1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu về sử dụng dịch trong cải thiện kỹ năng Đọc hiểu của sinh viên không chuyên anh khoa tiếng anh trường Đại học ngoại ngữ, Đại học quốc gia hà nội

121 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về Sử dụng Dịch Trong Cải Thiện Kỹ Năng Đọc Hiểu của Sinh Viên Không Chuyên Anh Tại Trường Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Trang
Người hướng dẫn GS. Lê Quang Thiêm
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, nghĩa của từ lại là một hệ thống tương dối “động”, phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngôn ngữ, hàng loạt nghĩa mới được nấy sinh, nghĩa cũ có thể dầ

Trang 1

PAI HOC QUOC GIA HA NỘI TRUONG PAT HOC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYÊN THỊ TRANG

KHAO SAT TANG NGHIA BIEU TRUNG

TREN NRỮ LIEU THO VIET NAM

Trang 2

GIAI DOAN 1930 - 1975

LUAN VAN THAC Si NGON NGU HOC

HA NOL- 2012

Trang 3

DAI TOC QUOC GIA IIA NOI TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN

NGUYEN TH] TRANG

KHAO SAT TANG NGHIA BIEU TRUNG

TRÊN NGỮ LIỆU THÍ VIỆT NAM

GIAI DOAN 1930 - 1975

Trang 5

LOI CAM DOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi đưới sự

hướng dẫn của G5 T8 Lê Quang Thiêm Các tư liệu sử đụng trong luận văn

là hoàn toàn trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học có nguồn sốc,

ẤT vs vỡ và

xual xử rõ rằng,

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trang

Trang 6

LOI CAM ON

Để hoàn thành luận văn, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thây gô giáo trong Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa

học Xã hôi và Nhân văn - Dai học Quốc gia Hà Nội những người đã rất tâm

huyết giảng dạy, trao truyền những trị thức quý báu cho chúng tôi

Tôi xin chân cảm ơn Ban Lãnh dạo Nhà xuất bắn Chính trị quốc gia,

tap thé Ban sách Dang - nơi tôi đang công tác, đã luôn tạo điêu kiện thuận lợi

nhất giúp tôi hoàn thành quả trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bảy tố sự biết ơn sâu sắc đến G5 T8 Lê Quang Thiêm

- người hướng dẫn khoa học, người luôn đồng hành, tận tỉnh giúp đỡ, ủng hộ

tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ làng biết ơn chân thành và sâu sắc đến gia

đình, người thân, bạn bẻ, đồng nghiệp đã hết lòng quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ

va dong viền tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Hà Nội, tháng Ñ năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Trang

6

Trang 7

MUC LUC

PHAN MO BAU

1 Lý do lựa chon dé tai

2 Mục đích của luận văn

3 Đối tượng và phạm vi nghiền cứu

4 Nhiệm vụ của luận văn

5 Phương pháp nghiên cửa

6 Ý nghĩa và đóng góp của để tài

7 Bố cục luận văn

CHUONG 1

CƠ SỞ LÝ TIUYÉT VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

1.1 Nghĩa của từ là một hệ thống - Cơ cầu nghĩa của từ

1.2 Phân tích nghĩa của từ - IIiện tượng từ đa nghĩa

1.3.1 Phân tích nghũa của từ

1.22 Phân loại nghĩa của từ da nghia

1.3 Tầng nghĩa biểu trưng từ vựng và biểu hiện của nó

trong ngôn ngữ thơ ca

3.3.1 Tầng nghĩa biểu trung từ vựng

1.3.2 Sự hiện thực hóa của tầng nghĩa biểu trưng trong

ngôn ngữ thơ ca

1.4 Hiện tượng đồng nghĩa từ vựng và việc xác lập trường

ngữ nghĩa - từ vựng trên cơ sở đồng nghĩa

1.41 Các cách quan niệm và hướng khai thác của khóa

Trang 8

1.42 Loạt đồng nghĩa

CHUGONG 2

NGIIA BILU TUONG VE BAT NUGC

3.1 Đặt vẫn dé

2.2 Nhận xét chung về khả năng tạo nghĩa biểu tượng về

đất nước eda uáo đơn vị từ vựng

2.3 Khả năng tạo nghĩa biểu tương về đất nước của từ

NGHĨA BIÈU TƯỢNG VỀ CON NGƯỜI

3.1 Nhận xét chung về khả năng tạo nghĩa biểu tượng về

con người của các đơn vị từ vựng,

3.2 Các nét nghĩa biểu tượng về cơn người được nhắc đến

trong thơ ca Việt Nam 1930 - 1975

3.2.1 Nghĩa biểu tượng về hoạt động của con người

3.2.2 Nghĩa biễu tượng về tình cắm của don người

3.2.3 AIglữa biểu tượng về lý tưởng, ý chủ, wi tué cha con

Trang 9

“ey:

3.3.2 Khả năng tạo nghĩa biểu tượng về con người của 1È

“lông”

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUÔN TƯ LIỆU

Trang 10

PITAN MO DAU

1 Ly do Iva chọn đề tài

Nim trong dia hat cla ngit nghia hoc - mét dia hat rat khé va hét site

trừu tượng trong phạm vi nghiên cửu ngôn ngữ học, trưởng ngữ nghĩa - từ

vựng là một vấn để không hoàn toàn mới mê nhưng hầu như chưa có dược

những kiến giải thật sự thấu dao và thuyết phục Các kiến giải trước đây phần

lớn dều đi thco hưởng cầu trúc luận, coi thành phần nghĩa của từ lả một kết cấu "đông cứng” tử đó đặt chúng vào những trường nghĩa cố định nao dé ma

không hề có sự địch chuyển, linh động Trên thực tế, nghĩa của từ lại là một

hệ thống tương dối “động”, phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ của

hoạt động ngôn ngữ, hàng loạt nghĩa mới được nấy sinh, nghĩa cũ có thể dần

bị lãng quên, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngữ nghĩa của từ và tiếp

đó là các mỗi quan hệ ngữ nghĩa của nó với các đơn vị khác trong hệ thông từ vụng; vi thế các trường nghĩa mà từ có khả năng tham gia không thể là cô

thành những tín hiệu nghệ thuật, tín hiệu thẩm mĩ Chúng dược gạn lọc, tỉa

gọt hết sức kĩ cảng và hầu hết chủng đều có khả năng thể hiện những nghĩa

hoan loàn mới mẽ Việc trì nhận ngữ nghĩa của những tỉn hiệu thẳm mĩ cũng

như khám phá nội dung, ý nghĩa của các tác phẫm văn chương không thể chỉ đựa vào nghĩa hệ thông đơn thuần, thông thường của chúng trong các từ điển

mà phải dựa vào khá năng liên tưởng, sáng tạo và những hiểu biết văn hóa, xã hội của người tiếp nhận Cảng có nhiều nghĩa mới được hình thành thì từ cảng,

có khả năng tham gia nhiều trường nghĩa khác nhau Ví & phía trường ngữ

10

Trang 11

nghĩa - Lừ vựng thi trường sẽ được mở rộng, đa dạng và sinh ding vi cd sy

tham gia của nhiều hệ thống nghĩa khác nhau của các đơn vị từ vựng,

Xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn của chúng tôi di vào khảo sát, tìm

hiểu về tầng nghĩa biểu trưng - một bộ phận của trường ngữ nghĩa từ vựng

trên ngữ liệu thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975 như một thử nghiệm hướng

tiếp cin mới trong ngôn ngữ học hiện nay - hướng trí nhân luận chức năng

luận Theo hướng khai thác này, chúng tôi hi vọng góp phần đưa ra một cách

hiểu mới mẻ, sinh động và thuyết phục hơn về trưởng ngữ nghĩa - từ vựng,

đặc biệt là tầng nghĩa biểu trưng

2 Mục đích của luận văn

Luận văn này tiếp cận lí thuyết trường ngữ nghĩa mà cụ thể là trường ngữ nghĩa - từ vựng ở một hướng tiếp cận mới, lấy quan điểm ba tầng nghĩa,

sáu kiểu chức năng từ vựng của tác giã Lẻ Quang Thiêm lâm cơ sở nền tầng

để quy tụ các đơn vị đồng nghĩa, xác lập trường ngữ nghĩa từ vựng, phân tầng

các đơn vị đỏ và đi sâu phân lich Ung nghĩa biểu trưng cing những kết hợp,

cấu trúc đan xen văn hóa tạo nên tầng nghĩa biểu trưng này Chúng tôi mong

muốn bằng phương pháp tiếp oận nảy sẽ chứng mình được sự mở rộng của trường ngữ nghĩa - từ vựng, chứng mình sự sắp xếp, tổ chức của các đơn vị từ,

các lớp từ trong trường ngữ nghĩa là hoản toản có quy luật Dặc biệt, đổi với

tầng nghĩa biểu trưng, nghĩa của từ là kết quả của một loạt cáo kể! hợp về cấu

trúc trong hệ thống ngôn ngữ và có sự thể hiên văn hóa của người Việt, của

riêng nhà thơ khi sử dụng chất liệu ngôn ngữ để tạo nên hình tượng nghệ

thuật

Qua khảo sát và thông kê, chúng tôi cố gắng xác lập, dì sâu miều tá và

bước đầu giải thích sự tồn tại nghĩa của các đơn vị từ vựng cũng như các mỗi quan hệ chăng chịt, phức tạp giữa chúng trong ngữ nghĩa Thông qua đó góp

