02050007862 noidung hoạt Động quản lý di sản trò xuân phả (xã xuân trường, huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa) 02050007862 noidung hoạt Động quản lý di sản trò xuân phả (xã xuân trường, huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA LỊCH SỬ -
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA LỊCH SỬ -
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung Luận văn “Hoạt động quản lý di sản Trò Xuân Phả (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)” là nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Hương Thảo, là giảng viên thuộc khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tên đề tài của Luận văn không trùng với bất kì công trình nào đã được công
bố Các trích dẫn, số liệu và kết quả được thể hiện trong Luận văn là trung thực
và có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô đã đứng lớp dạy các học phần thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa tại Khoa Lịch sử, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN, là nơi tôi theo học Thầy, cô đã truyền đạt những kĩ năng, kiến thức cần thiết để tôi có thể vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình Tôi cảm ơn GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung vì những lời giảng của cô khi đứng lớp môn “Quản lý văn hóa – Lý thuyết và ứng dụng” đã giúp tôi hiểu
ra vị trí, vai trò của cộng đồng trong quản lý văn hóa ở Việt Nam Tôi cảm ơn
TS Nguyễn Thị Thu Hà vì thông qua các bài giảng môn “Công nghiệp văn hóa”,
cô đã cho tôi nhận thấy cần phải nhìn nhận tầm quan trọng của văn hóa trong kinh tế và việc tạo ra lợi nhuận kinh tế từ văn hóa
Tôi cũng muốn cảm ơn các thầy cô phụ trách lớp, phụ trách đào tạo Sau Đại học của Khoa Lịch sử đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện hồ sơ xin bảo vệ luận văn
Cuối cùng, tôi muốn gửi một lời tri ân và biết ơn sâu sắc đến gia đình và người bạn Nguyễn Văn Hiếu Họ đã luôn động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
2.1 Những nghiên cứu về Trò Xuân Phả 10
2.2 Những nghiên cứu về hoạt động quản lý di sản trò diễn nói chung và Trò Xuân Phả nói riêng 14
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16
3.1 Mục đích nghiên cứu 16
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 17
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
4.1 Đối tượng nghiên cứu 17
4.2 Phạm vi nghiên cứu 17
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 17
5.1 Nguồn tài liệu 17
5.2 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Đóng góp của luận văn 20
7 Bố cục luận văn 20
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 21
1.1 Khái niệm và các lý thuyết tiếp cận 21
1.1.1 Quản lý di sản văn hoá và hướng tiếp cận 21
1.1.2 Khung phát triển bền vững và hướng tiếp cận lý thuyết Di sản sống 26
1.1.3 Lý thuyết về Vốn văn hóa và sự tham gia của cộng đồng 29
1.2 Trò Xuân Phả 33
1.2.1 Vài nét về làng Xuân Phả 33
1.2.2 Lịch sử hình thành và hình thức diễn xướng của Trò Xuân Phả 35
1.2.3 Giá trị của Trò Xuân Phả 40
Tiểu kết 44
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI SẢN TRÒ XUÂN PHẢ 45
2.1 Chủ thể và cơ chế quản lý 45
2.1.1 Chủ thể quản lý Nhà nước 45
2.1.2 Chủ thể cộng đồng 48
Trang 62.1.3 Mô hình và cơ chế quản lý 50
2.2 Thực trạng hoạt động quản lý Trò Xuân Phả 50
2.2.1 Hoạt động phục hồi Trò diễn 52
2.2.2 Hoạt động truyền dạy Trò diễn 56
2.2.3 Hoạt động nghiên cứu khoa học 59
2.2.4 Hoạt động vinh danh nghệ nhân 61
2.2.5 Hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa vật thể liên quan đến Trò diễn 62
2.2.6 Hoạt động quảng bá, phát huy giá trị Trò diễn 64
Tiểu kết 70
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRÒ XUÂN PHẢ 71
3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Trò diễn Xuân Phả 71
3.1.1 Kết quả đạt được 71
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế 79
3.2 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản Trò Xuân Phả 81
Tiểu kết 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 102
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VH,TT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trò Xuân Phả hay còn gọi là “Ngũ quốc lân bang đồ tiến cống” là một tổ hợp
gồm 5 trò diễn (Ngũ trò) đặc sắc ở làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân,
tỉnh Thanh Hóa Ngũ trò gồm: Tú Huần, Ai Lao, Chiêm Thành, Ngô quốc và Hoa
Lang, ngoài ra còn có thêm 2 trò chơi dân gian là Kéo hội và Chạy giải Đây là một
trò diễn truyền tải thông điệp lịch sử về mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt với các quốc gia lân bang Điều đặc biệt là Trò Xuân Phả được hình thành qua sự tích hợp của nhiều lớp văn hóa, qua nhiều thời kỳ từ cung đình đến diễn xướng dân gian, do
đó trò diễn bao chứa phức hợp các giá trị lịch sử, khoa học, xã hội, tinh thần Sau nhiều thế kỷ hình thành, phát triển và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, Trò Xuân Phả như một phần bản sắc của cộng đồng làng Xuân Phả nói riêng, huyện Thọ Xuân nói chung, là sản phẩm phản ánh sự đa dạng văn hóa và sáng tạo của cộng đồng nơi đây Nhắc đến địa phương này, người ta thường nghĩ ngay đến câu ca: “Ăn bánh với giò không bằng xem Trò Xuân Phả” Với sự hội tụ nhiều lớp giá trị, Trò Xuân Phả đã vượt khỏi không gian của một làng, góp mặt ở nhiều sự kiện văn hóa lớn của tỉnh Thanh Hóa cũng như trong cả nước Năm 2016, Trò Xuân Phả được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Việc được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia đã mở ra cơ hội
để Trò Xuân Phả được phục hồi, bảo tồn và phát huy, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức Di sản văn hóa phi vật thể vốn được biết đến là một loại hình di sản “mong manh” và “dễ bị tổn thương”, nên với những thay đổi của bối cảnh kinh tế - xã hội ngày nay, Trò Xuân Phả không tránh khỏi có những biến đổi, điều chỉnh so với những
gì đã được lưu giữ trong ký ức các thế hệ cha ông Xu hướng “sân khấu hóa”, “đồng phục hóa” trong trình diễn các trò, sự thay đổi về thành phần những người tham gia diễn trò, sự “góp mặt” của những đạo cụ công nghiệp thay vì thủ công như trước đây, hiện tượng “giải thiêng hóa” những giá trị của trò diễn, sự chi phối của lợi ích kinh
tế và các sản phẩm văn hóa mới đối với mức độ tham gia của cộng đồng, đặc biệt là
sự tham gia của giới trẻ trong thực hành diễn trò… đã ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị,
Trang 9sự bảo tồn và phát triển bền vững của trò diễn Xuân Phả Việc xác định những vấn
đề đặt ra, những vấn đề tồn đọng cần giải quyết được xem như bước đầu tiên trong chiến lược bảo tồn, phát huy bền vững bất kỳ di sản văn hóa phi vật thể hay vật thể nào để từ đó có phương án làm thế nào để trò diễn vẫn có sức sống bền bỉ với các thế
hệ, đảm bảo sự hài hòa giữa bảo tồn – phát huy giá trị của di sản trong bối cảnh mới
Di sản là sản phẩm của quá khứ nhưng mang hơi thở của thời đại Để bảo tồn
di sản văn hóa một cách có hiệu quả, người quản lý di sản cần có góc nhìn văn hóa
động Quản lý di sản, đặc biệt là đối với di sản văn hóa phi vật thể, hiệu quả không
có nghĩa là cố gắng “đóng khung” di sản ấy như những gì nó vốn có từ xa xưa nhất Người quản lý cần chấp nhận rằng sự thay đổi của di sản là khó tránh khỏi, nhưng làm thế nào để di sản thích ứng mà không biến đổi, vẫn hài hòa giữa bảo tồn – phát triển, vẫn phát huy được những giá trị truyền thống của di sản trong thời đại mới? Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã chỉ ra mối quan hệ giữa phát triển và truyền thống: “Truyền thống tồn tại bám vào cơ chế, bám vào thói quen, vào cách sống, cách nghĩ, không dễ bỏ, có nhiều cái không nên bỏ, và quan trọng hơn là phải tìm ra cách lợi dụng nó để phát triển” [24, tr 17] Muốn quản lý, bảo tồn và phát huy bền vững trò diễn Xuân Phả, người làm công tác quản lý cần có sự am hiểu sâu sắc về trò diễn, đặc biệt là hệ giá trị mà trò diễn bao hàm Hơn ai hết, tiếng nói của cộng đồng di sản cần được ưu tiên, bởi dân làng Xuân phả - người trong cuộc, mới chính là những người nắm giữ các giá trị của Trò Xuân Phả và quyết định sẽ trao truyền những gì đến các thế hệ sau Từ việc nhận diện vai trò của cộng đồng di sản, các chính sách,
cơ chế vì thế cũng cần được xây dựng nhằm tạo điều kiện, động viên, khích lệ sự tham gia nhiệt tình, tích cực của cộng đồng vào thực hành Trò Xuân Phả
Mỗi di sản văn hóa đều là sản phẩm phản ánh phần nào bản sắc của một cộng đồng nơi nó tồn tại Thanh Hóa là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa gắn liền với những lễ hội truyền thống Cố đô Lam Kinh (Thọ Xuân) giữ vị trí quan trọng thứ hai sau kinh đô Thăng Long ở thế kỷ XV Chính
vì vậy, nơi đây không chỉ là đất phát tích nhà Lê, mà trên phương diện nghiên cứu văn hóa, nó còn có vai trò và tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với sự hình thành, phát
Trang 10triển của Trò Xuân Phả Trò Xuân Phả là di sản của nhóm cư dân làng Xuân Phả (Thọ Xuân), rộng hơn là cộng đồng dân cư gắn liền với dòng sông Chu, đan xen yếu tố văn hóa hai nhóm Việt – Mường Thêm vào đó, khi tiến hành khảo sát trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, ngoài làng Xuân Phả, vẫn còn có những địa phương có những trò diễn
“đồng dạng” với Trò Xuân Phả như các làng ở huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa Đây là điểm đặc sắc dẫn đến câu hỏi liệu Ngũ trò Xuân Phả không tồn tại riêng lẻ, mà phải chăng đã từng có “một không gian văn hóa Xuân Phả” trong quá khứ? Hiện nay, cũng theo kết quả khảo sát, phần lớn những “đồng dạng” văn hóa tại các địa phương này
