1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu phương pháp Đặt câu hỏi trong giờ khẩu ngữ tiếng hán sơ cấp Ở việt nam

132 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên
Tác giả Dương Thủy Quỳnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Nam
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thơ mới và ấn tượng với mạch thơ về mủa qua từng giai đoạn lịch sử và văn học của dân tộc, người viết đã mạnh đạn theo dudi nghiên cứu về thơ ông với để tài: "Không gian và thời gian ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỞNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN

DƯƠNG THỦY QUỲNH

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG THO VE BON MUA CUA XUAN DIEU VA

CHE LAN VIEN

LUAN VAN THAC Si

Chuyên ngành Lý luận văn học

THẢ NỘTI- 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỞNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VẢ NHÂN VĂN

DUONG THUY QUỲNH

KHONG GIAN VA THOI GIAN NGHE THUAT

TRONG THO VE BON MUA CUA XUAN DIEU VA

CHE LAN VIEN

Trang 3

LOI CAM ON

"Trang, đầu tiên của luận văn nay, em mudn gửi lời cảm ơn chân thành

đến TS Nguyễn Văn Nam Thầy giáo trục tiếp hướng dẫn em thực hiện Luan văn Cảm ơn thầy đã ó những gợi ý về để tải cũng như hướng dẫn ơm triển khai để tài qua góp ý để cương Thầy đã có những động viên, thông cảm

giúp em khi trong thời gian làm bải em phải giải quyết nhiều việc cá nhân

Cm on gia dình đã luôn ủng hd, tạo mọi điều kiện vỀ vật chất cũng,

như tỉnh thần giúp em vững bước trong suốt thời gian làm Luận văn Ngoài

ra, là bạn bở dã cùng cm chia sẽ tải liêu, dộng viên dễ cm thuận lợi hơn trong quả trình làm bài

Thân ái gửi lời cắm ơn đến thây giáo, gia đình và các bạn!

Trang 4

3 Phương pháp nghiên cứu

4 Cau trúc luận văn

Chương 1: VẺ KHÔNG GIAN VẢ THỜI GIAN NGITÿ THUẬT

1.1 Các phạm trủ không gian và thời gian nghệ thuật

1.1.1 Khải bược chàng về không gian nghệ thuật

1.12 Khai lege chung về thời gian nghệ thuật trong thơ

1.2 Mỗi quan hệ đặc biệt khăng khít giữa không gian và thời gian nghệ

thuật irong các bài thơ về mùa

1.21 Không gian- mật biểu hiện của muà

1.22 Mùa- Một biểu tượng bước đi của thời gian

1.3 Iành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuậ

1.3.1 Hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật cha Ché Lan Vién 18

1.3.2 Llành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu

1.4 Tiểu kết (Điểm giảng và khúc trong hành trình vắng tạo và phong cách

nghệ thuật của hai nhà tho) Error! Bookmark not def

Chwong 2: KIIONG GIAN VA THIỜI GIAN NGIIÿ THUẬT TRONG THƠ

VE MUA CUA CHE LAN VIEN VA XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG

3.1.1 Vỡ mộng trong hùnh trình tìm kiếm [Ì trỡng cả nhân

2.1.2 Phú dịnh, khước từ, Ip khai thực tại

2.2 Lhởi gian nghệ thuật

2.21 Nhận định tổng quải

3.2.2 Màu sắc thâm mỹ chủ đạo của các mùa trong thơ:

Trang 5

1 Những hình anh thién nhién néi bật trong các bài thơ về mùa

3.3.2 Những màu sắc thẳm mỹ chủ yên của không gian nghệ thuải

Chương 3 KHÔNG GIAN VÀ 'THỞI GIAN NGHỆ Tí

VE MUA CUA CHE LAN VIEX VA XUAN DIEU SAU CACH MANG

3.1.2 Những biễu hiện của Cảm hứng thê sự

3.2 Thời gian nghệ thuật:

3.2.1 Nhận dịnh tổng quả

3.2.2 1Màu sắc thẩm ;Hÿ chủ đạo của các mùa trong tho

3.3.2 Những hình ảnh nỗi bật trang các bài thơ về mùa

3.33 Những màu sắc thẩm mỹ chủ yến của không gian nghệ thuật

3.4 Đặc sắc trung nghệ thuật biểu hiện

Trang 6

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Dén với văn chương là đến với một thê giới day màu sắc, sinh động,

hap dẫn nhưng không kém phần huyền bí Ở đó, mỗi tác phẩm chân chỉnh là cánh cửa để chúng ta bước vào đời sông nội tâm con người phong phủ, muôn hình vạn trạng, bởi ý nghĩa nhân văn cao cả nhất của văn chương chính là xây

dựng tâm hồn con người, như Thạch Lam dã nói: Vấn chương giúp “thanh

lọc” tâm hôn mỗi chúng ta Văn chương có sức mạnh vô hình “Nó "là tiếng

nói của tình cảm con người, nỗ khơi dậy trong mỗi người những tình cảm sẵn

có nhưng nó cũng gây cho ta những tình cảm ta chưa có [12;15].'Thơ ca luôn

14 thé giới của sự sáng tạo, giúp cho những người nghệ sĩ thăng hoa để khẳng

dịnh tải năng cũng như là nơi để chia sẻ những cám xúc vả tâm trạng Mỗi

một nhả thơ là một chủ thể trữ tình để dẫn đắt bạn đọc đến với những xúc cảm

rên thơ và mềm mại, nhưng không bởi thể mà thơ đánh mất đi phần mạnh

mẽ, quyét doan và lý trí Mỗi một nhà thơ lại có những tô diễm riêng cho

“vườn địa đảng” của mình và tủy vào các giai đoạn phát triển khác nhau của xiên văn học, của bối cảnh lịch sử xã hội, mà thơ lại có sự vận động, thể hiện

và phát triển riêng Trong sự đa dạng và cuốn hút của thi đàn Việt Nam người

viết lựa chọn nghiên cứu về để tài: "Không gian và thời gian nghệ thuật trong

Chế Lan Viên”

thơ về bồn mùa của Xuân Diệu

Xuân Liệu và Chê Lan Viên- hai gương mặt sáng của phong trào "Tho

mới", hai giọng thơ- hai dấu ấn riêng để bao thể hệ yêu thơ nhận ra cái hay,

cái dẹp của mỗi người, dẫu mạch tư tưởng theo từng piai đoạn lịch sử xã hội tương đối tràng hợp Có biết bao đặc điểm trong nội dung và thế giới nghệ

thuật thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên thu hút những tác giả nghiên cứu

văn học Nhưng người viết dặc biết ấn tượng về vấn dễ không gian và thời

gian nghệ thuật trong các bài thơ về bến mùa của hai nhà thơ Mỗi mùa trong

Trang 7

năm mang một vẽ đẹp và cách biểu cảm, sửc lay động riêng, nhiêu nhả văn,

nha tho đã mượn mùa để nói mình Xuân liệu vả Chế Lan Vien 1a hai trong

số nhiều nhà thơ khai thác hình tượng “mùa” thành công để gửi gắm tâm tư,

lý tưởng, chiêm nghiệm sự trôi chấy gủa thời gian Trong suốt sự nghiệp sáng,

tác, hai nhà thơ đã có một sẽ lượng tác phẩm đáng kế viết về múa, với nhà thơ Xuân Diệu khoảng 50 bài thơ và nhà thơ Chỗ Lan Viên khoảng 60 bài

Xuất phát từ lòng yêu mến với hai tải năng trưởng thành tử phong trào

thơ mới và ấn tượng với mạch thơ về mủa qua từng giai đoạn lịch sử và văn

học của dân tộc, người viết đã mạnh đạn theo dudi nghiên cứu về thơ ông với

để tài: "Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bổn mùa của Xuân

Tiệu và Chế Lan Viên"

Tur do, vide khám phả “Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về

bốn mùa của Xuân Diệu vả Chế l.an Viên” không chỉ giúp người nghiên cứu

khẳng định về phong cách thơ đặc sắc của hai nhà thơ, mà còn xác định vị trí

vả những đóng góp của Xuân Liệu và Chế lan Viễn trong tiến trình thơ ca

Việt Nam hiện đại Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ vé bén mua của Xuân Diệu và Chế Lan Viên được nhìn nhận, nghiên cứu từ góc độ một chỉnh thể nghệ thuật, nhân mạnh vào vấn đề không gian và thời gian với

những quy luật vận động nội tại của nó, chứ không phải nhìn nhận trong sự

riêng biết, tách rời giữa hình thức với nội dung, cũng không phải chỉ là một

hiện tượng xã hội lịch sử đơn thuần

Lịch sử vấn đề

Trong sự nghiệp thơ ca của mình, nhà thơ Xuân Diệu và nhá thơ Chế

Lan Viên đã cho ra đời số lượng tập thơ ấn tượng, với nhà thơ Xuân Diệu 1a

13 tập thơ vả một tuyển tập thơ Đó là: Thơ (thơ (1938), Gửi hương cho giỏ

(1945), Ngọn quốc kỳ (1945), Dưới sao vàng (1949), Me con (1954), Sáng

(1954) Ngôi sao (1953), Cẩm tay (1962), Mũi Cà Mau (1962), Riêng chung

Trang 8

(1962), Tôi giàu đồi mỗi (1970), Mội khối hông (1964), Thanh ca (1982) và

Tuyển tập Xuâm Diệu (19M3)

hà thơ Chê Lan Viên cổng hiển sức lao đông nghệ thuật đáng nể về lĩnh vực thơ œ& với 15 tập thơ và hai tuyển tập thơ, đó là: Điều tản (1937), Gửi các anh (1854), Ảnh sớng và phù sa (1960), Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ dai (1976), Hoa trước lăng Người (1976), Dái đất vùng trời (1976), Hai theo

mùa (1977), lĩaa trên đá (1984), Tuyén tập thơ Chế Lan Viên (lập I, 1985;

tap I, 1990), Ta giti cho minh (1986), Di civ ther I, If, IIE (1992, 1993, 1995)