Trang 12

phần hiểu thêm được chức năng thẩm mĩ, chức năng nghệ thuật của từ ngữ trong thơ ca

Những diều này không nằm ngoài mục đích cuối cùng của luận văn là

nghiền cứu mối quan hệ biện chứng giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thơ ca,

tìm hiểu và tiếp cận văn học bằng lí thuyết ngôn ngữ học Cụ thể hơn là nhằm

hiểu được nghĩa của các đơn vị từ vựng trong thơ ca Chúng ta không thể hiểu

được nghĩa của Lừ nói chung và nghĩa biểu tung của Lừ nói riêng trong thể Lần tại độc lập mình nó, mả cần phải bóc tách các lớp nghĩa của tử trong mối quan

tệ với những đơn vị từ khác củng trường nghĩa và trong mỗi quan hệ với nền

văn hóa chưng cúa cộng đồng

3 Đối tượng và phạm vì nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là ting nghĩa biểu trưng, tập trung

vào những hình tượng nghệ thuật mang tính điển hình và là nguồn cảm hứng

cơ bản của thơ Việt Nam trong suốt giai đoạn 1930 - 1975 gắn liên hoàn cảnh

lịch sử đặc biệt của đất nước với sự ra đời của Đảng Công sản Việt Nam củng

luỗổng tư tưởng mới và đây cũng 14 quãng thời gian điễn ra hai cuộc kháng

chiến trường kỳ và oanh liệt của đân tộc, đỏ là: nghĩa biểu Lượng về đất nước,

về cơn người, theo đó, luận văn tập hợp và phân tích oác dơn vị Lừ có hàm

chứa tầng nghĩa biểu trưng, xác lập các đơn vị có nghĩa biểu trưng giống nhau

(tạo ra trường đồng nghĩa) và sự chuyển hóa về nghĩa biểu Lượng giữa các đơn

vị từ nhằm chứng minh một đơn vị từ có thể tham gia nhiều trưởng nghĩa

khác nhau (xét trên sự tương đằng về nghĩa biểu trưng) để xác lập trục đa

nghĩa của Ut

Nguồn tư liệu mà chúng tôi lựa chợn để khảo sát, phân tích là những

bài thơ nỗi bật của một số nhà thơ tiêu biểu của khuynh hướng thơ mang âm hưởng cách mạng trong giai đoạn 1930 - 1975 như: Tổ ITữu, Chế Lan Viên,

Nguyễn Đỉnh Thị, Nguyễn Khoa Điểm, Tế Hanh Tê Anh Xuân, Giang

12

Trang 13

Nam Từ đó, luận văn lẫn lượt quy Ly cac hé théng nghia cia cdc đơn vị từ

vựng theo tiêu chí đẳng nhất ở tầng nghĩa biểu trưng,

4 Nhiệm vụ của luận văn

Tatận văn nảy tập trung vào những diễm sau

- Hệ thống hỏa các quan niêm khác nhau về nghĩa của từ và đặc biết

chú ý tới các quan niệm vẻ các thành phần nghĩa của tù, đa nghĩa, đồng nghĩa

Quan trong hơn, luận văn bước dầu xác lập tầng nghĩa biểu trưng dựa trên

quan hệ ởa nghĩa và đông nghĩa của các đơn vị tir,

- khảo sát, xác lập, đi sâu miêu tả và bước đầu giải thích các hiện

tượng ngữ nghĩa xây ra bên trong từng trường nghĩa trong thơ Việt Nam giai

đoạn này Ở mức độ sâu hơn, chủng tôi nhận diện và miều tả các nghĩa khác

nhau của các đơn vị từ thuộc tầng nghĩa biểu trưng của một trường nghĩa nhất định Tiếp cận theo bể réng va bề sâu như vậy sẽ giúp chúng tôi có cái nhin

tổng quan về phạm vị hoạt dông của tầng nghĩa biểu trưng trong từng trường nghĩa; đồng thời nhìn nhận một cách thấu đáo, chỉ tiết về kết cầu ngữ nghĩa của từng don vị từ vựng trong tầng nghĩa, trường nghĩa

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích để ra, trong khi nghiên cứu, chúng lôi đã sứ dụng

các phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp liệt kê: Chúng tôi tiển hành khảo sát tầng nghĩa biểu trưng thuộc trường ngữ nghĩa lừ vựng về một số hình tượng trong thơ Việt

Nam 1930 - 1975 qua việc liệt kê, phân lớp các đơn vị từ vựng theo tiêu chỉ

đồng nhật Thông qua khảo sát việc xuất hiện, tần suất xuất hiện của từng đơn

vị từ trong lớp từ vựng chứa chúng để đưa ra những nhận xét về năng lực hoạt

động của các đơn vị và các lớp này

Trang 14

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng: Luận văn sử dụng phương pháp nảy để phân tích những biểu hiện nghĩa biểu trưng của các đơn

vị từ vựng, phân tích mỗi quan hệ giữa hinh thức và nội dung, nội dung trong

quan hệ với ngữ cảnh, văn cảnh và rộng hơn là xác định quan hệ ngữ nghĩa

giữa các đơn vị từ vựng với nhau để tạo ra nghĩa biểu trưng

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này duoc van dụng nhằm mục

đích miêu tả oác nghĩa của các tín hiệu nghệ thuật trong các tác phẩm thơ ca

cách mạng tĐĐỀng thời, chúng tôi sử đụng phương pháp này để miễu tả sự

biểu hiện của tầng nghĩa biểu trung qua hoạt động của đơn vị từ vựng trong

ngữ cánh, văn cảnh

- Phương pháp so sánh và phương pháp đối chiếu: Trên cơ sở sự giống

nhau và khảo nhau giữa các nghĩa mà từ biếu đạt qua các ngữ cảnh, văn cảnh,

chúng tôi tiến hành so sánh, đổi chiều các nghĩa để thiết lập trường nghĩa

Chủng tôi đã sử dụng những thủ pháp, thao tác trong quá trình tiến

hành luận văn nhằm đạt được những mục đích nêu trên là: tổng hợp, phân lớp

và liệt kê nhằm tập hợp các ngữ cảnh khác nhau, trong các tác phẩm thơ ca

khác nhau của các từ ngữ, phân loại các ngữ cảnh có chứa cùng một nghĩa

hoặc nét nghĩa, xác lập trưởng nghĩa dễ rút ra thông tin định tính Các thao tác

lập mô hình trực quan được sử đụng bễ sung, hỗ trợ cho việc miều tả sự hành

chức của từ và các cơ chế phát sinh nghĩa của từ

6 Ý nghĩa và đóng góp của để lài

Về mặt lí luận, luận văn là sự mở rộng phạm vi khảo sát và đi sâu thêm

một bước nghiên cứu so với khỏa luận tốt nghiệp đại học “Bước đầu khảo sát

trường ngữ nghĩa - từ vựng về đất nước trong một số bài thơ Việt Nam giải

đoạn 19435 - 1975” Vì thế, luận văn nảy tiếp Lục góp phẫn làm sáng lỏ quan

điểm về trường nghĩa, tầng nghĩa mà cụ thé là tầng nghĩa biểu trưng của trường ngữ nghĩa từ vựng theo hướng tiếp cận chức năng luận, tri nhận luận

14

Trang 15

Quá đó, luận văn giúp hiểu rõ hơn về nghĩa của các đơn vị từ vựng, nhất là nghĩa biểu trưng trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật thông qua việc

bóc tách từng lớp nghĩa, tầng nghĩa trong từng ngữ cảnh, văn cảnh mà từ hoạt

động Bởi lẽ Lừ không tồn lại độc lập mả nó luôn tôn tại trong mỗi quan hệ với

các đơn vị khác

Néu như một kí hiểu ngôn ngữ thường có sự thống nhất giữa cái biểu

đạt và cái được biểu đạt thì trong thơ không phải bao giờ cũng thế Cái biểu

đạt trong thơ chẳng qua là lớp kinh bên ngoài bao bọc một thể giới hình tượng

muôn hình muôn đạng Kéu không hiểu được điều đó, người tiếp nhận sẽ bỏ

qua những giá trị đích thực của ngôn từ cũng như những giá trị độc đáo, kì

điệu mà người nghệ sĩ ngôn từ tạo ra từ năng lực sáng tạo nghệ thuật của

- Đối chiếu với các từ điển tiếng Việt, xem xét các nghĩa của từ ngữ

được bộc lệ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật đã được khái quát trong

các từ điễn hay chưa, bỗ sung vào hệ thống nghĩa của từ trong tử diễn

- Tim hiểu những nghĩa mới (chú yếu là nghĩa biểu trưng) của từ ngữ

trong tác phẩm văn học nghệ thuật có nằm trong thói quen sử dụng ngôn ngữ thằng ngày của cộng đồng ngôn ngữ hay không Những nghĩa mới đó được sử

dụng phổ biển trong cộng đồng ngôn ngữ bay chúng chỉ có giá trị trong văn

thơ

Vi thé, những kết quả thống kê được, miêu tả được góp phần tìm hiểu

mỗi quan hệ giữa hệ thống nghĩa nội lại tiểm Làng trong bản thân từ ngữ với

15

Trang 16

hệ thống nghĩa của từ được khái quát trong từ điển tiếng Việt và sự biểu hiện

của chúng trong văn học nghệ thuật, có sự so sánh, đổi chiếu với thói quen sử

dụng ngôn ngữ hằng ngảy

7 Hố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có bế cục gầm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết và định hướng nghiên cứu