đã bị thất truyền, mai một đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân đến từ việc quản lý văn hóa Nhiều người dân hiện nay đã không còn biết đến sự tồn tại của các trò diễn này Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cần dựa trên quan điểm tôn trọng
sự đa dạng, không phân biệt cao – thấp, lớn - nhỏ, trung tâm – ngoại vi Rõ ràng những “đồng dạng” của Trò Xuân Phả tại các địa phương khác của Thanh Hóa đang chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí xem nhẹ Nếu được khôi phục, mở rộng, tạo
ra “một không gian văn hóa Xuân Phả” trên các địa phương vốn có mối liên hệ văn hóa – lịch sử với nhau ở Thanh Hóa sẽ góp phần vun đắp thêm bề dày về nghệ thuật dân gian truyền thống sinh động của tỉnh Thanh Hóa, đồng thời là điểm nhấn thu hút khách du lịch
Chính vì những lý do trên nên tôi quyết định chọn Trò Xuân Phả làm đề tài nghiên cứu luận văn “Hoạt động quản lý di sản Trò Xuân Phả (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa)” của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về Trò Xuân Phả
Là một trò diễn đặc sắc của tỉnh Thanh Hóa, cho đến nay, Trò Xuân Phả đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XXI, các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến Trò Xuân Phả có thể chia thành 2 nhóm: nhóm những bài, công trình nghiên cứu về các trò diễn dân gian chung thuộc vùng Đông Sơn, Thanh Hóa và các trò diễn riêng của Xuân Phả
Trang 11Đối với các trò diễn chung ở Đông Sơn, Thanh Hóa, có thể kể đến:
Năm 1996, trong luận án Trò diễn dân gian vùng Đông Sơn, tác giả Trần Thị
Liên phân loại các trò diễn dân gian ở Đông Sơn; tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của trò diễn dân gian Đông Sơn trong nền cảnh chung của trò diễn dân gian vùng đất Thanh Hóa; tìm hiểu khuynh hướng phát triển từ loại hình trò diễn dân gian đến loại hình nghệ thuật sân khấu Cũng trong năm 1996, Trần Thị Liên tiếp tục công bố bài
viết “Trò Ngô ở Đông Sơn” đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật đề cập đến trò Ngô
ở hai địa bàn là Viên Khê (Đông Anh) và Cổ Bôn (Đông Thanh) đồng thời trình bày đặc tính chung của trò Ngô, chứng minh tính dân tộc được cho là cơ sở để trò Ngô được duy trì và tồn tại đến ngày nay ở Đông Sơn
Năm 2007, Trần Thị Liên công bố bài viết mới “Trò diễn dân gian cổ truyền
ở lưu vực sông Mã và sự giao lưu văn hóa khu vực” trên tạp chí Di sản văn hóa, cho
rằng những trò diễn dân gian nơi này đều mang dấu ấn cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước, những sự kiện lịch sử và phản ánh phong tục trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đặc biệt, tác giả nhắc đến ở huyện Đông Sơn bên cạnh những trò diễn khá phổ biến như múa Đèn, trò Thủy, Chèo Chải,… còn có các trò có nét tương đồng với Trò Xuân Phả ở huyện Thọ Xuân, nhưng khác nhau về tên gọi Trong đó, trò Ngô Quốc lại được gọi là Ngô Phường, trò Hoa Lang còn có thể gọi là trò Huê Lang Tác giả lưu ý rằng, rõ ràng tên các trò diễn ở lưu vực sông Mã có nhắc đến tên các dân tộc, các nước, tuy chưa thể xác định được sự liên quan thế nào, nhưng phần nào đã cho thấy một tín hiệu hiếm trong sân khấu dân gian Việt Nam gợi ý về quan hệ giao lưu với các dân tộc trong khu vực Có thể thấy, việc tìm hiểu sân khấu dân gian cũng
là một hướng tiếp cận cần được quan tâm nhiều hơn trong nghiên cứu lịch sử và bảo
vệ các giá trị di sản trò diễn
Với công trình nghiên cứu Trò diễn dân gian trên đất Thanh Hóa xuất bản
năm 2011, tác giả Lê Kim Lữ đã phân tích các trò diễn dân gian trên tất cả địa bàn ở Thanh Hóa Trong công trình này, tác giả cũng đề cập đến Ngũ trò trùng tên gọi với Ngũ trò Xuân Phả là Ngũ trò Viên Khê ở làng cổ Viên Khê, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn trên các phương diện: số lượng nhân vật, đạo cụ, hóa trang và diễn xuất
Trang 12Ngũ trò Viên Khê ban đầu có 5 trò nhưng về sau do tiếp biến văn hóa nên phát triển lên tới 12 trò như: Múa đèn, Tiên Cuội (hay Tiên phường), Tô Vũ, Trống Mõ, Thiếp, Vằn vương (hay trò Hùm), Thủy (hay Thủy phường), Leo dây, Xiêm Thành (hay Chiêm Thành/Sim Thành), Hà Lan (hay Hoa Lang), Tú Huần (hay Lục Hồn Nhung), Ngô quốc, Đại Thánh, Nữ quan
Trong cuốn sách Trò diễn trong hội làng cổ truyền xứ Thanh xuất bản năm
2016, tác giả Hoàng Anh Nhân đã phân loại trò diễn trên hầu khắp địa bàn các huyện của Thanh Hóa thành hai nhóm: trò nhại và trò có cốt truyện (trò huyện Yên Định, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Hoằng Hóa, Thọ Xuân, Nông Cống, ) Cũng theo motip của các trò diễn khác ở Thanh Hóa, Trò Xuân Phả được đề cập về số lượng nhân vật, hóa trang, nội dung trình diễn
Đối với Trò Xuân Phả nói riêng:
Có lẽ công trình đầu tiên nghiên cứu Trò Xuân Phả với tư cách là một trò diễn
độc lập được xuất hiện trong bài viết “Tư liệu về hội trò Xuân Phả”, đăng trên tạp chí
Dân tộc học năm 1983, tác giả Trần Hồng Minh Bài viết đã phân tích nội dung trình
diễn của Trò Xuân Phả, phản ánh nguyện vọng của người lao động và nội dung trình diễn, tìm hiểu Trò Xuân Phả đặt trong mối quan hệ với các hoạt động kinh tế, chính trị và bối cảnh xã hội Mô tả này giúp tác giả hình dung rõ hơn về hoạt động trình diễn của trò ở những thập kỷ trước, đây cũng được xem là một trong những tư liệu để soi chiếu với trình diễn Trò Xuân Phả ngày nay
Với bài viết “Trò Ngô” đăng trên tạp chí Văn hóa Dân gian năm 1984, tác giả
Vũ Ngọc Khánh đã tìm hiểu nguồn gốc lịch sử và nội dung chủ đạo của trò Ngô Tác giả liên hệ trò Ngô với những sinh hoạt văn hóa dân gian cổ truyền và cho rằng sự hình thành của trò Ngô có mối liên hệ với những hoạt cảnh châm biếm, dần dần được quy mô hóa trong hệ thống diễn xướng, nghi lễ, ngày nay mang đậm màu sắc nghệ thuật quần chúng
Bài viết “Những trò diễn liên quan đến Xuân Phả” trong cuốn Hành trình vào
thế giới Folklore của Vũ Ngọc Khánh, xuất bản năm 2005, đề cập đến Trò Xuân Phả
ở nhiều dị bản khác nhau trên địa bàn Thanh Hóa Trong đó, trò Tú Huần ở Vĩnh Trị
Trang 13(Hoằng Hóa) và các trò Ai Lao, Hoa Lang, Chiêm Thành được tác giả phân tích trên một số địa bàn ở Thanh Hóa, đồng thời tác giả cũng phác họa về các nhân vật, hóa trang và nội dung trình diễn của các trò diễn liên quan với Trò Xuân Phả
Tác giả Hoàng Anh Nhân với cuốn Khảo sát Trò Xuân Phả, xuất bản năm
2005, đã phác họa chung về nội dung các trò diễn, giới thiệu khái lược một số trò diễn, điệu múa được cho là có liên quan đến các điệu múa của Ngũ trò Xuân Phả ở một số địa phương thuộc Thanh Hóa Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa thể lý giải hay đưa
ra tư liệu chứng minh tại sao có mối liên quan giữa các trò diễn tại các địa phương này với Trò Xuân Phả
Phan Cẩm Thượng với bài viết “Trò Xuân Phả” đăng trên tạp chí Tia sáng
năm 2008 đã phân tích các trò diễn trong Trò xuân Phả dựa trên các tài liệu của các cao niên trong làng Từng trò diễn như Hoa Lang, Ai Lao, Tú Huần, Chiêm Thành đều được cụ thể hóa bằng tên gọi, đạo cụ, cách múa, lời hát Đi kèm với đó là hình ảnh của từng trò diễn, có cả các con vật như kỳ lân, voi, hổ để mở đầu diễn các trò Đây là nguồn tư liệu giúp “bức tranh” Trò Xuân Phả trong những thập kỷ trước được hình dung rõ hơn, từ đó tác giả có thể so sánh, đối chiếu với thực trạng Trò Xuân Phả ngày nay cũng như làm cơ sở cho việc đề xuất các phương án bảo vệ
Trong bài viết “Trò Xuân Phả - di sản văn hóa đặc biệt của huyện Thọ Xuân
(Thanh Hóa)”, đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật năm 2022, ngoài trình bày về 5
điệu múa, tác giả Lê Bá Thành đã nêu vài nét về lịch sử hình thành trò và tập trung hơn vào phân tích ý nghĩa của Trò Xuân Phả đối với cộng đồng làng xã Tác giả cũng nhắc đến đến giá trị sáng tạo nghệ thuật, thẩm mỹ của trò diễn này là sự kết tinh giữa nghệ thuật cung đình với trí tuệ dân gian Song, những điều kỳ lạ và bí ẩn của âm nhạc, các động tác múa, cách làm mặt nạ, trang phục, của các trò diễn trong Trò Xuân Phả đều chưa được giải mã Dù vậy, với những giá trị đặc sắc, độc đáo, trò Xuân Phả đã vượt khỏi không gian của một làng để có mặt ở nhiều sự kiện văn hóa lớn của tỉnh Thanh Hóa và trong cả nước, được di danh vào danh mục sản văn hóa phi vật thể quốc gia Bởi vậy, Trò Xuân Phả ngày nay rất cần một chiến lược bảo vệ
và phát huy giá trị trong cộng đồng làng xã và cộng đồng dân tộc Việt Nam
Trang 14Có thể thấy, từ cuối thế kỷ XX, Trò Xuân Phả được quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn, nhất là trong hơn 20 năm trở lại đây Điểm chung của những nghiên cứu này là chủ yếu tiếp cận Trò Xuân Phả dưới góc độ thiên về mô tả, tìm hiểu không gian phân bố trò diễn, cách thức trình diễn, tạo hình của nhân vật, những đặc trưng,
ý nghĩa của trò diễn Những nghiên cứu khá liền mạch này giúp tác giả Luận văn tiếp nối, hình dung rõ nét hơn về bố cục, cách thức diễn trò và ý nghĩa của hệ thống trò diễn này – điều làm nên sự tồn tại đủ đầy của Ngũ trò Xuân Phả như ngày nay Về phương diện làm thế nào để bảo vệ và phát huy những giá trị của trò diễn Xuân Phả trước những biển đổi xưa – nay cũng như công tác quản lý giá trị di sản trò gần như chưa được quan tâm đặc biệt, nhất là khi Trò Xuân Phả là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
2.2 Những nghiên cứu về hoạt động quản lý di sản trò diễn nói chung và Trò Xuân Phả nói riêng
Tác giả Đặng Hoài Thu với bài viết “Khuynh hướng địa phương hoá trong trò
diễn lễ hội dân gian” đăng trên tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 12, 2007, đã phân tích
