02050007857 noidung tư tưởng của jacques derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm những bóng ma của marx 02050007857 noidung tư tưởng của jacques derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm những bóng ma của marx
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi vô cùng biết cảm ơn quý thầy, cô khoa Triết học khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là những thầy cô trong chuyên ban chủ nghĩa xã hội khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Quỳnh Chinh, người đã tận tình, tận tụy trong vai trò giảng viên hướng dẫn của tôi, hỗ trợ và định hướng tôi cách tư duy cũng như làm việc một cách khoa học Những ý kiến đóng góp quý giá của cô không chỉ giúp ích rất nhiều trong quá trình tôi thực hiện luận văn này, mà còn trở thành nền tảng vững chắc để tôi tiếp tục học tập và phát triển sự nghiệp trong tương lai
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Lan, PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, PGS.TS Lê Xuân Thủy, TS Lê Thị Vinh và TS Thân Thị Hạnh, những người đã dành thời gian đưa ra những nhận xét vô cùng quý giá và tận tình chỉnh sửa những thiếu sót trong luận văn của tôi
Bên cạnh đó, tôi cũng muốn gửi lời tri ân chân thành đến gia đình, bạn bè
và tập thể lớp cao học, những người luôn đồng hành, sẻ chia và hỗ trợ tôi cả trong học tập lẫn cuộc sống
Kính chúc quý thầy cô và các bạn luôn gặp những điều tốt đẹp nhất trên hành trình của mình!
Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2025
Tác giả
Phạm Minh Đức
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tác giả sử dụng đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kì sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu
Nếu có gì sai trái, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2025
Tác giả
Phạm Minh Đức
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC TIỄN VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA JACQUES DERRIDA VỀ CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM ―NHỮNG BÓNG MA CỦA MÁC‖ 9 1.1 Các điều kiện thực tiễn cho sự hình thành tư tưởng của Jacques Derrida
về chủ nghĩa xã hội 9 1.2 Các tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội 15 1.3 Cuộc đời, sự nghiệp của Jacques Derrida và tác phẩm ―Những bóng ma của Mác‖ 25 1.4 Ngôn ngữ và phong cách triết học của Derrida 31 CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA JACQUES DERRIDA VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM ―NHỮNG BÓNG
MA CỦA MÁC‖ 40 2.1 Phương pháp và cách tiếp cận của Derrida trong việc luận giải chủ nghĩa xã hội 40 2.2 Sự xác định di sản, tinh thần của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới thông qua khái niệm ―bóng ma‖ và ―những bóng ma của Mác‖ 47 2.3 Mười vết loét của ―trật tự thế giới mới‖ và quốc tế mới: những cơ sở cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân loại 62 2.4 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm ―Những bóng ma của Mác‖ 75 2.5 Một số gợi mở từ tư tưởng của Jacques Derrida trong tác phẩm ―Những bóng ma của Mác‖ đối với việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 88 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI, nhân loại đã chứng kiến của sự phát triển nhanh chóng về khoa học công nghệ, và cũng đã chứng kiến biến động lớn trong
lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội trên thế giới Đó là thời điểm hệ thống
xã hội chủ nghĩa tại nhiều quốc gia sụp đổ, đặc biệt là ở Liên Xô và các nước Đông Âu, kéo theo đó là sự thay đổi to lớn trong cục diện chính trị thế giới, đồng thời cũng tạo nên sự biến động trong tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và
cả tư duy triết học
Trong bối cảnh ấy, khi mà những câu hỏi về hệ thống chính trị và kinh tế vẫn đang được đặt ra một cách cấp thiết, tác phẩm ―Những bóng ma của Mác‖ của nhà triết học Jacques Derrida nổi lên như một điểm sáng đặc biệt Sử dụng phương pháp giải cấu trúc độc đáo của mình, Derrida không chỉ đơn thuần tái hiện lại những tư tưởng của Mác, mà còn mở ra một loạt các góc nhìn mới mẻ, sâu sắc và vô cùng giá trị về chủ nghĩa xã hội
Cách tiếp cận giải cấu trúc của Derrida đối với chủ nghĩa xã hội vượt xa việc chỉ phân tích sự phức tạp trong hệ thống lý luận của Mác Thay vào đó, nó giống như một công cụ giúp chúng ta tìm kiếm những hướng đi mới, phù hợp hơn cho chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên đương đại Theo Derrida, việc trung thành với chủ nghĩa xã hội không có nghĩa là chúng ta phải cố chấp giữ gìn nguyên vẹn những lý thuyết và mô hình xã hội đã được Mác phác thảo từ thế kỷ XIX Ngược lại, điều quan trọng hơn là chúng ta cần dũng cảm nhìn thẳng vào những điểm còn hạn chế, sẵn sàng bổ sung, điều chỉnh để lý thuyết ấy ngày càng hoàn thiện hơn, đồng thời không ngừng nuôi dưỡng tinh thần đổi mới và sáng tạo
Từ quan điểm này, tư tưởng của Derrida về chủ nghĩa xã hội vừa là một sự thừa nhận, vừa là một sự thách thức hết sức táo bạo Đó là sự thách thức trực diện với những lối tư duy truyền thống vốn đã định hình từ lâu trong triết học chính trị, là một lời chất vấn sâu sắc đối với các khuôn mẫu lý luận đang ngày càng trở nên cũ kỹ trước sự vận động không ngừng của thời đại Hơn thế nữa, Derrida thậm chí đặt ra những câu hỏi căn cơ, những vấn đề nền tảng, buộc
Trang 7chính chủ nghĩa xã hội phải tự soi chiếu, tự vấn lại bản thân để liên tục phát triển
và tìm kiếm sự phù hợp trước thực tại mới Chủ nghĩa xã hội ở đây không thể tự mãn đứng yên trong một hình thái cố định, mà phải vận động, điều chỉnh và làm mới mình trước những thay đổi không ngừng của bối cảnh lịch sử
Bản thân Derrida luôn là một nhà tư tưởng dành cho Mác và chủ nghĩa Mác
sự trân trọng đặc biệt Derrida đã từng khẳng định một cách hết sức quả quyết trong tác phẩm "Những bóng ma của Mác", rằng:
―Đọc lại Tuyên ngôn và một vài tác phẩm lớn khác của Mác, tôi tự nhủ rằng tôi biết ít văn bản, trong truyền thống triết học, có thể là không còn văn bản nào khác, đã mang lại bài học, ngày nay, tỏ ra cấp bách hơn, miễn là người ta coi trọng điều mà bản thân Mác và Ăngghen nói‖ [2, tr 41]
Từ góc nhìn này, Derrida đã nhận ra tính cấp thiết của việc trở lại nghiên cứu chủ nghĩa Mác, không phải chỉ nhằm tái hiện những ý niệm quen thuộc, mà sâu
xa hơn, là tìm lại chính những động lực phê phán, phản tỉnh mà tư tưởng Mác luôn luôn hàm chứa ngay từ ban đầu Đây chính là nền tảng để Derrida đặt ra yêu cầu về sự đổi mới triệt để trong cách tiếp cận các di sản tư tưởng của Mác, coi đó như một trách nhiệm mang tính lịch sử của người nghiên cứu hôm nay
Như thế, nghiên cứu Derrida và góc nhìn của ông về chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, một đất nước vẫn đang tiếp tục hành trình xây dựng và hoàn thiện chế độ xã hội chủ nghĩa, trở thành một nhiệm vụ không thể xem nhẹ, một nhiệm
vụ vừa mang tính học thuật sâu sắc, lại vừa hàm chứa những ý nghĩa thực tiễn to lớn Đất nước ta hiện đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với thế giới, những cách tiếp cận mới mẻ như của Derrida vì thế càng đặc biệt quý giá và hữu ích Cụ thể, việc đi sâu tìm hiểu và phân tích triết học Derrida sẽ giúp chúng ta, trước hết, nhận thức rõ hơn về sự vận động không ngừng của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một lý tưởng luôn luôn dang dở, luôn luôn cần hoàn thiện Thứ hai, Derrida thúc đẩy chúng ta xây dựng tư duy phản biện tích cực, đặt lại những câu hỏi mới trước những vấn đề tưởng chừng như đã
rõ ràng, tránh nguy cơ tự hài lòng với những nhận thức có sẵn, lỗi thời Thứ ba, nghiên cứu tư tưởng của Derrida giúp chúng ta nhận ra tính mở của các khái
Trang 8niệm lý luận, thấy rõ rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ là một khái niệm đóng kín, mà luôn mở rộng để đón nhận những ý nghĩa mới theo từng thời đại Thứ tư, Derrida cũng cung cấp công cụ để chúng ta nhận diện và giải cấu trúc những quan điểm sai lệch hoặc đơn giản hóa về chủ nghĩa xã hội, qua đó làm rõ hơn những nét đặc thù, những giá trị sâu sắc vốn có nhưng lâu nay dễ bị bỏ qua
Và cuối cùng, nghiên cứu Derrida còn góp phần nâng cao trình độ lý luận, triết học chính trị của giới học thuật Việt Nam nói chung, cung cấp những phương pháp mới để làm giàu thêm truyền thống nghiên cứu triết học chính trị nước nhà Mặc dù ý nghĩa của việc nghiên cứu Derrida rõ ràng là cấp thiết như vậy, song thực tế, các công trình nghiên cứu Derrida tại Việt Nam hiện nay vẫn ở mức độ sơ khởi, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu mà thực tiễn đang đặt ra Các nghiên cứu hiện có chủ yếu mới dừng ở mức giới thiệu sơ lược, giới hạn ở một số khái niệm hay trích đoạn tiêu biểu, chưa đi vào phân tích sâu sắc các vấn
đề trọng yếu, đặc biệt là quan điểm của Derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm nổi tiếng ―Những bóng ma của Mác‖ Những tư liệu bằng tiếng Việt về Derrida đến nay vẫn chủ yếu dựa vào một số bản dịch, trong khi các công trình tổng hợp, chuyên sâu bàn về Derrida một cách có hệ thống, toàn diện và rõ ràng hơn vẫn đang trong tình trạng khá hiếm hoi Từ đó, việc đầu tư nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản, giải mã thật sự chi tiết tư tưởng của Derrida đang trở thành một đòi hỏi bức thiết về mặt lý luận và thực tiễn, là nhiệm vụ cấp bách mà giới nghiên cứu triết học Việt Nam cần đáp ứng trong thời gian tới
Tóm lại, nghiên cứu về tư tưởng của Derrida đối với chủ nghĩa xã hội trong
―Những bóng ma của Mác‖ sẽ giúp ta thấy được những khía cạnh mới của chủ nghĩa xã hội, cung cấp thêm các góc nhìn mới mẻ, sâu sắc trong việc đánh giá và xây dựng chủ nghĩa xã hội Nó cũng giúp ta hiểu rõ hơn về tư duy triết học của Derrida, qua đó mở rộng kiến thức về triết học hiện đại Đây là các lý do tôi
chọn đề tài Tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm
“Những bóng ma của Mác” làm đề tài luận văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về góc độ nghiên cứu tổng quan, tổng thể thì tư tưởng triết học của Derrida
đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả, nhà nghiên cứu khác nhau trên thế giới
Trang 9Rất nhiều các cuốn lịch sử triết học hiện đại, các chuyên khảo triết học hiện đại đều dành một phần riêng để đề cập đến Derrida Chẳng hạn như trong tác phẩm
