiên cửu riêng của tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực vả chưa từng được ai công bó trong bắt kỳ công,
trinh nào khảo Những quan điểm mà luận án kế thừa của các nhà nghiên cứu đi
trước đều được trích đẫn nguồn chính xác, cụ thể
Nghiên cứu sinh
Tạ Thị Tâm
Trang 4LOT CAM ON
Trong qué trình thực hiện và hoàn thiện luận án “Cwợ vùng Biên và những
năng động kinh tẾ - xã hội ở vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay”,
Nghiên cứu sinh (NCS) đã nhận được rất nhiều sự giáp đỡ từ cáo cœ quan, tập thể
và cả nhận
Trước tién, NCS xin được bảy t lòng biết ơn sầu sắc dến PGS.TS Nguyễn
‘Van Chính và TS Nguyễn Thị Thanh Bình, hai người thây đã tận tỉnh hướng đẫn NCS ti: bic hoe thas sỹ đến tiên sỹ tại Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học
xä hội vả Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
NCS eiing tran trong cam an tdi: (i) Khoa Nhân học, trước đó là Bộ môn Dân tộc học thuộc Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội, là cái nôi hình thánh, nuôi dưỡng niém say mé nghiên cứu dân tộc
học cia NCS từ khi chập chững bước chân vào cánh cống trường Dại học, (1ï) Ban
lãnh dạo Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, noi NCS
đang công tác, đã tạo điều kiện tốt nhất để NCS học tập, nghiên củu vả báo vệ luận án; đi) Công an huyện Sỉ Ma Cai, Ban quân lý Km kinh tế sửa khẩn Lão Cai, Công an tỉnh Lạng Sơn, Ban quan ly Khu kinh tế cửa khâu Móng Cai dé tan tinh giúp NCS trong thời gian ở thực địa; (iv) Ủy ban nhân dan xã, phường, thị trấn, thành phố: Cán Câu, Cếc Lêu, Lộc Binh, Móng Cai da gitp NCS về các thủ tục
Hành chính ở thực địa, (v) Ban quân lý, những người buôn bản ở các chợ Cán Cầu,
Cổc Lêu, Lộc Binh, Móng Cái đã dành thời gian chia sẻ với NŒS về cuộc sống và
công việc hàng ngày của mình
Cam ơn các dông nghiệp, bạn bè trong và ngoài cơ quan đế luôn khích lệ,
đông viên NCS vượt qua nhiều trở ngại để hoàn thành luận án
Tuổi biết ơn sâu nặng, nhất xin được gửi tới đẳng sinh thành, đã lận tuy và đành:
sự hy sinh cá dời cho con ăn học thành người như ngày hôm nay,
Hà Nội ngày - tháng - năm 2020
NCS Ta Thi Tam
Trang 53, Déi trong va phạm vi nghiên cứu TH 2 1 nen xi 9
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của để tải con sexy 9
1.2.3 Nghiên cửa chợ và chự vùng biên
1.3.3 Cáo vẫn đề còn đang thảo luận
1.8.2 Tiếp cận chợ vùng biên từ những gợi mở của lý Hmuyết không gian
xẽ hội và mạng lưới xẽ hội
Trang 6Chương 2 VÙNG BIỂN GIỚI VÀ ĐẶC DIEM CỦA MẠNG LƯỚI CHỢ
6 VUNG BIEN GIGI VIET - TRUNG
2.1, Ving bién gidi Vidt - Trung tir sau £99
2.2.3 Tên chọ, địa điểm và thời gian hop
2.2.4 [lang hoá và phương thức thanh toán
Trang 7Chương 4 QUAN HỆ XÃ HỘI VẢ TIẾP XÚC VĂN HOÁ
Chwong 5 CHO VUNG BIEN TRONG BOI SONG KINH TE - XA HOT
DIA PHUONG VA CHIEN LUGC PHAT TRIEN VUNG BIEN GIỚI 125
3.1.1 Chợ với đời sống kinh tế của hộ gia đình và địa phương 12S 5.1.2 Che véi phat trién sin xuat nong, lam, ngw nghiép ving bién 129
3.1.3 Chợ với phát triển thương mại và dịch vụ vùng biên
Trang 85.4 Chợ vùng biên và chính sách phát triển thương mại vùng biên g;
3.4.1 Chưang trình phát triển thương mại vùng biên
5.4.2 Chính sách phái triển chợ vùng biên
5.4.4 Chiến lược sinh tần của cư dân ở chợ vùng biên 2 168
3.4.5 Vẫn dễ buôn lậu và gian lận thương mại ở chợ vùng bên AOS
5,5, Dy bao xu hudug phat trién ch ving biên
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIÁ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANA MUC CAT VIET TAT
TTNTS "Tộc người thiểu số
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
'Tiảng 2.1 Các thị trắn vùng biên giới Việt - Trung từ năm 1991 - 2011 _ 46
Bảng 2.3 Các đô thị vùng biên giới trong hệ thống hanh chỉnh các tính biển giới
Thắng 2.3 Dân số tgười Kinh ở các tỉnh biên giới Việt - Trung, 49
Băng 3.1 Thống kẻ ngành hàng và thành phần tộc người ở chợ Cán Cấu 62 Bang 3.2 Théng kẻ ngành hảng và thành phần tộc người ẻ chợ Cốc Lêu 63
Tảng 3.3 Thống kê ngành hàng và tnh phần tộc người ở chợ Lộc Bình 64
Trang 11MO DAU
1 Lý do chon dé tai
Vũng biên giới Việt - Trung được coi phôn giậu, có vị trí chiến lược quan trong
về chính trị, kinh tế, an tĩnh quốc phòng và mỗi trường sinh thái, của quốc gia Vì
vậy, đây là vùng đất luân được Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đặc biệt quan tâm
trên tất cã các mặt Trong đó, sự phát triển kinh tê và ến định xã hội chiêm một vị trí
rat quan trọng, tác động lén đến van đê xây đựng ý thức quắc gia cho các tộc người, bảo đâm an nính quốc phỏng, giứ gin chủ quyền quốc gia, bảo vệ tải nguyên môi trường, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tộc người
Tu Dai Mới đến nay, nhất là khi hai nước Việt Nam - Trưng Quốc bình
thường hóa quan hệ, sự mở cửa trở lại và phát triển vùng biên giới Việt - Trung đã
tảc động sâu sắc dén sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng này nỏi riêng, cá nước nói chung Các chợ ving biên chính lá sự tha nhỏ tối quan hệ thương mại, văn hoá, xã hội của cư dân các tộc người ở hai bên biên giới và rộng hơn là mỗi quan hệ giữa
hai nước Việt Nam và Trung Quốc
Trong đời sống của các tộc người, chợ là bộ phân chủ chối đầu tiên, được cơi
Tạ liêu chí chủ đạo, có ảnh hưởng lớn và toàn điệu đến sư phát triệu kính tê, ôn định
xã hội Sự phát triển của hệ thống chợ góp phần khuyến khích các hoại đông trao
đổi hàng hoá trong vùng, cáo vùng khác trong cả nước với các hoại động giao thương xuyên biên giới Điển đó, đã thúc đây sự phát triển kinh tế của địa phuemg,
các vùng lân cận và trang cả nước, đỏng thời, tạo ra sự cạnh tranh và những “đối
sánh” nhất định về kinh tế với Trung Quốc
Vùng biên giới Việt - Irung lá địa phương đa tộc người, trong đó nhiều tộc
người có đồng tộc sinh séng ¢ Trung Quéc Lon nila, các tộc người ở hai bên đường biển có yếu tổ tương đồng về lịch sử, văn hỏa - xã hội Vì vậy, sự phát triển của hệ thông chợ vùng biên với việc trao đổi bàng hoá và giao lưu văn hỏa - xã hội
là một trong những yếu tố quan trọng gắn kết nội bộ tộc người, kết nói các tộc người và tộc người với quốc gia Việt Nam
Trang 12Dưới tác động ngày cảng mạnh mẽ của toàn câu hóa, khu vực hỏa, các tương, tác, giao lm kinh tế - xã hội giữa các tộc người và quốc gia láng giêng trở nên phd
biến, hệ thông chợ ở vùng biên giỏi Việt - Trang là một trong những hướng chính
đón nhận sự giao lưu này Trong quả trình tương tác đó, sự năng động vẻ kinh tế, văn
hoá - xã hội của các tộc người được thế hiện qua các tương Táo, trao đổi hàng hóa, giao địch thương mại và giao lưu văn hóa - xã hội ở Irong vùng, liên/zuyên biên giới
Tử những lý do và ý nghĩa nêu trên, nghiên cứu năng dộng kinh tế - xã hội của
các tộc người ở chợ vùng biên giới Việt - Trung là rất cần thiết Nghiên cứu này góp
ý luận và thực
phan giải quyết các vân để ở phát triển kinh lế - xã hội vùng hiên giới Việt - Trang cũng như trong quả trình ỏn dịnh và phát triển chung cũa đất nước, Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tải Chợ vùng biên và những năng động kinh tế - xã
hội ở vùng biên giới Liệt - Trung từ 1990 dến nay làm chủ để luận án Qua luận ám,
tôi muốn phác tháo hệ thông chợ ở vùng biển giới Việt - Trung như một không gian
tương tác, giao hưu kinh tế - xã hội giữa các tộc người ở trong vùng, liên/xuyên biến
giới, cũng như chức năng, vai tro va tac dong của chợ tới đời sống kinh tế - xã hội
của cư dân địa phương trong không gian xã hội vùng biên, dưới tác động của chính
sách phát triển vùng biển giới Việt - Trung từ 1990 đến nay
2 Mục ích và nhiệm vụ nghiên cứu
Aục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận án là nghiên cứu chuyên sâu vẻ những năng động kinh tế - xã hội ở chợ vùng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến may Từ đó, luận ứm
chỉ ra những đặc điểm của hệ thông chợ vùng biên giới Việt - Trung trên cơ sở tìm
tiểu các tương tác, trao đổi kinh tế - xã hội và giao lưu văn hỏa trong không gian xá hội vùng biên giới cũng như vai trò và tác dộng của chợ trong đời sống kinh tế - xã hội và chiến lược phát triển vủng biên giới Việt - Trung Cụ thể làm rõ ba mục tiêu:
1) Chỉ m đặc điểm của chợ ở vừng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay,
2) Làm rõ sự nãng dộng kinh tế - xã hội ở chợ vùng biên giới Việt - Trung,
3) Nhận điện vai trò, tác động của chợ tới đời sống kinh tế, văn hoá - xã hội của
cu đân địa phương, với các mỗi Hên kết về kinh 1
quan hệ tộc người (QHTN) và
xã hội thông qua chợ vả những ngụ ý cho chính sách phát triển ở vũng biên
Trang 13Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
1) Lâm rõ các đáo điểm kinh tế - xã hội của hệ thống chợ ở vừng biên giới 'Việt - Trung từ 1990 đến nay
2) Nghiên cửu làm rõ sự chuyển dịch, trao đổi và giao lưu vẻ kinh tế, văn hoa -
xã hội của các tộc người ở chợ vùng biên, treng đó, tập trung vào những mồi liên
kết vùng, quan hệ lộc người, các yếu tổ văn hoá - xã hội thông qua sự lương lác ở chợ vùng biên tử 1990 dén nay
3) Phân tích vai trỏ và tác động của chợ trong đời sống sinh kế các tộc người, đưới lắc động của chỉnh sách phát triển biên giới Việt - Trmg từ 1990 dén nay
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cửu
