Những vấn đề liên quan đến thực phẩm không đảm bảo, chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý, cách chế biến đơn điệu… đã được phản ánh trên các phương tiện truyền thông, làm giảm niềm tin của xã hộ
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI
TRƯỜNG MẦM NON NGHĨA HƯƠNG
Tên tác giả : Nguyễn Thị Huyền Chức vụ : Nhân viên nuôi dưỡng Đơn vị công tác : Trường Mầm non Nghĩa Hương
Năm 2025
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tên đề tài, sáng kiến
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non”
2 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là mầm non của đất nước, là thế hệ tương lai quyết định sự phát triển và phồn thịnh của xã hội Trong đó, giáo dục mầm non giữ vai trò nền tảng, giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ Những năm gần đây, Vụ Giáo dục Mầm non đã triển khai chương trình giáo dục mới với mục tiêu khơi dậy tiềm năng, trang bị kỹ năng sống và đặt nền tảng vững chắc cho trẻ bước vào các cấp học tiếp theo Để đạt được mục tiêu này, bên cạnh việc xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp, công tác chăm sóc, nuôi dưỡng – đặc biệt là chất lượng bữa ăn – cần được quan tâm đúng mức, bởi dinh dưỡng là yếu
tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ
Trẻ em trong độ tuổi mầm non (0-5 tuổi) có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt, đòi hỏi chế độ ăn không chỉ đảm bảo đầy đủ dưỡng chất mà còn phải phù hợp với khẩu vị, giúp trẻ ăn ngon miệng và hấp thu tốt Quá trình nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non ngày càng đặt ra yêu cầu cao về tính khoa học, sự chuyên nghiệp trong chế biến, lựa chọn thực phẩm an toàn và đa dạng thực đơn Một bữa ăn chất lượng không chỉ góp phần nâng cao thể trạng mà còn giúp trẻ hình
thành thói quen ăn uống lành mạnh ngay từ nhỏ
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, chất lượng bữa ăn của trẻ mầm non tại một số trường học vẫn tồn tại nhiều bất cập, trở thành mối lo ngại lớn của phụ huynh Những vấn đề liên quan đến thực phẩm không đảm bảo, chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý, cách chế biến đơn điệu… đã được phản ánh trên các phương tiện truyền thông, làm giảm niềm tin của xã hội đối với công tác nuôi dưỡng trong trường mầm non Bên cạnh đó, trên thực tế, không ít trẻ mầm non vẫn gặp phải tình trạng biếng ăn, kén chọn thực phẩm, chưa hứng thú với bữa ăn, dẫn đến việc hấp thu dinh dưỡng kém Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng trong trường mầm non: Làm sao để mỗi bữa ăn không chỉ đủ chất
mà còn thực sự hấp dẫn, giúp trẻ ăn ngon miệng và hào hứng hơn với việc ăn uống? Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn là vô cùng cần thiết Không chỉ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, hấp thu tốt hơn mà còn góp phần tạo môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ một cách toàn diện Đồng thời, việc nâng cao chất lượng bữa ăn cũng giúp nâng cao uy tín của nhà trường, tạo sự tin tưởng từ phía phụ huynh
Từ những thực trạng trên, tôi nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác
Trang 3chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non, đặc biệt là nâng cao chất lượng bữa ăn trong nhà trường Tôi luôn trăn trở làm sao để trẻ được ăn ngon, hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, đồng thời tạo dựng niềm tin của phụ huynh khi gửi con đến trường
Xuất phát từ thực tế đó, tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” nhằm nghiên cứu, đề xuất
những giải pháp thiết thực, góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non Nghĩa Hương
3 Phạm vi và đối tượng áp dụng của sáng kiến
3.1 Phạm vi áp dụng:
Sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” được áp dụng trong phạm vi trường mầm non Nghĩa Hương
Sáng kiến tập trung vào việc cải thiện chất lượng bữa ăn thông qua các biện pháp
cụ thể như xây dựng thực đơn hợp lý, đa dạng hóa phương pháp chế biến, trang trí món ăn hấp dẫn và tăng cường phối hợp với phụ huynh trong giáo dục dinh
dưỡng cho trẻ
3.2 Đối tượng áp dụng:
Nhân viên nuôi dưỡng tại trường, những người trực tiếp chế biến và phục
vụ bữa ăn cho trẻ Việc nâng cao nhận thức, kỹ năng chế biến món ăn và kiến
thức dinh dưỡng cho đội ngũ này sẽ góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ
Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu: Sáng kiến tập trung vào công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, cụ thể là nâng cao chất lượng bữa ăn trong trường mầm non, bao gồm: Xây dựng thực đơn đa dạng, đảm bảo cân đối dinh dưỡng theo từng độ tuổi; Cải tiến phương pháp chế biến nhằm tăng hương vị, giá trị dinh dưỡng và
sự hấp dẫn của món ăn; Cải thiện cách trang trí, trình bày món ăn để kích thích trẻ ăn ngon miệng hơn; Tăng cường vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm
Việc thực hiện sáng kiến còn là cơ hội để tôi nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non Trong quá trình nghiên cứu và áp dụng các biện pháp, tôi đã có điều kiện tìm hiểu sâu hơn về
Trang 4dinh dưỡng học đường, nắm vững nguyên tắc xây dựng thực đơn cân đối, cách
chế biến món ăn khoa học để giữ nguyên giá trị dinh dưỡng, đồng thời học hỏi
các phương pháp trang trí món ăn sáng tạo nhằm kích thích sự hứng thú của trẻ
Bên cạnh đó, việc thực hiện sáng kiến cũng tạo cơ hội để tôi chia sẻ kinh
