1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chủ Đề nội dung tư tưởng chính trị hy lạp la mã cổ Đại và những giá trị cơ bản của những tư tưởng này

21 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ đề nội dung tư tưởng chính trị Hy Lạp - La Mã cổ đại và những giá trị cơ bản của những tư tưởng này
Người hướng dẫn PTS. Lưu Văn Thắng
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 244,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, việc khám phá và hiểu biết về tư tưởng chính trị của Hy Lạp và La Mã cổ đại đã trở thành một phần không thể thiếu trong lý luận chính trị toàn cầu, bởi hai nền văn minh này được c

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TUYỀN

KHOA CHÍNH TRỊ HỌC

🙥&🙥 TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

CHỦ ĐỀ: “NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

HY LẠP- LA MÃ CỔ ĐẠI VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CƠ BẢN CỦA

NHỮNG TƯ TƯỞNG NÀY”

Giảng viên: Lưu Văn Thắng Sinh viên thực hiện: Phạm Anh Vinh

Mã sinh viên: 2255310058 Khoa: Chính trị học

Lớp: Chính trị phát triển – K42

Hà Nội, 2024

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hai nền văn minh cổ đại Hy Lạp và La Mã đã trở thành biểu tượng của sự huy hoàng và nổi tiếng không chỉ tại Cựu Thế giới mà còn trên toàn thế giới Thành tựu triết học phi thường của cả hai nền văn minh đã lập nên tiền đề cho toàn

bộ hệ thống triết học phương Tây hiện đại

Lịch sử phát triển của lý luận chính trị đã chiếm một vai trò quan trọng trongviệc khám phá các hình thức chính trị trong xã hội Tư tưởng chính trị liên quan chặt chẽ đến sự tồn tại của xã hội có giai cấp và nhà nước, bởi nó là bức tranh phảnánh rõ ràng mối quan hệ giữa các giai cấp, các phe phái chính trị, các nhóm xã hội

và quyền lực nhà nước

Từ đó, việc khám phá và hiểu biết về tư tưởng chính trị của Hy Lạp và La

Mã cổ đại đã trở thành một phần không thể thiếu trong lý luận chính trị toàn cầu, bởi hai nền văn minh này được coi là những nguồn gốc sớm nhất cho văn minh Châu Âu, là "bản móng" của lý thuyết chính trị toàn cầu Vì vậy, việc nghiên cứu này không chỉ quan trọng mà còn cấp thiết để hiểu rõ hơn về sự phát triển tiềm ẩn của tư duy và lý thuyết chính trị ở phương Tây vào tương lai

3 Phạm vi nghiên cứu

– Bối cảnh và đặc điểm chính trị - xã hội Hy Lạp cổ đại

Trang 3

– Những tư tưởng chính trị của Platon, Aristoteles

– Bối cảnh và đặc điểm chính trị - xã hội La Mã cổ đại

– Những tư tưởng chính trị của Cicero

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận, đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác– Lenin, trong quá trình thực hiện bài tiểu luận “Tư tưởng chính trị của Hy Lạp –

La Mã cổ đại” có sử dụng các phương pháp sau:

– Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Tiến hành nghiên cứu bằngphương pháp nghiên cứu lịch sử

– Phương pháp logic: Sử dụng phương pháp logic để tiến hành nghiêncứu, làm sáng tỏ những tư tưởng chính trị nổi bật của các triết gia, nhà lýluận chính trị của hai nền văn minh cổ phương Tây

5 Bố cục tiểu luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Mục lục thì bố cụcchính của tiểu luận gồm những phần chính:

I Tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại

1 Tổng quan bối cảnh và đặc điểm chính trị - xã hội Hy lạp cổ đại

2 Tư tưởng chính trị của Platon

3 Tư Tưởng chính trị của Aristotles

II Tư tưởng chính trị La Mã cổ đại

1 Tổng quan bối cảnh và đặc điểm chính trị - xã hội La Mã cổ đại

2 Tư tưởng chính trị của nền dân chủ Chiếm hữu nô lệ

3 Tư tưởng chính trị của Cicero

III Đóng góp của tư tưởng chính trị Hy Lạp – La Mã cổ đại

1 Đóng góp của tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại

2 Đóng góp của tư tưởng chính trị La Mã cổ đại

Trang 4

NỘI DUNG

I TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Tổng quan bối cảnh và đặc điểm chính trị - xã hội Hy lạp cổ đại