- Chương 2: Nghĩa biểu tượng về đất nước

- Chương 3: Nghĩa biểu tượng về con người

l6

Trang 17

CHUONG 1

ING NGHIÊN CỨU

COSO LY THUYET VA-DINH HU’

1.1 Nghĩa của từ là một hệ thống - Cơ cấu nghĩa của từ

Tin hiệu ngôn ngữ lả một tín hiệu đặc biệt, nếu như giữa cái biểu hiện

và cái được biểu hiện của các tín hiệu thông thường có quan hệ 1-1, tức là

một hình thức chỉ biểu hiện cho một nội dung nhất định thì quan hệ giữa vỏ

ngữ âm của ngôn ngữ (cái biểu hiện) với nội dung nghĩa (cái được biểu hiện)

không phải là quan hệ 1-1 Một võ ngữ âm có thể diễn tá nhiều nội dung khác

nhau Vì thể, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa khác nhau nhưng đó

không phải là một tổ chức lộn xộn Đối với từ đa nghĩa, các nghĩa của từ có

quan hệ với nhau, dược sắp xếp theo những cơ cấu, lỗ chức nhất dịnh Mỗi

nghĩa lại có các thảnh tố nghĩa nhỏ hơn được sắp xếp theo một trật tự nhất

dinh

Như vậy, nghĩa của từ là một hệ thống Xét nghĩa của từ là xác định

xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn và tất

cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào

Xét trong một trường từ vụng, bản thân mỗi từ đa nghĩa tạo nên một

một trục ngữ nghĩa mà ở đó uáo nghĩa luôn tần tại một mỗi liên hệ nhất định

nao đó Nói cách khác, khi xét toàn bộ thành phần nghĩa của từ đa nghĩa va

mỗi liên hệ giữa Lửng nét nghĩa với những nghĩa bên trong từ và với những

nghĩa của từ khác, ta có thể tập hợp thành một trường nghĩa rộng hơn, đầy di

hơn nhiều khi xét một nghĩa nào đó của từ

1.2 Phân tích nghĩa của từ - Hiện tượng từ da nghĩa

1.2.1 Phân tích nghĩa của từ

Trang 18

Về vấn đề (hành phần ngữ nghĩa của từ, đã có rất nhiều luận giải khác

nhau, tủy theo cách quan niệm về nghĩa của từ:

Với quan niệm nghĩa của từ là quan hệ giữa từ với cái mà nó biểu thị,

Nguyễn Thiện Giáp [9] cho rằng ngiữa của từ là một đối tượng phức tạp,

bao gẫm một số thành tổ don gidn hơn như sau: nghĩa sở chỉ, nghĩa sử biểu,

nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu [rong đó:

- Nghĩa sở chỉ (referentive meaning): là quan hệ giữa từ với đối tượng

mà từ biểu hiện Đối tượng mà từ biểu thị không phải chỉ là các sự vật mà còn

là quả trình, tính chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó; các dối tượng nảy có

thể ngoải ngôn ngữ hoặc trong ngồn ngữ Dỗi tương mà từ biểu thi được gọi

là “cái sử chỉ” của từ

- Nghĩa sở biểu {significative meaning): La quan hé gitta tir voi biểu

tượng, khái niệm Khái niệm hoặc biểu tượng có quan hệ với từ dược gọi là

“cái sở biểu” Cái sở biểu và cái sở chỉ có quan hệ chặt chẽ với nhau, cái sở biểu là sự phản ánh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người Tuy nhiên,

g1ữa chúng lại có sự khác nhau rất lớn Mỗi cái sở biểu có thể ứng với nhiều

cái sử chỉ khác nhau, tức lả nó có quan hệ với cả một lớp hạng đổi tượng trong thực lễ Ngược lại, một cái sở chỉ duy nhất có thể thuộc vàn những cái

sở biểu khác nhau, bởi vì cùng một sự vật tùy theo đặc trưng của minh có thế

tham gia vào một số lớp kháu nhau

Quan hệ ngữ âm của từ với cái sở biểu, tức là nghĩa sở biểu của từ đó,

trong một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định lả cái có tỉnh chất Ổn định Vì

vậy, nghĩa sở biể thuộc vào hệ thống ngôn ngữ

Nghĩa sở chỉ thể hiện ra khi sử dụng các từ trong lời nói Nó không có

tỉnh én định bởi vi bản thân mối quan hộ của từ với cái sở chỉ có thể thay đối

tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể

Trang 19

- Nghia sé dung (pragmatical meaning): Là quan hệ của từ với người

sử dụng (người nói, người viết, người nghe, người đọc) Người sở dụng ngôn

ngữ hoàn toàn không thờ ơ đối với những từ người được dùng I1ọ có thể bộc

lộ thái độ chủ quan của mình đốt với Lừ ngữ và qua đó Lới cái sở biểu và sở

chỉ của từ ngữ

- Nghĩa kết cấu (struchual meaning): Mỗi từ đều nằm trong một hệ

thống từ vựng, có quan hệ đa dạng và phức lạp với những từ khác Quan hệ

giữa từ và những từ khác trong nghĩa sở biểu trong các ngồn ngữ đều có quan

hệ với việc nhận thức hiện thực khách quan Theo đỏ, mỗi từ có giá trị riêng

của mình trong hệ thống nhờ quan hệ đổi vị với các từ khác, quan hệ của từ

với các từ khác trên trục đối vị (trục dọc) được gọi là nghĩa khu biệt hay giá trị Ngoài ra, từ còn có quan hệ với các từ khác trên trục nối tiếp (trục ngang)

để tạo ra ngiữa củ pháp hay ngữ trị của từ

Đỗ Hữu Châu |I| lại tập trung phân tích nghĩa vả cáo nhân tố hình

thành nghĩa thông qua hình tháp nghĩa; trong đó ông đã phân biệt “nhân tố

nghĩa” và “nghĩa”, đồng thời thừa nhận nghĩa của từ là một thực thể tình thân

cùng với phương diện hình thức lập thành một thể thông nhất gợi là từ Ông

cho rằng: số lượng kiểu nghĩa sé tang lên ùy theo số lượng những nhân tổ

được phát hiện Trong phạm vì quan sát nghĩa từ vựng, các loại nghĩa mà ông

nêu ra bao gỗm: nghữa biểu vật, ngiữa biểu niệm và ngiĩa biểu thái:

- Nghĩa biểu vật: Sự vật, hiện tương, đặc điểm ngoài ngôn ngữ, được

từ biểu thị tạo nên nghĩa biểu vật của từ Nghĩa biểu vật không phải là sự vật,

hiên lượng y như chúng có thực trong thực tế mả chỉ lả sự phản ánh sự vật,

hiện tượng trong thực tÊ vào ngôn ngữ Vì vậy, nó có ý nghĩa khái quát

- Nghia biểu niệm: Là tập hợp một số nết nghĩa chung vả riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có

một quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật

19

Trang 20

của từ Tập hợp các nét nghĩa phạm Irù, khái quát chung cho nhiều từ được

gợi là cầu trúc biểu niệm

- Nghĩa biểu thái: Thuộc phạm vì biểu thải của từ là các nhân tổ đánh

giá như: fo, nhỏ, mạnh, yếu ; các nhân tổ cảm xúc như: dé chịu, sợ hãi

các nhân tổ thái đô như: yều, ghét, mến, thương mà từ gợi ra cho người nói

vả người nghe

Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là nghĩa từ vựng Ngoài ra,

từ còn có nghĩa ngữ pháp ứng với chức nắng ngữ pháp của từ

Các tác giả Mai Ngọc Chù, Vũ Đức Nghiệu, Ioàng Trọng Phiên [5]

thì lại cho rằng nghĩa của từ là những hiên hệ phản ảnh dược xác lập trong

nhận thức của chúng ta giữa từ với những cái mà từ chỉ ra (những cải mà nỗ

làm tín hiệu cho) Các tác giã quan niệm, nghĩa của từ gầm những thành phần

sau: elữa biểu vật, nghĩa biểu niệm Ngoài hai thành phần nghĩa trên, các tác

giả còn nói đến hai thành phần nghĩa khác là: ngiữa ngữ dụng, nghĩa cấu trúc

Theo dé:

- Nghia biéu vật: Tà liền hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc

tính, hoạt động ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tỉnh, hoạt

động đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật

- Nghĩa biếu niệm: Là liên hệ giữa từ với ÿ (hoặc ý nghĩa, ý niệm, nếu

chúng ta không cần phân hiệt nghiêm ngặt mây tên gọi nảy) Cái ý đó người

†a gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu

vật vào trong ý thức của con người)

- Ngoài hai thành phần này, các tác giả còn nói đến hai thành phần

nghĩa khác là

+ Ngiiữa ngữ dụng (còn được gọi là nghĩa biều thái, nghĩa hàm chủ): Tà

mối liên hệ giữa từ với thai độ chủ quan, cảm xúc của người nói

20

Trang 21

1 Nghia cdu trúc: Là mỗi quan hệ giữa từ với từ khác trong hệ thống từ

vựng, trên cả hai trục đối vị và trục ngữ đoạn

Như vậy, xét bản chất nghĩa và loại nghĩa tức là di vào phân biệt nghĩa

từ vựng và nghĩa ngữ pháp Nghĩa từ vựng được phân thành nghĩa biển vật

(nghĩa sở chỉ) và nghĩa biểu niệm (nghữa sử biểu) Để tiển sâu hơn một bước

trong tìm hiểu các thành phần nghĩa của từ đa nghĩa, các tác giả đi sâu phân

loại nghĩa trong hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa

1.3.2 Phân loại nghĩa của từ ẳa nghĩa

Các nhà Việt ngữ học đã có những cách phân loại khác nhau đối với hệ

thống nghĩa của từ da nghĩa Có thể kể đến một số hướng như sau:

~ Ở mặt lịch đại, các tác piá chìa nghĩa của từ da nghĩa thành „giữa gốc

và nghĩa phdi sinh Nghia géc là nghĩa đầu tiên, nghĩa có trước, trên cơ sở nghĩa đó phái sinh ra nhiều nghĩa khác VeHfa phái sinh là nghĩa được hình

thành trên cơ sở nghĩa gốc, trong quá trình sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ

- G mit déng đại, các tác giả cũng đưa ra nhiều cách giải quyết khác

nhau về nghĩa của từ đa nghĩa Có thể kể đến một số lưỡng phân như: z;giữz

tự do - nghĩa hạn chế, nghĩa trực liếp - nghĩa chuyên tiễn, ngiĩa thường trực -

nghĩa không thưởng trực |5, tr.173-176] Hên cạnh đó còn có các lưỡng phân

như: nghĩa cỗ - nghĩa hiện dùng, nghĩa địa phương - nghĩa loàn đân, ngÏĩa

chính - nghĩa phụ |1, tr.152-155|

Về cơ bản, các tác piã dã phân loại hệ thống nghĩa của từ da nghĩa theo

hướng lưỡng phân nghĩa Tiều này dẫn đến một hệ quá là: Trong trường hợp nhiều nghĩa phải sinh, nhiều nghĩa không cơ bản, nhiều nghĩa phụ thi sự phân

biệt không được chỉ rõ, không được gọi tên, không xác lập cho nó một vị thế

tương ứng, không có sự định loại cho bộ phận nhiều nghĩa còn lại của từ

TLưỡng phân thì không đủ thang độ để phân biệt tính đa dạng ngữ nghĩa từ

21

Trang 22

vựng [23, tr.119] 2o đó, theo chứng lôi, phương pháp lưỡng phân không còn

là một thước đa đập đủ cho việc nghiên cứu hệ thông nghĩa của từ da nghita

Với mong muốn mở rộng khung phân loại hệ thống nghĩa của từ da

nghĩa, nhằm đưa ra những miêu tả, phân tích cụ thể, chỉ tiết hơn nữa về hệ

thống nghĩa hết sức đa dạng nảy, Lác giả Lê Quang Thiêm [23] đã đưa ra quan

niệm nghia là nội dụng được xác định hình thành nhờ chức năng thì nội dụng

ngữ nghĩa (phố nghĩa) của từ bao gồm “chuỗi chức nắng” mà từ bộc lệ trong

văn cảnh, ngữ cảnh mà chúng xuất hiện cững như trong các kiểu tạo cấu trúc

ngôn ngữ Từ đỏ, tác giả phân câu trúc nghĩa của từ thành các tầng nghĩa, kiểu

nghĩa chức năng Lừ vựng gồm ba tẳng sáu kiểu Cụ thể hơn, phổ nghĩa cúa từ được trải dài từ cực đọ? lý khoa học đến cực biểu cảm, biểu trưng, biểu tượng

(intellectual stratum) THIỆN quy woe

'Tầng nghĩa thực tiễn `ự Nehia biéu thi (denotarional meaning)

- Tầng nghĩa biển trmg ` Nghĩa biểu trưng (søw6olised meaning)

(symbolized stratum} Nghia bidu tugng (imaginative meaning)

Chúng ta lần lượt đi vào tìm hiểu sáu kiểu nghĩa trong ba tầng nghĩa từ

Trang 23

bản chất các hiện tượng, các quá trình, thude tinh Vi du Nghia cia tir medo:

chất lãng không màu, không mài, trong suốt, sôi ở 100 độ C

+ Nghia biểu hiện: Là một nội dung trừu tượng, khái quát thể hiện

trong tín hiện ngôn ngữ Nội đuưng này bao gồm hai nội dung cụ thể hơn: khái

niệm qng ước là nội dụng khái quát thuộc Linh đấu hiệu đối tượng được biểu hiện một cách đời thường có tính chú quan, không hoản toàn thể hiện bản chất

và nghĩa hệ thông được xác lập trong quan hệ với từ khác trong nhóm, trong

trường,

- Vé tang nghĩa thực tiễn:

— Nghĩa biểu thị: Nghĩa biểu thị có tính cụ thể lời nói, được dùng trong,

thực tiễn đời sống khi câu nói liên quan đến sự vật, hoạt động, tính chất mà từ

biểu thị Nói đến nghĩa biểu thị là ta có thể hình dung sự vật, hành động theo

một mặt, một thuộc tính, công dụng cu thé nao dó Nghĩa biểu thị của từ rước

là chải lỏng nói chung; vi dụ: nước chè, nước mỗi, HƯỚC SÔNG

Aglũa biếu chỉ: Nghĩa biểu chỉ có nội dung chỉ ra, quy chiếu dén ma

nôi dung nghĩa it phản ảnh, biểu thị, ánh xạ nét gì, thuộc tính nào của sự vật,

hiện tượng mà như là từ lt@; thể, dán nhấn Kiểu nghĩa này thể hiện như các

từ chỉ xuất: mày, kia, ấy, ấp ; các đại từ: tôi, ta, nd, y

- Vé tang nghĩa biểu trưng:

Ngiĩa biểu trưng: Là loại nghĩa đành cho nội dung nghĩa của những

từ mà hình thức ngữ âm (mê phỏng âm thanh) hoặc hinh thức cầu âm (mô

phỏng cấu hình) có liên hệ đền nội đung được biểu hiện của từ

+ Nehia biéu tượng: Là nghĩa cô được do hình dung, tưởng tượng,

Có thế nói, với quan niệm về ba tầng nghĩa, sáu kiểu nghĩa chức năng

từ vựng như vậy, nghĩa của từ không chỉ được xem xót trong thế lưỡng phân

như những quan niệm trước đỏ Đây lả một sự đổi mới, mở rộng quan niệm

23

Trang 24

về nghĩa, nó đã dung hòa va kiến giải được những nội dung thuộc hai cực đối lập nhau: khoa học và viễn tưởng, hai khả năng biếu đạt của kỉ hiệu: tạo hình

và biểu hiện, miêu tả và trí giác Theo đó, ta cũng thấy rõ hơn về sự phong

phủ, đa dạng vá đầy ý nghĩa trong nghĩa chứ năng Lừ vựng,

Chúng tôi lựa chọn cách phân loại thành phần nghĩa từ vựng của lac gia

Lê Quang 'Lhiêm làm hướng tiếp cân trường ngữ nghĩa và cũng làm hướng khai thác chung cho luận văn này Bởi lẽ, với ba tầng, sáu kiểu nghĩa chức

năng tử vựng, nghĩa của từ được khai thác một cách triệt để từng vỉa lớp

nghĩa được lân lượt bóc tách chứ không chỉ riêng một thành phân nghĩa nảo

Cảng đi sâu bóc tách lừng kiểu nghĩa, tằng nghĩa của đơn vị từ nảy và xác lập

được mối liên hệ của nó với các tầng nghĩa, kiểu nghĩa của các đơn vị từ khác trong hệ thông từ vựng thi các trường ngữ nghĩa được thiết lập và mở rộng

thêm ra, phong pha hon gap nhiều lần Vì thé, chúng tôi có dược cơ sở da dang, phong phú và khá đẩy đủ để tập hợp được nhiều nhất hệ thống nghĩa

à đẳng thời thấy

được khả năng bộc lô các nghĩa mới - cũ khác nhau của từ thông qua những

của từ, góp phần mở rộng đến mức tối đa trường ngữ nghĩa v:

ngữ cảnh, văn cảnh khác nhau mà chúng xuất biện Trong luận văn nảy,

ching tôi sẽ tìm hiểu kĩ về tầng nghĩa biểu trưng mà cụ thể là nghĩa biểu

tượng của tử trong việc xây dựng hình tượng của tác phẩm văn học nghệ thuật,

cụ thể là trong các sáng tác thơ

1.3 Tầng nghĩa biểu trưng từ vựng và biểu hiện của nó trong ngôn

ngữ thơ ca

131 Tầng nghĩa biẫw trưng từ vựng

Nói đến nghĩa biểu trưng là nói tới các mức độ của sự hình đưng, tướng

tượng mả con người có thế nhận được khi liên hệ nghĩa với hình thức biếu hiện của từ hoặc các phạm vì tôn tại khác trong cuộc sông