nghiệm với đồng nghiệp, cùng nhau trao đổi về những khó khăn và giải pháp
trong công tác nuôi dưỡng
Thời gian nghiên cứu: Sáng kiến được thực hiện từ tháng 9 năm 2024
đến tháng 4 năm 2025 tại trường mầm non Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chất lượng bữa ăn trong trường mầm non đóng vai trò hết sức quan trọng
trong sự phát triển toàn diện của trẻ Theo Luật Giáo dục 2019, giáo dục mầm
non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, nơi trẻ em không chỉ
được học hỏi mà còn cần được chăm sóc, nuôi dưỡng một cách khoa học và hợp
lý Chương trình Giáo dục Mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn
mạnh rằng trẻ mầm non cần được chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ để phát triển thể
chất, trí tuệ và cảm xúc, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho các giai đoạn học tập
sau này
Có thể thấy trong những năm qua, đường lối, chủ trương, chính sách giáo
dục, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ mầm non được Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục
và Đào tạo đặc biệt quan tâm Đối với trẻ mầm non, cơ thể còn non yếu, sự thích
nghi với thức ăn chưa cao vì vậy thực đơn không đa dạng, phù hợp khẩu vị sẽ
dẫn đến trẻ dễ biếng ăn, thiếu chất, suy dinh dưỡng
Ngày 29/08/2024 Bộ giáo dục ban hành Công văn số
4868/BGDĐT-GDMN về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2024-2025 đối với giáo
dục mầm non, trong đó có nêu: “Thực hiện nghiêm công tác tổ chức nuôi dưỡng
theo quy định về số bữa ăn, nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị, phân bố bữa ăn
phù hợp; Phối hợp với ngành y tế bảo đảm an toàn thực phẩm trong các cơ sở
GDMN theo quy định; Tuyệt đối không thực hiện hợp đồng dịch vụ cung cấp suất
ăn cho trẻ em tại các cơ sở GDMN Tăng cường các điều kiện bảo đảm tổ chức
bữa ăn cho trẻ em tại cơ sở GDMN; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và
sự tham gia giám sát của Ban đại diện cha mẹ trẻ em trong việc bảo đảm chất
lượng bữa ăn và an toàn thực phẩm, kịp thời chấn chỉnh xử lý nghiêm những sai
phạm trong công tác tổ chức bữa ăn cho trẻ em tại các cơ sở GDMN”
Trong bối cảnh hiện nay, các trường mầm non trên địa bàn đang đối mặt
với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là trong việc thu hút học sinh và
duy trì chất lượng giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng Các trường mầm non không
Trang 5chỉ cạnh tranh về số lượng học sinh mà còn về chất lượng dịch vụ, uy tín và sự tin tưởng của phụ huynh Trường mầm non Nghĩa Hương, như nhiều cơ sở khác,
cũng phải đối mặt với những thách thức này Tại trường mầm non Nghĩa
Hương, nhà trường luôn chú trọng việc không ngừng nâng cao chất lượng bữa
ăn của trẻ Công tác kiểm soát chất lượng thực phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao tay nghề cho đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng luôn được chú trọng hàng đầu Với vai trò là một nhân viên nuôi dưỡng, tôi nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của bản thân trong việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, góp
phần phát triển thương hiệu nhà trường
Những thực trạng trên chỉ ra rằng việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ
là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách Việc cải thiện chế độ dinh dưỡng, tăng cường sự đổi mới trong thực đơn, và áp dụng các phương pháp chế biến khoa học sẽ giúp bữa ăn của trẻ không chỉ ngon miệng mà còn đảm bảo đầy đủ dưỡng chất Đồng thời, việc tăng cường sự phối hợp với phụ huynh để thống nhất chế
độ ăn uống tại trường và ở nhà cũng rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Đây chính là lý do tôi lựa chọn nghiên cứu và thực hiện sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” với hy
vọng sẽ giải quyết được những vấn đề đang tồn tại và góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn cho trẻ, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường
- Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, cơ sở vật chất khang trang có đầy
đủ điều kiện phục vụ cho công tác bán trú Bếp ăn rộng rãi, thoáng mát đáp ứng yêu cầu vệ sinh trong việc tổ chức bếp ăn cho trẻ Bếp ăn được xây dựng theo nguyên tắc bếp một chiều Có vườn cây và vườn rau của bé
- Nhà trường nghiêm túc việc ký kết hợp đồng cung ứng thực phẩm đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ Mầm xanh có đầy đủ giấy tờ pháp lý theo quy định
- Nhà trường thực hiện tốt khâu giao nhận thực phẩm có đầy đủ các thành phần Trong nhiều năm học, không có trường hợp xảy ra ngộ độc thực phẩm và dịch bệnh
- Đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng trong trường đều đạt trình độ trên chuẩn, luôn yêu nghề, nhiệt tình, có trách nhiệm với công việc, tinh thần đoàn kết hợp
Trang 6tác giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm vụ được giao Thường xuyên được đi dự các chuyên đề của huyện để học hỏi và nâng cao kĩ thuật chế biến món ăn cho trẻ Bản thân luôn nhiệt tình, tâm huyết luôn học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn
- Hàng năm đã tổ chức khám sức khỏe định kì cho 100% nhân viên nuôi dưỡng, sức khỏe đảm bảo khi thực hiện công tác chế biến món ăn cho trẻ
- Phụ huynh tin tưởng cho trẻ tham gia ăn bán trú ngày càng đông
- Trường mầm non Nghĩa Hương có 03 điểm trường, vì vậy việc đầu tư đồng bộ đồ dùng, thiết bị cho nhà bếp còn hạn chế
- Chế độ ưu đãi độc hại với nhân viên nuôi dưỡng ở trường mầm non không có, mức lương còn thấp, nên đời sống chị em còn gặp nhiều khó khăn nên chưa thật yên tâm công tác
2.3 Kết quả khảo sát đầu năm
Ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát các nội dung đánh giá chất
lượng bữa ăn trên 201 trẻ khu Văn Quang tại 8 nhóm/lớp Kết quả cụ thể như sau:
Nội dung khảo sát
Mức độ đánh giá Tốt Tỷ lệ Khá Tỷ lệ Trung
bình Tỷ lệ
Chưa đạt Tỷ lệ
3 Trẻ thường xuyên yêu
cầu ăn thêm hoặc có phản
4 Trẻ phản ứng tích cực với
các món ăn mới hay các
bữa ăn đặc biệt trong tuần
Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm
Trang 7Dựa vào bảng khảo sát đầu năm cho thấy, tỷ lệ trẻ không hoặc ít hứng thú khi thưởng thức các món ăn chiếm 38%, tỷ lệ này rơi vào độ tuổi trẻ nhà trẻ và 3-4 tuổi là chủ yếu Bên cạnh đó, tỷ lệ trẻ ăn hết khẩu phần ăn mỗi ngày và trẻ thường xuyên yêu cầu ăn thêm hoặc có phản ứng tích cực với các món ăn của trường đạt ở mức độ trung bình còn khá cao Cần tăng lên hơn 90% trong những tháng tiếp theo Bên cạnh đó, những giải pháp giúp tỷ lệ trẻ phản ứng tích cực với các món ăn mới cũng phải được thực hiện có hiệu quả để trẻ đạt trên 80% vào cuối năm
Từ thực trạng trên, để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường
mầm non Nghia Hương tôi thực hiện các giải pháp như sau:
Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhà trường đã ký hợp đồng với các
cơ sơ cung cấp thực phẩm sạch, uy tín, chất lượng đã được kiểm định, có hợp đồng và các điều khoản chặt chẽ từ khâu vận chuyển thực phẩm đến khâu giao nhận thực phẩm tại bếp ăn của nhà trường Vì vậy khi giao nhận thực phẩm tôi đã kết hợp với các đồng chí đại diện Ban giám hiệu, kế toán, y tế, giáo viên, phụ huynh học sinh nghiêm túc lựa chọn thực phẩm đảm bảo về chất lượng cũng như
số lượng đúng với thực đơn đã xây dựng Tuyệt đối không nhận thực phẩm không
rõ nguồn gốc xuất xứ, quá hạn sử dụng, chế biến sẵn, thực phẩm đông lạnh Vậy yêu cầu đặt ra là đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng phải nắm chắc chuyên môn, nghiệp vụ trong viện nhận diện những dấu hiệu nhận biết thực phẩm kém chất
lượng (Hình ảnh 1: Giao nhận thực phẩm)
Ví dụ: Đối với các loại rau củ quả khi tôi kiểm tra và nhận thực phẩm phải đảm bảo: tươi, không bị dập nát, không có mùi lạ, chọn các loại rau ăn chính vụ rau sạch an toàn Như rau ngót ta thường ăn vào mùa hè ta chọn rau ngót bó rau
có nhiều lá non và mướt, không chọn rau có màu xanh đậm và có hoa li ti Hay rau cải xanh ta thường ăn vào mùa thu, rau ngon là loại rau cải non, lá xanh mỏng Còn các loại củ như khoai tây ta chọn khoai vỏ mỏng không có màu xanh
Trang 8phía trên, củ không bị nứt và không có các đốm đen Cà chua còn nguyên núm, chín mọng có màu đỏ, không bị dập hay ủng
Đối với các loại thịt: Thịt phải có màu hồng, thịt săn chắc, đàn hồi tốt có độ dính Với thịt bò thì phải có màu đỏ tươi, mỡ thịt bò có màu vàng gân thịt bò có màu trắng
Đối với hải sản phải đảm bảo: cá tươi sống, mắt trong suốt, miệng ngậm cứng mang đỏ tươi, thịt săn chắc có đàn hồi, chất nhờn trên mình phải trong nhớt và không có mùi lạ Tôm: tươi phần thân hơi cong thịt căng chắc, đầu và chân tôm phải gắn chặt vào thân, vỏ tôm tươi phải bóng trơn, sống giữa thân tôm phải sáng trong Cua: chọn những con cua khỏe, tươi còn đủ chân, càng có màu xám mai cua có màu sáng bóng
Bếp ăn đảm bảo tiêu chuẩn bếp một chiều Từ khu vực sơ chế thực phẩm sống đến khu vực nấu thức ăn, chia thức ăn chín và lưu mẫu thức ăn hàng ngày đều được thực hiện đúng quy trình chế biến, đảm bảo vệ sinh và chất lượng khi
sơ chế thực phẩm sao cho giữ được hương vị giá trị dinh dưỡng vốn có của thực phẩm mà còn khử các chất có hại trong đó giúp các cô chế biến được những món ăn ngon hấp dẫn và an toàn sức khỏe của trẻ
Ví dụ: Với rau củ quả tươi cần phải rửa trước khi gọt vỏ để loại bỏ chất bẩn
và côn trùng Sau khi gọt vỏ xong cần rửa lại một lần nữa để đảm bảo nguyên liệu sạch an toàn Thịt gia súc, gia cầm cần được rửa kỹ để loại bỏ chất bẩn dính trong quá trình giết mổ vận chuyển và khử mùi tanh bằng gừng, rượu trắng Các loại cá: cần được rửa kỹ bên trong và bên ngoài để loại bỏ chất bẩn, nội tạng,
tiết, vây, vẩy cá (Hình ảnh 2: Sơ chế thực phẩm)
Thực phẩm sau khi được nấu chín được chia đều về các lớp theo tỷ lệ và khẩu phần ăn của từng trẻ Ngoài ra mỗi một món ăn được lưu mẫu lại ghi ngày tháng rõ ràng Khu vực bếp thường xuyên được vệ sinh sạch sẽ đảm bảo vệ sinh
- Mã hóa dụng cụ chế biến thực phẩm: Dao thớt, rổ, chậu được phân loại bằng màu sắc riêng biệt: màu đỏ cho thịt sống, màu xanh cho rau, màu trắng cho thực phẩm chín… tránh tình trạng nhiễm chéo
- Tổ chức vệ sinh định kỳ: Sau mỗi buổi chế biến, tổ nuôi dưỡng thực hiện tổng vệ sinh bếp, khử khuẩn sàn, bồn rửa, bàn chế biến bằng nước sát
Trang 9khuẩn chuyên dụng; thực hiện xử lý rác thải hữu cơ đúng quy trình, đậy kín và chuyển ra khỏi bếp ngay sau bữa ăn
- Thực hiện lưu mẫu đúng quy định: Mỗi mẫu thức ăn lưu đều có hộp riêng, có tem ghi rõ thời gian, tên món và người lưu mẫu, lưu trữ trong tủ lạnh chuyên dụng ít nhất 24 tiếng theo đúng quy định
- Đảm bảo vệ sinh cá nhân của nhân viên: Mỗi nhân viên phải rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn trước, trong và sau khi chế biến thức
ăn Luôn mặc đồng phục bếp sạch, đội mũ, đeo khẩu trang, thay găng tay giữa các công đoạn khác nhau