Điểm qua lịch trình nghiền cứu thơ của hai nha thơ Xuân Diệu và Chế

Lan Viên, người viết đã được tìm hiển về những bài viết lớn nhỏ về ông

Tổng hợp các tài liệu cho thấy, các công trình nghiên cứu về cuộc dời văn

một số nghiên cứu về thơ của Xuân liệu của PGS.15 Lý Hoài Thu- Người

năng lòng với thơ Xuân Diệu Dó là các nghiên cứu: Xuân Diệu — VỊ hoàng đề

tình yêu của triều đại thơ ca lãng mạn 1932-1945 (Tạp chí Khoa học, Đại học

Quốc gia Hà Nội, 1/1995) Mỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Xuân Diệu trước

1045 (Tạp chí Văn học, số 5/1995) Sáng tạo và đóng góp của thí sĩ Xuân

Diệu vào tiễn trình thơ Việt Nam hiện dai (Tap chi Trưng học phỗ thông, số

/1995) Xuân Diệu — Nỗi dam mê trần thể (Lạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số

3/1995) Thời gian - đời người — nhịp sông Irong thơ Vuân Diệu trước 1945 (Tạp chỉ Văn nghệ Quân dội, số 10/1996) Thế giới không gian nghệ thuật của Xuân Diệu qua “Thơ thơ" và “Giửi hương cho gió” (Tạp chí Văn học, số 12/1996) Thời gian nghệ thuật rong “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của

Xudn Diéu (Vap chi Văn hoá Nghệ thuật, số 6/1997) Các dễ tái nghiên cứu về thơ và đời của nhà thơ Chế Lan Viên có thế kể đến như: Chế Lan Vién- Hoa

Trang 9

mọc trên đá- Giáo su 11a Minh Ditc Nghé thudt the Ché Lan Vién- Doan

‘Trong Huy ?hể giới nghệ thuật thơ Chế Lan Liên- Hồ 'Thê Hà Sự vận động

của cải tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Liên- Ngô Thái LỄ

Thằm hướng Lới nét độc đáo cho đề tài luận vin eda minh, người viết muốn khu biệt để tải vào mắng nghệ thuật giàu xúc cảm và tỉnh tế trong thơ

của hai nhà thơ Xuân Diệu và Chế Lan Viên , đó là vẫn đề không gian và thời gian trong các bài thơ về bến mùa Từ đó có những liên kết, đối sảnh giữa hai

nhà thơ qua từng giai đoạn khác nhau dé thấy những điểm đặc sắc của Không gian, thời gian trong các bài thơ về bốn mủa cũng như thấy rõ luồng vận dộng chung- riêng trong tư tưởng cũng như cá tính sáng tạo của hai nhá thơ

2 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

2.1.Đấi tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn để thuộc “Không gian và thời

gian và thời gian nghệ thuật trong các bài thơ về bổn mùa của Xuân Diệu và

Chế Lan Viên

2.2.Pham vi nghiên cứu

Phạm vi của đề tài là khảo sát toàn bộ các lập thơ trong sự nghiệp của

hai nhà thơ Đặc biệt chuyên sâu, chắt lọc những bài thơ viết về mùa của

Xuân Diệu và Chế Lan Viên

Bén cạnh đó, người viết đọc và tham kháo những bài nghiên cứu, bài

báo về hai nhà thơ trên sách bảo và các phương tiện thông tin đại chúng

2.3.Mục đích nghiên cứu

Người viết thực hiện để tải nhằm chỉ ra những phương diện xây dựng

nên không gian vả thời gian nghệ thuật trong các bài thơ về bổn mùa của

Xuân Diệu và Chế Lan Viên Đó là những vấn dễ thuộc: Cam hứng chủ dạo

của nghệ thuật lãng mạn (piai doạn trước 1945), Câm hứng sử thi thể sự (giai đoạn sau năm 1945); Thời gian vả không gian nghệ thuật ; Phương thức biểu đạt.

Trang 10

Thông qua việc mô tả Không gian và thời gian nghệ thuật trong tho về

bến mủa của Xuân Hiệu và Chế Lan Viên người viết hướng tới khẳng định

những đặc điểm nỗi bật thuộc về cảm hứng, tư tưởng thơ, thi pháp trong các

bài thơ viết về mùa, để thấy mối quan hệ đặc biệt khăng khit giữa không gian

và thời gian nghệ thuật trong các bài thơ về mùa Và hơn hết là nhấn mạnh

phong cách và vị trí của nhà thơ trong dòng chảy thì ca Việt Nam hiện đại

3 Phương pháp nghiên cứu

Tế thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng các phương

pháp nghiên cửu sau

3.1 Phương pháp nghiên cứu thì pháp học

Không gian và thời gian nghệ thuật chỉnh lả một trong những yếu tá

căn bản hợp thành thi pháp tác phẩm văn chương Nghiên cửu các đặc tính không gian, thời gian nghệ thuật của táo phẩm là một trong những nhiệm vụ

chủ yếu của tiếp cận thi pháp học Vì thế nghiên cứu theo các nguyên tắc của

thi pháp học là phương pháp nghiên cứu dặc biệt quan trong của luận văn

3.2 Phương pháp phân tích đổi tương theo quan điểm hệ thông

Mục đích nghiên cứu của luận văn là vừa phát hiện những sắc thái thâm

mỹ độc đáo của từng sáng tác độc lập vừa liên kết, khái quát để phát hiện các

quy luật chung ở nhiều ting bac chi phối và kiến tạo nên bản sắc độc đáo,

thống nhất ở mỗi phong cách sang tao Vi thé tiếp cận theo quan điểm hệ

thống là có ích và cần thiết

3.3 Phương pháp so sảnh, déi chiêu

Đổi tượng nghiên cứu của luận văn là tập hợp nhiều sáng tác qua các

thời kỳ của hai phong cách sáng tạo vừa gần gũi vừa khác biệt, vì thế phương pháp so sánh, dấi chiếu là cần thiết và có ích để phát hiện những sự tương

đẳng và dị biệt vốn tôn tại rất nhiều trong dỗi tượng khảo sắt

Trang 11

Ngoài ra, chứng tôi cũng thường xuyên sử dụng cáu phương pháp nghiên

cứu như:

_ phương pháp lịch sử - xã hội

© phương pháp tiểu sử

Về các thao tác khoa học, chúng tôi vân dụng các thao tác thông thường,

như thống kẽ, phân loại, phân tích, tổng hợp, khảo sát văn bản

Cầu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn

gồm có 3 chương chính sau:

Chương I- VỀ không gian và thời gian nghệ thuật

Chương 1l: Không gian và thời gian nghệ thuật tong thơ về màa

của Xuân Diệu và Chế Lan Viên trước Cách mang Thang Tam

Chương HI: Không gian và thời gian nghệ thuật trong thờ vỀ mùa

của Xuân Diệu và Chế Lan Viên sau Cach mang Thing Tam

Trang 12

Chương 1: VỀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

1.1 Các phạm trù không gian và thời gian nghệ thuật

1.1.1 Khải lược chung về không gian nghệ thuật

Từ điễn thuật ngữ văn học định nghĩa: “Không gian nghệ thuật là

hình thúc bên trong của hình tượng nghệ thuật thé hiện tính chỉnh thé của

nó Sự miều tả, trần thuật trong nghệ thuật bao gio cũng xuất phát từ điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất dịnh Không gian nghệ thuật gắn

tới cảm thụ về không gian, mạng tính chủ quan chẳng những cho thấy cầu

trúc nội tại của làc phẩm văn học mà còn cho thầy quan niệm vé thể giới,

chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai doạn văn học” [1T]

Ta thấy không gian chính là môi trường tỒn tại của con người: dòng

sông, cánh ding, ngọn núi, dèo xa, biển cá Không gian lả nơi nhà văn triển khai sự kiện, biến cố, 14 chỗ cho nhân vật hoạt động Không gian trong văn

học là không gian nghệ thuật Không gian đó không phải ngẫu nhiên như

trong dời sống mà do nghệ si chon dé thé hién ý dŠ nghệ thuật Không gian

'ửng với một cách sống Tiêng biệt của con người

- Không gian rộng lớn : người có chỉ lớn, khát vọng đạp đỗ mọi khó

khăn để tiến đến thành công như trong Ống giả và biển cả hay thơ về lãnh tụ

của Tế IIữu

- Không gian nhỏ hẹp : điển tá sự Lủ túng, ngội ngạt, ứng với mẫu người

thích ngồi một chỗ, thế giới tâm hỗn nghẻo nàn, không ước mơ, không muốn

thay đổi, sống mòn

Trong điêu khắc cỗng như hôi hoa, không gian được người nghệ sĩ

miéu tả là không gian nh Người họa sĩ chỉ có thê chọn cho mình một không

gian nhất dinh dễ hoàn thành bức tranh của mình không thể cùng lúc di chuyển nhiều không gian Còn không gian trong vẫn học là một không pian

Trang 13

động, biển đổi Con mắt của nhà văn có thể đễ dàng đưa người dow

di chuyến từ không gian này sang không gian khác Đọc câu thơ

Khi sao phong sắm rũ là,

Giữ sao lan lắc nhất hoa giữa đường

(lruyện Kiểu)

Trong Truyện Kiều - tác giả đã cho ta thấy hai giai đoạn cuộc đời khác

biệt đữ đội của Thúy Kiểu Không gian trong vần học không hễ bị một giới

han nào Trong loại văn học kỉ ảo, con người có thể đi từ thể giới này sang thé

giới khác một cách để dàng Đá, lam cho văn học phản ảnh dời sống

trong sự toàn vẹn, dầy dân của nó Hới lẽ, không gian, thời gian không chỉ là

nôi trường, lả quá trinh tên tại của nhân vật mà còn là sự cảm nhận của chính chủ thể hoạt động ấy về thể giới Thời gian trong truyền cỗ tích luôn mang

tính khép kín: tính cách con người là bất biến, người ta có thể trẻ mãi không,

già, thời gian không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc mà con người đạt được