Triết học Pháp thế kỷ XX (French Philosophy in the Twentieth Century), Gary
Gutting đã dành riêng 24 trang để khái quát triết học của Derrida, từ quan niệm
về giải cấu trúc cho đến những quan niệm về đạo đức và tôn giáo [34, tr 313] Thậm chí, trong tập 5 của bộ Lịch sử triết học Phương Tây, John và Fogelin còn đề cập tới Derrida ngay ở phần tiêu đề của cuốn sách như là một cột
282-mốc [39], thể hiện tầm quan trọng và dấu ấn của ông đối với triết học hiện đại
Về góc độ nghiên cứu chuyên sâu thì phải kể đến tác phẩm Định hình hồn ma: Một hội thảo về tác phẩm “Những bóng ma của Mác” của Jacques Derrida
(Ghostly Demarcations: A Symposium on Jacques Derrida‘s ―Specters of Marx‖) Đây là tác phẩm tập hợp nhiều bài viết của những học giả theo thiên hướng Mácist như Fredric Jameson, Werner Hamacher, Antonio Negri, Warren Montag, Rastko Möcnik, Terry Eagleton, Pierre Macherey, Tom Lewis và Aijaz Ahmad Tất cả các bài viết đều tập trung vào luận giải mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác và học thuyết giải cấu trúc của Derrida, trong đó nổi bật là sự phê phán của Eagleton và Ahmad Theo ông, Derrida là một ―nhà cơ hội chủ nghĩa‖, xây dựng nên một ―chủ nghĩa Mác không còn là chủ nghĩa Mác, có nghĩa là một chủ nghĩa Mác theo những khái niệm xa lạ phù hợp với quan điểm của chính ông ta‖ [33, tr 86] Còn Ahmad quan niệm Derrida đã ―bác bỏ học thuyết chính trị giai cấp‖ [33, tr 96]
Điều đặc biệt tác phẩm chứa đựng phần đáp lại của Derrida đối với những nhà phê phán tư tưởng của ông ở phần cuối, trong đó ông giải quyết và làm sâu sắc thêm quan niệm của mình về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác và giải cấu trúc Chẳng hạn, đáp lại phê phán của Ahmad, Derrida viết: ―Tôi không đồng ý với Ahmad khi ông ấy nói về ―sự bác bỏ của Derrida đối với học thuyết chính trị giai cấp‖ Ở đây có một sự hiểu lầm nghiêm trọng‖ [33, tr 235] Còn đối với Eagleton, Derrida cho rằng: ―Eagleton khép tôi vào cái danh ―chủ nghĩa cơ hội‖
và ngược lại cùng một lúc: chỉ trích tôi đang chống đối hiện tại chỉ để ―lợi dụng chủ nghĩa Mác như một phương pháp phê phán, chống đối ‖ Cái ―chủ nghĩa cơ
Trang 10hội‖ đáng trách và mâu thuẫn này dường như khiến tôi làm ngược lại chính những gì thích hợp làm vào thời điểm thích hợp, thời điểm được mong chờ từ lâu‖ [33, tr 228] Điều này chứng tỏ đây là tác phẩm quan trọng cần khảo sát nếu muốn nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng của Derrida về chủ nghĩa xã hội Dẫu vậy, tác phẩm chỉ là tập hợp bài viết của nhiều tác giả khác nhau, nên nhiều khi còn thiếu tính hệ thống, đặc biệt là còn chưa thực sự Hơn nữa những tác giả ấy còn luận giải theo thiên hướng của mình nhiều hơn là tỏ ra khách quan
và bám sát với góc nhìn giải cấu trúc của Derrida Điều này được thể hiện ở việc nhiều lần Derrida khi đáp lại các tác giả đều cho rằng họ đã ―hiểu lầm‖, ―hiểu sai‖ quan niệm của ông [33, tr 225-240]
Còn ở Việt Nam thì tuy đã có tác phẩm được dịch là Những bóng ma của Mác 1, nhưng tình hình nghiên cứu tư tưởng của Derrida về chủ nghĩa xã hội còn khá hạn chế Hiện tại chưa có ai nghiên cứu chuyên sâu ở cấp luận văn, luận án Còn ở cấp độ tạp chí và sách thì mới chỉ có một vài đầu tài liệu khiêm tốn đề cấp đến tư tưởng giải cấu trúc nói chung của ông, chủ yếu ở góc độ văn học nhiều hơn là triết học
Dựa trên các phân tích đã được trình bày, luận văn có thể xác định một số nội dung cụ thể cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn, đồng thời kế thừa và phát huy những đóng góp quan trọng từ các công trình đi trước
Thứ nhất, các nghiên cứu đã thực hiện trước đây về tư tưởng Jacques
Derrida liên quan đến chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm Những bóng ma của Mác
đã cung cấp nhiều cơ sở lý luận quan trọng, trình bày được một số nét chủ yếu trong tiến trình hình thành và phát triển tư tưởng của Derrida Trên cơ sở đó, luận văn này sẽ tập trung làm rõ thêm về các điều kiện lịch sử cụ thể và những tiền đề tư tưởng triết học sâu xa, đã góp phần định hình và thúc đẩy sự phát triển
tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của Jacques Derrida
Thứ hai, những nghiên cứu trước đây đã bước đầu phân tích khá kỹ lưỡng
về nội dung cốt lõi trong tư tưởng Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội được
1 Đây là bản dịch được dịch căn cứ vào nguyên bản tiếng Pháp, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
đã hợp tác cùng Tổng cục II, Bộ Quốc phòng xuất bản
Trang 11trình bày trong Những bóng ma của Mác Đây chính là nền tảng học thuật giá trị
để luận văn tiếp tục khai thác Xuất phát từ đây, luận văn sẽ đi sâu hơn nữa vào việc trình bày và làm rõ một cách chi tiết, hệ thống về các nội dung tư tưởng quan trọng trong tác phẩm này, nhằm cung cấp thêm các góc nhìn và phương diện lý giải mới, góp phần mở rộng hơn nữa chiều sâu của chủ đề
Thứ ba, những nghiên cứu trước đây đã đặt ra một số cách thức tiếp cận và
đánh giá đa dạng đối với tư tưởng của Derrida về chủ nghĩa xã hội trong Những bóng ma của Mác, qua đó tạo nên những tiền đề tham khảo giá trị Từ những cơ
sở lý luận ấy, luận văn này sẽ tiếp tục xây dựng và phát triển một hướng đánh giá dựa trên chính học thuyết giải cấu trúc của Derrida, kết hợp với các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học Mác - Lênin Tác giả lựa chọn hướng đi này dựa trên ba cơ sở cụ thể như sau:
Một là, tư tưởng của Derrida khi được phân tích từ học thuyết giải cấu trúc
do chính ông xây dựng sẽ giúp làm nổi bật hơn các giá trị lý luận đặc sắc của Derrida trong cách tiếp cận về chủ nghĩa xã hội, từ đó tạo nên một sự đánh giá sát hợp nhất với chính tư tưởng gốc của tác giả
Hai là, việc kết nối giữa lý luận của Derrida với chủ nghĩa xã hội khoa học
Mác - Lênin là phù hợp bởi vì giữa hai truyền thống tư tưởng này có điểm gặp
gỡ chung trong việc tìm kiếm các giá trị tiến bộ, đặc biệt là lý tưởng xây dựng
xã hội công bằng, tiến bộ
Ba là, phân tích và đánh giá tư tưởng của Jacques Derrida từ góc nhìn kết hợp
giữa lý thuyết giải cấu trúc và chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ giúp luận giải sâu sắc hơn những quan điểm và lập luận riêng biệt của Derrida, tôn trọng quan điểm của chính ông, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc làm giàu và phát triển thêm các giá trị lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học Mác - Lênin, đồng thời mở rộng thêm các chiều kích tư duy mới trong bối cảnh xã hội hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu: phân tích làm rõ những nội dung tư tưởng của
Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm Những bóng ma của Mác,
từ đó đưa ra đánh giá về những giá trị và hạn chế của nó
Trang 12Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, phân tích điều kiện kinh tế - xã hội và những tiền đề lý luận cho
sự hình thành tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm
Những bóng ma của Mác
Thứ hai, phân tích làm rõ những những nội dung tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội trong tác phẩm Những bóng ma của Mác
Thứ ba, đánh giá về giá trị, hạn chế của tư tưởng Jacques Derrida về chủ
nghĩa xã hội trong tác phẩm Những bóng ma của Mác, và từ đó trình bày một số
gợi mở đối với việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội
Phạm vi nghiên cứu: tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội
trong tác phẩm Những bóng ma của Mác
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận: Luận văn sử dụng cách tiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử về vấn đề cơ bản của triết học, nhận thức, thực tiễn, chủ nghĩa xã hội
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hóa, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp kết hợp lịch sử - logic
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: luận văn góp phần trình bày một cách có hệ thống và chuyên sâu về tư tưởng triết học cũng như tư tưởng về chủ nghĩa xã hội nói
riêng của Jacques Derrida trong tác phẩm Những bóng ma của Mác: những vấn
đề còn ít được chú ý trong nghiên cứu triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học ở Việt Nam hiện nay Thông qua việc đánh giá dựa trên lập trường triết học Mác - Lênin, luận văn chỉ ra một số giá trị và hạn chế trong tư tưởng của Derrida về chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng đưa tới một số gợi ý quan trọng cho sự bổ sung
và phát triển chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, đặc biệt là về tính đúng đắn và khách quan của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 13Ý nghĩa thực tiễn: luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cho việc
giảng dạy, học tập và nghiên cứu những học thuyết giải cấu trúc và tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của Jacques Derrida, chủ nghĩa xã hội khoa học, đặc biệt là chủ nghĩa xã hội sau Lênin
7 Đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất, luận văn đã bước đầu tổng hợp một cách có hệ thống và rõ ràng các khía cạnh quan trọng trong tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng về chủ nghĩa xã hội nói riêng của Jacques Derrida Đây là cơ sở bước đầu, có giá trị tham khảo để người nghiên cứu triết học tiếp cận tư tưởng của Derrida một cách
dễ dàng và sâu sắc hơn
Thứ hai, luận văn đã tiến hành đánh giá một cách tương đối hợp lý, xác đáng về những giá trị và hạn chế trong tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội, đồng thời bước đầu đề xuất một số gợi mở cho việc nghiên cứu và thảo luận lý luận về chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam hiện nay Những đánh giá này được thực hiện dựa trên sự vận dụng những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa
xã hội khoa học Mác - Lênin, nhằm chỉ ra cụ thể đâu là điểm mạnh, đâu là điểm cần được suy ngẫm thêm trong tư tưởng của Derrida, từ đó tạo điều kiện cho những nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng hoặc điều chỉnh phù hợp hơn
Thứ ba, từ những phân tích tư tưởng của Derrida, luận văn đã đưa ra một số gợi mở có tính lý luận nhằm bổ sung và làm phong phú thêm các góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là vấn đề nhận thức về chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh triết học phương Tây đương đại Những gợi ý này tuy chưa phải