xu hướng địa phương hóa trong trò diễn các lễ hội cổ truyền Địa phương hóa trong trò diễn lễ hội văn hóa có thể hiểu là quá trình mà một trò diễn hay nghi thức lễ hội được tiếp thu, điều chỉnh và phát triển theo đặc trưng riêng của từng địa phương, từng vùng miền Điều này thể hiện qua: biến thể về nội dung hay cách thể hiện, khác biệt trong hình thức tổ chức (như quy mô, nghi thức và cách thực hành), hoặc điều chỉnh một số yếu tố khác của trò diễn để phù hợp với sự nhận thức, tập quán, tín ngưỡng của từng vùng Hiện nay, quá trình địa phương hóa trong trò diễn lễ hội dân gian ở nước ta diễn ra khá mạnh mẽ, phản ánh sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, cũng như những tác động của kinh tế - xã hội đến đời sống văn hóa Khuynh hướng địa phương hóa giúp các trò diễn có sức sống bền vững, không bị đồng nhất, lại vừa mang tính phong phú đa dạng giữa các địa phương, góp phần thúc đẩy du lịch văn hóa Song, xu hướng này cũng đặt ra thách thức về nguy cơ mất đi tính thiêng, sự mâu thuẫn giữa bảo vệ và phát triển
Trang 15Cũng về trò diễn, năm 2010, Đặng Hoài Thu cho ra đời cuốn sách chuyên khảo
Trò diễn trong lễ hội dân gian của người Việt ở Châu thổ Bắc Bộ Trong cuốn sách
này, tác giả phân tích một số nội dung cơ bản được phản ánh trong trò diễn, qua đó chỉ ra những đặc trưng nổi bật của trò diễn, đồng thời tìm mối quan hệ của trò diễn với sân khấu dân gian Ở khía cạnh quản lý di sản trò diễn trong lễ hội dân gian, tác giả đã tìm hiểu những giá trị cấu kết cộng đồng, sự sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, hướng đến bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân gian của trò diễn
Tác giả Chử Thị Lan trong khóa luận tốt nghiệp Phát huy giá trị diễn xướng
dân gian trò Trám – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, năm 2010, khoa Quản lý văn
hóa nghệ thuật, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đã nêu lên thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị diễn xướng dân gian trò Trám hiện nay (thuận lợi, khó khăn), từ đó
có những đề xuất để bảo tồn và phát triển diễn xướng dân gian trò Trám, như: marketing và gây quỹ cho hoạt động lễ hội, củng cố đầu tư cho hoạt động nghiên cứu…
Tác giả Nguyễn Tấn Khang với bài viết “Giá trị văn hóa cộng đồng và các yếu
tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn nghệ thuật diễn xướng Bài chòi miền Trung” đăng trên
tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, số 10 (4), năm 2021, đã phân tích những giá
trị văn hoá của Bài chòi Trong đó, giá trị nghệ thuật diễn xướng Bài chòi miền Trung đóng một vai trò quan trọng để nâng tầm Bài chòi trở thành Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại Bài viết cũng đề cập đến những yếu tố tác động tiêu cực lẫn tích cực đến việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật diễn xướng Bài chòi miền Trung
Trong bài viết “Trò Ma – Một loại hình nghệ thuật đặc sắc cần được bảo tồn
và phát huy” đăng trên tạp chí Khoa học, số 1 (13) năm 2022, tác giả Đỗ Thị Thanh
Nhàn nghiên cứu trò Ma nhằm làm sáng tỏ giá trị nhân văn sâu sắc trong “chữ hiếu” của con cái đối với cha mẹ, đồng thời nghiên cứu loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo này để thấy được sự khác lạ trong trò Ma của người Mường Thanh Hóa Từ
đó, tác giả gợi mở cho các cấp, các nhà quản lý có giải pháp bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật đang bị mai một này
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp “Cộng đồng với vấn đề bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể (nghiên cứu trường hợp hệ thống trò diễn Ngũ quốc lân bang đồ tiến cống ở Xuân Phả và Viên Khê, tỉnh Thanh Hóa)”, khoa Lịch sử, trường ĐHKHXH&NV HN, năm 2021, tác giả Nguyễn Vũ Hải Nguyên đã bước đầu đề cập đến thực trạng của Trò Xuân Phả và Dân ca dân vũ Đông Anh ở Thanh Hoá Tư liệu của khóa luận thông qua những ghi chép về lời kể của một vài nghệ nhân nơi đây, cung cấp câu chuyện của một số nhân vật vừa là nghệ nhân vừa là người làm công tác quản lý, đưa ra một số thay đổi của các trò diễn tại các địa bàn, đề xuất một số giải pháp để bảo vệ và phát huy Dù vậy, tác giả chưa đi sâu lý giải và phân tích nguyên nhân, chưa thể hiện được mối quan hệ giữa các bên trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản các trò diễn, các biện pháp đề xuất còn mang tính chung chung cho các trò diễn tại Xuân Phả và Viên Khê, chưa có phân tích để áp dụng cụ thể vào trường hợp Trò Xuân Phả
Công tác quản lý di sản các trò diễn dân gian đã dần được quan tâm trong những năm gần đây, đặc biệt là hướng đến nhận diện các giá trị của các trò diễn Đối với trường hợp Trò Xuân Phả, mặc dù đã được quan tâm nghiên cứu nhiều, nhưng như đã đề cập ở trên, các công trình, bài viết vẫn chủ yếu thiên về mô tả, trình bày nội dung trình diễn, mà chưa có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu các giá trị của trò diễn này, cũng như đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý di sản của nhà nước, sự tham gia của cộng đồng vào thực hành di sản, cũng như mối liên hệ đa chiều giữa người quản lý – cộng đồng di sản – di sản Trò Xuân Phả, để từ đó có phương hướng quản lý để bảo vệ và phát huy các giá trị của trò diễn này một cách bền vững
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này hướng tới mục tiêu phân tích, nhận xét, đánh giá về thực tế hoạt động quản lý di sản Trò Xuân Phả ở Thọ Xuân, Thanh Hóa Bởi đây là một trò diễn, nên bên cạnh công tác quản lý Nhà nước, chúng tôi cũng tập trung nghiên cứu cách thức cộng đồng quản lý di sản Từ đó, nghiên cứu đưa ra những đề xuất, phương
án nhằm đẩy mạnh vai trò của các bên trong hoạt động quản lý di sản Trò Xuân Phả,
Trang 17đặc biệt nâng cao vai trò của cộng đồng di sản trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của Trò Xuân Phả
- Xác định các đặc trưng, giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa, khoa học của Trò Xuân Phả
- Tìm hiểu hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước và cộng đồng trên các phương diện bảo vệ và phát huy di sản
- Mối quan hệ giữa quản lý Nhà nước và cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản trò diễn
- Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát huy giá trị di sản Trò Xuân Phả
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý Trò Xuân Phả ở xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Hoạt động này thể hiện trên các khía cạnh quản lý Nhà nước và sự tham gia của cộng đồng, vai trò của cộng đồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chính của Luận văn là làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Tài liệu sơ cấp
Tư liệu chính sử Việt Nam thời trung đại, như: Đại Việt sử ký toàn thư (Lê Văn Hưu và các sử thần triều Lê), Kiến văn tiểu lục (Lê Quý Đôn), Khâm định Việt
sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy Chú), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn)… đều có
ghi chép ít nhiều về trò diễn Xuân Phả Ngoài ra còn có các chi tiết đề cập đến việc trình diễn các điệu múa “Bình Ngô Phá Trận” và “Chư hầu lai triều” - hai điệu múa
Trang 18do Lê Thái Tông sai biên soạn và trình diễn tại Lam Kinh, Thanh Hóa nhằm truy niệm công lao của đời trước [14, tr 134] Điều này giúp tác giả nhìn nhận rõ hơn về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của trò diễn Xuân Phả
Tư liệu phỏng vấn, khảo sát thu thập được từ quá trình điền dã thực địa
Tài liệu thứ cấp
Lý lịch Di sản Văn hóa Phi vật thể trò diễn Xuân Phả của Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao Việt Nam năm 2016
Các công trình nghiên cứu chuyên khảo, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa
học chuyên ngành liên quan trực tiếp đến trò diễn Xuân Phả, như: Tư liệu về hội trò
Xuân Phả (Trịnh Hồng Minh), Khảo sát trò Xuân Phả (Hoàng Anh Nhân), Trò diễn dân gian vùng Đông Sơn (Lê Kim Lữ), Trò Xuân Phả (Phan Cẩm Thượng), Hành trình vào thế giới Folklore (Vũ Ngọc Khánh)…
Các khóa luận, luận văn, luận án liên quan đến trò diễn Xuân Phả và công tác bảo vệ, phát huy trò diễn này
Ngoài ra luận văn cũng sử dụng nguồn tài liệu là các hiến chương, công ước
quốc tế như Công ước bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể (năm 2003), Công ước Bảo
vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa (năm 2005); các văn bản pháp
luật như Luật Di sản Văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2001, sửa đổi năm 2009 và mới nhất là Luật Di sản Văn hóa được
ban hành ngày 23/11/2024 (số 45/2024/QH15) sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2025 Các văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cũng như của tỉnh Thanh Hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Khảo cứu văn bản: Các nghiên cứu, sách báo, văn bản về Trò Xuân Phả, các tài liệu của cơ quan quản lý, các văn bản pháp luật…
Điền dã văn hóa học và quan sát: Gồm các đợt khảo sát, tham dự, ghi hình toàn bộ trò diễn trong ngày lễ hội trên địa bàn làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, cụ thể, ngày 17 và 19/3/2024 trên địa bàn làng Xuân Phả, ghi hình toàn
Trang 19bộ trò diễn Xuân Phả tại Nghè làng Xuân Phả Những đợt khảo sát điền dã và trực tiếp quan sát buổi trình diễn trò giúp tác giả tìm hiểu rõ thực trạng bảo vệ và phát huy Trò Xuân Phả tại địa phương
Phỏng vấn trực tiếp, hay phỏng vấn sâu: cụ thể ngày 20, 21, 22, 24 và 25/6 tại địa bàn làng Xuân Phả, tại UBND xã Xuân Trường, UBND huyện Thọ Xuân, Sở VH,TT&DL Thanh Hóa, Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa – Sở VH,TT&DL Thanh Hóa Phỏng vấn sâu 21 người gồm những người làm công tác quản lý các cấp (Sở VH,TT&DL Thanh Hóa; Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và Bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa, UBND huyện, UBND xã, lãnh đạo của