Với thơ cỗ diễn, thời gian mang tính tudn hoàn, vĩnh viễn LỄ diễn tả cảnh

mùa thu mới - mủa thu đất nước đã dành được độc lập, dân tộc ta đã được

sống cuộc sông tự do, nhà thơ Nguyễn Đình Thi dựng lên một không gian rông lớn, khoáng đạt, đa chiều:

“Adùa thu nay khác rồi

Tài đứng vui nghe giữa mái đôi

Giá thôi rừng tre phấp phới

Atta thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chứng ta

Nii rừng dây là của chúng ía

Những cánh dồng thom mat

Những ngà Âường bát ngắt

Trang 14

Những dòng sông đỗ nặng phù sa ”

{Pat nude)

Các cách biểu hiện không gian :

- Từ chí vị trí và tỉnh chất như trên, dưới, trước, sưu, trung, ngoài, phải,

trái, lên xuống mênh mênh, bát ngắt, hẹp, thâm thẩm, khúc khuỷu, quanh

co

- Danh từ, cụm danh từ chỉ sự vật : bến đỏ, cây da, mái dình, làng biển,

ni cao, rừng sâu, trời rộng, sông dài

- Các địa danh trở thành không gian lượng trưng như : Tiêu Tương —

Ham Duong, C6 16, Xich Bích, địa ngục, thiên dòng, bằng lai

Không có hinh tượng nghệ thuật nào lại không có không gian nghệ

thuật và không có nhân vật nảo lại không tẳn tại trong một nền cảnh nhất dinh

nao đó Ngay bản thân người kế chuyên cũng nhìn nhận sự việc trong một

khoảng cách, một góc nhìn nhất định Không gian đó là không gian sống,

không gian trải nghiêm và cũng lả không gian sáng tạo của người nghệ sĩ

1.1.2 Khái lược chung về thời gian nghệ thuật trong thơ

Mỗi hành động, sự kiện đều phải xấy ra ở một thời điểm nào đó Vì

vậy, đi liền với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ

thuật lả thời gian mang tính quan niệm và cá nhân Mỗi tác giả có một cách

cảm nhận khác nhau về thời gian để thổ hiện ý đồ nghệ thuật của mình Điểm

thứ nhất cần lưu ý là thời gian nghệ thuật có thé làm độc giả quên đi hiện thực, nhập làm một với thời gian trong tác phẩm Giữa ban ngày mà ta cử

tưởng dếm tối, tử biện tại mả trở về quá khứ, thâm chí trở vẻ thời khai thiên

lập địa Do được xây đựng bằng ngôn ngữ nghệ thuật nên thời gian trong tác

phẩm dễ đảng biến dồi linh hoạt

Điểm thứ hai cẦn lưu ý là thời gian trong văn học có những nhịp diệu,

sắc độ riêng để phản ánh hiện thực Văn học có thể kéo dài thời gian bằng

Trang 15

cách miêu tả rất tỉ mi mọi diễn biến Lâm trạng, mọi diễn biển hành động của

nhân vật của các sự kiện Văn học có thể làm cho một ngàp dài hơn thể

ky như tên truyện của Aitmatov Ngược lại, nhà văn có thể làm cho thời gian trời nhanh đi bằng cách dồn nén làm cho môi khoảng thời gian đải chỉ quả một dòng trần thuật ngắn

Điểm thứ ba đó là thời gian trong văn học có thể trội nhanh hay chậm,

yên š, dễu đều hay thay đổi dột ngột, gấp gáp, day biển động, có thế có những

liên hệ giữa quá khứ, hiện tại, tương lai Thời gian có thể được trần thuật củng

chiều với thời gian tự nhiên, nhưng cũng có thể đi ngược tir hin tai iro ve qua khử bằng hồi tưởng Các lớp thời gian có khi dan bên, xoắn xít với nhau

Cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tương lai có mỗi liên hệ thời gian, củng

đồng hiện trong một thời điểm Trong doan Thúy Kiểu trao duyên, giữa thời

điểm hiện tại, Thúy Kiểu tự nhìn thấy mình trong tương lai, một tương lai

không còn tồn tại làm người, mà chỉ là hén ma dang ở chín suối, đang theo

gió di về Đây là sự đồng hiện thời gian, tức quá khử, hiện tại và cả tương lai

hiện lên cùng lúc qua dòng cám nghĩ của nhân vat mà Những ngôi sao xa

xôi của Lê Minh Khuê là ví dụ cụ thể Thời gian vật lí trôi qua Luan tự theo

các mủa, thời tiết:

“Sen tan cic lại nở hoa ”

Thời gian tâm lí lúo nhanh lúc chậm tủy thuộc trạng thái âm hồn và

cuộc sống đặc thủ của nhần vật :

âu đong càng lắc càng đâu,

Ba thu dân lại một ngày dài ghê

(Truyện Kiểu)

Thời gián trong văn học là thời gian tâm lý, không trùng khít với hiện

thực nên hiểu và tiếp nhận yếu tố thời gian phải cân nhắc thật kĩ Khi nhà văn

Trang 16

viết hôm qua, hôm nay, ngày mái, dạo này, thẳng trước, năm sau, mot dém

đồng thì có thế không phải là thời điểm cu thé nao Vi du, Hoang Lộc viết

Tiêm qua con theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Lidm nay đã chặt cành

Đắnp cho người dưới mộ

{Viéng ban)

Thì độc gid không cần biết cụ thể hdm qua, hâm nay là ngày nào Chi

biết rằng sự việc xảy ra quá nhanh, hoàn toàn bắt nườ, gây bang hoàng, sửng

sốt Điều dé tao nên sự vận động và tính quả trình da dạng của hình tượng văn học mà các loại hình nghệ thuật khác khó đạt đến được Chỉnh nhờ ngôn từ

rnà hình tượng văn học có những hình thức thời gian đặc biệt để văn học có

thé chiếm lĩnh đời sống trên một tầm sâu rộng mà hội hoạ vả điều khắc khó bể đạt được

Một số thời gian tượng trưng :

- Buỗi chiêu : hoảng hôn, chiều tả là giây phút ánh sảng nhường chỗ cho bóng tốn, gợi nối buôn, sự lụi tàn, sự kết thúc một ngày

- Budi sáng : bỉnh minh, sáng, ban mai là sự năng đông, trẻ trung, sự

rạng rỡ, tương lai huy hoảng, tươi sáng, một ngày mới bắt đầu

- Mùa xuân : mùa bắt đầu một năm tượng trưng cho sự nảy nờ, sinh

sôi, cho tuổi trẻ đổi dào sức sống và sinh lực

Một số cách biểu điễn thời gian :

- Trực tiếp : dùng từ chỉ thời gian sảng, trưa, xuân, hạ

- Gián tiếp : hình ảnh biển tượng mang tính ước lệ : tiếng cuốc kêu là

dêm hẻ, lá ngô dỒng rụng lả chiều thu, cảnh én bay là mùa xuân

"Theo 7# diễn thuật ng văn học: Thời gian nghệ thuật là “hình thức

nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thế của nó Cũng nhĩ

Trang 17

khong gian nghé thudt, sy miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Là cải trần thuật bao

giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian nghệ thuật Sự phối

hợn của hai yếu tỔ thời gian này lạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện

tượng óc lệ chỉ có trong thê giới nghệ thuậ' [17] Cũng giỗng như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại bên trong của hình

tượng nghệ thuật thể hiện tính chinh thể của nó Thời gian nghề thuật không,

thải là thời gian khách quan, vận động theo trật tự một chiều, trước sau

không láo ngược mả là thời gian được soi chiếu bởi tư tưởng, tình cảm

của nhà văn, dược nhào nặn và sáng tạo trở thành hình tượng nghệ thuật, phù

hop với quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người vả thể giới Vì thể, thời gian nghệ thuật có thể nhanh hay chậm đài hay ngắn, liễn tục hay đứt quãng thco

một logic riêng không hoàn toàn trùng khớp với thời gian khách quan

Thời gian nghệ thuật là phương tiện nghệ thuật để tác giã nhận thức và

phản ánh đời sống l2o dó, thời pian nghệ thuật chịu ảnh hưởng nhiều bởi

tính chủ quan "Ihởi gian nghệ thuật luôn mang tính cảm xúc (tâm lý) và tính quan niệm, do đó đây tính chủ quan” Tỉnh chủ quan của thời gian nghệ

thuật được thế hiện ở cách cắm nhận, miêu tả thời gian của tác giả Ở đây,

tác giả có toàn quyền sử dụng, tái hiện thời gian theo nhu cầu và mục đích

của riêng mình mà không gặp bất cử một gắn lrở nảo

'Tuy nhiên, không phải mọi thứ liên quan đến thời gian trong tác phẩm văn học đều trở thành thời gian nghệ thuật Nhà lí luận Nga D.X.Likhachop

cho rằng: “Thời gian vừa là khách thê vừa là chủ thể và đồng thời là công cụ

phân ảnh văn học Văn học ngày càng thấm nhuẫn ý thức và cảm giác về sự

vận dộng của thế giới trong hình thức hết sức du dựng của thời gian” và

"thời gian nghệ thuật là nhân tÔ nằm trong mạng lưới nghệ thuật Nó buộc

Trang 18

thời gian cú pháp và quan miệm triết học vé thé gidi phai phuc vụ cho những

quan niệm nghệ thuật của nó” [34]

