Tiêu chí đánh giá tính lành mạnh hay không lành mạnh của Công ước về hành vi cạnh tranh là “hoạt động thực tiễn trung thực, thiện chí.” Đây là một tiêu chí khó định lượng và có thể thay
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
BÀI TẬP NHÓM GIỮA KÌ - NHÓM 3 MÔN: LUẬT CẠNH TRANH CHỦ ĐỀ: HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ PHÁP
LUẬT CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN THÙY DUNG
NHÓM SINH VIÊN:
1 Nguyễn Yến Chi (Trưởng nhóm) - K67CLCA -22062037
2 Nguyễn Thị Khánh Linh - K67CLCA - 22062087
3 Nguyễn Hiền Mai - K67CLCA - 22062099
4 Lê Ngọc Minh Châu - K67CLCA - 22062029
5 Lê Minh Anh - K67CLCA - 22062007
6 Đặng Thị Mỹ Hạnh - K67CLCA - 22062055
7 Vũ Duy Hưng - K67CLCA - 22062069
8 Đỗ Hoài Thu - K67CLCA - 22062133
9 Nguyễn Thị Thu Anh - K67 B - 22061026
10 Chu Hà Phương - K67CLCB - 22062122
11 Nguyễn Thanh Trà - K67CLCA - 22062145
Trang 22.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH 13
1.1 Quy định về nhận diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh 131.2 Quy định về trách nhiệm của các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh
1.3 Quy định về trình tự, thủ tục xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh 20
2 Thực trạng thi hành Luật Cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam 25
1 Đề xuất giải pháp về hoàn thiện khung pháp lý 32
2 Đề xuất giải pháp đảm bảo thực thi pháp luật 34
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện đại, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng đa dạng và phong phú, kéo theo sự gia tăng về số lượng và chất lượng các nguồn cung trên thị trường Theo quy luật cung - cầu, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển và đổi mới trong mọi lĩnh vực sản xuất và dịch vụ Cạnh tranh lành mạnh là yếu tố cần thiết giúp cải thiện chất lượng sản phẩm, tối ưu hóa giá thành, thúc đẩy đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả, từ đó đem lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng và thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững
Tuy nhiên, không phải mọi hình thức cạnh tranh đều phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và pháp lý Nhiều doanh nghiệp vì mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng thị phần hoặc vươn ra thị trường quốc tế nhanh chóng, đã sử dụng những phương thức cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm đạo đức kinh doanh và pháp luật Những hành vi này không chỉ gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định của nền kinh tế Tại Việt Nam, Bộ luật Cạnh tranh năm 2018 đã đưa ra các cơ chế điều chỉnh và xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên, thực tế áp dụng các quy định này vẫn gặp phải nhiều khó khăn và thách thức, như thiếu sót trong công tác giám sát và ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp lý, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng nhằm xây dựng một thị trường minh bạch, công bằng và phát triển bền vững
Việc nghiên cứu hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật điều chỉnh không chỉ mang tính lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những cơ sở khoa học quan trọng, làm rõ nguyên nhân, hậu quả và thực trạng của các hành vi này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động cạnh tranh Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập quốc tế, việc xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng là yếu tố quyết định để thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan Chính vì vậy, nghiên cứu này không chỉ mang tính cấp thiết mà còn là yêu cầu thiết yếu để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và nền kinh
tế hiện đại
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật điều chỉnh” nhằm làm rõ các khía cạnh pháp lý, phân tích các hành vi sai trái trong cạnh tranh và các thách thức trong việc áp dụng pháp luật hiện hành Mục tiêu của nghiên cứu là trả lời các câu hỏi quan trọng: (1) Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định như thế nào trong pháp luật Việt Nam hiện hành? (2) Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thực tiễn kinh doanh hiện nay và việc áp dụng pháp luật còn gặp những vướng mắc gì? (3) Tác động của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với nền kinh tế và các bên liên quan như thế nào? (4) Những giải pháp nào có thể giúp hạn chế và đẩy lùi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong môi trường kinh doanh hiện nay? Thông qua nghiên cứu, bài viết này sẽ đóng góp vào việc nâng cao nhận thức về vấn đề, đồng thời cung cấp các giải pháp thiết thực cho các nhà quản lý
và doanh nghiệp trong việc ứng phó với những thực trạng hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp phân tích lý thuyết: Phương pháp này giúp làm rõ các khái
niệm cơ bản và đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Thông qua việc phân tích các quy định pháp lý hiện hành, phương pháp này sẽ giúp hiểu sâu về bản chất của hành vi sai trái trong cạnh tranh và vai trò của đạo đức kinh doanh trong thị trường