5 thôn), các nghệ nhân của Trò Xuân Phả, những người tham gia diễn Trò Xuân Phả, người dân làng Xuân Phả [Xem Phụ lục số 1] Dữ liệu thu được giúp tác giả có cơ sở nhằm phân tích, đánh giá khách quan, chân thực về công tác quản lý di sản Trò Xuân Phả tại các cấp, cũng như vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản Trò Xuân Phả Việc khảo sát tại làng Xuân Trường đã nhận được sự hợp tác tích cực từ người dân, những người đã cung cấp thông tin chi tiết và cụ thể về trò diễn
và nguyện vọng của họ Đặc biệt, sự hỗ trợ nhiệt tình của lãnh đạo xã, vốn cũng là một trong những nghệ nhân của Trò Xuân Phả đã phần nào giúp tôi hiểu rõ vai trò và hoạt động của các cấp, đặc biệt là của cộng đồng trong việc bảo vệ trò diễn này Việc tiếp xúc gần gũi, tự nhiên với người dân và nghệ nhân làng, từ những cuộc trò chuyện tại nhà, đến những bữa ăn chung, đã giúp tác giả khám phá những khía cạnh “đời” hơn, chân thực hơn của trò diễn, cả những điều chưa từng được báo chí đề cập
Tuy nhiên, việc triển khai nghiên cứu cũng gặp một số khó khăn Là một di sản cấp quốc gia, việc xác định vai trò cụ thể của các cấp quản lý (huyện, tỉnh, sở) trong việc bảo tồn và phát huy trò diễn này gặp nhiều trở ngại Tài liệu thu thập được
từ các cấp này khá hạn chế và sự quan tâm của họ đối với di sản ở cấp này cũng không quá sát sao như so với các di sản cấp quốc gia đặc biệt hoặc các di sản được UNESCO ghi danh Trong khi vai trò của cấp huyện và tỉnh còn hạn chế, thì quá trình khảo sát, phỏng vấn thực địa cho tác giả nhận thấy vai trò trung tâm của chính quyền
Trang 20xã và cộng đồng làng Xuân Phả Sự am hiểu sâu sắc của họ về trò diễn là điều kiện tiên quyết cho mọi nỗ lực bảo vệ, phục hồi và phát huy di sản này
* Phương pháp xử lý tư liệu
Định lượng: Xử lý các số liệu thống kê thu thập được về số lượng người tham gia diễn trò, số thôn tham gia chuẩn bị và thi diễn trò trong ngày lễ hội làng, mức độ khán giả, số lượng các lớp đào tạo dạy múa trò và lượng người học, những nguồn kinh phí hỗ trợ… Từ đó giúp tác giả đánh giá thực trạng vai trò của chính quyền và cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản Trò Xuân Phả
Định tính: Phân tích, xử lý các câu trả lời trong quá trình phỏng vấn sâu nhằm nhìn nhận vai trò và sự ảnh hưởng của các nhóm cá nhân đối với công tác bảo vệ và phát huy giá trị trò diễn Xuân Phả, nguyên nhân và những mong muốn/đề xuất
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp góc nhìn vào công tác quản lý văn hóa, cụ thể là hoạt động quản lý nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản Trò Xuân Phả - vấn đề hiện nay còn thiếu sót và xem nhẹ Từ nhận diện hệ giá trị của Trò Xuân Phả và những vấn đề đang tồn tại, luận văn giúp người quản lý, người quan tâm đến Trò Xuân Phả nói chung,
có những phương án hiệu quả và bền vững trong công tác quản lý bảo vệ và phát huy
di sản Trò Xuân Phả
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được trình bày thành 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di sản Trò Xuân Phả
Chương 3: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Trò Xuân Phả
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm và các lý thuyết tiếp cận
1.1.1 Quản lý di sản văn hoá: Khái niệm và hướng tiếp cận
Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là việc “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [42, tr 800] Trong Từ điển Hán Việt, quản lý (管理)
là “sắp đặt chăm nom công việc” [1, tr 604] Quản lý là hoạt động vốn đã xuất hiện
từ rất sớm như một hoạt động tất yếu trong đời sống của con người và xã hội Quản
lý diễn ra ở tất cả các lĩnh vực khác nhau, trong tất cả các tổ chức, các quá trình, nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu một cách hiệu quả và phục vụ nhu cầu của con người Như tác giả Phạm Ngọc Thanh nhận định, quản lý là hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những công cụ và phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả nhất, trong điều kiện biến động của môi trường [49, tr 17]
Văn hoá đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau UNESCO định nghĩa văn hoá là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hoá không chỉ bao gồm văn học
và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin [61] Để văn hoá tham gia sâu hơn vào sự phát triển bền vững của đất nước, để những giá trị ấy được lưu giữ và phát huy vai trò trong tiến trình phát triển, công tác quản lý di sản văn hóa cần được quan tâm, coi trọng thường xuyên và không ngưng nghỉ
Theo Luật Di sản Văn hoá (2001), được sửa đổi, bổ sung (2009), di sản văn
hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể Trong đó, văn bản nêu rõ, di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác Tuy nhiên, di sản văn hóa phi vật thể không đơn thuần là những thứ vô hình
Trang 22(intangible) mà có thể bao hàm cả yếu tố hữu hình (tangible) “Di sản văn hóa phi vật thể [Intangible Cultural Heritage - ICH] do đó sẽ không chỉ bao gồm các hoạt động văn hóa mà còn bao gồm các hoạt động văn hóa và tất cả các hiện vật được sử dụng trong đó” [74, tr 39] Cụ thể hơn, những vật hữu hình (như dụng cụ, đồ vật, đồ tạo tác) trở thành di sản văn hóa phi vật thể khi được sử dụng trong các hoạt động văn hóa được xác định là di sản văn hóa phi vật thể Để minh họa cho mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, không thể tách rời giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, Gonçalves và Deacon đã mô tả chúng là “hai mặt của cùng một đồng tiền” [67, tr 153]
Công ước Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể (2003) xét tầm quan trọng của di
sản văn hoá phi vật thể và xem di sản văn hóa phi vật thể như là động lực chính của
đa dạng văn hoá và là một đảm bảo cho sự phát triển bền vững Công tác quản lý nhà nước về di sản văn hoá nói chung, trong đó có di sản văn hoá phi vật thể là mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng, hoạt động quản lý
di sản văn hoá, đặc biệt là quản lý di sản văn hoá phi vật thể là lĩnh vực rộng, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự tham gia và nỗ lực của nhiều tổ chức, bộ phận, cá thể, cộng đồng liên quan đến di sản
Theo Nguyễn Thị Hiền, “Quản lý di sản văn hóa là một hình thức, một thực hành quản lý các sản phẩm văn hóa, các nguồn lực văn hóa, đúc kết từ thực tiễn bảo
vệ, phục hồi, trao truyền Quản lý di sản văn hóa về mặt truyền thống liên quan đến việc nhận diện, lý giải, bảo vệ những tài sản văn hóa có ý nghĩa, có giá trị đối với cộng đồng quốc gia, dân tộc” [17, tr 44-45]
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay và sự bùng nổ của mạng xã hội, công tác quản lý di sản văn hoá đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức Một vấn
đề đặt ra là liệu có thể xem xét quản lý văn hoá theo hướng quản trị văn hoá? Quản
lý văn hoá hiện nay dù có sự tham gia của các ban ngành đoàn thể, các hội… nhưng cốt lõi vẫn là làm sao để đi theo định hướng, các chính sách, văn bản, luật của nhà nước Còn quản trị văn hoá nhấn mạnh sự tham gia của không chỉ riêng nhà nước mà của nhiều thành phần xã hội như cộng đồng và các bên liên quan, vào quá trình ra
Trang 23quyết định, giám sát, nhân sự,… Chức năng của quản lý chủ yếu là lập kế hoạch, tổ chức, nhân sự, điều hướng, đặc biệt kiểm soát được tất cả các hành động trong công tác quản lý Trong khi đó chức năng của quản trị là giám sát, kiểm tra, có sự tham gia, hội nhập và dung hội của đa dạng các thành phần/các nhóm; đặc biệt là việc các thành phần được ra quyết định trong quá trình thực hành các chức năng quan trọng, trên cơ sở này, lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan có thể được áp dụng được một cách hiệu quả
Quản lý Nhà nước về di sản văn hoá
Đối với lĩnh vực quản lý di sản văn hoá tại Việt Nam, quản lý Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, định hướng trong công tác bảo vệ, phát huy các giá trị di sản văn hoá Quản lý Nhà nước là sự tác động của các tổ chức, các cơ quan và sự điều chỉnh dựa trên quyền lực, trong đó có các hoạt động thực thi luật pháp của Nhà nước Các văn bản chỉ đạo, các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát huy di sản văn hoá ngày càng được quan tâm, điều chỉnh, bổ sung cho sâu sát với thực tế những biến đổi của chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; tuy nhiên, việc thực thi những chỉ đạo này tại các cộng đồng địa phương không phải là điều dễ dàng và còn nhiều hạn chế
Tác giả Nguyễn Thị Hiền cho rằng, công tác “quản lý nhà nước về di sản văn hoá phi vật thể không đơn thuần chỉ là công tác quản lý hành chính, hoạch định các chiến lược, chính sách, mà còn phải thực thi những chức năng như chỉ đạo, điều hành, phối hợp, và hỗ trợ cộng đồng về nguồn lực (tài chính, nhân lực, vật lực), về kiểm tra giám sát…” [17, tr 8] Cùng quan điểm về tầm quan trọng của quản lý Nhà nước, tác giả Từ Thị Loan cũng cho biết, “tổ chức, quản lý một di sản văn hóa phi vật thể như
lễ hội truyền thống, ngoài việc xây dựng chương trình, bố trí nguồn nhân lực, tìm kiếm nguồn tài trợ, còn phải có kế hoạch về hậu cần, an ninh, y tế, vệ sinh thực phẩm
Do vậy, việc quản lý di sản văn hóa cần có chỉ đạo, hướng dẫn của chính quyền trung ương và các cấp, các ngành” [32] Hơn nữa, vì là một loại hình nhạy cảm nên di sản văn hóa phi vật thể cần được quan tâm thích đáng trên nhiều phương diện, trong đó không thể thiếu việc đầu tư kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, khảo
Trang 24cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy tác dụng các di sản văn hóa phi vật thể [36, tr 11]