là lời giải cuối cùng cho những vấn đề lý luận phức tạp nhưng cũng mở ra một
số khả năng tiếp cận mới trong nghiên cứu và thực tiễn, nhất là trong việc ứng dụng tư duy biện chứng để xem xét, lý giải các hiện tượng chính trị, xã hội và văn hóa hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn có 2 chương và 9 tiết
Trang 14CHƯƠNG 1 CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC TIỄN VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CỦA JACQUES DERRIDA VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG TÁC PHẨM “NHỮNG BÓNG MA CỦA MÁC” 1.1 Các điều kiện thực tiễn cho sự hình thành tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội
1.1.1 Khủng hoảng kinh tế và chính trị của thế kỷ XX
Đúng như Nguyên Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, ―chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó‖ [26,
tr 17]
Thế kỷ XX là giai đoạn chứng kiến những biến động sâu rộng trong kinh tế
và chính trị, đặt nền móng cho các phản tư triết học mà Jacques Derrida triển
khai trong tác phẩm “Những bóng ma của Mác” Cuộc Đại suy thoái 1929–
1933 là một trong những khủng hoảng kinh tế lớn nhất lịch sử, khi thị trường chứng khoán Hoa Kỳ sụp đổ dẫn đến hàng loạt ngân hang phá sản và tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt Hậu quả là hàng triệu người mất việc làm, đời sống xã hội bị xáo trộn nghiêm trọng Chính phủ Hoa Kỳ đã áp dụng Thỏa ước Mới (New Deal) như một chiến lược can thiệp kinh tế nhà nước để kiểm soát khủng hoảng, song những biện pháp này cũng bộc lộ sự bất lực của hệ thống tư bản tự do trong việc kiểm soát các chu kỳ khủng hoảng của chính nó
Jacques Derrida, quan sát từ vị trí của một nhà triết học hậu cấu trúc, nhìn nhận rằng khủng hoảng không chỉ là hiện tượng nhất thời mà còn phản ánh
những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Trong “Những bóng ma của Mác”, Derrida nhấn mạnh rằng ngay cả trong sự phát triển vượt bậc, chủ nghĩa
tư bản vẫn tồn tại những ―bóng ma‖: biểu tượng của bất công, bóc lột và tha hóa Các khủng hoảng như Đại suy thoái hay khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970 chính là bằng chứng cho thấy tính bất ổn nội tại, khiến chủ nghĩa tư bản không ngừng tái hiện những vấn đề mà nó không thể tự giải quyết
Khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970 là một dấu mốc khác trong lịch sử kinh
tế thế kỷ XX Quyết định cắt giảm sản lượng của các quốc gia thuộc Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã đẩy giá dầu lên cao gấp bốn lần, gây ra lạm
Trang 15phát toàn cầu và khiến các nước công nghiệp phát triển rơi vào suy thoái Khủng hoảng này buộc các nước phải chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp dựa trên năng lượng hóa thạch sang nền kinh tế tri thức và công nghệ cao Dù vậy, sự chuyển đổi này lại làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, khi lao động tay chân dần bị thay thế bởi các ngành nghề yêu cầu trình độ kỹ thuật cao Đây là một ví dụ tiêu biểu cho luận điểm của Derrida về sự tha hóa trong tư bản: khi chủ nghĩa tư bản tiến hóa, nó cũng đồng thời tạo ra các hình thức bất công mới
Derrida không chỉ tập trung vào các khía cạnh kinh tế, mà còn phân tích các biến động chính trị trong thế kỷ XX, đặc biệt là cuộc đối đầu Chiến tranh Lạnh giữa hai hệ thống chủ nghĩa tư bản và xã hội chủ nghĩa Chiến tranh Lạnh không chỉ là xung đột quân sự tiềm năng, mà còn bao hàm các cuộc chiến tranh ủy nhiệm và các chiến lược địa chính trị toàn cầu Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thế kỷ trước đã dẫn đến trật tự đơn cực, nơi chủ nghĩa tư bản do Hoa Kỳ dẫn dắt trở thành hệ thống thống trị toàn cầu Tuy nhiên, Derrida cảnh báo rằng sự "toàn thắng" này không đồng nghĩa với sự bền vững Ngược lại, các vấn đề như xung đột giai cấp, bóc lột lao động
và bất công xã hội, những vấn đề cốt lõi mà Mác từng phê phán, vẫn tiếp tục tồn tại dưới những hình thức mới
Đặc biệt, Derrida nhấn mạnh đến khái niệm ―bóng ma‖ như một phương thức để chỉ ra rằng các lý tưởng của Mác, mặc dù bị xem là lỗi thời, vẫn ám ảnh
tư duy hiện đại Ông viết:
―Đọc lại tuyên ngôn và một vài tác phẩm lớn khác của Mác, tôi tự nhủ rằng tôi biết ít văn bản, trong truyền thống triết học, có thể là không còn văn bản nào
khác, đã mang lại bài học, ngày nay, tỏ ra cấp bách hơn, miễn là người ta coi
trọng điều mà bản thân Mác và Ăngghen nói‖ [2, tr 41]
Đây là cách Derrida khẳng định rằng các giá trị cốt lõi về công bằng, liên đới và giải phóng lao động vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa gia tăng và các vấn đề xã hội phức tạp hơn bao giờ hết
Sự chuyển dịch của tư bản từ hình thức độc quyền truyền thống sang toàn cầu hóa không giải quyết được những mâu thuẫn nội tại, mà trái lại còn làm gia
Trang 16tăng sự phụ thuộc của các nước nghèo và gia tăng khoảng cách giàu nghèo Những vấn đề này, theo Derrida, đòi hỏi một phản tư mang tính cấu trúc, vượt ra ngoài các khuôn khổ hiện hành, để hình dung một ―quốc tế mới‖: một hệ thống toàn cầu không chỉ dựa trên lợi nhuận, mà còn đặt con người và công bằng xã hội làm trung tâm
1.1.2 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản toàn cầu
Từ cuối thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bước vào một giai đoạn phát triển mới được gọi là thời kỳ chủ nghĩa tư bản toàn cầu (global capitalism) Giai đoạn này nổi bật với sự hình thành mạng lưới các công ty xuyên quốc gia và sự bùng nổ của internet, tạo nền tảng để tư bản quốc tế thực hiện tham vọng kiểm soát toàn cầu Hệ thống sản xuất và quan hệ sản xuất đạt trình độ xã hội hóa quy mô toàn cầu, phá vỡ các rào cản địa lý và quốc gia, đưa quá trình toàn cầu hóa kinh tế trở thành hiện thực phổ quát Đồng thời, sự tan rã của khối xã hội chủ nghĩa Đông
Âu và Liên Xô, cùng sự thất bại của các phương án phát triển ở nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba, đã củng cố thêm vị thế của chủ nghĩa tư bản toàn cầu Một bước ngoặt quan trọng trong thời kỳ này là sự ra đời của Chương trình Đồng thuận Washington (Washington Consensus) năm 1989, giữa Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Bộ Tài chính Hoa Kỳ Chương trình đề ra 10 chính sách kinh tế vĩ mô như tự do hóa thương mại, tư nhân hóa,
và giảm thiểu can thiệp nhà nước, định hình các nguyên tắc thị trường tự do trên toàn cầu Sự kiện này, cùng với việc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chính thức ra đời năm 1995, đã xác lập hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu, nơi mà sản xuất và dịch vụ được tổ chức xuyên quốc gia dưới sự kiểm soát của các tập đoàn độc quyền
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế và khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản toàn cầu cũng làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn nội tại Một trong những mâu thuẫn này là sự mất cân đối cung-cầu, khi các nền kinh tế sản xuất siêu thừa mà không thể tiêu thụ được Thực trạng này không chỉ gây ra khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp lại mà còn làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
và bất bình đẳng Trong điều kiện nền sản xuất công nghiệp hiện đại, áp dụng tự
Trang 17động hóa và công nghệ cao, hàng triệu lao động bị đẩy vào tình trạng thất nghiệp dài hạn
Các biến động kinh tế đi kèm với những hệ quả xã hội nghiêm trọng Dưới
sự dẫn dắt của các tập đoàn xuyên quốc gia, quá trình toàn cầu hóa chủ yếu phục
vụ lợi ích của một thiểu số siêu giàu, trong khi đại đa số vẫn sống trong cảnh nghèo đói và bất an Theo các số liệu gần đây, 82% tài sản thế giới tập trung vào tay 1% dân số giàu nhất, phản ánh rõ nét sự phân cực xã hội trên quy mô toàn cầu [42]
Hơn nữa, quyền lực của nhà nước trong hệ thống tư bản toàn cầu không còn
bị giới hạn trong biên giới quốc gia, mà được thực thi thông qua các định chế và chuẩn mực quốc tế Các tổ chức như WTO, cùng với các hiệp định tự do thương mại, ngày càng thể hiện vai trò chi phối không chỉ các hoạt động kinh tế mà cả chính trị và xã hội toàn cầu Đây là một hình thức "quản trị toàn cầu" (global governance) không cần chính phủ toàn cầu, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát nền kinh tế thế giới theo cách có lợi cho các tập đoàn tư bản lớn
Chính những đặc điểm này đã làm bùng phát các phong trào chống toàn cầu hóa Điển hình là phong trào tại Seattle năm 1999, khi các cuộc biểu tình lớn phản đối hội nghị WTO diễn ra Người biểu tình lên án kiểu toàn cầu hóa ―từ trên xuống‖: nơi các tập đoàn tư bản độc quyền kiểm soát nền kinh tế, và kêu gọi một mô hình toàn cầu hóa "từ dưới lên", công bằng và dân chủ hơn
Từ những điều kiện nói trên, đúng như Derrida, trong “Những bóng ma của Mác”, đã chỉ ra rằng những thay đổi này không giải quyết được các mâu thuẫn
cơ bản của chủ nghĩa tư bản, mà trái lại, còn làm chúng sâu sắc hơn Sự bất công
và bóc lột vốn đã hiện hữu trong lịch sử tư bản, nay lại được tái sản xuất trên quy mô toàn cầu, đồng thời cảnh báo về tính mong manh của hệ thống này trong việc đáp ứng nhu cầu công bằng xã hội
1.1.3 Sự phát triển của các phong trào xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XX
Trong thế kỷ XX, các phong trào xã hội chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ nhưng cũng phải đối mặt với những mâu thuẫn nội tại ngày càng sâu sắc, đặc biệt
là sự phân hóa giữa hai trào lưu chính: chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa
Trang 18cộng sản Cuộc chia tách quan trọng này bắt đầu từ năm 1919 với sự thành lập Quốc tế Cộng sản (Comintern) dưới sự lãnh đạo của Lênin Trong bối cảnh cách mạng Tháng Mười Nga thành công và Quốc tế thứ Hai (Second International) thất bại trong việc ngăn chặn Thế chiến thứ nhất, phong trào cộng sản quốc tế quyết định tách khỏi các đảng xã hội chủ nghĩa mà họ cho là ―cải lương‖ hoặc quá hòa hoãn với chủ nghĩa tư bản Điều này đặt nền móng cho sự đối lập giữa hai trường phái xã hội chủ nghĩa lớn trong suốt thế kỷ [46, tr 75-78]