Đối tượng nghiên cửu cũa luận án là chợ vùng biên giỏi Việt - Trmg và các hoại động về kinh tế, văn hơá - xã hội của các tộc người ở chợ vùng biên
Pham vị nội đung nghiên cửu của luận ản là những năng động về kinh tế - xã
hội ở chạ vùng biên, với các tương tác, trao đổi hàng hoá và các giao lu văn hóa - xã
hội của các tộc người ở chợ vùng biên giới Việt - Trung
bản nghiên cứu của luận án là 4 chợ thuộc vùng biên giới Việt - Trung là
Cán Câu (huyện Sí Ma Cai), Các Léu (TP Lao Cai) tinh Lao Cai; Lộc Bình (huyện
Lộc Hình) tính Lạng Sơn; chợ tiên Móng Cái (TP Móng Cái) tính Quảng Ninh
Phạm vi thời gian nghiên cửu của để tài từ 1990 đến nay
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của để tài
Ý ngiữu khoa học
Nghiên cứu về vùng biên và những vấn đẻ biên giới đã nhận được sự quan tâm
của giới học thuật trên thể giới từ nữa sau thể ký XX Õ Việt Nam, vùng biển giới mới
chỉ bắt đầu được quan lâm nghiên cửu trong vải chục năm trở lại đây với những để tài thuộc Viện Dân tộc học, Viện nghiên cứu Trưng Quắc, Học viện Biên phòng, Đến
nay đã có nhiều nghiên cứn về chợ ở Việt Nam và hoạt động buân bán của các tộc người thiểu số (TNILS) ở vùng dân tộc thiểu số (IFTS) nước ta, trong đỏ có một số
nghiên cửu về chợ tử những góc nhìn khác nhau Song vẫn thiếu vàng những nghiên cứu chuyên sâu từ góc nhìn Nhân học về tính năng động của chợ đối với phát triển
kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá tại các địa bản biên giới nước ta trong bối cảnh cơ
Trang 14chế thị trường, ngày cảng gia tăng các mỗi quan bệ tộc người xuyên biên giới 0o vậy,
xpghiện cứu này đặt che trong không gian xã hội vùng biền giới Việt - Trung để thấy được sự năng động kinh tế - xã hội của cư dân vừng biền và các yếu tổ tác động đến sư
năng động nảy, Từ đỏ, làm rỡ vai trẻ và tác động của chợ đối với đời sống kinh tế - xã
hội tộc người ở vũng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay Vị vậy, nghiên cứu nây
tất có ý nghĩa khoa học, là nguồn tải liệu tham khảo để thâo luận với các nghiên cửu trong và ngoài nước về sự năng động của kinh tế - xã hội các tộc người ở chợ vùng biên giới Việt - Trung tir 1990 dén nay
Ÿ nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở phân tích những đặc diễm kinh tế,
văn hỏa - xã hội và táo động của
chợ tới đến sống kih lễ - xã hội của
c tộc người ở vùng biên giới Việt - Trung, luậ
án gớp phan làm rõ chức năng, vai trỏ của chợ đổi với kinh tế, văn hoá - xã hội của
các tộc người ở khu vực nảy từ 1990 đến nay, nhất là những năm gần đây được trinh bảy rõ và sâu sắc hơn Bên cạnh đỏ, luận án còn có đồng gop quan trọng cho thực tiễn phát triển kmh lề - xã hội, bão tổn và phải tuy giá trị văn hoá tộc người, văn hoa cho
ở các địa phương thuộc vùng biển giới nước ta
5, Hỗ cục luận án
Ngoài phần Mở dầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phu lục, nội dung chính
của luận an gém 5 chương:
Chương 1: Chợ vùng biểu: Vấn để nghiên cứ, cơ sở lý thuyết vá phương,
pháp tiếp cận
Chương 2: Vùng biên giới và đặc điểm của mạng lưới chợ ö biên giới Việt - Trung
Chuưng 3: Hoạt động buôn bán ỡ các chợ vùng biên
Chương 4: Quan hệ xã hội và tiếp xúc văn hoá ở chợ vùng biên
Chương 5: Chợ vùng biên trong dời sống kinh tế - xã hội địa phương và chiến lược phát triển vùng biên giới
10
Trang 15Chương 1 CHỢ VỮNG BIỂN: VÂN ĐẼ NGHIÊN CỨU,
CƠ SỚT.Ý THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TIEP CAN
Tên may, đã có khả nhiền nghiên cứu về vùng biên và chợ vùng biên dưới góc
nhìn của các ngành khos học nhu Kinh tế học, Văn hoa học, Sử học Song, vẫn
còn thiểu văng những nghiên cứu chuyên sâu về tính năng động của chợ đối với phát triển kinh tế - xã hội giao lưu văn hoá tại các địa ban biên giới nước ta trong
bồi cảnh cơ chế thị trường, ngày cảng gia tăng các môi quan hệ tộc người xuyên biên giới Hơn nữa, chợ vùng biên là một dạng không gian xã hội, một điểm quan
trọng đón nhận rhững biểu hiện về quan hệ kinh tế, văn hóa - xã hội của hai quốc gia cé chưng đường biên giới Diễu này đã mở ra hướng nghiên cứu thú vị về chợ
vùng biên trong không gian kinh té, văn hoá - xã hội ở vùng biên giới Việt - Trưng
1,1, Vẫn đề nghiên cứu
Luan an nảy nghiên cửu đặc diểm của hệ thông chợ ở vùng biển giới Việt -
‘Trung, kết hợp với phân tich những năng động về kinh tế, văn hỏa và xã hội ở chợ (thực chất là sự tương tác của con người liên quan dén chợ] từ năm 1990 đến nay
trong mỗi liên hệ với nội địa vò xuyên biên giới
Trên cơ số mô tả những đặc điểm, lính năng động của chợ thông qua các hoại
động mua bắn, các mối quan hệ thân tốc, đồng lộc, thông gia, lắng giếng G trong và
nthoó - xã hội ở chợ Đồng thời, làm rõ
ngoai nude trong qua rink tuemg bie kink 16,
thêm vẫn đề bản sắc tộc người trong quá trình giao hưu, tiếp xúc văn hóa của các cộng đồng cư dân qua mỗi liên hệ với chợ trong bối cảnh kinh tế - xã hội ở vùng biên giới
'Việt - Trung hiện nay
Qua đỏ, tìm hiểu vai trỏ và tác động của chợ đổi với đời sống kinh tế, văn hoá
- xã hội các tộc người ở vùng biển
Như vậy, vấn đề nghiên cứu chính của luận an nay 1a đưa ra một phác thảo về mạng lưới chợ vùng biên trong không gian linh tổ, tiếp xúc và bương tác về xã hội vả văn hóa giữa các công đồng cư dàn cũng như dặc điểm, vai trò và tác dộng cửa chợ trong không gian kinh tế - xã hội vùng biên
i
Trang 161.2 Lịch sử nghiên cứu
1.2.1 Vũng biên và biên giới Việt - Trung
Các nghiên cứu vẻ vàng biên bắt đâu từ năm 1976, với sự xuất hiện của Hội
Nghiên ctu ving bién (Asociation for Borderlands Studies, ABS) duge thinh lip trên cơ sở một nhóm các nhà nghiên cứu về biên giới Mỹ - Mexico [liép héi nay da
tổ chức các hội nghị khoa học thường niên về vừng biên và năm 1986 cho ra đời Tạp chỉ Nghiên cửu ving bién (Journal of Borderlands Studies) Tix nim 1990 te
đi, các nghiên cứu về vùng biển mới thực sự bửng nỗ, đo những biên động lớn về chỉnh trị trên thể giới trong mây thập kỹ qua Đó là sự sụp đồ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, quả trình hội nhập của cộng dồng clrung châu Âu, sự
kiện khúng bế ngày 11/9 ở Mỹ và quan trọng hơn nữa là sự thúc đây mạnh mẽ của
tiển trình toàn cầu hỏa trên thể giới Kế từ dó, những khẩu liệu mang tính chính trị
và lý tưởng như “thế giới võ biên”, “hồi kết của quốc gia dân tộc”, “thế giới của các
đông chảy” hay
ä hội dân sự toàn câu”, thường được nhắc đến, nhân mạnh sự
thay dỗi ÿ nghĩa của biên giới quốc gia truyền thống trong bối pành toàn cầu hoa va
sự nổi lên của thời hậu biện đại mới (Liikanen, 2016, tr.18, Wolputte, 2013, tr 5)
Ngoài ra, có ý kiên cho rằng, sự quan tâm của các học giả đổi với vùng biên không chí bởi những biến động chỉnh trị nêu trên mà còn bởi họ chứng kiến biên giới toàn cau không những giảm đi mả còn gia tăng Toàn cầu hỏa kinh tẻ làm gia tăng các déng chay vé con người, tài chỉnh, công nghệ, ý tưởng và các nguồn lực nhưng cũng tạo ra những bất bình dẳng mới (Wolputtc, 2013, tr.5-6)
Tới táo động của quá trình hội nhập chmg châu Âu vả nhờ cảm hứng tỉ các
thao luận về ving biên khu vực Bắc Mỹ, một mạng lưới nghiên cửu vẻ vùng biển chuyên dỏi (Border Reglons in Transifion) ở châu Âu được bình thành, làm xuất hiện một loạt các hội thảo vả ẩn phẩm về chủ đề này Từ hội thảo đầu tiên tổ chức ỏ Berlin năm 1994, đã có 10 hội thâu vỀ vùng biển tổ chức ở nhiều nước trong khối Cộng, déng, chung châu Âu, tập hợp các nhả nghiên cửu từ khắp nơi trên thể giới Có thê kế đến một số ân phẩm như: Borders and Border Regions in Europe and North America
[Biên giới và cúc vũng biên giới ở châu Ân và Bắc Mỹ| (1997), Curtains of Tron and
Gold Reconstructing Borders and Scales of interaction [Bức rèm sắt và vàng, Tái
12
Trang 17cấu trúc biên giới và quy mé trong tac] (1999), Cooperation, Environment and Sustainability in Border Regions (Lop tác, môi trường và bên vĩng ở các vùng biên] (2001); Mapping Borders between Territories, Discourses and Practices [Vach ra đường biên giữa các lãnh thổ, diễn ngôn và thục hành] (2003), #rlargemeni, Älegion Building and Shifting Borders of Inclusion and Exclusion [Sự raở rộng, xây đựng vùng và địch chuyển các biên gidi] (2006) Pal trong béi canh cdc quéc gia chan
Au
ội nhập chung váo một công déng, méi quan tém chink ctia cae hoe giả tại các
hội nghị, những công trình nay là xem xét các vùng biên, sự phát triển vùng, những vấn đẻ cửa hợp tắc xuyên quốc gia và tương tác xuyên biên giới Ngoài ra, vẫn đề tôn tai dai ding cua cach phân chia các quốc gia, dễ chế cũ hay quả trình phản chúa ranh: giới ở các cấp độ vùng, quốc gia, siêu quốc gia cũng được đặt ra (rích trong
Liikeuen, 2016, r.19-20)
Theo đánh giá của Baud và Van Sebendel, cic nghiên cửu về vùng biên từ
trước đến cuôi những năm 1990 chủ yêu tập trung vào các khía cạnh mang tính
pháp lý, địa chính wi va dia ly học trong việc tạo ra vùng biên và hậu quả của nó (Baud và Van Schendel, 1997, tr212) Diễu này cũng dẫn tới việc trước kia các
nghiên cửu thường tiếp cận theo trường phái khởi nguyên luận (2rữnordiaD, cho rằng các dường, biên lãnh thổ xoay chuyên giữa các nhả nước một cách hiển nhiên
(Zhang Tuan, 2011, tr.52) và theo hướng lấy nhả nước là trung tâm (Baud và Van