b Phương pháp so sánh: So sánh thực tiễn pháp luật cạnh tranh giữa Việt Nam
và các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia có nền pháp lý phát triển, sẽ giúp rút ra bài học kinh nghiệm Phương pháp này giúp nhận diện sự khác biệt trong việc áp dụng pháp luật và đưa ra các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống pháp lý trong nước
c Phương pháp tổng hợp và đánh giá: Tổng hợp các dữ liệu thực tiễn và đánh
giá tác động của hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ giúp làm rõ thực trạng
và xác định các thiếu sót trong việc thực thi pháp luật Phương pháp này cũng
sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, người tiêu dùng
4 Cấu trúc bài
● CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp
luật điều chỉnh
● CHƯƠNG II: Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn
thực thi pháp luật điều chỉnh
● CHƯƠNG III: Giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
1 Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1 Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là động lực thúc đẩy đổi mới, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Tuy nhiên, không phải mọi hình thức cạnh tranh đều được pháp luật và xã hội chấp nhận Khi các chủ thể sử dụng những thủ đoạn không trung thực, đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức kinh doanh nhằm chiếm đoạt lợi thế thị trường, hành vi đó bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
Các quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh không cạnh tranh là một nội dung quan trọng trong pháp luật cạnh tranh Dưới góc độ pháp lý, cạnh tranh không lành mạnh được pháp luật quốc tế và pháp luật của quốc gia định nghĩa khác nhau Theo
Điều 10 Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 “bất cứ hành
vi cạnh tranh nào trái với hoạt động thực tiễn trung thực, thiện chí trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”1 Tiêu chí đánh giá tính lành mạnh hay không lành mạnh của Công ước về hành vi cạnh tranh
là “hoạt động thực tiễn trung thực, thiện chí.” Đây là một tiêu chí khó định lượng và
có thể thay đổi, có những khác biệt giữa các quốc gia, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế
- xã hội, quan niệm, tập quán… Ở một số quốc gia phát triển như Mông Cổ quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất cả các hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được định nghĩa có tính bao
quát và gắn liền với nguyên tắc thiện chí, trung thực như sau: “hành vi cạnh tranh
không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác.”2 Đó
là dạng hành vi có tác động trực tiếp và gây hậu quả xấu đối với hoạt động kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp và quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng
1.2 Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Từ góc độ pháp lý khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã cung cấp nền tảng khái quát để tiếp cận, tuy nhiên việc phân tích các đặc điểm nội tại của loại hành vi này là hết sức cần thiết Các đặc điểm không chỉ giúp làm rõ giới hạn giữa hành vi hợp pháp và hành vi vi phạm mà còn là cơ sở để đánh giá mức độ nguy hại cũng như cách thức xử lý phù hợp Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng phức
2 Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018
1 Điều 10bis - được bổ sung vào Công ước từ năm 1990 và được sửa đổi lần cuối theo văn bản
Stockholm năm 1967
Trang 6tạp, nhiều hành vi vi phạm được che giấu dưới vỏ bọc “sáng tạo thị trường”, thì việc nhận diện đúng bản chất hành vi thông qua các đặc điểm đặc trưng là điều kiện tiên quyết để bảo đảm hiệu lực của pháp luật cạnh tranh
Thứ nhất, hành vi được thực hiện do sự vi phạm pháp luật hay đi ngược lại với đạo đức, tập quán kinh doanh tốt đẹp Đặc điểm này là căn cứ xác định bản chất
không lành mạnh của hành vi, dựa vào đó để làm cơ sở phân biệt giữa cạnh tranh lành mạnh với cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Đạo đức kinh doanh là một phạm trù dùng để chỉ những yêu cầu, đòi hỏi còn cao hơn cả những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ pháp lý Những hành như trốn thuế, lừa đảo, làm hàng giả, gây thiệt hại cho doanh nghiệp khác bằng cách làm ăn gian dối… không thuộc đối tượng điều chỉnh của đạo đức học kinh doanh, vì đó là những hành vi bất chính thuộc phạm vi kiểm soát và xử lý của pháp luật Đạo đức kinh doanh là những quy tắc xử sự, những tập quán kinh doanh đã được thừa nhận rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, rất khó để định lượng, đòi hỏi pháp luật phải thường xuyên bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với sự vận động của đời sống xã hội
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng Hành vi cạnh tranh muốn được Nhà nước bảo hộ thì