Chủ nghĩa cộng sản, với trung tâm là Liên Xô, nhấn mạnh tính cách mạng và việc xây dựng xã hội không giai cấp thông qua sự xóa bỏ sở hữu tư nhân và kế hoạch hóa tập trung Mô hình này được áp dụng triệt để tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa, với việc quốc hữu hóa mọi phương tiện sản xuất, công nghiệp hóa nhanh chóng, và thực thi các chính sách phân phối tài nguyên dựa trên nguyên tắc bình đẳng Ngược lại, chủ nghĩa xã hội dân chủ, vốn phát triển mạnh ở các nước Tây Âu, chủ trương cải cách trong khuôn khổ dân chủ nghị viện Các đảng xã hội chủ nghĩa dân chủ không chối bỏ sở hữu tư nhân nhưng tìm cách điều chỉnh nó bằng các biện pháp tái phân phối thông qua thuế, nhà nước phúc lợi, và bảo vệ quyền lợi lao động trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường [46, tr 78-82] Trong Chiến tranh Lạnh, sự phân hóa này trở nên sâu sắc hơn khi hai hệ tư tưởng này gắn liền với hai khối quyền lực đối lập Liên Xô và các đồng minh thuộc khối xã hội chủ nghĩa sử dụng mô hình cộng sản làm công cụ chính trị để củng cố quyền lực và chống lại ảnh hưởng của phương Tây Trong khi đó, các nước dân chủ xã hội ở Tây Âu như Thụy Điển, Đức, và Anh phát triển các mô hình nhà nước phúc lợi nhằm cải thiện đời sống cho người lao động mà không cần đoạn tuyệt với nền kinh tế tư bản Các chính sách này, được gọi là ―chủ nghĩa tư bản điều chỉnh‖ (regulated capitalism), đã mang lại nhiều thành công trong việc giảm bất bình đẳng kinh tế và nâng cao chất lượng sống cho người dân, tạo ra một hình thái xã hội khác biệt hoàn toàn so với các quốc gia cộng sản Mâu thuẫn giữa hai hệ tư tưởng không chỉ là sự khác biệt về mục tiêu và phương thức mà còn phản ánh những căng thẳng chính trị và địa chiến lược trong Chiến tranh Lạnh Các đảng cộng sản phương Tây, dù nhận được sự hỗ trợ
Trang 19về tài chính và chính trị từ Liên Xô, lại thường bị cô lập trong hệ thống chính trị dân chủ nghị viện Ngược lại, các đảng xã hội dân chủ không chỉ giữ được sự độc lập khỏi Liên Xô mà còn nỗ lực hợp tác với các lực lượng tự do và tư bản để củng cố mô hình dân chủ xã hội Điều này làm cho hai phong trào không thể dung hòa, dẫn đến tình trạng các phong trào cộng sản xem xã hội dân chủ là
―phản bội‖ lý tưởng cách mạng, trong khi các đảng xã hội dân chủ cáo buộc cộng sản là độc tài và phản dân chủ
Một trường hợp rõ rệt về mâu thuẫn này là sự kiện năm 1956, khi Liên Xô can thiệp quân sự vào Hungary để đàn áp cuộc nổi dậy chống lại chế độ cộng sản Sự kiện này đã làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của Liên Xô và các đảng cộng sản ở phương Tây Tại thời điểm này, nhiều trí thức và chính trị gia cánh tả ở châu Âu, vốn ủng hộ phong trào cộng sản, chuyển sang đứng về phía các đảng xã hội dân chủ hoặc từ bỏ hoàn toàn niềm tin vào chủ nghĩa xã hội cộng sản Tương tự, sự chia rẽ cũng diễn ra tại các phong trào giải phóng dân tộc, khi một số chọn đi theo mô hình cộng sản như Cuba và Việt Nam, trong khi những nước khác như Ấn Độ ưu tiên con đường dân chủ xã hội hoặc các giải pháp trung dung hơn
Trong tổng thể, mâu thuẫn giữa hai hệ tư tưởng này không chỉ góp phần vào
sự phân hóa của các phong trào xã hội chủ nghĩa mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến cách các phong trào này vận hành trong thực tế Sự phân hóa không chỉ làm suy yếu sức mạnh đoàn kết của phong trào xã hội chủ nghĩa trên toàn cầu mà còn khiến cả hai hệ thống phải đối mặt với những thách thức nội tại Sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991 và sự suy thoái của các nhà nước phúc lợi ở Tây Âu trong thập niên 1980 là minh chứng cho những giới hạn và mâu thuẫn mà cả hai
hệ tư tưởng đều chưa thể vượt qua
Cũng từ đó mà trong Những bóng ma của Mác, Jacques Derrida đã đưa ra
những phân tích sâu sắc về sự phân hóa trong nội tại của phong trào xã hội chủ nghĩa, đặc biệt trong bối cảnh sự sụp đổ của Liên Xô và trào lưu tư bản tự do toàn cầu sau Chiến tranh Lạnh Derrida không chỉ phê phán các khuyết điểm của chủ nghĩa cộng sản hiện thực mà còn tìm cách giữ lại ―một tinh thần nhất định
Trang 20của chủ nghĩa Mác‖: tinh thần phê phán triệt để, luôn sẵn sàng tự phê và tái đánh giá các hệ thống lý thuyết của chính mình
Derrida nhấn mạnh rằng mâu thuẫn nội tại trong phong trào xã hội chủ nghĩa không đơn thuần là hệ quả của sự chia rẽ giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản, mà còn nằm trong chính bản chất của lý thuyết Mácist Ông cho rằng Mác, dù tìm cách xóa bỏ ―những bóng ma‖ của hệ thống tư bản (như giá trị hàng hóa và tính chất thần bí của tư bản) vẫn không thể vượt qua hoàn toàn ―logic của bóng ma‖ (spectral logic) Điều này phản ánh qua việc Mác liên tục quay lại với những hình tượng như ―bóng ma của chủ nghĩa cộng sản‖ trong
Tuyên ngôn Cộng sản hay những khái niệm như bái vật giáo (fetishism) trong
Tư bản Theo Derrida, ngay cả khi cố gắng xóa bỏ những yếu tố siêu hình, Mác
vẫn bị ám ảnh bởi những ―bóng ma‖ mà ông muốn loại bỏ Derrida còn đặc biệt chỉ trích việc các phong trào xã hội chủ nghĩa đã cố định Mác vào một hệ tư tưởng cứng nhắc, gọi đó là sự ―hàn kín Mác vào một chính thống giáo‖ (orthodoxy) Trong khi đó, ông kêu gọi một cách tiếp cận linh hoạt hơn, nơi chủ nghĩa Mác được hiểu như một truyền thống mở, không ngừng tái tạo và phù hợp với các biến động lịch sử
Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Liên Xô, Derrida phê phán sự tự mãn của các lực lượng tư bản phương Tây, đặc biệt là luận điểm ―sự kết thúc của lịch sử‖ của Francis Fukuyama Ông nhấn mạnh rằng, mặc dù chủ nghĩa tư bản có vẻ như chiến thắng, thế giới vẫn đầy rẫy những bất công, xung đột và đau khổ, và rằng không một tiến bộ nào có thể phủ nhận thực tế một điều: chưa bao giờ, trên thế giới này, lại có nhiều người bị áp bức, bị đói khát, và bị bần cùng đến vậy [2, tr 183]
1.2 Các tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng của Jacques Derrida về chủ nghĩa xã hội
1.2.1 Tư tưởng của Các Mác về chủ nghĩa xã hội
Sự xuất hiện giai cấp trong xã hội là tất yếu khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; trong
xã hội có giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp Dựa trên cơ sở đó, trong
Trang 21Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã phân tích nguyên nhân
cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phong kiến để hình thành nên xã hội tư bản:
― [C]húng ta đã thấy rằng, những tư liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở cho giai cấp tư sản hình thành, đã được tạo ra trong lòng xã hội phong kiến Những tư liệu sản xuất và trao đổi ấy, phát triển tới một trình độ nhất định nào đó thì tất cả những cái đó đều biến thành xiềng xích Phải đập tan những xiềng xích ấy Thay vào đó là sự cạnh tranh tự do, với một chế độ xã hội và chính trị thích ứng, với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản‖ [20, tr 603-604]
Như vậy, sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản là tất yếu khách quan
và là bước tiến vĩ đại trong tiến trình phát triển lịch sử - xã hội và mặc dù quan
hệ sản xuất chủ nghĩa tư bản đã giải phóng lực lượng sản xuất Song, thực ra đó chỉ là sự thay thế chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp địa chủ, bằng chế độ sở hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, thay thế phận làm thuê, làm mướn của người nông nô cho địa chủ bằng cuộc đời làm thuê của giai cấp công nhân cho giai cấp tư sản
Vì thế, mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp tư sản và vô sản lại tương tự như địa chủ và nông nô tiếp tục diễn ra trong lòng xã hội chủ nghĩa tư bản: ―Mâu thuẫn giữa sự sản xuất xã hội và sự chiếm hữu chủ nghĩa tư bản biểu hiện ra thành sự đối lập giữa tình trạng có tổ chức của sản xuất trong mỗi công xưởng riêng biệt với tình trạng vô chính phủ của sản xuất trong toàn thể xã hội‖ [22, tr 316] Mâu thuẫn này không thể giải quyết trong xã hội tư bản và là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản Bởi vậy: ―những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản‖ [20, tr 605] Nghĩa là, lịch sử đã tạo ra chủ nghĩa tư bản hiện đại và đến lượt nó lại trở thành vật cản của văn minh nhân loại Đồng thời các ông khẳng định, trong xã hội chủ nghĩa tư bản, tất cả các giai cấp, các tầng lớp trung gian bị bóc lột đều đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Nhưng: ―Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp‖ [20, tr 610]
Trang 22Bởi vậy, với sức mạnh của mình thì giai cấp vô sản sẽ cuối cùng đánh bại
sự thống trị của giai cấp tư sản và xây dựng một xã hội mới không có áp bức bóc lột và bất công - xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi mà những tư liệu sản xuất sẽ thuộc
về toàn thể xã hội, và mỗi người sẽ làm theo năng lực và hưởng theo lao động
Derrida trong Những bóng ma của Mác, tuy công nhận những đóng góp
quan trọng của Mác cho lý thuyết xã hội học và triết học chính trị, nhưng ông cũng chỉ ra những hạn chế trong tư tưởng của Mác Derrida nhấn mạnh rằng Mác đã quá tập trung vào mâu thuẫn giữa tư liệu sản xuất và sở hữu tư nhân tư bản mà bỏ qua những mâu thuẫn khác trong xã hội Derrida đề cập đến ―phản tư‖ của mình về Mác khi nói về ―những bóng ma của Mác‖, ông chỉ ra rằng Mác
đã chưa đi sâu tìm hiểu sự phức tạp của những yếu tố như văn hóa, giáo dục, ngôn ngữ, tâm lý, và cả những hiện tượng khác, trong quan hệ đối lập giữa giai cấp tư sản và vô sản [2, tr 362-367] Trong khi đối với Mác, những yếu tố này chỉ là ―phản ánh‖ hay "biểu hiện‖ của cơ sở vật chất, thì đối với Derrida, chúng
là những yếu tố quan trọng, có thể thay đổi và tạo ra những hình thức đấu tranh
và thay đổi xã hội mới
Derrida không phủ nhận rằng những ý tưởng của Mác về sự đối lập giữa giai cấp tư sản và vô sản là rất có giá trị, nhưng ông cũng đề xuất một cái nhìn mới, để nhìn thấy ―những bóng ma‖ trong tư tưởng của Mác, những ―bóng ma‖
mà chính Mác chưa có điều kiện để phản tư
1.2.2 Chủ nghĩa cấu trúc
Chủ nghĩa cấu trúc xuất hiện như một trong những cách tiếp cận triết học và phương pháp luận quan trọng nhất của thế kỷ XX, tập trung vào việc hiểu các hiện tượng văn hóa, xã hội, và ngôn ngữ thông qua cấu trúc bên trong chi phối chúng Phát triển từ ngôn ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure, chủ nghĩa cấu trúc nhấn mạnh rằng ý nghĩa không phải là một thuộc tính cố định hoặc vốn có của các yếu tố riêng lẻ, mà là sản phẩm của các mối quan hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống Saussure định nghĩa ngôn ngữ là một hệ thống các dấu hiệu, trong đó mỗi dấu hiệu bao gồm hai phần: ―cái được biểu đạt‖ (signified, ý niệm hoặc khái niệm) và ―cái biểu đạt‖ (signifier, dạng vật chất của
