Tuy nhiên, do nghiên cứu nay chi thiét lập nh huống khảo sắt trên mỗi quan hệ thân thiết, đo vậy khó có thể kết luận được người Nhật ưu tích cách nhờ và trực tiếp trong mọi tình huỗng đ
Trang 1Akdogan, Ohama (2008) da chỉ ra người Nhật ưa thích lựa chọn cách nhờ vá trực tiếp, trong
khi người Thổ Nhĩ Kỳ lựa chọn cách thức nhờ vả gián Hếp nhiều hơn Tuy nhiên, do nghiên cứu
nay chi thiét lập nh huống khảo sắt trên mỗi quan hệ thân thiết, đo vậy khó có thể kết luận được người Nhật ưu tích cách nhờ và trực tiếp trong mọi tình huỗng được,
Các nghiên cứu đối sánh chiến lược nhờ vá giữa người Nhật và người nói các tiếng mẹ để
khác được thực hiên trên nhiều quan điểm như ngữ dụng học, phân tích đoạn thoai, nhung
hấu như các nghiền cửu này mái chỉ xem xét đến mật trang các yêu tỗ ảnh hưởng đến chiến lược nhờ và
Trong nghiên cứu này, tác giả sơ sánh chiến lược nhờ và giữa hai ngôn ngữ trên cư sử xcm xét
tuần bộ các yếu tổ cơ bản ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi nhờ vã Việc chỉ ra sự khác nhưng trong chiến lược nhờ và giúp hai bên có thể dự đoán trước cách chọn lựa phương thức nhờ vả cha mình sẽ ảnh hướng đến đôi phương thê nào, từ đó xem xét và tìm ra chiến lược nhờ và phù hợp
tránh ma sắt, hiểu lẫm trơng các tình huắng giao tiếp khác biệt văn hóa Trang khuân khổ bài viết
này, tác giả tập trung vào việc so sánh phần mở dẫu trong chiến lược nhờ vả giữa hai ngôn ngữ
3, CACTHUYET LICH SU
Tiếng Nhật sở hữu một hệ thống kính ngữ tương đối phức tạp với các quy tắc nghiêm ngặt
TH thông kính ngữ này đóng góp to lớn chơ việc biểu thị sự tôn trọng, lịch sự, sự sắn sóc quan tâm
tới đối phương Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng sở hứu hệ thông kính ngữ như tiếng Nhật, mỗi ngồn ngữ đầu có cách điển đạt riêng truyền tải sự quan tâm chú ý đến đối phương
“Theo Brown & T.evinson (1987) dù có kính ngữ hay không có kính ngữ thì sự lịch sự là yến tố phổ
quát luồn tẳn tại trong hoạt động ngôn ngữ Sau khi thuyết lịch sự của Browrn & levinson dược
phát biểu, tai Nha Bản đã rộ lên rất nhiều nghiên cứu về lịch sự đựa trên thuyết này Trong đó
tiêu biểu là nghiên cứu của lắc giả Usami, người đã đưa ra thuyết DE phát triển lý luận về lịch sự của Browm & Levinson từ mức độ lịch sự trong diễn đạt, phát thoại lên mức độ rộng hơn là lịch
sự trong đoạn thoại
Tác giá vận dựng thuyết lịch sự của Brown & Levinson va thuyét DP của Usami để phân tích
sự lịch sự trong chiến lược nhờ vả Nhật Việt, vì vậy tác giả sẽ trình bày sơ lược vẻ hai thuyết lịch
sự liêu biểu này
3.1 Thuyét lich su” ci Brown & Levinson
‘TakiUra (2008) da néi vé su lich siz trong “thuyét lịch sự” của Brown & Levinson như sau
Lịch sự trong các tình hung hội thoại là sự quan lâm săn sóc chủ yếu bằng ngôn ngữ được thể hiện, truyễn tải nhằm hỗ trợ, giảm nhẹ sự xâm phạm đến bộ mặt (face) của đổi phương Trang con
người có hai mặt, một ruặt muỗn được người khác ghỉ nhận, yêu mến (mặt khẳng định, pos
iace), và một mặt không muốn bị làm phiền, xăm phạm (mặt phủ định, negative face) Có những hành vi ngôn ngữ khi thực hiện không tránh khỏi việc xâm phạm bộ mặt của bản thân và đối
phương Brown & Levinson gọi đá là "hành ví xâm pham bé mat (face threatening act, KA).