1.2 Mối quan hệ đặc biệt khăng khít giữa không gian và thời gian

nghệ thuật trong các bài thơ về mùa

1

Không gian- một biểu hiện của mùa

Mẹ thiên nhiên không những là nơi bao bọc, chở cho mà on tiếp thêm

sức sống, tắm ảo giàu màu sắc cho vạn vật Miỗi một miễn dất lại có một đặc

trung về thời tiết, thiên nhiên khác nhau để khoe lên nét đặc trưng của mình

Nối riêng ở nước ta, thiên nhiên vỗ củng tươi dẹp và phong phú Nếu như

Miền Nam só đặc trưng của hai mủa mưa-nắng, thì Miễn Bắc lại là khúc

thanh âm rộn rịp, giảu xúc cảm của bốn mùa Xuân- Hạ-Thu Đông Đặc trưng

về không gian của từng mùa dược “nhận diễn” theo thời tiết, cổ cây, hơa lá,

chim muông không chỉ đơn thuần là những hình ảnh của một phạm trà

khác con người, mà hơn hết nó có sự gắn kết hết sức chặt chẽ, khó tách biệt giữa người và vật Chẳng thể mà từ xa xưa các cổ nhân đã mượn thiên nhiền

làm biểu tượng cho đặc trưng của tứ đại quân tử như “lùng, Cúc, lrúc, Mai”,

hay thường mượn phong cảnh thiên nhiên để “tả cảnh ngụ tỉnh” và rồi Đại thi

hảo Nguyễn 1u cũng phải thắt lên “Người buổn cảnh có vui đâu bao giờ”,

Ta thấy không gian cảnh sắc mỗi mùa thường cỏ tác động rất lớn đến

lam ý son người Ví như mùa Xuân- mùa cây cdi đâm chỗi nảy lộc, “cö non xanh tận chân trời”, mùa cảnh én bay, chim chóc ríu rít hội tụ sau những rét

mướt, mùa mà màu xanh là màu chủ đạo thì thường gợi cho con người ta su

hy vong, lac quan, khi ma vạn vật dâu đâu cũng căng tràn sức sống Múa hạ là

mua bủng cháy khát khao với sắc đổ, với tiếng ve kêu rất cả trưa hè, nùa gợi

những rắn rồi Mùa thu, gảnh vật man mác chút buồn lãng đãng, thời gian như trôi chậm lại, cây cối sang độ trút lả, màu vàng tôa bóng nơi nơi, những cánh

đồng đã bắt đầu cô tịch, trăng trong veo củng làn sương mờ hay thấp thoáng

Trang 19

đầu đó chút gió heo may khiến cho lòng người rờn rợn, chất chứa nhiều nỗi niềm Chẳng thế mà thi sĩ Nguyễn Khuyến đã có một chuỗi ba bài thơ thu đặc

sic va mia thu cing là nơi hỏ hẹn của rất nhiều tâm hỗn thi si Sang Dong thời tiết lạnh sơ sắt, cây cối khẳng khưu trơ trợi, muôn loài cũng bớt rộn rằng, ngay cả con người cũng như co lại trước những đợt gió mùa khiển cho cảnh

vật thì khắc nghiệt, lòng người đễ cô đơn

Hay ta thay mét khía cạnh khác bên cạnh việc cảnh vật tác động tới tâm

trạng, đó là việc tâm trạng tác động, đến cảnh vật tùy theo những trạng thái

vui, buồn, thăng hoa hay vụn vỡ Khi vui thì có thể mùa nào cũng tìm thấy nét thơ và mùa vốn vui thi sẽ thăng hoa hơn thể Một khi dã buồn thì “múa vui”

cũng có những luyển tiếc, trăn trở

Nói về “Không pian- Một biểu hiện cúa mùa” ta như thay van vật bốn

xnủa hiện ra trước mắt, củng với đó là muôn vản trạng thái cảm xúc hỗn độn Diu cé cit nghĩa không gian để nói lên mùa như thế nảo đi nữa cũng không

thể nói hết những tầng bậc của cám xúc mỗi người Chỉ biết rằng không gian

bén mila thật đặc biệt, thật tươi đẹp và thật kỳ diệu khi nuôi dưỡng những

cảm hứng nghệ thuật chưa khi nào nguôi cạn

1.22 Mùa- Một biểu tượng bước di của thời giam

Ta thấy có nhiều cách tính, nhiễu cách gọi tên cho một năm Ví như

“Một năm có 12 tháng”, “Một năm có 365 ngày”, “ Một năm có bốn quý”,

*Một năm có bốn mủa Xuân-Hạ-Thu-Dông” _Mỗi một cách gọi, cách tính lại

có đấu ấn riêng để người ta đi qua một năm, chào đón một năm, nhớ lại một

năm, nhưng có lẽ “Một năm có bốn mủa” thưởng khiến cho người ta nhớ

nhất, chắc cũng bởi hương sắc không gian bến mủa đã phân tích trước đó

Điều dặc biệt về mủa không chỉ có thế, mùa không còn đứng yên trong không

gian để toát lên cái đặc trưng tác động đến các giác quan của con người nữa

mà mùa đã có thể đong đếm, trăn trở về bước đi của thời gian:

Trang 20

“Mỗi năm họa đào nỡ

tại thấy ông đồ gia

Bày mực Tàu, giấu dd

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu ngồi thuê viết

Tầm tẫu ngợi khen tài:

“Hoa tay tháo những nét

Như phượng múa, rồng bay”

(Ông Đỏ Vũ Đình Liên)

Hoa đào nở- tín hiệu, quý ngữ của mùa xuân đã về Câu thơ tiến theo

“Lại thấy Ông đồ giả” như một sự gợi nhắc về bước đi, bước địch chuyển của

thời pian Một năm qua di, năm mới bắt dầu bằng mùa xuân, hoa nở rỗi lại tản

và xuân của đời người cứ thể qua đi

Có lẽ khi mủa giữ vai trỏ là biểu tượng bước đi của thời gian khiến ta

nhớ tới câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh “Một năm khởi dầu bởi mùa xuân,

một đời khởi đầu từ tuổi trẻ" Với những đặc trưng hàm chữa sự lạc quan, hy

vợng, đã đây sức sông của mình, mủa xuân đã được lựa chọn là sự khởi đầu của cả một năm Cứ thế lần lượt Xuân- Ha-Itu-Đồng nối tiếp nhau năm này

qua năm khác, tạo thành một vòng không gian khép kín vả tạo thành một

vòng thời gian tưởng chừng khứp kín bởi bốn mùa nhưng luôn tinh tiến Nếu

như cuộc sống thường ngày, người ta thường tính ngày, tháng, năm để đo

lường thời gian thì trong thì ca,

ách gọi Lên mùa để biểu thị thời gian tạo nên

dấu Ấn riêng, nét thị vị riêng Và với việc lây nrùa để biểu thị thời gian, ta thầy

không gian, đặc trưng của mủa chiếm vị trí quan trọng, không- thời gian không tách rời Điều đó, ta thấy rõ qua cách nói: “Đã mấy mùa trăng”, “Đã

mẫy mùa khoai sọ”, “ Mây mùa nước nổi”, hay như trong ca khúc nọ có lời

“TTẻ sang thu tới, mà anh chưa đến Khung trời trong đầy một nỗi nhớ” để

Trang 21

biểu hiện sự mong chờ, khát khao tình yêu đã qua nhiều tháng ngày đài Dù là được thể hiện trong thị ca hay lời ăn tiếng nói hàng ngày thì đó đều là những

thước đo thời gian tuy ước lệ nhưng đây tính mỹ cảm Bốn mùa cứ thể chảy trôi, gối đầu lên nhau tạo nên võ vàn lẫng bậc căm xúc Mùa đơng đếm thời gian, thời gian cũng bởi thế mà cất vào ký ức của mính vô vàn những ân lượng về mùa:

“Bita dy mua xudn phơi phới bay

Hoa xoan lép lép rụng voi day

Hội chào làng Đăng di ngang ngõ

Me bdo: “Than Dodi hat toi nay”

Lòng thầy gidng to một mối tình

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh

Hình như hai má em bừng đó

Có lẽ là em nghĩ đến anh”

( Mưa xuân- Nguyễn Bính)

Hình ảnh “Mưa xuân”, “Hoa xoan”, “ Hội chẻo lảng Dăng” những

hình ảnh thơ mộng lặp đi lặp lại theo vòng tuần hoàn của mùa, củng với đó là

sự phi đầu những cảm xúc, tỉnh cảm, những trắc ẫn của lòng người một cách

rất ngẫu nhiên, không hẹn trước và cũng có thể là không khi nào lặp lại Mủa-

sự sống, con người và cảm xúc cứ thể sông đổi tạo nên những bản Linh ca

1.3 Hành trình sáng tạ, phong cách nghệ thuật của Chế Tan Viên

và Xuân Diệu

1.3.1 Hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên

1.3.1.1 Giai đoạn trước 1945

Thời kỉ trước cách mạng tháng lim, nha tho Chế Lan Viên lạo ring động trước thi dàn với các tác phẩm trong tập “Điêu tàn” (1937) Thì dàn thơ

mới đang ngập tràn cảm hứng lăng mạn với khu vườn tỉnh yêu, khu vườn

Trang 22

mong mo véi sir thoal i thuc tai dé chay tron xã hội bảo hộ đương thời, nơi

ma ho vin chưa tìm ra một con đường thực sự thì hiện tường Chế lan Viên

trong “Diêu tản” khiến cho thi đản phải sững sờ bởi sự thần bí, rùng rợn với

hình ánh Đền Đài đỗ nát, xương, máu, tủy, sợ người Hơn nữa nhà thơ Chế Lan Viên và ba người bạn thơ khác là Hàn Mạc Lử, Quách Lắn, Yến Lan hình

thành nên “ Trường thơ loạn” hay thì đản cũng có cách gọi khác đó là

*Trường thơ diện” Từ những ý thơ, hình ảnh, tư tướng nổi loạn trong “Điêu

tần” cho đến tư tưởng chung được thể hiện trong các sảng của các nhà thơ

thuộc “Trường thơ loạn”, t4 thấy giữa bức tranh mộng mị, mông mơ, “hồn

bướm mơ tiển”, thoát lên tiên, phiêu hưu trong trường tinh, đấm say trong

động tiên thì Chế Lan Viên, Hân Mạc Tử lại điên và loạn với những xét xa,

những cấm nhận về thực tế phũ phàng của thân phân, của thời cuộc, nhưng

đường như xót xa điên cuồng cũng chỉ đến vậy, sự bất lực dường như cảng,

khiến cho họ “điên” hơn bao giờ hết Có lẽ, đọc lời tựa của nhà thơ Chế Lan

Viên cho tập “Điêu tàn” (1937) ta vừa cảm nhận về cái diên của thí sĩ, nhưng

trên hết là cải đau: “ Hàn Mặc 'Lử viết: Làm thơ tức là điên Tôi thêm: Làm

the la sự phi thường Thị sĩ không phải là Người Nó là Người mơ, Người say,

Người điên Nó là Liên, lả Ma, lâ Quý, lâ Tĩnh, là Yêu, Nó thoát Hiện 'Tại Nó

xáo trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương Lai Người ta không hiểu được nó vì nó

nói những câu vô nghĩa, tuy rằng những gái vô nghĩa hợp lý Nhưng thường

thường nó không nói Nó gảo, nó thét, nó khóc, nó cười Cải gi của nó cũng

tột cùng Nó gảo vỡ so, nó thét đứt hầu, nó khóc trảo nước mắt, nó cười trăn

cả tuý là tưỷ Thể mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem nó so sánh với

Tgười, và chê nó là giả đổi với Người Với nó, cái gì nó nói đều có cả” Doc

những vần thơ của nhả thơ trước 1945 ta thấy rờn rợn vả thực sự ta như lạc

vào một miền “thơ diễn”:

Trang 23

“Cá Dĩ Vũng là chuỗi mồ vô tận

Cả Tương Lai là chuỗi luyệt chưa thành

Va Wién Tai, biết cùng chăng hỡi bạn

Cũng đương chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh!

rong nẵng hè lá tươi đà đỗi sắc

Dét mia thu sắp đến Tựa đời ta

Chudi ngày xanh hùa theo nhau phái nhạt

Dét tâm man quảng liệm tâm hôn ta!”