Trang 23dấu hiệu như âm thanh hoặc hình ảnh) Ý nghĩa của một dấu hiệu được xác định không phải nhờ bản thân nó, mà qua sự khác biệt của nó với các dấu hiệu khác trong cùng hệ thống Saussure khẳng định:
―Tất cả những điều đã được nói đến đến thời điểm này có thể được tóm gọn lại như sau: trong ngôn ngữ, chỉ tồn tại sự khác biệt Quan trọng hơn nữa: một
sự khác biệt thường ngụ ý các thuật ngữ xác định mà giữa chúng sự khác biệt
được thiết lập; nhưng trong ngôn ngữ, chỉ có các sự khác biệt không có các thuật ngữ xác định Cho dù chúng ta xem xét cái được biểu đạt hay cái biểu đạt, chúng
ta đều thấy rằng chúng không tồn tại một cách độc lập như các thực thể xác định‖ [44, tr 120]
Những nguyên lý này của Saussure đã tạo nền tảng cho sự phát triển của chủ nghĩa cấu trúc trong nhiều lĩnh vực khác ngoài ngôn ngữ học, như nhân học, phân tâm học, và phê bình văn học Claude Lévi-Strauss, một nhà nhân học nổi bật, đã ứng dụng lý thuyết cấu trúc để nghiên cứu các huyền thoại và hệ thống thân tộc Ông lập luận rằng các hiện tượng này không phải là các tập hợp ngẫu nhiên, mà là các hệ thống có cấu trúc, trong đó ý nghĩa được hình thành qua các cặp đối lập nhị nguyên (binary oppositions) như tự nhiên và văn hóa, sống và chết, đàn ông và phụ nữ Ví dụ, khi phân tích các huyền thoại của người bản địa Nam Mỹ, Lévi-Strauss chỉ ra rằng các cặp nhị nguyên này phản ánh cách con người tổ chức và hiểu thế giới Theo ông, huyền thoại không chỉ là những câu chuyện truyền miệng, mà là những biểu hiện mang tính cấu trúc về các mâu thuẫn cơ bản trong đời sống con người
Tương tự, Jacques Lacan đã sử dụng các nguyên lý cấu trúc để phát triển phân tâm học Lacan nhấn mạnh rằng vô thức con người không phải là một thực thể tự nhiên, mà được cấu trúc như một ngôn ngữ, trong đó các dấu hiệu được tổ chức thông qua những quy luật tương tự như ngôn ngữ học Saussure Điều này cho phép ông giải thích các hiện tượng như giấc mơ và hành vi vô thức dựa trên các mối quan hệ giữa các biểu tượng trong tâm trí con người, thay vì chỉ dựa vào các xung động hoặc trải nghiệm cá nhân
Trong lĩnh vực phê bình văn học, Roland Barthes đã vận dụng chủ nghĩa cấu trúc để phân tích các văn bản như những hệ thống ký hiệu Ông cho rằng
Trang 24văn bản không nên được hiểu như một sản phẩm của ý đồ cá nhân tác giả, mà là một mạng lưới các dấu hiệu tương tác với nhau để tạo ra ý nghĩa Barthes đặc biệt nhấn mạnh tính liên văn bản (intertextuality), khẳng định rằng mọi văn bản đều là một phần của một hệ thống rộng lớn hơn, trong đó ý nghĩa được hình thành qua sự tham chiếu đến các văn bản khác
Cấu trúc, theo nghĩa Saussure, không tồn tại như một thực thể vật chất hay một thực tế tĩnh, mà là một hệ thống các quan hệ vận động và tương tác liên tục Những cấu trúc này không chỉ xác định ý nghĩa, mà còn chi phối cách con người nhận thức và phản ứng với thế giới xung quanh Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa chủ nghĩa cấu trúc và các phương pháp truyền thống trước đó, vốn thường tập trung vào bản chất cố hữu hoặc nguồn gốc lịch sử của các hiện tượng văn hóa và xã hội
Sự mở rộng của chủ nghĩa cấu trúc sang các lĩnh vực khác đã mang lại những bước tiến vượt bậc trong việc nghiên cứu các hiện tượng văn hóa, nhưng đồng thời cũng làm lộ rõ những hạn chế và giả định ngầm ẩn trong lý thuyết này Chính Jacques Derrida, trong phương pháp giải cấu trúc của mình, đã phê phán rằng chủ nghĩa cấu trúc, dù tuyên bố từ bỏ các khái niệm truyền thống như trung tâm hay nền tảng, vẫn duy trì một dạng siêu hình học ngầm định Derrida cho rằng cấu trúc luận luôn giả định sự tồn tại của một hệ thống hoàn chỉnh, nơi
ý nghĩa được cố định bởi các mối quan hệ bên trong Ông đề xuất thay vì tìm kiếm các cấu trúc ổn định, chúng ta nên tập trung vào các khoảng trống, sự gián đoạn, và những mâu thuẫn nội tại trong hệ thống Giải cấu trúc của Derrida, do
đó, không phủ nhận giá trị của chủ nghĩa cấu trúc, mà mở rộng và làm sâu sắc thêm cách chúng ta hiểu về ý nghĩa và quyền lực trong văn hóa và xã hội
1.2.3 Hiện tượng học Đức và hiện tượng học Pháp trong thế kỷ XX
Để hiểu sâu hơn về tư tưởng của Jacques Derrida, không thể bỏ qua sự ảnh hưởng quan trọng từ hiện tượng học Đức, đặc biệt là của Edmund Husserl, và hiện tượng học Pháp, với sự phát triển của các triết gia như Martin Heidegger, Maurice Merleau-Ponty và Jean-Paul Sartre Các nguyên tắc cơ bản của hiện tượng học không chỉ cung cấp cho Derrida một nền tảng triết học vững chắc mà
Trang 25còn tạo điều kiện để ông phát triển các phê phán và mở rộng lý thuyết giải cấu trúc của mình
Husserl, người sáng lập hiện tượng học, nhấn mạnh sự cần thiết của việc
―trở lại với chính sự việc‖ (Zu den Sachen selbst), nghĩa là tập trung vào những trải nghiệm trực tiếp mà không bị chi phối bởi các giả định hoặc lý thuyết bên ngoài Đối với Husserl, phương pháp này bao gồm việc ―ngưng hãm‖ (Epoche), tức là đình chỉ mọi phán đoán và giả định trước đó để tập trung hoàn toàn vào bản chất của trải nghiệm [37, tr 51-60] Ông tin rằng chỉ bằng cách này, chúng
ta mới có thể tiếp cận được ―bản chất‖ (essence) của các hiện tượng, vượt qua
những phiến diện thường gặp trong tư duy thông thường hoặc khoa học thực nghiệm [38, tr 18-25] Điều này được bổ sung bởi nguyên tắc ―tính ý hướng‖
(Intentionalität), trong đó Husserl khẳng định rằng ý thức luôn hướng đến một
đối tượng cụ thể Ý nghĩa và hiện hữu của thế giới, do đó, luôn liên quan đến cách mà ý thức ―hướng đến‖ và kiến tạo nó [5, tr 126-131]
Martin Heidegger, một học trò xuất sắc của Edmund Husserl, đã mở rộng hiện tượng học theo một hướng triệt để hơn, chuyển trọng tâm từ việc khám phá cấu trúc của ý thức cá nhân sang nghiên cứu bản chất của tồn tại (Being)
Trong tác phẩm quan trọng Tồn tại và thời gian, Heidegger đã phê phán rằng
cách tiếp cận của Husserl quá tập trung vào các trải nghiệm cá nhân mà bỏ qua bối cảnh lịch sử và xã hội Ông nhấn mạnh rằng sự hiện hữu của con người không thể được hiểu một cách cô lập, mà luôn phải được đặt trong các mối quan hệ và bối cảnh xác định, cụ thể của thế giới Heidegger gọi quan
niệm này là ―tồn tại trong thế giới‖ (Being-in-the-world), cho rằng con người
luôn là một phần của thế giới và sự tồn tại của họ bị định hình bởi các tương tác phức tạp với môi trường xung quanh
Heidegger cho rằng ―thế giới‖ không chỉ là tập hợp các vật thể bên ngoài
mà là toàn bộ bối cảnh mà con người tương tác và trong đó, ý nghĩa được kiến tạo Điều này đồng nghĩa với việc bản chất của con người không thể tách rời khỏi các mối quan hệ xã hội, văn hóa, và lịch sử mà họ đang tham gia Đặc biệt, Heidegger sử dụng khái niệm ―sự để tâm‖ (care) như một cấu trúc nền tảng của
Trang 26tồn tại, để nhấn mạnh rằng con người không chỉ là những thực thể suy nghĩ mà
là những thực thể sống động, luôn luôn gắn bó và tương tác với thế giới Một
đoạn trích nổi bật từ Being and Time minh họa cho luận điểm này như sau:
―Khi hướng đến và khi nắm bắt một điều gì đó, Tồn tại người không phải trước tiên đi ra khỏi lĩnh vực bên trong mà nó ban đầu bị bao bọc, mà đúng hơn, trong cách thức tồn tại cơ bản nhất của mình, nó luôn luôn đã ‗ở bên ngoài‘, cùng với một tồn tại nào đó được gặp trong thế giới vốn đã được khám phá‖ [36, tr 58]
Đoạn trích này thể hiện rõ rằng ―tồn tại trong thế giới‖ không phải là một đặc tính tùy chọn, mà là bản chất nền tảng của con người Con người chỉ có thể hiểu chính mình trong mối liên hệ với thế giới mà họ thuộc về Điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Derrida, đặc biệt trong cách ông lý giải rằng không có ý nghĩa nào là hoàn chỉnh hoặc cố định; mọi ý nghĩa đều phải được hiểu trong bối cảnh và mối quan hệ với các yếu tố khác
Maurice Merleau-Ponty, một nhà hiện tượng học Pháp, đã bổ sung một cách tiếp cận khác nhấn mạnh vào cơ thể và sự trải nghiệm qua giác quan Trong tác
phẩm Hiện tượng học về tri giác (Phenomenology of Perception), ông chỉ ra
rằng tri giác không chỉ đơn thuần là một quá trình tiếp nhận thông tin mà còn là một cách con người kiến tạo thế giới xung quanh Ông cho rằng cơ thể con người không phải là một đối tượng thuần túy, mà là một trung tâm trải nghiệm, thông qua đó ý thức tương tác với thế giới [41, tr 77-84] Tư tưởng này giúp Derrida nhận ra rằng ngay cả sự hiện diện cũng không bao giờ hoàn toàn đầy đủ; mọi sự hiện diện luôn chứa đựng một yếu tố vắng mặt hoặc bị trì hoãn, một quan niệm trung tâm trong lý thuyết giải cấu trúc của ông
Jean-Paul Sartre, trong tác phẩm Tồn tại và Hư vô (Being and Nothingness),
đã đặt nền móng cho triết học hiện sinh bằng cách nhấn mạnh rằng con người không chỉ hiện hữu như một thực thể đơn thuần, mà còn liên tục định nghĩa lại chính mình thông qua hành động Ý thức của con người, theo Sartre, mang tính phủ định, nghĩa là nó luôn vượt qua những giới hạn của bản thân để hướng đến một điều gì đó khác, một tương lai chưa được xác lập Sartre lý luận rằng, vì ý
Trang 27thức không bao giờ đồng nhất với thế giới mà nó trải nghiệm, nó luôn duy trì một khoảng cách, một hư vô, giữa bản thân nó và thực tại xung quanh Đây là cơ
sở để ông khẳng định rằng con người là tự do, và tự bản than nó là một đặc tính vốn có của ý thức Ông viết: ―tự do thực chất là một với bản chất của cái ―cho-
Ý thức, bằng cách này, không chỉ đơn thuần phản ánh thế giới mà còn liên tục kiến tạo ý nghĩa cho thế giới mà nó tồn tại bên trong Điều này tạo ra một mối căng thẳng nội tại giữa con người và thế giới Ý thức của con người không thể chỉ đơn giản là một phần của thế giới theo cách mà các vật thể khác hiện hữu, bởi vì nó luôn hướng đến việc vượt qua, phá vỡ, hoặc định nghĩa lại các mối quan hệ và ý nghĩa của thế giới Sartre gọi con người là ―hữu thể mà nó không là
cái mà nó là‖ (being which is not what it is), nhấn mạnh rằng con người không
bao giờ bị giới hạn bởi trạng thái hiện tại, mà luôn có khả năng hướng đến một điều gì đó khác hơn, lớn hơn, hoặc mới mẻ hơn
Derrida, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Sartre, đã khai thác khái niệm này để phát triển luận điểm của riêng mình về sự bất định của ý nghĩa và tồn tại Trong triết học giải cấu trúc, Derrida mở rộng ý tưởng rằng ý nghĩa và tồn tại không bao giờ đạt đến trạng thái hoàn chỉnh Giống như cách Sartre nhấn mạnh rằng con người là một dự phóng chưa bao giờ kết thúc, Derrida khẳng định rằng ý