Trang 2Khi thực hiện FTA này con người có gắng sử đụng các chiến lược lịch sự quan tầm đồn bộ mặt của đối phương để không làm tốn hại bộ mặt của đổi phương Chiến lược lịch sự ở đây chính là các phương tiện cụ thể dé (hẻ hiện sự lịch sự Taki ra đã tôm tắt về thuyết lịch sự của Brown & Levinson như dưới đây
[Độ lớn la nguy cơ đối với bộ mặt lên lược]
Nguy cơ xâm phạm bộ mặt nhỏ
(Tuyền đạt ý đỗ rõ rồng)
'Khảng thực hiện việc giám nhẹ sự xâm phạm bộ mặt
(1) Nói trực tiếpLbald on cecordÏÏ
Thực hiện giám nhẹ sự xâm phạm bộ mật một cách rõ rằng:
(2) Lịch sự khẳng dinh (positive politeness}
(8) Lich sự phú định (xegatiwe politeness|l
(Không truyền đạt ý đồ rõ rằng)
(4) Lai néi bong gid (olf record)
(Không truyền đạt ý đề)
G] Nề tránh hành vi[klonrt do the ETA[Ï
Nguy cơ xâm phạm bộ mặt lớn
(Taki Ura 2008)
Tùy vào mức độ xâm phạm đến bộ mặt mà chọn lựa 5 chiến lược này Theo kết quả điều tra ở nghiên cứu này, không thấy sự xuất hiện của chiến lược (4) và (5) ở cả người Nhật và người V
hết trong các trường hợp người nói déu truyền đạt ý đã rõ rằng, chiến lược (1), 02), 3) được lựa chọn
Có thể phân loại chiến lược lịch sự khẳng định vã lịch sự phủ dịnh lần lượt thành 3 và 5 loại lớn
+ 3 loại lịch sự khẳng định
A: Claim common ground (Cho thay nên táng chung)
B: Convey that 6 and TÍ are cooperators (Truyền tải việc giữa mình và đối phương có quan
hệ hợp tác)
C: Fula IT's want for seme X (Làm thảa mãn mong muốn của đối phương đối với X nào đổ + 8 loại lịch sự phú định
A: Be indirect (Ndi gidn Hép)
8: Don't presume (Không suy đoán, suy tưởng)
€¡ Don` Lcoerce H (Không ép buộc đối phương)
D: Communicate 5`s want to not impinge ơn H (Không có ý muốn xâm phạm đối phương)
TE: Redress other wanls of Hs (Bù đắp mong muỗn khác của đối phương)
(Sasa Gawa 1999)
Trang 3Usami vita ghi nhận thuyết lịch sự của Brown & Levinson, vừa chỉ ra những điểm chưa hoàn thiện của thuyết này, và đưa ra thuyết lich sự ở cấp độ đoạn thoại (Discourse Politeness, goi tt 1a
thuyết DP)
Nhã nghiên cứu chỉ mà thuyết lịch sự của Brown & Levinson khá bau quất tuy nhiên về cơ
bản vẫn chỉ dừng lại ở mức độ câu văn, chưa vượt quà hàng rào khảo sát ở cấp độ phát thoại
(epeech act) Nếu coi lịch sự là một chiến lược trong hành vi ngôn ngữ để bảo toàn quan hệ tốt đẹp
với đổi phương thì chỉ đừng ở việc lựa chọn hình thức ngân ngữ cấp độ cân văn nhứt kính ngữ
vẫn chưa đủ, mà cần khảo sắt trên cắp độ doạn thoại, phải xem xét hết tắt cả các yếu tố ảnh hưởng
đến sí
từ đệm cho hội thoại (aizuehj), trợ tứ cuối câu, việc có hay không lời mão đầu
chaự như cách đấn nhập vào chủ đề chẳnh của doạn thoại, tẫn xuất, thời điểm đưa ra các
4, CHIEN LUQC NHO VA VÀ “PHẦN MỬ ĐẤU” CŨA CHIẾN LƯỢC NHỜ VÀ
4.1 Chiến lược nhờ vả và “phần mổ đầu” của chiến lược nhờ vả là gì
trước tiên cần tìm hiếu vẻ đặc trưng của hành vi nhờ và lïong hành vi nhờ và cũng có những
hành vi mang lại lợi ích cho người bị nhờ ví dụ như “vì tôi thấy ngon nền đã mnua rất nhiều mà một