Quá trình phát triển xã hội và nhà nước Hy Lạp bị chiếm hữu nô lệ đã được gắn kết mật thiết với tư tưởng chính trị của Athens cổ đại,

Sự hình thành, tồn tại và phát triển, sau cùng là suy tàn của nhà nước bị chiếm hữu nô lệ tại Hy Lạp đã được gắn kết với sự đấu tranh khốc liệt giữa các phephái Nhu cầu hiểu biết sâu rộng về việc quản trị quốc gia đã được sinh khởi từ những đòi hỏi bức thiết của đời sống xã hội quốc gia - đô thị Một trong những lãnh vực tri thức được dùng nhằm chỉ huy việc điều hành các hoạt động quan trọngcủa quốc gia là tư tưởng chính trị Có sự phát triển mạnh mẽ về tri thức, sự hiểu biết trong nhiều lãnh vực có ảnh hưởng sâu rộng đến thời đại này Đó là tri thức về khoa học tự nhiên, triết học, chính trị,

Nền kinh tế bị chiếm hữu nô tại Hy Lạp phát triển nhanh chóng vào khoảng thế kỉ IX - VIII TCN Đó là quá trình loài người chuyển dịch từ thời kì đồ đồng sang thời kì đồ sắt Sự phát triển của các mối quan hệ mua hàng hoá đã góp phần gia tăng quan hệ buôn bán và trao đổi thương mại Trong thời kỳ cổ đại, người Hy Lạp đã có khả năng chế tạo những con thuyền buồm khổng lồ, giúp họ phát hiện thêm những vùng đất mới xuyên suốt Địa Trung Hải Điều này giúp cho việc trao đổi thương mại và xã hội giữa các quốc gia được phát triển, nhờ vậy biên giới của

Hy Lạp đối với thuộc địa của nó được mở rộng

Trang 5

Phân công lao động phát triển và trong xã hội xuất hiện tầng lớp những người lao động tay chân, đã có điều kiện hình thành các tư tưởng chính trị Trong

sự đấu tranh không ngừng nghỉ giữa các quốc gia – thành phố để giành giật quyền lực cai trị toàn xã hội, những tư tưởng chính trị xuất hiện qua sự đấu tranh của giới nhà tư bản tự do và giới quý tộc, cùng với những xung đột giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội đó Với mục tiêu phá tan chuyên chế và độc đoán của tầng lớp quý tộc, Chủ nghĩa tư bản hiện đại được phát triển nhằm tách khỏi sự cai trị của giới quý tộc cũ Ngược lại, giới quý tộc tiếp tục duy trì chế độ cũ và bằng mọi cáchduy trì đặc quyền, đặc lợi của mình Tuy nhiên, quan điểm đối với việc nô lệ cũng

là giống nhau mặc dù quan điểm của 2 giới này khác nhau Đối với với họ, sự thừa nhận quyền sỡ hữu cá nhân là không thay đổi, việc nô lệ cũng đều là tự nguyện mà

có và về thực chất, việc loại trừ nô lệ ra ngoài tầng lớp quý tộc là điều không phải bàn cãi, bên cạnh sự công bằng xã hội là điều tất yếu và tự nhiên Nhà nước là thiếtchế của người tự do và được giao cho người lao động

Mâu thuẫn chính trị giữa nô lệ và tư bản là nguyên nhân chủ yếu của chế

độ chiếm hữu nô lệ Người nô lệ chống trả với sự áp bức bất công, sự xâmphạm thô bạo các quyền cơ bản của họ Trong những cuộc tranh đấu, sự phảnkháng có lúc đã trỗi lên Tuy nhiên, bản án của nô lệ mà họ mong muốn trút bỏ

để giành tự do dân tộc đã không được thi hành Tuy vậy, cuộc đấu tranh củangười nô lệ, các hành động của các người dân đòi quyền đã có ảnh hưởng tíchcực đối với tư tưởng chính trị Nhiều tư tưởng về quyền bình đẳng giới và tự

do cho tất cả mọi người đã xuất hiện Dù dưới sự thống trị, bóc lột nô lệ, xem

nô lệ là thú chứ không phải là người, cũng có nhiều tư tưởng có giá trị cho đếnngày nay Đặc biệt là những tư tưởng và tổ chức bảo vệ con người, quyền côngdân, sự tôn tín lương tri, đạo đức và phẩm giá trong đời sống chính trị

Trang 6

2 Tư tưởng chính trị của Platon

Không thể không nhắc đến Platon, người có ảnh hưởng chủ chốt đối với lịch

sử triết học phương Tây và Hy Lạp cổ đại, khi đề cập về Athens Và, hiển nhiên tư tưởng chính trị của ông cũng được xem là một trong những tư tưởng chính trị có ý nghĩa và là nền tảng quan trọng để xây dựng các học thuyết cũng như tư tưởng chính trị của phương Tây sau này Từ việc đưa ra hoàn cảnh cũng như đặc trưng chính trị - xã hội của Hy Lạp, kết hợp với sự ra đời của nền dân chủ chủ nô cho phép lý giải nguồn gốc, tiền đề, đặc điểm của tư tưởng chính trị Platon Đối với tư tưởng thời kì nền dân chủ chủ nô, triết học Platon nói chung, tư tưởng chính trị đã biểu hiện rõ ràng hoạt động của tư tưởng Sự phê phán kịch liệt nền dân chủ chủ nô

ở phía ‘ hữu "cho rằng nền dân chủ ấy đã suy tàn, cho nên việc phủ định nó là một

sự tất yếu Nhưng óc tưởng tượng của con người nảy sinh khi những yếu tố mới bắtđầu nảy sinh

Tư tưởng chính trị của Platon được xây dựng vào thời kì suy thoái của nhà nước Athenes, khi chứng kiến những thành công rực rỡ của nhà nước suốt một chiều dài hàng thế kỷ, với đỉnh cao là nền dân chủ chủ nô và cũng không thể nào thiếu vắng được sự chia rẽ gay gắt trong xã hội Vì lẽ đó, trong tư tưởng chánh trị của cá nhân, Platon đã phê phán các loại nhà nước không chính thống, trong đó có nền dân chủ Sự phê phán này bắt nguồn từ quan điểm của giai cấp chủ nô, từ đó cũng đã mang tới nhiều kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ sau này

Tiền đề xây dựng tư tưởng chính trị của Platon bao hàm tiền đề sâu sắc hơn tiền

đề trực tiếp Cuộc tranh đấu giữa dân chủ và phi dân chủ từ thời kỳ Solon là một trong những cuộc tranh đấu lâu dài nhất của tư tưởng chính trị Platon, vẫn được tiếp tục cho những thời kì sau này Từ quan điểm tư sản chủ nô, Platon nhận ra nơi nền dân chủ có những khiếm khuyết phải được loại bỏ, và biện pháp được ông cho

Trang 7

là hữu hiệu nhất có lẽ là loại bỏ dân chủ khỏi cuộc sống chính trị Còn tiền đề trực tiếp của tư tưởng chính trị Platon là tư tưởng chính trị của Socrates

Nói đến chính trị, Paton cho rằng chính trị trước tiên xuất phát từ một sự nhận thức biện chứng cần thiết cho việc phát triển con người Sau nữa, chính trị trởthành nghệ thuật dẫn dắt xã hội con người Người ta có thể dẫn dắt con người bởi

sự ép buộc và áp bức, tuy nhiên ông ta cũng có thể dẫn dắt con người bởi sự phục tùng của ý chí tự do của họ Nghệ thuật cai trị dùng bạo lực sẽ dẫn đến "chế độ độctài", nghệ thuật cai trị dùng chinh phục con người được gọi là "chính trị" Ông địnhnghĩa "Chính trị là nghệ thuật cai trị những con người với sự tự do của họ" theo quan điểm của Platon

Học thuyết của Platon cho rằng khi lãnh đạo nhà nước, phải gạt qua mộtbên ý chỉ cá thể, trước hết là dựa trên tôn giáo và luật pháp, sau đó điểu chỉnhcuộc sống tập thể và bản thân công dân Đối với Platon, những người đượctuyển chọn làm thành viên của nhà nước đều cần là những người trong sạchnhất Theo ông, "Không có gì tệ hại hơn là sự rối loạn trật tự của các cơ quantrên chung một chiếc đầu" Bằng việc vừa đào tạo lại và sàng lọc từ từ màquyền lực sẽ được giao dần cho những nhà lãnh đạo chính trị với lứa tuổi trẻtrưởng thành, có kinh nghiệm thực tế lớn

Sự khôn ngoan là tiêu chuẩn tối thượng của Platon về tố chức chính phủ Chính phủ duy nhất xứng đáng là chính phủ được nắm giữ bở các nhà lãnh đạo thật

sự có kiến thức chính trị Ngoài ra, theo Platon, thế giới xung quang con người là mông lung và ảo tưởng, chỉ là cái bóng mờ nhạt của một thế giới khác đang thật sựhiện hữu – đó là hệ thống tầng bậc của vọng tưởng đã được chấm dứt với đỉnh cao

là ý tưởng về điều tốt lành Hình ảnh thế giới tâm hồn siêu việt còn được thể hiện trong xã hội trần gian như là biểu tượng của một nhà nước lí tưởng Đương nhiên, con người cũng có cấu trúc nấc thang mà họ tạo ra Tuỳ thuộc theo phần tâm hồn

Trang 8

của họ, Platon phân chia xã hội ra làm ba hạng người Thứ nhất, vị trí địa phân cao nhất là các nhà triết học, đại diện cho trí tuệ, họ có quyền hành trong tay và cai trị giang sơn theo ý muốn của mình Ở vị trí thấp hơn, là tầng lớp hiệp sĩ – đẳng cấp của những người can đảm và giàu nghị lực, có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, đánh đuổi thù trong giặc ngoài Thứ ba, người trong giới nhà nông, công thương Họ là nhóm người về căn bản không bị tha hoá như nhu cầu cảm tính Họ được xem là nền tảngcho "lâu đài xã hội hình chóp" với chức năng là tạo ra của cải vật chất, bảo đảm đời sống cho nhà nước, đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết đối với từng đẳng cấp trên Nhờ từng đẳng cấp ở đúng chỗ, xứng đáng với nhiệm vụ của mình mà xã hội tồn tại được

Ngoài ra theo Platon, nhà nước hình thành do sự đa dạng của nhu cầu con người và từ đó hình thành các dạng phân chia sức lao động nhằm đáp ứng nhu cầu đấy Vì vậy, cần thiết phải duy trì các hạng người khác nhau trong xã hội Do đó, không thể có sự đối xử công bằng cho mọi người Công lý là ở nơi từng hạng người làm đúng bổn phận của mình nHu thế, con người mới làm được điều tốt và

xã hội mới bình yên Ngược lại, sở hữu cá nhân tạo ra điều xấu, phá vỡ trật tự sự

ổn định của nhà nước, làm muôn người bất hoà Chính vì thế, chủ nghĩa cá nhân phải được loại bỏ ra ngoài xã hội Thêm vào nữa, mọi thiết chế nhà nước xuất hiện trên thực tiễn luôn đối nghịch với ý thức hệ chính trị và là hình tượng đối lập của thiết chế xã hội Cho dù là nhà nước như thế nào đi chăng nữa, thể chế xã hội vẫn tồn tại hai nhà nước đối lập: nhà nước của người giàu sang và nhà nước của người nghèo khó Vì vậy, sự đồng nhất giữa sở hữu, nữ giới, trẻ em cùng cách nhìn của

cá nhà triết học và tôn giáo cũng là cách thức tạo nên nhà nước lý tưởng, vững bền

Và, điều kiện tạo ra sự duy trì nhà nước lý tưởng là xã hội tài sản và kết hôn

Platon chủ trương loại bỏ sở hữu các cá nhân, loại bỏ tình dục và hôn nhân, thay vào đó là hình thành hệ thống tổ chức xã hội Khi ấy, sự gạt bỏ cá thể trong thực

Trang 9

tiễn tạo ra được lực mạng tập trung tương đối mạnh, nhưng chưa thể duy trì sự ổn định một cách tự nhiên, lâu dài Hơn nữa, chính con người có mục tiêu tối thượng

là phụng sự con người, vì con người Vì vậy, nhà nước lý tưởng của của Platon đã không trở thành hiện thực

Như vậy, Platon đã đặt ra hình phạt nặng nề nhất đối với nền dân chủ thông qua những kế hoạch chính trị của mình Ông mong muốn phục hồi lại hệ thống thiết chế xã hội và pháp quyền đã lỗi thời Tư tưởng chính trị của Platon một mặt thể hiện quan điểm chính trị của tầng lớp tư sản Hy Lạp, mong muốn xoá bỏ chế

độ quân chủ sơ khai, với toàn bộ những thành tựu và nhược điểm của nó bởi một thể chế chính trị pha trộn giữa xấu xa và tốt đẹp của hình mẫu chính trị Sparte Mặtkhác, thể hiện mong muốn của người Hy Lạp đối với việc lựa chọn mô hình lý tưởng của thiết chế chính trị, với tôn chỉ số một là bình đẳng, đồng thời gắn kết nó với kỷ cương, công minh và bình ổn

3 Tư Tưởng chính trị của Aristotles

Tới giữa thế kỉ IV TCN, Thành bang của Hy Lạp (đặc biệt ở Athens) đã gầnnhư tan rã hoàn toàn Chế độ chiếm hữu nô lệ lung lay đến tận gốc rễ Kế tục sựnghiệp phá huỷ chế độ nô lệ đến cùng với chính quyền của nó là Aristotle Các kếtluận của các vị tiền bối về cội nguồn, tính chất, chức năng và nhiệm vụ của nhànước pháp quyền đã được ông đúc kết và chứng minh rất tài tình

Trước hết, đối với Aristotle, vì bản chất là những cộng đồng người thuộcmột thể chế xã hội nhất định được gọi là nhà nước, cũng như Aristotle đã khẳngđịnh "Con người về bản tính được sinh ra trong một polis" cho nên cá nhân khôngthể có một cuộc sống lành mạnh và tốt đẹp bên ngoài xã hội Aristotle đã khẳngđịnh con người các cá thể muốn có một cuộc sống hạnh phúc, toàn vẹn, phải tồn tạitrong một cộng đồng nhà nước Mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và mọi cá nhân trong

xã hội được nhà nước mang lại sức sống Ông coi tổ chức gia đình kiểu chiếm hữu

Trang 10

nô lệ là tổ chức cộng đồng tự nhiên và vĩnh hằng Nhà nước ra đời trên cơ sở giađình, chính quyền nhà nước là sự tiếp nối chính quyền trong gia đình

Ngoài ra, với việc khẳng định chính bản thân sự xuất hiện của xã hội conngười đã làm phát sinh sự bất công mà chế độ chiếm hữu nô lệ là nguyên nhân cănbản và thể hiện cho sự bất công ấy, Aristotle bắt đầu các công trình lý luận chínhtrị của mình Ông đã đưa ra một định nghĩa về con người vô cùng vĩ đại "Conngười, là sinh vật mà do bản tính tự nhiên giải phải sống trong một nhà nước Một

số người cầm quyền là kẻ thống trị và nô lệ, trong lúc ấy bản thân tự nhiên sản sinh

ra một vài người cai trị và thống tri Chế độ nô lệ - đó là nền tảng, điều kiện tiênquyết đối với sự tồn tại của nhà nước Bở vì sự lao động vất vả nhằm đảm bảocuộc sống làm cho người lao động có điều kiện thoả mãn cuộc sống tốt đjep củamình, có điều kiện tham dự vào các hoạt động nhà nước Nhà nước không phải làsản phẩm của sự trao đổi giữa mọi người với nhau trên ý chí của họ Nhà nướcxuất hiện tự nhiên, được thành lập trong lịch sử Nó được xây dựng bởi gia đình vàlàng mạc Trật tự làm cơ sở của tổ chức chính quyền nhà nước là thể chế chính trị

Về ba phương diện: lập pháp, hành pháp và phân xử, thể chế chính trị nhà nướcđiều hành và quản lý xã hội Sứ mệnh của nhà nước không những là làm cho conngười sống hạnh phúc, mà con người phải làm cho con người sống hạnh phúc.Tiêu chuẩn của nhà nước, đó là những lợi ích do nó mang tới đối với các thànhviên trong xã hội Mục đích của nhà nước là cuộc sống hạnh phúc của tất cả ngườidân

Các giao thiệp của các dòng họ và dân cư cũng như xã hội nhằm đạt được sựtồn tại một cách hoàn chỉnh và độc lập, nhằm có được đời sống tốt nhất, mà theo ông, không những về của cải vật chất mà còn cả công lý Aristotle có khuynh hướng đạo đức là phụng sự pháp luật, đặt nền tảng đạo đức cho pháp luật là "công lý", xử sự phải công minh, là tuân theo pháp luật hay nói một cách khác công lý là

Ngày đăng: 19/05/2025, 21:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w