24

Trang 25

Tâng nghĩa biểu trưng có hai kiểu nghia: nghia biểu trưng và nghĩa biểu tượng

- Nghĩa biểu trưng: Là loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa của những

từ mà hình thức ngữ âm (mô phông âm thanh) hoặc hình thức cầu âm (mô

phỏng cầu hình) có liên hệ đến nội dung được biểu hiện của từ Các lừ Lự mặt

âm thanh của nó đã nói lên phần nào nội dung biểu đạt, ý nghĩa của từ đã được biểu đạt và có thể được tiếp nhận thông qua vỏ ngữ âm Những đơn vị

ngôn ngữ mang nghĩa biểu trưng này đã chứng minh một điều: mỗi quan hệ

giữa hai mặt âm thanh và ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ không hoản toản là

vũ đoán Nói cách khác, trong một phạm vi hep nao đó, mỗi quan hệ giữa cái

biểu đạt và cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ là có lý do Những từ mang nghĩa biểu trưng là những từ mà ta quen gọi là từ tượng thanh và từ

tượng hình Ví dụ: meo meo (mèo), rào rào (mưa), oang oang (giọng nói),

ngoằn ngoèo (con đường)

Nghĩa biểu trưng lả kết quả của quá trình biểu trưng hóa, đó là quả trình

vốn có nguồn gốc lâm lÍ của nó trong đời sống xã hội và được ghỉ lại một cách tễ nhị, độc đáo trong ngôn ngữ

- Nghĩa biểu tượng: Là loại nghĩa có được do con người hình dung,

tưởng tượng ra Trong cuộc sống, có những đối tượng được gọi tên nhưng

những gì con người biết về nó chỉ là sự tướng tượng, sự lruyền miệng, mang

tính hoang đường, thần thoại Dó là trường hợp của những đơn vi ngôn ngữ mang nghĩa biểu tượng, ví dụ: #ên, but, rồng, phượng, nhân mã Nói đến

nghĩa biểu tượng, không thể không nhắc dến những dơn vị ngồn ngữ mang

nội dung biểu cấm, nội dung huyền thoại mả một đân tộc ở một thời đại nào

do, chủ thể ngôn ngữ đã thổi vào, gán vào nội dung với những hình dung, tưởng tượng Đó là những bình tượng như mẹ, TỔ quốc, đất nước, quê

hương Những biểu tượng này mang giá trị nhân văn sâu sắc, mang chiều

25

Trang 26

sâu lịch sử, có tính văn hỏa - nghệ thuật và được mã hóa trong tin hiệu ngôn

ngữ, gắn với chức năng thấm mĩ của từ ngữ Vì vậy, có người gọi kiểu nghĩa

này là nghĩa biếu cảm - văn hóa

Cuộc sống xã hội, nhận thức và tư duy của con người luôn luôn thay

đổi Vì thể, để đảm nhiệm được chức năng là công cụ của tư duy và là phương

tiên của giao tiếp, ngôn ngữ cũng phải thay đổi theo: hé qua của nó là làm nảy

sinh những cách thức chuyển nghĩa mới Vì thế, có những từ vốn đã có một

cơ cầu nghĩa biểu vật lôgíc cụ thể nhưng trong quá trình sử dụng của con

người vẫn mang thêm những biểu tượng khác Những nghĩa biểu tượng này

có mối liên quan mật thiết với nghĩa biểu vật lôgic gúa từ Ví dụ: Từ xuẩm mang nghĩa sự vật thông thường là chỉ màa chuyễn tiếp từ đông sang hạ, thời

nết Ấm dân lên, thường được coi là mê đầu của mội năm đã được chuyển

nghĩa, biểu tượng cho tuổi trễ, Linh yêu, hạnh phúc trong các câu thơ như

Mùa xuân là tết trồng cây, Lam cho dét meéc càng ngày cùng xuân

(Hà Chỉ Minh)

Đổ nắm bắt và trì nhận được ý nghĩa thuộc tầng nghĩa biểu trưng của từ,

người tiếp nhận ngễn ngữ phải sử dung khả năng liên tưởng, tưởng Tượng và

có vôn tri thức văn hóa, lịch sử nhất định Khi các đơn vị ngôn ngữ mang tầng

nghĩa biểu trưng, nó không còn lả những tin hiểu thông thường mả dã trở

thành ti: hiệu (hẳm mĩ Tin hiệu thẩm mĩ lả chất liệu của văn học nghệ thuật

và chỉ trong văn học nghệ thuật, tín hiệu ngôn ngữ mới thể hiện hết những giá

trị, tầng nghĩa biểu trưng của mình

1.3.2 Sự hiện thực hóa của tằng nghĩa biểu trưng trong ngôn ngữ:

tho ca

26

Trang 27

Ngôn ngữ là hệ thống chất liệu tỉnh thần được sử dung để chuyển tải

hình tượng thấm mĩ của văn học Hay nói cách khác, văn học sử dụng tín hiệu

thấm mĩ đưới hình thức biểu đạt của ngôn ngữ Đây là phương tiện đặc hữu

của văn học nghệ thuật Ngôn ngữ là sông cụ phổ biến nhất có thổ truyền Lãi

một cách tron vẹn hiện thực khách quan cũng như những mặt bên trong của

thực tế (ẩm giác, cảm xúc, trạng thái) Bởi vậy, để lĩnh hội được các tác

phẩm văn chương nghệ thuật, chúng ta phải tim hiểu giá trị ngữ nghĩa của văn

ban dé, ma trước hết là ngữ nghĩa của từ

Do đó, có thế khẳng định rằng, thơ ca là môi trường hoạt động đặc biệt của các lin hiệu ngôn ngữ Tính đặc biệL của nó so với các môi trường khảo

(phong cách chức năng khác) nằm ở khả ning tao hình tượng trên chất liêu

ngôn từ Kói khác đi, ngôn ngữ là yếu tố quan trong, tiên quyết đối với sự thành công của một tác phẩm văn chương Để làm được diều đó, thông

thường, khi đi vào tác phẩm, các kí hiệu ngôn ngữ ngoài việc bộc lộ nghĩa

khái niệm (tầng nghĩa trí tuệ) và nghĩa thông thường (tầng nghĩa thực tiễn), nó

cỏn bộc lộ những nghĩa thuộc tằng nghĩa biểu trưng - tang nghĩa đã dược

người nghệ sĩ “gắn” lên óc hình đưng, tưởng tượng của mình và được trị nhận

bằng những quan niệm thấm mĩ, văn hóa chung của cộng đồng Vì thể, khai

thác tằng nghĩa biểu trưng của các dơn vị từ vựng sẽ cho chúng ta những kết

quả lí thú và đầy mới lạ kói như vậy để thấy tầng, nghĩa của các đơn vị từ

vựng trong tác phẩm văn chương có thể chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng

thái đông: từ dang khái quát, trừu tương, các đơn vị sang trang thải cu thể,

sinh động Các từ ngữ được hiện thực hóa các thuộc tĩnh, các đặc điểm hình

tượng của mình trong các kết hợp nhất định và thực hiện được những chức

năng thấm mĩ đa dạng khi tham gia xây dựng hình tượng văn học

Đặc điểm nỗi bật của tử ngữ trong các tác phẩm văn chương là có thé

được đùng với nghĩa chuyển mới, nghĩa của nó khi tham gia văn bản văn học

27

Trang 28

thường không đồng nhất với nghĩa vốn có, nghĩa tự thân của nó trong hệ

thống ngôn ngữ ' uy nhiên, những phương thức chuyến nghĩa, những quan hệ

ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng (gọi tắt là những hiện tượng ngữ nghĩa từ

vựng) là cơ sở, là cải mẫu tạo ra sự chuyển nghĩa trong văn bản Tức là, hiện

tượng ngữ nghĩa từ vựng và hiên tượng từ ngữ trong sử dụng khác nhau về

tính cổ định, tính đa phong cách và những quan hệ như nhau Vì vậy, nắm

vững những hiện tượng ngữ nghĩa, chúng 1a sẽ cỏ cơ sở vững vàng để H giải

các hiện tượng ngữ nghĩa trong văn bân văn học

Ở góc nhìn của văn học nghệ thuật, chất liệu ngôn ngữ được sử dụng để

thể hiện những giả trị thẳm mã sao cho sảng tạo nhất, độc đáo nhất và quan trọng hơn là đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất Chính vì vậy, khi đứng

trước kho từ vựng không lồ, nhà văn buộc phải lựa chọn những từ ngữ có khả

năng bộc 16 nghĩa một cách tốt nhất và phải khai thác triệt để giá trị ý nghĩa

của từ, ngữ, đặc biệt là gid trị biếu cẩm và tượng trưng Chẳng những thé,

bằng tài năng của minh, nhà văn còn phải tạo ra những giá trị mới cho những

vỗ âm thanh đã quen thuộc trong đời sống hằng ngày Nói cách khác, tầng

nghĩa biểu trưng từ vựng là ting nghĩa được sử dụng một cách đa đạng nhất

với nhiều hình thức biến hỏa nhất trong văn học Chính tầng nghĩa này làm

nên nét giá trị dộc đáo cho ngôn từ so với các kiểu văn bán chức năng khác

'Và chính trong văn chương nghệ thuật, nội dung nghĩa của từ được làm giàu

lên, phong phú hơn bằng những liên tưởng độc đáo và khả năng sáng tạo vô

biển của những người nghệ sĩ

Nếu như một kí hiệu ngôn ngữ thường có sự thống nhất giữa cái biểu

đạt và cái được biểu dat thi trong vin học không phải bao giờ cũng thế Cái

biểu dạt tronp văn học (trong thơ) chẳng qua chỉ là lớp kính bên ngoài bao

bọc một thế giới hình tương muôn mảu muôn vẻ Không hiểu được điều đó

thì người tiếp nhận sẽ bổ qua những giá trị đích thực của ngôn tử, những gì

28

Trang 29

độc đáo, kì diệu mà người nghệ sĩ đã tạo ra từ năng lực sáng tạo nghệ thuat

của mình rong thơ sử dụng nhiều từ đa nghĩa tạo nên độ sâu cảm xúc, nhiều

tang nghia va sit biến hóa linh hoạt của câu thơ, hình tượng thơ Do đó, khi

nghiên cứu thơ, chúng ta sẽ thu được một hệ thống những hình lượng mới

được biểu đạt bằng những kỉ hiệu ngôn ngữ quen thuộc Déng thời, qua đó,

chúng ta thu nhận được một cơ cấu nghĩa của từ đa dạng, sinh động hơn rất

nhiều lần kết cầu nghĩa đã dược khái quát trong từ diễn

Xét về tầng nghĩa biểu trưng, tầng nghĩa nảy có hai kiểu nghĩa chức

năng: nghĩa biểu trưng và nghĩa biểu tượng Chúng thể hiện tỉnh chất biểu

tượng hóa của ngôn Lừ Nghĩa biểu trưng được hiện thực hóa quả các lừ Lượng

thanh, tượng hình Còn nghĩa biểu tượng thì phong phú đa dang hơn rất nhiễu lân và cũng khó nắm bắt hơn Nó tồn tại trong rất nhiều từ ngữ của hệ thống