mình ăn không hết nên anh có thể ăn giúp tôi được không?”, tuy nhiên hẳu hết các hành ví nhờ và đều không mang lại lợi ích cho người bị nhờ và, Hành vì này thường làm phiền và lạo gắnh nặng, chơ ngượi bị nhờ và Người bị nhờ vả sẽ hành động vì lợi ích của người nhờ và Người nhờ và kỳ
vọng người bị nhờ sẽ thực hiện giúp mình nhưng việc có thực hiện hay không là tự do của người
bị nhờ và hoàn toàn không phải là nghĩa vụ Vì là hành vĩ liên quan đến lợi ích nên khi nhờ vả khả
nang gây ảnh hưởng đến quan hệ giữa người với người cao Khi thực hiện hành vi đe dọa đến mỗi
quan hệ thì người thực hiện cân quan tâm đến nhiều yếu tố để lựa chọn chiến lược tấi un
Trong phạm ví nghiên cứu này, tác giả định nghĩa chiến lược nhờ vả chính 1A các phương, tiện mã người nhờ và sử dụng để đạt được mục đích của nành Tay nhiên tác giả chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu lần này là các phương tiện mang tính ngôn ng, loại trừ các phương tiện phi
ngôn ngữ như tếng cười, đồng tác, cử chỉ, điệu bộ
Chiến lược nhờ vả được cầu tạo từ 3 phan “phan mở đâu”, “phan chinh”, “phan kết thúc” Trong phạm vì bài viết này tác giá bước đầu tiến hành sơ sánh “phẩn mở đâu” của chiến luge nha
và giữa hai ngôn ngữ “phần mở đầu" được tính từ lúc hội thoại giao tiếp bất đâu đến trước khi
đề xuất nhờ vá được thể hiện
4.2 Các yếu tế ảnh hưởng đến chiến lược nhờ vả (bao gồm cả “phần mở đầu]
Theo Brown & Levinson (1987), có 3 yếu tố ảnh hưởng ciến chiến lược hội thoại của người
nói là: Mỗi quan hệ về sức mạnh giữa người nói và người nghe (1), khoảng cách mang tính tâm 1ý, xã hội (2), mức độ nặng nhẹ (3)
Về hành vi nhờ và có thể thấy đương nhiên người đi nhờ ở thể yếu hơn người bị nhờ nên yêu tỗ mỗi quan hệ về sức mạnh giữa người nói với người nghe (1) ở hành vị nhờ và là có định,vì
Trang 4vậy trong nghiÊn cứu này tác giả chỉ xem xót nỗi quan hệ giữa khoảng cách mang tính tâm lý, xã hội (2), và mức độ nặng nhẹ (3) đối với chiến lược nhờ vá
Khoảng cách tâm lý hay chính là quan hệ “thân, sơ”, còn khoảng cách xã hội chính là quan
hệ “trên, dưới" Quan hệ này được cho rằng sẽ Ảnh hướng đến chiến lược nhờ vả Căng là quan hệ
“sợ” “trên/ thủ càng đời hỏi sự quan tâm hơn đến chiến lược nhờ vả vợ với quan hệ “thán/ “dưới”
Cùng với mỗi quan hệ này thì mức độ nặng nhẹ của hành vi nhờ vả cũng được cho là ảnh hưởng
nhiéu đến việc chọn lựa chiến lược nhờ vả Lựa chọn chiến lược sẽ thay đối tùy vào độ khó dé cua
việc thực hiện hành vi được nhờ và, dộ tiêu hao tiền bạc, sức lực, thời g
Mức
tia người bị nhờ vả
ang nang thì càng đói hỏi sự quan lam, cha ý đến chiến lược nhờ
5.PHƯƠNG PHAP DIEU TRÀ VÀ CÁC CONG THUCY NGHIA XUẤT HIỆN Ở “PHẦN Hổ ĐẤU”
3.1.Phương pháp điều tra
Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành 2 loại diều tra Diều tra thứ nhất là diều tra nhận
thức, nhằm hồ trợ xây dựng được tình hướng có sự đồng nhất vẻ đánh giá mức độ nặng nhẹ của hành vi nhờ vá sao cho khách quan nhất và không ảnh hường đến tính chân thực của việc tiến
hành điều tra thứ 2, Ở điều lra thứ nhất tác giả tạo lập 5 lình huống nhờ vả với các mức độ nặng