( Những nắm mô- Chế Lan Viên)

‘rat cả là miễn tối tăm, vô định, thời pian, không gian vả con người dễu

trở nên vô nghĩa, khổ đau Mỗi lời thơ như một tiếng khóc than tuyệt vọng

không sao tìm thấy lỗi Thực sự, ảnh sáng dã biển mắt, chỉ còn lại tro tản

'Trong số ít những bài viết về thơ ("hế Lan Viên, theo người viết, bài viết có giá trị nhất đó là bài giới thiệu của Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam Cho dù ý kiến nhận xét về thơ Chế Lan Viên của ông dã cách dây

hơn nửa thể kỷ nhưng nó vẫn có giá trị lâu bên Ông đã nhìn nhân về thơ Chế

Lan Viên giải đoạn trước năm 1945 một oách tính tế, chính xác Ông cho rằng

sự xuất hiện của Chế Lan Viên đã khiến biết bao người phải ngạc nhiên bởi

“Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như

một gải Tháp Cham, chic chin 1é loi va bi mil”|182, 229] Tir thuc td sang tác của Chế Lan Viên, Hoải Thanh không, ngần ngại khi dự đoán : “Con người

nảy quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tắc thường

ma hong do dược” |182, 228 Hơn thế nữa, nhà thơ còn nhận thấy chính sự độc đáo trong cách khám phá cuộc sống đã góp phần làm nên sức mạnh phi

thường cho thơ Chế Lan Viên, vi thể, ông khẳng dịnh : “Trong cải ngộ nghĩnh, cái ngông cuỗng Ấy, tôi còn thấy một sức mạnh phi thường”[182, 31] Mặt khác, Hoài Thanh còn chỉ ra “lối thơ” của Chế Lan Viên khi so sánh với

20

Trang 24

“li tho” ofa Ilan Mic Ti, 6ng cho ring: “Ca hai déu chịu rất nặng ảnh

hưởng Baudelaire va qua Baudelaire anh hưởng nhà vin Mi Hdgar Poe .Có khác chăng la Ché Lan Vién df di tir Baudelaire, Edgar Poe dén thơ Dường,

mà Hàn Mặc Tử đã đi từ thơ Đường dén Baudelaire, Edgar Poe va di thém một đoạn nữa cho gặp Thánh kinh của đạo lhiên chúa Cả hai đều ngự trị

trường thơ Loạn” “Tôi vừa nói Chế Lan Viên đi về thơ Đường Nếu nói đi đến thơ tượng trưng Pháp có lễ đúng hơn, tuy hai lối thơ nảy có chỗ giống

nhau “[182, 32]

Thực sự, hành trình sáng tạo, phong cách nghé thud cua nha thơ ChẾ

Lan Viên là một màu sắc, tính cách Ấn tượng vả nỗi bật trên thị dàn thơ, trên

mặt trận tư tưởng của các nghệ sĩ trước Cách mạng Tháng Tám Từ đó, khi

phân tích, cắm nhận về thơ Chế Lan Viên giai doạn sau, ta cảng thấy rỗ sự

khác biệt, biến chuyển mạnh mẽ trong chất thơ của người nghệ sĩ trước nhiễu

biến thiên thời cuộc

1.3.1.2 Giai đoạn sau 1945

Hành trinh sáng tạo và phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên sau

năm 1945 có những nét phát triển tương đồng với nhiều nhà thơ mới Sau

năm 1945, đất nước ta trải qua nhiều biến thiên lịch sử của hai cuộc kháng, chiến trường kỳ, giành độc lập đân tộc và thời kỳ khắc phục hậu quả chiến

tranh, phát triển đất nước Tháng Tám, năm 1945 14 mốc son quan trọng đánh đấu sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau bao xiểng xích nồ lệ

Mùa thu kỳ điệu ấy khiến cho muốn triệu trái tìm nô nức, tin vào ánh sáng của

Pang, ảnh sáng cách mạng, Sức mạnh, sức ãnh hưởng của Cách mang tháng,

'Tảm còn kỳ diệu đến nỗi làm xoay chuyến lấi nghĩ mộng mị, tiêu cực, có hại

cho each mang Thật khó để giải thích khi các nhà Thơ Mới như: Xuân Diệu,

Thế 1.ữ, Chế Lan Viên, Huy Cân, Nguyễn Xuân Sanh tự phủ nhận thơ

minh trong giai đoạn trước đó để xoay hướng tư tưởng, tự tin, khẳng khai di

21

Trang 25

theo con đường cách mạng với những tác pham tho dm chat sir thi, néng nan

tỉnh thần yêu nước

Giữa làn sóng yêu nước, tin theo lý tưởng cách mạng Ấy, nhà thơ Chế Lan Viên không phải là ngoại lệ, cỏ điều ông xoay mình chậm hơn một hút

so với các nha thơ khác bởi chủng ta đã biết giai đoạn của "Diêu tàn”, của

tỉnh cầu giá lạnh khiến cho nhà thơ phải đớn đau, dẫn vặt rất nhiều Nhưng

rồi, nhà thơ dã cỏ một sự lột xác ngoạn mục khi da tim đường, nhận dường

thành công để “ đi từ thung lung đau thương đến cánh đồng vui” Minh chứng

rõ nét cho diều nảy là tỉnh căm, niềm tin mãnh liệt của nhá thơ Chế Lan Viên

trong tập thơ “Gới các anh” (1954) với các bài thơ gây Ấn tượng mạnh như

“Trường Sơn”, “Nhé lâu để trả thù”, “Bữa cơm thường ở trong bản

nhỏ” Từ khởi điểm của “Gửi các anh”, nhà thơ Chế Lan Viên tiếp tục góp

bút lực của mình trong phong trào đầu tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, đến những tháng ngày cuộc kháng chiến chếng Để quốc Mỹ thành công qua

sự ra đời của nhiều tập thơ như "Ánh sóng và phù sa” (1960), “Hoa ngày thường - Chùm báo bdo” (1967), "Những bài thơ đánh giặc "(1972), "Đối

thoại mới” (1973), “Ngày vĩ đại” (1976) Nhà thơ đã đi từ miền không chút

ánh sáng tới những ý nghĩa, lý trưởng mang tầm vóc lịch sử đầy lạc quan, tin tưởng để hát khúc hoan ca, để thấy cuộc sống ngập đầy “Mây và hoa”, người

và vật đều “cua minh” tai sinh, smh sôi đưới nguồn sống mới

“Noi hôa tiễn ghé hôn vào mặt trăng

Cháy bùng lên ngọn lửa

Sự sông khép nghìn năm

Béng cua minh sinh nỗ

Mot khoang tuyét tan

M6t manh dat bay

Aiội nhành hoa nở

22

Trang 26

M61 lan hương bap

Ôi cành hoa thứ nhất

Như giọt sữa đem mùa xuân làm nông Hgực

Như buổi đợi chờ, liêng nói động đầu dấp

Như nóng lòng mẹ, lễng đầu tiên trẻ khóc

go ngoa sự sống hồng đôi tay”

(Mây và hoa)

Sau cuộc kháng chiến cân lao của toàn ảng, toản dân và toàn quân ta, dai thing mùa Xuân năm 1975 là bản thiên hùng ca, dưa đất nước bước vào trang sử mới Mắc sơn khẳng dịnh chủ quyền, toản vẹn lãnh thổ, Độc lập- Tự

đo và Ilạnh phúc Trong không khi đại thắng, người người hân hoan và các

nghề sĩ lại mang trong minh cảm xúc cuộn trảo hơn bao giờ hết Chẳng thé

ma cé quá nhiều các sáng tác thơ- ca- họa- mủa dành cho ngảy đại thẳng Đất nước độc lập đi lên xây đựng chủ nghĩa xã hội là chất xúc tác tốt cho các nghệ sĩ, cho Chế lan Viên khai sinh nhiều tập the tran ngập niềm tin yêu,

phân chân nhu: “lea rước làng Người” (1976), “Hải theo nàa” (1977),

“Dâi đất vùng trời” (1977) “Hoa trên da” (1989) Và rồi, dũng giống như

nhiều déng nghiệp khác, nhả thơ Chế l.an Viên lại "thở dài” cùng những đổi thay của xã hội, của con người, nơi mà người ta cô đơn, thu mỉnh, trống trải

giữa vạn người Khi ma những đau đáu chưa nguôi cũng lá khi ông xa rời cõi

tạm năm 1999, để lại cho văn học Việt những vân thơ cuỗi đời nhiễu suy tư

trong “Tu gửi cha mình” (1986), “Di cáo thư 111,HT”:

“Sáng ra thì em dĩ

Gió lạnh lùa theo xe

Giỏ clủa làm bai nữa

Aột nữa theo anh và ”