nghĩa chỉ có thể được hiểu thông qua sự khác biệt (différance), một quá trình
không ngừng trượt khỏi sự hiện diện cố định
2 Thuật ngữ "cái cho mình" (tiếng Pháp: pour-soi, tiếng Anh: For-itself) là một khái niệm then chốt trong
triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre Trong ngữ cảnh này, ―cái cho mình‖ ám chỉ ý thức con người: một loại
tồn tại đặc biệt tự nhận thức về bản thân Khác với ―cái-tự-nó‖ (en-soi, In-itself) vốn là tồn tại của sự vật, đồ vật,
tồn tại một cách thụ động, đầy đặn và ―là chính nó‖ một cách hoàn toàn, thì ―cái cho mình‖ luôn luôn vượt qua chính mình, không ngừng hướng tới tương lai và ―không là cái nó là‖ Chính cái ―hư vô‖ nội tại này, khoảng cách giữa ý thức và thực tại, tạo nên nền tảng cho tự do của con người theo Sartre Nói cách khác, vì ý thức luôn
―khác‖ với thế giới và với chính bản thân nó trong quá khứ, con người luôn có khả năng lựa chọn, hành động và kiến tạo nên ý nghĩa cho sự tồn tại của mình
Trang 28Tóm lại, hiện tượng học Đức và Pháp đã cung cấp cho Derrida một nền tảng triết học phong phú để phát triển tư tưởng của mình Từ Husserl, ông học được cách nhấn mạnh vào trải nghiệm trực tiếp và mối quan hệ giữa ý thức và thế giới; từ Heidegger, ông thừa hưởng quan điểm rằng tồn tại không bao giờ là một thực thể tĩnh mà luôn được định nghĩa trong bối cảnh lịch sử và xã hội; và từ Merleau-Ponty và Sartre, ông khám phá ra sự phức tạp của cơ thể, tri giác, hành động, ý thức về tự do Tuy nhiên, Derrida đã vượt qua hiện tượng học truyền thống bằng cách phê phán tính siêu hình học và sự nhấn mạnh quá mức vào sự hiện diện, mở ra một không gian mới để hiểu về ý nghĩa, ngôn ngữ và tồn tại
1.2.4 Chủ nghĩa hậu cấu trúc
Khi đề cập đến chủ nghĩa hậu cấu trúc ở đây, có lẽ sẽ có một vấn đề logic,
vì thường thì khi ta nói đến ―tiền đề,‖ ta hay nói đến những gì ―có trước‖ Vậy Jacques Derrida là người bắt đầu chủ nghĩa hậu cấu trúc hay là người phát triển nó? Có lẽ đây là câu hỏi không cần thiết, bởi lẽ, chính trong tư tưởng của Derrida, vấn đề không phải là ―hiện diện trước‖ để thành tiền đề, mà, có lẽ, vấn
đề nằm ở cách các tư tưởng được hình thành, lan tỏa và được tái tạo qua quá trình tự phê phán, phủ định, và tái định nghĩa liên tục Điều này phù hợp với cách Derrida xem xét ngôn ngữ và ý nghĩa: chúng không bao giờ đạt đến trạng thái ổn định hay hoàn chỉnh, mà luôn vận động trong một không gian mở, nơi sự khác biệt và sự trì hoãn (différance) định hình mọi hệ thống tư tưởng
Theo đó, chủ nghĩa hậu cấu trúc có thể được xem là vừa kế thừa, vừa phá
vỡ nền tảng mà chủ nghĩa cấu trúc đặt ra Nếu chủ nghĩa cấu trúc tìm cách khám phá những quy luật ngầm chi phối các hệ thống ý nghĩa, thì chủ nghĩa hậu cấu trúc lại tập trung vào việc phơi bày các mâu thuẫn, sự trượt nghĩa, và tính bất định trong chính các hệ thống đó Derrida, cùng với các nhà tư tưởng như Michel Foucault, Gilles Deleuze, và Jean-François Lyotard, đã tạo nên một cuộc cách mạng tri thức, nơi mọi giả định về sự ổn định hay trung tâm ý nghĩa đều bị đặt câu hỏi
Cần lưu ý và nhấn mạnh rằng chủ nghĩa hậu cấu trúc không chỉ đơn thuần là một phong trào phê phán mà còn là một phong cách tư duy, tập trung vào những
Trang 29―khoảnh khắc trượt nghĩa‖ trong các hệ thống ý nghĩa Chủ nghĩa hậu cấu trúc là một phương pháp không nhằm tìm kiếm một chân lý phổ quát, mà để khám phá những lựa chọn đạo đức và xã hội ẩn sâu trong những khoảng trống và sự bất định của ngôn ngữ [35, tr 17-19] Chính từ những khoảng trống và sự bất định này, Derrida đã phát triển lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction), một phương pháp không nhằm phá hủy mà để tái cấu trúc các hệ thống tư tưởng, phơi bày những giả định ngầm ẩn mà các hệ thống ấy dựa vào để duy trì tính hợp thức của mình
Một ví dụ điển hình là khái niệm Logos trung tâm luận (logoscentrism) mà
Derrida phê phán mạnh mẽ Trong tư tưởng phương Tây truyền thống,
logocentrism nhấn mạnh vai trò trung tâm của ngôn từ như một phương tiện
truyền tải chân lý và hiện diện Derrida chỉ ra rằng chính sự nhấn mạnh này đã
bỏ qua tính chất động và không ổn định của ngôn ngữ, nơi ý nghĩa luôn bị trì hoãn và tái định nghĩa thông qua sự khác biệt với các yếu tố khác Từ đó,
Derrida đưa ra khái niệm différance, một thuật ngữ mang cả hai ý nghĩa ―khác
biệt‖ và ―trì hoãn‖, để mô tả cách ý nghĩa được tạo ra không phải thông qua sự hiện diện tức thì, mà qua một quá trình vận động liên tục
Tương tự, Michel Foucault, một nhân vật quan trọng khác trong chủ nghĩa hậu cấu trúc, đã mở rộng tư tưởng của Derrida bằng cách áp dụng các nguyên lý hậu cấu trúc để nghiên cứu quyền lực và tri thức Trong các tác phẩm như Giám sát và Trừng phạt (Discipline and Punish) và Khảo cổ học tri thức (The Archaeology of Knowledge), Foucault không chỉ đặt câu hỏi về cách các hệ thống tri thức được xây dựng mà còn phơi bày cách quyền lực vận hành qua các diễn ngôn và thực hành xã hội Thay vì tìm kiếm sự thật tuyệt đối, Foucault tập trung vào cách các diễn ngôn sản sinh ra những hình thức tri thức khác nhau, đồng thời thiết lập các cấu trúc quyền lực và chế ngự
Tóm lại, chủ nghĩa hậu cấu trúc không phải là một sự phủ nhận hoàn toàn chủ nghĩa cấu trúc, mà là sự tiếp nối và mở rộng, nơi các nhà tư tưởng như Derrida và Foucault chuyển sự chú ý từ các cấu trúc ổn định sang những động lực phức tạp và bất định của ý nghĩa và quyền lực Với Derrida, vấn đề không
Trang 30phải là ―bắt đầu‖ hay ―kế thừa‖ một phong trào triết học, mà là tạo ra một không gian mới để liên tục chất vấn, tái cấu trúc, và mở rộng các hệ thống tư tưởng hiện có
1.3 Cuộc đời, sự nghiệp của Jacques Derrida và tác phẩm “Những bóng ma của Mác”
1.3.1 Tổng quan về cuộc đời, sự nghiệp của Jacques Derrida
Jacques Derrida (1930-2004) là một triết gia người Pháp nổi bật trong thế
kỷ XX, được biết đến nhiều nhất qua lý thuyết giải cấu trúc (déconstruction) Ông sinh ngày 15 tháng 7 năm 1930 tại El Biar, vùng ngoại ô Algiers, Algeria, trong một gia đình gốc Do Thái Sephardic Derrida trải qua tuổi thơ đầy khó khăn dưới sự cai trị hà khắc và chính sách kỳ thị của chính quyền thực dân Pháp
và chế độ Vichy đối với người Do Thái Năm 1942, ông bị đuổi khỏi trường học
do các đạo luật phân biệt chủng tộc tại Algeria Những trải nghiệm bị áp bức và loại trừ này đã hình thành sâu sắc sự nhạy cảm đặc biệt của ông đối với các vấn
đề về bất công, kỳ thị chủng tộc, và những bất bình đẳng xã hội, trở thành động lực quan trọng trong các hoạt động triết học và chính trị của ông sau này
Năm 1949, Derrida đến Paris để theo học tại trường trung học Grand nhằm chuẩn bị vào Trường Sư phạm Cao cấp (École Normale Supérieure – ENS) Năm 1952, ông chính thức được nhận vào trường sau ba lần thi tuyển Chính tại đây, ông đã tiếp xúc với những trí thức nổi bật của thời kỳ đó như Louis Althusser, Michel Foucault, những người có ảnh hưởng sâu sắc tới quan điểm triết học cũng như lập trường chính trị của ông Thời gian học tập và giảng dạy tại Trường Sư phạm Cao Cấp đã cung cấp nền tảng quan trọng cho sự phát triển lý thuyết giải cấu trúc, một phương pháp phê phán sắc bén nhằm chất vấn
Louis-le-và tháo dỡ các hệ thống tư tưởng Louis-le-và ngôn ngữ vốn được xem là hiển nhiên Louis-le-và ổn định trong truyền thống phương Tây
Sự nghiệp của Derrida từ rất sớm đã gắn liền với các hoạt động chính trị mang tính trí thức Trong những năm 1960 và 1970, Derrida tích cực tham gia các phong trào phản chiến và chống lại chủ nghĩa thực dân mới Đặc biệt, vào năm 1968, ông thể hiện lập trường mạnh mẽ ủng hộ cuộc nổi dậy của sinh viên
Trang 31và công nhân tại Pháp, dù không trực tiếp tham gia vào phong trào trên đường phố, nhưng những bài viết và thảo luận công khai của ông thời kỳ này đã góp phần thúc đẩy tư duy phê phán trong giới trí thức cánh tả Pháp
Trong thập niên 1980, Derrida tiếp tục tham gia nhiều hoạt động chính trị quốc
tế Một trong những sự kiện quan trọng là vào năm 1981, ông đã trực tiếp đến Praha (Tiệp Khắc), để bày tỏ tình đoàn kết với các nhà bất đồng chính kiến và trí thức đối lập tại các quốc gia Đông Âu dưới chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu Stalin Sự hiện diện của Derrida trong các sự kiện như vậy không chỉ có ý nghĩa tượng trưng,
mà còn khẳng định một thái độ rõ ràng của ông: ủng hộ dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tư tưởng trong một tinh thần Mácist phê phán, nhưng không chấp nhận những biểu hiện toàn trị của các chế độ tự xưng là xã hội chủ nghĩa
Năm 1983, Derrida là một trong những người sáng lập Trường Cao đẳng Quốc tế về Triết học (Collège International de Philosophie) tại Paris, một không gian giáo dục đặc biệt nhằm phá vỡ những cấu trúc học thuật truyền thống, cổ
vũ cho tự do tư tưởng và tư duy phản biện trong giới trí thức Trường này chủ trương đề cao các cuộc tranh luận mở, phi tập trung, không bị giới hạn bởi một quan điểm hay lý thuyết duy nhất
Trong các hoạt động chính trị - xã hội, Derrida luôn giữ vững một lập trường trí thức độc lập, tỉnh táo và phê phán Ông không bao giờ chấp nhận sự độc đoán của một chủ nghĩa hay hệ tư tưởng cụ thể nào, kể cả chủ nghĩa Mác Tuy nhiên, Derrida luôn thừa nhận giá trị đặc biệt của di sản Mác, điều thể hiện
rõ nhất qua tác phẩm nổi bật Những bóng ma của Mác (1993) Trong tác phẩm
này, Derrida nhấn mạnh rằng di sản của Mác không chỉ đơn giản là một học thuyết chính trị, mà còn là một di sản chứa đựng những ―bóng ma‖, những lời kêu gọi chưa bao giờ hết tính thời sự về công lý, bình đẳng, và tự do, luôn tiếp tục ―ám ảnh‖ nhân loại trong bối cảnh thế giới đầy bất công hiện nay
Các tác phẩm chính trong sự nghiệp của Derrida như Về văn phạm học (De
la grammatologie, 1967), Viết và sự khác biệt (L'écriture et la différence, 1967), hay Giọng nói và hiện tượng (La voix et le phénomène, 1967) không chỉ là
những công trình triết học quan trọng, mà còn hàm chứa một thông điệp chính
Trang 32trị về sự cần thiết phải liên tục chất vấn và tái đánh giá các cấu trúc quyền lực và các hệ thống tư tưởng đã cố định hóa trong xã hội