phải tuân theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của Luật Cạnh tranh Một khi hành vi cạnh tranh được thực hiện nhưng không theo nguyên tắc nói trên, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng, thì hành vi cạnh tranh đó được coi là không lành mạnh Thiệt hại mà hành vi gây ra có thể là đã có thực và xác định được nhưng cũng có thể thiệt hại có nguy cơ xảy ra (tiềm năng) nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời
Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Trong khi đó thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động của nhóm doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, hạn chế khả năng hành động độc lập của đối thủ cạnh tranh, làm thay đổi tình trạng và quy luật cạnh tranh trên thị trường
Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm quyền lợi tư nên bị
xử lý bằng phương pháp dân sự và chế tài dân sự Ở đây dễ dàng áp dụng nguyên
tắc “không có đơn kiện thì không có toà án” Trong hệ thống pháp lý hiện tại, nguyên tắc “không có đơn kiện thì không có toà án” (theo nguyên lý tố tụng dân sự) là một trong những yếu tố quyết định việc giải quyết tranh chấp Điều này có nghĩa là để tòa
án có thể can thiệp và đưa ra phán quyết trong một vụ kiện, các bên liên quan phải thực hiện hành động khởi kiện Đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khi một
Trang 7doanh nghiệp bị xâm phạm quyền lợi và có thể chứng minh được thiệt hại, họ cần chủ động khởi kiện để yêu cầu sự can thiệp của tòa án Việc không có đơn kiện sẽ khiến cho các cơ quan chức năng, dù có nhận thấy sự vi phạm, cũng không thể tự động xử lý
mà không có yêu cầu từ các bên bị thiệt hại
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng đặt ra một thách thức đối với các doanh nghiệp
bị thiệt hại trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, đặc biệt là trong những trường hợp hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra âm thầm, khó phát hiện và khó chứng minh Thực tế, nhiều doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt là trong các ngành nghề ít kiểm soát,
có thể không đủ năng lực hoặc không có đủ thông tin để khởi kiện Điều này dẫn đến việc các hành vi cạnh tranh không lành mạnh dễ dàng diễn ra mà không bị xử lý kịp thời, ảnh hưởng xấu đến thị trường và làm tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng
và doanh nghiệp ngay từ ban đầu
1.3 Phân loại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Phân loại chính xác các hành vi không chỉ giúp nhận diện rõ ràng từng loại vi phạm, mà còn là căn cứ quan trọng để các cơ quan chức năng có thể áp dụng biện pháp xử lý phù hợp và hiệu quả Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, mặc dù đa dạng và có thể biểu hiện theo nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều có chung mục tiêu là gây thiệt hại cho các bên khác và làm mất đi sự công bằng trong môi trường kinh doanh
a Các hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác
Đây là nhóm hành vi không cạnh tranh điển hình, thường được thực hiện dưới các cách thức như: Gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, giá trị doanh nghiệp khác đạt được, xâm phạm bí mật kinh doanh để sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác,… Phương pháp
để xác định được hành vi gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa là đặt ra sự so sánh giữa các dấu hiệu để nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp đang sử dụng bị coi là đã
có hành vi sử dụng những thông tin gây nhầm lẫn cho khách hàng.Một trong những cách tiếp cận để xác định hành vi gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa là phép so sánh các dấu hiệu nhận biết, từ bao bì, màu sắc, tên thương hiệu đến cách thức trình bày sản phẩm Nếu người tiêu dùng trung bình có thể hiểu nhầm về nguồn gốc hàng hóa do sự tương đồng này, thì hành vi đã thỏa mãn dấu hiệu “gây nhầm lẫn” và có thể
bị xem là cạnh tranh không lành mạnh
Nhóm hành vi này tiệm cận rất gần với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên điểm khác biệt nằm ở đối tượng bị xâm phạm Trong khi xâm phạm quyền
sở hữu trí tuệ là hành vi xâm phạm đến tài sản trí tuệ đã được đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ, thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể xâm phạm đến các giá trị hoặc
Trang 8lợi thế chưa được xác lập quyền, nhưng được hình thành một cách hợp pháp trong quá trình kinh doanh Đối tượng bị xâm phạm có thể bao gồm bí mật kinh doanh, chỉ dẫn thương mại, uy tín thị trường, hoặc các thành quả đầu tư vào thương hiệu và mạng lưới phân phối
Ví dụ thực tiễn rõ ràng nhất là tình trạng nhái nhãn hiệu bánh kẹo vào dịp Tết Nguyên đán Một số doanh nghiệp sản xuất hàng nhái với bao bì tương tự sản phẩm chính hãng như: Choco-pie (hàng thật) – Chocopai (hàng nhái), Tipo – Tippo, KitKat – KitKet , với thiết kế gần như giống hệt về màu sắc, font chữ, cách trình bày sản phẩm Tuy nhiên, chất lượng bên trong lại không đảm bảo Các sản phẩm này thường được phân phối về vùng nông thôn, miền núi hoặc khu vực ít tiếp cận thông tin nhằm đánh lừa người tiêu dùng Đây là minh chứng rõ nét của hành vi lợi dụng thành quả đầu tư của doanh nghiệp khác để thu lợi bất chính, đồng thời xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi người tiêu dùng và môi trường cạnh tranh công bằng
b Các hành vi mang tính chất công kích, cản trở hoạt động của doanh nghiệp khác
Bản chất của nhóm hành vi này là tấn công trực tiếp vào lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đối thủ, không nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại mà chủ yếu để làm suy yếu, cản trở hoặc triệt tiêu vị thế thị trường của đối phương Theo quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, các hành vi được coi là các hành vi mang tính chất công kích hay cản trở doanh nghiệp khác gồm: hành vi ép buộc trong kinh doanh, hành vi gièm pha doanh nghiệp khác, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
So với nhóm hành vi gây nhầm lẫn hoặc mô phỏng dấu hiệu nhận diện, nhóm
hành vi công kích này thường tinh vi hơn, ít mang tính bề nổi, nhưng hậu quả để lại sâu sắc và trực diện hơn Trong một số trường hợp, việc áp dụng chỉ riêng quy định của pháp luật cạnh tranh là không đủ, mà cần kết hợp các quy định của pháp luật dân sự, thậm chí hình sự để đảm bảo xử lý đầy đủ và triệt để
c Các hành vi lôi kéo khách hàng bất chính của doanh nghiệp khác
Bản chất của nhóm hành vi này là việc tạo ra lợi thế cạnh tranh một cách gian dối nhằm thu hút khách hàng, đặc biệt là người tiêu dùng, thông qua các phương thức sai lệch về thông tin, cảm nhận hoặc giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ Mục tiêu của hành vi là ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyết định tiêu dùng, khiến khách hàng tin tưởng sai lệch vào thông tin do doanh nghiệp cung cấp Trong môi trường thị trường hiện nay, các hành vi lôi kéo không trung thực này thường thể hiện dưới hình thức: Quảng cáo gian dối (thông tin sai lệch về công dụng, xuất xứ, thành phần…); Khuyến mại “mồi nhử” (quảng cáo hàng giá rẻ nhưng chỉ có số lượng rất ít);
Trang 9Chào hàng ép buộc hoặc quấy rối khách hàng; So sánh thiếu căn cứ hoặc bôi nhọ đối thủ để kéo khách về mình
1.4 Tác động của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những hệ quả tiêu cực sâu rộng, không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp mà còn tác động đến người tiêu dùng và nền kinh
tế nói chung Những hành vi này tạo ra môi trường cạnh tranh bất bình đẳng, làm giảm niềm tin của người tiêu dùng và ngăn cản sự phát triển bền vững của thị trường
Thứ nhất, tác động đến doanh nghiệp: Khi các doanh nghiệp sử dụng chiến
lược cạnh tranh không minh bạch như bán phá giá, thao túng giá cả, hoặc phát tán thông tin sai lệch, thị trường trở nên bất ổn Các doanh nghiệp chân chính bị ép vào tình thế khó khăn, buộc phải điều chỉnh chiến lược hoặc cắt giảm chất lượng sản phẩm
để duy trì sự tồn tại Điều này không chỉ làm giảm chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường mà còn làm giảm động lực đổi mới và sáng tạo trong cộng đồng doanh nghiệp Hành vi quảng cáo sai sự thật, cung cấp hàng hóa kém chất lượng hay lợi dụng ưu thế cạnh tranh một cách không công bằng gây tác động lâu dài đến lòng tin của người tiêu dùng Khi người tiêu dùng không còn tin tưởng vào chất lượng
và uy tín của các sản phẩm, họ trở nên dè dặt trong các quyết định mua sắm, dẫn đến
sự chững lại trong lưu thông hàng hóa
Thứ hai, tác động đến cá nhân và xã hội: Những tác động tiêu cực của cạnh
tranh không lành mạnh còn thể hiện rõ rệt ở khía cạnh xã hội Sự chiếm ưu thế của các doanh nghiệp vi phạm các quy định cạnh tranh có thể dẫn đến tình trạng phá sản, sa thải lao động, làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động Khi các doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí và giảm chất lượng sản phẩm để duy trì sự tồn tại, người tiêu dùng sẽ là những người phải gánh chịu thiệt hại trực tiếp từ việc giảm đi giá trị thực của sản phẩm
Ngoài ra, các tranh chấp pháp lý phát sinh từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng tạo ra môi trường kinh doanh không ổn định, gây khó khăn cho việc duy trì một thị trường minh bạch, công bằng Tình trạng này làm giảm sự hấp dẫn của thị trường đối với các nhà đầu tư, cả trong và ngoài nước, vì họ lo ngại sẽ phải đối mặt với các rủi ro không lường trước được trong một môi trường kinh doanh thiếu tính minh bạch và công bằng Kết quả là sự phát triển kinh tế chậm lại, và những cơ hội đầu tư tiềm năng có thể bị bỏ lỡ
2 Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh
2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
2.1.1 Khái niệm
Trang 10Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; trình tự, thủ tục xử lý vụ việc cũng như các biện pháp chế tài được
áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm nhằm bảo vệ doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh có liên quan, quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh
2.2.2 Đặc điểm
Dưới góc nhìn pháp lý, hệ thống pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh được thiết kế dựa trên cách tiếp cận tập trung vào hành vi bị cấm, với mục tiêu điều chỉnh những hành vi có khả năng gây tổn hại đến môi trường cạnh tranh lành mạnh, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, người tiêu dùng Cách tiếp cận này thể hiện qua một số đặc điểm tiêu biểu sau:
Thứ nhất, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh tiếp cận từ mặt trái của hành vi, tức là chỉ quy định các hành vi bị cấm Theo Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018,
những hành vi bị coi là không lành mạnh bao gồm gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, bôi nhọ doanh nghiệp khác, lôi kéo khách hàng bất chính,… Đây đều là những hành vi làm suy giảm tính trung thực và công bằng của thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của chủ thể kinh doanh khác
Thứ hai, hệ thống quy định pháp luật hiện hành mang tính không triệt để, do
không thể liệt kê đầy đủ mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thực tiễn Bởi
lẽ, hoạt động thương mại và kỹ thuật kinh doanh luôn biến đổi nhanh chóng, việc quy định quá chi tiết sẽ dẫn đến sự cứng nhắc và lạc hậu Do đó, pháp luật chỉ ghi nhận các hành vi đặc trưng cơ bản nhất và để ngỏ khả năng mở rộng thông qua các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư
Thứ ba, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh được tiếp cận dưới góc
độ đa ngành, bởi hành vi vi phạm thường xâm phạm đến nhiều lĩnh vực khác nhau
Luật Dân sự điều chỉnh trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ bí mật kinh doanh và nhãn hiệu khỏi hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn Luật Quảng cáo và Luật Thương mại điều chỉnh các hành vi khuyến mại trái phép, quảng cáo gian dối hoặc gây hiểu lầm cho người tiêu dùng
Thứ tư, hành vi cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu xâm phạm quyền lợi tư nên thường được xử lý bằng phương pháp dân sự và chế tài dân sự Theo nguyên
tắc "không có đơn kiện thì không có tòa án", cơ quan có thẩm quyền chỉ thụ lý khi có yêu cầu từ bên bị ảnh hưởng Nhà nước không chủ động can thiệp, trừ khi hành vi vi phạm có dấu hiệu nghiêm trọng đến mức vi phạm hành chính hoặc hình sự
Trang 11Từ những đặc điểm trên có thể thấy, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh hướng đến bảo vệ trật tự thị trường và quyền lợi tư của các chủ thể kinh doanh, thông qua cơ chế điều chỉnh linh hoạt, kết hợp nhiều ngành luật, và đặt trọng tâm vào ý chí chủ động khởi kiện của bên bị thiệt hại
2.2 Vai trò của pháp luật điều chỉnh
Vai trò của pháp luật cạnh tranh được thể hiện qua các mục tiêu của Luật Cạnh tranh Cụ thể, theo Tờ trình số 377/TTr-CP ngày 6/9/2017 của Chính phủ Về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), Luật Cạnh tranh phục vụ cho mục tiêu quan trọng nhất là:
“Tạo lập, duy trì và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, phân bổ hiệu quả các nguồn lực,nâng cao hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” 3
Thứ nhất, pháp luật có chức năng xác định giới hạn cho sự tự do cạnh tranh,
phân biệt ranh giới giữa cạnh tranh hợp pháp và cạnh tranh không lành mạnh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực phát triển, nhưng nếu không có sự điều tiết pháp lý, nó dễ bị biến tướng thành các hành vi gian dối, lạm dụng hoặc gây thiệt hại cho đối thủ và người tiêu dùng
Thứ hai, pháp luật đóng vai trò bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh,
thông qua việc quy định các hành vi bị cấm (như quy định tại Điều 45 Luật Cạnh
tranh 2018), chế tài xử lý vi phạm, và cơ chế giải quyết tranh chấp Nhờ đó, tạo ra sân
chơi công bằng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chống lại các hành vi thao túng hoặc bóp méo thị trường
Thứ ba, pháp luật còn là công cụ ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô Một môi
trường cạnh tranh được điều chỉnh minh bạch, nhất quán và hiệu quả sẽ nâng cao niềm tin của nhà đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế Đồng thời, nó tạo động lực để doanh nghiệp cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị thực, thay vì bằng mánh khóe
Thứ tư, trong bối cảnh kinh tế số và toàn cầu hóa, vai trò của pháp luật điều
chỉnh còn thể hiện ở việc định hướng hành vi và phòng ngừa rủi ro, thông qua cơ chế cảnh báo sớm, giám sát thị trường và cập nhật pháp luật phù hợp với sự thay đổi liên tục của thực tiễn kinh doanh
3 Tờ trình số 377/TTr-CP của Bộ Công thương về dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi) (trình tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV)
Trang 12TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi của doanh nghiệp vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác Những hành vi này thường xuất phát từ mục tiêu cạnh tranh, có đối tượng xâm hại cụ thể và có thể gây thiệt hại thực tế hoặc tiềm năng Dựa trên tính chất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được chia thành ba nhóm chính: lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác, công kích hoặc cản trở hoạt động của đối thủ và lôi kéo khách hàng bất chính
Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh là hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các hành vi vi phạm, xác định trình tự, thủ tục xử lý và các biện pháp chế tài áp dụng Đặc điểm nổi bật của pháp luật này là chỉ quy định các hành vi bị cấm, không thể bao quát hết mọi tình huống thực tế mà chỉ ghi nhận những hành vi đặc trưng, tiếp cận từ nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như dân sự, sở hữu trí tuệ, quảng cáo, thương mại Ngoài ra, do hành vi cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu xâm phạm quyền lợi tư, nên việc xử lý thường dựa trên nguyên tắc “không có đơn kiện thì không có tòa án”
Vai trò của pháp luật trong điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh thể hiện ở việc tạo lập, duy trì và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bằng cách cấm các hành vi gây tổn hại đến đối thủ và thị trường, pháp luật góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định và công bằng của nền kinh tế
Trang 13CHƯƠNG II: QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH
1 Quy định trong Luật Cạnh Tranh 2018
1.1 Quy định về nhận diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh 4
a Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh
Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh là dạng hành vi biểu hiện dưới dạng doanh nghiệp tìm cách tiếp cận, sao chép, tiết lộ thông tin bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác để lợi dụng mang lại lợi ích cho mình Theo Khoản 1 điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 quy định cấm:
“Tiếp cận, thu thập thông tin bí mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu thông tin đó.”
Tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được phép của chủ
sở hữu thông tin đó.”
Bí mật trong kinh doanh có thể được hiểu là những thông tin do chủ sở hữu nắm giữ và đã áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo mật, nhằm tránh việc bị tiết lộ hoặc tiếp cận trái phép Người thực hiện hành vi xâm phạm có thể thông qua việc tiếp cận, thu thập, tiết lộ hoặc sử dụng các thông tin nhạy cảm như dữ liệu thị trường, danh sách khách hàng, bản thiết kế, công thức sản phẩm, mà không được sự cho phép của chủ sở hữu
Ví dụ về vụ án Waymo (thuộc Google) kiện Uber 2017, Waymo là công ty con
của Alphabet (công ty mẹ của Google), chuyên phát triển công nghệ xe tự lái Một trong những kỹ sư chủ chốt của Waymo, Anthony Levandowski, đã rời công ty để thành lập công ty riêng mang tên Otto, sau đó bán Otto cho Uber Trước khi rời Waymo, Levandowski bị cáo buộc đã sao chép khoảng 14.000 tập tin mật, bao gồm thiết kế và thông tin kỹ thuật về cảm biến Lidar – công nghệ lõi trong xe tự lái Sau khi Uber mua lại Otto, công nghệ này được cho là đã được sử dụng để phát triển hệ thống xe tự lái của Uber Waymo đã khởi kiện Uber vì xâm phạm bí mật kinh doanh Tuy nhiên, Uber phủ nhận hành vi vi phạm, và vụ việc kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài tòa án vào năm 2018 Uber đồng ý: Bồi thường 245 triệu USD cho Waymo dưới dạng cổ phần và không sử dụng công nghệ bị cáo buộc sao chép 5
5 Alexandria Sage, Dan Levine and Heather Somerville (2018), Waymo accepts $245 million and Uber's 'regret'
to settle self-driving car dispute,
https://www.reuters.com/article/world/waymo-accepts-245-million-and-ubers-regret-to-settle-self-drivin g-car-disput-idUSKBN1FT2BD/
4 Điều 45 Luật cạnh tranh 2018
Trang 14b Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh
Theo quy định tại khoản 2 điều 45 Luật cạnh tranh 2018 quy định cấm các
hành vi “ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành
vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó.”
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm trong trường hợp này là doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có khách hàng hoặc đối tác bị đe dọa Đối
tượng bị tác động là khách hàng và đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác Mục đích trực tiếp của hành vi vi phạm là nhằm ép buộc những khách hàng hoặc đối tác này không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp mà họ đang hợp tác, trong khi mục đích cuối cùng là gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh thông qua việc làm mất khách hàng, hợp đồng hoặc doanh thu Trong môi trường kinh doanh, việc hình thành quan hệ và tuyên bố ý chí của khách hàng cần được bảo đảm là hoàn toàn
tự do
c Cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác
Để đảm bảo cho các hoạt động cạnh tranh diễn ra một cách trung thực và hiệu quả, pháp luật cạnh tranh không lành mạnh cấm các hành vi quy định tại Khoản 3 điều
45: “Cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp
hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.”
Hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác là một dạng của hành vi “gièm pha doanh nghiệp”, được xem là cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh Chủ thể thực hiện hành vi này thường là doanh nghiệp đang cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp bị đưa thông tin sai lệch Đối tượng bị tác động
có thể là chính doanh nghiệp cạnh tranh, hàng hóa, dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp đó Mục đích của hành vi là làm tổn hại uy tín hoặc gây thiệt hại về mặt tài chính, hoạt động kinh doanh cho đối thủ Phương tiện được sử dụng là thông tin không trung thực, được lan truyền thông qua hai phương thức: trực tiếp hoặc gián tiếp
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sử dụng các thủ thuật dưới hình thức tinh vi và không lành mạnh để cung cấp thông tin không chính xác về đối thủ nhằm gây tổn hại đến lợi ích Đối tượng mà đối thủ cạnh tranh hướng đến như: chất lượng sản phẩm, cách thức bán hàng, tiềm lực kinh tế - tài chính, lực lượng lao động hoặc ban lãnh đạo, Theo đó, việc doanh nghiệp sử dụng báo chí như là công cụ để thực hiện hành
vi cung cấp thông tin không trung thực của đối thủ cạnh tranh là một ví dụ điển hình
về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, đối với trường hợp doanh nghiệp gửi thông tin dưới hình thức khiếu nại hoặc tố cáo tại cơ quan Nhà nước có thẩm
Trang 15quyền, dù nội dung có sai lệch thì hành vi của doanh nghiệp không bị coi là cạnh tranh không lành mạnh
Ví dụ điển hình việc về hành vi gièm pha Ngân hàng Cổ phần thương mại Á Châu (viết tắt là ACB) trong năm 2003, đầu tháng 10/2003, có tin đồn Ông Phạm Văn Thiệt - Giám đốc ACB bỏ trốn, sau đó “nâng cấp” thành Giám đốc ACB đã bắt Nhiều khách hàng của ACB đã đến các điểm giao dịch của ngân hàng này để rút tiền gửi Chỉ trong một thời gian ngắn, hơn 900 tỷ đồng (ở thời điểm cách đây 22 năm) đã
bị rút ra Ngân hàng ACB đứng trước khả năng không còn đủ tiền mặt để chi trả cho khách hàng, và nếu không có sự can thiệp kịp thời và mạnh mẽ của Ngân hàng Nhà nước, nguy cơ về sự sụp đổ của ACB, một sự kiện có thể châm ngòi cho một phản ứng domino sẽ tác động cực kỳ nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam, là không phải không được tính đến Để chế ngự được tin đồn thất thiệt, ACB phối hợp cùng với Ngân hàng Nhà nước giải quyết mọi yêu cầu rút tiền của khách hàng và trần an dư luận Theo Báo cáo của Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, ngày 14/10/2003, hành vi tung tin đồn nhảm nói trên đã xâm hại nghiêm trọng đến uy tín của ACB, gây tâm lý hoang mang cho rất nhiều khách hàng và làm ảnh hưởng đến
cả hệ thống ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 6
d Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Theo quy định tại khoản 4 Điều 45 Luật cạnh tranh 2018: “Gây rối hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đó.”
Hành vi gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp và bình thường của doanh nghiệp khác là một hình thức cạnh tranh không lành mạnh, với chủ thể thực hiện thường là doanh nghiệp đang cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp bị gây rối Đối tượng bị tác động là các hoạt động kinh doanh hợp pháp, ổn định và bình thường của doanh nghiệp Hành vi này có thể được thực hiện một cách trực tiếp bởi chính đối thủ cạnh tranh hoặc gián tiếp thông qua bên thứ ba nhằm che giấu chủ thể thực sự Mục đích sâu xa của hành vi là nhằm tấn công, triệt tiêu hoặc làm suy yếu lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đối thủ Các phương thức gây rối có thể bao gồm những hành
vi nghiêm trọng như đập phá trụ sở kinh doanh, gây nhiễu loạn hệ thống điện tử xử lý đơn hàng, hoặc làm gián đoạn nguồn điện phục vụ kinh doanh, tất cả đều nhằm cản trở hoạt động bình thường và làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị hại
e Lôi kéo khách hàng bất chính
6 Nguyễn Thanh Sơn (2013), Những hệ luỵ thảm hại của khủng hoảng truyền thông,
https://www.nguoiduatin.vn/nhung-he-luy-tham-hai-cua-khung-hoang-truyen-thong-20498273.htm
Trang 16Lôi kéo khách hàng bất chính là hành vi của doanh nghiệp đã tác động đến khách hàng thông qua việc đưa những thông tin trái chiều về doanh nghiệp khác để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình Tại khoản 5 điều 45 Luật cạnh tranh 2018 quy định hai hình thức:
“Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch
vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác.”