(Hình ảnh 3: Khu vực bếp luôn được đảm bảo vệ sinh ATTP)
Việc tăng cường quản lý chặt chẽ chất lượng thực phẩm đầu vào, chất lượng món ăn và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong bếp ăn bán trú đã mang lại nhiều hiệu quả rõ rệt trong công tác nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Trước hết, chất lượng bữa ăn của trẻ được cải thiện rõ rệt cả về dinh dưỡng
và hình thức Các món ăn được chế biến từ nguyên liệu tươi ngon, đảm bảo an toàn Bên cạnh đó, quy trình kiểm soát thực phẩm và chế biến trong bếp ăn được thực hiện nghiêm túc và đồng bộ Hệ thống lưu mẫu, vệ sinh bếp, mã hóa dụng
cụ, vệ sinh cá nhân của nhân viên được duy trì ổn định, đảm bảo tính khoa học
và chuyên nghiệp Nhờ những biện pháp đồng bộ đó, trong năm học vừa qua, nhà trường không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào liên quan đến ngộ độc thực phẩm hay rối loạn tiêu hóa ở trẻ, sức khỏe của trẻ được đảm bảo tốt, tỷ lệ chuyên cần cao Đồng thời, ý thức, trách nhiệm và kỹ năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng được nâng lên rõ rệt, từ nhận diện thực phẩm đến chế biến và vệ sinh cá nhân Đặc biệt, phụ huynh học sinh hoàn toàn yên tâm và tin tưởng vào chất lượng bữa ăn của trẻ, tích cực đồng hành cùng nhà trường trong các hoạt động kiểm tra và hỗ trợ công tác bán trú
Biện pháp 2: Phối kết hợp xây dựng thực đơn nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ
Chất lượng bữa ăn đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm sự phát triển toàn diện cho trẻ mầm non cả về thể chất lẫn trí tuệ Trẻ em trong giai đoạn này
có nhu cầu dinh dưỡng rất lớn, tuy nhiên hệ tiêu hóa của trẻ còn non yếu, khả năng hấp thụ các dưỡng chất còn hạn chế Vì vậy, việc xây dựng thực đơn hợp
lý, khoa học, phong phú và phù hợp với từng lứa tuổi là một yêu cầu thiết yếu trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng tại trường mầm non
Trước đây, thực đơn chủ yếu xây dựng dựa theo mẫu cũ hoặc sử dụng lại thực đơn các năm học trước mà chưa có sự cập nhật, điều chỉnh theo mùa, theo khẩu vị và nhu cầu thực tế của trẻ Thực đơn thường đơn điệu, ít thay đổi, dẫn
Trang 10đến trẻ nhanh chán ăn, ăn không hết khẩu phần, thậm chí một số trẻ có biểu hiện
sợ ăn, bỏ ăn Việc thiếu sự phối hợp giữa các bộ phận như tổ nuôi – giáo viên –cũng khiến việc nắm bắt phản hồi từ trẻ không kịp thời, làm giảm hiệu quả cải thiện thực đơn
Để có một khẩu phần ăn cân đối cho trẻ, cần phải phối hợp đa dạng, phong phú nhiều loại thực phẩm với nhau ở tỷ lệ thích hợp và đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, năng lượng cần thiết cho trẻ theo lứa tuổi, giúp bé khỏe mạnh, phòng tránh được bệnh tật Tôi đã kết hợp cùng với đồng chí Phó hiệu trưởng phụ trách công tác nuôi dưỡng cùng với các đồng nghiệp trong tổ nuôi dưỡng xây dựng
thực đơn phù hợp với từng lứa tuổi như trẻ nhà trẻ, trẻ mẫu giáo (Hình ảnh 4: Họp tổ chuyên môn nuôi dưỡng xây dựng thực đơn cho trẻ)
Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cũng như khẩu vị đa dạng của trẻ mầm non, tôi đã cùng với tổ nuôi dưỡng xây dựng thực đơn linh hoạt theo mùa: mùa
hè – thu và mùa đông – xuân Việc xây dựng thực đơn theo mùa không chỉ giúp
sử dụng hiệu quả các loại thực phẩm sẵn có, tươi ngon, đúng mùa mà còn làm cho bữa ăn của trẻ trở nên phong phú, hấp dẫn và dễ tiêu hóa hơn Đặc biệt, trong mỗi chu kỳ 2 tuần, thực đơn được sắp xếp sao cho không lặp lại món ăn, tạo cảm giác mới mẻ, kích thích vị giác của trẻ
Bữa trưa bao gồm: Món mặn (Thịt bò, lợn, tôm, cá, ), canh, món xào (rau củ quả)
Bữa chiều bao gồm: Sữa bột, cháo (gà, bò củ quả, ), súp, bún, chè
(Hình ảnh 5: Thực đơn của trẻ mùa hè thu và đông xuân năm học
2024-2025)
Việc phối kết hợp xây dựng thực đơn một cách khoa học, phong phú và phù hợp theo mùa đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực rõ rệt trong công tác nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non Trước hết, nhờ sự đa dạng trong thực đơn, các món ăn được thay đổi thường xuyên theo chu kỳ 2 tuần không trùng lặp, giúp trẻ ăn ngon miệng hơn, giảm tình trạng biếng ăn, bỏ bữa Trẻ tỏ ra hào hứng, mong chờ bữa ăn hàng ngày, thậm chí có nhiều trẻ chủ động xin thêm khẩu phần
Thực đơn được xây dựng theo mùa, sử dụng nguồn nguyên liệu tươi ngon đúng vụ, giúp đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao hơn, đồng thời tiết kiệm được chi phí cho nhà trường Nhờ vậy, chất lượng bữa ăn được nâng lên rõ rệt cả về dinh dưỡng lẫn cảm quan Trẻ ít mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, khả năng hấp thu và phát triển thể chất cũng có dấu hiệu tiến bộ Cụ thể, qua theo dõi cân nặng, chiều cao định kỳ 3 tháng một lần cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm, tỷ lệ trẻ phát triển bình thường tăng lên
Trang 11Biện pháp này đã góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ nuôi dưỡng
về vai trò của thực đơn khoa học đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Mỗi thành viên trong tổ nuôi đã chủ động hơn trong việc tìm hiểu, học hỏi cách phối hợp thực phẩm hợp lý, lên thực đơn sáng tạo, giữ được hàm lượng dinh dưỡng
và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Biện pháp 3: Nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ
Trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ mầm non, kỹ thuật chế biến món ăn đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng bữa ăn cũng như giữ được giá trị dinh dưỡng vốn có của thực phẩm Đối với trẻ nhỏ, món ăn không chỉ cần đủ dưỡng chất mà còn phải dễ tiêu hóa, hợp khẩu vị và hấp dẫn về hình thức Vì vậy, kỹ thuật chế biến món ăn không chỉ dừng lại ở việc “nấu cho chín” mà còn đòi hỏi sự tỉ mỉ, khoa học và sáng tạo trong từng công đoạn
Qua thực tế công tác tại bếp ăn trường Mầm non Nghĩa Hương, tôi nhận thấy rằng kỹ thuật chế biến món ăn vẫn còn nhiều hạn chế, chủ yếu mang tính kinh nghiệm, ít đổi mới, dẫn đến việc món ăn tuy đủ chất nhưng chưa thật sự hấp dẫn đối với trẻ nhỏ Nhiều nhân viên nuôi dưỡng vẫn còn duy trì những thói quen chế biến chưa phù hợp, như nấu rau quá kỹ làm mất màu và vitamin, không biết cách kết hợp nguyên liệu để tăng tính đa dạng, hay sơ chế thực phẩm không đúng quy trình khiến món ăn thiếu vệ sinh và kém hấp dẫn đối với trẻ
Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy cần thiết phải thay đổi, cải tiến kỹ thuật chế biến nhằm nâng cao chất lượng món ăn cho trẻ Đầu tiên, tôi cùng các đồng nghiệp trong tổ nuôi đã chủ động học hỏi, tham gia các lớp tập huấn chuyên đề
về dinh dưỡng và kỹ năng nấu ăn cho trẻ mầm non Bên cạnh đó, tôi cũng thường xuyên tìm hiểu các tài liệu, video hướng dẫn chế biến món ăn an toàn, khoa học dành cho trẻ nhỏ Việc học tập này giúp tôi hiểu rõ hơn về cách giữ lại chất dinh dưỡng trong quá trình nấu nướng, cách trình bày món ăn đẹp mắt, kích
thích sự hứng thú của trẻ với từng bữa ăn (Hình ảnh 6: Tham gia chuyên đề
do PGD tổ chức tại trường mầm non Ngọc Mỹ)
Trong quá trình chế biến, tôi đã áp dụng các kỹ thuật cụ thể nhằm bảo toàn dưỡng chất và nâng cao hương vị món ăn Đối với rau củ, tôi luôn rửa sạch trước khi gọt vỏ, rửa lại một lần nữa rồi mới chế biến để đảm bảo vệ sinh Khi luộc hoặc hấp rau, tôi canh thời gian vừa đủ để giữ rau luôn xanh mướt, giòn và thơm ngon Với các loại thịt cá, tôi tiến hành làm sạch kỹ, khử mùi tanh bằng gừng, rượu trắng hoặc nước chanh, đồng thời kiểm tra kỹ lưỡng chất lượng trước khi nấu Việc nêm nếm trong món ăn cũng được hạn chế sử dụng muối hoặc nước mắm công nghiệp, thay vào đó ưu tiên dùng gia vị tự nhiên như hành, tỏi, rau thơm để đảm bảo sức khỏe cho trẻ
Trang 12Ví dụ: Kỹ thuật chế biến rau củ quả
Rau củ là nguồn cung cấp vitamin, chất xơ và khoáng chất rất quan trọng Tuy nhiên, nếu chế biến sai cách, rau dễ bị mất màu, mất mùi vị và đặc biệt là mất chất dinh dưỡng Tôi đã áp dụng các kỹ thuật sau:
- Rửa rau trước khi gọt, thái để tránh làm mất vitamin tan trong nước Sau khi sơ chế, rau được ngâm trong nước muối loãng khoảng 10 phút rồi để ráo, giúp loại bỏ vi khuẩn và giữ rau tươi lâu hơn
- Khi luộc rau, tôi cho vào một ít muối hoặc dầu ăn để giúp rau giữ màu xanh tươi, luộc với lửa lớn trong thời gian ngắn
Ví dụ: Kỹ thuật chế biến thịt, cá
Thịt và cá là nguồn đạm chính trong khẩu phần ăn của trẻ Tuy nhiên, nếu
sơ chế không đúng cách sẽ có mùi tanh, dai, khiến trẻ khó chịu hoặc không chịu
ăn Do đó, tôi chú trọng đến kỹ thuật sơ chế, tẩm ướp và lựa chọn phương pháp nấu phù hợp
- Thịt lợn được lựa chọn là thịt nạc vai hoặc nạc mông, có ít mỡ, mềm Băm nhỏ hoặc xay nhuyễn, kết hợp với củ quả để nấu canh hoặc làm chả
- Thịt gà sau khi làm sạch, tôi rửa bằng nước gừng và muối để khử mùi, luộc hoặc kho nhạt
- Cá đồng như cá rô phi, cá trắm được làm sạch nội tạng, khử tanh bằng chút gừng rồi chế biến
Ví dụ: Kỹ thuật chế biến món ăn dạng mềm
Các món cháo, súp được nấu nhừ, có độ sánh vừa phải, kết hợp với rau xanh xay nhuyễn hoặc xắt nhỏ
Một trong những yếu tố quan trọng mà tôi luôn chú trọng khi chế biến món ăn cho trẻ là đảm bảo giữ được giá trị dinh dưỡng trong từng món ăn Để làm được điều này, khi chế biến tôi luôn chú ý về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và áp dụng các kỹ thuật chế biến phù hợp nhằm hạn chế hao hụt dưỡng chất, đồng thời đảm bảo hương vị thơm ngon và hấp dẫn của món ăn
Ví dụ 1: Khi chế biến các món mặn, tôi luôn tẩm ướp thực phẩm trước và
xào sơ với hành, tỏi để tăng hương vị thơm ngon
Đối với các loại củ có màu đỏ, vàng giàu vitamin A, tôi thường xào qua dầu trước để giữ màu sắc đẹp mắt và giúp cơ thể hấp thu tối đa lượng vitamin A Ngoài ra, khi nấu món mặn, tôi thường sử dụng màu đỏ tự nhiên từ quả gấc để tạo màu hấp dẫn, đồng thời bổ sung thêm nguồn vitamin A dồi dào cho trẻ
(Hình ảnh 7: Chế biến món mặn)
Ví dụ 2: Khi nấu canh, tôi bắt đầu bằng cách cho dầu vào nồi, sau đó phi
hành và tỏi xay đến khi dậy mùi thơm và có màu vàng Tiếp theo, tôi cho thịt
Trang 13hoặc tôm vào xào đến khi săn lại, rồi thêm nước đã đun sôi với lượng vừa đủ, đã tính trừ phần rau
Sau khi đậy nắp và đun sôi mạnh khoảng 10 phút, tôi thả rau vào và nhẹ nhàng ấn xuống nước mà không khuấy, để tránh làm hòa tan vitamin vào nước Tiếp tục đậy nắp, đợi nước sôi trở lại, sau đó nêm nếm gia vị vừa ăn, thêm hành
lá rồi tắt bếp (Hình ảnh 8: Chế biến món canh)
Ví dụ 3: Khi nấu cơm bằng tủ hấp, tôi sử dụng tỷ lệ nước phù hợp với
từng nhóm tuổi: cứ 1kg gạo thì thêm 1,2kg nước cho trẻ mẫu giáo và 1,4kg nước cho trẻ nhà trẻ
Cơm được nấu cho đến khi nhiệt độ trong tủ hấp đạt 100°C, sau đó tiếp tục duy trì trong 20 phút trước khi tắt bếp Tiếp tục ủ cơm thêm 15 phút để cơm
chín đều rồi mới mở tủ, lấy khay cơm ra và vệ sinh tủ hấp sạch sẽ (Hình ảnh 9: Cơm thành phẩm)
Ví dụ 4: Khi nấu cháo chim câu hạt sen rau thơm ta tiến hành như sau:
+ Nguyên liệu: thịt chim bồ câu, gạo tẻ và gạo nếp để tạo độ sánh mịn cho cháo, hạt sen, cùng các loại rau thơm như hành lá, rau mùi
+ Sơ chế: Chim bồ câu sau khi làm sạch, rửa kỹ với muối để khử mùi tanh Hạt sen ngâm nước cho mềm Gạo vo sạch và ngâm khoảng 30 phút để khi nấu nhanh nhừ hơn Rau thơm, hành tím được rửa sạch, thái nhỏ
+ Chế biến: Gạo và hạt sen được cho vào nồi ninh trước với lượng nước phù hợp, nấu sôi rồi hạ lửa nhỏ cho đến khi cháo nhừ Chim câu sau đó được luộc riêng với gừng và chút muối cho chín mềm, rồi vớt ra để nguội, gỡ lấy phần thịt xé nhỏ Thịt chim tiếp tục được xào săn với hành phi thơm và nêm chút nước mắm cho dậy mùi Khi cháo đã sánh mịn, cho phần thịt chim đã xào vào nồi cháo, khuấy đều và đun thêm vài phút cho ngấm gia vị Trước khi tắt bếp,
cho hành lá, rau mùi thái nhỏ vào để tăng thêm hương vị hấp dẫn (Hình ảnh 10: Món cháo chim câu hạt sen rau thơm)
Nhờ áp dụng biện pháp này, chất lượng bữa ăn tại trường được nâng lên
rõ rệt Tỷ lệ trẻ ăn hết khẩu phần tăng đáng kể, giảm hẳn tình trạng kén ăn, bỏ bữa Giáo viên phản hồi tích cực khi trẻ khỏe mạnh, hoạt bát hơn Phụ huynh cũng yên tâm và tin tưởng vào công tác nuôi dưỡng của nhà trường Đồng thời, bản thân tôi cũng nâng cao được kỹ năng nghề nghiệp, cảm thấy yêu nghề và có
trách nhiệm hơn trong công việc
Biện pháp 4: Tích cực thực hiện các chuyên đề nâng cao trinh độ, chuyên môn nghiệp vụ
Việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em trong những năm gần đây được toàn xã hội quan tâm, trình độ nhận thức của các bậc cha mẹ cũng như nhu cầu chăm sóc
Trang 14nuôi dưỡng trẻ yêu cầu ngày càng cao Việc bồi dưỡng để trau dồi kiến thức chuyên môn, kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ đặc biệt trẻ mầm non là
vô cùng quan trọng Chính vì vậy bản thân tôi luôn ý thức tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm để nâng cao kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ cũng như các cách chế biến món ăn mới hấp dẫn đối với trẻ bằng các hình thức sau:
Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ nuôi dưỡng, tôi cùng các đồng nghiệp trao đổi và thảo luận về chuyên môn, bao gồm cách chế biến món
ăn mới, áp dụng công thức nấu ăn cải tiến từ khâu sơ chế đến chế biến Chúng tôi cũng tìm hiểu về thời gian nấu hợp lý để đảm bảo món ăn thơm ngon, có màu sắc bắt mắt, hấp dẫn đối với trẻ, đồng thời không ngừng nâng cao kỹ thuật chế biến nhằm mang đến những bữa ăn chất lượng
Trong công tác nuôi dưỡng tại trường mầm non, thực đơn đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo dinh dưỡng và phát triển toàn diện cho trẻ Tuy nhiên, trước đây thực đơn của nhà trường thường xây dựng đơn giản, nhiều món lặp lại, chưa phong phú về nguyên liệu, cách chế biến còn đơn điệu, chưa thật sự hấp dẫn với trẻ
Trước thực trạng đó, nhà trường đã tổ chức chuyên đề “Đổi mới thực đơn
và nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ”, nhằm thay đổi tư duy trong xây dựng thực đơn và nâng cao tay nghề cho nhân viên tổ nuôi Trong chuyên đề này, tôi cùng tổ nuôi dưỡng đã thực hiện khảo sát khẩu vị của trẻ ở từng độ tuổi, tham khảo ý kiến phụ huynh, y tế học đường, giáo viên chủ nhiệm và áp dụng các nguyên tắc phối hợp thực phẩm theo mùa, theo nhóm chất dinh dưỡng Đặc biệt, chúng tôi tập trung thay đổi cách chế biến quen thuộc sang cách chế biến
mới lạ, sáng tạo như:
- Món truyền thống như thịt kho trứng được biến tấu thành thịt viên sốt cà chua hình thú ngộ nghĩnh
- Canh rau cải nấu thịt bằm được thay bằng canh củ quả nấu thịt lợn, kết hợp tạo màu đẹp mắt
- Cháo buổi chiều thêm các nguyên liệu phụ như bí đỏ, hạt sen, đậu xanh giúp tăng vị ngọt tự nhiên và dưỡng chất
Tôi được phân công thực hiện chuyên đề “Đổi mới thực đơn và nâng cao
kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ” Qua đây tôi hiểu được tầm quan trọng của
việc đổi mới thực đơn với sự đa dạng về khẩu phần và nguyên liệu, kết hợp với
việc nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại bếp ăn nhà trường Nâng cao chất lượng bữa ăn và kỹ thuật chế biến món ăn, xây dựng thực đơn hợp lý phù hợp với trẻ mầm non Tôi được nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, hiểu biết về dinh dưỡng và kỹ thuật chế biến để thực
Trang 15hiện đúng yêu cầu bữa ăn cho trẻ
Tôi và đồng nghiệp đã thực hành và phổ biến quy trình chế biến món sốt cari Cụ thể:
Bước 1: Xào hành và gia vị
Đun nóng dầu ăn trong nồi ở lửa vừa, xào hành tây đến khi có màu trong
và thơm Xào thêm tỏi trong 1-2 phút cho thơm
Bước 2: Thêm các loại gia vị khô vào nồi Cho bột cà ri vào nồi Xào đều trong 1-2 phút để gia vị nở mùi thơm, tạo màu sắc và hương vị đặc trưng cho món cà ri
Bước 3: Xào thịt và cà chua
Cho thịt đã ướp vào nồi, đảo đều cho thịt săn lại và thấm gia vị Cho cà chua băm vào, đảo đều cho cà chua chín mềm Đảo đều để cà chua hòa quyện với thịt và gia vị
Bước 4: Đổ nước cốt dừa vào nồi, khuấy đều để hòa quyện với các nguyên liệu Thêm nước lọc để đạt độ sánh mong muốn Hạ nhỏ lửa và đun trong 30-40 phút cho đến khi thịt chín mềm và sốt sệt lại Nêm nếm vừa ăn
(Hình ảnh 11: Thực hiện chuyên đề “Đổi mới thực đơn và nâng cao
kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ)
Không ngừng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, trong năm học tôi được
BGH chỉ đạo tổ chức chuyên đề “Dây chuyền chế biến thức ăn tại bếp” Chuyên
đề nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của bếp ăn, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Toàn bộ quy trình chế biến phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định
về vệ sinh an toàn thực phẩm, từ khâu tiếp nhận nguyên liệu đến khi hoàn thành
món ăn Phát huy tính khoa học và tính tổ chức trong công tác bếp ăn, nhằm
nâng cao chất lượng bữa ăn và tiết kiệm thời gian, chi phí trong công tác chế
biến Bên cạnh đó, chuyên đề còn giúp cải tiến quy trình làm việc Đảm bảo các
nhân viên bếp có sự phối hợp chặt chẽ, tối ưu hóa công việc trong bếp, tạo ra
một môi trường làm việc hiệu quả và tiết kiệm (Hình ảnh 12: Thực hiện chuyên đề Dây chuyền chế biến thức ăn tại bếp)
Sau quá trình triển khai tích cực các chuyên đề, trình độ chuyên môn và
kỹ thuật chế biến của bản thân tôi và đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng được nâng cao rõ rệt Tôi đã biết cách xây dựng thực đơn cân đối dinh dưỡng, hấp dẫn thị giác trẻ; biết áp dụng kỹ thuật chế biến khoa học, hợp vệ sinh và sáng tạo trong cách trình bày Trẻ ăn ngon miệng hơn, số lượng trẻ ăn hết suất tăng lên, tình trạng kén ăn, chán ăn giảm hẳn Phụ huynh tin tưởng hơn vào chất lượng bữa ăn tại trường
Ngoài ra, môi trường làm việc tại bếp ăn được cải thiện rõ rệt: sạch sẽ,
Trang 16khoa học, an toàn hơn Nhân viên trong tổ nuôi dưỡng phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả công việc được nâng cao, tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Các buổi sinh hoạt chuyên môn trở nên thực chất hơn, trở thành diễn đàn học hỏi và
lan tỏa kinh nghiệm tốt trong công tác nuôi dưỡng trẻ mầm non
Biện pháp 5: Thực hiện tốt công tác phối hợp với giáo viên và phụ huynh học sinh
Việc chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ đặc biệt là lứa tuổi mầm non vô cùng quan trọng Hơn nữa với tình hình điều kiện thực tế như hiện nay phụ huynh đi làm cả ngày nên 100% trẻ đi lớp đều ăn bán trú tại lớp, nên việc phối kết hợp giữa nhà trường với tổ nuôi dưỡng với phụ huynh và giáo viên trong trường là hết sức cần thiết và quan trọng để cùng nắm bắt được cách chăm sóc dinh dưỡng, tình trạng của trẻ khi ở nhà cũng như khi ở trường từ đó có những giải pháp cân đối hợp lý nhằm giúp trẻ phòng chống suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì, phát triển toàn diện cho trẻ
- Phối hợp với giáo viên: Tôi thường xuyên trao đổi thông tin về thực đơn mới với giáo viên, đến dự giờ ăn các lớp xem các bé ăn như thế nào, trao đổi với giáo viên để nắm bắt được trẻ ăn món ăn mới này có hết không, có ngon không?
Từ những phản ánh của giáo viên tôi có những điều chỉnh món ăn, thay đổi thực đơn để trẻ ăn ngon miệng hơn, qua trao đổi với giáo viên trên lớp tôi nắm bắt thông tin về các trường hợp đặc biệt như trẻ thừa cân, suy dinh dưỡng từ đó tôi
đề xuất với cấp trên điều chỉnh thực đơn, cải thiện chất lượng bữa ăn (Hình ảnh
13: Thực hiện phối hợp thường xuyên với giáo viên)
- Thông qua giáo viên phụ trách các lớp trao đổi với phụ huynh về tình hình của trẻ, tôi nắm bắt được các thông tin chi tiết về thói quen ăn uống, sức khỏe chung của trẻ, những thay đổi trong khẩu phần ăn tại nhà hoặc những thích thú mới của trẻ, giúp bản thân tôi và tổ nuôi dưỡng có những kế hoạch, đề xuất cũng như thay đổi thực đơn, món ăn hấp dẫn, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ
Kết hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh các lớp thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác bán trú trong khâu tiếp nhận thực phẩm và chế biến Đảm bảo dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, trẻ được ăn đúng, đủ khẩu phần
Bên cạnh đó còn là sự phối kết hợp giữa các nhân viên trong tổ nuôi dưỡng Tổ nuôi dưỡng thường xuyên họp chuyên môn 2 tuần 1 lần trong tháng, cùng nhau chia sẻ, rút kinh nghiệm về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, cách chế biến món ăn, hay sáng tạo các món ăn mới, cách chế biến món ăn mới đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm và dinh dưỡng
Sự phối kết hợp giữa nhà trường, tổ nuôi dưỡng, giáo viên và phụ huynh trong nhà trường trong việc chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ đã đem lại hiệu quả
Trang 17cao Tạo sự tin tưởng để phụ huynh gửi con em tại trường, nhận được những phản hồi tích cực từ phía phụ huynh Điều đó giúp bản thân tôi và tổ nuôi dưỡng
có thêm động lực để sáng tạo ra nhiều món ăn ngon hơn nữa giúp các con ăn ngon miệng và luôn hào hứng khi đến trường
4 Hiệu quả của sáng kiến
4.1 Đối với bản thân
Việc tích cực nghiên cứu, thực hiện các biện pháp trong sáng kiến đã giúp tôi nâng cao rõ rệt trình độ chuyên môn, kỹ năng chế biến món ăn và kiến thức
về dinh dưỡng – vệ sinh an toàn thực phẩm Qua quá trình học hỏi, thực hành và
tổ chức các chuyên đề như “Đổi mới thực đơn”, “Dây chuyền chế biến thức ăn”, tôi không chỉ biết cách xây dựng thực đơn khoa học, cân đối theo mùa, theo độ tuổi mà còn nâng cao khả năng sáng tạo trong chế biến món ăn hấp dẫn, phù hợp khẩu vị trẻ mầm non Ngoài ra, kỹ năng phối hợp làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức vệ sinh bếp ăn, kiểm tra thực phẩm đầu vào cũng được rèn luyện, góp phần nâng cao năng lực quản lý trong công tác nuôi dưỡng tại đơn vị
4.2 Đối với trẻ
Sáng kiến đã góp phần cải thiện rõ rệt chất lượng bữa ăn hàng ngày của trẻ: món ăn phong phú hơn, hấp dẫn hơn về màu sắc, hương vị và hình thức trình bày, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn đúng và đủ khẩu phần Nhờ đó, tình trạng suy dinh dưỡng, biếng ăn giảm đáng kể, thể trạng của trẻ được cải thiện rõ rệt,
tỷ lệ trẻ đạt chuẩn cân nặng, chiều cao tăng lên Trẻ hào hứng, vui vẻ trong giờ
ăn, từ đó hình thành thói quen ăn uống tích cực và cảm giác an toàn, thoải mái trong môi trường học đường Bên cạnh đó, các món ăn sạch – đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm giúp phòng tránh các bệnh đường tiêu hóa, bảo vệ sức khỏe trẻ hiệu quả
Sáng kiến được áp dụng cho 201 trẻ khu Văn Quang tại trường mầm non Nghĩa Hương Kết quả cụ thể đạt được vào tháng 4/2025 như sau:
Nội dung khảo sát
Chưa đạt
1 Trẻ hứng thú khi
thưởng thức các món
ăn
73 (36,3
2%)
51 (25,37
%)
50 (24,88
%)
27 (13,43
%)
190 (94,5%
70 (34,83
%)
71 (35,32
%)
10 (4,98%
)
185 (92%)
10 (5%)
6 (3%) 0%
Trang 1870 (34,83
%)
75 (37,31
%)
11 (5,47%
)
150 (75%)
45 (22%)
6 (3%) 0%
4 Trẻ phản ứng tích
cực với các món ăn
mới hay các bữa ăn
đặc biệt trong tuần
50 (24,88%)
70 (34,83
%)
71 (35,32
%)
10 (4,98%
)
175 (87%)
16 (8%)
10 (5%) 0%
Bảng 2: Bảng khảo sát cuối năm học
Vào cuối năm học, kết quả khảo sát cho thấy phần lớn trẻ hứng thú với các món ăn của trường, với tỷ lệ từ khá trở lên tới 95% Về khẩu phần ăn, có khoảng 97% trẻ ăn hết khẩu phần mỗi ngày, chon thấy các món ăn đảm bảo cả
về khẩu vị, chất dinh dưỡng và hình thức Đối với việc trẻ yêu cầu ăn thêm hoặc
có phản ứng tích cực với các món ăn của trường, tỷ lệ phản hồi rất tốt Cuối cùng, tỷ lệ phản ứng tích cực đối với các món ăn mới và bữa ăn đặc biệt trong tuần cũng khá cao, từ 74% đến 97%, cho thấy trẻ sẵn sàng thử món mới và cảm thấy thích thú
4.3 Đối với đồng nghiệp, tổ nuôi dưỡng
Thông qua các hoạt động chuyên môn và thực hiện sáng kiến, đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng trong trường được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chế biến món ăn theo hướng chuyên nghiệp và khoa học hơn Các cô nuôi không chỉ thực hiện tốt công việc hàng ngày mà còn chủ động hơn trong việc xây dựng thực đơn, phát hiện – xử lý thực phẩm không đảm bảo an toàn Tinh thần làm việc nhóm được phát huy, môi trường làm việc trong bếp trở nên nề nếp, gắn kết và hiệu quả hơn
4 4 Đối với nhà trường
Sáng kiến đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ của nhà trường một cách toàn diện, đáp ứng các tiêu chí trường mầm non đạt chuẩn chất lượng giáo dục Nhà trường duy trì được môi trường bếp ăn sạch sẽ, an toàn, đúng quy trình, đảm bảo uy tín đối với phụ huynh và xã hội Đặc biệt, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận: Ban giám hiệu – tổ nuôi dưỡng – y tế học đường – giáo viên – phụ huynh được nâng cao, tạo nên quy trình quản lý bữa ăn hiệu quả, khách quan và minh bạch Sáng kiến là một minh chứng cho việc đổi mới công tác nuôi dưỡng theo hướng khoa học, trách nhiệm, lấy trẻ làm trung tâm
5 Đối với phụ huynh
Phụ huynh học sinh yên tâm và tin tưởng khi gửi con đến trường, bởi con
Trang 19được ăn những bữa ăn đảm bảo an toàn, đủ chất, phù hợp với độ tuổi Phụ huynh ngày càng có ý thức phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc theo dõi sức khỏe, thói quen ăn uống của trẻ, từ đó tạo sự đồng bộ giữa nhà trường – gia đình Sáng kiến còn lan tỏa thông điệp tích cực trong cộng đồng về việc chăm lo chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là của toàn xã hội
* Nâng cao hiệu quả của sáng kiến
Sáng kiến "Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non" có nhiều ưu điểm nổi bật giúp nâng cao chất lượng công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Cụ thể:
- Các biện pháp trong sáng kiến tập trung vào việc đảm bảo khẩu phần ăn cân đối, đầy đủ chất dinh dưỡng và phù hợp với độ tuổi của trẻ Việc xây dựng thực đơn khoa học giúp trẻ phát triển thể chất, trí tuệ và sức khỏe toàn diện
- Sáng kiến đưa ra phương pháp thay đổi thực đơn định kỳ, bổ sung các món ăn mới phù hợp với khẩu vị và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ Điều này giúp trẻ cảm thấy thích thú, tránh cảm giác nhàm chán với các món ăn quen thuộc
- Sáng kiến đặt một trong những yếu tố quan trọng là kiểm tra và giám sát chặt chẽ quá trình chế biến và lưu trữ thực phẩm Điều này không chỉ giúp đảm bảo chất lượng bữa ăn mà còn tạo niềm tin cho phụ huynh về công tác chăm sóc nuôi dưỡng tại trường
Để nâng cao hiệu quả của sáng kiến, nhà trường có thể thực hiện một số biện pháp sau:
- Tiến hành các khảo sát định kỳ để đánh giá mức độ hài lòng của trẻ đối với chất lượng bữa ăn Dựa trên kết quả khảo sát, nhà trường có thể điều chỉnh thực đơn và chế độ dinh dưỡng sao cho phù hợp hơn
- Tiếp tục bồi dưỡng kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng Đảm bảo đội ngũ luôn được trang bị kiến thức mới, kỹ năng thực hành tốt để nâng cao chất lượng công tác chăm sóc
- Đầu tư vào các thiết bị chế biến thực phẩm hiện đại, hệ thống bảo quản thực phẩm tiên tiến để nâng cao chất lượng bữa ăn và giảm thiểu các nguy cơ về
vệ sinh an toàn thực phẩm
* Kinh nghiệm rút ra khi áp dụng sáng kiến:
- Việc liên tục điều chỉnh thực đơn dựa trên kết quả khảo sát giúp sáng kiến đạt được hiệu quả cao
- Đào tạo liên tục cho đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của sáng kiến Các nhân viên cần được trang bị kiến thức vững vàng về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm để thực hiện công