9-Để quản lý di sản văn hóa, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế đang phát triển không ngừng, các quốc gia đã cho ra đời các bộ luật về di sản văn hóa, ví như công cụ pháp lý để kiện toàn và quản lý hiệu quả các di sản văn hóa
Trong Luật Di sản Văn hoá (2001) và sửa đổi, bổ sung (2009), hoạt động “Quản lý
Nhà nước về di sản văn hoá” được nêu rõ trong Chương V Trong đó, tại Mục 1, Điều
54, “Nội dung quản lý Nhà nước về di sản văn hóa” bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá;
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;
6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa
Nghị quyết hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng năm 1998 tuyên bố “xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Từ nghị quyết này, các địa phương như có “chiếc ô bảo vệ” để nỗ lực đề xuất di sản của mình, nhưng cũng đồng thời làm tăng vai trò của Nhà nước, thậm chí là tăng sự “kiểm soát” các hoạt động văn hoá địa phương Điều này phần nào thể hiện tính hai chiều nhiều cấp
Trang 25trong mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng và các bên liên quan trong công tác quản lý di sản văn hoá
Quản lý Nhà nước về di sản cũng có thể được hiểu là cách quản lý di sản để
sử dụng di sản Điều này có thể vận dụng khái niệm diễn ngôn di sản (heritage discourse), cụ thể là sự ảnh hưởng trong cách tiếp cận của phương Tây đối với việc bảo vệ di sản, là cách mà di sản được hình dung, truyền bá và “tiêu thụ” Tác giả
Laurajane Smith trong cuốn sách Uses of Heritage đã khám phá cách di sản được sử
dụng trong việc củng cố cũng như thách thức các yếu tố bản sắc truyền thống, đồng thời tác giả cũng nêu ra cách các nhóm bản địa sử dụng di sản làm tài nguyên chính trị và văn hóa [69]
Quản lý Nhà nước về di sản văn hoá phi vật thể
Như đã phân tích, di sản văn hoá phi vật thể là những giá trị văn hóa được lưu giữ và truyền tải qua các hoạt động, kỹ năng, nghi lễ, biểu diễn, phong tục tập quán, ngôn ngữ, âm nhạc, nghệ thuật, văn học,… Tính phi vật thể và tính “động” (không
cố định) làm cho việc quản lý phức tạp hơn vì nó phụ thuộc vào sự thực hành, sáng tạo và truyền thụ liên tục của cộng đồng Di sản văn hoá phi vật thể không tồn tại độc lập mà gắn liền với cộng đồng sở hữu, thực hành và duy trì nó, vì vậy vai trò của cộng
đồng rất quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản Luật Bảo tồn Di sản
Văn hóa của Nhật Bản hiện hành (sửa đổi năm 2004) cũng phản ánh điều này thông
qua quy địnhtại Mục 4, Điều 56 Quy định này cho biết nếu cá nhân hay tổ chức lưu truyền di sản văn hóa phi vật thể trọng yếu không còn hoặc bị giải thể thì việc công nhận đối với di sản văn hóa phi vật thể trọng yếu cũng bị bãi bỏ [43, tr 69]
Hơn nữa, không giống như di sản văn hóa vật thể có thể được định giá dựa trên vật chất hoặc giá trị kinh tế, di sản văn hóa phi vật thể thường khó đo lường giá trị này Nếu di sản văn hóa vật thể đòi hỏi sự bảo vệ vật lý (bảo trì, trùng tu, phục dựng…) thì di sản văn hóa phi vật thể tập trung vào việc bảo vệ giá trị tinh thần và duy trì thực hành thông qua trao quyền cho cộng đồng, giáo dục, khuyến khích cộng đồng thực hành và truyền thụ Trong cách tiếp cận quản lý, nếu di sản văn hóa vật thể thường có thể được Nhà nước trực tiếp quản lý thông qua việc ban hành luật, quyết
Trang 26định bảo tồn và triển khai các dự án trùng tu cụ thể, thì di sản văn hóa phi vật thể cần
sự tham gia nhiều hơn từ cộng đồng vì sự tồn tại của di sản này phụ thuộc lớn vào người dân Hướng bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể do đó cũng thiên về các chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức và truyền dạy để duy trì giá trị di sản qua các thế
hệ, thay vì các giải pháp kỹ thuật như đối với di sản văn hóa vật thể Muốn phát triển bền vững loại hình di sản phi vật thể nhất thiết cần được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường vai trò của cộng đồng tham gia tích cực vào việc bảo vệ, phát huy
di sản; Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp hỗ trợ cho cộng đồng; Nâng cao nhận thức của cộng đồng; Đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, đặc biệt là từ chính cộng đồng Cũng cần lưu ý rằng, việc bảo tồn nguyên trạng di sản văn hóa phi vật thể
là điều dường như không thể, ngược lại, cần bảo vệ và phát huy giá trị của chúng trong đời sống hiện đại
1.1.2 Phát triển bền vững và hướng tiếp cận lý thuyết Di sản sống
Cho đến nay, phát triển bền vững không còn là khái niệm xa lạ Trong phát triển bền vững, văn hoá cần được xem là một trong những trụ cột hoặc là yếu tố mang tính nền tảng, bên cạnh các cột trụ: kinh tế, xã hội, môi trường Phát triển bền vững không nên xa rời văn hoá, mà ngược lại, nên dựa vào văn hóa nhưng không được làm tổn hại đến sự phát triển của các thế hệ tương lai Trong Nghị quyết Trung ương 5
(khoá VIII) năm 1998 về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam xem văn hóa là nền tảng tinh thần và
động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững Tuy nhiên, việc triển khai trong thực tiễn vẫn chưa thấu đáo và còn nhiều thách thức trên con đường phát triển bền vững Tri thức địa phương được coi là kho báu tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác, là nguồn lực vô tận cho sự phát triển Tìm kiếm và phát huy năng lực sáng tạo của người dân là cách tốt nhất để khai thác nguồn lực nội sinh của cộng đồng Những người có
uy tín trong cộng đồng có thể giúp khuyến khích sự tham gia và đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng
Tác giả Elizabeth Auclair và Graham Fairclough trong Theory and Practice in
Heritage and Sustainability đã xem xét khái niệm phát triển bền vững (sustainable
Trang 27development) trong di sản văn hóa, theo đó, phát triển bền vững không chỉ là vấn đề
về môi trường, mà còn là vấn đề về xã hội và văn hóa Phát triển bền vững cần phải đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời tôn trọng các giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng [66, tr xvi] Phát triển bền vững di sản là một quá trình liên tục, không chỉ là việc bảo tồn vật chất, mà còn là việc duy trì và phát huy giá trị văn hóa, xã hội của di sản Phát triển bền vững di sản cần phải dựa trên sự tham gia tích cực của cộng đồng, tôn trọng các giá trị văn hóa và truyền thống của cộng đồng, đồng thời hướng đến việc phát huy giá trị của di sản, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững cho cộng đồng Tác giả đưa ra một cách tiếp cận mới để phát triển di sản bền vững - cách tiếp cận di sản sống (living heritage approach) Cách tiếp cận này được xem là một sự đổi mới chiến lược trong lĩnh vực bảo tồn di sản vì nó thay đổi cách chúng ta hiểu về di sản, trao quyền cho cộng đồng
- chủ thể chính
Tiếp cận bảo vệ và phát huy giá trị di sản theo hướng phát triển bền vững là yếu tố góp phần duy trì sự đa dạng văn hóa Bởi di sản văn hoá được coi là sản phẩm
do con người ở nhiều thế hệ tạo ra Công ước bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể (năm
2003) của UNESCO đề cập, di sản văn hóa phi vật thể như là động lực chính của đa dạng văn hóa và là một đảm bảo cho sự phát triển bền vững Các cộng đồng, đặc biệt
là các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân bản địa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra, bảo vệ, duy trì và tái sinh di sản văn hóa phi vật thể, từ đó làm giàu thêm sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con
người Với Công ước Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hoá (2005),
UNESCO đưa ra khái niệm đa dạng văn hoá được hiểu là đề cập đến nhiều cách thức khác nhau, mà thông qua đó nền văn hoá của các nhóm người và các xã hội tìm ra cách biểu đạt Những biểu đạt này được lưu truyền trong nội bộ, giữa các nhóm người
và xã hội [60, tr 7] Công ước này nhấn mạnh rằng đa dạng văn hóa không chỉ thể hiện ở các hình thức biểu đạt khác nhau của di sản văn hóa mà còn được thể hiện qua các cách thức sáng tạo, sản xuất, phổ biến, phân phối và hưởng thụ nghệ thuật đa dạng, sử dụng bất cứ phương tiện và công nghệ gì
Trang 28Di sản văn hoá phi vật thể có tính đa dạng nhưng đồng thời cũng góp phần tôn tạo nên bản sắc và nét độc đáo cho cộng đồng Như quan niệm “văn hoá phi vật thể mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân rất rõ rệt Bởi thế sự sáng tạo, bảo tồn và trao truyền của văn hoá phi vật thể lại phụ thuộc vào cuộc đời của từng cá nhân Vì vậy, nó vừa mang tính bền chắc (tiềm ẩn trong tâm thức dân tộc) lại vừa mỏng manh, dễ bị tổn thương (phụ thuộc vào cuộc sống của một cá nhân)” [53, tr 76] Việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể không thể tách rời con người, cộng đồng, đặc biệt là nghệ nhân - người nắm giữ di sản văn hoá phi vật thể Nghệ nhân đóng vai trò then chốt trong việc duy trì các hoạt động như thực hành, sáng tạo, trao truyền và kế thừa Đặc biệt, tác giả Phạm Cao Quý đưa ra khái niệm
“nghệ nhân là người nắm giữ và thực hành ở trình độ cao những hiểu biết, kỹ năng,
kỹ thuật một hay nhiều lĩnh vực của di sản văn hoá phi vật thể” [46, tr 149]
Tác giả Ioannis Poulios định nghĩa khái niệm Di sản sống (living heritage) dựa trên yếu tố tính liên tục (continuity) [71, tr 115] Tác giả chỉ ra rằng khái niệm Di sản sống đang được sử dụng nhiều nhưng việc xác định rõ ràng khái niệm của nó vẫn còn nhiều tranh cãi Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về Di sản sống, chúng ta cần dựa vào yếu tố tính liên tục, tức là sự kế thừa và phát triển liên tục của di sản qua nhiều thế
