Giả thuyết nghiên cứu của đề tài Động cơ thúc đẩy người già vào sống trong trung tâm nuôi đưỡng người giả là rất đa dạng mỗi cụ một kháo, song động cơ phổ biển nhát ở nhiều người giả lả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG BẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TAM LY HOC
NGUYEN DAC TUAN
DONG CO CUA NGUOI GIA VAG SONG TRONG MOT SO
'TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIẢ
TREN DIA BAN HA NOI
LUAN VAN THAC SY TAM LY HOC
Người hướng dẫn khoa học: PG8.TS I,Ê KHANH
HÀ NỘI- 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG BẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TAM LY HOC
NGUYEN DAC TUAN
DONG CO CUA NGUOI GIA VAO SONG TRONG MOT SO
TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIẢ
‘TREN DIA BAN HA NOL
Chuyển nganh: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PG8.T8 LÊ KIIANII
HA NOT - 2099
Trang 31.22, hò gi: độ cotl sing org ng: mi cig ng gi 18
1.23 Métsé yéu tố ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong Irung (âm
1.2.4 Những đặc điểm nỗi bật của động cơ hoạt động, - 22
1.2.5 Những mặt biểu hiện của động cơ hoạt động 24
12.6 Mối quan hệ giữa nhu cầu và động cơ, giữa động cơ và xúc cảm 27
21 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về người già .32
2.2 Một số vần đề lý luận liên quan dến người gi „#0
2.2.2 Vai trỏ của người già trong đời sông gia đình và xã hội 43 2.2.3 Mat sd dic điểm phát triển về mặt sinh học của người pia 45 2.2.4 Một số dic diém phát triển về mặt tâm lý của người giả 47 22.5% Dịnh nghĩa trung tâm nuôi dưỡng người giả - 34
Chương 2 TÔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PIIÁP NGIIÊN CỨU 56
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
3.2 Phương pháp diễu tra bằng bằng hỏi (ankél)
Trang 43.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thông kê toán học
4 Tình hình hoạt động của 05 trung tâm nuôi dưỡng người giả trên địa
ban Ha Noi - 62
1 Thực trạng dộng cơ vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng người già
giả biểu hiện mặt nhận thức
1.2 Động cơ vào sống trung lâm nuôi dưỡng người giả của người giả
biểu hiện mặt xúc cằm — tình căm
1.3 “ông cơ vào sẵng trong trung tâm nuôi dưỡng người giả của người
già biểu hiện mặt hành vi
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong trung tâm nuôi
2.1 Yếu tổ giá trị cuộc sống của người giả 86
2.2 Yêu tổ sự quan tâm chăm sóc của con chắu đổi với người giả 94
3 Kết quả nghiên cứu một số trường cụ thé 101
3.1 Phần tích trường hop cy Ong D.NK
3.1.1 Một số thông tin chung
3.1.2 Cụ ÐNK nói về động cơ vào sống trong trung Lâm nuôi đưỡng
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 11
Trang 5PHỤ LỤC
MO DAU
1 Lý do chọn để tài
“Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước, nhiều người giả vẫn dang
phát huy trí tuệ, kinh nghiệm kh năng và uy tin của mình để tham gia các chương,
trình kmh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, sáng tạo trên các lĩnh vực khoa
học kỹ thuật, xã hội góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn an ninh chính trị, làm giàu cho gia dình và xã hội Thế hiện tinh thần tuổi cao chí cảng cao
Người già là lực lượng trung kiên, chắng tiêu cực, chống tham những, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ giả trị văn hoá truyền thống mả dân tộc đã
†ạo dựng trong suốt chiều dài lịch sử đựng nước vả giữ nước
Nhân dân ta vốn có truyền thống và nền sống văn hoá tốt đẹp: Kính trọng cha mẹ, ông bà và những người cao tuổi Tôn vinh, chăm sóc người giả và phát huy vai trỏ, khả năng của họ, diễu dó thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc Viét Nam: “Uống nước nhớ nguồn”, “Kính lão đắc thọ”, “Kính già, giả để tuổi che”, dang thời thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta, thể hiện tư tưởng của Nhà nước về phát huy mọi nguồn nhân lực nội sinh của dân tộc, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa
Sức khoẻ và những trạng thái tâm lý của người giả không chỉ phụ thuộc vào chỉnh bản thân họ, mả cỏn phụ thuộ vào môi trường sống gủa xã hội, vào
thai dé cu xi cla con chau, cia cdc thé hệ kế tiếp họ Sự kính trọng biết ơn
của xã hội, của các thể hệ con cháu là niềm động viên khích lệ rất lớn đối với người piả Tiếc rằng trong lĩnh vực này hiện nay dang có những vấn để chưa tốt Cuộc sống công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nền kinh tế thị trường đang đặt
ra những vấn dé không chỉ có tính chất quốc gia má côn ở phạm vì toàn cầu
Trang 6trong việc chăm sóc, nuối dưỡng người giả Đây là một vấn đẻ lớn, là trách
nhiệm của toàn xã hội và của từng dòng họ, gia đình, từng người cụ thể Trình
a6 vin minh và tính nhân bản của chế độ xã hội được biểu hiện sinh động và
cụ thể khi người ta nhìn váo niềm vui, niềm hạnh phúc của người già
Trước khi bước vào thời kỳ nghỉ ngơi phần lớn người già đã tham gia
vào các lĩnh vực hoạt động lao động khác nhau, có nhiều người dã từng giữ
các chức vụ, vị trí cao trong các cơ quan, tế chức chính trị - xã hội Có thể nói
trước khi được nghỉ ngơi, người giả đã có một quá trình gần cả cuộc đời cống hiển sức lực của mình để phục vụ đất nước Khi bước vao giai doan dược nghỉ
ngơi họ phải đối mặt với nhiều vấn đề khác nhau như: “Mất quyền lực”, môi
trường hoạt đông, các mỗi quan hệ xã hội, bạn bẻ bị thu hẹp, sức khoẻ giảm
sút, thu nhập giảm sút
Điều đó không khỏi gây nên sự mất cân bằng trong tâm lý của họ
'Irong bỗi cảnh đó thông thường người giả hy vong lập lai sư cân bằng tâm lý bằng cách trở về quê hương bản quán sống quây quần cùng con chấu, bên cạnh những bạn bè từ khi còn để chỏm, chăm sóc mỗ má tổ tiên .Tuy nhiên,
ngày nay trong bối cảnh mới của nên kinh tế thị trường nhiều người già lại
quyết định không sống củng con cháu trong quãng đời con lai cia minh ma lai vào sống tại các trung tâm nuôi dưỡng dành cho người giả Động cơ nào đã thúc đây họ đi đến quyết định như vậy?
lễ trả lời cho câu hỏi trên, chứng tôi chọn vẫn đề:
"Động cơ của người già vào sống trong một số trang tâm nuôi dưỡng người giả trên địa bàn Hà Nội”, làm để tải cho luận văn Thạc Sỹ của mình
2 Mục dịch nghiên cứu của dễ tài
Tìm hiểu thực trạng động cơ của người giả vào sống trong Irung (âm nuôi
dưỡng người giả, phân tích những yếu tố ănh hưởng đến động cơ này ở họ, trên cư
Trang 7sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm gớp phần cải thiên đời sống tinh thần cúa
người giả tại một số trung tâm nuôi dưỡng họ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của để tài
3.1 Xây đựng cơ sở lý luận của đề tải
3.2 Khảo sát, điều tra thực trạng động cơ thúc đấy người già vào sống
trong trung tâm nuêi dưỡng người giả
3.3 Phân tích những yếu tố ánh hưởng đến động cơ của người giả vào sống trong trung tâm nuôi đưỡng người già
3.4 Để xuất một số kiến nghị, nhằm cải thiện đời sống tỉnh thin của igười giả tại trung tâm nuôi dưỡng họ
4 Đối tượng, khách thể và giới hạn nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cửa
Động cơ của người già vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng người giả
4.2 Khách thê nghiên cứu
- Đối với khách thể là người giả:
“Trong công trình nghiên cửu của mình, chúng tôi nghiền cửu:
- Bằng phương pháp điều tra 110 người giả đang sống trong 05
trung tâm nuôi dưỡng người giả trên địa bản LIà Nội
- Phéng vấn sâu cá nhân 12 người giả
- Nghiên cửu 02 trường hợp người giả điển hình
Liên quan đến giả thuyết nghiên cứu của mình, chúng tôi quyết định chi nghiền cứu những cụ đang còn con cháu Các cụ trong đô tuổi từ 60 trở lên (chúng tôi chỉ nghiên cứu những cụ vẫn cên tương đối khoẻ mạnh và có khả
năng giao tiếp bình thường)
- Dỗi với khách thể là cán bộ nhân viên lảm việc trong các trung tâm
nuối dưỡng người giả: Chúng tôi tiển hành phóng vẫn sâu 04 cán bộ nhân
viên dang trực tiếp lâm việc trong các trung tâm nuôi dưỡng,
Trang 8- Đối với khách thể là con cháu đang có người giả sống trong trung Lâm nuôi dưỡng: Chúng tôi tiễn hành phòng vấn sâu 02 người
43 Giới hạn nghiên cứu
- VỀ nội dung: Tập trung tìm hiểu động cơ thúc đẩy người già vào sống trong trung tâm nuôi đưỡng người giả vả các yếu tố ánh hưởng dến động cơ này
- Về địa bàn nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 5 trung tâm
nuôi dưỡng người giả trên địa bản Hả Nội
5 Giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Động cơ thúc đẩy người già vào sống trong trung tâm nuôi đưỡng người giả là rất đa dạng mỗi cụ một kháo, song động cơ phổ biển nhát ở nhiều người giả lả mỗi quan hệ piữa các cụ với con cháu không dược tốt đẹp như
among muén của các cụ
ú Phương nhấp nghiên cứu của dễ tài
Khi nghiên cứu để Lài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bán
6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.3 Phương pháp chuyên gia
6.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
6.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (chân đưng)