nhẹ khác nhau và đưa ra thang điểm từ 1 đến 5 đế người được nhờ điều tra (người Việt, người
Nhật) đánh giá các lình huồng đó theo ä mức độ Sau đó tác giả thông kê lầy điểm trung bình cho mỗi tình huồng, Tác giả nhận định rằng lũnh huống nào điểm trung bình căng cao thủ đồng nghĩa với mức độ gánh nặng của tình huống đó càng lớn và ngược lại Sau đó tác giả sé chyn ra 2 lĩnh
huống có múc độ gánh nặng cao nhất và thắp nhất để đưa vàn điều tra thứ 2
Ở điều tra thứ 3, để có được một lượng hội thoại giao tiếp đồng loại nhất định tác giá đã lựa
chọn phương pháp thu thập hội thoại nhờ vào thiết lập các ảnh huống giao tiếp có hình thức gắn
gũi nhất với hội thoại ;jao tiếp tự nhiên, Tác giả đặt ra 2 tình hưỗng giao tiếp là “mượn sáchỨ và
“nhờ đổi ca làm thêm” có mức độ gánh nặng thắp nhất và cao nhất được đánh giá bởi người nói 2 ngén ngũ có được qua điều tra thứ nhất, rồi yêu cầu mỗi cắp người tham gia điều tra hình dưng ra
các mỗi quan hệ “thân +trên”, “thân +rngang”, “thân + dưới”, “sơ+trên”, “sơ+ngang”, “sơ+ đưới”
và tiến hành lần lượt các hội tHhoại bằng tiếng Nhật chủ người Nhật, bằng tiếng Việt chủ người
Lắc giả thu âm bằng mây ghi âm, rỗi chữ hóa dữ liệu ghi âm này để phân tích Đối tượng điều tra cụ thể như sau:
Người Nhật: 20 học sinh trường đại học Kanazawa (10 cặp) Các học sinh này thuộc nhiều lúa tuổi va có xuất thần tít các vùng khác nhau của Nhật Bản Tổng số hội thoại thu được giữa người
“Nhật với người Nhật là 60 hội thoại
Người Việt: 20 lưu học sinh đang học tại trường đại học Kanazawa và hẳu như không nói được tiếng Nhật Các lưu học sinh thuộc nhiều độ tuổi và có xuất thân từ các vừng khác nhau của Việt Nam Tổng số hội thoại thu được giữa người Việt với người Việt là 60 hội thoại (Tác giả chọn đối tượng lưu học sinh người Việt hậu hết không nói được têng Nhật để tránh sự ảnh hưởng của
ngôn ngữ thứ 2 đến đối hượng điều tra.)
Trang 5hai bên đối tượng điều tra 1uy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này tác giả chưa đề cập đến các yếu lồ đớ
5.2 Phân loại các công thức ÿ nghĩa {imi koushiki) xuat hiện trong “phẩn mở đầu”
Tác giả tiến hành phân loại các công thức ý nghĩa cầu tạo nên “phần mở đầu” xuất hiện trong đứ liệu thu được dựa trên lý thuyết phân loại chức năng phát thoại của nhà nghiên cứu Szatrowski Polly (1993), và dựa trên phân loại chiến lược nhờ vá của nhà nghiên cứu Shimizu 'Yukichi (2009), có bổ sưng và sửa đổi Các công thức ÿ nghĩa này được thẳng kê như bảng dưới day (Các công thức gạch chân do tác giả dưa ra, không có trong nghiên cứu tham khảo)
phương có rảnh hay có tiện lúc đá
không trước khi bắt đẫn cân chuyện
nhờ và
Công thức ý nghĩa Nội dụng của công thức Ví dụ cụ thể đà các ví dụ trích din trong dit
igu thu được)
Lời mở đầu kiểu — Nhữngtừngữ cẻ định đùng để mở |“snmimasen”, “gomen",
xin lỗi đầu câu chuyện, không hàm ý xin _ |“mơushiwakenaindesngra”, “xin lẫ, "tôi xin
Tôi thực sự lễf, “tôi rất xin lỗi”
Gợi đối phương — Từngữdùng đếggiđốiphương — |“Bsan” (B ni), "Bsemyaf(Tiền bổiB oi},
'Zanou”, “Anh B si?