Schendel, 1997 tr212) Các nhà nghiên cứu về sau này đã kêu gọi cân có sự chuyển hướng theo tiếp cận từ ngoại ví Thay vi tập trưng vào điển ngôn, ý đỗ của
Wha nude Trung trong, các nghiên cứu nên xem xét thực tế đời sống bị tác động bởi
Nhà nước Người dân địa phương, giới lãnh đạo địa phương cũng như các chủ thể trong sự tương tác Ở vùng biên cản dược đặt trong phân tích với vai trỏ quan trọng,
như Khả nước Nghiên cứu vùng biên không chỉ là vẫn đẻ về chính trị hay kinh tế
ma com la van dé vin héa va xã hội Cũng tù cuối thập niên 1990, ngày dàng nhiều học giả bắt dau nhìn nhận biên giới như một sự kiến tạo lãnh thổ - xã hội, nơi thể hiện những mâu thuẫn, đối nghịch giữa sự đòi hỏi nguyên tắc, cứng nhắc vẻ biên
giới quốo gia và dòng chấy cơn người vốn xêm đổo, lĩnh hoạt (7/hang, 201 1, tr.52)
Giần đây, hai công trình được xem là cỏ ảnh hướng trong giới nghiên cửu vẻ vùng,
13
Trang 18biển trên thể giới là 1he Ashgate research companion to border studies (Cam nang
nghiên cứu biên giới của Ashgaie) (Wast-Walter, 2011) vad companion to border
vậy, hiên giới là hiện tượng xã hội và không gian phúc hợp không hé tinh tai, ma 1a
trung tâm kinh tế - xã hột năng ding
Diễm lại các nghiên cửu trên thể giới cho thầy sự hình thành mỗi quan tâm, lĩnh vực nghiên cứu biên giới, vùng biên gắn liên với những biến đông vẻ chính trị trên thể giới Những chuyển hướng trong cách tiếp cận, khải niệm, chú dẻ nghiên cứu vẻ vùng biên trên thế giới rất có giá trị tham khảo đổi với để tài luận án này, đặc biệt là phân tho luận về khái niệm và lý thuyết tiếp cận - sẽ được trình bảy ở mue sau
Ở khi vực
u Á, mối quan tâm về vùng biên giới giữa Trung Quốc với
quốc gia láng giêng Dồng Nam Á cũng được thẻ hiện ở một số hội thảo và công trinh
lớn Có thê kế đến Wbere Chína Auels Southeast Asia: Social and Cultural Change
in the Border Regions [Nơi Trang Quốc gặp gỡ Đông Nam À: Biển dỗi văn hỏa xã
hội ở cáo vùng biên giới] do Bvans, Hutton, Eng chủ biên (2000) Cuốn sách cung
cấp cho người đọc các điêu kiện xã hội từ sau mỡ sữa biên giới đầu thập niên 1990 như là sự tiếp nỗi của những thay dỗi trong chính sách kinh tế cúa nhiều nước trong, khu vực như: Trung Quốc, Việt Nam và Lào Mỗi chương trong cuốn sách giới thiệu
về nghiên cửu một vừng biên, một vẫn dễ cụ thể, tr dó dưa ra một bức tranh về biển
đổi văn hỏa, xã hội ở các vũng biên giữa Trung Quốc vả một số nước Đông Nam Á
14
Trang 19Gan day, một hội thảo tiếp cận từ góc nhìn Dân tộc học về sinh kế va mạng, Tưới xuyên quốc gia ở Lão và Việt Nam được tế chức ở TTả Nội, đã xuất bản một số chuyên để về kinh tế hàng hóa ở vùng biên các nước xã hội chủ nghĩa hậu kỳ ở
Đông Nam Ả trên tạp chi Asia Pacifie View point (s6 57, vol 2, 2016) Cac bai viét này tập trung tìm hiểu quá trình tham gia vao kinh tế hàng hóa của các cư dân vùng,
biên của Việt Nam và Lào, sự hội nhập của các lộc người vùng biên vào các đông chảy hàng hỏa, mạng lưới quy mô nhỏ Các tác giả cho thấy, vai trò quan trọng của
các đông chảy hảng hóa quy mô nhỏ này đối với sinh kế cũng như các vận dé va
thách thức đang đặt ra đối với cư đân địa phương (Taylor, 2016)
Chú dễ vùng, biển của khu vực Chiu A cũng đã dược chọn làm luận án tiến sĩ
và xuất bản như 7e Legend of the Golden Boat: Regulation, Trade and Traders in the Borderlands of Laos, China, Thai Land and Burma {Truyén thuyét vé con
thuyén váng: Quy định, thương mại và người buôn bán ở vùng bién gidi Lao, Thai Lan và Miễn Diện] (Walker, 1999) Trong công trình nảy, tác giả đã xem xét lịch sử chỉ tiết
thương mai tai ving bién cia Lao tir thé ky XVII dén đương dại và nhận định rằng vùng biên của Lào không phải là những vũng bị tách biệt về kinh tế, thay
vào đó là những năng động trong hoạt động thương mại Qua nghiên cứu, tác giả
cũng chí ra rằng, với việc nghiên cửu kỹ lịch sử địa phương vùng ngoại vị cho thấy một bức tranh sinh động về kinh tế - xã hội hơn là những nghiên cửu theo hướng tiếp cận trung tâm trước dé mang lai
Xu hướng xem xót vùng núi Đông Nam A va Nam Trưng Quốc như một khi
vực “Phi nhà nước” (Non-stafe space), poi la “Zomia” (Van Schendel, 2002) iré thanh
chi dé quan tâm của giới học thuật trong nhiều thập kỹ qua Jean Michaud (2010) là một trong số các hoơ giả về châu A hướng từng tích cực khái niềm Zomia Ông dã có một xuất bản gần đây thảo luận về khái niệm Zomia - vùng núi cao Đông Nam Á_ Tác giả cho rằng con người và không gian luôn giao nhai bằng nhiều hình thức rất đa dạng Khoảng cách dịa lý tương dương với sự cô lập về kinh tế và chính trị Chính sự
cô lập đỏ trở thành một công cụ phân loại quyên hạn của con người mả theo James
Scott (2009), cdc nhom cư dân như vậy ấn nóu ở những vùng hếo lánh dễ thoát khôi
sự đồng hoá, tiêu diệt, hoặc thậm chỉ loại bỏ ý thức “tiển bang” Do dé, Michaud
Is
Trang 20muốn xem xét lại sự thật trong một số nghiên cứa ở vúng cao nguyên Đông Nam Á, đưới ánh sáng của các cuộc tranh luận hiện tại về khái niệm gây tranh cãi: Zomia Michaud cing mnén dong góp cho các nghiên cửu về DTTS tử phương điện quốc gia, xiên mỡ rộng vô hạn chứ không thể bỏ hẹp trong những ranh giới lịch sử, bệ tư tướng,
và chính trị của các quốc gia như Ấn Dộ, Trung Quếo và bán đão Dông Nam A
Trong hội thao Asian Borderlands: Enclose, Interaction and Transformation
| Ving biên châu Á: Sự bao gồm, tương tác và chuyên đổi| tổ chức từ ngày 5-
7/11/2010 tại Chiangmai (Thai Lan), nhiều học giả đã đóng góp, thảo luận làm súng lô hơn vé khai nim Zomia Sara Shneiderman (2010) trong bai “Cao nguyén
Himalaya o6 thuộc #omia? Một số cân nhắc trên phương điện học thuật vả chính
trị, theo thời gian và không gian", đã xem xét khả năng áp dụng khái niệm Zomia cho nghiên cửu khoa hoe x4 hdi 6 ving Himalaya Mae di trên cả lý đo thục tế lẫn chính trị, thuật ngữ Zomia có thê không hoàn toản phù hợp với cao nguyên Tây
Tạng, song như cách mà James ScoH đã sử đụng, tính “hưu thang” vé dan tộc,
quốc gia và tôn giáo của các cộng đồng vùng cao có liên quan mật thiết đến nhà nude ma ho tham gia Diễu nảy có thể là có ÿ nghĩa lớn đối với vang Tay Lạng
Sarah Turner (2010) cũng là một trong số các học giả áp dụng khái niệm Zomia trong nghiên cửu thực nghiệm của minh Trong nghiên cửu Biên giới và dịnh hưởng ving biên: đường biền giới Việt - Trung hình thành như thế nào? Thách
thức và cơ hôi cho tiên thương vùng cao, đã phân tích sự hình thành, cũng cổ
dường biên oũt áo phản lích lịch đại về lộc người và cáo giao địch về
và hệ canh tác nông nghiệp ở vùng múi, rất đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ nhưng
có diểm chúng là nhiều tộc người đến định cư ở khu vue này do phối trốn tránh sự
bành trưởng của các nhà nước đân tộc, nhất là chủ nghĩa bảnh trưởng Đại Hậu Cáo
l6
Trang 21cư dân đỏ có xu hướng thiên về cổ kết tộc người thay vi hội nhập vào quốc gia dan tộc ma minh dang sinh sống Các nhà nghiên củu như Miichaud và Turner (2008) đã
nhân mạnh luận điểm cho rằng các tộc người xuyên biên giới, tiêu biểu như người
Hméng, quan tam nhiều hơn đến các mỗi liên hệ nội tộc của mình thay vi hội nhập
sâu vào quốc gia dan tộc mà họ đang sinh sống Phân tích của các nhà nghiền cứu
nay dường như đang cỗ sủy cho mội cách nhìn khu vục biển giới như những đồng chảy năng động của dân số và xã hội thay vì nhìn nó như những rào cân Khải niệm
Zomia, đủ còn nhiều tranh cãi nhưng cũng được xem như một cách tiếp cận bả sung trong việc nghiên cứu về các xã hột vùng cao ở khu vực Đông Nam Á
Chính sách vững biên, ngay sau khả bình thường hóa quan hệ, nhiều chính sách
và chương trình phát triển vùng biên của Việt Nam được thực hiện Các chính sách
dân tộc của Việt Naru thời hiện đại dã được triển khai wén cơ sở tổng kết một số chỉnh sách và giải pháp có hiệu quá trong phát triển kinh tế - xã bội vùng biên, đặt
trong sự so sánh với các chính sách đân tộc của Trung Quốc thời hiện dai (Ding
Thành Đạt, 2006, tr.11) Nghiên cứu của Đằng Thánh Đạt mang lại một cái nhìn so
sánh về chỉnh sách dân tộc, nhưng nó không tập trung vào vấn để vùng biến llơn nữa, nghiên cứu này chủ yêu phân tích chính sách má không quan tâm nhiều đến quá trình thực hiện và tác dộng của chỉnh sách tới dời sống kinh tế - xã hội của cư dân, Về
xặt lý luận, các chương trinh phát triển ở vừng biên giới Việt - Trung của Việt Nam
tử sau 1990 tập trung vào việc khuyến khích cư đân định cư ốn định, quy hoach vimg biên giới, nhân ranh vào việc xây dựng cơ sở hạ Lằng, khu kinh lễ cửa khâu và các
đỡ thị, tăng cường giao thương xuyên biên giải, đồng thời phát triễn đự án xóa đói giảm nghèo ở các xã khó khăn theo Chương trình 134,135 và một số chương trình dự
án khác, Bên cạnh đó, chương trình phát triển vùng biên của Trung Quốc hại tập trung, vào chính sách “Hưng biền phú đân” và tăng cường cơ sở vật chất, vốn ưu đãi để phát
triển kinh lễ vững biên (Vương Xuân Tình, 2010, 36-38) So với chính sách dân tộc
của 1rung Quốc, chỉnh sách dân tộc của Việt Nam còn chưa cụ thé hoả xuống từng, địa phương, thiểu trọng tâm và chính sách đặc thù, chưa tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, trong khi đó chính sách đân tộc của Trung Quốc lại mang tính chiến
lược, tập trung vào xoá đói giảm nghèo và đám báo an sinh xã hội với nội dung cụ thể
1?