6.6, Phương pháp xử lý số liêu bằng thống kê toán học
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỐ LÝ LUẬN CUA DE TAL
1 Động cư hoạt động
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cửu động cơ hoạt động trong tâm lý học
Động cơ là một hiện tượng tâm lý hết sức phức tạp, giữ một vai trò rất quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống lâm lý con người Hiện tượng tâm
lý nảy đã có khá nhiễu tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiền cứu
Ngay từ rất sớm các nhà tâm lý học Phương Tây đã quan lâm nghiên
cứu những yếu tố thúc đấy hành vi của con người, do đó đã có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về động cơ
Trường phái Phân tâm học, các tác giả đã dé cập tới động lực của
hành vi con người ma ho cho rằng đó là hảnh vì cơ bản của hành ví còn
người Người sáng lập ra trường phái nảy lả S.Ereud (1856 — 1939) bác sĩ tâm thin người Áo Trường phái này đã tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố bản năng,
coi đó là động lực cơ bản của hành vi con người S.Frcud dã khẳng dịnh
“Libido” là căn nguyên cội nguồn của mọi hành vi con người, ông khẳng định
yếu tố bản năng, mà hơn hết đó là bản năng tính dục, là cội nguồn căn bản nhất
thúc đẩy mọi hoạt đồng của con người Bên cạnh dé Sng cho rằng: Trong dời sống tâm lý con người, không phải hành vi ý thức là chủ yếu và cơ bản mà
hành vị vô thức mới chiếm vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đến đời
sống tâm lý của con người Ông đã dùng hình ảnh táng băng trôi để ví hai tầng bac y thức và vô thức của đời sống tâm lý con người, phần nỗi trên mặt nước ta nhìn thấy chiếm phần rất nhỗ của toản bộ tảng băng được Ereud ví là tầng ý
thức, phần chìm trong nước lả phần lớn nhất nó quy đỉnh trọng tâm phương
hướng vận động của toàn bộ Lắng băng trôi được ông ví là võ thức, phần giáp
ranh giữa ý thức và vô thức là phân tiềm thức (tiền ý thức) [H, tr 60 - 88]
Trang 10Trong khi đó Á Adlcr (1870 — 1937) đã đưa ra quan niệm của mình về
yếu tố cư bản thúc dây hành vi của con người, không phải là yếu tô bản năng tình dục như quan niệm của trường phái Phân tầm học cỗ điển mà 1a yếu tố quyền lực Nếu Phân tâm học cỗ điển miều tá con người như nạn nhân của bản năng và xung đột, buộc phải chịu đựng những điều bất hạnh của sức mạnh sinh
học vả những trải nghiệm thời thơ ấu như một định mệnh Thi A.Adler coi c4
nhân trước hết là một thực thể xã hội ý thức chứ không phải là vô thức, ý thức
nằm ở cốt lối của nhân cách, mỗi chúng ta tự tham gia tạo dựng lên chính bản
thân chúng La và định hưởng cho tương lai một cách tích cực
Theo A.Adler động lực cơ bản của hành vi con người là ý chí quyền
lực, ý chí hùng mạnh, nhưng đổi với ông, “Ý chí quyền lực”, lại được xem
như một năng lực bẫm sinh, một sức mạnh bản năng Nên quan niêm này về động lực của hành ví con người không khác gì mấy so với quan niệm của
Freud [8, tr 88, 89]
Tiên cạnh những quan điểm nêu trên, còn có những quan điểm khác nhau
của: Karen Honey, Hrich Eromm về động cơ thúc đây hành vi của con người,
những quan điểm này đã chú ý tới sự ảnh hưởng của xã hội đối với hành vi của
con người, nhưng trong cách giái thích của họ yếu tổ bản năng vẫn được coi là
yếu tế giữ vai trò chỉnh đối với sự thúc đấy hành vi của con người
* Tóm lại: Phân lâm học đã xem xét vẫn để động cơ dưới góc độ sinh vật thuần tủy mà chựa chú ý đến bản chất xã hội của nó ho đặc biệt chú ý đến
°bân năng, nhất là bản năng tình dục là yếu tố cơ bản nhất thúc đây hành vi con
người Do đó họ đã dành vai trỏ quyết định đời sống Lâm lý con người là vô thức, nên toàn bộ hệ thống động cơ của con người đếu có bán chất là bản
nắng vô thức
Còn đối với các nhà tâm lý học hành vi: Gạt thế giới nội tâm ra khỏi dối tượng nghiên cứu của tâm lý học, Watson và Skinncr (những dại biểu xuất
10
Trang 11sấu của tâm lý học hành vi), về nguyên tắc, không nghiên cứu động cơ hoạt
động của con người Các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hành vi có thể trực
tiếp quan sát Để giải thích hành vi và cái đã gây ra hành vị chỉ cần kiểm soát
được những tác nhân kich thích vào cơ thể và quan sát kỹ các hành vi mả cá
nhân đó thể hiện ra là đủ Nên nhiệm vụ của tâm lý học hành vi dự báo và
điều khiển hành vị, là những cái có thể trực tiếp quan sát, đo đạc, lượng hoá
theo các phương pháp của khoa học tự nhiên chứ không phải là những quá
trình tâm lý bên trong như ý thức, vô thức, động cơ vv [§, tr 95 - 108]
‘Trong các nghiên cứu của minh Albert Bandura không chỉ quan tâm
đến những kích thích bên ngoài mà còn đề cập đến các hoạt động nhận thức
nội tại là yếu tổ có thể làm phát sinh hoạt đông, những ý nghĩ có thể có trong
tương lai có thể thúc đẩy con người hành đông do đó trong mỗi một hoạt
động con người thường tự đặt ra cho mình mục tiêu để vươn tới Miễi khi
hành động của mình đạt được mục tiêu tự để ra hay thất bại trong khi thực
hiện mục tiêu đó người ta tự thưởng hoặc phạt chỉnh mỉnh, nó trớ thánh phương pháp điều chỉnh hành vi của chính chúng ta Bên cạnh đó táo giả còn cho rằng: Hành vi của chính chúng ta trong quá khứ có thể trở thành điểm tham chiếu trong việc đánh giá hành vi hiện tại, đồng thời là động cơ thực
hiện tối những hoạt dộng trong Lương lai
Ở đây tác giả để cập đến tính hiệu quả của hành động, chính là phụ thuộc
vào niềm tin của cả nhân, vào bản thân mình có đạt được hay không đạt được
mục tiêu đã đề ra, do đó đã hình thành ý thức về tỉnh hiệu quả hoạt động của bản
thân, ý thức đã tham gia vào sự lựa chọn hành vi và mức độ vượt qua khó khăn trong khi thực hiện hành vi trong những tỉnh huỗng nhất định |8, tr 108 - 112]
Trong khi 6 thi A Maslow chà rằng: Động lực (động cơ) của nhân
cách là mong muốn trở thành cái mà chủ thé có thể thực hiện bằng tất cả khả
năng, ý chí của mình Nhưng ông lại cho rằng: Nhu cầu và động cơ của con
11
Trang 12người là bẩm sinh, có bản chất sinh học, nhu cầu và động co cua mọi người là giống nhau Khẳng định này hoàn toàn trải ngược với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng Nhu cầu và động cơ của con người được hình thành và phát triển trong quá trình con người tích cực gia nhập vào các mỗi quan hé x4 hội bằng hoạt dộng giao lưu của mình, nhu cầu và động cơ của con người có bản chất xã hội, do đó nhu cầu và động cơ của mỗi người là
hoàn toàn không giống nhau
Còn Carl Rogers để cập đến khái niệm: “Khuynh hướng hiện thực hoá”,
là những gì đã được lập trinh trong câu trúc đi truyền của mỗi người được hiểu
là đông cơ bản năng lả những gì đã được tiền định từ trước bây giờ chỉ việc
hiện thực hoá cai có sẵn đó ra ngoài, vậy động cơ bản nẵng cúa cơn người
nhằm hiện thực hóa, duy tri và cúng cố cái tôi, cơn người bị thúc đây bởi một
khuynh hướng bẫm sinh nhằm hiện thực hoá, bảo toàn và oấi biển cái tôi
Theo Gordon Aliport: “Dộng cơ là vấn đề trung tâm của bất kỳ lý thuyết nhân cách nào Theo Allport chỉ cái mà chúng ta muốn có trong tương
lai, và cái mà chúng ta đang nỗ lực để có ngay lúc này mới là những cái có ý nghĩa thúc day (déng cơ) hành vi hiện tại của chúng ta, cái thuộc về quá khứ
không còn chức năng của dộng cơ Vậy động cơ dang thúc đẩy người lớn hoạt
động không thể được hiểu thông qua phân tích những gì đã xây ra thời thơ ấu,
xà phải điều tra xem tại sao người đó đang cư xử như họ đang làm tại thời
điểm hiện tại Có nghĩa động cơ của người lớn không có liên hệ về chức năng với những kinh nghiệm trước kia Từ đó ông đưa ra quan niệm về tính tự trị của động cơ và cho đó là cơ chế làm nây sinh động cơ mới [8, tr 120 - 136]
Vẫn đề động cơ trong tâm lý học hoạt động được giái quyết trên cơ sở các luận điểm trong triết học của CácMác và Ph Ăngghen về vấn để bản chất con người và động lực thúc đấy hoạt động của con người Các nhà tâm lý học hoạt động cho rằng Nghiên cứu động cơ của con người phải xuất phát từ hoạt động thực tiễn của con người trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định
để vạch ra dược bắn chất xã hội của động cơ
12
Trang 13XL Rubinsicin, khi nginén cửu về động cơ đã nhận xới: Đông cư là
yếu tố thúc day va dinh hướng cá nhân tích cực tham gia vào các quả trinh xã
hội khác nhau, làm cho nhân cách có khuynh hướng năng động, tức là thể hiện mặt hoạt đông của nó
Con Léénchiép nhân mạnh nhân cách lả một quá trình tác động qua lại lẩn nhau của nhiều hoạt đông khác nhau mà piữa chúng có mối quan hệ và
được sip xép theo thứ bậc, nhân cách bộc lệ ra như là một tổng hoà các mối quan hệ có thứ bậc của các hoạt động, mỗi hoạt động có thể được thúc đây
bởi nhiều dông cơ khác nhau, trong quả trình tác đông qua lại lẫn nhau của
nhiều hoạt động khác nhau đã làm xuất hiện hiện tượng phân đôi chức năng
giữa các động cơ của củng một hoạt động, thành một bền la chức năng lao y,
đồng thời cũng có chức năng thúc đấy và bên kia chỉ là chức năng thủc đấy
(không có chức năng tạo ý) Chức năng tạo ý xuất hiện từ những động cơ mà trong qué tinh hoạt động, chúng làm xuất hiện ở chủ thế một mốt quan hệ
thiết thân với đổi tượng, mang lại cho chủ thế một ý nghĩa đặc biệt chỉ phối
lối sống của nó, quy định sự biểu hiện hành vi của nó Nói cách khác, nó gắn
liên một cách trực tiếp với sư hình thánh và phát triển nhân cách của cá nhân
Trong khi đó cũng trong hoạt động nảy những động cơ khác không mang lại
cho cá nhân những trải nghiệm như vậy mà chỉ cỏ chức năng kích thích don
thuần Diều đó cho phép chúng ta hiểu được những quan hệ chủ yêu nói lên
đặc trưng của lĩnh vực động cơ của nhân cách, quan hệ thứ bậc của các động
cơ Thứ bậc cúa động cơ nảy làm thành một trường déng co chiếm vị trí trung,
tain trong cấu trúc nhân cách Thử bậc của các hoạt động được thực hiện
thông qua thứ bậc của các động cơ tạo ý phủ hợp với nó
B.F.Lomov, đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của động cơ trong
nhân cách cũng như tính chất phức tạp của quá trình hình thành động cơ
Theo ông dộng cơ của con người được hình thành không chỉ phụ thuộc vào
13
Trang 14các mối quan hệ trực tiếp giữa cơn người với nhau mà còn hình thánh dưới tác đông sâu sắc của dời sống xã hội, hệ tư tưởng, chính trị, dạo dức, luật pháp, thẩm mỹ Động cơ là sự phan ánh chủ quan của nhu cầu, còn nhu cầu vận hành như quy luật khách quan, như là sự cẩn thiết khách quan |§, tr 43 - 53|
Vậy tâm lý học hoạt động trên nên tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Cũng như các hiện tượng tâm lý khác, động cơ hoạt động của con người là sự phản ánh chủ quan các giá trị xã hội khách quan
Cũng như các chức năng tâm lý cấp cao khác, động cơ hoạt động của con người không có ngay từ lúc mới sinh Irong quá trính phát sinh cá thể, hệ
thống động cơ của con người được hình thành và phát triển đần dần trên cơ sở
cá nhân bằng hoạt động và giao lưu ngày cảng được mở rộng trong các mỗi
quan hệ xã hội của mình tiếp thu các giá trị xã hôi khác nhau, biến chúng,
thành giá trị của bản thân, đem lại cho chúng những ý nghĩa nhân cách riêng
biệt, đó là một quá trình lĩnh hội có chọn lục các giá trị xã hội phủ hợp với
quan điểm riêng, phủ hợp với vị trí, vai trò của mỗi người trong hệ thông các
mối quan hệ xã hội mả họ gia nhập vào Có nghĩa là động cơ hoại đông của
con người được hình thành và phát triển ngay trong quá trình con người hoạt động và giao lưu trong các mỗi quan hệ xã hội mả nó gia nhập vào một cách
có ý thức Động cơ hoạt động của con người đo đó có bản chất xã hội không
tách rời khỏi sự vận động, phát triển của ý thức
Trong những năm gần đây, ở nước ta dã xuất hiện các nghiên cứu vé
động cơ dựa vào cơ sở lý luận và phương pháp luận của tầm lý học hoạt động Các công trình nghiên cứu về động cơ đã được các nhà nghiên cửu đề cập ở
nhiễu góc độ, lĩnh vực khác nhau, ngày cảng khẳng định được tầm quan trọng,
và ý nghĩa của nó đối với đời sống tâm lý của mỗi người Các công trình
nghiên cứu về động cơ phần lớn khai thác các khia cạnh như: Động cơ học tập, đông cơ chọn nghề nghiệp, dộng cơ duy trì và phát triển nghề truyền
14
Trang 15thống, động cơ hiển máu, động cơ tiêu dùng, động cơ mua bán, động cơ lao
động Chưa có để tài nào nghiền cứu đồng cơ của người giả vào sống trong, các trung tâm nuôi duỡng người giả Điều đỏ được trình bảy cụ thể đưới đây:
Năm 2005 tác giả Nguyễn Thị Lê Thu với công trình nghiễn cửu
“Động cơ học tập của học sinh trường Phể thông trung học - Huyện Ha Hoà - Tinh Phi Tho
Năm 2006 tác giá Trần Thị Thơm với công trình nghiên cứu: “Động cơ học tập chuyên ngành tâm lý học của sinh viên khoa tâm lý học Trường đại
học khoa họu xã hội và nhân văn”
Năm 2006 tác giả Đảo Lan Hương với đề tài: “Động cơ học tập của sinh viên Trường Cao Đẳng sư phạm Bắc Ninh”
Năm 2007 Phan Thị Hồng Phương với để tài: “Động cơ hiển máu oủa
sinh viên”
Năm 2007 Nguyễn Thị Iuyên tiến hành công trình nghiên cứu: “Tìm
hiểu động cơ thúc dẫy người dân duy trì và phát triển nghề truyền thông
Năm 2007 Tác giả Vũ Tuấn Nam tiễn hành công trình nghiên cứu
“Động cơ mua bản chất mà tuý của phạm nhân tại trại giam Z30D cục V26
Bộ công an”, tác giá đã dưa ra những kết luận sau
- Có nhiều động cơ thúc đẩy phạm nhân phạm tội mua bán các chất ma tuy, trong đó động cơ vỉ bị tùng quấn vả vì bị nghiện là chú yếu
- Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan làm xuất hiện những
nhu cầu nổi trội, vượt quá khả năng của bản thân, thậm chí là những nhu cầu
bệnh hoạn, những nguyên nhân dé là: Sự tác dồng của nền kinh tế thị trường, những tác động của những yếu tố tiêu cực của xã hội, của môi trường sống
làm tha hoá, băng hoại về nhân cách và quan điểm, lỗi sống của một bệ phận
dân cư, làm sai lệch định hướng giá trị
- Với bản thân những phạm nhân tội phạm mua bán các chất ma tuỷ ở trại giam Z30D là những người có trình độ học vấn rất thấp, mức độ hiểu biết
Trang 16về các chuẩn mực xã hội, đặc biệt lá chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật han ché, nghề nghiệp chủ yếu là tự do với thu nhập thấp và thường có vị tri xã hội thấp và rất thất thường, điêu kiện kinh tế gia đỉnh chủ yếu là đủ sống
và nghẻo khó, khiến họ khó có thể thoá mãn những nhu cầu nổi trội nêu trên
- Những phạm nhân phạm tội lại sống trong môi trường mả những điều kiện thuận lợi, tác dộng trực tiếp hàng ngày với họ về tệ nạn xã hội, dặc biệt
là tệ nạn ma tưý, qua những kênh thông tin khác nhau, làm họ có được những
hiểu biết nhất định về ma tuý và cách thức thực hiện trót lọt hành vi mua bán
các chất ma tưý nhằm kiểm tiền để thoả mãn những nhu cầu của mình
- Quá trinh đấu tranh động cơ thường diễn ra nhanh chóng, đơn giản nhưng lại rất mạnh mẽ, quyết liệt bởi với những như câu nỗi trội thường vượt quá xa so với khả năng của họ thi họ không cô nhiều lựa chọn khác, nếu như không muốn nói đó là lựa chọn duy nhất của họ nhằm đạt được mục đích của
họ [ 13, tr 99, 100]
Năm 2008 Nguyễn Thị Hạnh với dễ tài: “Động cơ lao động của công
nhân công ty sứ Dông Lâm - liền Hải — 1hải Bình
Năm 2008 tác piả Tạ Thị Hằng với công trình nghiên cứu: “Động cơ di
xuất khẩu lao động của người dân xã Tái Sơn - Huyện Tứ Kỳ - Tỉnh Hải Dương”
Nguyễn Thị Kiểu Anh với để tài: “Bước dầu tìm hiểu động cơ tham giá mua cỗ phần của người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước khi
chuyển sang cễ phan héa tai Thành phố IIải Phong”
1.2 Một số vấn đề ÿ luận về động cơ hoạt động trong tâm ly học
1.2.1 Dịnh nghĩa động cơ
Irong các công trình nghiên cứu của mình, khi trả lời câu hỏi động cơ
là gì, các tác giá của tâm lý học hoạt động đều có câu trả lời tương tự như
xihau (về bản chất là giếng nhau) Chẳng hạn XL Rubinstein cho rằng: Động
cơ được xem là sự quy địh chủ quan hảnh vi của cơn người bởi thế giới, sự
lá
Trang 17quy định này được thực hiện gián tiếp bằng quá trình phần ánh động cơ đỏ
Thông qua động cơ của mình, con người liên hệ với bối cảnh của hiện thực
A.N.Lêônchiếp thi khẳng định: Động cơ chính là đối tượng có khả ning thoả mãn nhu cầu dã được chủ thể trì giác, tư duy, tướng tượng, đó là sự phan ánh chủ quan về đối tượng thoả mãn nhu cầu [Ñ, tr 7 - 12]
Tác giả Vũ Tuân Nam trong công trình nghiên cứu, động cơ mua bán các chất ma tuý của phạm nhân tại trại giam 3013 cục V26 Hộ công an, đưa
ra quan niệm về động cơ như sau: “Động cơ là động lực thúc đây, định hướng
hoạt động của cơn người, nhằm thuả mãn những nhu cầu đa dạng của cuộc
sống” [13, tr 13]
Lê Khanh trong tập bài giảng tâm lý học nhân cách hiểu: Động cơ là
sức mạnh tỉnh thần được nảy sinh tử một nhu cầu mà đổi Lượng thoả mãn nó
đã được chủ thể làm xuất hiện một cách rõ rang trong dau 6c minh đưới hình
thức biểu Lượng, có sức thúc đẩy hành động có hướng nhằm thoả mãn nhu cau
của chủ thể
Nhìn chung các tác giả đều nhấn mạnh mỗi quan hệ kháng khít giữa
nhu cau va dang cơ trong hoại động thực liễn của con người trong các mỗi
quan hệ xã hội mả họ là thành viên tích cực; dộng, cơ có bản chất xã hội
Các nhà tâm lý học hoạt động đã khẳng định: Động cơ hoạt động của
con người được hình thành và phát triển ngay trong quả trình con người hoạt
động và giao lưu trong các mỗi quan hệ xã hội mà nó gia nhập vào một cách
có ý thức Động cơ hoạt động của con người, đo đó có ban chất xã hội và
không tách rời khỏi sự vận đông, phát triển của ý thức Động cư của con
người, cũng như nhu cầu, nảy sinh từ hoạt động lao động của chính người đó,
vì vậy để tìm hiểu động cơ và nhu cầu của một người nào đó chúng tz phẩi
tiên hành nghiên cứu thông qua hoạt đông có ý thức của họ
Tiếp thu có chọn lọc quan điểm về động cơ của các nhả tâm lý học hoạt động, khi triển khai nghiên cứu đề tải nảy chúng tôi hiểu
Trang 18Động cơ là sức mạnh tỉnh thần được nậy sinh từ một như cầu mà đối
tượng của nĩ đã được chủ thể hình dụng một cách hết sức rõ rùng trong đầu
ác mình một cách cĩ ÿ thức dưới hình tức biểu tượng, cĩ sức thúc đây một
hành động cĩ hướng nhằm thộ mãn nhu cầu của chủ thể (xem thêm Lê
Thanh trong lập bài giảng Tâm lý học nhân cách, 2007) |8, tr 159|
Qua đây chúng tơi muễn nhân mạnh động cơ là một hiện tượng tâm lý gắn liền với sự vận động, phát triển của ý thức trong hoạt động thực tiễn phong
phú và đa dạng của con người, trong các mỗi quan hệ xã hơi mà họ gia nhập vào
GO day ching ta cần hiểu rõ vả cĩ sự phân biệt giữa nguyên nhãn và động cơ hoạt động của con người, nguyên nhân vả động cơ khơng phải luc nao cũng trùng khít lên nhau, khi một yêu tế nảo đĩ đã trở thành động cơ hoạt động
thì nĩ đã là nguyên nhân của hoạt đơng đỏ, khơng phái lắt cá mợi nguyên nhân
đểu là động cơ, nhưng mọi déng cơ hoạt động của con người đều là nguyên nhân, do đĩ nguyên nhân hoạt động cĩ trở thành động cơ hay khơng, cần xem xét nĩ cĩ thơi thúc, thúc dẩy chủ thể đĩ tiễn hành hoạt động dĩ hay khơng Xét
về phạm vi thì nguyên nhân cĩ phạm vi rộng hơn đơng cơ, chính vì vậy khơng
phải bất kỳ nguyên nhân nảo cũng trở thánh động cơ hoạt động, nhưng khi đã
là động cơ thi nĩ là nguyên nhân hoạt động của con người
1.2.2 Định nghĩa động cơ vào sẵng trong trung tâm nuơi dưỡng người giả
'Từ sự hiểu biết đã trình bảy ở trên về động cơ hoạt động của cơn người,
chúng tơi đưa ra quan niệm của mình về động cơ vảo sơng trong trung tâm
nuối dưỡng người già của người giả như sau:
Động cơ vào nẵng trong trung tâm nuơi dưỡng người giả của người gid
dược hiểu là những thơi thác thúc dẫy người già dưa ra quyết định khơng
sống chang với con châu tủ nhà mình mà vào trung tâm nuơi đưỡng người
già sơng nốt những ngày cuối cùng cịn lại của cuộc địi mình
1.2.3 Một số yếu tƠ ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong trung tâm nũi đưỡng người già của người giả
Trong đời sống tâm lý con người, định hướng giá trị cuộc sống được
hình thành và phát triển chính trong cuộc sống của họ Nĩ trở thành yếu tố
18
Trang 19quan trọng cho sự xác định mục đích sống, lối sống, điều khiển, điều chính
mọi hoạt động trong các mỗi quan hệ xã hội của mỗi người
Có rất nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến động cư vào sống trong trung! âm nuôi dưỡng người giàp của các cụ, nhưng theo chung tdi thi yếu tổ giá trị cuộc sống của người già, yếu tố về sự quan tâm chăm sóc của con cháu các cụ la
những yếu tổ cơ bản nhất ảnh hưởng đến động cơ vào sống trong trưng lãm
nuôi dưỡng người giả của các cụ Những yếu tổ do duoc chúng tôi trình bày
cụ thể như sau:
-_ Yếu tỗ giả trị cuộc sông của người giả
Người giả trong phạm vĩ nghiên cứu của chúng tôi, dang sống lrong các trung tâm nuôi dưỡng dành cho người giả là một lớp người đã trãi qua nhiều biến động trong lịch sử phát triển của Đất nước Là lớp người đã có nhiều đóng góp lầm nên chiến thắng vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống MIỸ
vi đại của dân tộc, chứng nhân của cuộc cải cách ruộng đất, của cơ chế bao cấp,
của chế độ tem phiếu những năm trước 1986 và cững đang là chủ thể của công
cuộc đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của đất nước hôm nay Có thể nói đây
là lớp người được tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh xây đựng va bảo vệ TỔ
quốc trong một giai đoạn lịch sử rất đáng Lự hào cúa dân lộo ta
Phần đông trong số họ, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
như: Lòng yêu nước gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, sống vì người khác, vì tập thé, sin sang đặt quyên lợi tập thể lên trên quyền lợi cá nhân khi cần thiết, sẵn
sảng quên mình vỉ sự trưởng thành của con cháu, trong nghĩa Lình, trọng danh
dự, trọng chữ tín, và phẩm giá con người, vv đã được hình thành và củng cố một cách vững chắc trong cuộc sống đầy biển động của họ Hệ thống giá trị này trở thành niềm tin và chỗ dựa vững chắc cho những ứng xứ và đánh giá của họ đối với bản thân và người khác trong cuộc sống hêm nay Chính những giá trị đó đang hướng dẫn, thắc đấy họ tham gia một cách vừa sức
19
Trang 20mình vào việc chăm sóc dạy đỖ con cháu, vào công việc có ích cho dòng họ,
có ích cho công đồng dân cư, có Ích cho bản thân mình sống khoẻ, sống vui với bạn bẻ, gia đỉnh vả con cháu những ngảy còn lại của cuộc đời Đồng thời
cũng chính những giá trị đó đã trở thành tiêu chỉ để họ dánh giá cách ứng xử
của con chứu và những người xung quanh đối với họ và với xã hội
Người giả thưởng phản ứng pay gắt khi thây con cháu có những hánh vi,
cử chỉ, cách ứng xử trải với niềm tỉn của mình, trái với những giá trị ruyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhất là xung quanh những vấn đề liên quan đến sự
kính trọng, lỏng hiếu thảo của con cháu dối với cha mẹ, ông bả 'Irong guộc sống, gia định những vấn đề như thể thường dẫn đến những xung đột đôi khi gay gắt, những đỗ vỡ đáng tiếc đôi khi rất khó hàn gắn trong quan hệ của người giả với
con cháu
Chúng tôi cho rằng nhiều người giả mặc đủ có con cháu, bản thân vẫn
còn mạnh khoẻ, nhưng quyết định không sống củng con cháu tai gia đỉnh mình mả vào trung tâm nưôi dưỡng dành cho người giả sống nốt những ngày cuối cùng của cuộc đời đều ít nhiều cỏ liên quan đến mỗi quan hệ với con
châu như vừa mô tả ở trên
- Yếu tẲ sự quan tâm chăm sóc về mặt vật chất và tình than của con cháu đỗi với người giả
Gia đình có vai trò rất to lớn trong việc bảo đảm mọi mặt cho toàn bộ
cuộc sống của người giả, nhất là trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho họ Các
mỗi quan hệ trong gia đình như quan hộ giữa các cụ vá on cháu, sự quan lâm
chim sóc đứng mực làm cho người giả sông khoẻ, sống vui, sống có ích lả hết
sức quan trọng tạo ra sự đâm âm, hạnh phúc của gia đình đặc biệt là người già
Tổ chức y tế Thế giới đã nhận xét: Da sống trong gia đình kinh tế eo
hợp, nhưng con cháu hiểu thảo, ngoan ngoãn, chăm sóc, trò chuyện cùng ông
bà thì bệnh tật của người giả giảm đi nhiều, ngược lại sống trong một gia đình
20
Trang 21kinh tế đầy đủ, nhưng bầu không khí gia đình không hoà thuận, con cháu
không biết kính trên nhường dưới, không quan tâm chăm sóc ông bà thì bệnh
tật cảng nhiễu ở người già Người già rất coi trọng đời sống tỉnh thần, họ luôn mong muốn được tiếp xúc trỏ chuyển với mọi người, nhất là đối với con cháu
Niễm hy vọng của cuộc đời họ, vì điều đó mà họ đã cống hiến cả cuộc
đời minh
Sống dưới mái ấm dại gia dinh, các cụ hưởng dược sự chăm sóc cả vật chất lẫn tinh thần Yếu tố tinh thần lại có ảnh hưởng không ít tới sức khoê thể
chất của các cụ Cho nên truyền thống phụng dưỡng cha mẹ không những tết
dep vé phương diện văn hoá mà còn tốt về phương điện kinh tế bằng cách
giảm thiểu tốn kém về các địch vụ y tế dành cho các cụ
Quan lâm chẳm sóc người giả không chỉ đơn gián là đôi thì có cơm ăn,
ấm yêu thì có thuốc uống, chạy chữa cho khỏi bệnh, mà quan trọng hơn là trong ứng xử của con chấu phải thể hiện được sự tôn trọng niém un và những
nhân phẩm cũng như những giả trị cúa cha mẹ dã dược hình thành trong cả
cuộc đời của họ, không để các cụ cảm thấy bị khinh rẻ, coi thường, là người
thừa, bị coi là đổi lượng cần được cải tạo cho phủ hợp với thời đại mới Trái
lại trong ửng xử của con cháu phất cố gắng khơi dây những sức mạnh còn tiềm ấn trong các cụ, làm cho các cụ tiếp tục vươn lên chiến thắng tuổi giả
đóng góp sức lực còn lại cho gia đình và xã hội 3o đó các thể hệ con cháu
muốn làm được điểu đỏ thì khi sống chung với cha mẹ phải thành kinh với cha mẹ, phải vui vẻ hết lòng phụng đưỡng, phải lo lắng thuốc thang hết lòng
chạy chữa cho cha mẹ khi dau ốm vv chính vì vậy mả người xưa thường,
day con cháu phái đưỡng thân, tôn thân, tuân thân, lễ thân, quang thân
To đó nếu con cháu mà chăm sóc nhưng không tôn trọng các cụ, các cụ
cảm thấy như đó là sự chiếu lệ của con cháu cho mình thì khiến họ tủi hỗ và
buẩn chán, không được cháu con tôn trọng như trước mà các cụ không tim
thấy sự bình yên và niễm vui tại chính ngôi nhà thân quen của mình nền họ
21
Trang 22thay cô đơn, không có ai cỏ thể chia sẽ và thông cảm, tất cả những lý do trên
có thể thôi thúc người giả tìm đến trung tâm nuôi dưỡng người giả để sống nốt quãng đời còn lại của mình
1.2.4 Những đặc đim nỗi bật của động cơ hoạt động
Để tìm hiểu động cơ hoạt động của cơn người có những đặc điểm nổi bật nào, chủng tôi đã quyết định lựa chọn một số dặc diểm nỗi bật sau day
đưa vào để lải nghiên cứu
- Tỉnh có ÿ thức của động cơ hoạt động
Cũng như các chức năng tâm lý khác, động cơ hoạt động của con người không có ngay từ lúc mới sinh ra Irong quá trình phát sinh cá thể hề thông động cơ của con người được hình thành vả phát triển dần dần trên cơ sở cả nhân bằng hoạt động và giao lưu ngày cảng dược mở rộng trong các mối quan
hệ của mình, tiếp thu các giá trị xã hội khác nhau, biến chúng thảnh giá trị của
bản thin minh, chính những giá trị đó đã đem lại cho mỗi chúng ta những ÿ
nghĩa nhân cách riêng biệt đặc trưng Dó lả một quá trình lĩnh hội có chọn lọc
các giá trị xã hôi phủ hợp với quan điểm riêng, phủ hợp với vị trí và vai trò
của mỗi người trong hệ thống các mối quan hệ xã hội
Điều dó có nghĩa lá dộng cơ hoạt động cia con người hình thánh và
phát triển ngay trong quá trình con người hoạt động và giao lưu trong các mỗi quan hệ xã hội mà nó gia nhập vào một cách có ý thức Động cơ hoạt động của con người, đo đỏ có bản chất xã hội và không tách rời khổi sự vận động, phát triển của ý thức
- Tỉnh thứ bậc của động cơ hoạt lộng
Một hoạt động bao giờ cũng do nhiều động cơ thúc day, chi phéi Theo Léanchi¢p hệ thống động cơ của nhân cách bao gồm: Động gỡ lạo ý và động
cơ kích thích hành động Sự phân chia chức năng động cơ của hoạt động tạo
nên tính thứ bậc của động cơ Quan hệ thử bậc của động cơ cũng hết sức
tương đối, có thế trong trường hợp nảy một động cơ nảo đó có chức năng tạo
ý, song trong trường hợp khác lại chỉ có chức năng kich thích
22
Trang 23Đông cơ là một cầu trúc có thứ bậc cho nên tỉnh thứ bậc là đặc trưng cơ
bản của động cơ nhân cách, gồm: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích, trong
đó đồng cơ lạo ý bao giờ cũng chiểm vị trí thứ bậc sao mặc dù không trực tiếp
có tính chất gợi cảm Động cơ tạo ý xuất hiện từ những động cơ mà trong quá trinh hoạt đông chúng làm xuất hiện ở chủ thể một mối quan hệ thiết thân với
đối lượng, mang lại cho chủ thể một ý nghĩa đặc biệt chỉ phối lối sống của nó, quy định sự biếu hiện hành vi của nó, nói cách khác nó gắn liền một cách trực
tiếp với sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Trong khi đó cũng trong hoạt động nảy những động cơ khác không mang lại cho cá nhân những
trải nghiệm như vậy mà chí có chức năng kích thích đơn thuẫn Điều đó cho
phép chủng ta hiểu được những quan hệ chủ yếu nói nên đặc trưng của lĩnh
vực động cơ, thứ bậc của đông cơ làm thành một trường động cơ chiém vi tri
trung tầm trong câu trúc nhân cách
Tất cả các nhà nghiên cứu tâm lỷ học khi đề cập đến động cơ của hoạt
động déu chỉ ra mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu, tay nhiên, ở đây tính
thứ bậc của dộng cơ hoản toàn khác so với tỉnh thứ bậc của nhu cầu theo cach
hiểu của A Maslow Quan hệ thứ bậc giữa các dông cơ được quy định bởi
những mỗi liên hệ được hình thành trong hoại động của chủ thế trong cáo mỗi
quan hệ xã hội mà người mang động cơ đỏ gia nhập vào, những mối liên hệ được hình thành không giống nhau mà nỏ tuỳ thuộc vào tính đặc thù của những điều kiện va hoàn cảnh diễn ra hoạt động, làm cho sự sắp xếp thứ bậc giữa các động cơ có thể thay dỗi, vỉ thế mả sự sắp xếp thử bậc giữa các dộng
cơ là không cửng nhắc, không nhất thành bắt biến Vì vậy trong diều kiện này
của hoạt động thì động cơ nảy có thể có chức năng tạo ý, còn lrong điều kiện, hoàn cảnh khác của hoạt động thì động cơ khác lại giữ chức năng tạo ý Như
vậy sự vận động và phát triển của động cơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự hình thành và phát triển nhân cách diễn ra trong quá trình vận động, phát triển của hoạt động cá nhân trong các mỗi quan hệ xã hội mà họ gia nhập vào
23
Trang 24- Tỉnh én định và bén vitng trong đổi của động cử hoạt động
T.à một thuộc tỉnh tâm lý, động cơ có tính ổn định và bền ving Song
điều đó không có nghĩa là chúng hoan toàn không có thể thay đổi Trong qua trình hoạt động có thể xây ra những khó khăn khách quan vả chủ quan khiển hoạt động hướng tới đối tượng thoả mãn nhu cầu điễn ra không trôi chảy một cách bình thường, khi đó chủ thể có thể thay đổi chút ít nội dung của động cơ
cho phủ hợp với điều kiện của hoạt đông Hoặc cũng có thể vẫn giữ nguyên
nội dưng nhưng trạng thái tích cực của chủ thể do dộng cơ tạo ra giám đi
Động cơ có thể từ chỗ là động cơ có hiệu lực trở thành động cơ chỉ có lực
thúc đây tiềm năng Như vậy, trong quá trinh hoạt động, động cơ có sự biến đổi, hoặc nảy sinh những động cơ mới
Động cơ hoạt động của con người có ban chất xã hội và không tách rời
khỏi sự vận động và phát triển của ý thức, do đó nó cũng được hình thành và
phat triển trong một quá trình lâu dài, trong chính quá trình hoạt động và giao lưu của con người chứ không phải khi con người sinh ra đã có sẵn một hệ thống các đông cơ Cơn người tích cực tham gia các hoại dông vả giao lưu
khác nhau cảng phong phú và phức tạp thì hệ thống động cơ cảng phong phú,
đa dang và ốn định Nói như vậy có nghĩa là động cơ hoạt động cia con người
không hoàn toàn nhất thành bất biến, nó có thể thay đổi khi điều kiện hoàn
cảnh sống có sự thay dải, những quan niệm lối sống, những giá trị xã hội đã
có sự thay đổi thi động cơ hoạt động của con người cũng có những thay đổi
nhất định |13, tr 14, 15]
1.2.5 Những mặt biểu biện của động cơ hoại dộng
Động cơ hoạt động của con người biểu hiện ở ba mặt: Nhận thức, xúc
cám — tỉnh cảm, hành vị, tuy nhiên ba mặt này không tách rời nhau, cô lập
nhau, ma năm trong một thể thẳng nhất tạo thành động cơ, tính chất của động
cơ phức tạp hay thống nhất phụ thuộc vào biểu hiện bá mặt của nó là phức tạp, có sự thông nhất hay không thông nhất
14
Trang 25- Biểu hiện mặt nhận thức của động cơ hoạt lộng
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bán của đời sống tâm lý con người
(Nhận thức, tình cám và hành động) Nĩ là tiền đề của hai mặt kia đẳng thời
cĩ quan hệ chặt chế với chúng và với các hiện tượng tâm lý khác
Khi con người tham gia vào một hoạt động nào đĩ, cái thúc đấy con
người tiến hành hoạt động chính là động cơ, theo khái niệm động cơ chúng tơi
đã dưa ra thì: “Đơng cơ lá sức mạnh tinh thần duoc nay sinh từ một nhu cầu
mà đối tượng của nĩ đã được chủ thé hình dung một cách hết sức rõ rang
ĩ ý thức đưới hình thức biểu Lượng, cĩ sức thúc
trong dau dc minh một các]
diy mét hành động cĩ hướng nhằm thoả mãn như cầu của chủ thé” Dé hinh
thành được động cơ thúc đây hành động của con người, chủ thể đĩ phải nhận
thức một cách chính xác và đầy đủ về đổi tượng một cách cĩ ý thức, chỉnh
nhận thức đã điễu khiến, điều chỉnh hành động của chủ thế đạt được mục đích
nhằm thộ mãn nhu cầu của chủ thể, ngồi ra chủ thể cịn cĩ khả năng đánh
giá hoại động, dành giá thái độ của chỉnh bán thân chủ thể rồi quyết định tiến hảnh hoạt động đĩ Do đỏ tính chất động cơ hành động của chủ thể như thế
xảo, trước liên phụ thuộc vào những biểu hiện rnặt nhân thức của nĩ về đối
tượng, đối với quá trình hoạt dộng, đối với chính bản thân chủ thể vv Vậy biểu hiện mặt nhận thức của động cơ cĩ vai trỏ rất quan trọng trong quá trình tìm hiểu và dánh giá động cơ hoạt dơng của con người
Đối với dé tai nay, ching tơi muén tim hiểu biểu hiện mặt nhận thức của động cơ vào sống trong trung tâm nuơi đưỡng người già của các cụ thể hiện ở sự nhận thức về vai trỏ, ý nghĩa tầm quan trong của các trung tâm nuơi
đưỡng người giả đối với các cụ Khi các cụ đã nhận thức được vai trị, ý
nghĩa, tầm quan trọng của các trung tâm nuơi dưỡng người già đổi với các cụ thỉ nĩ đã gĩp phan vao quá trình hình thành động cơ cũng như thúc đấy người
giả vào sống trong các trung tâm nuơi dưỡng người giả như thế nào Tuy nhiên một biểu hiện nhận thức
a động cơ chưa giúp cho nhà nghiên viru
Trang 26khẳng định được tính chất động cơ của hoạt động như thể nào, do đó chứng
tôi tiếp tục tìm hiểu hai mặt biểu hiện cỏn lại của động cơ vào sống trong trung tâm nuôi dưỡng giả của các cụ
- Biểu hiện mặt xác cảm — tình cảm cũa dộng cơ hoạt động
Củng với biểu hiện mặt nhận thức của động cơ, biểu hiện mặt xúc cám tình cảm của động cơ cũng góp phần không nhỏ để tìm hiểu mức độ cũng
như tính chất của động cơ hành động như thể nao, nó biểu hiện ở thái độ tích
cực hay không tích cực của chú thể hoạt động Tuy nhiên biểu hiện mặt xúc cảm _ tỉnh cảm của động cơ phải thông nhất với mặt nhận thức cũng như mặt
hành vi của động cơ thì chúng ta mới có thể đưa ra kết luận về tính chất của
động cơ, cũng như mức độ của nó dối với một hoạt động cụ thể của mỗi chủ
thể hoạt động khác nhau, trong từng tỉnh hung, hoàn cânh, điều kiện, không
gian, thời gian không giống nhau
Trong đề tài của chúng tôi, biểu hiện mặt xúc cầm - tỉnh cầm của động cơ
ảo sống trang các trung tâm nuôi dưỡng người giả của các cụ thể hiện ở những nhu cầu khác nhau, những mong đợi, ước ao của người giả đối với trung tâm nuôi dưỡng, nó Lạo nên những mặt lích cực hay không tích cực hướng tới sự thoả mãn hay không thoả mãn những như câu, mong muốn ước ao đó
- Biển hiện mặt hành vi cia động cơ hoạt lộng
Khi biểu hiện mặt nhận thức vả xúc cảm tỉnh cảm của động cơ đã có
sự thống nhất với nhau, nhưng biểu hiện mặt hành vi của động cơ không có sự
thông nhất với chúng, thì đông cơ hoạt đông của chủ thể không có sự thống, nhất, do đó khi tìm hiểu động cơ hoạt động, chúng ta không được xem xét từng
biểu hiện của nó má phải xem xét nó trong tổng thể Nhận thức sâu sắc, rõ
ràng, thái độ tích cực, mà hảnh vi không tích cực thì động cơ đó không thông
nhất, mức độ động cơ của hoạt động không mạnh Vậy biểu hiện hành vị của
đồng cơ góp phần quan trọng khi xem xét động cơ hoạt động cua con người
26
Trang 271.26 Mới quan hệ giữa nằm cẩu và động cơ, giữa động cơ và xúc cấm
- Mỗi quan hệ giữa nha cầu và động cơ
‘Trong tâm lý học hai hiện tượng nhu cầu và đồng cơ luôn được nghiên cứu trong mối liên hệ chặt chế với nhau, dan xen vào nhau đến mức khó tách rời Khi bàn về dộng cơ không thé không bản tới nhụ cầu với tư cách là nguồn gốc trực tiếp dẫn đến hình thành động cơ Ngược lại khi bàn về nhu cầu không thể không nói tới các lực thúc đây động cơ con người nhằm thoả min nhu cầu Động cơ là sự phân ảnh chủ quan về dối tượng thoả mãn nhu cầu Theo Lêônchiếp quá trình diễn biến nhu cầu trong tâm lý con người từ một
trạng thái có tính chất nhù cầu sang một nhu cầu thực sự, đó chính là lúc nhu
cầu gặp dược dối tượng và có dược sức mạnh thúc dây, dịnh hưởng hoạt động, của con người nhằm thoả mãn nhu cầu Nói cách khác vào thời điểm đó nhu
cầu đã trở thành động cơ hoạt động
Nhu cdu 1a trạng thái tâm lý của con người, sự cần thiết được thoả mãn
về một dối tượng cụ thể, tức là đôi hỏi của chủ thể về một đối tượng ngoài nó Đối tượng ấy lả những cái cụ thể vả tất yếu rất cần thiết đổi với sự tồn tại và
phát triển của chủ thế nhu cầu Nhu cầu là sự đòi hỏi IẤt yếu mà con người
cần dược thoả mãn để tổn tại và phát triển Còn dộng cơ là sự phản ánh chủ
quan về đòi hôi tắt yêu khách quan đó
Lomov khi nêu quan niệm về động cơ đã rất quan tâm tới nhu cầu Ông,
thừa nhận: Động cơ của nhân cách có liên hệ chặt chẽ với những nhu cầu chế
định hành vì con người một cách khách quan vá có quy luật Động cơ là sự
biểu hiện chủ quan của nhu cầu [8, tr 151, 152]
- Mi quan hệ giữa dộng cơ và xúc cắm
Ö trên chúng ta đã khẳng định: Động cơ xuất hiện khi đối tượng có khả
năng thoả mãn nhu cầu dược làm xuất hiện trong đầu óc cơn người dưới hình
thức biểu tượng và có sực mạnh thúc đẩy một hoạt động có hướng nhằm hiện
Trang 28thực hoá nó trong đời sống thực hàng ngày dưới hình thức một sản phẩm cu
thể Khi hoạt động kết thúc sản phẩm của nó xuất hiện, động cơ của hoạt động,
đã được hiện thực hoá, do khả năng dip ứng nhu cầu của nó làm thoả mãn hay
không thoả mãn nhu cầu cúa chủ thể mà sẽ làm xuất hiện ở chú thể xúc cảm hài
lòng hay không hài lòng Như vậy trong mỗi quan hệ với đông cơ cửa một hoạt
động cụ thể, thì xúc cảm là hiện tượng có sau, báo hiệu rằng động cơ đã được
hiện thực hoá có làm thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu của chú thể Điều
đó có nghĩa là: Xúc cảm là đại diện chủ quan của động cơ, biểu hiện gián tiếp
h khác xúc cả
của động cơ, chứ bản thân nó không phải là động cơ Nói
chức năng là những tín hiệu, bảo hiệu về sự tổn tại của một động cơ nào đó,
Trong đời sống hàng ngảy mỗi khi bắt tay vào thực hiện một hành động nào đó
đổi hỏi chủ thể phải ý thức được mục đích của việc mình làm, thông thường người ta lại Ít quan tâm tới tự trả lời cầu hỏi là động cơ nảo đã thúc đây mình
làm việc đỏ, nhất là khi những động cơ có tính chất bên vững đã hình thành nên
xu hướng của nhân cách dến mức như một thỏi quen Những lúc như vay déng
cơ hoạt động vẫn được phản ánh trong tâm lý con người, nhưng đưới một hình
thức đặc biệt - hình thức những sắc thái xúc cắm cũa hành đồng được biểu hiện
ở những mong ước, ÿ muế
, nguyễn vọng Nghĩa là những biểu hiện giản tiến
của động cơ, đó là những tín hiệu của động cơ, qua đó mả những quá trình đang
diễn ra sẽ dược diều chính Chính điều đó tạo ra sự lầm tưởng của nhiều người cho rằng những trải nghiệm này: Ÿ muốn, mong tước, nguyện vọng là những động cơ trực tiếp thúc đẩy hoạt động [8, tr 153]
1.2.7 Cầu trúc của động cơ hoại động
Khi ban về cầu trúc động cơ, các nhà nghiền cứu tâm lý thường đề cập tới cầu trúc của hệ thống động cơ trong đời sông tâm lý con người (Cầu trúc
vĩ mô của động cơ) và câu trúc của mỗi động cơ hoạt động riêng lễ (cầu trúc
vi mô của động cơ)
28
Trang 29- Cầu trúc vĩ mô của động co hoat ding
Từ lúc sinh ra đến khi chết di con người chủng ta gia nhập vào các mỗi
quan hệ xã hội khác nhau bằng các hình thức và các dạng hoạt động khác
nhau, lắm thành cuộc sống thực của mỗi người trong từng giai doan của cuộc
đời, các động cơ hoạt động khác nhau đã được hình thành và phát triển trong,
chính quá trình đó, vi cuộc sống của con người là một chuỗi những hoạt động
kế tiếp xen kế lẫn nhau do đỏ mà chúng không tần tại cô lập với nhau, ma tac động qua lại với nhau, gắn kết với nhau trong các mối quan hệ, tạo nên một
hé théng trọn vẹn, làm cho lĩnh vực động cơ của con người có tỉnh hệ thống, Chính tính hệ thông của đông cơ đã làm cho mỗi hoạt động của con người
thông thường mang tính đa động cơ, nên mỗi hoạt động của con người thường
được thúc day, định hướng thông nhất cúa nhiều động cơ khác nhau Nói như
vậy chúng ta có thể hiểu rằng một động cơ cũng có thể được thoả mãn bởi nhiêu đạng hoạt động khác nhau Tuy nhiên một hoạt động có thể được thúc
dây bởi nhiều động cơ khác nhau, những động cơ đỏ không củng nằm trên một binh diện, trong đó có những động cơ chỉ có chức năng kích thích, những,
động cơ òn lại ngoài chức năng kích thích còn có chức năng lạo ý Nó lâm
xuất hiện ở chú thể những mỗi liên hệ có tính chất thiết thân, không thể không,
có, trở thành cái quyết định bên trong của chủ thể đối với những kích thích
đến từ bên ngoài, nó dã trở thành những yếu tố của nhân cách, làm cho hoạt động đó có sự tham gia của nhân cách Do đó trong quá trình phát triển của hoạt động, trong những hoàn cảnh điều kiện cụ thể, có sự phân đôi chức năng
của các dông cơ trong củng một hoạt động dó là: Chức năng kích thích vả
chức năng tạo ý Qua đây giúp chủng ta hiểu được một cách sâu sắc hơn về lĩnh vực động cơ của nhân cách, và quan hệ thứ bậc của các động cơ
Trong hệ thống lý luận của mình Lêônchép nhắn mạnh nhân cách là
một quá trình tác động lẫn nhau của nhiều hoạt động khác nhau rà giữa chúng có mối quan hệ sắp xếp theo thứ bậc Nói cách khác, nhân cách bộc lộ
29
Trang 30ra như là một tổng hoà các mỗi quan hệ có thứ bậc của các hoạt động Những
thứ bậc của các hoạt động nảy được sinh ra bởi sự phát triển của chính bản thân
chúng, chúng đích thị tạo nên hạt nhân của nhân cách Ở đây ta thấy, về mặt
†âm ly hoc, mỗi hoạt đông có thể dược thúc dầy bởi nhiều động sơ khác nhau
Đằng sau hiện tượng các hoạt động được sắp xếp thành thứ bậc, chính là do trong quá trình tác động qua lại lấn nhau của nhiều hoạt động khác nhau đã làm
xuất hiện hiển tượng phân đôi chức năng giữa các dộng cơ của củng một hoạt
động thành hai động cơ: Động cơ có vai trò thúc đây và động cơ tạo ý
Chức năng tạo ý xuất hiện bừ những động cơ mả trong quả trình hoạt đông
chúng làm xuất hiện ở chủ thế một mỗi quan hệ thiết thân đối với chúng, mang lại cho chủ thể một ý nghĩa đặc biệt chỉ phối lối sống của nó, quy định sự biểu
hiện hành vi của nó Nỏi cách khác, nó gắn liễn một cách trực tiếp với sư hình
thành và phát triển nhân cách của cá nhân Trong khi đỏ cũng trong hoạt động
nảy những động sơ khác không mang lại cho cá nhân những trái nghiệm như vậy
mà chỉ có clức năng kích thích đơn thuận Diéu đó cho phép chúng ta hiểu được
những quan hệ chủ yếu nói lên đặc trưng của lĩnh vực động cơ của nhân cách,
quan hệ thứ bậc của các động cơ Lhứ bậc của các động cơ nảy làm thành một trường động cơ chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc nhân cách Thứ bậc của các
hoạt động được thực hiện thông qua thử bậc của oác dộng cơ tao ý phủ hợp với
nó Chính cái ¥ biéu thị thái độ của chủ thể đổi với các hiện tượng khách quan
được nó ý thức, nghĩa là con người có thái độ [§, tr 47 - 50]
~ Cầu trúc vi mô của động cơ hoạt động Người d cập sâu dến cấu trúc vi mô của nhân cách la V.G Axcep
Phần lớn các công trình nghiên cứu của mình, khi bản về động cơ, ông thường
cho rằng: Động cơ hoạt động được cấu thành bởi hai thánh tổ: Thành tổ nội
dung hay ông gọi lá khía cạnh nội dung, vả thánh tổ lực ông gọi là khía cạnh
lực, và được ông trình bảy cụ thể như sau:
30
Trang 31+ Khia cạnh nội dung của động cơ: Khía cạnh này phản ánh nội dưng
của cái ma cơn người muốn vươn tới, muốn đạt được
+ Khia cạnh lực của động cơ: Khía cạnh này phản ánh độ mạnh của đơng
cơ, mức độ sức mạnh của lực thúc đẩy hành động, khía cạnh lực thể hiện ở khả
năng thúc đây chủ thể thực hiện hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu của mình
Dộ mạnh của lực quy định mức độ bền vững và hiệu quả của hoạt động Ơng nhắn mạnh khía cạnh nội đung và khía cạnh lực của động cơ cĩ
quan hệ biện chứng khăng khít với nhau, quy định lẫn nhau trong một chính
thể động cơ thống nhất, tuy nhiên chúng cĩ tính độc lập tương đối của chúng, điều đĩ được cụ thể hố trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta: Mỗi cá nhân thường biết mình cần phải sống như thể nào, phải vươn tới cái gì, phải tứng xử ra sao trong mối quan hệ với người khác cho phù hợp với chuẩn mực
đạo đức xã hội, tuy nhiên vì nhiều lý do kháo nhau mà á nhân đĩ khơng làm
theo những điều mỉnh hiểu biết lừ gĩc đơ đơng cơ hoạt động chứng tỏ cá
nhân mới dừng lại ở khả năng nhận thức được nội dung của động cơ, né mới
chứa đựng một lực tiểm năng nhất định, chưa cĩ lực thực sự thúc đẩy chủ thể thực hiện một hoạt động cĩ hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình
1o đĩ, trong quá trình hình thành động cơ thì khía cạnh nội dung với lực
tiểm năng của nĩ bao giờ cũng xuất hiện trước, nĩ cĩ thể (hoặc cĩ thể) trở thành cải cĩ sức mạnh thực sự thúc đẩy chủ thể thực hiện một hoạt động ĩ hưởng,
nhằm thoả mãn nhu cầu của mình Vi thé sau khi xuất hiện khía cạnh nội dung
nay cần được vận dung để tổ chức các hoạt động nhằm đạt được mục đích đã
xác dịnh trước Qua đĩ làm xuất hiện ở chil thé những mối liên hệ thiết thân với
những gì đã nhận thức được, biến nĩ trở thành cái quyết định bên trong đảm bảo
cho việc thực hiện những hoạt động nhằm thộ mãn nhu cầu của chủ thê diễn ra
dạt hiệu quả cao Axeep gợi quá trình nảy là quá trình biến đơng cơ tử chỗ chỉ 1a
động cơ hiểu trở thành động cơ cĩ hiệu lực [8, tr 154 - 158]
31
Trang 322 Người giả
21 So lege lich sử nghiên cứu về người giả
Đã có nhiều công trình nghiên cửu về người già của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới
Năm 1984, hai nhà tâm lý học người Nga M.I-A Xônhin và A.A Duxkin trong tác phẩm: “Người già trong gia đình và xã hội", đã 48 cao vai
trò của người giả trong gia dình trong việc chăm sóc, giúp dỡ con cháu và
những hoạt động xã hội của họ Ilàng ngày họ lảm những công việc nội trợ
sử dụng thời gian rảnh rỗi để đi
dao, xem tivi, tham gia các hoạt động xã hội .vv
Năm 1998 Ann Bowling đã tiễn hành nghiên cứu thực nghiệm về các
kiểu hình chất lượng sống của người giả và đi đến kết luận về việc nâng cao
chất lượng cuộc sống chính là tăng sức khoẻ và niềm tin của người già Xã hội đã quan tâm đến chất lượng cuộc sống, đến hiện tượng lão hoá, và sự
quan tâm đó đã được lăng thêm nhờ chỉnh sách giảm ch phí công cộng, trợ
cấp xã hội, y tế, nhằm duy trì một cuộc sống thoải mái cho người giả
Trong khi đỏ năm 2000 nhả tâm lý học người Bite Martin Pinquart trong tạp chỉ: “Tâm lý và tuổi giả”, dã làm thực nghiệm, nghiên cứu: “Tác
động của trạng thái, mạng lưới vả năng lực kinh tế xã hội đổi với sự phồn thịnh khách quan trong cuộc sống của người giả”, đưa ra kết luận như sau Người già cảm thấy được thoả mãn và hạnh phúc hơn khi sống trong mdi quan hệ bạn bẻ vì họ có cùng nhóm tuổi và thường chia sẻ những đặc điểm cá nhân, các kinh nghiệm quần thể và phang cách sống Hơn nữa họ luôn là nguồn vui của nhau, thưởng xuyên giao lưu và cùng nhau nghĩ về quá khử tết
đẹp Bên cạnh đó công trình nghiên cửu của tác giả cũng cho thấy người giả không thích sống chung với cơn cái khi con cái đã trưởng thành và họ xác
định sống trong những hệ gia đình tách biệt là một cách để đuy trì sự độc lập,
ủng hộ những tương Lic ur nguyên và lắm giám thiểu xung đột giữa các thể hệ
32
Trang 33và đỏ chỉnh là một điểm rất khác biệt đối với tập tục và thôi quen của các giá
đình ở Châu Á
Năm 2000 trong cuốn: “Almanach người gao tuổi”, các tác giá có dé cập đến việc chính phủ Malaysia rất chủ trọng, quan tân! đến việc chăm sóc người giả như việc xây đựng thêm nhà dưỡng lão, nâng tuổi về hưu, giảm
thuế cho gia dinh có người giả, tư nhân hoá việc chăm sóc người giả Bên
cạnh đó các tác giả dã đưa ra một số vấn đề về môi quan hệ giữa người giả với nhĩmg người trong gia đình mình như sau:
+ Vấn đề quan hệ giữa người giả và con cái là rất quan trọng
+ Vấn dé quan hệ puữa bà vả cháu, đặc biệt giữa bả nội và cháu nội
+ Việc bảo về và chăm sóc tâm lý cho nhau giữa vợ chồng, đặc biệt là
vo chẳng giả là rất quan trọng
+ Một lrong những bí quyết sống lâu là sự hòa hợp giữa hai ve ching,
sự cần thiết là phải nuôi dưỡng va van dip cho mối quan hệ Ấy
+ Cách giải quyết về khoảng cách giữa hai thể hệ trong gia dình dễ ảnh
thưởng tốt đến mức thoả mãn đối với cuộc sống vả sự thích nghỉ đôi với người giả
Nghiên cứu của hai nhà Lâm lý học người Mỹ Stephcn Worchcl và
'Wayne Shebilsue cho thấy: Niễm hạnh phúc lứa đôi là điều rất quan trọng đối với các cặp vợ chồng giả, họ tìm thấy niềm hạnh phúc trong tỉnh bạn có sự
Trang 34khía cạnh tâm lý để tim hiểu lâm Lư, nguyễn vọng cúa người già, còn it duce
các nha tim lý học quan tâm nghiên cứu Chúng tôi tiến hành công trình
nghiên cứu này để góp phần làm phong phú hơn các công trinh nghiên cứu về nigười giả
Trong những năm vừa qua vấn đề người giả đã và đang được nhiều tác
giã trong nước quan tâm di sâu nghiên cửu ở những khía cạnh khác nhau của
đời sống tính thần và vật chất của họ
Năm 1994, Bùi Thể Cường nghiên cứu: “Vấn để người cao tudi trong, gia đình của hẹ”, kết qủa công trình đã phân tích về các điều kiện an sinh xã
hội cho người giả để giúp họ đâm nhiệm các vai trò xã hội mới sau khi về
hưu, để đưa ra việc hình thánh chế độ bão hiểm xã hội được coi là thiết chế cốt lõi của hệ thống an sinh xã hội hiện đại
Bên cạnh đó, tác giả còn kết luận về một số tâm trạng phổ biến ở người
giả là: Buin phién, mét mdi, lo ling và bực đọc trước những, biến đổi hiện tại,
những tâm trạng đó chủ yếu bị chỉ phối bởi đời sống kinh tế eo hẹp, thải độ đối xử chưa tốt của con cái 'Irong đó tác giả đã phân tích tâm trạng hay lo lắng, Jo xa cia ho vé moi mặt, lo cho con chau, cho bản thân, cho xã hội, lo
ngày hôm nay va ngày mai, lo tuỗi già sẽ đi về đầu và nêu hât được vai trỏ tơ
lớn của gia đỉnh, các mối quan hệ trong gia đỉnh giữa các cụ ông và cụ bà,
giữa các cụ và con cháu có ảnh hưởng lớn trong việc bảo đấm mọi mặt cho
cuộc sống của người già nhất là về mặt sức khỏe
Năm 1994 trong một oông trình nghiên cứu khác, lắc giá Bài Thế Cường và Vũ Thị Nguyên Thanh đã phân tích những yếu tố có liên quan đến
sức khoẻ của người giả như: Điều kiện lao động, chế độ dinh dưỡng đời sống văn hoá tĩnh thần, tỉnh trạng bệnh tật và khả năng chữa trị vv, đi đến kết
luận: Coi sức khoẻ là một chỉ báo quan trọng về chất lượng sống Các tác giả
đã chỉ ra rằng: Đa số người giá không hoàn toàn khoẽ mạnh vả bệnh tật của
34
Trang 35ho ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày và mặc dù hệ thống y tế đã có nhiều
cố găng để cải thiện việc chăm sóc sức khoẻ cho trễ em và phụ nữ, nhưng người cao tuổi vẫn ít được chú ở
Năm 1994 tác giả, Irịmh Duy Luân, đã tiến hành thử nghiệm và đưa 1a
một số kết luận: Người giả sau khi về hưu vẫn tiếp tục công việc nội trợ gia đình, họ vẫn tiếp tục sống trong gia đình với các con chau, rất dược yêu
thương và chăm sóc, nhưng họ thấy buồn chán vi sự lôn trụng cua con chau
danh cho minh sau khi về hưu đã bị giảm sút so với thời điểm họ còn đương chức Tác giá cũng nêu lên những mặt tích cực và tiêu cực của người giả trong gia đình và những hut hãng của họ do mặc cảm khi về hưu và những nỗi
buồn chán khi bị con cháu đỗi xử thiếu tế nhị
‘Nam 1994 tac giả, Phí Văn Ba trong tác phẩm: “Người giả trong các công
đồng nông thôn”, đã chỉ ra được nhu câu thiết yếu của người giả là sự cân bằng về mặt tâm by va tinh cảm trong các mối quan hệ gia đỉnh và xã hội [16, tr 9 - 12]
Năm 1995 tác giả, Phạm Khắc Chương và Hoảng Anh trong bài viết:
*Người cao tuổi trong gia đỉnh trẻ hiện nay”, đã nhắn mạnh tầm quan trọng, của gia đình với những mối quan hệ tình cảm thân thiết, gia đình là một cơ sở
vững chắc cho việc dám bảo xã hội đối với người cao tuôi nói chung và người
phụ nữ cao tuếi nói riêng Mặt khác các tác giả còn nêu ra một số đặc điểm tâm lý của người giả: Khó hoà hợp với người trẻ nên dễ xây ra sự không thông cảm giữa hai thế hệ Tác giả đưa ra kiến nghị của minh như sau: Trong pÌa dình và xã hội cần dưa ra giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng mối quan hệ
hoa hợp tâm lý của người giả trong gia dình trẻ hiện nay [2, tr 17 - 21]
Năm 1996 tác giã, Nguyễn Thị Phương trong để lài: “Mỗi quan hệ giữa người giả và con cháu”, đã đưa ra một số kết luận về những khó khăn trong
đời sống của người già khi họ sống chung với gia đình con chấu
+ Người già khi sống chung với gia đỉnh con cháu thường bị con cháu o
ép, cơn cháu tuỳ tiện lảm không dém xia đến những nhu cầu tối thiểu của
người giả, nhiễu khi còn pỏ các cụ theo ý của mình
Trang 36+ Con cháu thiểu tôn trọng cha mẹ giả, không ngho lời cha mẹ, cho là
cdc cu lam cẩm, nói đai đã không làm được gỉ còn đỏi hồi, các cụ quá phong kiến, có khi còn dủng lời lễ thiếu tôn trọng để gọi người già như: Ông bồ, cụ
khét .hoặc nói năng với người già như nói với bạn, hỏi các cụ thi hỏi trồng không, các cụ có nói thì cãi láo vv
+ Cơn chán cư xử không đúng với cha mẹ, không lễ phép, không chảo hỏi, nói năng không thưa gửi, còn biểu hiện trong cách cư xử hàng ngảy như
ăn uỗng không mời chảo, không lễ phép hoặc dưa quả nhưng thiếu thái dộ trân trọng, nói năng tuỷ tiện thiếu chín chắn Các cụ thấy con cháu tuy có học, hiểu biết ngoài xã hội rất nhiễu nhưng trong ứng xử không được như các cụ mong dgi lam các cụ thấy phiền lòng, cho là đã phí công sinh thành và luôn
luôn so sảnh với thời trước của mình để hoai tuémg, dé cũng là nguyên nhân
lầm các cụ bực tức âm ức trong lòng,
+ Xúc phạm cha mẹ tất cả những xử sự trên là thiếu sót của con cái đối
với cha mẹ, ông bả, đã xúc phạm, lỗ mãng, vô ơn với người dã sinh thành ra
mình Trong những gia đình đỏ người giả khổ biết chừng nảo, hoặc đo thỏi quen
ích kỷ, chỉ muốn theo ¥ minh mà bất cần, bạ đâu chửi đấy, xúc phạm cả người
giả, có gì và chạm thi lỗi các cụ ra chửi, miệt thị các cụ, cho rằng cả cuộc đời các
cụ đã không làm được cái gì Dồi với người giả con cháu là niềm tự hảo của các
cu, thé ma chủng không coi các cụ ra gì, khi đó các cụ chỉ muốn không có con
cái còn hơn Điều đó dẫn dến sự xa lánh giữa con cháu và người già
+ Con cháu không tận tâm chăm sóc các cụ khi ốm đau, một là bó mặc
hoặc có chăm sóc chỉ là chiếu lệ là nghĩa vụ mà thôi, có khi còn mong các cụ
chóng chết dễ nhẹ nợ, làm các cụ dã yếu cảng yếu thêm và nhanh chúng qua
đời Con cháu tị nạnh trong việc chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ giả đặc biệt khi các cụ đau ốm, làm các cụ thấy muốn chết đi cho thoát,
Qua những khó khăn trong đời sống của mình trước những hành vi ứng
xử của con cháu dối với họ, người gid cho ring: Thời mình được giáo dục tốt
36
Trang 37hơn về lễ giáo, bản thân minh Wai qua bao nhiều năm của cuộc đời, chứng kiến
sự vận động thăng trằm của lịch sử dân tộc, giả rôi mà vẫn bị con cháu đòi,
*Irứng khôn hơn vịt” Ngược lại con cháu cậy mỉnh có trinh độ hiểu biết về
khoa học, xã hội, nhanh nhạy trong cách làm ăn, giảu có hơn các cụ Dã không
nạhe lời dạy của các cụ, cho rằng các cụ là cổ lỗ, phong kiến, khốt ta bít vv
Tio dé con chau ở trong gia đình cần phải cư xứ thể hiện lỏng tôn kính, giữ hành vi nét mặt luôn niềm nở, hoà vui, thì các cụ mới phẩn chấn, thanh thân không lo buổn, tự coi mình là gánh nặng của gia đỉnh [19, trl - 16]
Năm 1998 tác giả, Dương Chi Thiện trong luận văn cao học khoa học
xã hôi: "Sự sắp xếp cuộc sông và quan hệ trợ giúp lẫn nhau trong gia đình người cao tuổi vùng Đồng Bằng Sông Hồng”, đã kết luận: Con cháu không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong sự trợ giúp người giả về dời sống kinh tế, ma
họ còn rất quan trọng trong việc bảo đảm thoả mãn những nhu cầu về tinh
thần, tỉnh cảm tâm lý đổi với người giả Nhưng việc đáp ứng các nhu cầu tâm
lý từ phía con cháu không phải lúc nảo cũng thuận lợi, mà còn cé nhiều sự
khác biệt và khó khăn nhất định, vì thể hệ con cháu ít được trang bị những,
kiến thức và những hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý của người giả, nên trong,
những hành vi ứng xử hàng ngày với các cụ, con cháu dôi khi đã vô tình làm
cho các cụ buồn phiền, thậm chỉ tức giận, đau làng Cũng trong công trình
nghiên cứu này đã thu được kết quả về sự lựa chọn mô hình sắp xếp cuộc
sống gia đỉnh của người già như sau: Có 0,7% các cụ chọn mô hình sống và
ăn chung với nhiều pia dình các người con, pần 1/2 (47,4%) mong muốn sống,
chung và ăn chung với một gia đình người con, 30,59% số cụ trà lời muốn s
riêng va ăn riêng nhưng được ỡ vị trí gần gia đình của các con, cón 18,1% số
cụ trả lời muốn sống chung với gia đình một người con, nhưng lại ăn riêng một xmình hay chỉ có hai cụ giả ăn riêng Bên cạnh đó nghiên cứu nảy còn nhận xét rằng: Nói chung các cụ dang sống chung va ăn chung lại có xu hướng thích ra sống Tiếng và ăn riêng, ngược lại các cụ đang sống Tiêng và ăn riêng lại có xu
hướng thích sống chưng và ăn chung củng con cái |22, tr 22 - 54]
Trang 38Năm 1999 tác giả Tương Lai với bài viết: “Gia đình là điểm Lựa cơ bắn của người cao tuổi”, đã nhắn mạnh việc chăm lo cho người cao tuổi chính
là mục tiêu của chính sách xã hội và đó cũng chính là một chỉ bảo sinh động,
về trình dộ tiễn bộ mả xã hội đạt dược Cac nghiên cứu đã xác nhận vai trỏ to lớn mà gia đình đã đầm nhận trong giai đoạn kết thúc chu trình sống của con người Gia đỉnh là mắt khâu quan trọng nhất của hệ thống an sinh xã hội truyền thống cũng như hiện dại, nó lá nhóm xã hội gần gũi nhất của những, người cao tuổi, gia đình có khả năng đem lại những ảnh hưởng tích cực và
tiêu cực đến sự thích nghỉ của người giả đổi với điều kiện sống mới và vai trỏ
xã hội mới Gia đình có tầm quan trong đối với đời sống người giả, nhất là mỗi quan hệ trong gia đình, cụ thể giữa người giả vả con cháu họ, quan hệ nảy không chỉ ảnh hướng mạnh đến cuộc sống linh thân mả cä đời sống vật
chất của họ [16, tr 10]
Năm 2001 Dương Chí Thiện trong công trình nghiên cứu: “Người cao
tuổi và sự sắp xếp cuộc sống gia dình hiện nay - tác động của những yếu tố
kinh tế - xã hội, văn hoá", đã kết luận, trên thực tế đang tồn tại các mô hình
sắp xếp đời sống gia đình của người giả như sau
+ Äã hình thử nhất: Người già sống chung với gia dinh một người
con trai
Vi phan lớn người giả lựa chọn mô hình nảy do diều kiện kính tế của bản thân của người giả khó khăn, thu nhập không đủ chỉ phí cho những nhu cầu cơ bản của họ trong đời sống, đo sức khoẻ của họ ngảy cảng yếu và giảm
dẫn khả năng tự chấm sóc trong những hoạt động sinh hoạt hàng ngày Hơn
nữa sự lựa chọn nảy củng là mệt nét đặc trưng của văn hóa truyền thống,
trách nhiệm của các cơn đối với cha mẹ già, trách nhiệm của cha mẹ giả đối
với con cháu Người giả coi trọng trách nhiệm của mình đối với con cháu, đặc
biệt trong khi con cháu gặp khó khăn về kinh tế, gặp rủi ro bệnh tật vv
những hoản cảnh như vậy người giả không thể khoanh lay đứng nhìn con
38
Trang 39chau minh đĩi khổ, bền cạnh trách nhiệm đĩ là tấm lỏng quá thương con cháu
cia minh
+ Mơ hình thử hai: Người giá sống riêng hai ơng bà già, thậm chí sống
riêng một minh:
Người giả chọn mơ hình này vi một số lý do sau
~ Kinh tế: Mơ hình này chỉ cĩ những người giả nào cĩ điều kiện kinh tế
kha cao và Ổn dịnh, các nguồn thu nhập cĩ thể đáp ứng dược Lương đỗi diy du
những nhu cầu vật chất cơ bản cho cuộc sống của bản thân
- Sức khoẻ: Những người chọn mơ hình nảy phần lớn lả các cụ trong
độ tuổi từ 6O 65 tuổi, các cụ cịn khoẻ mạnh, minh mẫn cịn tự làm được
những ơng việc hàng ngày cho bản thân, khơng phải thường xuyên nhờ cậy
vào sự piúp dỡ của các con châu trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày:
- Sự trưởng thành của các con: Nhằm dịnh hưởng và tạo diều kiện cho các con dang trưởng thánh phải tự vươn lên làm chủ cuộc sống khơng thể dựa
đẫm và i lại vào cha mẹ
- Nhu cầu cao về các hoạt động giao tiếp xã hội của người giả: Người
giả lựa chọn mơ hình này nhằm tạo ra sự tự đo, để đàng hơn khi tham gia trực
tiếp vào các hoạt động giao tiếp xã hội như: TOu lịch, lễ chủa, tham quan, hội
hẻ, thăm hỏi, các tổ chức xã hội, câu lạc bộ vv
- Vì người giả mong muốn cỏ được sự dộc lập tương đối giữa cha mẹ già và cơn cái
- Vi những mâu thuẫn pay gat trong gia dinh: Khơng phải mọi mâu thuẫn giữa cha mẹ giả và con cái đều cĩ thể giải quyết én thộ được, những mâu thuẫn ngày cảng pay pất, nếu như cha mẹ giả và con cái đều sống chung
với nhau
+ Äfã hình thứ ba: Sống chung với gia đình một người con trai nhưng
ăn riêng:
39
Trang 40Người giá quyết định lựa chọn mô hình quá độ này là vỉ
- Kinh tế và nhà ở: Cả gia dình người con và cha mẹ giả chưa di diéu kiện về kinh tế và nhà ở đề có thể hoàn toàn ăn riêng và ở riêng,
- Nhu cầu giao tiếp tỉnh cảm giữa cha mẹ giả và con cháu: Đây là một xihu cầu hết sức quan trọng trong đời sống tỉnh thần và tỉnh cảm của người giả hiện nay, nếu phải sống riêng vả hoàn toàn biệt lập với con cháu, không được
con cháu thường xuyên hỏi thăm, chuyện trỏ thì người giả buồn chán, rơi vào
tâm trạng cô đơn vv
+ Mô hình thứ he: Sông chưng với con gái có hoặc chưa có gia dình
1# lệ người già lựa chon mé hinh nay chiếm con sẽ không nhiều vì:
- Trong trường hợp sức khoẻ của con gái quá kém
- Tắm lòng quá thương con gãi, vì một lý đo nào đó không lẫy chồng
- Sinh con gái một bề hoặc chỉ còn lại người con gái duy nhất
- Sự quá chênh lệch giàu nghẻo giữa gia đỉnh bên nội và bên ngoại
Trường hợp này xảy ra khi một người cun trai nhà nghẻo lấy vợ con nhà giảu
có, người con trai ở rễ nên cha mẹ giả ở cùng với người con gái [23, tr 54 - 61]
Kết luận: Tù những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy đã có không íL ác giả tập trưng nghiên cứu những vẫn đề liên quan đến cuộc sống
của người giả, tuy nhiên các công trình nghiên cửu về người giả đang sống,
trong các trưng tâm nuôi dưỡng người giả chưa có một công trình nghiền cứu nảo đề cập tới
3.3 Một số vẫn để lý luận liên quan đến người già
2.2.1 Định nghĩa người giả
Hiện nay tuổi già đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu với các
khia cạnh khác nhau của đời sống tâm sinh lý về người già, chính vi thé mà có
nhiều quan niệm khác nhau về người giả, dựa vào những yếu tố tầm sinh lý
đó mà các tác giả đưa ra những quan niệm không, giống nhau về người gia
Có không iL những quan niệm cho rằng: Người giả lá sự giả nua, như
một thời kỷ suy thoải, cơ thể yếu dần, mất khả năng thích nghi, chỉ còn là một