từ vung, lam giảu cho nội hảm cải được biểu hiện của từ Dưởi hình thứu vỏ

âm thanh quen thuộc, nghữa biếu tượng là điêu kỳ diệu của ngôn ngữ, thể hiện

sự phát triển cao của trí tuệ con người và ngôn ngữ đó Nó đã tạo nên biểu

tượng sinh động, có đời sống dộp dao, van động va phát triển không ngừng,

tạo thành một thế giới riêng, Chính tầng nghĩa nảy là cơ sở tạo nên những hình tượng nghệ thuật trong thơ văn và cuộc sống Điều đó cho thấy một xã

hội tổn tại và phát triển không thể thiểu những biểu tượng ngôn từ như thể

Nghia biểu tượng từ vựng chứa được cả một kho tảng về trí thức nhân loại vả

dân tộc, nó là một vẫn dễ lí thủ cuồn hút chúng ta; đó là cả một thể giới phong

phú chứa đựng nhiều sự độc đáo vô củng, vô tân Nói như vậy là để thấy được ting nghĩa biểu trưng là mét ting nghĩa chứa nhiều nội dung nghĩa tiểm tàng,

đây là bộ phân nghĩa linh động nhất, có khả năng cơ động mạnh hơn nhiễu

tầng nghĩa khác, nó phụ thuộc vào những mức đô, cơ tầng khác nhau của trí

tướng tượng ở con người Điều này có thể được hình dung trong trưởng hợp

từ non, nước trong vi du sau day

2g

Trang 30

Cái bước đêm khuya thân gái ngại ngừng

Nước non gánh nặng

Cải đức ông chẳng hop hỡi có hay

(Gánh nước đêm - Trần Tuan Khai)

Ta nhận thấy, non (núi) và nước (chất lỏng) là hai sự vật trong môi

trường tự nhiên Bái thơ này diễn tả hình ảnh người con gái gánh nước đêm

bằng cấu trúc: mước non gảnh nặng Nêu hiểu theo nghĩa thông thường mà nó

vốn có thì những câu thơ của Á Nam Trần Tuần Khải thể hiện hình ảnh người

con gái lảm công việc vất vả là đi gảnh nước đêm khuya Tuy nhiên, hình anh,

hinh tượng thơ không đơn thuần là như thế

Cái hay, cái mới của bài thơ nằm ở kết hợn (mon 1 nước — nón nước]

Thco cầu trúc và lỗi điễn dạt thông thường, chỉ có thể xây ra cấu trúc gánh

nước chứ không cỏ cầu trúc sảnh non Thể nhưng, Á Nam Trần Tuấn Khải đã

kết hợp rất khóo léo, tải tỉnh từ vựng để lập nên kết hợp: Mước non gánh nặng

= gánh nước nan tạo ra một nghĩa khải quát, trừu tượng và hoàn toán mới

nước non không còn là từ chỉ hai sự vật trong tự nhiên là nủi và nước (chất

lóng) nữa; lúc nảy, từ mơn mước đã chuyển nghĩa từ thực thể vật chất sang

nghĩa biểu tượng chứa đựng nội dung trừu tượng, đỏ là nghĩa chỉ tổ quốc,

giang sơn Với kết hợp này thi công việc của người con gái trong bài thơ

không sỏn lả một công việc phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày nữa mà dược

mở rộng nghĩa chỉ giang sơn, tổ quốc nói chung Từ đỏ, ý thơ gánh nước now

đã phát triển thành nghĩa chỉ việc gánh vác co da, việc đại sự của đất nước

'Phực chất của hình tượng người con gái gánh nước mang nội dung chỉ người

yêu nước, gánh vác việc nước Đây chính là kiểu nghĩa biểu tượng của từ mà

chủng ta thu nhận được từ trong thơ Chỉnh nghĩa biểu tượng này là yêu tổ quyết định sự có mặt của từ nước non trong trường ngữ nghĩa về đất nước

Kéu xét nghĩa thông thường của nó thi chắc chin nude non không đủ phẩm

30

Trang 31

chất ngữ nghĩa đứng trong tập hợp những đơn vị mang nội dung về đất nước Điều này cho thấy, khi đi vào hoạt động cụ thể, từ vựng được cấp cho một chức năng nhất định trong chuỗi ngôn từ xuất hiện cùng với nó Chỉnh chức năng này quyết định nghĩa cúa tử

Như vậy, để cảm nhận được đầy đủ giá trị của một tác phẩm văn

chương, người đọc phải lí giải, tìm hiểu giá trị sử dụng từ ngữ trên tất cã các

bình diện: ngữ âm, ngữ pháp, phong cách, nghĩa của kết cấu, nghĩa cụ thể

Nhung có lẽ, cái trước nhất cần lí giải là giá trị ngữ nghĩa của từ 'Iừng thành

phần trong nghĩa của từ hợp nhất với nhau để tạo nên những giả trị biểu trưng

nhất định cho táo phẩm Mếi liên hệ giữa gác thành phan trong nghĩa có tác

dụng rất lớn đối với tác phẫm Các nhả văn, nhà thơ sẽ thay đối chức năng cú

pháp của từ cũng như ý nghĩa biểu vật, biểu niệm Sự hiện thực hóa các thành

phần ngữ nghĩa của từ trong ngôn ngữ văn học nghệ thuật không chỉ thể hiện

đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của tác phẩm mả còn cho thấy cả đầu ấn thời đại, đấu ấn phong cách của tác giả

1.4 Hiện tượng đông nghĩa từ vựng và việc xác lập trường ngữ

nghĩa - Llừ vựng rên cư sử dồng nghĩa

1.4.1 Các cúch quan niệm và hưởng khai thác của luận văn

Có thể nói, hiện tượng dồn nghĩa từ vựng là một hiện tượng hết sức

phố biến trong ngôn ngữ /!iện tượng này quy tụ các đơn vị từ vựng có chưng

một nội dung nghĩa nào đó Tuy nhiên, cách quan niệm “nghĩa” và dung

lượng nghĩa giống nhau hoặc gần nhau giữa các đơn vị tử vựng được coi là đồng nghĩa là gì thi côn nhiều cách kiến giải khác nhau

Có người cho rằng, các đơn vị từ vựng là đồng nghĩa khi có nghĩa sở

chỉ (nghĩa biểu vật) giống nhau Nói cách khác, đồng nghĩa lả những lên gọi

khác nhau của cùng một sư vật, hiện tượng của thực tê khách quan Theo đó,

sự thống nhất trong loạt đồng nghĩa chủ yếu là chức năng gọi tên Quan niệm

31

Trang 32

nảy tuy dễ dàng áp dụng vào trong trưởng học nhung 1ai 6 ra ling tung khi

gap các trường hợp các từ biểu hiện những khái niệm không cụ thế, không thé

trị giác được Cách này thiên nhiều về màu sắc tu từ học với đặc trưng nghiên

cứu lất cả các phương tiện diễn đạt đồng nghĩa Trong Việt ngữ học, táo giã

Nguyễn Văn Tu là người tiêu biểu cho quan niệm nảy với cuỗn sách 7 vựng

học tiếng Liệt biện đại

Có người quan niệm, trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện lượng dang nghĩa lả nói đến sự giếng nhau của các nghĩa sở biểu (nghĩa biểu niệm),

Với hướng này, các nhà ngôn ngữ coi “từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về

nghĩa nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm

(Œ.A Budagov, Dẩn luận khaa học ngôn ngữ) [dẫn theo 9, tr.192] Theo đó

đồng nghĩa thực chất là hiện tượng có mức độ khác nhau, về mặt nào đó, loạt

từ ngữ tồn tại những nét nghĩa chưng nào dá Chính vì thể mà một từ da nghta

nào đỏ cô thể tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác nhau: & nhóm này thì nó tham gia với ngHĩa này, ở nhôm khác khác thì nỗ lại tham gia với nghĩa

khác |5, tr.198| Quan niềm nảy được tác giả Nguyễn Thiện Giáp dồng tỉnh

ing hé

Lại có tác giả coi từ đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra khi hai hoặc nhiêu