(Phía ấy)

23

Trang 27

Mùa đông se sắt lạnh tựa như phía cuối cuộc đời cô đơn, không người,

không sẻ chia, không bẻ bạn Ngày lại trôi về phía cũ Thế nhưng, khi đã bước

tới “mủa thu của cuộc đời” nhà thơ Chế Lan Viên cũng rất an nhiên chấp nhan vòng xoay của số phận Những gì đã trải qua, đã thẩm thìa suốt một đời người đủ đây để ta không còn nuôi tiếc nơi cối tạm

1.3.2 Lành trình sảng tạo, phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu 1.3.2.1 Giai doạn trước 1 945

Thật không ngoa khi đánh giá thơ Xuân Diệu là đỉnh cao của phong

trán thơ mới Góp mặt nhiệt thánh, tạo màu sắc, sự bùng nỗ mạnh mẽ trong,

thơ mới, Xuân liệu dã khiến độc giả không thể quên dược chất thơ mình,

nhất là thế giới thơ tình trong phong trào thơ mới của ông Chẳng thé ma nha

phé binh Hoai Thanh, Hoài Chân đã dành cho ông Hoàng Thơ Tình những lời

tu ái trong cuỗn “thi nhân Việt Nam” năm 1941 rằng: “Ihơ Xuân I3iệu là

nguồn sống đào đạt chưa từng có ở chốn nơn nước lặng lẽ nảy.” Có lẽ trong

phong trào thơ mới, giữa vườn văn chương một thuở xã hội còn loạn lạc, chất

nhựa sông mơn mớn, khát khao sống và yêu trỗi dậy mạnh mẽ nhất trong thơ

Xuân Diệu Chữ “Xuân”, chữ "Tuổi tré” bao giờ cũng thống thiết trong thơ

ông, ta cảm nhận như nhà thơ sống và yêu chưa khi nảo là đủ vậy Mói như

nhà phê binh Nguyễn Đăng Mạnh thì “ Xuân Diệu là thơ của niềm giao cảm

hét minh giữa con người và con người, một phát hiện về mềm hạnh phúc

tuyệt vời mả cuộc sống trần thế nay đã ban phát cho nhân loại” Nguồn thơ,

nguồn sống, nguồn giao cảm mãnh liệt ấy đã khiến cho thơ Xuân Diệu bứt pha và trở thành “Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” Cái mới ấy được thể hiện toản điện từ tư tưởng thơ vượt trên cả cái thoát tục, mơ tiên,

siêu việt của phần lớn các nhà thơ mới Xuân Diệu dã truy tìm dược những ý

niệm về bản thân, về cái tôi rất Tây, rất mới và vượt lên cả thời đại, ông

khẳng định “Ta là một, là riêng là thứ nhất” (Hy Ma Lap Son) Cải tôi cá nhần

24

Trang 28

thực sự được giải phóng, Xuân Diệu như con chim cau khát khao da tim hạnh phúc, chuyên chở hạnh phúc và nguồn sống bắt tận

“Ta muon riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cảnh bướm với tình yên,

7a muốn thâu trong một cải hôn nhiều

Vũ non nước, và cay, va od rang,

Cho chẳnh choảng mài hương, cho dã đây ảnh sảng,

Cho no nê thanh sắc của thời iươi;

Hồi xuân hồng, ta muốn cần vào người!”

(Ưội vàng)

Nhà thơ muốn “Ghì", muốn “Ôm”, muốn “Gắn”, muốn “Tiên”, muốn

“riết mây dua va gid lon”, “Say cảnh bướm với tỉnh yêu”, muốn vội vàng dễ

phiêu hết mình trong tuổi trẻ, muốn tạo nên sức mạnh phi thưởng ngưng thời

gian và không gian để tuổi trễ thắm mãi Có thể khao khát muốn “Tắt nắng”,

*buộc giỏ” chỉ là những khát khao ít ỏi trong vô vàn những khát khao vượt

lên cả tầm kiểm soát của con người để sống và yêu cho trọn ven, vĩnh hing Nhà thơ viết về lĩnh yêu với cảm xúc say sưa, mãnh liệt nhưng hết sức trơng trêo, đúng chất tình yêu của tuổi trẻ Iìm trong hai tập “Tho tho” (1938) va

“Gửi hương cho gió” (1945) ta thấy tràn ngập những bài thơ tình với vô vàn

cám xúc yêu thương và sức sống tràn căng mãnh liệt Hết tháy những mí

ấy đều rất thực, rất đời

Thể nhưng, cuộc sống muôn hình vạn trạng, dé đạt được sự tron ven, hoán mỹ quả thực rất khó Éo le thay, sau những khát khao tỉnh yêu, nguồn sống thực thụ, nhà thơ cũng phải đối chại với những xa cách, chia ly, phụ bạc,

don phương và cô dơn Cảng mong đợi, cảng cống hiến, nặng tỉnh bao nhiêu

đến khi gặp sự thất vọng càng yếu mềm hấy nhiêu Có những lúc tưởng chứng,

25

Trang 29

nắm bắt được hạnh phic thi t4l cd bing ludt xa tâm với Để rồi nha thơ phải

thốt lên “Lôi như con nai bị chiều giãng lưới” (Khi chiều giãng lưới), hay

“m sợ lắm giá băng trần moi néo

Trời đây trăng lạnh lếo buốt sương đa ”

“Chiều đầu thu ôi hương hoàng lan

TNgạt ngào nhào trộn cả không gian

Mới sôn nắng gắt hồm qua thé

Mã bỗng bền trời mây nhẹ tan”

(Chiêu dầu thu)

1.3.2.2 Giai đoạn sau 1945

Qữa thực thắng lợi của Cách mạng Tháng tám 1945 là một chiến thắng

có ý nghĩa hết sức lớn lao về mọi mặt Xét đến tâm ảnh hưởng tích cực của Cách mạng Tháng Tám đối với văn đàn hắn không còn gì phải bàn cãi và

không cú một sự biển động nào có thể tạo nên một điểu kỳ diệu đến thế Nếu

trước đỏ, các nhà văn, nha thơ thay chênh vênh, mịt mờ giữa thời cuộc, không

biết đầu là “đường”, chỉ biểL nương lâm hồn yếu ớt, sự sệI, trốn tránh thực tại vào những vẫn thơ lãng mạn, nhiều khi viễn võng, ủ đột thì nay (Sau Cách

mạng Tháng Tám) đã “hạ cánh”, xuống đường cùng nhân dân, chung sức déng lòng trên cơn dường cách mạng củng dân tộc Sảnh vai củng các nhà

thơ, nhà văn trên mợi miễn tổ quốc trong cuộc thay máu tư tưởng ngoạn mục,

nhà thơ Xuân Diệu không phải là ngoại lệ Đang từ những khung trời khát

26

Trang 30

khao tình yêu lứa đôi, tình đời mãnh liệt nồng thắm ông đã ào ra để hòa chung những tỉnh cẩm, cảm xúc cá nhân ấy củng tình yêu quê hương, đất nước, con

người, những tình cảm riêng- chung, hết sức Ấm áp Ta cảm như tình yêu trước

đó trong vườn tình cúa Xuân Diệu mãnh liệt đến thế nào thì nay hòa củng

niém tin yêu vô hạn với Lắng, cách mạng và nhân dân thì nó lại cảng như đợt

lũ trào, ngồi bút đã trưởng thành, rắn rồi trở thành vũ khí chiến đấu thự sự Điều dỏ được mình chứng bằng hàng loạt các tập thơ dậm chất sứ thi xuyên

qua hai cuộc kháng chiến như: “ Ngọn Quốc kỳ” (1945) “ Hội nghị non

sông” (1946), “Dưới sao vàng" (1946), “Sáng” (1953), “Ade con” (1954),

"Ngôi sao” (1955), “Riéng chung” (1960), “Mii Ca Mau"- "Cam tay”

(1962), “Một khối hông" (1964), “Hai đợi sóng" (1967), “Tôi giàu đôi mat”

(1970), “Hén tdi déi cảnh (1976)

Hàng loat những tập thơ được ra đời liên tiếp thể hiện khát vọng và

niềm tin chiến thắng của nhà thơ đối với cuộc đấu tranh của toản Đẳng, toàn dan và toàn quân ta Nếu như trước năm 1945 là những vần thơ khao khát

khẳng định cái tôi, chán chứa tỉnh yêu, khát vong cá nhân thì nay đã kết thành

những điều lớn lao, vĩ đại củng vận mệnh dân tộc, từng niém đau, căm hờn

cũng là niềm đau chung, mỗi thủ chung,

“Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

Cùng đỗ mỖ hôi, cùng sỗi giọt máu

Tôi sống với cuộc đòi chiến đấu

Chia triệu người yêu đâu gian lao.”

(Những dêm hành quân- Xuân TDiên)

Không chỉ ghi lại những chặng đường hành quân, ghi lại những tỉnh

dắm nồng đdượm của Linh tiền tuyển, hậu phương, tỉnh déng chỉ trong “Fiệt

Nam muôn dời”, “Một cuộc biéu tinh”, “Tho ting ma”, “Hm ahd Huong

Khê”, “Các chớu di so tin”, “Ver chudn bj hành trang cho ching di vàa héa

27

Trang 31

ngyồn”, “Bà má Năm Căn”, mà nhà tho Xuân Diệu cũng đặc biệt dành nhiều bút lực để khắc họa hình ảnh núi sông hủng vĩ, thắm tươi vô ngần Đó như

một chất xúc tác để muôn triệu trái tim thêm vêu thương đất nước, quyết tâm

đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bở ôi, bửi đất nước ta xinh dep va tuoi

thắm vô ngần trong ‘Ma Pí Lòng”, “Chòm Cô Tô mười bảy đảo xanh”, “Sa

Pa", “Xodi Thanh Ca Bình Định”, “Miền Nam quê ngoại” Ta vẫn còn nhớ

đỏ những vẫn thơ đẹp, dây tự hào về đất nước “rửng vàng, biển bạc”

“Những chiều êm quang mập

Vinh Bắc Cá Tó áy

Biển xanh dep la lung

Trong suốt nhìn tận đáy

Những con trai dây nước

Đang hé mở lòng trai

Nước bê em nuôi dưỡng

Anh tréi anh dong soi”

(Ngoc trai trong Linh Cô 1ô- Xuân Diệu)

Thể nhưng hỏa lẫn vào nguồn tác phẩm Cách mạng vô cùng đồi dào

cùng những tên tuổi lớn khác, thơ Xuân liệu trong dòng thơ Cách mạng

không thực nỗi bật và tạo nhiều dấu ân như giai đoạn trước Sau khi đất nước giải phóng, ông cũng như nhiều nhả văn, nhà thơ khác hỏa vào cuộc sống đất

nước hậu chiến còn nhiều bộn bể Những tác phẩm của ông cũng không “

khôi cắm hứng “thể sự đời tư” theo mạch chảy của văn đản Tập thơ tiểu biểu cia nha the Xuan Diệu trong thời gian này là tập “7hanh Ca" (1982) Cảm

hứng thé sự đời tư được nhà thơ Xuân Diệu thế hiện nhẹ nhàng, giảu tâm

trạng trong các vần thơ thiên về tỉnh cảm cả nhân, những mánh tình riêng

“Sắt hạ rung rinh bên phía hè

Hồn ai hiu hắt lá xanh tre?

