Ban sắc văn hóa din tộc Dao ở Phú Thọ Thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong giữ gin và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Tho Thực trạng hoạt đông sủa cáo chủ thể lãnh
Trang 1DAL HOC QUOC GIA HA NỘI
'TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BÔI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRI
LE THI HONG BAO
VAI TRO CUA NHAN TO CHU QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỌC DAO TỈNII PHÚ THỌ EN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRỊ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2
ĐẠI HỌC QUÔC GIA HA NOT
TRUNG TAM DAO TẠO, BỎI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LE TIT DONG DAO
VAI TRÒ CỦA NHÂN TÓ CHỦ QUAN
'TRONG VIỆC GIỮ GIN, PHAT HUY BAN SAC VAN HOA
DAN TOC DAO TINII PHÚ THỌ THIỆN NAY
Chuyén nganh: Triét hoc
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng din khoa hoc: PGS 1S NGUYEN THUY VAN
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LOI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đâu là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thúy Vân
Các số liệu, tài liệu tham kháo trong luận văn đều
trung thực và có nguôn gốc xuất xứ rổ rằng
là Nội ngàn — tháng — năm 2012
'Tác giả luận văn
Lê Thị [ang Dito
Trang 4QUAN TRƠNG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DẦN TỘC VẢ BẢN SẮC VAN HOA DAN TOC DAO Ở PHỦ THỌ
TIIỆN NAY
Nhân tố chủ quan và vai trò gủa nhân tổ chú quan trong việc giữ
gin và phát huy bắn sắc văn hóa dân tộc Khải niệm: “nhãn tổ chủ quan”
Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Vai trò của nhân tổ chủ quan trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hỏa dân tộc
Ban sắc văn hóa din tộc Dao ở Phú Thọ
Thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong giữ gin và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Tho Thực trạng hoạt đông sủa cáo chủ thể lãnh đạo đổi với việc giữ gìn và phát huy bắn sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ
Thực trạng hoạt động của những người chủ di sản đối với việc giữ gìn vả phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao 6 Phi 1ho
Nguyên nhân của những hạn chế trong vai trò của nhân tổ chủ
quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh
Phú Thọ
Phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân tổ chủ
quan trong việc giữ gìn, phát huy băn sắc văn hóa dân tộc Dao ở
Phú ‘Tho hién nay
Trang 52.3.1 Yêu cầu của việc giữ gìn và phát huy bắn sắc văn hóa dân tộc
Dao & Pha ‘Tho
2.3.2 Phương hướng của việc nâng cao vai trò của nhân tổ chủ quan
trong việc giữ gìn, phát uy bản sắc văn hóa dân tộc Dao tỉnh
Trang 6BANG QUY UOC VIET TAT
Uy ban nhan din
Phat thanh - truyén hình Thông tin và Truyền thông
Văn hóa - 'Lhê thao và l2u lịch
Văn học nghệ thuật dẫn gian
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
+iất nước ta có 54 dân tộc cùng cư trú, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng, của mình dược kết tinh cùng với lịch sử dân tộc trong quá trình hình thành và phat triển Cùng với dòng cháy thời gian và những biến động của lịch sử, văn
hóa của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi theo những quy luật nhất định với sự đan xen giữa các yếu tố mới và cũ để làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi din tộc và góp phan tạo nên bản sắc văn hóa chung của cả đân
tộc Việt Nam
Ngày nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia dân tộc trên thể
giới vừa có cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, có cơ hội giao lưu
vả tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới lâm giàu thêm cho bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời những nguy cơ về sự đồng hóa văn hóa, sự đánh mắt bản sắc văn hóa và sự bắt bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa cũng xuất hiện
Hơn nữa, các thể lực thủ dịch vẫn luôn tiền hành âm mưu diễn biến hỏa bình, đặc biệt là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng nhằm chống lại sự nghiệp cách
xmạng của nhân dân ta Do vậy, việc khẳng định hệ giá trị văn hóa dân tộc và ban sắc văn hóa dân tộc đang là van dé cấp thiết, vừa có tỉnh thời sự, vừa có
tính lâu đải với nước ta Trong nhiễu văn kiện của Dăng, chính sách của Nhà
nước đã dễ ra chủ trương, giải pháp cụ thể về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số Tổng kết 5 năm thực hiện Nghỉ quyết Trung ương Š (khóa VIID, Đăng Cộng sắn Việt Nam
chủ trương: Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thẳng các chính sách mạnh, tạo điều
kiện cần thiết để văn hóa các đần tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam.
Trang 8Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hỏa ở nước ta, nếu các diễu
kiện khách quan là yếu tố quy định nên uác đặu điểm và nội dung của văn hóa thì nhân tố chủ quan đóng vai trò thúc đây hoặc kìm hãm sự phát triển của các yếu tố văn hóa Nhân tố chủ quan có thé ké đến như: sự lãnh dao cia Dang, vai tro quan lý điêu hành của Nhà nước vá các đoàn thể nhân dân nhằm xây
dựng một môi trường văn hóa lành mạnh Đặc biệt, sự sáng tạo của quần chủng nhân dân chính lá yếu tổ cơ bán của sự tồn Lại và phát triển văn hóa, là chủ nhân thực sự của nền văn hóa dân tộc trong mọi thời đại
Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em sinh sống ở Việt Nam, với
nhiều nhóm khác nhau, cư trú tại các bản động vùng sầu, vủng xa thuộc nhiều
vững, miễn của đất nước trong đó có nhóm Tao Tiền va Dao Quin Chet dinh
cư ở Pha Tho Mặc dủ số lượng cư din không lớn, song đân tộc Dao van pitt được nót văn hóa độc đáo của mình, không bị trộn lẫn với bất cứ dân tộc nảo khác ở địa hình tỉnh trung du và miền núi như Phú Thọ, sự phong phú về
cảnh quan, môi trường đã tác động lớn đến đời sống văn hóa người Dao nơi
đây, lắm nên những nét văn hóa dân gian khá đa dang của người lao như lễ
hội, trạng phuc, thơ, ca, tín ngưỡng, các điệu múa mang đậm triết lý nhân
sinh Tuy nhiên, rước những biến dỗi không ngừng cúa hiện thực, trong sự thát triển kinh tế và bối cảnh toàn cầu hóa đã làm biến thái và mai một ít
nhiều các giả trị văn hóa đặc sắc của đồng bảo dân tộc Dao Trong những nguyên nhân dẫn tới sự biến đối đó, có nguyên nhân quan trọng nằm trong
chính bản thân con người, những chủ nhân thực sự kế thừa văn hóa của dân
tộc ấy Cho nên, việc bồi đưỡng, nâng cao nhận thức và vai trò lãnh, chỉ dao của các cấp ủy Đăng, chỉnh quyền, doan thể nhân dân, giáo dục ÿ thức, tinh thần chủ động giữ gia, phát huy tinh hoa vin hóa của mỗi tộc người, mỗi người dân là hết sức cần thiết
Với những lý do trên, tác giả chon dé tài: “Vai rè của nhân tô chủ
quan trong việc giữ gìn, phát huy bắn sắc vẫn hỏa dẫn tộc Dao tĩnh Phái
Trang 9Tho hién nay” dé nghién cita trong lufn vin thac s¥ chuyén ngành Triết học của mình
2 Tinh hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về nhân tố chủ quan, về văn hóa dân tộc l3ao dã dược sự quan tâm của nhiều học giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể chia các công trình nghiên cứu nảy thành những mắng sau
- Những nghiên cửu về nhân tô chủ quan và vai trò của nhân tổ chủ
quan trong hoạt động thực tiễn:
+ Nghiên cửu về nhân tố chủ quan vả phát huy vai trò của nhân tế chủ
quan trong hoạt động thực tiễn được nhiều học giả quan tâm, có thể kế ra một
số công trình nphiên cửu và bài viết sau day: “Điều kiện khách quan và nhân
tổ chủ quan trong xây dựng con người mới ở Việt Nam”, Luận én Pho tiên sĩ
của Nguyễn Thế Kiệt, Hà Nội, 1988; “Phát lmp vai trò của nhân tô chủ quan
trong việc xây dựng nhân cách sinh vién Viét Nam hiện nay”, Luận văn thạc
sĩ của Phạm Thị Phương Thảo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2001; “Phát lmụ vai trò của nhân tô chủ quan trong hoại động của hệ
thống chỉnh trị cấp cơ sẽ ở Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay", Luận án Tiễn sĩ của
Nguyễn Hồng Lương Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2005, "Những yêu tổ cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội” của Trần Bảo, Tạp chí Triết học số 3 tháng 9/1991; “Mét cách tiếp cận về cặp phạm trù “điêu kiện khách quan” và
“nhân tố chủ quan” của Pham Văn Nhuận, Tạp chí Triết học số 6 thang
6/1999
+ Các công trình, bải viết của các tác giả này đã xuất phát từ quan điểm đuy vật biện chứng dé xem xét cải khách quan, chú quan, nhân tô chủ quan va
điều kiện khách quan, quan hệ biện chứng giữa diễu kiện khách quan và nhân
tố chủ quan, van đề nhát huy vai trò của nhân tổ chủ quan trong cdc lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, của quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trang 10- Các công trình nghiên cứu về văn hỏa va van héa các dân tộc thiểu
số nói chung:
+ Dưới góc độ triết học có các công trình, bài viết như: Vũ Thị Kim
IDDung, Cách tiếp cận vẫn dễ văn hóa theo quan diễm triết học Mác, Tạp chi Triết học, số 1/1998; Vũ Đức Khiển, Văn hóa với tư cách mội khái niệm triết học và vẫn đề xác định bản sắc văn hòa đân tộc, Tạp chí Triết học, số 6/2000;
Nguyễn Huy Hoàng, Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của Các Mác,
'Văn hỏa Thông tin, Viện Văn hỏa, Hà Nội, 2002
lấy vẫn đề triết học văn hóa, Nxb
+ Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển
như: Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KX.06, “Văn hóa, văn minh vì sự
phải triễn và tiến bộ xã bội "; Trần Ngọc Hiến, "ăn hỏa và phát triển - lừ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993; Phạm Văn Dong,
hóa và đối mới”, Nxb Chinh wi quéc gia, [14 NOi, 1994, Phạm Xuân Nam,
"ăn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
+ Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có: lò Giảng Páo, "fm
hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số", Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997
Ngô Vấn Lệ, “Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Nguyễn Khoa Điểm, "ăn hóa truyền thông các dân tộc thiểu số
trong cuộc sống hôm nay", Lạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000 “Góp
phần nghiên cứu văn hóa và lộc người”, †xb Văn hóa Dân tộc, Tạp chỉ văn
hóa nghệ thuật Hà Nội, 2003 “Ké thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thái ở Tây Bắc biện nay (qua thực tế ở tính Sơn T.a}", Luận văn thạc sĩ triết
học, Học viện Chính trị quốc gia Hé Chi Minh, 2006 của Phạm lhị 1hảo
1 Các công trình nghiên cứu nảy cũng đã xem xét, nghiên cứu về văn hóa theo quan điểm duy vật biện chứng, mối quan hệ giữa văn hóa với sự phát
triển và tiến bộ xã hội, văn hóa của các dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với
sự phát triển vả tiến bộ xã hội, tiến lên chủ nghĩa xã hội, vẫn để giữ gìn và
Trang 11phát huy bản sắc văn hóa của các tộc người trong sự vận động và phát triển
của dân tộc
- Những công trình, bài viết về văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ:
! Nguyễn Ilữu Nhân “1ƒch sử người Daa ở Phú Thọ”, Sở Văn hóa
Thông tin Thể thao và Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, 2002 Trần Quang,
“Từ việc nghiên cửu phang tục, tập quản dân tộc Mường, [)ao nghĩ về cuộc
vận động xây dựng nếp sống mới với đồng bào dân lộc Ít người”, Tông tập
VNDSG đất tổ, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao va 116i Văn nghệ Dân gian Phú
Thọ, 2002 Nguyễn Tham Thiện Kế, “Trang phục của người Dao và của
nhóm Dao 1ién”, Sẽ Văn hóa 'Lhông tin Thế thao và Hội Văn nghệ Dân gian
Phú Thọ, 2002 Đặng Xuân Tuyển, “Tục cấp sắc của người Dao quần chẹt
đưới chân múi Vo”, 85 Vin hoa Théng tn Thể thao và Hội Văn nghệ Dân gian Phú Thọ, 2002
+ Những công trình, bài viết trên đã tìm hiểu được lịch sử của người Dao ở Phú Thọ, những nét văn hóa đặc thù của đân tộc Dao, giới thiệu được những phưng tục, tập quản, lễ hội, trang phục truyền thống của người Dao
ở Phú Thợ
Các công trình trên đã làm rõ được một số nội dung cơ bản về nhân tố
chủ quan, mối quan hệ giữa nhân tô chủ quan với điều kiện khách quan, về văn hoá, văn hoá dân tộo Dao, về mối quan hệ giữa các yêu tố khách quan với
văn hỏa, để cập tới vai trò của nhân tố chủ quan trong việc xây dựng va phát
triển văn hóa, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề:
“Vai trò của nhân tô chủ quan trong việc giữ gìn, phát máy bản sắc văn hóa
dan t6c Dao ở tỉnh Phú Thụ hiện nay” Đó chính là hướng nghiên cứu chính
mà đề tài muốn tiếp cận
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn:
- Trên cơ sử hệ thống hoá một số vấn để lý luận cơ bản về nhân Lỗ chủ
quan và vai trò của nhân tố chủ quan; về các giả trị văn hoá dân tộc Dao ở
Trang 12Thú Thọ, luận văn di vào phân tích thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan
với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Dao ở Phú ho, từ
đỏ đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của nhân 16
chu quan trong vide giit gin, phat huy bãn sắc văn hóa đân Lộc Dao ớ tỉnh Phú
'Thọ trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn:
- Hệ thông hoá một số vấn đề Jy hiận cơ bản về nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy ban sắc văn hóa dân lộc
- Trinh bay cac diễu kiện cho sự ra đời của văn hóa Dao, chỉ ra nét đặc thù của văn hóa dân tộc I3ao ở Phú “Thọ
- Phân tích thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ
- Nêu một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng gao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc
Dao ở Phú Thọ hiện nay
4 Dối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: vai trò của nhân tổ chủ quan với
việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Dao
Phạm vi nghiên cứu: dân tộc Dao 6 ‘Tinh Phu ‘lho trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sử lý luận và phương pháp nghiên cứu
5
Cơ sở lý luận:
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênh, tư tưởng 116 Chi Minh, đường lối chỉnh sách của Đảng va Nha nước Việt Nam về vẫn để giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc
- Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã công bố có nội dung liên
quan đến luận văn.
Trang 13%2 Phương phúp nghiên cứu:
Luan vin sit dung các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biên chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử: để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề như lịch sử
và logic, phân Lich và tổng hợp, quy nạp và diễn địch, khái quát hóa, trừu
tượng hỏa
ú Đóng góp cửa luận văn
- Gớp phần tìm hiểu những nét văn hóa đặc thù của dân tộc Dao ở Phủ Thọ
- Tìm hiểu thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn và
phát huy bản sắc đân tộc Dao ở tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số phương hưởng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai
trò của nhân tổ chủ quan trong viéc giữ gin vả phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Dao ở Phú Thọ hiện nay
7 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
Trang 14Chuong 1
MỘT SỐ VĂN ĐỀ LÝ LUẬN VẺ VAI TRÒ CỦA NHÂN TÓ
CHU QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ BẢN SẮC VĂN HÓA DẦN TỌC DAO
Ở PHÚ THỌ TIỆN NAY
1.1 Nhân tế chủ quan và vai trò của nhân tế chủ quan trong việc giữ gìn và phát huy bắn sắc văn hớa đân tộc
1.1.1 Khải niệm: “nhân tô chủ quan”
Mọi quá trình vận động và phát triển của xã hội đều điễn ra thông qua
sự tác động của cái khách quan và cái chủ quan, mà nội dung cơ bản của nó chính là sự tác động qua lại giữa tính quyết định của cái khách quan và tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình hoạt động cãi tạo thế giới của
nhân tế chủ quan của con người Để làm rõ nội hàm khái niêm “nhân tố chủ quan” trước hết cần làm rõ một số khái niệm có liên quan gần đến nó như các khái niệm: “chủ quan”, “khách quan”, “chủ thể”, “khách thể”
- Khái niệm “chủ quan”, “khách quan”, “chú thể”, “khách thể”
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “chủ quan”, tuy nhiên tử
cách tiếp cận triết học có thể hiểu: “Chủ quan là ý thức của chủ thể" [4⁄4, tr.192] Hoặc: “Chủ quan là những gỉ thuộc về chỉ đạo hoạt động của chủ thể"
[51, t.92]
Có lẽ, hiểu cái chủ quan theo cách hiểu thứ hai sẽ chỉnh xác hơn, vì khi
xem xét các hoại động oủa con người với những sân phẩm của họaL động đó
déu thấy: chúng bao giờ dũng chứa đựng những dấu ấn của cái chủ quan TẤU
nhiên không thể coi tất cả những cái mang dấu ấn chủ quan đều thuộc về cái chủ quan Hơn nữa, cái chủ quan cũng không chỉ đơn thuần chỉ lá ý thức như môt số học giá quan niệm mà nó cỏn bao gồm cả yếu tổ thể lực, yếu tổ tỉnh
thần như: trị thức, tình cấm, ý chí của con người, vả chính cả bản thân hoạt
Trang 15động của con người nữa Như vậy, có thể khẳng định: chỉ guan là tắt cả những gì thuộc về chủ thễ và phụ thuộc vào chủ thế
Về phạm trù “khách quan", cũng có nhiều cách hiểu khác nhau Từ cách tiếp cận triết học khái niệm khách quan được hiểu là những gi tồn tại
không phụ thuộc vào ý thức con người, tồn tại một cách tự nó, theo những, quy luật tất yếu trong hiện thực lrên thực tế, khi muốn khẳng định cái gì là khách quan phải đặt nó trong mỗi quan hộ giữa chủ thể và khách thể Khách
quan được hiểu là /ất cả những gì tấn tại ngoài chủ thê và không phụ thuộc
hướng vào nhằm nhận thức và cải tạo nó
‘Theo cách hiểu nảy khách thể chỉ là một bộ phận của thê giới khách
quan, dược con người hướng vào nhận thức vả cấi tạo Khách thể có thể là
những hiện tượng quá trình của giới tự nhiên, cũng có thể là những gì con
14
Trang 16người tạo ra trong hoạt động lao động sẵn xuất, là các quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội
Chủ thể và khách thể có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này lam tiền để cho mặt kia Chủ thế nhận thức và cải tạo khách thể
một cách tích cực vả sáng tạo theo mục dích của mình, nhưng chỉnh khách thể lại quy dinh chủ thể, vì khách thể tổn tại độc lập với chủ thể và luôn vận dộng, thọo các quy luật vễn có một cách khách quan, do vậy, chủ thê phải nhận thức
và hành động theo đứng quy luật của khách thể mới đem lại hiệu quả tích cực
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, chủ thê khi tác động lên khách thể
và biến đỗi nó theo mục đích của mình Không phải lác nào chủ thế cũng sử dụng tẤt cả năng lực, phẩm chất, yếu tỗ vốn có của mình mà chí huy dông một phần, một bộ phận các yếu tổ tạo thành gái chủ quan trong quá trình Lương Lic
với khách thể, cái đó tạo thành “nhân tố chủ quan”
- Khái niệm “nhân tố chủ quan”
Về khái niệm “nhân tố chủ quan” đã có nhiều quan điểm với những nội dung và mức độ khái quát khác nhau Có ý kiến dồng nhất NTCQ với hoạt động có ý thức của con người nói chung, Có quan niệm lại đồng nhất NTCQ với ý thức, tư tưởng xã hội hay hoạt động tự giác của con người Những quan
niệm trên đây có tỉnh hợp lý ở chỗ đã chỉ ra vai trò của ý thúc, tính tự giác
trong hoạt động của cơn người Nhưng chính sự nhắn mạnh nảy lại rất dễ dẫn đến tình trạng “chủ quan hóa” hoạt động của con người Về vấn để này A K V Ledép đã viết: “ Nhân tố chú quan không phải lả ý thức nói chung (cũng hệt
như hoạt động), mà là cái ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích va phương châm của hoạt động Nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành VI của hoạt động của chủ thé” [60, tr.69]
Như vậy, giữa NTƠQ và chủ thể có sự thống nhất nhưng không dẳng nhất Sự thẳng nhất biểu hiện ở chỗ: nhân tế chủ quan thuộc về chủ thể, song,
khác nhau ở chỗ: nhân tổ chủ quan là khái niệm chung chỉ những yếu tố, đặc
Trang 17trưng cầu thành phẩm chất của chú thể, được chủ thể huy động và trực tiếp
tạo ra năng lực cũng như động lực của chủ thể nhằm nhận thức hoặc biến đổi khách thể cu thé Vi vay, AK.V Le dap khẳng định: “ Không phải chính
các giai cấp, tập đoán, đẳng phải, nhà nước ma là những thuộc tính, những
phẩm chất, những trạng thái của chúng biểu hiện trong hoạt động đóng vai trò
nhân tế chủ quan” [ó0, tr.67]
Thoo tách tiếp cận của triết học Mác-Lênin, có thể hiểu
*Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể (thuộc về con người), tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động của chủ thể và cả bản thân hoạt
động đỏ” [32, tr.16]
Như vậy, NTCQ không phải là mọi yếu tổ tạo thành cái chú quan, mà
nó chỉ là cái trực tiếp tham gia vào hoạt động của chủ thể, NTCQ lá một bộ
phận của cái chủ quan được chủ thể huy động sử đụng trực tiếp trong qua trình tác động lên khách thể của chú thể NLCQ không phải là ÿ thức nói
chung của chủ thể, mà nó là ý thức trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chủ thể
Ngoài các yếu tố như năng lực thể chất, ý thức chỉ dạo và dịnh hướng hoạt
động thực tiễn tì NTCQ còn bao hàm ngay cả bản thân hoạt động đó nữa,
riểu thiểu hoại động sủa con người số không thay đổi được hiện thực và không thể trở thành NTCQ
Cũng cần lưu ý: khải niệm NTC(1 cũng không đồng nhất với khái niệm nhân tổ con người Nhân tố con người là tất cả những gi thuộc về con người trong hoạt động cái lạo thé giới, NTCQ có phạm vi hẹp hơn nhân tế con
người vi nó chỉ thể hiện vai trò của chủ thể trong một hoạt động xác định
Về mặt cấu trúc, NTCQ baa gầm: Tri thức, ý thức, tỉnh cảm va năng
lực tổ chức hoạt đông thực tiễn của chủ thể, được biểu hiện ra trong hoạt dong
của chủ thể Những phẩm chất này bao giờ cũng có hai mặt tích cực hoặc tiêu cực Trong câu trúc của NTCQ, các nhân tổ cầu thành đều có vai trẻ quan
trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đa số các nhà nghiên cứu cho
16
Trang 18rằng nhân tổ tri thức là cơ bản nhất vì nó là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh
với nhau sẽ tạo thành nhân tê chủ quan
Nói tới NTCQ là nói tới hoạt động có ý thức của chủ thể để sáng tạo ra lịch sử là nói tới những hoạt đông thực tiễn của họ để giải quyết những
nhiệm vụ lịch sử nhất dịnh Mác viết: “Tư tưởng căn bán không thực hiện được gì hết Muốn thực hiện tư tưởng thi cần có những con người sử dụng lực
lượng thực tiễn" [34, tr76] Như vậy cầu thành NTCQ còn bao gầm cả quá trình hoạt động thực tiễn của chủ thể đối với một khách thể xác định
Gắn liên với khái niệm N'LCQ cũng cần làm rõ về “điều kiện khách
quan” Khi nói tới ĐKKQ, các học giả cũng đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau như “ĐKKQ là những gi tao nên một hoàn cảnh hiện thực”, “ĐKKO là
một phần uủa cái khách quan”, tuy nhiên, nó đều thống nhất với nhau ở một quan điểm cơ ban la: “BKKQ 14 nhimg gi tồn tại không phụ thuộc vào ý thức,
ý chí của chủ thế và chỉ phối hoat đông của chủ thé” [31, tr.16]
Chúng tôi thống nhất với quan điểm: 2KKQ là tổng thể những mặt, những nhân tố tạo nên hoàn cảnh hiện thực, trong dé chủ thể sống và thực
hiện mọi hoạt động ở những thời điểm nhất định
ĐKKQ luôn mang tính cụ thể, nó chính là những yếu tế vật chất, tỉnh
thần, những quy luật khách quan, những khá năng tiểm ấn có thể xảy Ta trong
tương lai Đây là những diễu kiện cụ thể để tạo nên hoàn cảnh, môi trưởng, ảnh hướng trực tiếp tới hoạt déng của chủ thể tại một thời điểm lịch sử nhất
định Nó quyết định hoạt động của chủ thể, đo vậy việc lựa chọn nắm bắt
Trang 19hoan cảnh như thể nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động thực tiễn của chủ thể
Giữa NTCQ và ĐKKQ có mỗi quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, trong đó: DKKQ quy định vai trò của NTCQ còn NTCQ có tác động đến sự
biển dỗổi của 1KKQ Trong mối quan hệ này, ĐK.KQ là tính thứ nhất, quy dịnh NTCQ cả về nội dung, phương hướng và hoạt động thực tiển Nhưng, NTCQ không bị động trước hoàn cảnh mà luôn lấy ĐKKQ làm điểm xuất
phát, tồn trọng và hành động theo quy luật khách quan NTCQ lả những cái thuộc về chủ thể, cho nên nó không thụ động trước ĐKKQ Vai trò tích cực, sáng tạo của NICQ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động xã hội, cùng với sự chin
muỗi của những yếu tổ khách quan thì cũng phãi có sự chin mudi của NTCO
mới có thể biển khả năng trở thánh hiện thực Thực chất vai trỏ của NTƠQ ở
đây chính là sự phát hiện ra những khả năng khách quan trên cơ sở những điều kiện, phương tiện vật chất vốn có của hoản cảnh để biến đổi hoàn cảnh
theo quy luật vận động vốn có của nó,
Muốn phát huy vai trỏ của NTOQ không thể tách rời những ĐKKQ dang có, không thể hoạt dộng một cách tủy tiện, không tính tới các quy luật
ăn thân chủ thể
của tự nhiên, xã hội Đó phải lả sự biển đổi không ngừng củi
mới có thể thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, cải tạo thể giới khách quan thành công, ngày cảng nâng cao hơn chất lượng cuộc sống cho con người cả
về vật chất vả tỉnh thần và ngày cảng hoản thiện chính bản thân con người
1.12 Văn hẳu và bản sắc vấn hóa dân tộc
- Một số khái niệm cơ bản về văn hóa và bản sắc văn hóa đần tộc
Khải niệm văn hóa: Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, song,
khái niêm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính: nghĩa rông
và nghĩa hợp
Tho nghĩa hợp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc thco chiêu
rộng, theo không gian hoặc theo thời gian Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa
Trang 20được hiểu là những giá trị tỉnh hoa của nó (nếp sống văn hỏa, văn hóa nghệ
thuật ) Giới hạn theo chiểu rộng, văn hỏa được dùng để chỉ những giá trị
trong từng lĩnh vực (văn hóa giao liếp, văn hóa ứng xử ) Giới hạn theo
không gian, văn hóa đủng để chỉ các giả trị đặc thủ của từng vủng (văn hóa
'Tây Nguyên, văn hóa đồng bằng Bắc Hộ ) Giới hạn theo thời gian, văn hóa
được dùng đế chỉ các giả trị trong từng giai đoạn (văn hóa Hùng, Vương, văn
hóa Đông Son ) |58, tr.5-6]
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là tht cả những gi con người sáng tạo ra Chủ tịch [lễ Chi Minh cho rằng:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đỉch của cuộc sống, loài người đã sáng tạo
và phát mình ra ngôn ngữ, chữ viết, dạo dức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngáy về ăn, ở, mặc và
các phương thức sử đụng, toàn bệ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tống hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu dời sống và
đài hỏi của sự sinh tồn [40, tr.431]
Federico Mayo, Tổng giám đốc UNESCO đã viết trong tạp chí Người
đa tin UNESCO (số 11- 1989) như sau: “Đi với một số người, văn hóa chỉ
bao gồm các kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tao; đổi với
những người khác, văn hóa bao gồm tit cd những gi làm cho dan tộc nảy khác
với dân tộc khác, từ những sản phẩm tỉnh vi hiển đại nhất cho đến tín ngưỡng,
phong tục tập quán, lỗi sống và lao động Cách hiểu thir hai nay dã được cộng dang quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa hợp năm 1970 tại Venise” [58, tr.18]
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1998), Tổng thư kýý UNESCO định nghĩa
Vấn hóa phan anh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt
me a a a vue on của cuộc sống (của mỗi cá nhân và oộng đồng) đã dién ra trong quá khử, cũng
Trang 21như dang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thé kỷ, nó đã cấu thành nên một
hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lỗi sống mả dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [S6, tr.23]
Như vậy, UXESCO thừa nhận văn hóa là gội nguồn trực tiếp của phát
triển xã hội, có vị trí trung tâm và dong vai trò điểu tiết xã hội Nó không, những là yếu tế nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu đồng lực cho sự phát triển xã hội Văn hỏa giúp cho con người Lự hoàn thiện nỏ quyết định
tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Nghiên cứu về văn hỏa, các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định
nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tắt cả những sản phẩm vật chất vá không vật
chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xứ thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một
cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau" [28, tr.11] Định nghĩa nay nhân mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị
các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi Van để cần được nhấn mạnh ở
dây là trong khái niêm văn hóa, diều quan trọng là phải dược thừa nhận hoặc
có nhiều khả năng dược thừa nhận trona một nhóm xã hội, và được truyền bá
cho các cá thể hoặc các nhóm trong công ding
*Văn hóa là l:hái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tông thế các hệ thông giá tri -
cả giá trị vật chat va giá trị tĩnh thân do con người sáng tạo ra trong hoạt động
thực tiễn và lịch sử xã hôi của minh” |47, tr.14|
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Chúng ta có thể khẳng định: Văn hóa là một hệ thông hữu cơ các giả trị (vật chất và tình thân, tinh
va động, vat thé và phi vat thé ) do con người sáng tạo ra và tích lip qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường xung quanh
Lịch sở văn hóa là lịch sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn
hóa và văn hóa làm cho con người trổ thành người Điều đó có nghĩa là tất cả
20
Trang 22những gi ign quan dén con người, đến mọi cách thức tổn tại của con người
đểu mang trong nó cái gọi là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tỉnh thần, là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sân xuất vật chất và lĩnh vực sẵn xuất tính thân của cơn người Từ đó, văn hóa
được chia làm hai lĩnh vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tịh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là "văn hóa vật chất" về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hỏa” các giá trị tnh thần, và các giá trị văn hỏa tinh thần không phãi bao giờ cũng tồn tại một cách thuần tủy
tỉnh thần, mả thường được “vat thé hóa" trong các dạng tôn tại vật chất Ngoài
ra, còn các giả trị tỉnh thân tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tổn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vục đạo đức, giao tiếp,
ting xử, lối sống, phong tục tập quán
Ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hỏa của dân tộc thường được hiểu
theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hep, văn hóa dân tộc đồng
nghĩa với văn hóa của một tộc người, văn hỏa dân tộc hoặc văn hóa tộc người +
tộc danh, là một chỉ tiết của văn hóa nói chung Pham vị rộng, văn hóa dân tộc là
văn hỏa chung của cả công đồng tộc người sống trong cùng một quốc gia
Văn hóa tộc người là toán bộ những giá trị vật chất và tính thần, cũng
như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ
của một tộc người, phản ảnh những nhận thức, tâm lý, tỉnh cảm, tập quán
riêng biệt được hinh thành trong lịch sử của tộc người đó ở các quốc gia da
dân tộc, văn hóa của các tộc người dan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cá công đồng dân tộc, và mỗi nền văn hoa đều gó những giá trị riêng của nó
— Giá trị vấn hé:
“là cai dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá,
so sánh nên văn hóa của đân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái
để xác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền
21
Trang 23thống, phong tục, tập quán, lỗi sống của một dân tộc trên nền táng các giả trị chân, thiện, ích, mỹ” [44, tr 19]
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sông của mỗi cá nhân, cộng đồng,
dân tộc Mục dích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn thiên của mỗi cá nhân và của cộng dồng, dân tộc Mặc dù, tiêu chuẩn của các giá trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là khác nhau
Giá trị văn hóa còn mang tính khách quan, không phụ thuộc vảo bất cứ cái gì
từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng đổng, một dân tộc không thế căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí xem
xét, dánh giá nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát triển hay không diễu dó sẽ rơi vảo bệnh chú quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp đặt về văn hóa
Có thể nói, giá trị văn hỏa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã
đi truyén xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, đân tộc đó,
đã dược tích lũy lắng dọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ Công dồng sẽ bên vững khi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yêu tố quyết định nhất của
một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mắt truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [46,
+r.13] Một dân tộc đánh mắt bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính
mình, một nền văn hóa có tinh dẫn tộc, là nền vin hoa mang day di ban sắc
của dân tộc Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giả trị văn hóa tạo nên
bắn sắc văn hóa của dân tộc, là vấn dé cỏ ý nghĩa hết sứu lớn lao đối với sự
À 3a aki dan th
tôn vong của mỗi đân tộc
- Khái niệm bản sắc văn hóa dân
Trang 24án sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lỗi, nội dung, bản chất của một
xiên văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nên văn hóa một
dân tộc Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật
chất và tỉnh thần, vật thể và phi vat thể Các giả trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghỉ và phát triển qua các giai
đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc Những giá trị văn hóa ấy, chơ dù
có trải qua những thăng trằm, biển cố của lịch sử nó không những không mất
di, mà củng với thời gian, nó cỏn tiếp nhận những cái hay, cái dẹp, cái phủ
hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóa dan téc minh, lam cho nó là nó chứ không phải là cái khác Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, ý thức của một cộng đồng, bao
pm: cội nguồn cách tư duy, lỗi sống, truyền thống, sảng tạo vẫn hóa, khoa học kỹ thuật
Khải niệm bản sắc văn hóa có hai quan hệ cơ bản: quan hệ bên ngoài là
đấu hiệu phân biệt các cộng đồng với nhau, quan hệ bên trong chỉ tính đồng
nhất mà mỗi cá thể trong công đồng phải có Bán sắc văn hóa là sức manh nội
tai của dân tộc Nó là hạt nhân năng động, nhất trong toàn bộ tinh thần sảng,
tạo truyền từ dời nảy qua dời khác Bán sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn
là chính mình:
Một đân tộc qua cáo biến cố lịch sứ một lúc nào đó, một thời đại nào đó
có thể mắt độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dan téc ay vẫn giữ được
tiếng nói của minh, vẫn giữ dược vốn văn nghệ dẫn gian, vẫn giữ và phát triển được bán sắc văn hóa của mình, thì dân tộc Ấy vẫn năm chic trong tay chia khóa của sự giải phóng, chia khóa của tự do, độc lập |9, tr.18|
Bản sắc văn hóa côn là mỗi liên hệ thường xuyên, có định hướng của
cái riêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cổng hiển những gì đặc sắc của mỉnh vào
kho tảng văn hóa chưng Đông thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành gia
23
Trang 25tri cla minh, tao ra su khac biết trong cải đồng nhất đó chính là bản sắc văn hỏa của một đân lộc Ban sắc văn hỏa dân Lộc không phải là một biểu hiện
nhất thời, nó có mối liên hệ lâu đài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc
Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường dược biểu hiện thông, qua văn hóa Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóa dân tộc: “Bản sắc chính lả văn hóa, song không phái bất cứ yếu tổ văn
hỏa nào cũng được xếp vào ban sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa
ảo giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới
băn sắc riễng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lỗi
của bản sắc dân tộc Bởi bản sic oda din tộu không thể biểu hiện ở đầu đầy đủ
và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định
sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy
Hản sắc văn hóa đân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tỉnh thần bên trong,
và biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đây nhau phát triển Văn hóa không được rén dic trong lòng đân tộc dé
có bản lĩnh, trổ thành sức mạnh tiêm tang bền vững thì bản sắc dân tộc của
văn hóa sẽ mờ phai Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mit đi những màu
săc riêng biệt, độc đáo của mỉnh, sẽ lảm vơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa
Nguồn pốc tạo thành ban sắc văn hóa dân tộc có thể đo nhiều yếu tố
như: hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chúng te, đặc trưng lâm lýỷ, phương thức
24
Trang 26hoạt động kinh tế Nhưng bản sắc văn hóa đân tộc, không thể không xuất phát Lừ những yếu tổ tạo thành đân lộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là
bình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đông, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị HCH 'TW lần thử V khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ
Bán sắc dân lộc bao gồm những giá trị bên vững, những linh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đấp nên qua lịch sử hàng ngàn nấm đâu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nỗng nản, ýý chỉ
tự cường dẫn tộc, tĩnh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia
đình - làng xã - Tổ quốc Bán sắc văn hóa đân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc dộc đáo |16, tr.21]
Tin sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyền thống văn hỏa là các giả trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nỗi, khai
thác và phát huy trong thời dại của họ dễ tạo nền dòng chây liên tục của lịch sit van hóa các dân tộc Khi đã dược hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vì của cả nhân
vả cộng đồng Tưy nhiên, khái niệm bản sắc văn hỏa không phải là sự bất biến, cổ định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể
'Irong quá trình nảy nó luôn đảo thải những yêu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập
những yếu tố mới dể thích nghĩ với dòi hỏi của thời dại Truyền thống cũng, không phái chỉ bao ham các giá trị do dẫn tộc sảng tạo nên, mà cón bao ham
cá các giả trị từ bôn ngoài được liển nhận một cách sáng tạo vả đồng hóa nó,
biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc
Văn hỏa truyền thống các dân tộc thiểu sổ gầm nhiều loại hình, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên
giá trị Lo lớn lá nền Láng bền vững của bản sắc dân Lộc Nguồn nuôi dưỡng vô
Trang 27tn tim hén va déi séng tinh than cia déng bao cac dân tộc Đây là kho của
cai v6 gid, di sản vô củng quý báu của văn hóa Việt Nam Việc nhận diện
đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc (hành viên là việc làm hết
sức có ýý nghĩa Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dan
tộc phải có sự chặt chẽ, hài hòa vả thực hiện theo định hướng, đường lỗi của Đảng, Nhà nước và ý thức dân chủ tự nguyên của nhân dân
- Những yêu lỗ lắc động tới bản sắc văn hóa dân lộc:
Thú nhất: sự tác động của môi trường kinh tế
Văn hóa và kinh tế là hai phương điện khác nhau của dời sống cơn người, nhưng piữa chúng có mối quan hệ gắn bó với nhau Trong mỗi quan hệ
đó, cơ sở kinh Lễ sẽ quyết định nội dưng, tính chất, hình thức biểu hiện của văn hóa
C.Mác và Ph.Ägghen khi tiển cận văn hóa dưới góc độ chính trị học đã
chỉ rõ nguồn gốc phát sinh của văn hóa chính là từ cơ sở kinh tế, nên kinh tế
như thể nảo thi sẽ sẵn sinh và quy dịnh sắc thái văn hóa của xã hội như thể Ấy Nghị quyết Trung ương năm (khóa VI) Đáng công sản Việt Nam đã viết
“Văn hóa là kết quả của kinh tế đẳng thời là động lực của sự phát triển kinh
tế Các nhân tố văn hỏa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoại động xã
hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương
biển thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển [16, tr.55]”
Trong thời dại hiện nay, trước xu thể toàn cầu hóa, văn hóa va ban sắc
văn hóa dân tộc chắc chắn sẽ có nhiều sự biến đối Khi hội nhập kinh tế quéc
tế sẽ đem lại nhiều cơ hội phát triển và tiến bộ cho xã hội bởi nó trực tiếp thúc dây quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác quốc tổ, đẩy nhanh sự chuyên môn hóa sẵn xuất trong các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau
Các vấn đề liên quan téi nhu cầu cuộc sống của con người được thỏa mãn một cách tối đa, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng cao rõ rệt, mỗi
quan hệ giữa truyền thông và hiện đại trong văn hỏa theo dó cũng dược khẳng
26
Trang 28dịnh Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của thông tin đã tạo ra
những điều kiện thuân lợi cho việc truyền bá, lưu giữ, bảo tổn và phát triển
những giá trị văn hóa đặc sắc của đân tộc Nó cũng tạo cơ hội lớn cho việc
giao lưu, tìm hiểu, tiếp thu những tmh hoa văn hỏa của nhân loại để làm giảu
thêm truyền thống văn hóa của đân tộc mình
Hên cạnh đó, khi hội nhập kinh tế quốc tế, con người không chỉ tiếp thu mặt tích cực mà còn tiếp thu cả những ảnh hưởng tiêu cực của nó Đỏ là i sống thực dựng, ích ký, mê dim loi ich val chất và xu hướng lảm giảu không
lành mạnh Nó dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo, sự suy thoái về dạo đức và sự
tôn thờ những văn hỏa lai căng, nó làm cho tệ nạn xã hội ngảy càng tăng lên
Không chỉ có vậy, sự phụ thuộc ngày cảng lớn của các nước nghèo vào những nước giàu dẫn tới nguy cơ bị đẳng hóa về văn hóa, dần dần đánh mắt đi bản
sắc văn hóa truyén thống của đân tộc mình Trong tình hình ấy, văn hóa của các dẫn lộc ít người cững bị ảnh hưởng và tác động không nhỏ: kết cấu hạ
tầng (điện - dường - trưởng - trạm) dược dẫu tư dễ kinh tế đồng bào phát triển
nhưng ngược lại cũng làm mất dần đi cối xay tay, cấi giả gao Cơ chế thị trường, kinh tế hàng hóa phát triễn thi nhà sản, khung cửi, quần áo dân tộc
cũng mai một dần, thị trường âm nhạc ngảy một rằm rộ, cáo kênh thông tin và giải trí ngày cảng nhiễu thì nhu cầu thưởng thức ãm nhạc dân gian cũng ngày
càng giảm, thậm chi nếu không muốn nói là cỏ nguy cơ mắt hẳn
Tuy nhiên, cũng không thé không thừa nhận: quốc tế hóa là một xu thể
khách quan của lịch sử, nó sẽ còn tiếp tục phát triển, và chắc chắn nỏ diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người l2o đó, mỗi quốc pia cần nhận
thức đúng đắn bản chất của thời đại, lựa chọn đúng đắn con đường phát triển
để hạn chế thấp nhất những tác động tiều cực của toàn cầu hóa
Thứ hại: lào động của lĩnh vực chính trị - tư tưởng,
Quá trình hợp tác và giao lưu văn hóa với các quốc gia khác dã tạo cơ
hội mở rộng khá năng tiếp thu những tỉnh hoa văn hóa nhân loại, làm cho đời
sống của con người ngày cảng được nâng cao Nhưng củng với nó, các thể lực
27
Trang 29thù địch cũng thường xuyên lợi dụng chính trị - tư tướng dễ tuyên truyền các
quan điểm sai trái, những 161 sống không lành mạnh nhằm lôi kéo quần chúng nhân đân vào những hoạt động chồng lại lợi ích của chính quốc gia ấy Qua đó, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộo, Lính thống nhất bền vững văn hóa của dân tộc đó
Sử dụng chiến lược “diễn biến hòa binh”, các thể lực phản cách mạng đừng các hình thức tuyên truyền, quảng bả với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ như: Tntenet, truyền hình vệ tính tần công vào hệ tư tưởng và văn hóa
XHƠN, đặc biết là tư tưởng của giới trê nhằm xóa nhòa bản sắc vẫn hóa dân
tộc, mục đích cuỗi củng lả đồng hóa văn hóa toản thé giới Bởi vậy, đề lưu
giữ dược bản sắc văn hóa dân tộc, không bị đồng hóa thì vấn dề hết sức quan
trọng là vai trò của N'LCQ - của chính bản thân con người
Thứ ba: tác dông của dạo dức, lỗi sống, nhu cầư hưởng thụ văn hóa
Những yếu tố như đao đức, lỗi sống, nhu cầu hưởng thu văn hóa mà
chúng ta đề cập thuộc lĩnh vực ý thức xã hội, nó tổn tại vả phụ thuộc vào môi
thực chất, nó chính
trường, vào thời điểm lịch sử mả cơn người đang sống, Ví
là hệ quả của quả trình phát triển và tác động của kinh tế dến công đẳng Tuy
không tác động trực tiếp nhưng có thể thấy những yếu tố trên lại ảnh hướng
rất lớn đến sự hưng thịnh của dời sống xã hội, Lừ kinh tế, chính trị dến văn
hóa của một quốc gia Những yếu tổ này phụ thuộc nhiều vào môi trường xã
hội, vào kinh tế, vào điều kiện lịch sủ nên không thể tránh khỏi sự đan xen, đầu tranh giữa những yếu tố tích cực và Liêu cực trong văn hóa
Trong đời sống hiển nay, những quốc gia dang phát triển luôn luôn
quan tâm tới các chính sách nhằm điểu chỉnh mọi biển đổi trong đời sống tỉnh thần của xã hội Bên cạnh những yếu tế tích cực như sự năng động ngày cảng tăng lên trong đời sống tỉnh thần của cơn người, sự nhạy bén iiếp thu cáo giá
trị văn hóa mới tiển bộ thí những biểu hiện tiêu cực dang điễn ra ngày càng
nhiễu Dó là lối sống cá nhân, thực dụng, vi tiền, ham vật chất, lỗi sống buông
thả, sùng ngoại, bài xích, quay lưng lại với văn hóa truyền thống đang cảng
28
Trang 30ngay cang nhirc nhéi Hién nay, mét bd phận dân cư (chủ yếu là giới trẻ) đang,
có tư tưởng sính ngoại, lỗi sống buông thả, coi thường pháp luật, coi thường
nd nếp gia phong và làm biến dạng các giá trị chân - thiện - mĩ truyền thống
Cuộc sống công nghiệp hiện đại ngảy nay cũng tạo áp lực lớn cho oan người, khiến họ dễ lao vào những cuộc ăn chơi nhằm giải tỏa áp lực, và họ tìm dến
với văn hóa ngoại lai, còn những giá trị văn hóa đân tộc muốn hưởng thụ nó
đời hới phái có thời gian, sự thư thái và sự trãi nghiệm xem ra không hợp với
nhu câu của họ Hơn nữa, những hủ tục, tập quán lạc hậu trong xã hội cũ vẫn còn tồn tại đai đẳng trong nếp nghĩ của nhiều tầng lớp người trong xã hội mà muốn thay đổi được nó, cũng cần có một thời gian khá dải Một số nơi còn
biển chính sách bão tồn văn hóa thành địp để trục lợi, để hành nghé mé tin di
đoan Tắt cả những biểu hiện phi văn hóa ây đang kìm nén, niu kéo quá trình
hội nhập văn hóa thế giới của các quốc gia
Những giá trị, bản sắc văn hóa lâu đời của dân tộc đã và đang bị ảnh
hướng không nhỏ bởi chỉnh những biển động nhiều chiều của dạo dức, lối
sống, nhu cầu hưởng thụ văn hóa Nó vô hỉnh chưng đã làm cản trở cả quá trình phát triển kinh tế- xã hội, quá trinh hội nhập kinh tế của các quốc gia
To vậy, vai trò của NTCQ cần phái được nâng eae trong van dé gin pitt va phát huy bản sắc văn hóa dẫn tộc
không chỉ các yếu +6 trên, một số phương diện xã hội khác như pháp luật, tôn giáo cũng tác động không nhỏ tới vần đề văn hỏa Để vừa gìn giữ,
vừa phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc thì đỏi hỗi su lich ewe, sing tao không ngừng của NTCQ trong hoạt động thực tiễn
1.1.3 Vai trò của nhân té chit quan trong giit gin va phat huy bin
sắc vẫn hóa dân tộc
Trong việc giữ gìn, phát huy bắn sắc văn hỏa đần tộc, nâng cáo vai trò
của NTCQ chỉnh là việc nâng cao tính chủ dộng, tỉnh tích cực của chủ thể
hoat đông trong hoạt động thực tiễn nhằm đạt mục đích đã đề ra Như trên đã phân tích, nhân tố chủ quan của chủ thể ở đây bao gồm: bộ máy chính quyền
29
Trang 31nhả nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và người dân củng,
với toàn bộ tri thức, tỉnh cảm, ý chí, năng lực hoạt động thực tiễn của họ tác động tới văn hóa
- Những biểu hiện chủ yếu của vai trò NTCGQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đân tộc
Thú: nhất: vat trò của các chủ thê lãnh đạo thể biện trong việc phải hop
lãnh dạo, chỉ dạo, xây dựng và thực hiện kế hoạch giữ gìn và phát huy bản
xắc văn hóa (ân lỘc
Trước hết, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thế hiện trong việc lãnh đạo của Dảng Cộng sản nhằm xây dựng và ban hành những chủ chương, đường lỗi, chính sách phục vụ cho hoạt đông văn hóa
Trong nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) Đáng cộng sản Việt
am đã ghi rõ: “Xây đựng văn hóa là sự nghiệp của toản dân do Đảng Cộng sắn lãnh đạo” [16, tr.16] Xây đựng, bảo vệ và phát triển văn hóa lả sự nghiệp
của toàn dân, trong đó tổ chức Dảng không chỉ có vai trò chủ chốt vạch ra
phương hướng, chiến lược, sách lược, nhiệm vụ và các giải pháp lớn để lãnh dạo, chí dạo thực hiện thánh công các nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa theo đứng định hưởng XHƠN mà còn cỗ việc tạo ra những điều kiện, tiền
đề cho việc hiện thực hóa những nhiệm vụ đó Các hoạt dộng liên quan đến
văn hóa hết sức đa đạng và phong phú, nó đòi hỏi phải có sự phối hợp, thống nhất chặt chẽ của các tổ chức, nó đòi hỏi chủ thể lãnh đao phải có phẩm chất
đạo đức tốt, có năng lực nghề nghiệp, có tâm huyết, có trí tuệ, có hiểu biết sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội Có vậy họ mới có thể dưa ra dược những, quyết sách hợp lý, đúng đẳn, đảm bảo sự hai hòa và biện chứng giữa các yếu
tố chính trị, kinh tế, đạo đức với văn hóa, những quyết sách đưa ra phải cỏ
tính thuyết phục cao để thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia Có một thực tế
dé nhận thấy là đôi khi chủ trương, đường lỗi, nghị quyết thì đứng nhưng,
30
Trang 32khâu tổ chức lại gấp yêu kém, từ đó dẫn dễn việc thực hiện lại chưa đứng
Trinh độ của các cấp ủy, ban ngành, đoàn thể một số nơi chưa đáp ứng được
yêu dầu cho nên nảy sinh mâu thuẫn giữa chủ trương với thực tiễn quản lý đời
sống văn hóa ở các địa phương Do vậy, tính thống nhất của các thiết chế xã
hội sẽ tạo tính khả thị cao cho các hoạt động thực tiễn về vấn đề văn hỏa Chính các cơ quan ở địa phương là người nằm rõ nhất thực tiễn văn hóa ở địa phương ấy, vì hơn ai hết, là người sinh sống ở dó, họ là người nắm rõ hoàn
cánh, phong tục tập quản, suy nghĩ vả lỗi sống của nhân dân ử địa phương
minh, Béi vay, các chính sach của nhả nước phải bám sát vào thực tiễn, gắn
với các cơ quan công quyền ở địa phương Bên cạnh đó, tổ chức Ding cũng còn có vai trò lựa chọn, phát hiện và bồi đưỡng năng lực cho cán bộ và hình
thành nên cơ chế phổi hợp cho các ngành theo quan hệ hàng dọc hoặc hàng, ngang tử trung ương đến địa nhương nhằm đảm báo tính thống nhất và chặt
chế trong gác hoạt động văn hóa
Bén canh đó, ching ta thay vai tro cha NTCQ trong việc giữ gin và phát huy ban sắc văn hóa dân tộc còn được thế hiện trong hoạt đông của Nhà
nước và chính quyền các cấp với các hoạt động văn hóa
Đây là yếu tổ mang tính cơ bàn bởi đường lỗi, chủ trương, chính sách
của Đảng được thực hiện thông qua chính hoạt động quân lý và điều hành nay
của các cơ quan nhà nước Iloạt động phối hợp quản lý, diéu hành của Nhà nước và các cấp chính quyền từ Irung ương đến địa phương trong tat cd cdc
lĩnh vực cúa dời sống xã hội, đặc biệt là kế hoạch dầu tư, phát triển kinh tế -
xã hội có tác động rất lớn dến sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Các cán bộ quán lý với trị thức khoa học, trí thức nghiệp vụ và năng lực điều hành
của họ sẽ sử dụng các lực lượng vật chất và tinh thần sẵn có để tác động lam biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích nhất định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một mỗi trường văn hóa với các hệ thống giá trị tốt đẹp của nó Hơn nữa, trong quá trỉnh phôi hợp hoạt động các cán bộ quản lý
31
Trang 33điều hảnh cũng có điều kiện bồi đưỡng năng lực cho bản thân, nâng cao vai trò của NTCQ, đâm báo tính hiệu quả trong hoạt động của mình
Không chỉ có vập, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa đân tộc thể hiện trong hoạt động của các đoản thể nhân dân
Các tổ chức doản thể bao gồm: Đoản thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông, dân và đứng đầu là Mặt trận Tổ quắc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức
đoàn thể này phối hợp hoạt động với nhau, với nhà nước, với chính quyền các cấp, đặc biệt là với các cơ quan quản lý văn hóa nhằm vận động, thu hút quần chúng nhân dân tạo nên sức mạnh tông hợp, thực hiện các chương trình kinh tế,
xã hội, làm sống dậy các phong trảo giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa
Vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hỏa dân tộc còn thể hiện trong hoạt động phối hợp hoạt động của các tổ chức đoàn thể
nhân dân thể hiện trong cơ chế phối hợp một cách khoa học các hoạt động của các tổ chức vả khả năng hoạt động thực tiễn của bản thân mỗi chủ thể Trong
hoạt động thực tiển, vai trò của các chủ thể thể hiện
~ Nắm bắt tâm tư, nguyên vợng của quần chúng nhân dân, phát hiện những hiện Lượng tiêu cực, những tư tưởng lệch lạc, bên cạnh đó còn phát hiện cả ra những nhần tổ mới tiến hộ, những khả năng khách quan có lợi cho
sự nghiệp phát triển văn hóa, nhân rộng điển hình và tạo điều kiện thuận lợi
để biển khả năng thánh hiện thực
- Phát hiện những điểm bất hợp lý trong cơ chế, chính sách, những yếu
tổ cán trở tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân Từ đỏ góp phần hoản thiện cơ chế, chính sách vả hành lang pháp lý cần thiết để có thể vừa
đâm bác sự tự đo hướng thụ văn hóa, vừa đấm bảo tính định hướng và mục
tiêu phát triển của đất nước
Cuối cùng, vai trò của NTCQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc còn th hiện ở hoạt dộng của các cấp nưành văn hóa thông tin
trong quản lý, hướng dẫn các hoạt động văn hóa
Trang 34Ngành văn hóa thông tin 1a nganh chuyển trách về văn hoá nên vai trò
của các chủ thể trong ngành văn hóa với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hỏa dân lộc là rất quan trọng Nó thể hiện rong nhiệm vụ: (ham mưu với các
cấp ủy Dâng, chính quyền và đoàn thể nhân dân về những định hướng, giải
pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác văn hóa thông ta thuộc thắm
quyền mình phụ trách Nó cũng thể hiện trong việc tỗ chức hướng dẫn và triển khai
triển kinh tế, xóa đói giâm nghẻo, chính sách bảo tổn, phục dựng văn hóa đâần
tộc Ngảnh văn hóa thông tin cũng thể hiện vai trò của mình trong việc
tuyên truyền, đuy trì thường xuyên các hoạt động văn hỏa, thu hút các tầng
lớp nhân dẫn tham gia sáng tạo, phổ biến và hưởng thụ các giá trị văn hỏa Ngành văn hóa théng tin cũng lồn kế hoạch trang bị những phương tiện phục
vụ cho các phong trào hoạt động, khuyến khích nhãn dân chủ động tìm hiểu,
bảo tồn và hưởng thụ văn hóa đưới nhiều hình thức,
Như vậy vai trò của NICQ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoa dân tộc thế hiện qua sự tổ chức hoat động một cách đồng bộ của các thiết
chế văn hóa Nó là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò lãnh đạo của tập thể với
vai trẻ của cá nhân phụ trách Các hoạt động giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hỏa dân tộc của các chủ thể với toàn bộ trí thức, năng lực của họ thể hiện sự
sáng tạo, nghiêm túc của mọi ban, ngành từ Trung trơng đến địa phương trong các hoạt động văn hóa
Thứ hai: Uai trò của quân chúng nhân dân thê hiện trong tính tích cực,
chủ động, sáng tạo đối với việc giữ gìn và phái huy bản sắc văn hóa dân tộc
Chúng ta đã dé cập tới vai trò lãnh đạo của Dảng, vai trò quản lý của Thả nước, vai tro xây dựng và hỗ trợ văn hóa của các đoàn thể nhân dân, nhưng cần khẳng định rằng: chủ nhân thực sự của nền văn hóa dân tộc trong,
mọi thời dại chính là quần chúng nhân dân Quần chứng nhân dân vừa là
33
Trang 35người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, vừa là người hưởng thụ, lưu truyền, gin
giữ những giá trị văn hóa ấy Đề cập tới vấn đề này, danh nhân văn hóa 113
Chi Minh đã nói: “Quần chúng là những người sảng Lao, công nồng là những,
người sáng tạo Nhưng quần chúng không phải chỉ sảng tạo ra những của cải
vật chất cho xã hôi Quần chúng sỏn là những người sáng tác nữa Những câu tục ngữ, những câu vẻ, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng”
139, tr.250]
Quần chúng nhân dân sáng tạo các giá trị văn hóa ngay trong quá trình lao động vật chất, trong quá trình sống, thỏa mãn những nhu cầu vả lợi ích vật
chất của chính bản thân họ Do vậy, sự sáng tạo của quần chúng nhân dan
chính là nhân tổ cơ bản của sự tồn tại và phát triển của xã hội Quần ching nhân dân sáng tạo văn hóa bằng chỉnh cuộc sống của mình Thông qua các hoại động thường nhật như lao động sản xuấi, chiến đấu chẳng giặc ngoại
xâm, trong văn học nghệ thuật, trung phong Lục tập quán như cách ăn, ở,
mặc văn hóa được hình thành, phát triển và đần dần được lưu truyền từ thể
hệ này sang thê hệ khác
‘Tuy nhiên, bên cạnh việc sảng tạo, gìn giữ và phát huy các yếu tổ tiến
bộ của văn hóa mang đầy ý nghĩa nhân văn thi những tư tưởng phong kiến,
những yếu tế phân văn hóa, phần tiến bộ, những hủ tục cũng vẫn còn tồn tại
trong đời sống cộng đồng mà để xóa bỏ được nó cần một thời gian lâu đải vả
một lực lượng vật chât to lớn Do vậy, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng
tinh thần của xã hội, trở thành mục tiểu và dộng lực dé phát triển kinh tế thì vai trỏ của những người có trình độ cao - của đội ngũ trỉ thức déng vai trò
quan trọng Sự hiện điện của đội ngũ trí thức trong sáng lạo văn hóa như là
một biểu hiện của chất lượng cuộc sống Những phát minh khoa học, những công trinh nghệ thuật, những sáng tác văn học, những sản phẩm lao động của đôi ngũ trí thức thực sự quan trong trong đời sống tỉnh thần của mỗi quốc gia Nghi quyết Irung ương năm chóa V1) đã khẳng định: “Đôi ngũ trí thức gắn
34
Trang 36bỏ với nhân dân piữ vai trỏ trong sự nghiệp xây dựng vả phát triển văn hóa” [16, r.57]
Trong bối cảnh toàn cầu hóa vả kinh tế trí thức như hiện nay, với chức
năng riêng của mình, đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
giữ vững nền tầng tinh thin cho xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại mới Đội ngũ trí thức có xuất thân từ nhân dân, họ là những người hoại động trí tuệ, có chức năng chủ yếu là sáng tạo những giá trị tỉnh thần cho xã hội nền ảnh hưởng của họ đến quần chúng nhân dân là rất
lớn Bằng những sáng tạo văn hóa, người trí thức có thể truyền tãi những tư tưởng, đạo đức, lỗi sống, quan niệm, tín ngưỡng, những triết lý nhân sinh đến
quần chứng nhân dân Họ là lực lượng nòng cốt, là chủ thể trong toàn bd quá trinh piữ gin những tình hoa văn hóa, tiếp nhận và phát huy những tỉnh hoa 4y, hướng quần chúng nhân dân đến những cách nhìn nhận tốt đẹp vả nhân bản trong cuộc sống Nhưng cũng cần lưu ý, đội ngũ trí thức đều xuất thân từ
nhân dân nên khi tác động đến đời sống tỉnh thần, họ bộc lộ cã những mặt tích cực và tiêu cực do sự không thuần nhất cả về tư tưởng, tình cảm và trình độ
Quần chúng nhân dân không chỉ có vai trò sáng tạo văn hóa, mà còn là người giữ gìn nẻ Những lân liệu dân ca, những câu ho vẻ, những áng văn
thơ, những tư tướng nghệ thuật đều đo quần chúng nhân đân bảo tồn và lưu giữ Những nghệ nhân trong các lĩnh vực văn hóa chủ yếu đều là những người
lao động bình thường, họ là những người mang trong mình cả một kho tàng
đỗ sô văn hóa dân gian, và thông qua các hoạt déng truyền bá dưới nhiều hình thức (mà văn hỏa dan gian chủ yếu là hình thức truyền miệng), họ bảo tần và
gần giữ văn hóa để nó không bị mai một đi và qua dé con hồi đắp thêm lâm
hén và tư tưởng cho thể hệ san
Như vậy, quan chúng nhân dân là chủ thể thực sự trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Nó thể biên trong quá trình lao động vì nhu cầu vật chất,
mong muốn dược thỏa mãn nhu cầu của chỉnh mỉnh cá về vật chất và tỉnh
Trang 37thần Khi nhu cầu hưởng thụ vật chất và tinh thần ngảy cảng cao thi nhu cầu
sang tác và sức sảng tạo của quân chúng cảng được phát triển Tuy vậy, để
ngày cảng phát huy vai trò của quần chúng nhân đân và đặc biệt là vai rò của
đội ngũ trí thức trong sáng tạo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa đân tộc
thì đỏi hỏi có sự quan tâm sát sao và đồng bộ của các cấp, các ban ngảnh Nó đời hỏi Đảng, Nhà nước vả các đoản thể nhân dân phải nâng cao trình độ lý luận, bản sát thực tiễn, xây dựng môi trường kinh tế, chính trị, văn hỏa với mục tiêu cao nhẤt là vì con người Bên cạnh đỏ, chính s
ch thu húi, đãi ngộ
hiền tải, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là điều đáng quan tâm Các ban ngảnh cũng cân phổ biên, tuyên truyền các chủ trương, đường lỗi, chính sách, nghị quyết của Dảng và nhà nước đến quân chúng nhân đân dé ho có thể hiểu, từ
đó dâm báo và phát huy vai trỏ chủ động, sáng tạo của họ trong việc giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những tỉnh hoa văn hóa tiến bộ của nhân loại vi mục tiêu xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc đân tộc”
1.2 Ban sắc van héa dan téc Dao & Phú Thụ
1.2.1, Dée diém lành tế, xã hội và lịch sử của dân tộc Dao ở Phu Tho
Quốc) thiên đi vào Việt Nam từ đầu thế ký XIH đến đầu thé ky XX Io di
bằng đường thủy qua Xióng Cái (Quảng Ninh) hoặc đường bộ tử Irung Quốc
sang Việt Nam |57, tr.131 |
Cuộc thiên di của người Dao vào Phú Thọ có lẽ là cuộc thiên di tập
trung, có tổ chức nhất mà đấu tích còn để lại trong tín ngưỡng, phong tục tập
36
Trang 38quản và những bắn gia phá, thông hành mà người Dao dương đại nhiều lần
được đọc hoặc được nghe
Truyền thuyết kế lại rằng: Một năm hạn hán đói rét, người Dao phải đết
lửa sưởi, khi đi soi cá, vô ở đã làm chảy câu Vàng của nhà vua Vua định chu
di tam tộc, nhưng nhờ có quan đại thần xin tha từ ti chết xuống duỗi cả hộ tộc đi biệt xứ Hả Đãng Thị Hành, ông Bàn Đức Hội và ông riệu Thông là 3 người dẫn đầu đoàn người Dau sang Việt Nam Lm nơi cư trú Nhưng khi vào
biên giới Việt, họ không biết tiếng lại có vũ khí phỏng thân nên bị binh lính canh phòng bắt giam vì tưởng họ là giặc Sau đó, do đọc được “Quá sơn bảng văn” (giấy thông hành), biết họ là dân lành, vua Lê đã cho thá tự do và cho họ
ngược thco sông Hồng di tìm đất sống
Đến vùng ngã ba Bach Hac (Rach Hạc - Việt Trì) thấy đất đai tốt tươi,
xmàu mổ lại cá ba con sông lớn, biết là tạn ngược sẽ có nhiễu rừng cây, là nơi
thích ứng cho cuộc sống đu canh du cư sau này, ông Hành và ông Hội củng tủy tủng quay về Trung Quốc đưa dân làng thiên di sang Việt Nam Họ đóng
bây chiếc thuyển, tổ chức cho các hợ người lao vượt biển Móng Cái (Quảng, Ninh) vào cửa sông Hồng rồi lên ngược Khi dang di ngoài biển, gặp sóng to gió lớn, bốn thuyền của họ bị đánh bật ra xa bờ Những người ớ trên thuyền
lâm nạn phải nhảy lên xm với trời đất cho họ tai qua nạn khỏi, sau này sẽ làm
Tết Nhây để tạ ơn cứu mạng Riêng họ Triệu Mắc bị gió bão day thuyén dixa
hơn nên phải khất sẽ làm lễ lầm đảng đề tạ ơn Họ Triệu Miộc cập bờ ở
Thanh Hóa, gên các họ khác đạt vào cửa sông Hồng, ngược đến Bạch Hạc, họ
bỏ thuyền, lên bờ sinh sống |42, tr.3~4|
Người Dao cư trú ở Phú Thọ chỉ có hai nhóm nhỗ trong củng một
nhóm lớn “Những người Dao ở Việt Nam, đứng về mặt ngôn ngữ mà xét, có thé chia thành hai nhóm lớn ứmg với hai phương ngữ, thuộc phương ngũ thứ
nhất có hai nhóm lớn: I3ao Đại bản và I3ao Tiểu bản, thuộc phương ngữ thử hai cũng có hai nhom: Dao Quần trắng và Dao Lần tiền” [57, tr.134|
37
Trang 39Theo sự nhận định ấy thì ở Pha Tho chỉ có Dao Quan Chet (hay Dao
Quần chíU thuộc nhóm Đại Bản và Dao Tiển (hay Dao đeo tiền) thuộc nhóm
Tiểu bản
Trong quá trình hòa nhập với cư dân bản địa, người Dao không chỉ bảo
tôn, lưu giữ những nét bản sắc riêng của dân tộc mình mã côn chịu ảnh hướng, không nhỏ những nét văn hóa truyền thông của cư dan ban dia
- Fềị trí địa lý
Người Dao sống chủ yêu ở vùng núi, sau đó, theo chính sách vận động
đẳng bảo về sống dinh canh định cư, làm lúa nước nên họ chim ditt nan du canh du cư, phát nương làm rẫy Người l3ao Phú Thọ chỉ sống ở một vài xóm xiêng rễ trong một làng Mường Người Mường bao giờ cũng ở thấp hơn người Tao Người Dao Tiền tập trung cư trú tại 28 bản động ving cao thuộc 12 xã
của huyện Tân Sơn như: bản Dù, Côi, Lùng Ming (x3 Xuan Son), Xinh Tan
xã Thuong Củu), Lấy (xã Yên Lương), láng (xã Tam hanh) Người Dao Quần chet tập trung cư trú tại 19 bản động vùng cao thuộc R xã của huyện
Yên T.ập như: xã Nga Hoàng, Trung Son, Thượng Long và tập trung cư trú
tại 9 bản động thuộc 7 xã của huyện Thanh Sơn như: xã Võ Miếu, xã Thu Cúc, Khả Cửu Dân số người Dao ở Phú Thọ chỉ đứng thứ hai sau dân tộc
Kinh và Mường Toàn tỉnh hiện có 11.126 người Dao, chiếm 0,9% din số
toàn tỉnh và chiếm tỉ lệ 6% đân số các dân tộc thiếu số trên địa bản quê hương đất Lỗ Dén nay, 12/13 huyện, thị, thành có người DĐao sinh sống song chỉ có
ba huyện là Thanh Son, Tan Sơn, Yên Lập có dồng bao Dao sinh sống tập trung thành xóm, bắn
- Đặc thừ về kinh tê
Người lao sống bằng nghề chính là trồng lúa nương và lúa nước
(những xóm người Dao ở vùng hạ sơn mới trồng lủa nước) Ngoái ra, họ còn tra ngô, sẵn bắt thú rừng, Thời gian phát nương khoảng tháng 2, tháng 3 khi
cây khô thì đết nương, đến tháng 4, tháng 5 thì đi tra hạt thác Người La dùng
38
Trang 40cây vót nhọn một dầu, người di trước chọc lỗ, người di sau vãi lúa xuống lỗ từ
S-7 hạt Nếu được mưa thì khoảng 3-4 ngày thì lúa nở, không đực mưa phải
xmất đến 10 ngày Trên nương trồng lúa, người Dao còn trằng xen cá ngô, khi
ngô tất và đây thì tia bớt đi cho lúa lên Tập quán trồng lủa nước mới hình
thành khi họ hạ sơn, hiện nay, người I3ao 'Hiền ở Phú Thọ còn giữ nguyền tập
quản canh tác kiểu nương rẫy: lúa nương có nếp tẻ, đỗ dải (có thế ăn như rau
hoặc để giả bóc lấy hạt đề lẫn với gao nếp), khoai nương (khoai Mán) có giả trị dinh dưỡng cao Mỗi gia dinh déu trồng trên nương hoặc trong vườn nhà
các loại gia vị như: ớt, húng, hẹ, hành, gừng Đặc biệt, người Dao cỏn rất
giỏi trong việc hái lá rừng làm thuốc chữa bệnh
Người Dao ở Phú Thọ côn rất khéo léo trong chế tác trang phục vả dệt vãi, phụ nữ dâm trách hầu hết các quy trình làm ra y phục Phụ nữ Dao ai cũng biết dột vải bằng khung gửi, ngoài ra, họ còn biết đệt hoa, đây là nét đặc
sắc trong kỹ thuật Dao Những bô phận không dệt được người Dao thêu hoặc
in hoa vin Sau dé được đem đi nhuộm cham, nude nhuém cham là keo chằm ngâm nước hòa với một số lá làm dung môi như lá riêng, lá sơn thục, lá huyết
dụ, lá nhân trần, lả sả và nước tro bếp Quá trỉnh chế tác trang phục thể hiện
sự kỳ công của người Dao, trong các nhóm Dao, chỉ có nhóm Tao Đọo liễn
mới biết in hoa văn bằng sắp ong, còn lại là thêu hoa văn trên váy áo
Nghệ thủ công truyền thông của người Dao là nghề rên, làm đồ trang
sức bằng bạc (nghề này rất phát triển ở nhóm I2ao đeo tiễn), nghề làm giấy
Tuy nhiên, những nghề thủ công nảy mới chỉ dừng lại ở mức tự cấp tự túc, phục vụ cho nhu cầu của pia đình và làng xóm xung quanh chứ chưa có diễu
kiện để phát triển
Cơ chế thị trường đã tác động lớn đến tập quán canh tác va chăn nuôi
của đồng bao trong thời gian gần đây Việc trao đổi, rmua bán các mặt hang
trong các làng hắn có người I2ao sinh sống cũng nhộn nhịp không kém gì các chợ ở miễn xuôi, đây là diễu kiện thuận lợi cho người dân thoát dần các tập
39