Xác nhận điều kiện Cúc diễn dat để xác nhận xem đối - |“ima dajjoubudesuka”,“choWo iidesuka”
(bày giờ nói chuyện có ti
không a7]
Tân nhập nhờ và báo trước chủ đối phương là nữnh Các diễn đạt nhằm thông báo, dự
sắp nhờ vá điều gà đó trước Khi vào nội dụng chính
“Bsan, chotto orite chanashiga arundesukedo”,
“chotto iinikuidesukedo”
onegaigaarundesuga” “em có
Lời nói đùa
Các diễn đạt nhằm làm không khí thoải mát
Xinlỗi Các diễn đạt nhằm xin lỗi đối moushiwakenaidesuga’ (Téi vô cùng xin
phương trước khi nhờ vá lão, “sumimasenga” (xin lỗi, “xin lỗi”
Chấp hỏi Các điễn đạt nhằm chào hỏi khi gặp |“konnichiha” sản châu), “dhayơ” (chào buổi
nhau: |sắng) “otsukaredesu" (anh vất và rồi) “xin chào”
Cung cấp thông tin Các điễn đạt nhằm nêu lên tên, noi |“boku, tabun onail jugyowe totteru A tolun-
bản thân, trực thuộc của bản thâu desuledo” (Minh học cũng cầu giờ A)
Xác nhận quan hệ _ Các diễn đạt nhằm xácnhận mỗi — |“em có nhớanhlàai không?”
quan hệ với đối phương, hoặc là
cho đối phương nhớ ra mình
Hi thim tinh hình _ Các diễn đạt nhằm hởi thám tình hình |*“đạo này học hành thế nào rồi?”, “dạo này
gan đây của đối sản đây của đói phương như sức khỏe, | khỏe không em?”
phương công việc, gia đính, học tip,
[Để tiết kiệm tiên ảnh không mưa
Cung cép théng tin
Biểu thị sự chú ý
Các điễn dạt nhằm truyền đạt thông
tin sự thực, bao gằm củ tâu trả lời
cho câu hỏi liên quan đến sự thực
khách quan
Các đin đạt thể hiện sự chú ý đến
sự tồn tại đổi phương, hoàn cảnh,
biểu thị sự đồng cảm,
Day là quyển sách giáo khoa tên là tiếng,
[rang vui vé"
“công nhận giờ đố hay", “không có gi"
“đừng bận tâm”
Trang 6
Yêu cầu thông tin |Các điễn đạt yêu cầu thông tin từ |“Cậu có học giờ học tiếng Trung không?”
đối phương Xác nhận sự đồng ý | Các điển đạt nhằm mong có sự “được không cậu?”, “ii?”
đồng thuận của đối phương
6 PHAN TICH CAC CONG THUCY NGHIA CUA “PHAN MO DAU” TREN QUAN DIEM VESU LICH SU
Trong khuôn khổ bài viết này tác giả tiến hành phân tích đoạn thoại mào đầu tính từ khí
bắt đầu phát thoại cho đến trước khi vào nội dung chính của đoạn thoại (phần mở đầu của chiến
lược) để so sánh chiến lược nhờ vả giữa hai ngôn ngữ Qua điều tra bằng hình thức thu âm trực
tiếp tác giả thu được 120 đoạn thoại thực hiện hành vi nhờ vả gồm 60 đoạn thoại giữa người Nhật với người Nhật, 60 đoạn thoại giữa người Việt với người Việt Sau khi chữ hóa toàn bộ đữ liệu âm thanh, tác giả tiễn hành khảo sát phân tích các chiến lược nhờ vả được sử dụng trong 120 đoạn
thoại này trên góc nhìn rộng về tổng thể chiến lược (có tồn tại “phần mở đâu” trong chiến lược nhờ vả không?), và góc nhìn hẹp về các công thức ý nghĩa xuất hiện trong “phần mở đâu” chiến
lược nhờ vả của hai ngôn ngữ
6.1 Sự tốn tại của “phấn mở đầu” trong chiến lược nhờ vả giữa người Nhật và người Việt
'Theo kết quả thống kê, các chiến lược của người Nhật và người Việt đều có khuynh hướng
sử dụng nhiều “phần mở đâu” Các đoạn thoại chứa “phần mở đẳu” ở cả hai bên Nhật, Việt đều chiếm tỷ lệ cao trên tổng số các đoạn thoại Quan sát biểu đỏ 1 có thể thấy trong tất cả các đoạn
thoại của người Việt đều có “phần mở đầu”, các đoạn thoại của người Nhật không có “phẩn mở
đầu” cũng chỉ chiếm 8,3
Tỷ lệ xuất hiện "Phân mở dau"
120
mo
# Không 20%
ox +
Biểu đồ 1 Tỷ lệ xuất hiện “phần mở đầu”
Từ kết quả này có thể nói cả người Nhật và người Việt đều có điểm chung khi nhờ vả là
không trực tiếp vào ngay nội dung nhờ và chính thức, mà sẽ thực hiện một số công thức ý nghĩa
nào đó trước Có thể kết luận cả người Nhật và người Việt đều có xu hướng yêu thích chiến lược
gián tiếp Đặc biệt ở người Việt Nam, có thể quan sát thầy rõ trong bất kể đoạn thoại với nội dung
nhờ vả nào và với bắt kỳ đối phương nào chiến lược nhờ vả gián tiếp cũng được sử dụng Chiến lược nhờ vả gián tiếp này chiêu theo thuyết lịch sự của Brown & Levinson tương ứng với chiến
lược lịch sự phủ định Kết quả điều tra đã làm sáng tỏ nhìn từ cấp độ đoạn thoại nhờ vả thì cả
Trang 7bởi người khác của đối phương nên đều sử dụng chiến lược lịch sự phủ định để giảm thiểu mức
độ FTA
Mặc dù chiến lược nhờ vả của cả hai bên giống nhau, tuy nhiên mức độ gián tiếp có sự khác nhau Chiến lược nhờ vả của người Việt mang tính gián tiếp hơn của người Nhật Để làm sáng tỏ hơn nữa điều này, tác giả tiếp tục phân tích “phần mở đầu”
6.2.Tắn xuất sử dụng các công thức ý nghĩa trong “phần mở đầu”
Như trên đã chứng minh, cả người Nhật và người Việt trong chiến lược nhờ vả đều ưa thích
“phan mở đầu” trước khi đề xuất nhờ chính thức, Tuy nhiên, xem xét trên phương điện các công, thức ý nghĩa được sử dụng với mức độ như thế nào ở phẩn mở đầu này, nghiên cứu chỉ ra được
nhiều điểm khác nhau giữa hai ngôn ngữ
Trong 120 đoạn thoại chứa chiến lược nhờ vả thì về phía người Nhật thống kê được 183 lần
sử dụng các công thức ý nghĩa ở phần mở đầu, trong khi đó con số này vẻ phía người Việt là 387 công thức ý nghĩa Số lượng công thức ý nghĩa mà người Việt sử dụng trong phẩn mở đầu chiếm
tỷ lệ gấp đôi so với của người Nhật Tính trung bình mỗi một chiến lược nhờ vả người Việt sử dụng 3,23 công thức, người Nhật sử dụng 1,53 công thức Số lượng công thức ý nghĩa xuất hiện ở
phan mở đầu của chiến lược nhờ vả giữa hai ngôn ngữ được thể hiện ở biểu đỗ 2
Số lượng công thức ý nghĩa trong "phân mở đâu"
Nhật 20%
10% |
công thức ÿ nghĩa = công thức ÿ nghĩa công thức ý nghĩa 23 công thức ý nghĩa =0
bằng 2
Biểu đồ 2 Số lượng công thức ý nghĩa trong “phần mở đầu”
Quan sát biểu đồ có thé thấy các chiến lược nhờ vả có “phần mở đầu” sử dụng từ 3 công thức
# nghĩa trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất Tiếp đến là chiến lược có phẩn mở đầu sử dụng 1 công thức ý nghĩa cao thứ nhỉ Không có chiến lược nào mà “phần mở đầu” không sử dụng bắt kỳ công thức
ý nghĩa nào Ngược lại, quan sát kết quả của người Nhật thì các chiến lược có sử dụng 1 công thức
Trang 8ý nghĩa chiếm tỷ lệ áp đảo, cao thứ hai là chiến lược sử dụng 2 công thức ý nghĩa Sử dụng kiểm tra T (T-test) để đánh giá so sánh tỷ lệ các công thức ý nghĩa trong phẩn mở đầu của người Việt
và người Nhật thu được kết quả hoàn toàn có thể kết luận được: trong chiến lược của người Việt
thì tỷ lệ phần mở đầu sử dụng từ 3 công thức ý nghĩa trở lên cao hơn các loại khác, tương tự như