Jacques Derrida qua đời ngày 8 tháng 10 năm 2004 Những hoạt động chính trị và lập trường phê phán không mệt mỏi của ông tiếp tục truyền cảm hứng cho nhiều trí thức và phong trào xã hội trên toàn thế giới, khẳng định một tinh thần trách nhiệm của người trí thức trước những bất công xã hội, và di sản của Mác trong bối cảnh toàn cầu hóa và những biến đổi phức tạp của thế giới hiện đại
1.3.2 Tổng quan về tác phẩm “Những bóng ma của Mác”
Tác phẩm này được viết bởi Derrida vào đầu những năm 90 sau sự sụp đổ của Liên Xô, và xuất bản vào năm 1993 Derrida bắt đầu bằng việc đặt ra câu hỏi về việc tư tưởng Mác đã và đang bị quên lãng trong bối cảnh lịch sử và chính trị hiện tại Derrida lựa chọn từ ―bóng ma‖ để mô tả những phần của tư tưởng Mác mà dường như vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng trong thế giới hiện đại Ông đề cập đến việc phê phán Mác không chỉ là một việc khám phá tư tưởng của Mác, mà còn là việc gặp gỡ và đối thoại với những ―bóng ma‖ này Derrida cũng chia sẻ quan điểm rằng việc thảo luận về Mác không thể tách rời khỏi bối cảnh lịch sử và chính trị hiện tại Nhưng ông khẳng định rằng, thay vì chỉ xem Mác qua lăng kính của quá khứ, chúng ta nên chấp nhận và đối mặt với những
―bóng ma‖ vẫn còn đang hiển hiện của Mác trong thế giới hiện đại
Tác phẩm ―Những bóng ma của Mác‖ có 5 chương với những nội dung chủ yếu như sau
Chương đầu tiên của tác phẩm có tựa dề Những mệnh lệnh của Mác (Injonctions de Mác) Trong chương này, Derrida sử dụng hình ảnh bóng ma
trong Hamlet để đặt ra khái niệm về bóng ma của Mác, tương tự như một cái gì
đó bị tách rời, không được kết nối với hiện tại Derrida cho rằng bóng ma của Mác cũng liên quan đến việc chờ đợi sự hiện hữu của nó, hay chính xác hơn là
sự hiện hữu trở lại Điều này đưa vào một chiều hướng lịch sử đối với việc ―ám ảnh‖, mặc dù không phải trong nghĩa đen là được gán cho một ngày cụ thể, đặt vào một ngày cụ thể trên lịch Đó giống hơn là sự bị chiếm giữ, và trong trường hợp của châu Âu và các bóng ma của nó, chúng ta có thể nhận ra nó như một sự
Trang 33hiện diện trong quá khứ trong các cuộc đấu tranh chính trị khác nhau Ngoài ra, Derrida cũng giới thiệu khái niệm về ―ám thể luận‖3
(hauntology), một khái niệm dùng để chỉ sự ám ảnh của quá khứ lên hiện tại và tương lai, nhằm phản đối và mở rộng khái niệm về ―bản thể luận‖ (ontology) truyền thống Thông qua việc truy tìm tương lai của chủ nghĩa Mác, chúng ta không chỉ đang theo dõi một bóng ma, mà còn đang bị nó theo dõi, và bị mất phương hướng - ―tương lai trở lại trước tiên‖ Cuối cùng, Derrida nhấn mạnh việc chúng ta nên đọc Mác không phải theo cách kinh viện, mà nên dựa theo hoàn cảnh thực tiễn của ông, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và chủ nghĩa quốc gia đang trỗi dậy Đối với Derrida, không có tương lai nào mà không có Mác, không có tương lai nào không có ký ức và sự kế thừa của Mác Vì có ―hơn một‖ Mác, và chúng ta cần phải hiểu rõ điều này
Chương thứ hai của tác phẩm có tên là Xua đuổi – chủ nghĩa Mác (Conjurer
- le Mácisme) Trong chương này, Derrida quả quyết rằng tinh thần của chủ nghĩa Mác cần được giữ lại Trong quá trình bảo vệ tinh thần của chủ nghĩa Mác, Derrida cũng chỉ trích một số học giả phương Tây, nhất là Fukuyama vì đã điều chỉnh các lập luận mang tính thực nghiệm và duy tâm để phù hợp với mục đích của mình để chống lại tầm nhìn của chủ nghĩa Mác về một xã hội tương lai tốt đẹp hơn xã hội tư bản Derrida lưu ý rằng hiện đang có một phong trào chống lại chủ nghĩa Mác, đồng nghĩa với việc ―chiêu hồn‖ Mác để chống lại nó Trong bối cảnh ấy, Mác cần được đọc lại nhưng với một tinh thần mới Nói một cách khác, Derrida muốn đặt ra một số giả thuyết để thảo luận, chú trọng vào trách nhiệm của chúng ta Ông cho rằng hiện nay đang có một xu hướng giáo điều cố gắng tạo ra một lý thuyết khẳng định sự tiến bộ của hình thái dân chủ phương
Trang 34Tây trong các điều kiện đầy mâu thuẫn và đáng ngờ, đề cập đến sự thất bại của các mô hình cách mạng và sụp đổ của các xã hội đã từng cố gắng chống lại Châu Âu Xu hướng này cho rằng chủ nghĩa Mác đã chết, và chỉ còn lại chủ nghĩa tư bản
Chương 3 có tựa đề Tàn tạ (Bức tranh của một thế giới không có tuổi)
Derrida bắt đầu bằng cách khẳng định rằng thế giới không có một thời đại duy nhất Đôi khi thứ tự mang tính mục đích luận rõ ràng của nó có thể bị đánh lạc hướng ―Tất cả, bắt đầu từ thời gian, có vẻ đã lộn xộn, không chính xác hay đa
bị điều chỉnh sai rồi‖ [2, tr 175] Ông cho rằng, không có sự phát triển hoặc phát triển bình thường theo sự tuyến tính nào đó, cũng không chỉ đơn giản là một cuộc khủng hoảng, và chắc chắn không phải là cuộc khủng hoảng cuối cùng của chủ nghĩa Mác Theo Derrida, Fukuyama chỉ chưa suy nghĩ kỹ về nó, vì vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết Cụ thể hơn, hiện nay có nhiều ―cơ chế kinh tế - xã hội‖ gây nhiễu loạn và không gian công cộng bị hạn chế hơn nhiều nhờ công nghệ truyền thông Thế giới hiện đại gặp phải rất nhiều khó khăn, từ thất nghiệp, chiến tranh kinh tế cho đến nạn đói và sự phân biệt đối xử trong cộng đồng quốc tế Fukuyama và những người khác cứ cho rằng dân chủ tự do
là sự hoàn thiện của lịch sử nhân loại, nhưng thực tế cho thấy dân chủ tự do ngày càng bạo lực và áp bức hơn về mặt kinh tế Bên cạnh đó, chúng ta không nên từ bỏ ―những lời hứa hẹn cho công cuộc đại giải phóng‖ chỉ vì kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội chưa đến, bởi trên thế giới chưa bao giờ có một mức độ áp bức
và tiêu diệt cao như vậy, cả đối với cuộc sống con người và động vật Chúng ta cần một ―Quốc tế mới‖, một liên minh không có tổ chức, được định hình bởi sự tương tác giữa ―sự cảm thông, đau khổ và hy vọng‖ Cuối cùng, để trung thành với ―tinh thần Mác‖, theo Derrida, chúng ta cần phê phán sự hoạt động của thị trường và nhìn nhận rằng nó không phải là một hệ thống hoàn hảo, tự nhiên mà không thể bị thay thế Chúng ta cần thấu hiểu rằng, thị trường và chủ nghĩa tư bản - dù có thể tạo ra sự thịnh vượng và tiến bộ - cũng có thể tạo ra sự bất bình đẳng, nghèo đói, và sự khủng hoảng môi trường Chúng ta không thể tiếp tục coi thường những hậu quả tiêu cực mà chính hệ thống này tạo ra Hơn nữa, chúng ta
Trang 35cần đối mặt và vượt qua các cuộc khủng hoảng mà thế giới đang phải đối mặt như sự biến đổi khí hậu, nạn đói và các cuộc chiến tranh phi nghĩa Cần nhận thức rằng những vấn đề này không phải là những sự cố ngẫu nhiên, mà là kết quả của hệ thống hiện hành, và chỉ có thể được giải quyết thông qua sự thay đổi
và cải cách hệ thống Cuối cùng, theo Derrida, chúng ta không nên mất niềm tin vào khả năng của chúng ta để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn Chúng ta cần tiếp tục kiểm tra và nghiên cứu hiện thực, và không ngại chỉ ra những khiếm khuyết trong hệ thống hiện hành, vì chỉ qua cách đó chúng ta mới có thể tìm ra lối thoát khỏi những khủng hoảng đang diễn ra và hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn
Chương 4 có tên là Nhân danh cách mạng, chướng ngại vật kép (Ngầu đục
“câu chuyện ngầu đục, ngầu đục về các bóng ma”) [Au nom de la révolution, la
double barricade (impure « impure impure histoire de fantômes »] Ở chương này Derrida tập trung vào việc phân tích một số tác phẩm chủ chốt của Mác, như
Ngày 18 tháng sương mù của Louis Bonaparte, Hệ tư tưởng Đức và Tư bản của
Mác Theo Derrida, Mác, với sự sắc sảo và phê phán đầy châm biếm, đã phơi bày quan hệ nội tại của lịch sử Pháp từ tháng 2, khiến cuộc đảo chính ngày 2 tháng 12 trở thành kết quả tự nhiên, tất yếu Đồng thời, Mác đã chứng tỏ ―quy luật vận động lịch sử‖ quan trọng, theo đó mọi cuộc đấu tranh, dù trong lĩnh vực chính trị, tôn giáo, triết học hay nền tảng ý thức khác, đều chỉ là biểu hiện của cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội Sau khi phân tích xong, Derrida nhắc lại việc ngày nay người ta cố gắng ―chiêu hồn‖ chủ nghĩa Mác nhưng lại muốn giữ nó trong trạng thái ―chết‖, tức không chú ý đến những tư tưởng nguyên bản của nó trong các tác phẩm của Mác Theo Derrida, thừa nhận rằng những hồn ma thực sự đã chiếm lấy Mác, và Mác đã trở thành một bóng ma, mặc dù ông chưa từng lường trước khả năng ông sẽ trở lại ám ảnh toàn châu Âu Derrida cũng nhận ra rằng các bóng ma, thường xuyên xuất hiện, có khả năng kết nối quá khứ và tương lai Theo Derrida, chủ nghĩa tư bản nghĩ rằng họ đã đẩy lùi Mác về phần mộ của mình, nhưng ―một bóng ma không bao giờ chết‖ Derrida tiếp tục khẳng định rằng một bóng ma đang ám ảnh châu Âu và thống trị diễn đàn tư tưởng, đó chính là bóng ma của Mác
Trang 36Chương 5 của tác phẩm có tựa đề Sự hiện hình của cái không thấy rõ: “Sự lén lút giấu bớt” có tính chất hiện tượng học (Apparition de l‘inapparent: l‘«
escamotage » phénoménologique) Trong chương này, Derrida tiếp tục thảo luận
về mối quan hệ giữa hiện tượng và khái niệm, đặc biệt là trong quan niệm của Mác Derrida bắt đầu chương bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiện diện trong triết học truyền thống Ông cho rằng, trong triết học truyền thống, sự hiện diện (presence) thường được coi là điều quan trọng nhất và đóng vai trò trung tâm trong quá trình tưởng tượng và hiểu biết Tuy nhiên, ông chỉ ra rằng
sự hiện diện luôn chứa đựng một yếu tố bất định và không thể xác định hoàn toàn Derrida tiếp tục thảo luận về sự xuất hiện của những khái niệm không hiện diện trong triết học Mác và sự tương quan của chúng với hiện thực xã hội Ông phân tích sự hiện diện và vắng mặt trong khái niệm về hàng hoá, lao động và giá trị, và chỉ ra rằng các khái niệm này tồn tại như những ―bóng ma‖ không thể hiện diện hoàn toàn
1.4 Ngôn ngữ và phong cách triết học của Derrida
1.4.1 Ngôn ngữ, quyền lực và mối tương quan với khả năng giải phóng của con người
Khi đề cập đến ngôn ngữ và phong cách của Jacques Derrida, việc dành một phần riêng để thảo luận về chủ đề này không chỉ cần thiết mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc lý giải các yếu tố lý luận và phương pháp mà Derrida đã sử dụng
để định hình tư tưởng của mình Điều này đặc biệt quan trọng khi xem xét mối liên hệ giữa ngôn ngữ, triết học Derrida, và chủ nghĩa xã hội Derrida đã khẳng định: ―Tôi chỉ có một ngôn ngữ, nhưng nó không phải của tôi‖ [32, tr 21], một tuyên bố chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa về bản chất của ngôn ngữ, sự thuộc về và tính tha hóa Vậy điều này liên quan gì đến bản thân Derrida và hơn nữa, đến chủ nghĩa xã hội?