hệ Để xác định tính liên tục của di sản sống, tác giả đưa ra bốn tiêu chí chính: (i) di sản vẫn giữ được chức năng ban đầu mà nó được tạo ra; (ii) Cộng đồng tạo ra di sản vẫn duy trì mối liên hệ mật thiết với di sản và coi nó là một phần quan trọng trong cuộc sống của họ; (iii) Cộng đồng vẫn duy trì cách thức chăm sóc và bảo quản di sản; (iv) Tiêu chí phát triển liên tục - di sản không ngừng phát triển và thích nghi với sự thay đổi của xã hội, môi trường và thời gian Theo đó, việc bảo vệ di sản sống cần phải dựa trên sự tham gia tích cực của cộng đồng, mà không riêng chỉ là việc bảo quản vật chất Để bảo vệ và phát huy di sản sống, cần có những chính sách phù hợp, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và bảo đảm quyền lợi của họ trong việc bảo
vệ di sản Không chỉ nêu lên định nghĩa, Ioannis Poulios cũng đề cập đến chiến lược bảo tồn di sản, tập trung vào hướng tiếp cận bảo tồn mới – hướng tiếp cận di sản sống (living heritage approach) - nhằm thúc đẩy trao quyền cho cộng đồng địa
Trang 29phương và phát triển bền vững [70, tr 16] Với hướng đi này, tác giả tập trung vào việc bảo tồn di sản như một phần sống động của cộng đồng, trao quyền cho cộng đồng tham gia vào việc quản lý và bảo tồn di sản Ngoài nhấn mạnh tính liên tục của
di sản như đã đề cập, tác giả còn tập trung trao quyền cho cộng đồng - chủ thể chính trong việc bảo tồn di sản, thay vì chỉ là đối tượng được bảo vệ Cách tiếp cận di sản sống được coi là một sự đổi mới chiến lược (strategic innovation) trong lĩnh vực bảo tồn di sản Cách tiếp cận này thay đổi cách chúng ta hiểu về di sản, cách chúng ta bảo tồn di sản và cách chúng ta trao quyền cho cộng đồng Cách tiếp cận này thách thức các lý thuyết bảo tồn truyền thống, đặc biệt là những lý thuyết tập trung vào bảo vệ vật chất và xem di sản như một sản phẩm của quá khứ; thể hiện sự tôn trọng văn hóa, truyền thống và kiến thức của cộng đồng địa phương và bản địa và hướng đến việc phát huy giá trị của di sản, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững cho cộng đồng
1.1.3 Vai trò và sự tham gia của cộng đồng
Tầm quan trọng của cộng đồng đối với bảo tồn, bảo vệ di sản được nhấn mạnh với dấu mốc năm 2007 khi Ủy ban Di sản thế giới cho rằng cần phải thêm cộng đồng vào các mục tiêu chiến lược để thúc đẩy việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới [79, tr.1-7] Cụ thể, Uỷ ban Di sản Thế giới đề cập tầm quan trọng của việc kết hợp cộng đồng vào các mục tiêu bảo tồn di sản trên 4 khía cạnh: 1- Bảo vệ di sản không
thể thiếu sự tham gia và cam kết của cộng đồng – hay việc bảo vệ di sản chỉ thành
công khi có sự ủng hộ và đóng góp tích cực từ cộng đồng địa phương; 2- Sự gắn kết cộng đồng với công tác bảo tồn di sản là phương pháp tốt nhất đúc kết từ kinh nghiệm quốc tế; 3- Bảo vệ di sản đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, trong
đó cộng đồng đóng vai trò then chốt; 4- Bảo vệ di sản cần đáp ứng nhu cầu của con người: Việc bảo tồn di sản phải hướng đến lợi ích của cộng đồng, vì con người là trung tâm của công tác bảo tồn Bảo tồn không chỉ là việc bảo vệ các hiện vật, mà còn là bảo vệ văn hóa và đời sống của cộng đồng, tích hợp cộng đồng vào mọi khía cạnh của công tác bảo tồn di sản để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả lâu dài Báo cáo của Ủy ban Di sản Thế giới đã tập trung vào việc xác định mục tiêu chiến lược nhằm thúc đẩy vai trò của cộng đồng trong bảo tồn di sản Trong đó, UNESCO
Trang 30thừa nhận rằng việc bảo vệ di sản mà không có sự tham gia và cam kết của cộng đồng
là một sự thất bại Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ di sản, việc bảo vệ di sản mà không có sự tham gia của cộng đồng sẽ dẫn đến nhiều hạn chế, nhiều vấn đề Tuy nhiên, việc thúc đẩy vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản vẫn còn nhiều thách thức như: Thiếu cơ chế và chính sách rõ ràng để thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng; Thiếu sự tin tưởng và tôn trọng đối với cộng đồng địa phương; Khó khăn trong việc kết nối và phối hợp giữa cộng đồng với các cơ quan quản lý di sản UNESCO cũng đề xuất một số giải pháp để giải quyết các thách thức này như: Xây dựng cơ chế và chính sách rõ ràng để thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng; Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của cộng đồng về vai trò của họ trong việc bảo tồn di sản; Thúc đẩy sự hợp tác và phối hợp giữa cộng đồng với các cơ quan quản lý di sản
Xét đến vai trò của cộng đồng trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể, tác giả Đặng Văn Bài cho rằng, “trong lễ hội truyền thống, cộng đồng cư dân tham gia với nhiều tư cách khác nhau: chủ thể sáng tạo văn hoá, chủ sở hữu di sản văn hoá, người nắm giữ, trình diễn, thực hành văn hoá, người hưởng thụ văn hoá, người có vai trò bảo tồn, truyền dạy và được hưởng lợi qua hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống…” [4, tr 39] Đồng quan điểm với Đặng Văn Bài, tác giả Phạm Cao Quý cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cộng đồng, “cộng đồng có vai trò như một điểm tựa của di sản văn hoá phi vật thể vì tất cả thành viên trong các cộng đồng là những người cùng thực hành, sáng tạo, gìn giữ và truyền dạy di sản Một di sản văn hoá phi vật thể muốn duy trì được sức sống phải có ý nghĩa với cộng đồng và liên tục được cộng đồng đó tái tạo, lưu truyền từ đời này qua đời khác” [46,
tr 37] Hay, “cộng đồng cư dân địa phương với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hoá
có vai trò quyết định trong việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội” [4, tr 40] Trên phương diện pháp lý, “cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra những quy định/quy ước bảo vệ di sản phù hợp với truyền thống văn hoá và bảo đảm tính pháp lý của nhà nước, để thực thi các biện pháp bảo vệ di sản trong cộng đồng một cách tự giác và tự chủ” [17, tr 8] Có thể thấy, cộng đồng có vai trò chủ động, tích cực trong quản lý di sản văn hoá, điều này cũng phù hợp với quan điểm bảo vệ và
Trang 31phát huy giá trị di sản văn hoá là trách nhiệm trước hết của cộng đồng [20, tr 44] Làm thế nào để khuyến khích sự tham gia tối đa của cộng đồng là yếu tố cần được quan tâm hàng đầu bởi “chính họ là người làm nên giá trị lễ hội và quyết định cách thức bảo vệ di sản của họ Họ là đối tác làm việc với các nhà quản lý văn hoá để bảo
vệ lễ hội” [37, tr 37] Tuy nhiên, cho đến nay vẫn đang tồn tại thực tế cho rằng cộng đồng là chủ thể văn hoá của di sản, cộng đồng sẽ tham gia trong mọi công đoạn liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản, nhưng trong thực tế thì vai trò của cộng đồng chưa thực sự được xem trọng hoặc vai trò đang ở mức thụ động - vẫn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Nhà nước
Tính đa dạng trong kho tàng di sản văn hoá phi vật thể của Việt Nam một phần thể hiện ở sự đa dạng trong vùng miền, quy mô, các địa phương, địa vực lưu giữ các
di sản văn hoá Đối với lễ hội truyền thống, làng - nơi lễ hội được hình thành, thực hành và trao truyền, thường là nhóm cộng đồng quan trọng bậc nhất trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản Lễ hội làng phần lớn được diễn ra ở đình làng, gắn với đời sống của dân làng Lễ hội là hình thức sinh hoạt cộng đồng tiêu biểu của làng xã Theo Trần Lâm Biền, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá của cộng đồng, cần thiết để giữ cân bằng cho cuộc sống thôn dã vất vả Lễ hội mang tính dân gian, đa dạng, “đáp ứng nhu cầu thiết tha của dân chúng làng xã trong quá khứ và trong hiện tại, giúp con người vượt qua tính vị kỷ, hướng về đoàn kết cộng đồng” [6, tr 173]
Ở Việt Nam, cộng đồng làng vốn có đặc trưng cố kết, gắn kết mật thiết giữa các thành viên trong làng Sự cố kết cộng đồng làng có ý nghĩa quan trọng để tạo ra không gian văn hoá cơ bản ổn định, có thể góp phần bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, nếu trong quá khứ, yếu tố huyết thống, cội nguồn và không gian sinh tồn là những yếu tố chính tạo nên sự gắn kết cộng đồng làng, thì ngày nay, lợi ích và sự quan tâm chung cũng là những yếu tố quan trọng đối với sự bền chặt của cộng đồng làng
Cộng đồng không chỉ bó hẹp là những người dân sống trực tiếp ở địa phương,
mà được hiểu rộng hơn, gồm các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, cơ quan truyền thông, các tổ chức phi quan phương, các công ty, hiệp hội, câu lạc bộ,… chịu ảnh hưởng của
Trang 32di sản hoặc có thể có những ảnh hưởng nhất định đến di sản Điều này trên cơ sở áp dụng lý thuyết về các bên liên quan (Stakeholder theory) là một quan điểm về chủ nghĩa tư bản nhấn mạnh các mối quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp và khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, nhà đầu tư, cộng đồng và những người khác có cổ phần trong tổ chức Lý thuyết này cho rằng một công ty nên tạo ra giá trị cho tất cả các bên liên quan chứ không chỉ các cổ đông Năm 1984, tác giả R.Edward Freeman được
cho là người khởi đầu trình bày chi tiết về lý thuyết này trong cuốn Strategic
Management: A Stakeholder Approach (Quản trị chiến lược: cách tiếp cận từ các bên liên quan) Lý thuyết này cho rằng tổ chức có nghĩa vụ phải đối xử công bằng
giữa các bên liên quan, ban quản lý cần có phương pháp quan tâm đúng mức đến lợi ích của các nhóm, trong trường hợp các bên liên quan có xung đột lợi ích, tổ chức phải có nghĩa vụ đạt được sự cân bằng tối ưu giữa chúng