28

Trang 32

Dịu dùng như có, như không có

Hiển ở xa xăm gỗi gió về

Tương ngây lội lỗi rãi mơ màng

Đa thịt đu dương của những nang

Tên tuổi mò ban, thân chẳng định

Aáät buồn đâu đã khép trong sương”

(Nhớ mông lung)

29

Trang 33

Chương 2: KIIONG GIAN VA TIGI GIAN NGIIE THUAT TRONG THƠ

VE MUA CUA CHE LAN VIÊN VA XUAN DIỆU TRƯỚC

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 2.1 Cám hứng chú đạo của nghệ thuật lãng mạn

2.1.1 VỀ mộng trong hành trình tìm kiám lý tưởng cá nhân

“Tiếng thơ là Liéng lòng, chính bởi vậy mà mỗi trang văn, mỗi lời thơ déu chuyên chở những xúc cám, mong muốn, những khát khao của tác piá về

một vấn để nào đó Nhân vật trữ tình có thể là chính tác giả hay không là tác

giả đi chăng nữa thì từ thẩm sâu vẫn chính là tiếng nói của tác giá muốn gửi sắm thông qua tác phẩm và nhân vật trữ tình của mình Trang phong trảo thơ midi cdc tác giả thơ luôn đề cao mộng tưởng, khát khao vươn đến sự thoát tục, thoát khỏi cuộc sống dang bế tắc ngột ngạt để vươn tới những điều tuyết bích

hơn dẫu không có thật như thiên đảng, trời mây, tiên cảnh '[ắt cả thể hiện cho

một chữ “thoát” Đó là khi ảnh sảng của Cách mạng chưa rọi soi, khi mà cơn

dường vẫn mịt mủ, những nha thơ dành ru ngũ mình trong thể giới mộng, tưởng, bảng quan với thời cuộc ường như họ cũng khát khao lắm một cơn

đường để họ tự tin bước theo, đề được dẫn lỗi [lo bị ám ảnh bởi câu hỏi “Ta

là ai?” Giữa thời cuộc đang nước sôi lửa bỏng, họ vẫn nhắn nha thả hồn mình

cùng những mộng mơ như những kẻ khờ lạc bước giữa cảnh đời, giữa tỉnh

yêu Họ đứng ngoài cuộc với cuộc đầu tranh khốc liệt của những cănh đời nỗ

lệ Thế nhưng, đôi khi, người ta cũng cảm được những nỗi buồn không tên, những chênh vênh vô dịnh, cái khát khao vươn tới tự đo, thoát khỏi xiêng xích nô lệ như hinh ảnh Chúa Sơn Tâm “Gậm một khối căm hởn trong citi

sắt”, trong bài "Nhớ rùng” của nhà thơ Thể Lữ BỊ nhốt "trang cũi sắt", căm

hờn uất hận đã chứa chất thành "khối", "gậm' mãi mả chẳng tan, cảng "gam"

cảng cay ding Chi con biết "nằm đải" bất lực, dau khổ Bị "giểu", bị "tủ

Trang 34

hãm", ưrở thành "thứ đồ chơi" cho "lũ người kia ngạo mạn, ngắn ngơ" Đau khỗ nhất là chúa sơn lâm nay bị tâm thường hóa, vị thể bị xuống cấp

“Chịu ngang bẩy cùng bọn gắu đỡ hơi,

Với cặp báu chuông bên vô tự lự”

QNhớ rừng)

D6 1a một nót tâm trạng điễn hình đây bị kịch của chúa sơn lâm khi bị

sa cơ, thất thế, bị giam cầm Trong hoàn cảnh lịch sử đất nước ta khi bải thơ

ra đời (1934) thì nỗi tủi nhục, căm hờn, cay đẳng của con hồ cũng, đồng điệu với bi kịch của nhân dân trong xích xuŠng nỗ lệ sống trong lắm tối "nhơ nhude lầm than” Những khao khát kiếm tìm, khẳng dịnh lý tưởng nhiều khi khiến

người ta mệt nhoài, muốn trốn mình vào giấc ngủ cho quên sầu, quên đời

Whiing guic mơ không tên sẽ dánh lừa ta trong phút chốc bình yên, dẫu Ấn sâu

trong đó vẫn là những ngậm ngùi

“Soi budn con nhén gidng mati

tim ơi! hãy ngủ anh hầu quạt dây

Long anh mé' voi quet nay

Trăm con chìm mộng về bay đầu giường

Ngũ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thủy dương mắt bờ”

(Wgậm ngủi- Huy Cận)

Có thể nói các tác phẩm trong phong trào thơ mới là biểu hiện rõ nét

nhất cho chủ nghĩa lăng mạn, những thuộc tính nỗi bật của nó trong các tác

phẩm vần học lãng mạn Các nhà thơ đã thể hiển dủ dẫy cả khía cạnh lãng

mạn tích cực và lăng mạn tiêu cực trong các sáng tác Quy chiêu vào thời đại,

ta dó thể thấy, cải lãng mạn tích cực của phong lrảo thơ mới âu cũng là sự

huyén hoặc, “AQ”, sự trên trảnh với những cái tiêu cực và khi cái lãng man

Trang 35

tiêu cực được bộc lộ không giấu giém thì đỏ chính là khi người ta bế tắc với

chính minh và bế tắc giữa cuộc đời chưa tìm thấy lồi

Trong mạch nguồn chung củng những nhà thơ mới, Chế Lan Viên và

Xuân Diệu cũng khắu khoải trong việc khát khao tim kiếm và khẳng định lý

tưởng Nhà thơ Xuân Diệu luôn để cao tỉnh cảm và dé cao sự tự do trong thơ mình Ông khát khao sống, khát khao yêu đương mãnh liệt mà trong dòng văn

học cỗ diễn trước đỏ coi như diéu cam ky Chi nghĩa lãng mạn còn được gọi

là chủ nghĩa tỉnh cảm, bởi vậy tình cảm, cảm xúc chân thực của con người là

cái dược dề cao Xuân Diệu đã nỗi lên như một thì sĩ của tình yêu với khát

khao hỏng cháy thể hiện cái tôi, lý tưởng cái tôi giữa bên bẻ thời cuộc, khi mà

người ta cho những phút mộng mơ, những phút lạc đường làm đánh mất

chính mình Xuân Diệu ví mình như “Con chim đến từ xứ lạ, ngửa cỗ hat

chơi” Nhưng đó lại quả thực là tiếng hát nỗng nàn, bồng cháy với giọng hát

cao vui, đầy nội lực để tìm kiếm, khẳng định chính mình, khẳng định lý tưởng

của bản thân trước những ngày giông gió lẩu tình cảm trọn vẹn, hạnh phúc cập bến bờ hay có những phút rẽ đôi thì nhà thơ đều biểu hiện mình một cách

rõ rội nhất, không giấu giếm, hạnh phúc đến tận cùng, đau đến tận củng,

nhưng chưa bao giờ “chán yêu”, lúc nào cũng “mời yêu”

“AJở miệng vàng và hấy nói yêu tôi

Đà chỉ trong mội phút mà thôi "

(Moi yéu)

TIay như, ông khẳng định sức mạnh, tâm quan trọng của tình yêu đổi

với cuộc sống của mỉnh, tình yếu là lý tướng, là chân lý:

“Lam sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương mội kế nào ”

(Hài thơ tuổi nhỏ)

Trang 36

Nếu nhà thơ Chế Lan Viên nhận ra và thấm thía những cái cé đơn, đớn

đau tận đáy lòng và phải phát ra những bài thơ đầy tâm trạng thì nhà thơ Xuân

Diéu dủ có những phút lạc quan say sưa củng cuộc đời và tỉnh yêu nhưng rồi

vẫn không thoát khói cái dắm giác cô đơn, bất lực trước sự chay trôi vô tình

của thời gian Chính nhả thơ cũng đã ý thức rất rõ về điều này trong những

“giue giã”, “vội vàng” Thời gian một đi không trở lại và Luôi trẻ cũng vậy

không thắm lại bao giở

“Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua

-Xuân con non, nghĩa là xuân sẽ giả

Adà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mắt

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thẩm lại

Còn tời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi

Chang bao gid, di! Chang bao giờ nữa

ậi vàng)

TIàng loại những biểu cảm đong đầy cảm xúc, nhưng rất “tỉnh” của nhà

thơ tựa những lời báo động cho con người trước những vô tình của đòng thời gian Dẫu có lạc quan đến nhường nảo thì quy luật thời gian cũng không thay đổi Những lo lắng, những cảm xúc rất thật, rất người ấy là thứ tâm trạng điển hình của thân phận cơn người cá nhân

Có lẽ trước cách mạng Tháng Tám, thơ Chế Lan Viên “lý trí” hơn ai

hết Xen lẫn những phút lãng mạn là tận củng của nỗi đau, sự dỗ vỡ mà nhà

thơ cũng không sao thoát ra được Lý tưởng trước mắt mịt mùng, lý tưởng những gi đã qua chỉ thêm tiếc nuối, để rồi mọi thử chỉ còn lại dễ nát, hoang

tản Ngược lại với nhà thơ Xuân liêu, giai đoạn trước 1945, nhà thơ Chế Lan Viên thé hiện cái lãng mạn tiêu cực nhiều hơn, để mỗi khi người ta đọc thơ

Trang 37

ông đều phải rờn rợn, sổn gai éc Dung nhwr nha thơ càng khát khao tìm kiếm lý tưởng lại cảng thất vọng, lạc lối, bể tắc Nhà thơ không thể độc thoại

cùng chỉnh mình, đối thoại cùng bất cứ ai mà chỉ còn biến tự nhết mình trong

thể giới khép kín, đây bóng tôi, không tim thấy lỗi ra, để rồi than bày với “Cái

sợ người”, “Đêm tàn”, “Mldu xương", « MÔ không », hay "Xương vỡ máu

trảo

“Nay chiếc sọ người kia, mì hỡi!