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là một không gian chính trị, nơi quyền lực, sự thống trị và sự kháng cự được biểu đạt Derrida đã dành phần lớn tư tưởng của mình để mổ xẻ sự cấu thành và hoạt động của ngôn ngữ, không phải như một hệ thống trung lập, mà là một cơ chế mang tính cấu
Trang 37trúc quyền lực và sự bất bình đẳng Trong Chủ nghĩa đơn ngữ của người khác
(Monolingualism of the Other), Derrida lập luận rằng ngôn ngữ, dù được coi là
―của riêng‖ mỗi người, lại luôn bị chi phối bởi ―người khác‖ Cái gọi là chủ nghĩa đơn ngữ phải là một sự thống nhất hay tự do mà là một áp đặt được duy trì bởi các cấu trúc văn hóa và chính trị Điều này làm nổi bật sự mâu thuẫn cốt lõi trong các hệ tư tưởng xã hội, bao gồm cả chủ nghĩa xã hội, khi đối diện với vấn
đề giải phóng con người trong một bối cảnh ngôn ngữ bị chi phối bởi quyền lực
và ý thức hệ
Derrida giải thích rằng sự chiếm hữu ngôn ngữ là một ảo tưởng Ngôn ngữ
―không bao giờ thuộc về ta‖, bởi nó bị quy định bởi các luật lệ, các quy tắc, và lịch sử của nó, vốn nằm ngoài sự kiểm soát của cá nhân Trong đó, ông nhấn mạnh rằng ngôn ngữ vừa là không gian tự do vừa là nơi diễn ra sự áp bức:
―Ngôn ngữ của tôi là ngôn ngữ của kẻ khác‖ [32, tr 25] Điều này không chỉ mang tính chất hiện sinh mà còn mang tính chất chính trị, khi ngôn ngữ trở thành công cụ của sự áp đặt thuộc địa, của sự đồng hóa văn hóa, như Derrida đã trải nghiệm trong bối cảnh Algeria thuộc Pháp Trong bối cảnh ấy, Derrida không chỉ là một người sử dụng tiếng Pháp, mà còn là người chịu sự áp đặt của
nó như một biểu hiện của quyền lực thuộc địa và sự đồng hóa văn hóa Ngôn ngữ của kẻ thực dân, trong trường hợp này, vừa là công cụ để diễn đạt, vừa là dấu hiệu của sự lệ thuộc
Quan niệm rằng ngôn ngữ không hoàn toàn thuộc về cá nhân thể hiện sự nhạy bén trong tư duy của Derrida đối với bản chất của ngôn ngữ Đối với ông, ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một hệ thống biểu đạt trung lập; thay vào đó,
nó là nơi diễn ra các mâu thuẫn, sự áp đặt và kháng cự Derrida nhấn mạnh rằng ngôn ngữ vừa là không gian của tự do, nơi các ý nghĩa có thể được tạo dựng và tái cấu trúc, vừa là công cụ áp bức, khi nó bị kiểm soát bởi những cấu trúc quyền lực lớn hơn Ông nhận thấy sự tương tự giữa những mâu thuẫn của ngôn ngữ và các mâu thuẫn trong hệ thống chính trị: đặc biệt là chủ nghĩa xã hội và những mâu thuẫn nội tại của nó
Trang 38Như vậy, triết lý của Derrida về ngôn ngữ mở ra một cách nhìn mới về văn chương, triết học và chính trị Ông không phủ nhận thực tại khách quan, nhưng nhấn mạnh rằng bất kỳ biểu đạt nào về thực tại này cũng đều mang tính trung gian, luôn bị điều kiện hóa bởi cấu trúc ngôn ngữ Điều này đồng nghĩa với việc, mọi hệ tư tưởng, bao gồm cả chủ nghĩa xã hội, đều phải được nhìn nhận qua hệ quy chiếu ngôn ngữ Chính qua cách tiếp cận ngôn ngữ, Derrida phát triển các phương pháp ―giải cấu trúc‖ của mình để phơi bày những khuyết điểm nội tại trong các hệ tư tưởng, bao gồm những hệ thống hứa hẹn giải phóng nhưng lại mang trong mình nguy cơ tái tạo sự áp bức
Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội không thể chỉ dừng lại ở khía cạnh chính trị hay kinh tế, mà còn phải mở rộng sang lĩnh vực văn hóa
và ngôn ngữ Derrida chỉ ra rằng ngôn ngữ, như một hệ thống, mang dấu vết của các cấu trúc quyền lực và lịch sử, khiến nó vừa là nơi sinh ra ý nghĩa, vừa là nơi ngăn cản ý nghĩa đạt đến sự hoàn chỉnh Điều này có ý nghĩa sâu sắc đối với các phong trào xã hội chủ nghĩa vốn luôn đấu tranh để giải phóng các tầng lớp bị áp bức: họ không chỉ phải đối mặt với những thách thức kinh tế, mà còn phải phá
bỏ những rào cản văn hóa và ngôn ngữ được thiết lập bởi hệ thống áp bức cũ Derrida không đơn thuần nhìn nhận ngôn ngữ như một công cụ phục vụ cho chủ nghĩa xã hội Thay vào đó, ông coi ngôn ngữ như một không gian tranh luận, nơi các khái niệm về công bằng, bình đẳng, và giải phóng được tái định nghĩa liên tục Đối với ông, một phong trào xã hội chủ nghĩa không thể hoàn chỉnh nếu không đặt câu hỏi về cách ngôn ngữ hình thành và duy trì các cấu trúc quyền lực Derrida đưa ra viễn cảnh rằng, giống như ngôn ngữ, các hệ tư tưởng
xã hội chủ nghĩa phải luôn mở ra, luôn không ngừng được tái cấu trúc, để tránh rơi vào trạng thái áp bức mà chính chúng đã từng lên án
Với cách tiếp cận này, Derrida không chỉ đóng góp vào triết học ngôn ngữ
mà còn mang lại một góc nhìn mới cho lý thuyết về chủ nghĩa xã hội Ngôn ngữ, với ông, không phải là một công cụ tĩnh, mà là một thực thể sống động, luôn vận động và mở ra các khả năng mới Điều này tương tự với cách mà Derrida xem
Trang 39xét các phong trào xã hội chủ nghĩa: không phải là những cấu trúc cố định, mà là những dự án không ngừng phát triển và tự phản tư
1.4.2 Vai trò của văn chương đối với triết học trong tư tưởng của Derrida
Như thế, qua những gì vừa trình bày, chúng ta có thể thấy rằng Derrida không chỉ dừng lại ở việc phân tích ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp hay một hiện tượng văn hóa, mà còn sử dụng nó như một cửa ngõ để tiếp cận những câu hỏi triết học sâu sắc hơn Trong tư duy của Derrida, văn chương và triết học không tách biệt nhau một cách rõ ràng; thay vào đó, chúng giao thoa, thách thức
và hỗ trợ lẫn nhau Văn chương, với khả năng mở rộng ngữ nghĩa và phá vỡ các giới hạn của ngôn ngữ chính thống, trở thành không gian mà Derrida sử dụng để thực hành triết học, trong khi triết học, với hệ thống khái niệm của nó, lại là nơi ông khám phá những mâu thuẫn tiềm tàng trong chính ngôn ngữ mà nó sử dụng Derrida đã chỉ ra rằng ngôn ngữ, dù được sử dụng để diễn đạt các khái niệm triết học như ―chân lý,‖ ―tha hóa,‖ hay ―luật pháp,‖ vẫn luôn mang dấu ấn của những hệ thống siêu hình học đã thống trị tư duy phương Tây qua nhiều thế kỷ Trong đoạn văn trên, ông viết:
―Tất cả những từ ngữ này: chân lý, tha hóa, chiếm hữu, nơi cư trú, nhà của
chính mình (chez-soi), tính đồng nhất (ipseity), vị trí của chủ thể, luật pháp, v.v.,
trong mắt tôi, đều là những khái niệm mang tính vấn đề Không có ngoại lệ Chúng mang dấu ấn của siêu hình học, thứ đã áp đặt chính nó thông qua, một cách cụ thể, ngôn ngữ của kẻ khác, ngôn ngữ đơn nhất của kẻ khác‖ [32, tr 59] Derrida tiếp cận các khái niệm triết học với sự nghi ngờ rằng chúng không phải là những thực thể trung lập Chúng chịu ảnh hưởng bởi siêu hình học, không thông qua lý thuyết hay các định nghĩa rõ ràng, mà qua chính ngôn ngữ—một phương tiện được ông gọi là ―ngôn ngữ của kẻ khác.‖ Tính đơn ngữ mà ông nhấn mạnh mang ý nghĩa kép: vừa là ngôn ngữ mà cá nhân sử dụng, vừa là hệ thống tư tưởng áp đặt từ bên ngoài, khiến các khái niệm triết học như chân lý hay luật pháp không bao giờ hoàn toàn khách quan hay tách biệt khỏi lịch sử và quyền lực
Trang 40Khi ông cho rằng các từ này mang tính vấn đề, điều đó không có nghĩa là chúng sai hay vô nghĩa Ngược lại, chính tính vấn đề này thúc đẩy việc xem xét lại các tiền giả định mà chúng mang theo, những ràng buộc ngầm định mà siêu hình học áp đặt lên ngôn ngữ và tư duy Derrida không chối bỏ việc sử dụng các khái niệm ấy, bởi lẽ, như ông thừa nhận, chúng vẫn là công cụ không thể thay thế trong triết học Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng khi sử dụng, người ta cần nhận thức rõ cách chúng vận hành và cách chúng luôn mang dấu vết của những
hệ thống ngôn ngữ đã định hình chúng
Việc viết, do vậy, như cách Derrida mô tả, không phải là việc bác bỏ ngôn ngữ mà là sự can thiệp vào chính cơ thể ngôn ngữ Ông khai thác những khoảng trống, mâu thuẫn, và những giới hạn trong cấu trúc ngôn ngữ để phơi bày tính bất toàn của các khái niệm mà ngôn ngữ duy trì Ngôn ngữ, dù là phương tiện của triết học, lại thường xuyên bị điều kiện hóa bởi chính truyền thống mà nó phục vụ Điều này khiến mọi nỗ lực phân tích hay phê phán, theo Derrida, không bao giờ có thể hoàn toàn vượt thoát khỏi ngôn ngữ Chính sự bất khả này
là lý do khiến giải cấu trúc trở nên cần thiết: không phải để phá hủy hệ thống,
mà để làm sáng tỏ những gì mà hệ thống ấy che giấu
Cũng từ đó mà Derrida mở ra một cách tiếp cận đặc biệt đối với văn chương Đối với ông, văn chương là không gian mà các cấu trúc ngôn ngữ được thử thách và tái định hình, đồng thời là nơi các giới hạn của triết học được đặt vào trạng thái tự phản tư Văn chương vận hành trên nguyên tắc của sự khác biệt
và trì hoãn (différance), tạo điều kiện để ý nghĩa không ngừng được mở rộng và
tái tạo trong một hệ thống không cố định Điều này mang lại cho văn chương khả năng chất vấn và mở ra những chiều kích mới cho tư duy
Derrida xem văn chương như một thực hành ngôn ngữ mang tính giải cấu trúc, nơi các quy ước bị phá vỡ và các ý nghĩa tiềm ẩn được khơi mở Thay vì tìm kiếm sự chính xác hay ổn định, văn chương tồn tại như một diễn ngôn cho phép ý nghĩa trở thành một quá trình không ngừng vận động Trong văn chương,
sự trượt nghĩa không phải là một khiếm khuyết mà là bản chất, điều này cho phép nó vượt qua các giới hạn áp đặt bởi các cấu trúc triết học truyền thống