đơn vị có thể thay thể nhau trong cùng một ngữ cánh mà không lâm thay đổi

về cơ bản nội dung của ngữ cảnh đỏ Cách này chủ ý đến mặt hình thức

nhưng lại mắc phải những hạn chế nhất định như: không phải mọi từ đều có

thé thay thé cho nhau trong củng một ngữ cánh, có khi các từ có thể thay thé cho nhau nhưng chưa chắc chúng đã đồng nghĩa với nhau

Tác giả Nguyễn Dức Tôn trong cuén sách Từ đồng nghĩa tiếng Diệt lại coi Sự giống nhau, gần nhau của các đơn vị được coi là đồng nghĩa là cả ý

nghĩa biển niệm và biểu vật Theo ông, “không thể hoặc chi chủ ý dén su vật

mả từ biểu thị, hoặc chỉ chủ ý đến khái niệm mà từ biếu hiện, mả cần phải lưu

32

Trang 33

ý đến cả hai thành tế chính đá trong nội dung légie - su val tinh của nghĩa từ

Ngoài ra, còn phải chú ý đến cả các thành tố phụ khác như sắc thái biểu cảm,

phong cách, phạm vi sử đụng của từ nữa Dởi vì nghĩa của từ bao hàm tất cả

các thành lỗ kháo Do vậy, loại quan điểm dựa vào sự vật và khái niệm mả từ

biểu thị để định nghĩa từ đồng nghĩa là đầy đủ, chính xác hơn” [25, tr.95] Cách này tuy dựng nên được một khung tiêu chí khá đa dạng vá Loàn điện

nhưng dường như nỏ Lỗ ra quá cồng kểnh và Lính thực tiễn chưa cao khi xác

định từ đồng nghĩa

Hiện nay, trong nghiên cứu Việt ngữ, có một quan niệm được nhiều

người chấp nhận lả quan niệm của tác giá Đỗ Hữu Châu trong công trình Từ

vung - ngữ nghĩa tiếng Việt Quan niêm chủ đạo của ông là “không thể chỉ dựa vào ý nghĩa hay ngồn cảnh tách rời: phải sử dụng hai tiểu chỉ, song chủ

yếu vẫn là tiêu chí ý nghĩa” Thco ông, dồng nghĩa là quan hệ ngữ nghĩa giữa

các từ trong toàn bộ từ vựng “Dó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nét nghĩa quan hệ đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi cỏ một nét nghĩa đồng

nhất giữa các từ” |1, tr198] Từ đó, tác gid di dén khẳng dịnh hiện tượng

đồng nghĩa chỉ xuất hiện trong tùng trường nghĩa một, một từ có thể thuộc nhiễu trường nghĩa khác nhau vì một số từ có nhiễu nghĩa Đồng thời, ông

còn cho rằng, hiện tượng déng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tủy theo

số lượng các nét nghĩa chung trong các từ Mức độ đồng nghĩa thấp nhất là

khi các tử chỉ có một nét nghĩa chung, mức dé đồng nghĩa cao nhất lả khi tất

cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau

Chúng tôi ủng hô cách quan niệm này của Đỗ Hữu Châu về hiện tượng

đồng nghĩa từ vựng vả chấp nhận lựa chọn quan niệm này khi đi sâu nghiên

cứu, phân tích, tìm hiểu nghĩa biểu tượng của từ trong thơ Việt Nam 1930 -

1975 Cách quan niệm này giúp chúng tôi khai thác được tối đa nhất số lượng

33

Trang 34

các Lừ cùng tham gia thể hiện một biểu tượng nhất định nào đó mà các cách

khác không thé bao quát hết được

1.4.2 Loạt đằng nghĩa

Tắt cả những đơn vị có chung ý nghĩa tập hợp thành một nhóm gọi là

loạt đồng nghĩa Tức là, tiêu chỉ của loạt đồng nghĩa là một ý nghĩa chung,

thống nhất Sự khác nhau của các thành tố trong loạt đồng nghĩa cũng chỉ trong phạm vì các ý nghĩa chung thống nhất đỏ Trong loạt đồng nghĩa đó,

người ta có thể tách ra một từ mang ý nghĩa chung nhất, cỏ tính chất trung hòa

về mặt tu từ học, gợi lA tr chit dao hoặc từ trung tâm Các từ khác của loạt

đồng nghĩa được tập lợp xung quanh từ chủ đạo và được giải thích qua từ chủ

đạo

Trong trưởng hợp một từ tham gia nhiều loạt đồng nghĩa khác nhau thì

có thể trong loạt nảy nó là từ chủ dạo nhưng trong loạt dồng nghĩa khác thì

không Thông thường, một từ tham gia loạt đồng nghĩa nảo đó với ý nghĩa

phái sinh, nghĩa bóng của mình thi không đóng vai trỏ chủ đạo trong loạt

đồng nghĩa ây Các đơn vị còn lại trong loạt đồng nghĩa có thể khác nhau về các đặc điểm như: sắc thải ý nghĩa,

ơ thái biểu cảm, phạm vì sử dụng

Tiểu kết

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu ngữ nghĩa từ vựng theo

hưởng xem ngiữa của từ là nội dưng được xác định hình thành nhờ chức nẵng;

nội đung ngữ nghĩa của từ bao gồm “chuỗi chức năng” mả từ bộc lộ trơng văn cảnh, ngữ cảnh mà chúng xuất hiện cũng như trong các kiểu tạo câu trúc ngôn

ngữ lrên tỉnh thần dó, luận văn khai thác giá trị nghĩa biểu tượng của từ

(theo hệ thống ba tầng, sáu kiểu nghĩa chức năng của Lê Quang Thiêm) trong

vide lạa lập các biểu tượng của thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975 Chúng

34

Trang 35

tôi không dừng lại ở hiện tượng đồng nghĩa ur vung ma con đi sâu phân tích

hiện tượng đa nghĩa Cụ thể lả, trên cơ sở sự biến đổi quan hệ ngữ nghĩa, sự

sáng tạo nghĩa, nghĩa của từ đa nghĩa, chúng tôi xác định những nghĩa biểu

tượng của từ, sau đó lây loạt đồng nghĩa để xác lập các Lừ thành trường, thành

chuỗi cùng thể hiện một nghĩa biểu tượng nhất định trong thơ Phương pháp

nảy cho chúng ta những kết quả khá bắt ngờ và thú vị, xác lập được mỗi quan

hệ nhất định về nghĩa giữa những đơn vị ngôn ngữ mà lưởng chừng như

không có liên quan gỉ với nhau và nghĩa biểu tượng của từ được bộc lô, xác

dinh

Trang 36

CHƯƠNG 2

NGHĨA BIỂU TƯỢNG VẺ ĐÁT NƯỚC

2.1 Đặt vẫn đề

Trong tổng thé văn học Việt Nam, thơ Việt Kam giai đoạn 1930 - 1975

là một thành (6 quan trong Day 14 bộ phận thơ gắn với khuynh hướng cảm trứng lãng mạn trăn day G dé, văn chương nghệ thuật (cả về chất liêu ngôn từ

lẫn nội dung hình tượng) được đổi mới mạnh mẽ hơn bao giờ hết và mở đầu

là phong trào Thơ mới Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm và tác giả của Thơ

mới chọn cho mình kiểu văn chương với câu trúc ngôn từ vô cùng “xa lạ” để

diễn tả và bộc lộ cái “tôi” của mình ở mức cao nhất có thể và chủ yếu đó là

những cái “tôi” cô đơn, lạc lõng, không có lối thoát, mang mảu sắc bi lụy,

vượt ra khôi hiện thực

Mặc đù có vai trò rất lớn trong việc đổi mới thể thức, thể loại thơ

nhưng về nội dung thì Thơ mới dừng lại ở những cái “tôi” riêng rẽ, đơn độc,

phi hiện thực; chính vì thể, sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình trong dòng

chây lịch sử của vấn học Việt Nam, Thơ mới dần nhường chỗ lại cho một nội

dung thơ gắn với diều kiên và hoàn cảnh chân thực của của lịch sử dẫn tộc -

cảm hứng thơ về dân tộc, về tỉnh thần đấu tranh quật cường của dân tộc cũng xhư tỉnh thần ông dân phan khéi được kết tụ sâu sắ:

và đa dạng nhất trong thơ Việt Nam từ năm 1930 - thời điểm gắn với sự ra đời của i3áng Công sẵn

Việt Nam đến năm 1975 - sau khi đân tộc Việt Nam đã vượt qua hai cuộc

kháng chiến thần thánh chống lại thực dần Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,

giành lại độc lập, tự do

Đó là những tác phẩm văn học được sảng tác vào thới điểm trong dai

của đất nước, trong giai đoạn lịch sử mang tinh chất sống cỏn của quốc gia

36

Trang 37

Qua những trang thơ thể hiện tình thần cách mạng thì thời điểm lịch sử cũng như tỉnh thần dân tộc, những tính cách, tỉnh cắm của công đông được thể hiện

một cách tập trung hơn bao giờ hết Vỉ lê đó, chủng tôi lựa chọn dòng thơ

mang âm hưởng sit thi cach mang trong giaa đoạn 1930 - 1975 làm nguồn ur

liệu để khảo sát tầng nghĩa biểu trung và tập trưng vào nghĩa biểu tượng Có

thể nói, động tho nay cá mắi quan hệ hữu cơ, mật thiết với các thành phần

nghệ thuật và văn hóa khác Kết quả của quá trình hoạt động sáng tạo ngôn

từ với những cách diễn đạt thể hiện những liên tưởng đã tạo ra những phẩm

chất mới mẽ cho văn học nghệ thuật Những sản phẩm ngôn từ nảy góp phần

tao nên một kho tảng văn học phong phú vả một vốn tử vựng dân tộc da đạng,

linh hoạt, nghĩa từ vựng nhờ đó mà biến đổi, phát triển mạnh mẽ

Chính thời điểm lịch sử đặc biệt 1930 - 1975 là cơ sở tạo nên những

biểu tượng đặc biệt về đất nước va con người Điều này đã gợi mở cho chúng

tôi ý tưởng nghiên cứu về hai trường ngữ nghĩa - từ vụng về đất nước và con người, mà tập trung ở tầng nghĩa biểu trưng, kiểu nghĩa biểu tượng từ vựng