Trang 22'à nguồn vốn tập trung, có trọng tâm, trọng diểm đã giải quyết triệt để các khỏ khăn &
23) Tuy nhiên, kết quả thực hiện
vũng biên giới (Trân Thị Mai Lan, 2011, tr]
chỉnh sách dân tộc đã có tác đồng tích cục tới kinh tế - xã hội của vùng biên giới Tây
Bắc (Trân Văn Ha, 2014, tr.92)
Kinh tê biên mậu, cáo hoạt động buôn bản ở biển giới Việt - Trung, có từ rất
sớm, được lạ nên bởi các yếu tổ lịch sử, tương đồng về ngôn ngũ, văn hỏa, tộc
người (Nguyễn Minh Hằng, 2003) Các hoạt động buôn bản thời kỳ nảy điển ra tại các “bác địch trường” (trưng tâm trao đối hàng hóa) đã được chính quyển nhà Lý và
triều Tống mở ra trên biên giới Đại Việt - Tổng để phục vụ nhu cầu trao đổi sẵn vật, vàng bạc và các mặt hàng quý hiểm (Nguyễn Hữu Tâm, 2011) Sự phát triển của các chợ biên giới, cửa khâu đã tác động tới nên kinh tê hàng hỏa cing như thủc đây
các hoạt động giao thương trong cả nước (Phạm Văn Linh, 2001) Cúc tộc người ở
hai bên đường biên giới có những tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã
hội, đây là điểu kiện thuận lợi để tăng cường các trao đổi và giao hi về kinh tế, văn
hỏa, xã hội (Đặng Thanh Phương, 2009) Hơn nữa, con đường buôn bản qua biên
giới giữa Lào Cai (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) có từ rất sớm trong lịch
sử, tác động tới sự bình thành và phát triển của các đô thị vùng biên Lào Cai Từ khi quan hệ Việt -1rung bình thường hòa, các hoạt dộng buồn bán giữa Láo Cai và Văn Nam ngày càng tăng cường, kừu ngạch thương mại không ngửng gia tăng, tác động
đến quan hệ đân tộc, phân hóa giảu nghéo (Trân Hữu Sơn, 2009, tr.58) Tù 1990 đến
nay, cae khu cửa khẩu và kinh lễ cửa khẩu phát triển tác động tới kinh lỀ - xã hội của
các tộc người ở hai bên biên giới, đặc biệt là sự năng động về đân số của người [loa
cũng như những tác động kinh tế biên mậu tới đời sống cửa các tộc người (Nguyễn Thị Hiện, 2014) Sự phát triển của kinh tế biên mau thu hút sự tham gia của các tộc
người vào các hoạt động ở chợ biên giới, lao động làm thuê và các dịch vụ khác, ni
Tên vai trò của người Kinh ở các chợ cửa khâu và các TNTS ở khu vục địch vụ, đồng thời, tăng cường giao lưu làng hóa, sự gắn kết các tộc người thông qua mối quan hệ thân tộc, đẳng tộc của cư đân vùng biên (Trần [léng Thu, 2013, tr.24-25)
ủng biên, Sarah Tumer (201 0) va Zhang Tuam (2011) dễ
Voi cdo nghién cin
cập đến những trải nghiệm hảng ngày của tiểu thương vùng cao, qua đó cho thấy cách
18
Trang 23thích nghị với những thay dỗi kinh tế, chính sách lớn của Nhà nước So với trước năm
1979, biển giới Việt - Trung đã có rất nhiên thay đôi, điều này tạa nên cả cơ hội lẫn
thách thức cho các tiểu thương và kinh nghiệm trên 3 phương diện: cảm thức không
gian - thời gian, chiến lược thích nghị và các hoạt động cụ thể Hoạt động kinh tế biên
mậu của cư đân Việt Nam gém mau địch chính ngạch, tiếu ngạch và buôn bán của các
cu đần biến giới, các đang dịch vụ xuất nhập khẩu khác nhưự chuyển khẩu, tạm nhập tái
xuất, (Hoàng Thanh Vân, 2003) Kinh tế biên mậu của các tộc người ở biên giới
'Việt - Trung rất sôi động, vái các hoạt động buên bản tại chợ biên giới và cửa khẩu
cùng với địch vụ như lưu trú, vận chuyển hàng hóa, bưu chính viễn thông, đổi tiên, ấn
uống, dã thu hút hầu hết các tộc người trong vùng và người Kinh ở các vũng miễn trong câ nước, tạo động lực phát triển cho hoạt động kinh tế biên mậu, nhất là từ 1990
dến may (Bùi Xuân Đỉnh, Nguyễn Ngọc Thanh, 2013) Cùng với các TNT8 trong
vùng, người Tày đã tham gia vảo quá trình phát triển kinh tế biển mậu với các hoạt
động buôn bán tại chợ của khâu, phát triển cáo địch vụ cho thuê phòng trọ, cửu vạn,
bốc vác, hàng ăn, Những hoạt động kinh tế nảy đã có tác dộng tới quá trình chuyên đổi kimh tế của người Tây ở tính Lạng Sơn từ ôi Mới đến nay (Phạm Thị Thu Hả,
2012) Bên cạnh đỏ, người Kinh cũng từng bước thích nghỉ với nên nông nghiệp ở vùng biên giới Việt - Trung (Bủi Xuân Định, 20090) và có vai trỏ quan trọng trong,
phát triển bên vững các tỉnh biên giỏi ở khu vực phía Dông Bắc (Bùi Xuân Dĩnh, 2009a) Người Kinh là lực lượng chủ đạo tại các trung tâm thương rnại, cửa khâu và chợ biên giới, thúc dây ngành dịch vụ và du lịch phát triển, đồng thời lì động lục trong,
phảt triển kinh tế vũng biên giới Việt - Trung từ 1990 đến nay (Tạ Thị Tâm, 2018)
Trong cuỗn Sink kế ở vùng biên: Người Hmông ở biên giới Việt - Trung (Tumer, Bonnin & Michaud, 2015) đã giới thiệu nét cơ bản về hoạt động sinh kế của người Hmông ở vừng biên giới Việt - Trung, nhân mạnh luận điếm cho rằng các tộc người xuyên biên giới, tiêu biểu như người Hmông, quan tầm nhiều hơn đến các môi liên hệ nội tộc người thay vi hội nhập sâu vào quốc gia dân tộc má họ dang sinh: sống Như đã trinh bảy, phân tích của các nhà nghiên cứu nay dan téi vide od sty
cho một cách nhìn khu vực biên giới như những đồng chấy nững động của dân số và
xã hội thay vi nhìn nỏ như những thách thức đổi với phát triển kinh tổ
19
Trang 24Tiếp mạch nghiễn cứu về sinh kế, bài viết Sinh kế nơi biên cương: Sự thích
ứng của người lmông ở vùng biên giới Việt - Trung (Tuaer và Michaud, 2016) dề cập đến những cơ hội khác nhau của người mông ở vùng biên giới Việt - Trung đã
nắm bắt để tạo ra các sinh kế thích ứng, Liọ đã lựa chọn sinh kẻ cho mình không chi lam theo mả còn biết phản kháng sự hội nhập thị trưởng quá nhanh vả những ý tưởng hiện dại dễu mang tỉnh trao dỗi Điều đặc biết, nghiên cứu còn chỉ ra, công
động người Hmông vừng biên giỏi Việt - Trung đang lựa chọn và lạo ra sinh kế phù hợp với văn hóa, xã hội địa phương trong quá trình hiện đại hoá
.Bên cạnh đỏ, nghiên cửu của Endres (2016, 2017, 2019) cũng dễ cập dén những,
tưởng tác ở vừng biên giới Việt - Trang, qua phôn tích các hoại đông trao dỗi, buôn
‘ban ở khu vục chợ, cửa khẩn, quan hệ giữa người dân và chỉnh quyền thông qua
trương táo ở vừng biên giới
Quan hệ tộc người xuyên biên giới, với nghiên cửu trường hợp người Hà Nhì
ứ xã Y Tý, Bát Xat, Lao Cai trong bối cảnh lịch sử tộc người, kinh tế - xã hội của vũng biên giới Việt - Trung nổi lên trên các phương điện quamt hệ kính tế, văn hoá, xã
hội, có tính chất tắt yếu, đỏ là quan hệ gia đình đỏng họ xuyên biên giới, hồn nhàn
xuyên biền giới, quan hệ bạn bẻ xuyên biên giới chủ yếu với đồng tộc, quan hệ đàn tộc xuyên biên giới ở chiều cạnh kinh tế diễn ra trong trao đổi, mua bản hàng hóa
Hơn nữa, mỗi quan hệ giữa các thương nhân, người mua và người bản trong diều kiện
phát triển kinh tổ thị trường đã khiến cho việc sử dụng bàng hóa của người dân khá đa dang (Vương Xuân Tỉnh, 2010) Cùng với đó, quan hệ dân tộc cửa người Lô Lô cũng
diễn ra ở chiều cạnh kinh tế, văn hỏa - xã hội và có tác động tới sự phát triển của
vùng biên giới Việt - Trung (Phạm Đăng Hiển, 2008),
Gan đây, đề tài Quan bệ đân lộc xuyên quốc gia của một xố lộc người vùng
zmiễn múi phía Bắc (Lý Hành Sơn và Trân Thị Mai Lan, Chủ biến, 2017), đã khái
quát về các dân tộc miễn núi phía Bắc, nhận điện thực trạng quan hệ đân tộc xuyên
quốc gia của một số tộc người trong vùng Các quan hệ nảy được biểu hiện qua hoạt
động kinh tế (quan hệ trao đổi giống cây trồng, nuôi, mua bán qua đường biển
giới: làm thuê qua đường biên giới, xâm canh, thuê đất săn xuất qua đường biên giới), quan hệ tộc người (họ hàng, láng giêng và hôn nhân) và văn hóa tộc người, an
ninh quốc phỏng,
Trang 25Bén cạnh do, van dé di cư ở vừng biên giới Việt - Trung dược một số nhà
nghiên cứu nướp ngoài quan lâm, cụ thễ Kinh nghiệm đi cư qua biên giới ở tònh Lang
Sơn, Bắc Viet Nam (orld Hickerson, 2012) Nghién cứu mày đã để cập đến boạt
động xuyên biên giới đem lại nhiều cơ hội, cũng như rũi ro cho phụ nữ nghèo ở các
nude đang phát triểu Irong việc tìm kiếm sinh kế và những rào cân chính sách dang hạn chế những déng đi cư này Do vậy, phụ nữ nghèo thường phải nhờ đến các mỗi quan hệ xã hội để giúp họ đi qua biên giới, tìm kiếm việc làm, tránh bị lừa dao và én
định cuộc sống Với Nghiên cứu trường hợp lao động nam ải cư xuyên biên giới Việt
- Trung: Động năng, trải nghiệm và các vẫn đề về sức khoẽ (Nguyễn Song, 2017), đã
để cập tới hiện tượng nam đi cư lao động xuyên biên giới Việt - Trung không có giấy phép, những nguy cơ tiểm 4n ma ho phải đối mặt, quả trình kết nồi xã hội và sự hoà
thập cuộc sống
Van dễ hôn nhân xuyên biến giới Việt - Trung, dược một só học giá trong và
ngoài nước quan tâm như Carohine (2012), nghiên cứu hôn nhân xuyên biển giới ở
TP Mong Cai va TP Lào Cai thông qua nghiên cửu một sẻ gia dinh tiêu thương ở vùng biên giới Việt - Irung Qua nghiên cửu của Caroline thấy rằng co sy tương,
động giúm các thành phỏ vùng biên Việt Ngm và Trung Quốc, ví dụ như Móng Cái và
Đông Hung, Tảo Cai và Hà Khẩn Bên cạnh đỏ, hôn nhân xuyên biên giới xuất hiển
nhidu ö các gia đình buôn bán Các mối quan hệ Irong hôn nhân đã phần ảnh không,
gian xã hội và sự đa dạng văn hoá ở vùng biên giới Việt - Trung, Hơn nữa, hỗn nhân
xuyên biên giới gắn với vấn đề phát triển xã hội ở các địa bàn vùng biên giới nước ta
(Đăng Thị Hoa, 2017)
Bén cạnh đó, văn héa và cáo yếu tế tộc người là trụ cột thứ 4 trong phát triển
bên vững ở các vùng biên giới cúa Việt Mam Dặc biệt là những tác động của yếu
tổ văn hỏa tộc người đến phát triển kinh tế, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng và
táo động của toán câu hóa vá quan hệ dân tộc xuyên biên giới (Vương Xuân ‘Tinh, Chủ biên, 2014)
Như vây, các nghiên cứu về vùng biên kể dến ở trên dã tập trung dến các wan
dé lịch sử, chính trị kinh tế - xã hội, quan bê tộc người, văn hóa trong phát triển
31
Trang 261.2.2 Nghiên cửu chự và cũhự vùng biên
G déng bằng, chợ có từ rất sớm, gắn với mỗi dơn vị làng xã cu thé va dal rong
không gian kinh tế - xã hội của làng Bằng tiếp cận Dân tộc học/Nhân học cùng với
cách tiếp cận liên ngảnh, các nhà nghiên cửu đã có các phát hiện khoa học giá trị, nhất là lý giải vẻ môi quan hệ chợ láng với xã hội, tồn giáo và hoạt dòng buôn bán giao lưu trao dỗi hàng hóa ở nông thôn ở dẳng bằng Bắc Bộ (Nguyễu Đức Nghĩnh
1979, 1980; 1981; Nguyễn Đức Nghinh, Trần Thị Hòa, 1981; Diệp Đỉnh Hoa, Bùi
Xuân Đính, 1983) Sự gắn kết của làng ở đẳng bằng Bắc Bộ với buên bán, là phương thức mưu sinh của cáo làng ở đồng bằng Bắc Bộ, với mỏ hình làng di buôn, lấy việc buôn bản làm nghề và nguồn sống chính (Nguyễn Quang Ngọc, 1993)
Từ khi Bai Mới, chợ ở châu thổ sông Hồng có
triển của nên kinh tế thị tường, mỏ cửa và hội nhập, thu hút các thành phân kinh tê tụ
nhân tham gia vào thị trường Diễu đó cho thấy, mạng lưới chợ quê đang có những, thay đối, tạo đột phả trong chuyên đổi nên kinh tế hàng hơá ở nông thôn Việt Nam (Lê
Thi Mai, 2004) Biên cạnh đủ
ống và năng động của nền kinh tế hang boa cing
với truyện thông thương nghiệp của một làng phi nông nghiệp ở đẳng bằng Bắc Bộ,
tiêu biểu cho sức sống và sự năng động của nên kinh tế hàng hóa và quá trình chuyển đổi thị trưởng trong bồi cánh toàn cầu hỏa (Nguyễn Giáo, 2016) Dưới góc nhìn Lịch
sử, công trình Chợ truyền thẳng Việt Nam qua tự liệu vẫn bia (Trình Khắc Mạnh, Chủ
biên, 2016), sưu tầm và dịch các văn bia phú lại thời giám thành lập, đặc điểm của các
chợ truyền thông ở Việt Nam Sự phát triển của kinh tế hàng hóa củng với sở hữu tư nhân là những hạt giống dầu tiên cho sự phát triển kinh tế thị trường, kinh doanh quy
mô nhỏ và chuyển đôi đô nu củng với sự tái cầu trúc không gian đô thị kể từ Đôi Mới đến nay Tuy nhiên, muội số tiêu thương đã bị lễ hoá ngay tiên chính không gian sinh
tổn và đang thích nghỉ với những vấn đẻ chuyển đối, đồng thời chỉ ra vai trò của chợ
truyền thẳng vai hoạt động budn bán nhỏ và tác động của nó tới cầu trúc không gian
đô thị (Kisten, 2014) Hơn nữa, tư nhân hóa và tỉnh năng động của thị trưởng mang,
22
Trang 27Ở vũng biên giới Việt - Trong, các hoạt động trao dôi hang hóa của cư dân trong, vùng, và với bên kia biên giới dược tiếp nói từ lịch sử dến hiện nay (Nguyễn Minh Tiằng, 2003) Với cơ cầu đa đạng, phong phú thẻ hiện qua cáo đặc trưng của hàng hoá
ở chợ vùng biên cùng với những chính sách Đổi Mới kinh tế đã tạo lusng gid mới thúc day kinh tế hàng hỏa ở chợ vừng biên phát triển đông thời, tác động tới hệ thông,
chợ trong vùng (Lê Đức Hùng, 2000) Chợ là nơi hội tụ, trao đổi hàng lúa của các tộc
người trong vừng, sự phát triển của nên kinh tế hàng hóa đang tạo động lực cho sản
xuất và các trao đổi xã hội (Iề Văn LIậu, 2005, tr.151) Ngoài ra, chợ vùng biên còn 1ả không gian thị trường và sự tiếp nối của các siêu thị hiện đại trong bởi cảnh thương, mại hóa vũng biên (Nguyễn Hồng Thái, 2004) Tương tự với tiễn cận về chợ vùng
biên đã nói ở trên, Sohoenbcrger and Tumner (2008) đã thảo luận về mạng lưới và
loạt dộng buôn bán xuyên biền giới của cư dân miễn nủi phía Bắc Việt Nam Nghiên
cứu này đã chỉ ra các quan hệ xã hội và cách mà người đân vùng biền giới thỏa thuận
với các thể chế thị trường vùng biên một cách thục tế, đề tăng cường buôn bán với cư dan vùng Tây Nam Trung Quốc, vên là nguồn sinh kế quan trong họ Thông qua các
nguồn hàng cụ thế, mỗi mặt hàng có quy định riêng, cách điều phối và thỏa hiệp
riêng, thực hiện bởi các nhóm người khác nhau, chợ vùng biên và các hoại động buôn
bán thương, mại dược tiếp cận bởi một tập hợp các cấu trúc xã hội da đạng và phức tạp, bao gồm không, chỉ chỉnh sách của Nhà nước mả còn các quan hệ xã hội của các tộc người và những biến đổi theo vùng địa lý, cơ hội vẻ kinh tế Hem nữa, mạng lưới chợ không chỉ thúc đây lưu thông hang héa và chuyển địch cơ cầu kinh té, ma con củng cổ mối liên hệ đân tộc (Ngô Thị Cảm Thương, 2015)
Luận án tiến sĩ của Christine Bonin Markets in the Mountains: Upland Trade -
vcapes, Trader Livelihoods, and State Development Agendas in Northern
Vietnam (2011), đã nghiên cứu tại 15 chợ của Š huyện thuộc tính Láo Cai Nghiên
cửu này chỉ ra rằng, trái với dịnh kiến vẻ vị thế ngoại vị của các tộc người vùng cao, người Hmông và Dao ở Láo Cai rất năng động trong việc biến các sản phẩm hàng
Trang 28song chưa chủ ý tới giả trị văn hoá tộc người của người dân dịa phương nền chỉ mang,
lại lợi ích cho những người dã có lợi thế ở chợ từ trước Nghiên cứu của Bonnin cing
nhân mạnh đến cách tiếp cận mạng lưới vên xã hội và sự trợ giúp lẫn nhau trong,
buổn bán của người dân địa phương, Những hoạt động này chiếm vị trí quan trọng, trơng hệ thông trao dỗi và là những cách tiếp cận cần dược quan tâm nhiễu hơn trong,
vào tỉnh trạng bỏ hoang (Trần Hữu Sơn, 2014)
Những năm gần đây, chợ vừng biên nhận được sự quan tâm nhiều hơn của giới
ân tộc học/Nhân học trong và ngoài nước Đặc biệt, các nghiên cứu đã xem xét
chỉnh sách nhà
chợ vùng biên rong qua trình chuyển đổi, dưới lác động củ
nước và trong sự tương tác với các tác nhân khác ö vùng biên Nghiên cứu của
Tndres (2010, 2011), tai Lao Cai da tap trung tim hiểu các quan hệ xã hội trong bối cảnh các hoạt động thị trưởng và giao dịch kinh tế ở vùng biển Cụ thể lá xem xét các
thực hành văn hóa giúp cho các tiểu thương tạo đựng và dịnh hình các quan hệ xã hỏi
cửa mình trong kinh đoanh Đằng cách tiếp cậu theo quan điểm tiến trình lịch sử về
biến đối kinh tế - xã hội, tác giả đã cố gắng làm rõ các khía cạnh bắt biến và để biển
dỗi của các ý nghĩa và thực hành văn hỏa ở các quan hệ xã hội trong bối cánh trao đổi kinh tế tại vùng biên giới Viết Nam Một số công bó khác của lác giả về quan hệ thuôn bám giữa Hiểu thương ở Việt Nam với các đổi tác Trung Quốc, vẫn rệt buôn lậu
ở vùng biên hay cách thức các tiểu thương tim kiêm lợi nhuận cũng như các méi quan
hệ xã hội, vận may trong kinh doanh, điển đỏ cho thấy tính năng động cũng như thách thức má những người buôn ban nhỏ vùng biên cần vượt qua (Endres, 2014, 3a, 2015b, 2019) Vượt qua những thách thức của quá trình chuyển đổi và thích
Trang 29Chợ vùng biến côn ham chứa những giả trị văn hỏa tộc người dộc dáo, lá trung,
tâm văn hóa ở vừng cao, với nhm cầu và hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của
các tộc người ở chợ („ý Hải, 1995) Nghiên cứu của Lê Đức Himg xem xét mê hình
van héa cho vimg cao, các nhủ cầu vẻ văn hoa cia ding bao ving cao má các nhụ
cau nay được thế hiện ở chợ, đây không chỉ la trưng tâm kinh tế mà là một không,
gian sinh hoạt văn hóa của các lộc người trong vùng (I.ê Đức Hùng, 2000) Chợ ở
miễn múi phia Đắc có sự giao thoa kinh tế, văn hỏa với nét dặc thủ riêng so với nhiều
vũng văn hỏa khác, đi chợ như đi hội, không chỉ thỏa mãn như cầu sinh hoạt của cá
nhân, gia định, dộng đồng mã củn là nơi gắp gỡ nhau để trao đổi thông tím, lình cảm
va thỏa mãn như cầu giao tiếp của con người (Phan ‘Thi Dém, 2002) Hơn nữa, từ lễ
hội đến chợ hội không chỉ thoả mãn nhu câu sinh hoạt văn hỏa như vui chơi, gặp gỡ, làm quen, thắm hỏi mà còn đáp ủng dược nhu cau mua bin hang hoa (Hoang Nam, 2008) Chợ vùng, cao còn là trung tâm sinh: hoạt văn hỏa của cả vủng, với các thực hành văn hóa vật chất và tính thản rất phong phú, đây l nhu cầu không thể thiểu
trong đời sông của các tộc người ở trong vủng (Trân Hữu Sơn, 2004)
Chợ tình là nét văn hòa độc đảo của các tộc người ở vùng cao, bên cạnh không
gian văn hóa đặc trưng, đây là nơi trao đối tâm tư, tỉnh cảm, tìm về hạnh phúc và tính
yêu của những chàng trai cô gải sống ở vùng biên cương Cho tinh giống như chất xúc ác làm nên tính độc đáo trong tam hén của các tộc ngudi ving cao (114 Thi Kim Oanh, 1997) Cho tinh 14 phan quan trọng không thế thiếu trong đời sống của tộc
nguời Hmông, Dao cũng như nhiều lộc người khác, dây cũng là néi văn hóa tộc
người cân được lưu giữ và có những nhận thúc đúng din vé van dé nay (Vuong Duy
Quang, 1993) Một số chuyên khảo khác cũng tập tung mô lá, phân tích về “chợ tinh” va các hoạt động văn hóa ở chợ, là những gợi mở cho các nghiện cửu sau nảy
Nhìn chưng, cáo nghiên cứu vẻ chợ vừng biên vẫn cẻn những khoảng trồng, đó
là chưa nhìn ra đặc điểm chưng của chợ truyền thống ở vùng biên, cũng như những năng động kinh tế - xã hội và vai trở của chợ như một không gian tiếp xúc của các
ty, kế thừa kết quả nghiên cứu
mạng lưới xã hội trong vùng vả xuyên quốc gia Vì
của các học giả trong và ngoài nước, luận án này sở tiếp tục làm sáng tô những vấn
đẻ má nghiên cửu trước côn chưa có điều kiện đề khám pha
Trang 301.3.3 Các vẫn đề càn đang thầu luận
Cho ving biến giới Việt - Trung đã dược các học giả trong và ngoài nước
quan tâm nghiên củu và chủ yêu tận trưng vào 3 xu hướng sau:
Thủ nhất, chợ vùng biên là mạng lưới quan hệ xã hội và không gian xã hội xuyên biển giới, dây còn là địa diễm diễn ra các hoạt dộng mua ban hàng hóa liên
vùng, xuyên vững vả liên biên giỏi Song, các nghiên cứu trên chủ yếu lập trưng vào
chợ ở cửa khẩu và các hoại động thương rưại của nguời Kinh
Thứ hai, chợ vũng biên là đèng chảy về hàng hóa xuyên biến giới Cáo học giả
thường tập trung tìm hiểu các kinh nghiệm hợp tác của thương nhân Trung Quốc với đối tác Việt Nam và sự Irao dỗi các dòng hàng hóa xuyên biến giới Đặc biệt là
nghiên cứa nhiều về dong chây hàng hóa và những vấn đề liên quan đến nguời Kinh,
người Hmêng, rang khi vùng biên giới Việt - Trung là khu vực đa tốc người
Thứ ba, chợ vùng biên như một trung tâm giao lưu văn hóa - xã hội Các học
giả cho rằng, chợ vùng biên lả nơi giao hưu, tiếp xúc của các tộc người ở trong,
vũng, liên vững và xuyên biên giới Chính hoại động này là cơ sở của các quan hệ
vẻ kinh tế Tuy nhiên, những vẫn đẻ năng động dân số, dòng chảy về kinh tế và
mạng lưới quan hệ xã hội vẫn chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu
'Trên cơ sở phân tích các nghiên cửu đã có và bổ sung vào những, thiếu klruyết chưa được nghiên cứu sâu, luận án nảy sẽ tập trung tìm hiểu đặc điểm, vai trò và tác động của chợ vùng biên qua các tương lắc kimh tế, văn hoá - xã hội rong không
gian xã hội vùng biên giới Việt - Trung
1.3, Cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận
1.3.1 Vùng biên giới từ gác nhìn chính trị - đần tộc học
- Vùng biên giới nhìn từ quan điễm trung lâm - ngoại vỉ
Thuyết “trung tâm” trong nghiên cứu văn hóa đã được cáo nhà nghiên cứu thuộc
trưởng phai “truyén ba ludn” (diffusioniom) Tay Au dua ra vao cudi thé ky XIX, tiéu biéu !a cdc hoc gia Due va Ao nhu Frobenius, F.Raatsel, Grabner, W.Schmidt, Néi dụng của thuyết này cho rằng, tự tạo văn hóa của nhân loại bao giờ cũng xuất
phát điểm từ một nơi sau đó truyền đi các nơi khác và chính sự lan truyền ấy tạo nên động lực của sự phát triển văn hóa nói riêng và của xã hội nói chung Tiếp tu mặt tích cực của truyền bá luận về trung tảm sảng tạo văn hóa và sự lan truyền văn hóa từ
26
Trang 31trung tâm, các nhà Nhân học Mỹ mã đại diện tiêu biểu lá Boas, Wissler đã phát triển 3ý thuyết trung tâm trong việc hình thành c:
Mỹ Như vậy, vào dau thế kỹ XX, các nhà nhân học Mỹ đã chon cách đưa ra một tap
hợp các đặc rung văn hóa tiêu biểu đồng vai trỏ lá trưng tâm của việc hình thánh
vùng văn hóa” của người Indian ở Bắc
vùng văn hóa và bước dâu dưa ra những dự cám về mỗi quan hệ hai chiều giữa trung,
tâm và ngoại vi vùng văn hỏa (Ngô Đúc Thịnh, 2006, Ir.1-2)
Ở Việt Narn, thuyết “tung tầm và ngoại vì” được vận dung tong ngiién cứu
không gian văn hóa Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong quả trình hình thành ruột không gian địa văn hỏa, vai trò trung tâm là hết sức quan trọng, chứa dụng các đặc
trưng văn hỏa của vùng, tạo nên động lực phát triển, có sức thư hút, lan tỏa văn hóa vá
quy định xu hướng phát triển của toàn bộ vừng văn hỏa Quan điểm lý thuyết này cũng cho rằng điều kiện cần đề trở thành một trưng tâm vấn hóa, điều quan trọng là sự phụ thuộc vào địa lý bự nhiên để định hình một hay nhiều hướng khai diac Whi nguyên và hát triển kmh tế, là đầu mối các con đường giao thông thủy và bộ, rơi lập trung đân
cư và động năng lớn trong phát triển dân sẽ, là trung tâm chính trị và quyền lực Đặc biệt, lý thuyết này còn cho rằng, vùng biên thuộc phạm trủ ngoại vị và chịu ảnh hướng, của khu vực trung tâm, nơi được xem là tạo ra những ảnh hưởng và lan tỏa cả về vấn thỏa, kinh tê, chính trị đến vùng ngoại vi Cư dân vùng biên viễn phụ thuộc vào nhà
nước và không có tính chủ động, năng động trong đòi sống kinh tế - xã hội Vì vậy, cách tiếp cận vùng biển viễn qua lăng kinh trưng tôm - ngoại vĩ dường nhu đã ph
định những năng động vẫn có của cư đân địa phương, Mặt khác, nỏ có xu hưởng xem xét các nên văn hóa của cư dân địa phương từ nhãn quan có thiên kiển chính trị trong,
giới hạn của đường biên giới chính trị của quốc gia Thực ra, nhiễn tộc người vùng
biên viễn đã lạo được các trung tâm văn hóa riêng của họ, có lịch sử, bản sắc riềng và
trưng lâm này có thể không phụ thuộc vào sự chía cắt đường biên giới quốc gia vến hình thành muộn và không ổn dịnh Phản tích các năng, dộng kinh tế, xã hội của cư din ving biên và mỏi liên hệ của nó với trang tam hành chỉnh quốc gia có ý nghĩa giúp khám phả sâu hơn mnổi quan hệ trung tâm - ngoại vi, những năng động, di động của cư đân vùng biên và những yếu tổ nảo, hướng nội hay hướng ngoại đang chỉ phối
nhận thức, làm nên khác biệt văn hóa ở vừng biên.
Trang 32- Vùng biên giới như một khu vực lịch sử - dâm tộc học
Em vục lịch sử - dân tộc học là những phan của miền đất đai có loài người ew
trú, ở đó, có công đồng phát triển kinh tế - xã hội, những quan hệ lâu dải và ânh hưởng lẫn nhau, hinh thành những đặc thủ văn hóa - sinh hoạt giếng nhau Những
đặc thù này biển hiện qua văn hóa vật chất: nhà ở, phương tiện đi chuyển, thức ăn
và đỗ uống, quần áo, bao gồm mnột số hiệu tượng thuộc lĩnh vực văn hóa tính thâm,
Ít nhiều có liên quan đến kinh tế và sinh hoạt văn hóa (Tsébéxardp va Tsébéxaréva,
1975, tr.87-100; tr.110-125; tr.112-124),
Trong một khu vực lịch sử - dan tộc học có thể lồn tại nhiều loại hình cộng đồng người khác nhau như chủng tộc, ngén ngỡ, tộc người, tôn giáo nhưng diểu quan trọng nhật không phải là sự trùng khóp về chúng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo hay loại hình kinh tế - vău hóa, mà là sự tương dồng về môi trường cha lý, môi quan hệ
ánh huởng qua lại giữa họ trong quá trình lịch sử, để giữa họ hinh thành nên những,
đặc trưng về văn hóa và lỗi sống Dặc trưng văn hóa của vùng là những yếu tổ văn
hoa gắn bó hữu cơ với nhau, thể hiện rõ trong văn hóa vật chất và văn hỏa tình thân
của các tộc người
Ở Việt Nam, khái niệm vùng văn hóa được hiểu là một vừng lãnh thổ có những, tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư ở đó từ lâu đã có những môi quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa
họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa, niên trang vùng đã hình thành những,
đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoại văn hóa vậi chải và văn hóa tính thân của cư
dan Ving văn hóa được hình thành và tên tại là kết quả tác động của nhiều nhân tô tự
nhign, xã hội và lịch sứ, trong đỏ quan hệ giao lưu và ảnh hưởng qua lại có vai trò rất
quan trọng với khu vực này (Ngô Đức Thịnh, 2004, tr.64-65)
Trong ving văn hóa 6 một hoặc nhiễu tộc người củng sinh sống, giữa các tôc
người luôn có sự giao lưu về văn hóa dẫn tới sự biển đổi mỗi sẽ đặo điểm, thậm chi
lả cả tổng thể văn hỏa của các cộng dòng Thực tế cho thấy, bất kỉ một cộng, dồng, tộc người nào cũng có mỗi quan hệ qua lại với các cộng đồng tộc người xung quanh Tiếp xúc và giao tiếp văn hóa là tác động tới sự phát triển và nhờ đỗ này sinh các hiện tượng văn hóa mới Khi yếu tế nội sinh đủ mạnh, nó sẽ tự lựa chọn và
38
Trang 33ban dia hoả những yếu tổ mới tiếp thu được từ cộng dòng khác làm phong phú thêm
104, tr 1 8-22)
văn hóa của cộng đẳng (Ngô Dức Thịnh,
Ở Việt Nam, vùng biên giới cũng có thế được xem là một vùng lịch sử - đân tộc
học Đây là nơi cư trủ của các tộc người có những, quan hệ lâu đài và ảnh hướng lẫn nhau nên đã hình thành đặc thủ đân tộc học giống nhau của cư dân ở hai bên biên giới
giữa hai quốc gĩa láng giềng Với nhiều tương đồng về cả mặt tộc rgười, ngôn ngữ,
văn hóa và quá trình giao tiếp văn hóa mạnh rnế trong lịch sử, dường biên tộc người
V
và văn hóa của cư đân đọc biên gi - Trung luôn trở nên mong manh bên cạnh
đường biên giới chính trị đá thiết lập từ lâu Nghiên cứu nảy sẽ vận dụng lý thuyết khu vực lịch sử - dân tộc học dễ giải thích đông người và các môi quan hệ xã hội của
cư đân ở chợ vững biển với chợ các chợ trong vửng, liên vùng và xuyên biên giỏi trong không gian xã hôi vùng biên giới Việt - Trung,
1.3.2 Tiển cận chự vùng biên từ những gợi mũ của lý thuyết không gian xã hội
và mạng lưới xã hội
Cách xem xét vùng biên giới từ quan diễm trung tâm và ngoại vi hay khu vực
lịch sử - đến tộc học rất hữu ích khi vận dựng vào phân tích vùng biên giới, nhưng
nó tỏ ra bắt cập khi nghiên cứu cho như một điểm giaa lưu hàng hóa, con người và vai trò của chợ như một dâu mỗi của mạng lưới liên kết vùng, Đề tìm kiếm một tiếp cận Nhân học vẻ chợ vùng biên, tôi đã tìm hiểu các cơ câu phân tích vẻ không gian xã hội và mạng lưới xã hội de một số nhà Nhân học đê xuất và vận dụng vào
nghiện cứu
Tlenri Lefebvre, nha khoa học người Pháp dựa trên quan điểm duy vat Mac-xit
cho ring, néu không gian tự nhiên 1à một “tác phẩm” do thiên nhiên “sáng tạo ra”,
thỉ không gian xã hội là do con người “sản xuất ra” Theo ông, một vật dược sảng,
tạo là một “tác phẩm” mang tính độc nhất, không lặp lại Thẻ giới vật chất la thé giới của những sự vật được thiên nhiên sáng tạo Còn thế giới xã hội là thế giới của
những sự vật do con người lam ra Chủng dược sáu sinh ra bởi các lực lượng và
phương tiện, thông qua phương thức sản xuất, bởi vậy, những “sản phẩm” có thể lặp lại (ức có thể được “sản xuất bằng loạt) Tương tự, không gian xã hội cũng là những không gian do con người sản sinh ra bởi các lực lượng sản xuất, bằng các
29
Trang 34phương tiện sản xuất và thông qua các phương thức sản xuất Theo Lefebvre, không, gian xã hội là một sản phẩm xã hội (Lefebvre, 1991, tr.26)
1Lefehvre còn chỉ ra rằng “không gian xã hội liên quan chặt chế đến sự xuất hiện của tr thức và văn hóa, của tích lũy tư bản” Như thể, không gian xã hội trang, quan niệm của ông có cả đặc tính văn hỏa, đó là không gian văn hóa - xã hội Theo
1.efslwre, mỗi xã hội đều sản xuất cho mình mội không gian riêng Trong không
gian xã hội tư bân, cỏ sự phân biệt giữa không gian dỗ thị như là trưng tâm và
không gian nông thôn là các khu vực ngoại vì Đô thị là nơi cỏ sự phát triển mạnh
của các lực lượng sẵn xuất đưới sự cai quân của các lực lượng chính trị, đồng thời
cô sự tịch lũy cao các nguồn lực trị thức, nguồn lực công nghệ vả văn hỏa nghệ
thuật, là trung tâm của cãi và quyền lực, chỉ phi những không gian chả ngự - đó là cúc không gian ngoại vi Theo tĩnh thần của Lefebvre, không gian ngoại vi là những,
không gian phụ thuộc, bị chế ngự bởi không gian trung tâm Theo ỏng, mỗi xã hội
có một không gian riêng, mỗi khu vục, mỗi địa phương, mỗi đồ thị cũng có một
không gian riêng biệt Những yêu tổ quan trọng làm cho các không gian khác nhau
là các mối quan hệ xã hội, các quan hệ sẵn xuất, các hịc lượng sẵn xuất,
(Lefebvre, 1991, tr.86)
Nam 1977, Condominas định nghĩa “Không gian xã hội lả cải không gian
được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nào đó” (Condominas, 1997, tr16), được xác định qua một số khía cạnh đặc trưng cña
không gian xã lội như sau:
1) Những mối liên hệ với không gian và thời gian, được hiểu là Không gian và
thời gian sinh thái Đây là cơ sở của không gian xã hội, có sự gắn kết với nhau trong van héa của công đồng người trong một không gian chứ không tỏn tại dộc làp Đắc biệt, Condominas lưu ý đên quan niệm của nhiều dân tộc về các phương: ngoài 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, người ta còn nói đến một phương trung tam, ting
hợp các đặc tỉnh của cả 4 phương laa
2) Những quan hệ với môi trường, đó là quan hệ giữa can người với hệ sinh
thái, một trong những yếu tổ quan trọng hàng dâu của không gian xã hột Trong môi
quan hệ nảy, con người khai thác thiên nhiên để làm nên không gian xã hội
30
Trang 353) Những mới quan hệ trao dỗi cửa cái Của cải trao dỗi của một cộng dỗng người trong một vùng cững là một đặc điểm làm niên đặc trưng cho một không gian xã hôi
4) Những môi quan hệ giao tiếp: Ngôn ngữ và chữ viết là những yếu tổ giúp cho việc thiết lập và thúc đẩy cáo mỗi quan hệ trong không gian xã hội
5) Những mồi quan hệ họ hàng và xóm giéng: Day là các môi quan hệ thục thỉ
cuộc sống của mội cộng: đồng người trong một không gian xá hội Quan hệ họ hàng
'Với tư cách một nhà dân tộc học, Condominas chỉ quan niệm không gian văn hóa -
xã hội ở ruột dầu lộc, một Lộc người Vì thế cả lưi ông không lý giải được những không gian văn hóa - xã hội siêu quốc gia vả những không gian văn hóa - xã hội
toàn câu của các mối quan hé hợp tác liên quốc gia, mà đây lại là mệt đặc điểm
quan trọng của mỗi quan hệ trung tâm - ngoại vi trong thời dại “thể giới phẳng”
'Trong thế giới toản cầu hóa ngày nay, đặc tỉnh thứ 3 của không gian văn hóa
- xã hội trong lý thuyết của Condominas có vai trò quan trọng, đó là quan hệ trao
dỗi của cải Ngoài ra, không gian văn hóa - xã hội thời đại toàn cầu hỏa còn có thêm một đặc tỉnh rát quan trọng, nữa là quan hệ liên không gian Dó chính là nét đặc thủ của không gian văn hóa - xã hội thời đại toàn câu hóa mã chứng ta cân chủ
ý khi nghiêu cứu vẫn dé quan hệ Irung tâm - ngoại vĩ rong không gian van hoa -
xã hội
Ta
ám này vận dung quan dién cia Lefebvre lan Condornirias về không gian
xã hỏi dễ giải thích đồng hàng hóa cũng như dòng người và cáp mỗi quan hệ xã hội
ở chợ trong không gian kinh tế , văn hóa - xã hội vùng biên Tuy nhiễn, chợ không
hải là một không gian xã hội tĩnh, mà ngược lại, nó giống như một đầu tối ota các môi liên kết kinh tế và xã hội, chợ có thể dược xem xét như một mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết của vùng, Qua đầy, tôi cũng đã thấy ở lý thuyết về mạng
lưới xã hội một cơ sở để luận gii vai trở của chợ vũng biên trong dòng chây hàng,
hỏa và giao lưu con người xuyên biển p1ới
31
Trang 36Trong những người di tiên phong nghiên cửu mạng lưới xã hội của ngành
n Bames (1954),
nhân học nói riêng và khoa học xã hội nói chung phải kê
Mitchell (1974, 1986), Wolfe (1978), đã đưa ra khải niệm về mạng lưới xã hội
(Soelal nehvork) là những mỗi quan hệ, những kết nổi giữa các cả nhân, cộng đồng,
và thậm chỉ quốc gia (quan hệ quốc tế) Người ta sử dụng ƒð thuyết phân tích mạng
lưới xã bội (Social Neheork Analpsi Theoy) đề phần tích các vẫn đề về mạng lười
xã hội Mạng lưới xã hội là một câu thành của hệ thống xã hội với các thành phần
cơ bản của mạng lưới: Các nút (mades) hay các actor, bao gốm các cá nhân, nhám
xã hội, ác lễ chức và những sợi đây ràng buộc (/ez) lạo ra các liên kết (connection), cac méi quan hệ tương tác (social relation and trferacHon) Các mỗi liên hệ giữa nút vá đây nổi này tạo thành một mạng lưới liên kết xã hội
Do đó, lý thuyết của Maik 8 Granovetier vé ste inanh của những kết nổi yếu
(the strength of weak ties) ngay sau khi ra đời đã trở thành một chú để bản cấi sối
nổi trong giới khoa học Khi nói về sức mạnh trong các mỗi quan hệ xã hội, fa
thường nghĩ dến tằn suất thời gian (số lần gặp gỡ), mức độ tình cảm, tỉnh thân mật (Granovetter, 1973, tr.1361) Các yếu tổ này theo Granovetter có thể độc lập hoặc tương quan với nhau Khải niệm va chủ đề sức mạnh đó không quá trừu tượng trong bồi cảnh ở Việt Nam hiện nay, nhất la ở khu vực nông thôn, khi mà những mỗi quan
hệ làng xóm vẫn được xem là yếu tổ rất quan trọng trong môi quan bệ xã hội của người nông đân Do vậy, những kết nói xã hội mạnh, thea Granovetter là mức độ
Tiểu biết giữa các chủ thê với nhau và rốt liên hệ chặt chế, gắn bỏ giữa các thành viên trong cộng đồng Dối lập với những kết nổi mạnh là những kết nỗi yêu Greak
sex) hoặc không lồn tai cae mai lién hé (absent ties) Nhiing kết nội yêu hoặc không tổn tại các kết nổi được thể hiện thông qua khái niêm cầu nói (briđge), những mỗi liên hệ gián tiếp bên ngoài công đồng của cá thê (Granevetter, 1973, tr.1364) Các kết nổi yêu hoặc không tôn tại các mốt liên hệ, quan hệ lông lẻo giúa các thành viên trong céng dang, thay vào dó là những kết nổi bên ngoài céng dang
Tiếp đó, Nan Lin (2001) đã đưa ra lý thuyết về đi động xã hội Ông chỉ ra
rằng, các cá nhần tìm kiểm lợi nhuận rong mạng lưới xẽ hội thông qua sự di dong
xã hội Các cả nhân giống nhau thường xảy ra khả năng liên kết cao hơn so với các
32
Trang 37cả nhân khác nhau, Do và
đảng chảy thông tin, gắn
tin không cân thiết (Ronald Burt, 2000, tr.35) Người nắm gitt vi tri tring gian ay
ai trở trung gian này còn gọi lá sự môi giới tạo ra các
+ mọi người lại với nhau và loại bỏ những nguồn thông
tạo ra các mối liên kết và các mối liên kết này trở thành nguồn vốn xã hội (Social
capitat) cua chính chủ thể đó Lý thuyết về đi động xã hội có liên hệ trực tiếp đến
việc bán hàng qua rưạng, các mối quan hệ của người buôn bán,
Để thực hiện nghiên cửu nảy, tôi vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội dễ hiểu
các môi quan hệ xã hội ở chợ vũng biên và vai trò của mạng lưới xã hội với sinh kế tộc người ở vùng biên giới
- Vận dụng cách tiếp cận hệ thông khu vục và phản tích tổ chức không gian
ctla Skinner trong nghiên cứa chợ vùng biên
Từ việc nghiên cứu hệ thống chợ mông thôn mién nam Trung Quéc, William Skinner (1925-2008) đã phát triển một cơ câu phân tích hệ thông khu vực (Regional
Swslems Analysis) và phân tích mạng lưới xã hội (Socizi Network Analysis) vao
phân tích các vùng biên giới Trong đó, Skimmer sơ dé hoa cách phân tích tỏ chức không gian của hệ thống chợ phiên nông thôn Những luận điểm của Skimner đã được phát triển thành các cơ cầu lý thuyết phân tích khu vực, gọi tắt là RSA và
SNA (William Skinner, 1964, 1965a, 1965b)
Theo quan điểm ctia Skinner, tiép can hé théng khu vực (RSA) can tập trung vào quan hệ giữa không gian và nhà nước đề từ đó giải thích mỗi quan hệ giữa cau
trúc không gian và những năng động của các thục lành vấn hóa, xã hội và kinh tế ở
+khm vực nông thên Theo ông, tỏ chức không gian của hệ thông chợ là nên tảng kinh
tế, xã hội và văn hóa cơ bản của xã hội nông thôn truyền thống Tring Quốc Bên
cạnh tiếp càn không gian xã hội, có thể vận dụng phương pháp phân tích mạng lưới
xã hội (SNA) vào nghiên cứu vùng biên Khái niệm mang lưới xã hội cũng được
Skmeer phái triển trên cơ sở nghiên cứu hệ thông chợ ở các vùng nông thôn Trong nghiên cứu thực nghiệm của mình, Skimner đã sơ dé hóa được một hệ thống, chợ làng và chợ vùng theo các phiên họp không trừng nhau để người đân trong vùng có thé tham gia vào các hoạt động Irao đổi trong vùng, Ông cho rằng các chợ thường đóng vai trỏ trung tâm mà xoay quanh nó lả một hệ thông các làng và các cộng,
33
Trang 38déng cu dân khác nhau Từ quan sắt này, Skimer sử dụng thuật ngữ mạng lưới dễ
mô tả cầu trúc của hệ thống chợ Theo ông, các cầu trúc của hệ thông chợ không giêng như câu trúc của các cấp chính quyền (phân cấp từ trên xuống didi) mà có
hình thức của các mạng lưới đan dài vảo nhau, giúp cho sự giao lưu trong vũng,
được gắn kết hư Lý luận của Skinner vẻ mạng lưới xã hội xoay quanh hệ thông
chợ phiên có thể vận dụng vào phần tích các quan hệ tương ác gia những cộng déng cu đân ở vủng biên, trên quan diém cho rằng các đường biên không phải là những rao chắn hay bình phong ngăn trở ma là không gian của sự tiếp xúc (Nguyễn
Văn Chinh, 2018, tr 45)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Một sỗ khái niệm sử dụng trong luận án
Nghiên cứu này dé cập đến một số Khai nig như vùng biên, cho vùng biên, năng động kinh tế - xã hội, không, gian văn hỏa - xã hội
- Khái miệm vùng biên
Điện giới, dường biên và vùng biên là những sáng tạo của con người dựa trên
các truyền thông đạo lý khác nhau (1runet-Jaily, 2010, tr.1) Mặc đủ trải qua cáo thời
ky - từ thời có đại, trung đại và cho đến ngày nay, xã hội loài người đã phát triển khái niệm biên giới dễ chỉ phạm vi khu vực nằm trong quyền hạn của một cộng dồng, chính trị trong mỗi quan hệ với cộng đồng khác, nhưng phải từ thế kỷ XVII trở di thuật ngữ này mới thực sự được đùng để chỉ sự phân chia về mắt chính trị, như là kết
quả của sự bình thành các nhà nước hiện đại (Baud, Sehodol, 1997, Ir214: Oluimi, 2010) Với mỗi quốc gia, lãnh thổ được xác định bằng những đường biến giới, được
các quốc gia liên quan ky kết và được quốc tế công nhận Đường biên mày chỉ có giá trị pháp lý về mặt chính trị và hành chính giống như bức tường dễ phân chia ranh giới giữa hai quốc gia, còn các hoạt động kính tẻ vả giao bm văn héa - xã hôi của cư đân ở tiai hên đường biên điển ra từ rất sớm và Hếp tục đến ngày nay
Biên giới (border) hay dường biên giới (borderline) là ranh giới dịa lý của các
thực thể chính trị hoặc quyền tài phán hợp pháp, chẳng hạn như vùng lãnh thỏ, các quốc gia có chú quyển, các quốc gia liên hiệp và các thực thế địa phương (don vi
hành chính quốc gia như tĩnh, bang, ) Như vậy, dường biên giới quốc gia được xem
34
Trang 39Ja ranh giới phân dịnh lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khảe hoặc với những, vững mà quốc gia có chủ quyên trên biển, bao gồm biên giới quốc gia trên đất liên, trên biển, trong lòng đất và trên không" Trong nghiên cứu này, khi nói đến đường
biên giới, chúng tôi sử dụng khái niệm dã dược khẳng định trong điều 1, bộ [uất Biên
giới Quốc gia do Quốc hội ngớc Cộng hòa xã hội chú nghĩa Việt Nam thông qua
ngày 17/6/2003, theo đó “biên giới quốc gia là đường và mặt thẳng đứng theo đuờng
đô đễ xáo định giới bạn lãnh thể đất liền, các đảo, các quần đảo, vùng biên, lòng đất,
vùng trời của một quéc gia” Khải niệm “đường biên” dược hiểu là dường ranh giới của quốc gia thực biện chủ quyển của minh trong phạm vi lãnh thổ mả đường ranh
giới đó đã phân định, đồng thời là sự xác lập chế độ chính trị, quản lý đất đai, dan ex
va Ul cA ode nguén (ai nguyên trong phạm vị lãnh thổ đó Đường biên chính là cơ sở
tự nhiên dễ đảm báo duy trì lãnh thổ của quốc gia và sự ổn định của dất nước
Vũng biên giới (borer regians) hay khu vực biên giới (borderlands) là bộ
phân nhất định của lãnh thế tiếp giáp biên giới quốc gia, có quy chế riêng do cơ quan Nha nước có thẫm quyền quy định dễ bão vệ biên giới quốc giá Ở Việt Nam:
có nhiều định nghĩa khác nhau về vủng biên giới nhưng chủ yếu dựa trên cơ sở phân
tích theo đơn vị hành chính Luật Tiên giới Quốc gia năm 2003 quy định khu vực
tiên giới (trên đất liền) của Việt Nam bao gồm các xã, phường, thị rắn có địa giới hành chính tiếp giáp với dường biên giới quốc gia trên đất liễn và trên sông, suối
'Trong Quyết định 120/2003 của 'Thủ tưởng Chỉnh phú, thuật ngữ “Tuyến biên giới Việt - Trung” được sử dụng phế biến còn khái niệm vừng biên giới chưa được
rắc đến Theo Quyết định số 1151/2007 ngày 30/8/2007, pủa Thủ Tuớng Chính phú, thuật ngữ “Vúng biên giới Việt - Trung”, chính thức được sử dụng dễ chỉ khu vực địa
1ý gồm 7 tỉnh” có đường biên giới với Trung Quốc, có tổng điện tích 5.126.329 ha
Biên giới lông (Fbal bordar) là loại hình biên giới có tính lông, đễ biến đối
wong quan hệ và quản lý ở vùng biên, không trừng với biện giới quốc gia rủ dược
mở ra hay bị co lại theo thế nước (Thôi Húc Thần, 1992)
êu 5, Luật Biên giới Quốc gia do Quắc hội nước CHXHƠN Việt Nam thông qua ngày 12/6/2003 quy
định dudng biên giới quốc gia bao gdm biên giỏi trên đắt liền, trên biên, trên không vả trong lòng đất
` Các tănh đó như đã trình bãy, cụ thé fa Quang Ninh, Lang Son, Cao Bing, Ha Giang, Lao Cai, Lai Chan,
"Điện Biển.
Trang 40Biên giới mêm (Sef berder) là biên giới súc mạnh, biên giới vỏ hình va thay đổi theo thế nước, có thể tương ứng, lớn hay nhỏ hơn biên giới quốc gia Để mỡ rộng khái riệm mày, Thôi Hie Thần cho răng trước hết cần phải phát triển kinh lế,
với quan điểm “hàng hóa đi đến đầu, biên giới mổ rộng đếu đó” và phát triển lư
tưởng “gơing oul”, phát triển biên giới (Thôi Hue Than, 1992) Vi vay, Trung Quốc tập trung đầu tư mở rộng biên giới mềm, mở rồng đường biên vả vận chuyển hàng hóa từ nội địa ra vùng biến giới để thục hiện chính sách biến hàng hóa nhằm tạo ra ảnh hưởng về kinh tê, cơ sở hạ tằng ở vùng biên, đặc biệt là trao đổi hàng hóa ở ving biên, lấy hàng hoá như một lục hút tạo nên sự phụ thuộc từ các nước láng giéng Từ đó, Trung Quốc đưa ra hàng loạt các chính sách phát triển vùng biên,
trong đó có chính sách “Hưng biên phú đán” và những lan toả về hàng hoá, tư tưởng
và con người với các nước láng giêng (đẫn theo Vương Xuân Tinh, 2016)
Không gian xã hội, là không gian dược xác dịnh bởi một tập hợp các hệ thống
quan hệ đặc trưng cho một nhóm newdi nao dé (Georges Codominas, 1997, tr.l6]
Quan niệm của Codominas thiên vẻ văn hóa, cho nên thục chất không gian xã hội chỉnh là không gian văn hoa - xã hội theo cầu trúc ba chiều chử chưa nhỉn từ gỏc độ
mở rộng của loàn cầu hỏa Nhà dân tộc hoc Codomines lại quan niệm không gian văn hóa - xã hội trong phạm vi dân lộc, tộc người
Khái mộm biên giới là không gian xã hội (Social Spaoe) là quá trình duge wd
rộng bang chia sẽ công đồng, sự Lương ác với tác nhân khác, thiết lập hậu chính trị của
+khu vục, lãnh thổ vã quan hệ cộng đồng nhằm quản lý mâu thuẫn lãnh thé của tư bản
toàn cầu (Scott, 2014) Việc buôn bán xuyên biên giói không bị giới bạn bởi chính trị
mà côn dựa vào mối quan hệ văn hóa xuyên biên giới, quan hệ xã hội như déng họ và
hôn nhân, di động xuyên biên giới, trao đôi kinh tế (Tumer, 2010, tr265-267) Không, gian xã hội xuyên quốc gia không chí đề cập đến quan hệ nhà nude voi nha nude ma còn gồm quan hệ phi chính phủ 16 18 sy lién két x8 hai (social ties) như liên kết giữa các cá nhân, nhỏm, tôn giáo Loại hình của không gian xuyên quốc gia có mức thập
như mạng lưới (người buôn bản, tri thức, luật sư), mức cao là thiết ché (nhém ho hang,
gia dinh, công đồng, tổ chức tôn giáo) (Vương Xuân Tinh, 2019, tr.120)
36