vậy trong chiến lược của người Nhật thì tỷ lệ các chiến lược sử dụng 1 công thức ý nghĩa cao hơn
các loại khác (P<0.01) Đặc biệt, khi so sánh điểm khác nhau trong việc sử dụng giữa người Nhật
và người Việt, có thể thấy nổi bật nhất là sự khác nhau ở tỷ lệ các chiến lược có sử dụng từ 3 công thức ý nghĩa trở lên Tỷ lệ này ở người Việt cao gắp 3 lần người Nhật Theo quan sát dữ liệu thực
tế tác giả cũng thấy trong phần mở đầu của người Nhật ngay cả trường hợp chiến lược sử dụng nhiều công thức ý nghĩa nhất cũng chỉ dừng lại ở 4 công thức, trong khi đó trong phần mở đầu của người Việt mà sử dụng từ 3 công thức ý nghĩa trở lên thì chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 5,6 cong thức, còn có cả những trường hợp người nói sử dụng đến 10, 11 công thức ý nghĩa
Từ kết quả khảo sát này có thể kết luận được trước khi đi vào nội dung nhờ vả chính thức, người Việt công phu hơn, và sử dụng nhiều công thức ý nghĩa phong phú hơn người Nhật Tại sao giữa người Nhật và người Việt lại có sự khác nhau lớn như vậy trong tỷ lệ sử dụng các công, thức ý nghĩa ở “phản mở đầu”? Để trả lời câu hỏi này tác giả tiến hành khảo sát cụ thể các công thức ý nghĩa ở phần mở đầu được hai bên sử dụng
Các công thức ý nghĩa và tỷ lệ xuất hiện trong “phẩn mở đầu” chiến lược của hai bên được thể hiện ở biểu đỗ 3
Tỷ lệ các công thức ý nghĩa trong "phẩn mở đầu"
ae 2 os FSS s SS SF OF oe os s
oe ee ee Pe oe ee ve
4
$ Ae vo y ee re *
cỂ
Biểu đồ 3 Tỷ lệ các công thức ý nghĩa trong “phần mở đầu”
Quan sát biểu đồ nhận thấy chủng loại công thức ý nghĩa mà người Việt sử dụng trong phần
mở đầu phong phú hơn của người Nhật Toàn bộ các công thức mà người Nhật sử dụng đều có
xuất hiện trong chiến lược của người Việt Mật khác, có 5 loại công thức ý nghĩa xuất hiện trong,
Trang 9sau “cung cấp thông tin”, “hỏi thâm tình hình gẵn đây của đối phương”, “thể hiện sự chú ý”, “yêu cầu thông tin”, “lời nói đùa”, Đây cũng chính là lý do mà tổng số công thức ý nghĩa người Việt sử dụng nhiều hơn người Nhật 1tong phân mở đầu của người Nhật thì các công thức ý nghia nhằm
Tục đích thể hiện sự để ý đên đôi phương chiếm tỷ lệ nhiều, các công thức ý nghĩa mang, Hnh
truyền đạt thông tin thực chiếm tỷ lệ ít, chỉ có loại “đẫn nhập nhờ vÔ Khác với kết quả này, trong
phần mở đấu của người Việt, ngoài loại "đấn nhập nhờ vả”, nguồi Vi
công thức ý nghĩa mang tỉnh truyền đạt thông tin nhữ “cung cẤp thông tin”, “hỏi thăm tình hình
côn sử dụng rất nhiều
gần đây của đổi phương”, “yêu cầu thông tin”, “xác nhận quan hệ” Từ tỷ lệ sử dụng công thức ý
ung cấp thông tín” cao của người Việt có thể thầy đối với người Việt v
in cha déi phương khá là quan trạng, Nhờ việc cung cắp thông lìn này mà xây đựng được cơ sở
chung giữa bản thân và dối phương, lạo cơ hội cho đối phương tiếp cận gần gũi với mình Đây
cũng được coi là một chiến lược lịch sự khẳng định nhằm quan tâm đến bộ mặt phủ định của đối phương Người Nhật sử đụng nhiều nhất là công thức ý ngiữa “mở đầu kiểu xin lỗi” Đây có thể nói là chiến lược lịch sự phú định để hạn chế xâm phạm đến khuôn mặt phủ định của người