'Việ khảo sát đã cho chủng tôi những kết quá hết sức thú vị Trong đó, những

đơn vị từ vựng bộc lộ nghĩa biểu tượng về đất nước chủ yếu lả các từ thuộc trường tử vựng chỉ các hiện tượng tự nhiền và những đơn vị từ vựng bộc lộ

nghĩa biểu tượng về con người trong thơ giai doạn này chủ yếu là các từ thuộc

trường từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể con người

2.2 Nhận xét chung về khã năng tạo nghĩa biếu tượng về đất nước

của các đơn vị iừ vựng

Qua quá trình kháo sắt một số bài thự Việt Nam tiêu biểu giải doạn

1930 - 1975, chúng tôi nhận thấy có không ít đơn vị từ vựng bộc lộ nội dung, nghĩa về đất nước bằng kiểu nghĩa biểu tượng của nó Đỏ hấu hết là các đơn

vị không mang nghĩa về dat nước khi tồn tại độc lập Nó chỉ có thể biểu dạt

được nội dung về đất nước trong các văn cảnh hoạt động, nhất định với những

37

Trang 38

két hop cụ thể nào đó Chính các nghĩa, nét nghĩa biểu lượng nảy là nhân tố

quyết định khả năng tham gia trường ngữ nghĩa - từ vựng về đất nước của các

đơn vị từ vựng

Thật đặc biệt khi tất cả các từ có khả năng bộc lộ nghĩa biểu tượng về

đất nước mà chúng tôi khẩo sát được đêu là những từ thuộc trường từ vựng

chỉ hiện tượng tự nhiên như: đất, nước, non, núi, sông Có thể giải thích điều

xảy là do đây là những sự vật, hiện tượng đã làm nên không gian sống và Lồn

tại, điều kiện sống và hoạt động của con người nói chung Đặc biệt, những

yếu tế này có một vai trò võ cùng quan trọng đối với người dân một nước có truyền thống nông nghiệp lúa nước như Việt Nam Vì thế, các yếu tố tự nhiên

đã đi vào trong văn hóa (văn hóa nông nghiệp lúa nước) nói chung vả ngôn

ngữ nói riêng; và nỏ cũng đi vào thơ ca, nghệ thuật một cách tự nhiên, nhuần

nhị mả không hễ gượng ép Con người đã sứ dụng những yếu tổ thiên nhiên

để bộc lộ về cuộc sống của minh, về sự tồn tại của mình, về không gian xung

quanh mình, về những điều mình nhận thức cuộc sông Mỗi khai niệm chỉ

hiện tượng tự nhiễn dều dược dùng để gọi tên, để pản cho một hiện tượng hay

sự vật cụ thể, có thể gọi tên bằng lời, được nhận biết bằng các giác quan của

con người Qua khảo sát, các hiện tượng này còn được sử dụng nhiều trong

ngôn ngữ thơ với một nghĩa mới mễ - ngiữa biểu tượng về dắt nước Didu nay

cho chúng ta một minh họa chân thực về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các

trường ngữ nghĩa - từ vựng trong tiếng Việt: các dơn vị từ vựng nằm trong

trường ngữ nghĩa chỉ các hiện tượng tư nhiên đồng thời cỏ khả năng bộc lộ ý

nghĩa về đât nước và vi thế nó nằm trong trường ngữ nghĩa về đất nước Đáng

chú ý hơn khi yếu tố dẫn đến sự chuyển hóa nghĩa đó chính là nghĩa biểu

tượng của từ Chính nghĩa biểu tượng của từ đã “cắp” cho từ năng lực đứng

trong nhiều trường nghĩa khác nhau

38

Trang 39

Như chúng ta đã biết, để thể hiện hình tượng đất nước, các tác giả đã sử

dụng rất nhiều đơn vị từ vựng với những cấu trúc ngôn từ khác nhau Những

từ thuộc trường từ vựng chỉ các hiện tượng tự nhiên quen thuộc và tồn tại như

điều kiện sống bắt buộc, thiểt yếu trong cuộc sống con người (đất, nước, núi,

non, sông) được sử dụng trong các cấu trúc nhất định dã chuyén tải được ý

mày ÍL được sử dụng Tức là, các nhà thơ thường sứ dụng chứng với tu cách là

tin hiệu biểu dạt một nghĩa biểu tượng nhất định nao dé

lrong số các tử có khả năng thể hiện nghĩa biếu tương về đất nước tim

được trong thơ Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975, từ đất tô ra có năng lực

mạnh mẽ nhất trong việc thể hiện nghĩa biểu tượng về đất nước, nó có tần suất

xuất hiện lớn hơn cả, tiếp theo đó là từ nước Hai từ đất và mước có khả năng

bộc lệ nghĩa biểu tượng về đất nước cao hơn câ và cao hon hin các từ còn lại:

núi, nơn, sông Điều dặc biết hơn nữa là chỉnh hai từ đất, aude là những thành tế cấu tạo nên từ đẩy zước - từ có khả năng thể hiện ý niệm về đất nước một cách chính xác nhất, tạo ra nghĩa hạt nhân của trường từ vựng về đất

nước như trong Khóa luận của chúng tôi: 8ước dầu khảo sát trường ngữ

nghĩa - từ vựng về đất nước trong một số bài thơ Viet Nam giai doan 1945 -

1975 đã bước dầu dễ cập

Điều này có vẻ như không phải là một sự ngẫu nhiên mà rất lôpíc và có

lí Có thể giải thích nó đựa vào văn hóa truyền thống của người Việt Việt

Nam là một nước nông nghiệp lúa nước lâu đời, đời sống của nhân dân từ xa

xưa nắn bó chặt chẽ với nhiều yếu tổ tự nhiên, nhất là đất và nước Có thể nói,

chính đất và nước là những điều kiên đầu tiên, tiên quyết đối với công việc

sân xuất nông nghiệp (trong kho tảng văn học dân gian Việt Nam còn có râu

39

Trang 40

Nhất nước, nhì phân, tam cẩn, tứ giống cũng là để nhân mạnh vai trò của điều

kiện tư nhiên đối với năng suất lao động của người nông dân và quan trọng

nhất là đất và nước) Xa hơn, đất và nước là những yếu tố chỉ phối cuộc sống

vật chất và tinh thần của người Việt (truyền thống của ta vẫn thường có những

lễ hội để cầu mưa - cầu nước, tạ lễ đất sau mỗi vụ thu hoạch mùa mảng )

Vậy là, người dân Việt Nam ra sức tận dụng đất và nước để phục vụ cuộc

sống của chính mỉnh và cũng ra sức bảo vệ đất và nước Khi quốc gia được

hình thành thì đất và nước được lây làm cách định danh cho chính quốc gia

người Việt Nói như thế cũng có nghĩa là hai từ đất và nước đã trở thành

những kí hiệu văn hóa của tiếng Việt qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Tập hợp các nghĩa về đất nước của các từ đất, nước, nủi, non, sông và

mối liên hệ về nghĩa giữa chúng đã tạo thành một vùng ngữ nghĩa về đất nước

- vùng nghĩa biểu trưng trong toàn bộ phổ nghĩa về đất nước (bao gồm ba

vùng: vùng nghĩa trí tuệ, vùng nghĩa thực tiễn, vùng nghĩa biểu trưng)

Cé thể thể hiện trường ngữ nghĩa về đất nước theo mô hình sau:

Ngày đăng: 19/05/2025, 21:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thành  thì  đất  và  nước  được  lây  làm  cách  định  danh  cho  chính  quốc  gia - Luận văn nghiên cứu về sử dụng dịch trong cải thiện kỹ năng Đọc hiểu của sinh viên không chuyên anh khoa tiếng anh trường Đại học ngoại ngữ, Đại học quốc gia hà nội
nh thành thì đất và nước được lây làm cách định danh cho chính quốc gia (Trang 40)
Hình  của  táng  lỗng  trong  hình - Luận văn nghiên cứu về sử dụng dịch trong cải thiện kỹ năng Đọc hiểu của sinh viên không chuyên anh khoa tiếng anh trường Đại học ngoại ngữ, Đại học quốc gia hà nội
nh của táng lỗng trong hình (Trang 105)
Hình  ảnh  con  sồng  quê  mát  rượi - Luận văn nghiên cứu về sử dụng dịch trong cải thiện kỹ năng Đọc hiểu của sinh viên không chuyên anh khoa tiếng anh trường Đại học ngoại ngữ, Đại học quốc gia hà nội
nh ảnh con sồng quê mát rượi (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w