Đối với di sản văn hoá, sự phong phú, đa dạng của các biểu đạt cũng như tương lai của di sản chính nhờ dựa vào sự tham gia, đóng góp của từng cá nhân đến của nhiều nhóm xã hội khác nhau có liên quan đến di sản Tùy vào loại hình di sản (vật thể, phi vật thể) và đặc điểm, tính chất của từng bên liên quan, mà các bên có thể có cách thức tham gia khác nhau Nhà nước quản lý, chỉ đạo và điều hành công tác quản
lý di sản; cộng đồng địa phương là chủ thể văn hoá của di sản, trực tiếp thực hành, trao truyền và sáng tạo di sản; những nhà nghiên cứu là các chuyên gia tại các cơ quan, các viện nghiên cứu, các trường đại học đóng góp sự đánh giá, nhận xét, hay diễn ngôn có thẩm quyền về di sản góp phần đề xuất cơ quan quản lý có những điều chỉnh về các chính sách, quy định phù hợp; cơ quan truyền thông thiên về vai trò phổ biến, quảng bá, truyền tải những câu chuyện có chất liệu từ giá trị di sản, đồng thời cập nhật, phản ánh những vấn đề của di sản đến các bên liên quan Vì lẽ đó, trong hoạt động quản lý di sản, thiết yếu cần tham khảo ý kiến rộng rãi từ các bên liên quan
để giảm thiểu nhất có thể những tiêu cực hay hạn chế
Trang 331.2 Trò Xuân Phả
1.2.1 Vài nét về làng Xuân Phả
Về điều kiện địa lý tự nhiên, làng Xuân Phả nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ thuộc hữu ngạn sông Chu (là nhánh sông lớn nhất trong hệ thống sông Mã và là sông lớn thứ hai ở tỉnh Thanh Hóa), nay thuộc xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Về ranh giới, xã Xuân Trường nằm gần trung tâm huyện lỵ Thọ Xuân, phía Tây giáp sông Chu Xã có vị trí thuận lợi, cận giang, cận thị, tạo điều kiện cho giao lưu, tiếp xúc kinh tế, văn hóa với các vùng lân cận Xã “vốn là vùng đất trũng thấp, quanh năm ngập nước, dân gian thường gọi là “Đinh Mùi Khố” (tức là túi đựng nước) nhưng tương đối bằng phẳng” [3, tr 12] Vùng đất trũng này sau là địa bàn sinh tụ của cư dân Xuân Trường, với những ngôi làng giàu phù sa, nghề nông trồng lúa nước là hoạt động kinh tế chủ đạo Trên khía cạnh lịch sử văn hóa, sông Chu như tuyến giao thông đưa các dòng người và dòng họ từ nhiều vùng đất đến đây khai phá, dựng nên làng xóm Sông Chu được xem như “cầu nối” thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng
Từ địa phận làng Xuân Phả đến di tích Lam Kinh (nơi phát tích của nhà Lê
Sơ, cũng đóng vai trò như một Tây Kinh sau Thăng Long) khoảng 15km Vị trí địa
Trang 34lý gần gũi này là cơ sở cho những luồng ảnh hưởng, tiếp nhận, giao lưu và lan tỏa văn hóa đa chiều giữa trung tâm (Lam Kinh) và ngoại vi (làng Xuân Phả) và các vùng văn hóa tỉnh Thanh Hóa để hình thành nên một hệ thống trò Xuân Phả như ngày nay
Ảnh chụp vệ tinh khu vực Lam Kinh – Xuân Phả
Nguồn: Google map ( https://s.pro.vn/6ovR)
Về đặc điểm làng xã và dân cư, làng Xuân Phả nói riêng, xã Xuân Trường nói chung là vùng đất mang bề dày lịch sử văn hóa Từ thời kỳ dựng nước, Xuân Trường vốn thuộc đất bộ Cửu Chân Riêng làng Xuân Phả (trước gọi là làng Xuân Phố) “được hình thành từ một làng Việt cổ thời Lý – Trần có tên là Láng Trang (còn gọi là Kẻ Láng)” [3, tr 19] Ngày nay, nhân dân trong xã vẫn còn dùng tên Kẻ Láng, như khi
bà con rủ nhau đi xem hội Láng (hội ở làng Xuân Phả), hay câu ca “Ăn bánh với giò không bằng xem trò làng Láng” Trước năm 1945, cơ cấu xã hội của xã Xuân Trường gồm 6 giáp với các tên gọi: giáp Thượng, giáp Trung, giáp Giữa, giáp Đoài, giáp Đông, giáp Yên Mỗi giáp có một ngôi đình (đình giáp) Sau cải cách ruộng đất năm
1955, xã Xuân Trường gồm 10 xóm, khi chuyển đổi thành hợp tác xã toàn xã, các xóm được gọi theo tên đội sản xuất – gồm 12 đội Năm 2017, xã Xuân Trường sáp nhật còn 6 thôn, có khoảng 1500 hộ dân Xã Xuân Trường gồm 6 thôn, tụ cư của 15 dòng họ, nhiều dòng họ từ nhiều vùng đất khác nhau đến khai hoang lập ấp (được cho
là từ khoảng thế kỷ X về sau), trong đó có những dòng họ lớn như: Đỗ Văn, Đỗ Đình,
Đỗ Viết, Đỗ Trọng và họ Trịnh Một nét đặc trưng về dòng họ tại xã Xuân Trường cho thấy sự đa dạng về dân cư nơi đây là xã có đến 11 dòng họ Đỗ nhưng không cùng huyết thống, phân biệt với nhau ở chữ lót (như Đỗ Viết, Đỗ Đình, Đỗ Văn…)
Về hoạt động kinh tế, nơi đây được phù sa sông Chu bồi đắp, ngàn đời nay cư dân gắn bó với nghề nông trồng lúa nước, ngoài ra còn có trồng cây hoa màu, chăn nuôi, kéo mật, làm tương truyền thống Quanh năm (trừ ngày Tết Nguyên đán, giỗ, hội làng), bất kể ai cũng đều bận rộn với công việc đồng áng như cày bừa, gieo cấy, chăm bón, tát nước, thu hoạch,… Hiện nay xã còn bảo tồn được nhiều tên xứ đồng
Trang 35cũ như đồng Nhà Thuần, đồng Dọc Duyệt, đồng Thó (hay còn lại là Đường Thứa),… phản ánh phần nào lịch sử, đặc điểm địa hình, dân cư nơi đây Ngoài ra, người dân cũng tranh thủ mua bán và trao đổi hàng hóa như trầu cau, hoa quả, bánh kẹo, đồ đan,
đồ đựng,… tại các chợ quê để cải thiện cuộc sống cho gia đình Hoạt động tại các chợ quê đến nay còn nhỏ lẻ, song đây là nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống thường nhật của người dân trong làng
1.2.2 Lịch sử hình thành và hình thức diễn xướng của Trò Xuân Phả
Trò Xuân Phả là một tổ hợp nghệ thuật múa, hát và trò diễn đặc sắc của vùng dân gian xứ Thanh có lịch sử hình thành sớm, vào khoảng thế kỷ X Khởi đầu là lớp văn hóa dân gian được cho là hình thành khoảng thế kỷ X, đến thế kỷ XV yếu tố cung đình trở nên đậm nét và có thể có việc cung đình hóa điệu múa dân gian đã có sẵn Đến thế kỷ XVI - XVII, Trò Xuân Phả tiếp tục được bổ sung điệu múa Hoa Lang với
ý nghĩa quan hệ giao lưu của Đại Việt với phương Tây Trò Xuân Phả còn được biết đến với cái tên “Ngũ trò” cho thấy phần nào sự cấu thành bởi nhiều lớp văn hóa đan xen, được hình thành và hoàn thiện trong một thời kỳ dài lịch sử của trò diễn này Trò diễn này là một tổ hợp múa “độc nhất vô nhị” hiện nay chỉ xuất hiện tại làng Xuân Phả, xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Hàng năm vào 2 ngày: mồng 9 và 10 tháng 02 âm lịch, dân làng Xuân Phả mở hội tế Thành hoàng làng Đại Hải Long Vương Hoàng Lang tướng quân Ngoài phần
lễ tế Thành hoàng là phần hội, trình diễn hệ thống trò gồm: thi hai trò chơi (Kéo hội, Chạy giải) và múa năm trò diễn trong Trò Xuân Phả do các thôn thực hiện Trò Xuân Phả mang ý nghĩa biểu trưng cho quan hệ bang giao Đại Việt trong lịch sử: trong đó,
trò Ngô Quốc biểu thị mối quan hệ bang giao của Đại Việt với các triều đình phương
Bắc; trò Chiêm Thành và trò Ai Lao biểu trưng cho mối quan hệ triều cống của Chiêm Thành, Ai Lao với Đại Việt; trò Hoa Lang thể hiện những tiếp xúc của Đàng Ngoài với thế giới “Hoa Lang”- văn minh phương Tây; và trò Tú Huần mang sắc thái câu
chuyện dân gian
Về cách thức trình diễn, trò Tú Huần (còn gọi là Lục hồn nhung) mang tích
truyện “Một mẹ mười con” trong dân gian Thanh Hóa Diễn trò Tú Huần gồm 13
Trang 36nhân vật: 1 cố già, 1 người hầu cố, 1 mẹ, 10 con Tất cả đều đẹo mặt nạ (trừ người hầu cố) và mặc áo tứ thân màu xanh chàm, đầu đội mũ lóng Mặt nạ làm bằng gỗ son màu trắng có các nốt chấm trên mặt, phân biệt tuổi tác qua số răng minh họa trên mặt
nạ [Xem Phụ lục số 2] Mỗi người con đeo những chiếc mặt nạ với sắc thái biểu cảm riêng Tất cả đều bái trước hương án, sau đó đội trò kết hợp với các động tác ngồi xổm, tay múa sênh, chân nhảy cóc theo từng nhịp trống, mõ Trò Tú Huần vừa múa vừa hát, dưới đây xin dẫn một đoạn:
“Tú Huần kia hỡi Tú Huần,
Mẹ đi đánh trống lấy phần con ăn
Ăn rồi con lại giữ nhà,
Mẹ đi đánh trống rước cha con về
Cha con đã về ở tê (tê= kia)
Quần quần áo áo rê rê cả đường”
[57, tr 22]
Trò Ngô Quốc biểu thị mối quan hệ giữa các triều đình phương Bắc với Đại
Việt Diễn trò Ngô Quốc gồm 17 nhân vật: ông chúa Tàu, 2 nàng tiên, 1 bà nàng, thầy địa lý, thầy thuốc, anh bán kẹo, 10 quân Chúa và 10 quân đội mũ vải hình chóp nón, chỏm mũ có mào đỏ, áo lụa màu lam, không thêu vẽ gì, duy có áo chúa có thêu mặt
hổ phù trước bụng và sau lưng Khi chúa phát ra hai tiếng “Xi lô” thì tất cả quỳ xuống
và cúi đầu vái ba lần trước hương án Sau đó chúa múa siêu đao, quân xếp thành hai hàng dọc, mỗi người cầm một mái chèo, tiếp đến chúa cầm Mã la đứng đầu, mế nàng cầm quạt đứng đầu, theo nhịp trống, tất cả múa hát chèo thuyền đến hết Có đoạn chúa đọc văn tế:
“Thần văn Ngô Quốc hữu đoạ, tư duy lai vương
Thần Ngô địa tiếp Nam phương”
[57, tr 26]
Trò Chiêm Thành mô phỏng việc nước Chiêm Thành đến tiến cống vua Đại
Việt Trò có biển hiệu: “Chiêm Thành đồ tiến cống” với 14 nhân vật: ông chúa, 1 hầu chúa, 2 phỗng, 10 quân Chúa và 10 quân đều áo dài năm thân đỏ; đeo mặt nạ gỗ
Trang 37giống nhau, sơn đỏ, đục nổi mũi, miệng mím; khăn vuông buộc trên đầu có hai sừng đứng thẳng Chúa cùng đoàn quân đều bái trước hương án Sau đó quân xếp thành hai hàng dọc, động tác cơ bản là hai tay chống vào hông rồi giật vai, tiếp đến là múa tung hoa theo nhịp trống, cuối cùng lặp lại động tác giật vai để tiến lên vái trước hương án Tiếng nhạc và trống chiêng của trò Chiêm Thành dồn dập, mạnh mẽ, không
Trò Hoa Lang mô phỏng sự tiếp xúc giữa Đàng Ngoài với phương Tây Trò
có biển hiệu “Hoa Lang đồ tiến cống” Diễn trò gồm 16 nhân vật: ông chúa, 1 mế nàng, 10 quân, 2 người đội lốt kỳ lân, 2 người cưỡi ngựa Chúa và quân mặc áo năm thân màu lam (màu nước biển) có mặt hổ phù, rồng chầu mặt nguyệt và mây màu vàng, dưới có sóng thuỷ ba (ba đường sóng lượn); đội mũ da bò màu đen; mặt nạ cũng bằng da bò Chúa và quân đều quỳ, hai tay chống xuống đất vái trước hương án
ba vái Theo nhịp trống, mõ, chúa và quân lần lượt biểu diễn các điệu múa đấu roi, kéo quạt, múa siêu đao, múa phất cờ, múa cờ lem, rồi vừa múa chèo thuyền vừa hát cho đến khi kết thúc Xin dẫn một đoạn hát:
“Trò tôi ở bên Hoa Lang
Tôi nghe đức chính tôi sang chèo cháu
Khoan là khoan
Trang 38Thuyền đà tới bến các quan ta chèo.”
“Chúc mừng tuổi Vua vạn niên,
Ngai rồng ngự trị dân yên thái hoà”
[57, tr 16-17] Ngoài Ngũ trò diễn chính, Trò Xuân Phả còn có 2 trò phụ là trò chơi Kéo hội
và Chạy giải Những thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong làng được chọn tham gia,
xếp thành hai cánh quân, mỗi cánh có 12 người, đại diện 12 sứ quân Trang phục là đầu chít khăn đỏ, mặc áo dài lương, lưng thắt khăn xanh, quần trắng, tay cầm cờ màu
đỏ có in hình rồng, đỉnh cán cờ có túm bông lau Cánh quân có thủ lĩnh đứng đầu để chỉ đạo cuộc thi chạy và phất cờ
Về lịch sử hình thành, dựa trên hướng tiếp cận liên ngành giữa lịch sử văn hoá học và lịch sử cổ trung đại, kết hợp với nghiên cứu tư liệu và thực địa, có thể lý giải Trò Xuân Phả được hình thành dựa trên kết quả của sự tích hợp và “bồi tụ” khá phức tạp từ nhiều lớp văn hóa qua nhiều thời kỳ, bao gồm cả yếu tố văn hóa cung đình và diễn xướng dân gian [50, tr 36-39] Khởi đầu là lớp văn hóa dân gian được hình thành ban đầu đến thế kỷ XV yếu tố cung đình trở nên đậm nét và có thể có việc cung đình hóa điệu múa dân gian đã có sẵn Đến thế kỷ XVI - XVII, Trò Xuân Phả tiếp tục được
bổ sung điệu múa Hoa Lang với ý nghĩa quan hệ giao lưu của Đại Việt với phương Tây
Nếu “bóc tách” trò Xuân Phả qua các thời kỳ thì có thể thấy Trò Xuân Phả
gồm nhiều lớp văn hóa cấu thành Thứ nhất, lớp nguyên sơ ban đầu trong hệ thống Trò Xuân Phả là những khúc giao duyên mang màu sắc của người Mường Yếu tố
Mường được nhận định trên cơ sở phân tích lời hát của các điệu múa Tú Huần, Ngô Quốc, Hoa Lang, và chúng có nét tương đồng gần gũi với những khúc hát giao duyên trữ tình nam nữ và hát xường của người Mường Thanh Hóa
Lớp thứ hai, Trò Xuân Phả có 2 trò chơi dân gian liên quan đến lớp văn hóa
thời Đinh là Kéo hội và Chạy giải Cách thức tổ chức trò Chạy giải có những nét biểu
tượng cho thời Đinh Cụ thể, các giáp trong làng chọn những trai tráng khoảng từ
Trang 3918-25 tuổi (số lượng có thay đổi tuỳ năm) Thanh niên trai tráng được chia làm hai cánh quân, mỗi cánh quân có 12 người, đại diện 12 sứ quân, tay cầm cờ có bông lau
Lớp thứ ba trong hệ thống Trò Xuân Phả liên quan đến thời Lý – Trần là điệu
Tú Huần (Lục Hồn Nhung) Trong Khảo sát trò Xuân Phả, tác giả Hoàng Anh Nhân
có trích đoạn: “theo sách Sử giao tập của Trần Cương Trung (Trung Quốc), từ đời Lý
- Trần, ở nước ta đã có một trò "Một mẹ mười con", được giữ ở ít nhất 16 làng thuộc Thanh Hóa” [39]
Lớp thứ tư của Ngũ trò Xuân Phả liên quan đến thời Lý – Trần và khả năng
kéo sang thời Lê là trò Ngô Quốc Phân tích tư liệu cho thấy trò Ngô Quốc có những
nhân vật (như thầy địa lý, người bán kẹp, bán thuốc, “thằng Ngô”) tương đồng với
các nhân vật được Lê Quý Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục và được cho là có dấu
vết âm nhạc và vũ đạo đời nhà Trần Trò Ngô Quốc thời Trần có xu hướng thiên về biểu tượng cho quan hệ buôn bán giữa phía Bắc với Đại Việt qua đường biển Thế
kỷ XV, sau thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn, uy thế Đại Việt nâng tầm, ý nghĩa của trò Ngô Quốc được biểu trưng cho mối quan hệ bang giao hữu hảo của phía triều đình phương Bắc với Đại Việt
Lớp thứ năm là trò Chiêm Thành và Ai Lao, có thể ra đời gắn với thời kỳ hưng
thịnh của nhà Lê sơ Thế kỷ XV, xuất hiện trò Chiêm Thành, trò Ai Lao, trò Ngô Quốc được hoàn thiện thêm, mang đậm yếu tố cung đình “Sau khởi nghĩa Lam Sơn, diện mạo văn hóa Thọ Xuân càng thêm khởi sắc Cụm di tích lịch sử mang phong cách Đại Việt đã ra đời Đó là khu di tích Lam Kinh cùng với hệ thống truyền thuyết
về khởi nghĩa Lam Sơn và Lê Lợi cùng với những cuộc biểu diễn văn nghệ vào thời
Lê Thái Tổ mừng nhà vua về Lam Kinh Đó là điệu Rí Ren, Trò Xuân Phả Biểu diễn như một hoạt ảnh có hóa trang, đeo mặt nạ, xếp sắp đội hình theo kịch bản có giá trị nhiều mặt về nghệ thuật diễn xướng, đóng góp cho văn hóa cổ truyền dân tộc” [2, tr 22]
Trò Hoa Lang là lớp thứ sáu, cũng là lớp văn hóa cuối cùng trong hệ thống
Trò Xuân Phả Trò Hoa Lang có thể được hiểu là quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa của các thương nhân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, thương điếm Anh Xuất
Trang 40hiện vào khoảng thế kỷ XVI-XVIII, khi các điểm buôn bán, truyền giáo không chỉ ở Thăng Long mà còn diễn ra ở Thanh Hóa với vai trò của các thương cảng
Như vậy, có thể thấy, Trò Xuân Phả, một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia,
là minh chứng cho sự kết hợp và giao thoa của nhiều lớp văn hóa, trải dài từ thế kỷ
X đến thế kỷ XVIII Từ thế kỷ XV, yếu tố cung đình đã góp phần tạo nên nét đặc sắc riêng cho trò diễn Trò Xuân Phả còn phản ánh mối quan hệ giao lưu của Đại Việt với các nước láng giềng, thể hiện qua các trò Ngô Quốc, Chiêm Thành, Ai Lao và Hoa Lang Cách thức trình diễn của Trò Xuân Phả độc đáo, kết hợp múa hát với các động tác đặc trưng, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian Do đó, việc nhìn nhận giá trị của Trò Xuân Phả cần phải bao quát và toàn diện, không chỉ dừng lại ở giá trị lịch
sử mà còn cần nhấn mạnh các giá trị văn hóa, nghệ thuật và xã hội mà trò diễn mang lại
1.2.3 Giá trị của Trò Xuân Phả
Trò Xuân Phả là sản phẩm của quá trình tích hợp, “bồi tụ” từ nhiều lớp văn hoá qua một giai đoạn lịch sử dài Được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, giá trị của nó đòi hỏi phải được đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc
Về giá trị lịch sử, Trò Xuân Phả ra đời như kết quả của một quá trình xây dựng
trò diễn lâu dài với nhiều lớp văn hóa được bồi tụ, được tích hợp Có ít nhất 5 lớp văn hóa chính được hình thành trong quá trình phát triển của Trò Xuân Phả như đã nói ở trên Lớp văn hóa đầu tiên là lớp văn hóa Việt - Mường thể hiện qua lối hát giao duyên hỗn dung được nhắc đến trong những lời hát khi múa trò Tú Huần, Ngô Quốc, Hoa Lang Nghiên cứu lớp chất liệu này góp phần vào quá trình phản ánh lịch sử giao lưu văn hóa Việt – Mường ngay từ sớm tại Thanh Hóa nói chung, Thọ Xuân nói riêng
và góp thêm một góc nhìn về lịch sử tụ cư của người dân ở vùng đất này Lớp văn hóa tiếp theo với trò Kéo hội và Chạy giải mang màu sắc của thời vua Đinh Đặc biệt, trên cơ sở phân tích các lớp văn hóa thời Lý – Trần với trò Tú Huần, lớp văn hóa thời Lê với trò Ngô Quốc, Ai Lao, Chiêm Thành, các nhà nghiên cứu lịch sử có thể hình dung rõ hơn về quá trình định hình quan hệ bang giao giữa Đại Việt với các quốc gia lân cận Ở một phương diện khác, đặc biệt với các nhà nghiên cứu về lịch sử diễn