Pháp luật quy định rằng hành vi đưa thông tin trong trường hợp này chỉ áp dụng khi doanh nghiệp cung cấp thông tin về chính mình, cụ thể là liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, chương trình khuyến mãi hoặc các điều kiện giao dịch của sản phẩm, dịch vụ đó Người thực hiện hành vi có thể là doanh nghiệp trực tiếp hoặc thông qua bên trung gian như truyền hình, báo chí, đơn vị truyền thông, sàn thương mại điện tử Ngoài ra, việc đưa thông tin gây nhầm lẫn cũng có thể được thực hiện thông qua bao
bì sản phẩm, ví dụ như thiết kế bao bì trông giống hoặc tương tự với sản phẩm của doanh nghiệp khác, khiến khách hàng dễ nhầm lẫn giữa hai sản phẩm
“So sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung.”
Dạng hành vi này được thể hiện qua việc doanh nghiệp công bố thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình bằng cách so sánh với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác, nhưng lại không đưa ra được bằng chứng hợp pháp để chứng minh tính xác thực của những thông tin đã công bố Việc sử dụng phương pháp so sánh dưới bất kỳ hình thức hay mức độ nào để truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch
vụ đều được pháp luật cho phép, miễn là nội dung công bố đảm bảo tính xác thực Tuy nhiên, nếu không có cơ sở chứng minh rõ ràng, hành vi so sánh này sẽ bị xem là không hợp pháp Cần lưu ý rằng, phạm vi của hành vi này chỉ giới hạn trong việc cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ và việc so sánh chỉ hợp lệ khi các hàng hóa, dịch vụ đó cùng loại, tức là có cùng chức năng và mục đích sử dụng
Ví dụ điển hình là vào 17/07/2003, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã công bố quyết định số 20/HĐTP-DS ngày 26/03/2003 về vụ án ba công ty Vạn Thành, Ưu Việt và Anh Dũng kiện công ty cổ phần cao su Sài Gòn - Kymdan, yêu cầu công ty cao su Sài Gòn - Kymdan chấm dứt hành vi quảng cáo và xin lỗi công khai
Vụ việc xoay quanh việc công ty Kymdan không sản xuất hai loại nệm lò xo và nệm mút xốp nhưng khi quảng cáo trên báo đã so sánh chất lượng nệm do công ty này sản xuất với chất lượng hai loại nệm mút xốp và nệm lò xo của các doanh nghiệp khác (trong đó có các công ty đã khởi kiện nói trên)7
7 Quyết định số 20/2003/HĐTP-DS về vụ án yêu cầu chấm dứt hành vi quảng cáo trái pháp luật và buộc xin lỗi công khai,
Trang 17f Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ
Khoản 6 Điều 45 Luật cạnh tranh 2018 quy định: “Đối với nhóm hành vi này, pháp luật cạnh tranh cẩm tuyệt đổi và không có miễn trừ như đối với hành vi hạn chế cạnh tranh Hành vi bán dưới giá thành toàn bộ ảnh hưởng tới nhiều doanh nghiệp sản xuất, tác động tới môi trường kinh doanh Khi giá của một sản phẩm giảm xuống sẽ làm cho giá của sản phẩm cạnh tranh khác trở thành cao tương đối trước nhu cầu của khách hàng Doanh nghiệp kinh doanh có sản phẩm có mức giá thấp có được lợi thế cạnh tranh về giá hoặc chấp nhận mất dần khách hàng với mức giá không ổn
có thể khác nhau Do đó, pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể sẽ có những quy định phù hợp để điều chỉnh các hành vi này
1.2 Quy định về trách nhiệm của các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh
a Trách nhiệm hành chính 8
Đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh; tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu mức xử phạt hành chính được quy định trong Mục 4 Nghị định 75/2019/NĐ-CP Chế tài phạt hành chính có thể là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền là chủ yếu Cụ thể:
● Hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh: Phạt tiền từ 200 - 300 triệu đồng
● Hành vi ép buộc trong kinh doanh: Phạt tiền từ 200 - 300 triệu đồng (nếu ép buộc khách hàng hoặc đối tác kinh doanh lớn nhất của đối thủ cạnh tranh)
● Hành vi cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác: Phạt tiền
Trang 18● Hành vi lôi kéo khách hàng bất chính: Phạt tiền từ 100 - 200 triệu đồng
● Hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ: Phạt tiền từ
● Tịch thu tang vật vi phạm, phương tiện được sử dụng để vi phạm;
● Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;
● Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương
Tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
● Buộc cải chính công khai;
● Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;
● Buộc cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền;
● Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao dịch kinh doanh;
● Buộc chia, tách, bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế;
● Buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp nhận sáp nhập, doanh nghiệp mua lại, doanh nghiệp mới hình thành sau tập trung kinh tế;
● Buộc cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu;
● Buộc khôi phục các điều kiện phát triển kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp
đã cản trở;
● Buộc loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt cho khách hàng;