"Nhật, Các bài viết cau tác giả sẽ đi vào phân tích chủ tiết những công thức ý nghĩa chiếm tỷ Í
trong chiến lược nhờ vá của hai bên
7, KẾT LUẬN
Qua khảo sát chơ thấy “phần mở đầu” đồng vai trò quan ượng đối với chiến lược nhờ và của người Nhật và người Vigt Narikawa (1990) da chi ra con người trong hành vì phát thoại yêu cầu người khác làm gì đó đã chú ý nhiều hơn đến phần mé dau Nhà nghiên cứu cũng nói về phần mở đâu của đoạn thoại như sau: cách yêu cầu để không đem đến cảm giác khó chíu cho đối
phương là đầu tiên cân phải bắt đầu câu chuyện bằng cách nói mềm mỏng, không gây ra cảm giác
ép buộc, rồi sau đó mới nêu ta sự việc mã tính ép buộc nặng hơn Nếu ngay từ đầu đã để cập nội
dung mang tính ép buộc thì sau đó đù có nói gì chăng nữa ấn tượng về sự ép buộc vấn khá có thể
xoa địu Như vậy, có thể thầy cả người Nhật và người Việt đều khá công phu, chú trọng đến đối
phương qua phần “phần mỡ đầu”
Mặt khác, giữa hai đổi tượng cũng có thể thầy một vài điểm khác hiệt rỡ rệt, dẫu tiến là số
Tượng công thức ý nghĩa được sử dụng trong “phân mở đầu” của người Việt nhiêu hơn của người XNhật Người Nhật có xu hướng sử dụng chiến lược lịch sự phủ định, trong khi nặn
hướng sử dụng chiến lược lịch sự khẳng định Xét trên cấp độ chiến lược nhờ và tổng thể có thể
& Việt có xu:
nói chiến lược của người Việt mang tính gián tiếp hơn, cho đến khi phát thoại nhờ và chính thức được đưa ra người Việt vử dụng nhiêu công thức ý nghĩa phong phú hơn người Nhật
Từ sự khác biệt này có thể đưa ra một vài điểm lưu ý đối với người sử dụng ngôn ngũ hai
bên trong các tình huỗng giao tiếp nhờ vá để xây dựng mỗi quan hệ tốt đẹp tránh ma sát văn
hóa Người Việt khi nhờ và đối phương là người Nhật nên sử dụng công thức ý nghĩa “lời mới
đâu kiểu xin lỗi”, "dẫn nhập vào nhờ vả”, "hỏi điều kiện đôi phương”, và nền chú trong dén tinh
cô đọng, xúc tích, chí đua ra những thông tin thực sự cần thiết, nên lưu ý đến mặt phủ định của
đối phương, Trái lại, người Nhật khi giao tiếp với người Việt ở các tình huỗng nhở vả, nên chit
Trang 10tâm đến các công thức ý nghĩa nhằm rút ngắn khoảng cách, gần gãi với đối phương như “gọi đối phương”, "hỏi thăm tình hình gần đây của đối phương”, cũng như việc xây dựng cơ sở chung với
đối phương như “cung cấp thông tin”
Liên quan đến chiến lược nhờ và giữa người Nhật và người Việt vẫn còn nhiều điều cân khảo sát kỹ lưỡng hơn Tác giá sẽ đề cập đến phản chính của chiến lược và phần kết thúc của chiến lược
trong các bài viel sau
TẢI LIỆU THÂM KHẢO
Tiếng Nhật
1.72 7⁄73: kiiáU í- G008) TEASE Rr Ae
RAE [hao aaa] 18
2, HERE PS (2001) IWWOH2T E‡ AE E42
2l KửiEi#fXBT
REEMA) [IEDR I? be
4 90⁄2)
5 AAA C000) HMRI BT bh AHR AO eb
TỊ
6 NHA, (2008 [Ế7- ba AAPL EL
7 SAAC (2003) Te ASME ATARI EY) Á6 N02 R§RÁ* k7
BEF 7 ki X@HNlf2+2 ¡1 TE#Zi44/f@WUSĐWWXEI 11
8 HIR#ft (1990) IØsš#Ä/2TWERI.BR? 2783180862227] THZS#T:
—+V>*70#3— (1993) THAR REAOHE HT WHÊO 7 s72
10 Truong, Thi Mai (2007) BEA RMT ON bP AA CRAM STE MLR [ABE
11 Nguyen Thi Lan Anh (2007) '-Š$E2¬i5O0KÐWSEICRUT6BPA HEi8724INU2AA
Tiếng Anh
1 Brown & Levinson (1987), Politeness: Some Universals in Language Usage Cambrige: Cambrigde University
Press