Dưới làn xương mông mảnh của đầu mĩ

Mi nhớ gì, tưỡng gì trong dêm tối?

Ai trông mong ao ước những diễu chỉ?”

{ Cái sọ người)

Những câu hỏi liên tiếp dược dưa ra không lời giải dáp, hình ánh “đêm

tối”, những “trồng mong, ao ước” giàu sức gợi

2.1.2 Phả định, khước từ, tụ khai thực tại

Như trên người viết đã nhận định, cái lãng mạn tích cực, âu cũng chỉ là

sự huyễn hoặc, “AQ” với những điều chân thật xót lòng Giữa cuộc bể dâu của đất nước và nhân đần lâm than, dưới xiêng xích nỗ lệ, những cuộc nổi đậy

đấu tranh bị đản áp đẫm máu „ khi mà đất nước có rất nhiều trái tìm yêu nước

nhưng chưa có một con đường sáng thực sự để dẫn lối đấu tranh thì trong vấn

chương, cụ thể là những người nhà thư phải nương mình đi từm những điều lý

tưởng thoát tục, gần gin thi dé la thiên nhiên, tình yêu, những người bên

minh, còn xa vời là tiên cảnh, chỗn bằng lai xa lắc Bảy ra những mộng mơ

hoàn hảo, những tinh yêu dẹp, cảnh thiên nhiên quanh minh, hay mơ về hạnh

phúc giữa chất ngất khổ đau đang bủa vây là một sự nương mình đầy trớ trêu

Km đọc “Đây thôn Vĩ Dạ” hay “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử La cứ ngỡ đất nước dang hỏa bình đó chứ, khung cảnh thôn qué, con người bình yên dén

Trang 38

lạ, cảnh vật hiền hỏa như chưa từng có những rúng động, nghiệt ngã của thời

Thơ điên" (1937)

cuộc, nghiệt ngã tử tên của tập thơ

“Trong lờn nắng ứng: khỏi mơ tan

Đôi mái nhà tranh lam lắm vàng

®ột soạt giỏ trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên bi bong xudn sang”

(Mùa xuân chín)

Hay như trong tác phẩm “Tiếng thu”, nhà thơ Lưu Trọng Lư để lại

nhiều ý nghĩ, nhiễu tầng lớp nghĩa trong hình anh “Con nai vàng” và sự “ngơ ngác” Hình ảnh thiên nhiên, con vật tưởng như hết sức tự nhiên, thanh thân,

thong đong, nhưng soi sâu vào đó ta liên tưởng tới sự luống cuống, vô định:

“lầm không nghe rừng thu

Lá thụ kêu xào xạc

Con nai vàng ngữ ngác

;Đạp trên lá vàng khô »

(iông thô)

Tiên cạnh đó, ta bal gap vô vàn những nương nảu, ân mình, sự cứu rỗi

tâm hồn của các nhà thơ mới trong các tác phẩm của mình như: Huy Cận với

“Tràng Giang”, “Ngậm ngủ”, Vũ Tloàng Chương với “Say đi em”; Đoàn Phú

Tứ với “Máu thời giam”: Nguyễn Đỉnh với “ Mưa xuân"

"Hrở lại củng nhà thơ Xuân Liệu và Chế Lan Viên 1a thay tho Xuan

Tiêu ngập tràn hương sắc của tình yêu, hòa quyên cùng cảnh sắc tự nhiên

Wha the lẳng phép mật ngọt giữa khung cảnh tự nhiễn khiến cho thiên nhiễn thêm tươi đẹp, hay cũng như điểu thưởng thay, lay cảnh đẻ nói tình, mượn hình ảnh mây, gió, trăng, hoa, bưởm dé tinh yêu trở nên thi vị, bay bồng Đọc

thơ Xuân liệu ta cảm dược tình yêu dầy mãnh liệt vả lãng mạn bên cạnh vẻ

đẹp thiên nhiên khiến hẳn ta thư thái:

Trang 39

“Ngày trong lắm, lá ém, hoa dep qua

Nhan sée oi, cdy e6 chéi ddy san

Tháng giêng cười, khẳng e lệ chút nào

Bằng trăm cánh của bườm chim réi rẫm ”

QMớI yêu)

Ngay cả khi buồn dau, chia ly, thất tình, nhà thơ cũng mượn thiên nhiên

để nói hộ lòng mình, dễ piãi bảy, chia sở

“Sương lan mò, bò sông trông gẵn nhau

Sương lan mở và lồn tôi nghe dưu

ương bạc lắp cả một trời trắng sữa

Sương mông lưng như giữa khoảng giang hà

Mắt tạ mỡ mà lòng không thấy nữa

Hồn lạc rồi, không biết ngõ nào ra”

(Sương mờ)

Chế I.an Viên cũng di tìm lý tưởng trong thiên nhiên, ví như

“Trăng treo lặng đầu cành tre ú rũ

Gió phi pháo thời thóp thờ trong cây

Cả đồi vắng đêm nay sẵu ñ rũ

Tháp điêu tàn than thổ suối canh chày ”

(Mét dém sau)

Thế nhưng, Chế Lan Viên trở nên khác biệt với những nhả thơ củng

thời bối lẽ ông gửi vào thơ mình những điều khác la, huyền bị, di biệt giữa

giong buồn quen thuộc cúa thơ ca lãng mạn giai doạn 1932-1945 Đó là bên

cạnh thiên nhiên, nhà thơ Chế Lan Viên truy tim lý tưởng ở quả khứ lịch sử, những miền dất hoang sơ, những tâm hồn phụ nữ và trẻ em, bay những thân

phân đưới dáy xã hội

Trang 40

Không thể phủ nhận rằng, quê hương thử hai của ông, mảnh đất Quy

Nhon- Hình Định, nơi có nền văn hóa cổ 8a Huỳnh đặc sắc, có nhiều biển

thiên lịch sử nổi danh đất võ, đặc biệt là những dâu tích, đền đài của Vương

quốc Chăm Pa một thuở đã ảnh hướng không nhỏ đến tư tưởng, tình cắm của người con lớn lên ở vùng đất thiêng, để rồi buồn thương, tiếc nuối giữa thực

tại, để rỗi suy Lưởng, hay huồn thương nuối tiếc giéng dan Hoi Hat thay đã

biển thánh nỗi ám ảnh khôn nguôi

Thể giới thơ của nhà thơ Chế Lan Viên trước Cách mạng Tháng Tám,

người đọc dé đàng nhận thấy, thơ ông in rõ những dấu ấn của thực tại cuộc sống và chất chứa bao niễm suy tưởng về quá khứ dau thương của một din tộc Trước những chứng tích của một nền van minh bị mai mệt theo thời gian côn lại như : Tháp Chảm, dễn đài, tượng Chàm, xương Chàm, hồn những, người đã khuất của một Vương quắc lớn mạnh, đặc sắc

“Đây, những tháp gây mòn vì mong đợi

Những dền xưa dỗ nát dưới thời gian

Những sông vang lê mình trong bóng tối

Những lượng Chàm lờ lỏi rỉ rên tham!

(Trên đường về)

Có lẽ trong sự sâu thắm ở cõi lòng Chế Lan Viên, hình ảnh của “nững

tháp gây món vì mong đợi", “những đền xưa đỗ nút dưới Thời gian”, “những

tuong Cham 16 loi ri rén than”, “Thang nedy qua, gach Cham đua nhau rụng/ Tháp Chàm đụa nhau đỗ dưới trăng mờ” (Những sợi tơ lòng) , không

chỉ là hình ảnh của một nước Châm dã mất, mà còn là sự dự cảm vẻ số phận

của dân tộc Việt trong cảnh nô lệ lầm than Cuộc sống hiện tại được Chế Lan Viên cảm nhận với niềm uắt hận, đau thương, nên dẫu có “xuân về trong nắng

sớm” nhưng trong lỏng ông vẫn "đông lạnh giá băng thôi”.

Ngày đăng: 19/05/2025, 21:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle (2007), Nghệ thuật thi ca (2007), NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2007
6.. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mắy van dé trong thơ Việt Nam hiện dai, NXB DH & THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mắy van dé trong thơ Việt Nam hiện dai
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB DH & THCN
Năm: 1974
7. Hữu Đạt (1998), Cơ sở tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
9. Hữu Đạt (2000), Vgôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vgôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
10. Hữu Đạt (1993), Ngôn ngữ thơ ca Liệt Nam, Viên Hàn lâm Khoa học Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ ca Liệt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Viên Hàn lâm Khoa học Nga
Năm: 1993
11. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ ca Viet Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ ca Viet Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
12. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Liệt, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Liệt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
13. Hữu Đạt (2001), Phong cách học với việc đạy văn và lý luận phê bình văn học, ẹXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học với việc đạy văn và lý luận phê bình văn học
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: ẹXB Hà Nội
Năm: 2001
14. Hoàng Phê (2002), Logie ~ Ngôn ngữ học. NXB Đà Nẵng — Trung tam Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logie ~ Ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm