Tuy nhiên, đã có một bài nghiên cứu “Đặc điểm các loại bánh ở Việt Nam” của tác giá Nguyễn Thu Hằng 2007 trong đó tác giả dã mô tả cách thức cầu tạo tên các loại bánh và đưa ra những nh
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA H
TRU 'ÙNG ĐẠI HOC KHOA HO! XÃ HỘI VẢ NHẪN VĂN
Trang 2LOT CAM DOAN
‘YSi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số
liệu nêu trong luận văn lả trung thực Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bồ trong bắt kỳ một công trình não khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Lhị lung
Trang 3LOT CAM ON
Tôi xin bày 16 long biét on sâu xắc tới PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương
đã tận tỉnh dầu đắt, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn
thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các théy cô giáo, các nhà nghiên cửu ngôn
ngữ đã chỉ bảo vỏ lạo điều kiện cho lôi lrong quá trình học lập và nghiên
cửu, dộc biệt là những ÿ kiến góp ÿ của PGS.TS Nguyễn Hồng Côn cho luận
Trang 4LỜI CẮM ƠN
Tôi xin bàp tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương
dã tận tình dìu dất, hưởng dẫn tôi trong suốt quả trình nghiên cứu dé hoàn
thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thấy cô giáo, nhà nghiên cửu ngôn
ngữ đã chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi trong quả trình học tập và nghiên
cứu, đặc biệt là những ý kiến góp ÿ của PGS.TS Nguyễn Hồng Côn cho luận
vấn
Cuối cùng tôi muẫn gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và gia
dình dã giúp dỡ, dộng viên tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
Tác giả
Neguyén Thi Dung
Trang 51.12 Các phương thức định danh trong ngôn ngữ: - - 1
1.2 Ngôn ngữ và văn hóa 13
1.3.2 Pần hóa Âm thực trong GEG Vib occoccsssrseuessunssnntiniineneeinarennarsisen dS
2.1 Dặc điểm về xuất xử và cấu tạo 33
3.1.1 Đặc điểm và xuấi xứ
2.1.1.1 Xuất xử môn ăn có nguôn gốc Hân
3.1.12 Xuất xử món ăn có gốc Ấn - Âu
3.1.2 Đặc điểm CÂN 1Ô cà ta heeeeiiiaesieeerereee T77
32.1 Dặc điểm định danh của thành tổ trung tâm: - - 4i
Dite diém đình danh của các thành tổ phụ - - - 4
Trang 63.3.4 Các mô hình Anh: danh xót theo ngữ nghĩa - - 59
2.2.4.1 Dinh dank mén tn then loa ture phinew ổu tổngữnglia khác - 60
24.2 Dinh dank non én theo nguyealiga va cae yeu 16 ngữ ng]ấu khác
2.3 Đặc diễm văn hóa ham chứa trong từ ngữ Âm thực Việt 67
2.3.1 Phân ảnh vấn hóa nông nghiệp
3.3.8 Phân ảnh triết lì âm đương
'Tiểu kết : TH HH re
CHƯƠNG 3: CÁC THỦ PHAP CHUYEN DICH
TIENG VIỆT SANG TIÊNG ANH
3.1.1 Cúc quan niệm về tương đương dịch thuật càccceeeeirrreseeooe SD
3.1.2 Các kiều tương đương địch HhiẬT oooesssurememvneneneven 185
3.2 Các khả năng tương đương của tử ngữ ấm thực tiếng Việt sang
3.3 Các thủ pháp chuyển địch từ ngữ âm thục tiếng Việt sang tiếng Anh 9
BBL Tre na
3.3.3 Dịch giải thích (dịch tương đương nà tẪ) ào ĐỂ 3.3.6 Diang các từ ngữ có nghĩa rộng Jữ co caro TÓỠ
Trang 7MO DAU
1 Lý do chọn dễ tài
Ăn uống của con người không chỉ là hoạt động mang tính sinh học để duy tri sự séng ma con mang tinh van héa, gắn với một cộng đồng người với
những thỏi quen, tập tục Ăn nống và tập tục ăn uống bảo lưu khá đậm nét
những dấu ấn văn hóa tộc người Thông qua những mỏn ăn, chúng ta có thé
hiểu được phần nao đặc điểm tâm lý tộc người, hiểu được tập quán, hiểu được
cung cách ứng xử của con người với môi trường Âm thực trong tiếng Việt từ
trước Lới nay đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều khia cạnh và góc đỗ khác nhau, từ các món ăn, cách thức ăn, tập tục ăn uống cho đến các
triết lý trong món ăn Trong cuốn “Nữ công thắng lãm” của Hải thượng Lãn
ông Lê Hữu Tráo (1971) đã giới thiệu cách chế biến hơn 100 món ăn, Phạm
Định Hỗ, thể kỷ 18 có cuến “Vũ trung tuỷ bút” (1972) nỏi tới tục uống trả,
Trần Việt gọc, thế ký 19 có “Dại Nam hội điển sự lệ” (1993) giới thiệu gần
150 món ăn và các loại đặc sắn Sang thế ký 20, cỏ nhiều học giả nghiền cứu
về các món ăn ở nhiều góc độ hơn, về văn hoá, lịch sử, quan hệ giữa tập quán
ăn uống với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, trong đó đáng chú ¥ 1a
cuốn “Đất lề quê thói” của Nhất Thanh, Vũ Văn Khiểu (1970) giới thiệu
những món ăn ở Bắc Bộ, và cuốn “Văn hoá ẩm thực Việt Nam” các món ăn
miễn Dắc, Trung, Nam của Vũ Bing, Mai Khôi, Thượng Tiẳng, Băng Sơn
(2006) giới thiệu các đặc sản, đặc trưng ẩm thực từng miễn, và những nét văn
hoá đặc trưng của mỗi vùng miễn thể hiện trong mỗi món ăn Tập tục ăn uống
cũng được cáo nhà nghiên cứu quan Lâm như Lác phẩm “Tập quán ăn uống của
người Việt ở vùng Kinh Hắc xưa" của Vương Xuân lình (1999), trong dé dé
ofp đến lịch sử ăn uống, mối liên hệ khá thủ vị giữa điều kiện tự nhiên, xã hội
va cach thức ăn của người Kinh Đắc TẤL cả những công trình nghiên cứu này
hầu hết đều nghiên cứu sâu về văn hoá, chưa có tác phẩm nảo nghiên cửu về
Trang 8tên các món ăn Tuy nhiên, đã có một bài nghiên cứu “Đặc điểm các loại bánh
ở Việt Nam” của tác giá Nguyễn Thu Hằng (2007) trong đó tác giả dã mô tả
cách thức cầu tạo tên các loại bánh và đưa ra những nhận xét bước đầu về
những đặc trưng văn hoả của người Việt
Việc tìm hiểu nội dung hay cách cấu tạo của Llừ ngữ Ẩm thực giúp
chúng ta có một cách nhìn toản điện hơn về lớp từ ngữ ẩm thực của Việt
am Cùng với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam hàng ngàn năm, văn
hoá dược kết tỉnh ở nhiều mặt của dời sống xã hội, trong đó có âm thực Âm
thực là những món ăn thông thường trong những bữa cơm gia đình, cũng có
khi lại là mâm cao cỗ đây trong những địp quan trọng như giã chạp, lễ tết,
hiểu hý làm cho đời sống vật chất của người Việt trở nên phong phú Mỗi
ving mién lại có những đấu Ấn Tiêng, bản sắc riêng trong bản sắc chung của
dân lộc ViệL Người miền Bắc, người miền Trung hay người miền Nam có
những cách thể hiên món ăn, chế biển, trình bày theo vủng khí hậu, vũng văn
hoá rất đặc trưng Mỗi vùng lại có đại diện tiêu biểu, miền Bắc, có món ngon
Hà Nội, miễn 'Irung có đặc sắc âm thực Huế với cách ăn cầu kỳ theo lỗi cung,
đỉnh, người miễn Nam có Sài Gòn với sự dung hoa cia rat nhiéu 16i 4m thực
khác nhau Thông qua những tôn gọi món ăn, chủng ia phần nào hiểu được
nét văn hoá, nét sinh hoạt của người Việt, ấn sâu trong đó là những triết lý cuộc đời mà người Việt ý nhị gửi vào tên đó
Xã hội ngày cảng phát triển, sự giao thoa giữa các nền văn hoá gần
hơn, không phải sang tận Mỹ, Pháp chúng ta mới thưởng thức được hương vị
của bánh Hamberger, hay KEC - những để ăn nhanh nổi tiếng của phương
Tây và ngược lại, cũng không nhất thiết phải ở Việt Nam mới có thể biết đến
tô phớ bò, phở gà, mả có thể ngồi ở Cali - Mỹ bạn vẫn biết phở Việt Nam thế
nảo Với xu thế phát triển như vậy, tên các món ăn cũng cần được chuyển
dịch sang một thứ tiếng khác, phổ biến hơn, toản cần hơn Sự cần thiết để
Trang 9chuyển địch tên các món ăn Việt sang tiểng Anh là rất lớn, không chỉ đáp ứng nhu cầu xã hội trong các dịch vụ ăn uống, mả cũng là một cảch chuyển tải
một phần văn hoá đến với bạn bè quốc tế Ấn không chỉ là ấn nữa, mà còn
hiểu dược cả cách thưởng thức món ăn của người Việt, thưởng thức cách nêm
nấu món ăn của người Việt, và cả những đấu ấn lịch sử, văn hoá của người
Việt Trong quá trình chuyển dich món ăn Việt, có nhiều tên gọi gần nhu mat
hết nét nghĩa văn hoá bao hàm trong đó, vỉ dụ: bánh phu thê được chuyển
địch sang tiếng Anh là Wedding Cake, người phương Tây đều hình dung ra
loại bánh gato nhiều tầng thường được cô đầu và chú rễ cắt trong tiệc cưới, chứ không phải thử bánh làm bằng bột nếp, đỗ xanh, đường kinh với những,
ham ý sâu xa từ một tích truyện Việc nghiên cứu cụ thé các trường hợp như
vậy trong lớp từ âm thực sẽ giúp chúng ta chỉ ra những bất cập khi chuyển
địch từ ngữ ấm thực tiếng Việt sang tiếng Anh
"Trên đây là những lý do thôi thúc chúng tôi lựa chon dé tai "iy ngtt dm
thực trong tiếng Việt và cách chuyển dịch sang tiếng Anh" để làm luận văn thạc sỹ Với nghiên cứu nảy, chúng tôi mong muốn gón phần tìm hiểu lớp từ
vựng 4m thục trong tiếng Việt và những cách thường được sử đụng để chuyển
địch sang tiếng Anh
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đổi tượng nghiên cứu của chúng tôi là các từ ngữ âm thực trong tiếng,
Việt và một phần từ ngữ ấm thực trong tiếng Việt được chuyển dịch sang,
tiếng Anh
3 Mục dích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mue dich của luận văn nảy là muốn khảo sát, thống kê, phân tích và miễu tả một cách chỉ tiết về từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt và cách thức
chuyển địch chúng sang tiếng Anh.
Trang 10Dé đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau
- Xây dụng một cơ sở lý luận cho việc nghiền cửu từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt
- Phân tích, miêu tả các đặc điểm về nguồn gốc và cầu tạo của từ ngữ
&m thực trong tiếng ViệL
- Phân tích, mô tả các đặc điểm văn hóa cúa từ ngữ âm thực trong tiếng Việt
~ Tìm hiểu các kiểu địch từ ngữ ẩm thực từ tiếng Việtsane tiếng Anh
Thực hiện được nhiêm vụ trên, luận văn " TỪ NGỮ ÂM THỰC
TRONG TIENG VIET VA CACH CHUYEN DICH SANG TIRNG ANH "
hy vọng sẽ góp phần vào việc nghiên cứu từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt sâu
hơn, góp phần làm rõ những cách thức chuyển địch từ ngữ Âm thực trếng Việt
sang tiếng Anh ‘lrong xu thế hôi nhập hiển nay, quảng bá văn hóa trong đó
có Âm thực là việc làm cần thiết, do đó dịch từ ngữ âm thực sang liếng Anh để người nước ngoài có thể hiểu được và cảm nhận được phần văn hóa của Việt
am là rất cẩn
4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
"Tư liệu luận văn dược thống kê từ các nguồn trong Từ điển tiếng Việt
(Nguyễn Như Ý), từ điển Lac Việt Anh - Việt, Internet, Mlenu của một số nhà
hang tai 114 Nội có nhiều khách nước ngoài đến thưởng thức như Quán ngon, Hot Rock, Hến Viét, Brother Cafe , một số tạp chỉ như Mión ngon, Heritape
1553 đơn vị từ ngữ ẩm thực tiếng Việt và 678 don vi từ ngữ ẩm thực đã được
chuyển địch sang tiếng Anh đã được thu thập vả phân tích trong luận văn này
Những phương pháp chúng tôi sử dụng trong luận văn nảy là những
phương pháp thông dụng dùng trong nghiên cứu ngôn ngữ như:
Trang 11Phương pháp phân tích, mồ tả cấu trúc và ngữ nghĩa
Thương pháp thống kê ngôn ngữ học
Thương pháp đổi chiếu từ vựng
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gdm 3 chương với các
nội dung như sau
Chương 1: Trình bày các vin dé 1ỷ thuyết liên quan như: Vân đề định đanh, văn hóa âm thực, mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, âm thực trong
ngôn ngữ vả Ẩm thực trong tiếng Việt Đây là chương lý thuyết làm cơ sở cho
những nghiên củu của chương 2 và chương 3
Chương 2: Tập trung phân tích các đặc điểm về nguồn gốc, cầu tạo,
dịnh danh, ngữ nghĩa và yếu tổ văn hóa của từ ngữ âm thực trong tiếng Việt
Chương 3: Chương cuối ũa luận văn, ngoài trình bảy một số lý thuyết
về dịch thuật, vấn để tương đương trong dịch thuật, luận văn chủ yếu tập trung, 'vào phân tích các cách thức chuyển dịch từngữ ẩm thực tiếng Việt sang tiếng Anh
Ngoài phần nội đung, luận văn còn cỏ các phụ lục về từ ngữ ấm thực
trong tiếng Việt và từ ngữ Âm thực tiếng Việt được chuyển dịch sang Liếng
Anh
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Để có cơ sở lý thuyết làm nên tảng cho những vấn để cân giải quyết
của luận văn, chúng tôi đã cố gắng tiếp cận những tư tưởng, ý kiến có gia tri
của các nhả nghiên cứu Chương này, chúng tôi trình bảy một số vẫn dé ly
Trang 12thuyết liên quan đến nội dung của luận văn như vấn đề định đanh trong ngôn ngữ, mỗi quan hệ piữa ngôn ngữ và văn hóa, Am thực Việt Nam trong văn hóa
'Việt Nam
1.1 Vẫn đề định danh trong ngôn ngữ
1.1.1 Định danh là gì?
Khái niệm này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, theo tác giả Vũ
'Thế Thạch (1996), định danh là sự cấu tạo các đơn
gôn ngữ có chức năng,
dùng gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan vả trên cơ sở đó
hình thành những khái niệm lương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm tử,
ngữ và câu
Khi bản về bản chất của quá trình định danh ngôn ngữ, tác gid Hoang
Lai (1970) đã trích dẫn ý kiến của Viên sĩ hàn lâm khoa học Nga B A
Sercbrenikov về những nhân tổ để tạo ra những đơn vị định danh Đó là:
- Những trí thức lịch sử, xã hội, văn hoá chù phép nhận ra những đặu
điểm của sự vật, hiện tương, chức năng của chúng cần thiết phải phân biệt
chúng với những sự vật, hiện tượng khác bằng cáchcho chúng những tên gợi riêng,
- Cá nhân cũng giữ vai trò quan trọng vỉ chính cá nhân đã sử dụng ngôn
ngữ của công dồng để tạo ra các dơn vị định danh mới
- TỂ hợp âm từ, từ tổ là phương tiện làm tên gọi cho sự vật, hiện tượng,
"Theo triết học Mac - TL,enin, các sự vật phân biệt nhau chính là ở “chất”
của nó Chất là “sự thống nhất hữu cơ những thuọc tỉnh, những đặc trung
phân biệt sự vật hay hiện tượng với sự vật hay hiện tượng khác” (Iloàng Lai,
hiệu dính bản địch Ngôn ngữ học dại cương, Miabxcơva, 1970)
Trang 13Một nhân 16 quan trong khác ánh hưởng tới số phận của các đơn vị
định đanh mới là đơn vị định danh đó được xã hội chấp nhận hay không, Dầu sao cộng đồng xã hội cững là nhân tổ quyết định trong việc tạo đơn vị định đanh mới
Và một nhân tô không kém phần quan trọng trong quá trình định danh
là đặc điểm cầu trúc ngôn ngữ hay nói rộng hơn là loại hình ngôn ngữ Chẳng
hạn tiếng Việt, sử dụng các loại từ khác nhau như cải, cục, con, chiếc theo tuy theo sự phạm trủ hoá
Tho đó thì từ được nghiên oửu từ quan điểm của mỗi liên hệ sự vật
của nó với thế giới khách quan ngoài ngôn ngữ Cỏn bình điện ngữ nghĩa của
việc nghiền củu từ xem xét nội dung của các đơn vị từ vựng từ quan điểm của
mối liên hệ bên trong hệ thống, bên trong từ Việc nghiên cứu những dặc
trưng của sự biểu hiện bằng các don vị ngôn ngữ trước hết pấn liền với việc
nghiên cứu từ trong mối quan hệ của nó với đối tượng, sự vật xưng quanh
Trong các ngôn ngữ khác nhau, các phương pháp định danh cñng khác nhau,
định danh theo tử căn, định danh từ phái sinh, định danh tô hợp từ, định danh
gián tiếp trên cơ sở các ÿ nghĩa liên hệ của từ
Tăng các đơn vị, ngôn ngữ phản anh hai phạm vi thực tế khách quan có
quan hệ chặt chế với nhau: phạm vi sự vật, hiên tượng (danh tử) vả phạm vì
các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng đỏ (động từ, tính từ, trạng
từ) Danh từ thường biểu hiện sự vật, hiện tượng Ấy
Một số nhả nghiền cứu của Việt Narn cũng dưa ra những nhận định về
vấn dề định danh như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Ciiáp, Nguyễn Văn Tu,
Lý Toàn Thắng
"Theo nhà nghiên cứu Lý Toàn Thắng (2002), chức năng định danh của
tin hiệu ngôn ngữ được thể hiện trong chức năng giao tiếp và chức năng lâm
công cụ của tư duy Cũng theo đó, các tên goi là sản phẩm của tư duy trừu
Trang 14tượng, chúng xuất hiện do nhu cầu phân biệt, cần nhận thức các sự vật, đối tượng và nói lên những kinh nghiệm, hiểu biết của con người về các sự vật, đối tượng đó Quá trình định danh sự vật phải tuân thủ các nguyên tắc tâm lí
ngôn ngữ có tính phố quát vốn chỉ phổi
- Cách thức phân loại các sự vật,
- Cách thức phạm trủ hoa các sự vật;
Con thọo táo giả Đỗ Hữu Châu (1983), chức năng định danh chỉ là một
dang của chức năng biểu vật Tử đã có chức năng định danh thí có chức năng
biểu vat Nhé cá tên gọi mà sự vậi, hiện tượng thực tế khách quan tần tại
trong lý trí của chúng ta, phân biệt được với các sự vật, hiện Lượng khác cùng,
loại và khác loại Vì các tên gọi làm cho tư duy trở nên rành mạch sáng sủa,
cho nên một sự vật, hiện lượng trong thực tế khách quan chỉ thực sự trở thánh
một sự vật được nhận thức, một sự vật của tư duy khi nó dã có một tên pọi
trong ngôn ngữ
hà nghiên cứu Nguyễn Dức Tên (2002) nhắn mạnh đến đặc trưng văn
hoá dân tộc trong vẫn dé định danh Đặc trưng văn hoá dân tộc của định danh
ngôn ngử được biểu hiện trước hết ở việc lựa chọn đặc trung của đối tượng để
làm cơ sở cho tên gọi của nó Trong quá trình tạo ra các từ, có ý nghĩa lớn lao
là vấn dễ lựa chọn đặc trưng để lấy làm đối tượng để lá cơ sở cho tên gọi dối
tượng Vai trỏ của việc lựa chọn này bị quy định bởi một loạt nhân tố, trong
đó một phần thuộc về những dặc điểm sinh lý của con người, một phần thuộc
về cơ chế của lời nói
Mỗi khách thể ở thể piới khách quan só một hệ thống những thuộc tính
và mối liên hệ khác nhau Quá trỉnh con người nhận thức được đặc tính, hay
đặc trưng nào đó là tiêu biểu, để nó chính là nó và dễ khu biết nó với những dỗi tượng khác thì những dặc trưng Ấy cũng có tên gợi trong ngôn ngữ Vẫn
10
Trang 15để này có liên quan tới việc sứ dụng đối tượng nào đó trong thực tiễn và phụ
thuộc vào nhu cầu, mục dich của một sông đỗễng ngôn ngữ nhất dịnh Đó lá lí
đo mà mỗi dân tộc chọn đặc điểm để định danh theo cách riêng của mình, và
củng một đối tượng trong các ngôn ngữ khác nhau sẽ được gọi tên thco các
cách khác nhau Cùng một đối tượng có thể được gọi tên trong các ngôn ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập kiểu nảo về tâm lí, lịch sử, đân tộc
và xã hội đã làm cơ sở cho sự dịnh danh Quan điểm trên hoàn toàn hợp lý,
hiển nhiên, sự đôi lập làm cơ sở cho sự định danh ấy phụ thuộc vào chủ thể
định danh Việc tách chọn đặc trưng của các khách thể khi gợi tên chứng cũng, làm nên đặc trưng văn hoá - dân tộc của từ vựng trong một ngôn ngữ nhất
định Chính việc chọn đặc trưng làm cơ sở cho tên gọi đối tượng đã quy định
hình thái bên trong của từ Đó là đặc trưng định danh được biểu thị hằng từ và
tham gia với tư cách một thành tố đặc biệt vào thành phan ý nghĩa từ vựng
của từ
Như vậy có thể nói, việc tìm hiểu một lớp từ nảo đó trong vốn Lừ vựng, của mỗi tộc người sẽ giúp chứng ta hiểu biết thêm về cách tư duy, cách lựa chọn đặc diém để mỗi sự vật “có tên”, và cả lỗi sống, văn hoá của cư dân, tộc người đó Và vì vậy, có thể nói thông qua nghiên cứu lớp từ ẩm thực tiếng
Việt chúng ta sẽ có thể hiểu biết về nếp sinh hoạt mả biểu hiện cụ thể là các
món ăn trong đời sống, hiểu về “văn hoá ứng xử với môi trường”, hiểu về nếp
sinh hoạt của cư dân lúa nước, ác món ăn các vùng làm nên những nét đặc
trưng văn hóa ở người Việt,
1.12 Các phương thức định danh trong ngôn ngữ
Trong bài nghiên cứu của Vũ Thế Thạch (1996) có chỉ ra rằng khi định
danh mội khái niệm mới, chủ thể định danh œó thể sử dụng một trong ba cách sau:
11
Trang 16- Sử dụng một đơn vị từ vựng đã cú sẵn trong nưôn ngữ và chuyển
nghĩa nó Tên gọi được tạo ra bằng cách này chính là đơn vị dịnh danh thứ sinh
~ Tạora một đơn vị hoàn toàn mới Dó là đơn v1 định danh nguyên sinh
~ Vay mượn từ ngôn ngữ khác
"Trong các ngôn ngữ khác nhau, các phương thức định danh, các dạng,
định danh cũng khác nhau Theo cấu trúc hình thái học có thể là:
- Định đanh tử phái sinh
- Định danh tổ hợp từ
- Định đanh trên cơ sở nghĩa liên hệ của từ
Việc xác định các dạng định danh trong tiếng Việt liên quan tới việc
xáu định đặc điểm cấu Lạo từ của nó Trong tiếng Việt có một số lượng lớn
một âm tiết Dó là những đơn vị định đanh cơ bân, định danh gốc, dạng định
danh tạo từ như đ## nước, đi iza, ăn chơi , định danh tô hợp từ như Đên hợp quốc, nhà nghĩ
"Tác tá Nguyễn Đức Tân (2002) đã tổng hợp hai trường hợp về wach định danh
“Theo ý kiến của các dai biểu thuộc trưởng phái ngôn ngữ học Pra-ha ta có:
- Dinh danh bằng tử và từ tổ (dây là dịnh danh từ vựng)
- Định danh bằng câu (mệnh dẺ)
- Dinh danh bằng văn bắn Cũng có ý kiến cho rằng có những cách định danh khác như
- Sit dung tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nảo do trong số các đặc
trung của đôi tượng nảy
- Mô phẳng Âm thanh
12
Trang 17nay thường được gợi là định danh thứ sinh
Nhìn chung, mỗi dân tộc, mỗi loại hình ngôn ngữ khác nhau có những
lựa chọn khác nhau dễ định danh Tư duy, văn hóa của dân tộc có ảnh hướng, lớn đến việc định danh, đến việc lựa chọn yếu tổ, tính chất no của sự vật dé định danh 5o sánh giữa tiếng Anh và tiếng Việt, tiếng Anh thuộc loại hình
ngôn ngữ biển hình, từ được cấu tạo bởi căn tổ (yếu tổ gốc) vả phụ tổ, trong,
khi tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (từ ngữ được cấu tạo chủ yếu
là ghép các thành tố) Đặc trưng văn hóa đân tộc bộc lộ rõ ràng ở phạm trà
hóa hiện thực và bức tranh ngôn ngữ về thế giới Chính vì vậy khi chuyển
địch văn bản Việt sang văn bản Anh hoặc ngược lại cũng sẽ có nhiều yếu tố
không tương đương, một phần do văn hóa khác biệt - một phương Đông (kín
đáo, thâm trầm, có xu thế hướng nội), một phương ‘ly (cởi mở, có xu thế
hướng ngoai), một phân đo hai loại hình ngôn ngữ khác nhau, cách thức định
danh khác nhau l2o vậy, trong quá trình chuyển địch từ ngôn ngữ này sang,
ngôn ngữ kia tương đương hoắn toàn gần như không cỏ
1.2 Ngôn ngữ và văn hóa
41.21 Văn hóa là gi?
13,
Trang 18Có hàng trăm định nghĩa về văn hoá nhưng chưa có một định nghĩa
thống nhất va mang day di ¥ nghĩa Ở póc độ chung nhất, văn hoá thường, được hiểu - đó là phẩm chất đặc hữu chỉ thấy ở con người, nó là cái để phân biệt giữa người và đông vật Như vậy, văn hoà là dầu ấn đặc trưng cho xã hội loài người, khác về cơ bản với tổ chức của xã hội động vật, nó lả cái do học được mà có, không phải cái kế thừa theo con đường sinh học Văn hoá gắn với ý niệm - thể giới tỉnh thần của con người, nỏ được truyền lại trong lịch sử
xã hội loài người, bằng việc sử dụng các hình thái biểu tượng - ngôn ngữ
Nhà nghiên cứu triết học Phạm Duy Dức (2008) dẫn lời nhả triết học
và cỗ sinh học người Pháp - Viên sĩ Teilhard đe Chardin (1881- 1955) đưa ra
cách giải thích như sau về vẫn hóa: lrải đất hình thành và phát triển đến một
giai đoạn nào đó thi xuất hiện sự sống, ông gọi đỏ là sinh quyền Tiếp đó là sự
ra đời của trì quyến - quyền về ý thức, tỉnh thần của con người Theo dng, tri
quyền là văn hóa Mhư vậy, văn hóa thuộc bình diện ý thức tỉnh thần của cơn: TEUỜI
‘Theo Nha vin hóa học Phan Ngọc (2001): Văn hóa không phái là kỹ
thuật, không phải là hoạt động tỉnh thần hay hoạt động chính trị xã hội, cũng
không phải là phong tục tập quan, ma “văn hóa là dấu ấn của một tập thể cộng, đồng trên mọi hiện tượng tĩnh thân, vật chất, một sắn phẩm của tập thể công
từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bản ra thị trường”
hà sử học Trần Quốc Vượng (2000) khẳng định: “Văn hóa là sự thích nghỉ vả biến dỗi thiên nhiên, thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đó Văn hóa lả sản phẩm của con người, là phản ứng, là sự
trả lời của con người trước những thách đồ của tự nhiên” Văn hóa xét ở mỗi
cá nhần cũng như ở mỗi công đồng cỏn là do lịch sử hun đúc nên Những, số
phận, vận mệnh lịch sử khác nhau Lạn nên những văn hỏa khác nhau Theo tac
ăn hóa, theo nghĩa rộng, là cái Lự nhiên được biế:
Trang 19ham cä kỹ thuật, kinh tế để từ đó hình thành một lối sống, một thể ứng xử, một thải độ tổng quát của con người dối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là
cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực,
những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm tạo nên phong cách diễn
tả tri thức và nghệ thuật của con người Như vậy, thì phải xuát phát từ những,
điều kiện tự nhiên vến là một sản phẩm của tự nhiên, là một phần của tự nhiên, dứng đối điện với tự nhiên mà tạo thành văn hóa rồi sau đó là những, điều kiện lịch sử để nhìn nhận về cội nguẫn và bản sắc của nên văn hóa Việt Nam
'Tác giả Lê Quang Thiêm (1998) lại xem xét văn hóa từ quan điểm giá
trị "văn hóa là giá trị bao chứa tính ẫn định, bền vững nhất định Nó được tích lũy và lũy va trayén đạt từ thể hệ này sang thể hệ khác, nó giúp cho lịch sử xã hội, vận động, phát triển, nối kết với truyền thắng"
Tác giả Trần Ngọc Thêm (1996) đã đưa nhận định phạm vi khái niệm
và cấu trúc giữa văn hóa và văn minh Theo ông, văn hóa chửa đựng cả các
giá trị vật chất và tinh thần, mang tính dân tộc và có bẻ dày lịch sử Tuy
nhiên, văn hóa gắn bó nhiễu hơn với nền nông nghiệp phương Đông Còn văn
minh chỉ một trình độ thiền về piá trị vật chất và kỹ thuật, có tính quốc tế và
gắn bó nhiều hơn với sự phát triển của phương lây dé thi
Nhà nghiên cứu Trần Dức Thảo (1996) dẫn ý kiến cia Krobe và
Kluckholm vé vin héa cho ring, văn hóa là sản phẩm đo con người tạo ra, từ
niếp ăn, nếp ở, những thói quen từ cuộc sống, lịch sử bao gỗm tư tưởng, giá trị
vả con người tạo ra, là lịch sử bao gồm những tư tưởng, khuôn mẫu và giá trị,
là sự lựa chọn, là sự học hỏi, cá sự lựa chọn, là sự học hỏi, văn hóa hình thành
trên nên các biếu trưng dân tộc và văn hóa vừa lả sự trừu tương của hảnh vi
vừa là sản phẩm của hành vi Mợi nền văn hóa đều được hình thành chủ yêu
dựa vào cách người ta ứng xử, cảm giác và phản ứng.
Trang 20Nhìn chung thuật ngữ văn hóa hảm chỉ rất nhiều mặt, Lừ những tập tục lâu đi, từ những nghỉ lễ truyền thẳng tử những nến sinh hoạt rất dời thường, đến cả lối sống hiện đại Văn hoá, nói theo một cách khác là tất cả những gì lâm cho công dồng này khác biệt với các công dẳng khác Đã có rất nhiều định nghĩa về văn hoá, nhưng chúng ta có thể hiểu một cách tương đối đầy đủ
về văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị, vật chất vả tính thần do con người
sáng tạo vả tích luỹ qua quá trinh hoạt dộng thực tiễn và tương tác giữa con
nhgười với con người, với môi trường tự nhiên và xã hội
Chúng ta có thể xem xét văn hóa trong mỗi quan hệ gắn bó giữa cái ta với thế giới tự nhiên, môi trường xã hội trải dài trong quá trình hình thành,
tổn tại và phát triển của các công dỗng tộc người và cuối củng là giữa cải ta
với chỉnh cái ta
Vậy phải xem xét mỗi quan hệ và lối mg xử giữa con người với thé giới tự nhiên dễ cỏ cái nhìn toản điển về văn hỏa Thể giới tự nhiễn hao gồm tất cả những gỉ thiên nhiên dành cho con người Thể giới tự nhiên có vai trò
vô củng quan trọng, mỗi cộng đồng TỘc người sống trong môi trường tự nhiên
khác nhau sẽ hình thành nên những lỗi sống khác nhau Ví dụ như người đẳng
bằng Bắc Bộ ở Việt Nam, nhờ những con sông chứa đẩy phủ sa vả khí hậu
nhiệt đới nên họ đã sớm hình thành nền văn mình nông nghiệp lúa nước, còn
những người ở ving cao hon ho lai tréng nương đốt rẫy, du canh du cư Môi
trường tự nhiên đó cũng hình thành nên các lỗi ứng xử khác nhau, các giá trị
khác nhau được biểu hiện qua các biểu trưng văn hóa Cách ăn, oách mặc
mang những nét đặc trưng của từng tộc người Chỉnh môi trường tự nhiên
cũng hình thành nên những thỏi quen ăn khác nhau trong củng một đất nước,
như người miễn Trung, Việt Nam thích ăn cay, người miền Nam lại thích ăn ngọt
lá
Trang 21Quan hệ ứng xử giữa con người vả môi trường xã hội là chỉ sự lương
tắc và các khuôn mẫu ng xử giữa con người với con người bao pm trong,
gia đình và ngoài xã hội Đó chính là mối quan hệ và hành vi ửng xử giữa con
người với các hình thức kinh tế, hình thải chính trị, hệ thống luật pháp, áo hình phạt, các quy tắc ứng xử, các hệ thống giả trị, các chuẩn mực, phong tục
tập quán
'Văn hóa, nói một cách ngắn gọn, là tất cả những gì làm cho cộng đồng
nay khác biệt với công đẳng khác Xét về mặt thành phần, văn hóa là một hệ
thống đa tầng, đa chiều đan xen biện chứng, cơ bản dựa trên các yếu tổ nội
sinh (bản địa, dân tộc) kết hợp với các yếu tổ ngoại sinh (ngoai lai, quốc tế)
ăn
Nhà nghiên cứu văn hỏa Hữu Ngọc (2008) dã trích dịnh nghĩ:
hóa của UNHSCO: Văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký
hiệu) chỉ phối tư duy, cách ứng xử (người với thiên nhiên, người với người)
và các mỗi quan hệ trong một cộng dồng, khiến công đồng ấy cỏ đặc thủ
riêng
1.22 Quan hệ giữa ngôn ngũ và vấn hóa
Văn hóa và ngôn ngữ có mới quan hệ khăng khít với nhau Văn hóa là
niội đung và ngôn ngữ lả phương tiện truyền tải nội dung đó
Cùng với cách ăn, mặc, ở, đi lại của mỗi cộng đẳng, ngôn ngữ cũng là
một nhân tỗ rất quan trọng của văn hoá, ngôn ngữ không chỉ phản ánh về tư
tưởng, tỉnh cám của người sử dụng ngôn ngữ đó mả còn là phương tiền lưu
giữ tốt nhất nét văn hoá, truyền thống, phong tục tập quán, ứng xử với thiên
nhiền và xã hội của một dân tộc
De ngôn ngữ được sinh ra trong quá trinh lao động, sáng tao của con
người nên ngôn ngữ gắn chặt với văn hoá, trực tiếp phản ánh cách tri giác và
Trang 22tư duy thế giới của cộng đồng dân tộc, mà văn hoá dân tộc không thể không liên quan đến cách trị piác và tư duy ấy
Có nhiều nhà khoa học mô tả mỗi quan hệ giữa ngôn ngữ vả văn hóa và
có nhiều M kiến khác nhau song đều có điểm chung là văn hóa bao trùm ngôn
ngữ và ngôn ngữ phản chiếu hình ánh của văn hóa
Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng việu các đặc trưng văn hóa
dân tộc thể hiện ở việc định danh (gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực
khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng
dưới dạng các từ, cụm tử, ngữ và câu)
Về vấn dề mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ lả một
lăng kính mả qua đó người bản ngữ trị giác thể giới, và do đó quy định cách
a ho về hiện thực, thành thử có thể nói rằng mỗi ngôn ngữ cầm tủ gái
tur duy
dân tộc sử dụng nó trong một thể giới riêng, và một bên là phổ quát luận của
Chomsky, chi trong mấy nghin thi tiếng được các ngôn ngữ sử dụng trên
thể giới chẳng qua là những dị bản dịa phương của một hệ thẳng ngôn ngữ
duy nhất thế hiện những nguyên lý phé quát chỉ phối cách khái niệm hoá thế
giới của chúng ta
Những ảnh hưởng của các nhân tổ văn hoá đối với cấu trúc của ngôn
ngữ là diều khỏ có thể hỗ nghị, tuy không phải bao giờ cũng để chứng minh
Và do đó, Ít ra cũng có thé tim thấy những sự kiện ngôn ngữ nào đó có thế cắt
nghĩa dược bằng những sự kiện thuộc về bản sắc ngôn ngữ của khối cộng
đẳng nói thứ tiếng đó, và dến lượt nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể gợi cho
†a những điều hữu ích về cách cảm nghĩ của người bản ngữ và từ diy về nền
văn hoá của họ
Nhin chung, ngôn ngữ và văn hoá có mỗi quan hệ gắn bó chặt chế với
nhau, chúng phát triển trong sự tác dộng qua lại lẫn nhau Các phạm vi của
18
Trang 23ngôn ngữ vả văn hoá gắn bó lẫn nhau, nhưng thường thường, luy nét quyết định sự tồn tại của nền văn hoa bing ngôn ngữ, nhưng chính ngôn ngữ lại
cũng là thành tố độc lập của nên văn hoá dân tộc Việc xem ngôn ngữ như
thành tố quan trong nhất của văn hoá và chủ ý tới chức năng xã hội của nó, nhân mạnh mối quan hệ lần nhau giữa ngôn ngữ và linh hồn I.ả một thành tố
của nền văn hoá tỉnh thần, ngôn ngữ giữ vị trí đặc biệt trong nó Bởi vì ngôn
ngữ là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự nây sinh, phát triển và hoạt
động của những thành tô khác trong văn hoá Ngôn ngữ lả một trong những
thành tế đặc trưng nhất của bắt cứ nền văn hoá dân tộc nào Chỉnh trong ngôn
ngữ, đặc điểm của nền văn hoá dân tộc được lưu giữ lại rõ rằng nhất ("hính
ngôn ngữ được một dân tộc sáng tạo ra và của riêng dân tộc này đã thực hiện
chức năng đặc trưng dân Lộc Với Lư cách là đặc điểm đặc thủ của một nền văn
hoá dân tộc, có thế xem ngôn ngữ theo hai hướng: "hướng nội” - khi đó ngôn
ngữ đóng vai trò nhần 14 chính thống nhất dân tộc và “hướng ngoại”- trong
trường hợp này, ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bán làm phân ly một dân lộc Chính
đo ngôn ngữ có sự kết hợp biện chứng hai chức năng đối lập như vậy nên
ngôn ngữ đã thực sự là phương tiện tự bảo Loàn của một dân tộc, và đồng thời cũng là phương tiện tách biệt dân tộc này khỏi các nền văn hoá dân tộc khác
‘Tac gid Ly ‘loan ‘Thing (2002) nhan xét về mối quan hệ giữa ngôn ngữ
vả văn hoá như sau: ngôn ngữ là thánh tố cơ bản và quan trọng của văn hoá,
chị phối nhiều thành tố văn hoá khác, lả một công cụ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của văn hoá Kếu nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và văn hoá bộc lộ ở ba phương diện: ngôn ngữ biểu hiện hiện
thực văn hoá, ngôn ngữ là hiện thân của hiện thực văn hoá vả ngôn ngữ biểu
trung hiện thực văn hoá Dó là phạm ví không gian, thời gian, động thực vật, mau sắc, quan hệ họ hàng, bộ phận cơ thé con người
19
Trang 24Tác giả Nguyễn Đức TỒn (2002) nhận xét: “Giữa ngôn ngữ và văn hoá,
ngôn ngữ dân tộc và văn hoả dân tộc có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau trong quán trình phát triển” [53; trl7]
Tac giả Nguyễn Lai (2001) cho rằng sự hình thành ngôn ngữ là tiền đề
nhiều mặt của sự hình thành văn hoá mặc dù thco cách sắp xếp hình thức thì
ngôn ngữ nằm trong phạm trù văn hoá Tác giả khẳng định: ngôn ngữ không
chỉ là tiễn đề tạo ra đối tiợng văn hoá, và hơn thế - từ trong chiều sâu - trước
hết, nó là tiền để tạo ra “con người”, dẳng thời tử đỏ con người tạo tiếp những,
tiền đề chủ quan và khách quan để làm hình thành cho mỉnh đối tượng văn hoa Về đặc trưng của văn hoá và ngôn ngữ ông cho rằng cả văn hoá và ngôn
ngữ dầu là thiết chế xã hội với giá trị đặc thù lã: giá trị nhận thức có dược về
chúng bao giờ cũng bị quy định bởi tính ước lệ vốn được tạo ra bởi một cộng
đẳng xã hội xác định gắn với một trạng thái không gian và thời gian xác định
'Theo đó những lớp từ vựng được liên tục sản sinh trong những bối cảnh xã
hội và không gian văn hoá mới Nhưng chắc chắn rằng, nền tảng văn hoá truyền thông vẫn được bảo lưu Vỉ dụ như lớp từ Ẩm thực trong tiếng Việt, dù
trải qua nhiều thời kỳ khác nhau với nhiều biến động về mặt lịch sử nhưng
bánh đúc, bảnh xèo, bánh it, canh lập làng, cá kho tộ vẫn là những món mà
bắt kể ai là người Việt Nam đều biết và đều mê Những món ăn nảy cũng góp
phan lam nén đặc trưng của văn hoá Việt Nam Do vậy nghiên cửu từ ngữ ấm thực tiếng Việt ta cũng hiểu thêm được văn hoá Việt Nam Từ ngữ fm thực
góp phần lâm đa dang vén tir vin hoá trong tiếng Việt Với méi quan hé qua lại mật thiệt với nhau, trong ngôn ngữ có văn hoá và ngược lại, chúng ta cô
thể tìm hiểu những đặc trưng văn hoá, hay những nét văn hoá của người Việt
trong lớp từ ẩm thực
Diễm đảng chú ý là khi xem xét ngôn ngữ - văn hóa trong mỗi quan hệ không thể tách rời với xã hội mà hạt nhân 14 con người, vì con người là chủ
20
Trang 25nhân của văn hóa, ngôn ngữ, xã hội Với quan điểm như vậy, tác giả Nguyễn
Văn Đô (2004) đã vẽ sơ đồ khái quát chỉ về mối quan hệ đa chiều giữa ngôn
ngữ, văn hóa, xã hội và con người như sau:
Ngôn ngữ
Theo sơ đỗ trên ta thấy rõ vị trí của con người là trung tâm trong mối quan hệ ba chiều không tách rời nhau là ngôn ngữ- văn hóa - xã hội Sơ đồ cũng khẳng định các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau không tách rời
1.23 Tiắng Việt và văn hóa Liệt Nam
Văn hóa Việt Nam được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh và góc độ khác
nhau, đã có rất nhiều nhà văn hóa học nghiên cứu và đưa ra nhiều nhận định
thú vị về văn hóa Việt Nam, song trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ muốn đưa ra một số ý kiến về sự tiếp xúc và ảnh hưởng của Trung Quốc va phương Tây đến văn hóa Việt
Văn hóa của người Việt là văn hóa gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước Cuộc sống của người Việt gắn với nghề lúa nước, các kỹ thuật cảy, bừa, gặt, hái, chăm bón, tưới tiêu Hệ quả của môi trường tự nhiên và nghề lúa
nước đã tạo nên cơ cấu bữa ăn của người Việt, cơm là chủ đạo, sau đó đến rau
và cá Bữa ăn của người Việt mang tính cộng đồng cao với chiếc mâm để
chung các món ăn và các thành viên trong gia đình ngôi quây quần cùng ăn
Đữa ăn của người Việt tương đối đơn giản, chủ yếu nguồn thực phẩm tư cung,
Trang 26ứng, mùa náo thức ấy, rau trằng trong vườn, gả, cá, lợn đều nuôi Ngày nay
đời sống thay đổi, việc tiếp xúc với nhiều nước trên thể giới cũng làm thay
đổi bữa ăn của người Việt nhiều hơn, có nhiều món ăn được du nhập và được
biển dỗi theo khẩu vị của người Việt,
Theo tác giả Trần Quốc Vượng (2000), văn hóa Việt Nam hình thành
trên nền văn hóa Déng Nam Á, văn hóa Việt Nam mang đậm dấu ấn sông tước trong toàn bộ cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của các cộng đồng
dân tộc sống trong một không gian da dạng, vừa mang tính lục dịa vừa mang,
tính hải đảo Chính yếu tế sông nước đã tạo nên nét độc đáo của nền nồng nghiệp lúa nước Trải qua nhiều thế kỷ, văn hóa Việt Nam đã tôn tại và nhát triển trong sự giao lưu mật thiết với văn hóa khu vực, mạnh mẽ nhất là dối với
nền văn hóa Trung Iioa Đặc trưng và rõ nét nhất là việc dùng chữ Tiản làm
văn tự chỉnh thống và hàng loạt các phong tụe, tập tục, thói quen, trong suy
nghĩ và hành đông Hàng loạt các tác phẩm văn chương nỗi tiếng cũng ra đời
trong thời kỳ này và được viết bằng chữ lIán, hàng loạt văn bản nhà nước cũng được viết bằng chữ Hán, và tạo ra hẳn một lớp nhà nho nặng về "Không,
giáo" Ngày nay, xã hội có nhiều thay đối, tiếp xúc nhưng dấu ấn của Trung
Quấc vẫn ôn hiện hữu trong đời sống của người dân Việt Nhiều món ăn
'Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và trở thành nỗi tiếng như: mỉ vẫn thắn, sii cdo, chí mà phù, lục tào xá, thịt kho làu, hủ tiểu
Lớp văn hóa phương Tây thâm nhập từ khí đạo thiên chúa giáo được
truyền bá vào Việt Nam tử thể kỷ 16 Dấu hiệu rõ nhất lá sự ra đời chữ quốu
ngữ và những ảnh hưởng nhất định về văn hóa, được biểu hiện rõ trong luéng
tư tưởng của các nhà văn-nghệ sỹ như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên Sự thay déi nay đã tạo nền công cuộc về chữ quốc ngữ, các nha bao,
nhà văn, nh tho sáng tác bằng chữ quốc ngữ, nên có ảnh hướng rất lớn đến
sự tổn tại của chữ quốc ngữ Sự tiếp xúc với phương Tây nhiều hơn, tuy
22
Trang 27
không như cách tiếp xúc với Pháp đầu thể kỷ 20 tạo ra hẳn một xu thể của
thời đại, một cuộc cách mạng dỗi mới hay cách tân nảo nhưng cống cỏ tác
động khá mạnh đến đời sống tỉnh thân, giá trị của con người trong xã hội Con
người cới mở hơn, dễ được tiếp nhân trí thức khoa học, giáo dục, công nghệ,
văn hóa của phương Tây Cùng với sự du nhập các luồng văn hoa 1a Am thực
Các món ăn phương Tây du nhập vào Việt Nam ngảy càng nhiều và cũng
nhanh chóng có một vị thế nhất định trong xã hội, ví như KkÚ (Kømfuclp
Fried Chicken - mén gd quay noi tiéng cla M3), sandwich (bdnh mi kep thit
rau song tia Mp), khoui tay chiên ( fried French - mon ăn của Pháp),
spaghetfi (món m) Ý nỗi tắng) _ "Tất cả đều góp phần tạo nên sự phong phú
cho nền âm thực Việt Nam và cũng góp phần cải thiện cuộc sống con người
khi có quả it thời gian
Có thể nói, văn hóa Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của hai luồng văn
hoa ‘Trung Quốc và phương lây mà cu thể là Pháp và Mỹ rong quá trình
tiếp xúc, cũng có những ảnh hưởng tích cực và cũng không ít mặt trái Chúng
ta không thể phủ nhận nền Hán học đã tạo nên rất nhiều người tài, và cũng,
không thể phủ nhận nền vin héa phương Tây góp phẩn tạo nên thế hệ Thơ
mới với luỗng gió mới và hơn hết chữ quốc ngữ được đưa vào sử dụng làm
ngôn ngữ chính thống của nước Việt Nam
"Tiếng Việt là một phần không thể thiểu của văn hóa Việt Tiếng Việt là
công cụ hữu ích lưu giữ và chuyển tải văn hóa Việt
Tác giá Lê Quang Thiêm (2003) cho rằng, từ tiếng Hán có thời gian dài
được ding trong văn bán của nhả nước, trong giáo dục, thí cử, còn tổng Việt
chỉ được dùng trong sinh hoạt giao tiếp nhân dân Dù chữ Nôm được người
Việt sắng tạo vào khoảng thé ký 12 cũng trải qua nhiều thăng trầm và gián
doạn, chữ Nôm dược cho là Nôm na mách qué Có thời kỳ của Nguyễn Huệ -
23
Trang 28Quang Trung, chữ Nôm được khuyến khích nhưng thực sự cũng không có vị thể trong xã hội và không có sức ảnh hưởng như chữ Hán
Dén cuéi thé ky 19, đầu thé ky 20, chit quốc ngữ do các cố đạo phương
Tây tạo ra từ cuối thế ký 16, sau gần 3 thế kỹ lại bắt đầu đủng nhiều hơn Cùng với chữ quốc ngữ là sự áp dặt của tiếng Pháp, chữ Pháp Tiếng Pháp
được dùng trong các văn bản nhà nước thống trị ở Nam kỳ, một phần trong các xứ bảo hộ Trung kỳ và bán bảo hộ Bắc kỳ Tiếng Pháp được dùng trong
các trường học Pháp- Việt, tiếng Pháp cũng được đảng trong, các văn bản văn
học, lịch sử để đạy cho người Việt hoặc bản địch từ tiếng Việt qua Pháp, giúp
cho người Pháp để tiếp nhận Đến thời kỳ này, tiếng Việt, chữ Nêm lại bị thêm một sự chèn ép mới Trải qua nhiều biển dỗi của lịch sử, các dơn vị từ
vựng, xét về nguỗn gốc có 3 loại là từ ngữ gấc Tlán, từ ngữ thuần Việt vả từ
có gốc từ uáo ngôn ngữ châu Âu mà cụ thể là tiếng Pháp ở giai đoạn đầu thế
kỷ 20 Nên việc tạo ra một lớp từ mượn tiếng Pháp cũng góp phần lảm phong
phú thêm vốn từ tiếng Việt, nhất là về khoa học, kỹ thuật, y học các ngành khoa học khác
13 Am thực Việt Nam Irong văn hoá Việt
1.3.1 Văn hóa Ẩm thực
Văn hỏa ẩm thực là một biểu hiện quan trọng trong đời sống con người,
nó cũng hàm chứa những ý nghĩa triết lý của cuộc sống 'Từ xa xưa trong dân
gian nước ta đã tng kết thành câu tục ngữ: “lọc ăn, học nói, học gói, học
mở” chủ yêu dễ nhắc nh con người về vấn để lời ăn tiếng nói và việc dầu
tiên là “học ăn” Ở các nước khác trên thế giởi, ngoài quan niệm dân gian, các
nhả chuyên môn, những người yêu thích, hiểu ẩm thực đều bản luận, viết
những tải liệu, những cuốn sách hay về nghệ thuật ăn uống Miột trong những
cuỗn sách hay là cuốn “Phân tích khẩu vị” của luật sư người Pháp lean
14
Trang 29Anthclme Brillat 8avarim, được xuất bản lần đầu ở Paris vào năm 1825 có tiếng vang rất lớn Và ở Việt Nam cỏ cuốn “Thực phổ Bách niên”, của
Trương Đăng Thị Bích nỗi tiếng viết món ăn bằng 100 bai tho Nôm, thể hiện
tỉnh tế cách chế biến món ăn, thưởng thức món ăn
Âm thực Việt Nam cá đặc trưng là sự trung dung trong cách phối trộn
nguyên liệu không quá cay, quả ngọt hay quả béo Các gia vị để chế biển món
ăn Việt Nam rất phong phú, bao gdm nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía
tô, kinh giới, hành, thìa là, mùi tảu v.v; gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sa, he,
tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá non, các gia vị lên men như mẻ, mắm tôm, bỗng
TƯỢU, đấm thanh hoặc kẹo dang, nước cốt đừa v.v Các gia vị đặc trưng của
các dân tộc Hang Nam Á nhiệt đởi nói trên được sử dụng một cách tương sinh
hai hòa với nhau và thường thuận theo nguyên lý "âm đương phối triển", như
món ăn dễ gây lạnh bụng buộc phải có gia vị cay nóng đi kèm Các món ăn ky
nhau khong thé kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không
ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng được dân gian đúc kết
thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ Khi thưởng thức các
món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cách tổng hợp nói trên càng trở
xiên rõ nél hơn: người Việt iL khi ăn món nào riêng biệt, thưởng thức từng
món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các món ăn từ đầu đến cuối bữa
Đây cũng là nên ẫm thực sử dụng thưởng xuyên nước mắm, tương,
tương đen Bát nước mắm dùng chung trên mâm cơm và nồi cơm chung, từ
xưa đến nay biểu thị tính cộng đồng gắn bó của người Việt Một đặc điểm íL
nhiêu cũng phân biệt Ấm thực Việt Nam với một số nước khác: Am thực Việt
am chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ Bởi vậy, trong hệ thẳng ẩm thực người Việt ít có những món hết sức cầu kỷ, hằm
nhữ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về bày biện có tinh
thâm mỹ cao độ như ẩm thực của Nhật Ban, mà thiên về phối trộn gia vị một
Trang 30cách tỉnh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giỏn thưởng thức rất thủ vị đủ không thực sự bổ béo (ví dụ như các món măng,
chân cánh gà, phủ tạng động vật v.v) Trong thực tế nhiều người nhận thấy,
một cách cảm tính, đặc trưng ẩm thực Việt Nam toát lộ trang sự dối sánh với các nên văn hóa ẩm thực khác trên thế giới: món ăn 'Irung Hoa ăn bố thân,
món ăn Việt ăn ngon miệng, món ăn Nhật nhìn thích rnắt Tuy nhiên, đặc
điểm này càng ngày cảng phai nhỏa và trở nên ít bản sắc trong thời hội nhập
Theo ý kiến của nhả sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã (2009), Ẩm thực
'Việt Nam có 9 đặc trưng,
Tinh hoa déng hay da dang
« ‘Tinh don thanh mam
Bữa ăn gia đình Việt Nam truyền thống được tác giá Hăn Nguyên
guyễn Nhã mô tả như sau:
Người Việt thường ăn phụ vào buổi sáng với các thức quả vặt (như cáo
loại bánh, xôi, cháo, phở, bún) Một bữa ăn chính, đặc trưng của một gia đình
Việt Nam diễn ra vào buổi trưa và/hoặc buổi tối, thông thường là khi gia đỉnh
đã tụ hợp đông đủ Dữa ăn chính của người Việt thường bao gồm một món
26
Trang 31chú lực (cơm), một món gia vị (nước chấm) và ba món ăn cơ bắn đủ chất và cân bằng âm dương,
Một nồi cơm chung cho cả gia đình (mỗi người có một cải bát nhỏ và đôi đũa của riêng mình)
Một bát nhỏ đựng nước châm (nước mắm, tương hoặc xì đầu) cả gia
đình dùng chưng
Một món mặn có chất đựm động vật và chất béo được luộc, rán hoặc
kho như thịt, cá
Một món rau luộc hoặc xào, hoặc rau thơm, rau sông, dưa muỗi
Một món canh có thể đậm dà, cầu kỳ nhưng cũng không hiểm khi chi
đơn giản là một bát nước luộc rau
Tiện nay, do đời sống được nâng cao hơn, cơ cấu bữa ăn chính của
người Việt hiện cũng đã cải thiện đảng kế thco hướng gia tăng các món mặn
nhiễu đỉnh dưỡng sử đụng nguyên liệu động vật Bên cạnh xu hướng một số
vùng miễn (nhất là những vùng thôn quê) vẫn còn bảy vẽ càng nhiều mán trên mâm cảng tốt, nhiều pia đình thành thị lai chú trọng xu hướng tình pian bang
cách chỉ nấu một món trong tam có đủ chất đạm và các loại rau bảy lên mâm,
ăn kẻm với các loại rau đưa lặt vặt khác Một số gia đình làm các món ăn đặc
biệt nhân ngày chủ nhật rảnh rỗi, những món cầu kỳ mả ngày thường ít có
thời gian để làm Bát nước chấm "cộng đẳng" nay cũng dần được nhiều gia
đình, hoặc các nhà hàng cầu kỳ san riêng ra bát cho từng người để hợp về sinh hơn, và có nhiều loại nước chấm khác nhau tùy theo trong bữa có loại đỗ ăn gì
Một điểm đáng chú ý, nền văn minh cua nước Việt là nền văn minh lúa
nước, dù sinh sống ở miễn đồng bằng, trung du hay trong những thung lũng miền nủi thì cư dân Lạc Việt vẫn gắn hó với cây lúa và mọi sinh hoạt đều có
Trang 32bong hình của nền văn minh ấy Nói đến vai trò hạt gạo trong đời sống người
Việt, được tôn lả ngọc thực, là thử nguyên liêu mả chàng I.ang Liêu khi xưa
đã chọn để tạo ra những thử tượng trưng cho trời và đất và không thể thiểu
trong bữa ăn của người Việt Phải chăng vì vậy, người Việt có nhiều loại bảnh
được chế biển từ gạo nếp và gạo tế (bánh chưng, bánh Út, bánh dav, bánh nép,
bánh phụ thê, bảnh tế, bánh giò ), và cơm ngoài cơm nếp và cơm tê còn có
nhiều loại com với nhiễu cách chế biến vô cùng phong phú (cơm chiên, cơm
rang, xôi ngũ sắc (xanh, đỏ, tím, vàng, nâu), xôi lạc, xôi đỗ xôi rắn }
Các sản vật tạo nên các món ăn trong đời sống hàng ngảy đều lấy từ thiên nhiên hoặc đo chính bàn tay lao động làm ra nhưng cách thức chế biển
và ăn uống đã khác và tạo nên những đặc trưng Irong các món ãn hàng ngày
cũng như lễ hội, Tất chú trọng đến gia viva mau sic tuy thude vao vi tri dia ly, đặc điểm thiên nhiên để chế biển, gia giảm cho phi hợp Đặc biệt người Việt
khá coi trong đến mau sắc phong phú của các món ăn, ví dụ như người Huế,
“trong một bữa ăn hàng ngày thôi nhưng đĩa lau sống đã đầy ắp màu sắc, với miếng khế vàng cắt ngang, lát cả chua rực rỡ cuôn thành bông, la liệt những,
khoanh chuỗi sứ tròn, bề bộn rồi tung mũi tàu, rau húng, thìa lả, tỉa tô, hành
hoa kinh giới tươi xanh màu mát cử y như là một góc vườn nha thu nhỏ” (Văn
hoá ấm thực Việt Nam - các món ăn miễn 'Irung)
1.3.2 ăn hóa Âm thực trong tiéng Việt
Với những lừ ngữ âm thực tiếng Việt phong phú, chúng ta có thể khám
phá lớp văn hóa An sâu trong đó
Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xử nóng, vùng nhiệt đới
gió nmùa Chính các đặc điểm khi hậu, văn hóa, dân tộc đã quy định những đặc
điểm riêng của ảm thực Việt Nam Món ăn là loại thức ăn oủa con người,
28
Trang 33được chế biến từ một hay nhiều loại nguyên liệu khác nhau theo những cách thức nhất định Trong tập quán ăn uống, các loại thức ăn được khai thác từ
nhiêu nguồn khác nhau Món ăn sử dụng rat nhiều loại rau (uộc, xào, làm
dưa, ăn sống) phổ biển 6 những người làm nghề trằng trọt, mỏn ăn sử dụng nhiều đạm động vật như: gà, vịt, lợn, trâu bò phổ biến ở những người làm
nghề chăn nuôi Khững món ăn chế biển từ những loại thịt ít thông dụng hơn
như chớ, dê, rủa, thịt rắn, ba ba thường dược coi là đấc sản và chỉ được sử
dụng trong một địp liên hoan nảo đó với rượu uống kẻm Mỗi món ăn lại có
yêu oầu riêng, cách thưởng thức riêng,
Trong kho tàng văn hóa âm thực, Việt Nam là quê hương của nhiều
mén ăn ngon, từ những món ăn dân giã trong ngày thường đến những món an
cầu ky dé phục vụ lễ hội và cung đình - chủ yếu là 1Iuế đều mang những đặc
trưng riêng Mỗi vùng miền trên đất nước lại só những món ăn khác nhau và
nang ý nghĩa khác biệt, phản ảnh truyền thống và đặc trưng của mỗi cư dân
sinh sống ở từng khu vực tạo nên bản sắc của lừng tộc người Vì vậy, lim hiểu
về Ẩm thực của cộng đồng dân tộc Việt Nam không chỉ để biết về đặc điểm
các món ăn mả thông qua đó để hiểu vệ tín ngưỡng, văn hóa và những nét đặc
sấu tiêu biểu eda mỗi lớp cư dan Vi du không ai không biết đến co lẩu Hội
An, banh it Binh Dinh, chd ca Ld vong, bdnh béo xir dud, phở bò Nam Định, hit tiéu MP Tho, bánh tôm TIồ Tây, giò chả Ước Lễ bánh cáy Thái Bình mang những nét rất đặc trưng của các vủng miễn Việt Nam Trong lớp tử ngữ
ẩm thực cũng biểu hiện khá sinh động những nét đặc trưng ẩm thực vủng
xiển Việt Nam
Am thực trong tiếng Việt còn được biểu hiện sinh động ở tục ngữ, ca
đao, nhãt lả dặc sản các vùng miễn
29
Trang 34- Ăn Đắc mặc Nam (Đắc ở đây là miền Bắc, còn Nam là miền Nam
Việt Nam)
- Ăn Bắc mặc kinh (Bắc ở đây là miễn Bắc, còn Kinh là xứ Huế)
- Bánh cuốn Thanh 'Irì, bánh gì (giÄy) Quán Gánh
- Bánh giầy làng Kẻ, bánh tẻ làng So
- Banh đúc làng Kẻ, bánh tẻ làng I2iễn
- Già Chẻm, nem Vẽ, chuối Xủ
- Dưa La, cả Láng, nem Báng, tương Hần Nước mắm Vạn Vân, cá rô
đầm Sét
- Ôi Dịnh Công, hồng lang Quang, ché vối cầu Tiên, rượu hữ lảng
Tgâu, bánh đúc trâu làng Tó
- Ke:machnha An Phú, kế Lủ thì bán bồng rang, khoai lang Triều Khúc,
- Cháo Dương, tương SửI v.v
- Cốm Vòng, gạo tám ME Tri
Tuong Ban, hung Lang có gì ngon hơn?
- Vải Quang, hing Láng ngỗ Đầm
- Cá rô đâm Sét, sâm cầm II Tây
- Thanh Trì có bánh cuốn ngon
Có gò Ngũ nhạc có con sông Hồng
ẩm thực Việt Nam tương đổi phong phú, biểu hiện
Nhin chung nồi
sinh động qua tên gọi các món ăn, cả về cách lựa chọn thực phẩm, gia vi và phương pháp nấu Tìm hiểu lớp từ ngữ Âm thực Việt Nam ta cảng có cải nhìn
sâu sắc hơn vé 4m thực Việt Nam trong văn hoá Việt Nam
30
Trang 35'Tiểu kết
Trong chương 1 chúng tôi đã làm rõ một số khái niệm lảm nôn láng
cho những mô tả, phần tích ở chương 2 vả chương 3
"Trước tiên là vấn đề định đanh trong ngôn ngữ, có nhiều quan niệm về
định danh nhưng chúng ta có thể hiểu định danh lả sự cầu tạo các đơn vị ngôn
ngữ có chức năng dùng gọi tên để chia tách các đoạn của hiện thực khách
quan Có nhiều yêu tô chỉ phối định danh trong đó đáng chú ý là đặc điểm loại
hình ngôn ngữ, đặc trưng văn hỏa — dân We
Về các phương thức định danh trong ngôn ngữ, các ngôn ngữ khác
nhau thì sử dụng các phương thức định danh khác nhau Trong đó, tư duy tộc
người, văn hỏa của tộc người có ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn yếu tố, tỉnh chất của sự vật để định danh Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập nên từ npữ dược cầu tạo chủ yếu lả ghép các thành tố với nhau không giống,
như ngôn ngữ biến hình tiếng Anh, từ được tạo bởi căn tố vả phụ tố
Trong chương này, chúng tôi cũng tìm hiểu văn hóa và mốt quan hệ
giữa ngôn ngữ và văn hỏa Văn hóa và ngôn ngữ có mỗi quan hệ khăng khíL
với nhau Văn hóa lả nội dung và ngôn ngữ là phương tiện truyền tải nội dung
đỏ Ngôn ngữ là nhân tố quan trọng của văn hóa, ngôn ngữ không chi phan
ảnh tư tưởng, tỉnh cảm của người sử dụng ngồn ngữ mả cỏn là phương tiện
lưu giữ văn hóa Trong mỗi quan hệ khăng khít ấy, con người đóng vai trỏ
trọng tâm Có thể nói, văn hóa bao trim ngôn ngữ và ngôn ngữ phản chiếu
hình ảnh của văn hóa Đối với tiếng Việt và văn hỏa Việt, thông qua lớp từ ngữ Âm thực chúng ta cũng phần nảo hiểu thêm về nền văn hóa gắn liền với nén nông nghiệp lúa nước qua cách lựa chọn thực phẩm và chế biến món ăn
Văn hóa Việt tiếp xúc lâu dài với văn hóa 'Irung Quốc và phương Tây, vi vậy
cũng ảnh hưởng it nhiều đến việc xuất hiện một bộ phận từ ngữ âm thực có
31
Trang 36nguồn gốc Hàn và Ấn -Âu Thông qua lớp từ ngữ Ẩm thực trong tống Việt
chúng ta hiểu vỀ một nền văn hóa âm thực của cư dân Việt Cũng qua dó,
chúng †a còn hiểu đặc trưng ấm thực của ba miễn Bắc, Trung, Nam
Nhìn chung, việc khảo sát, tìm hiểu lớp từ ngữ ẩm thực tiếng Việt góp
phan vao việc tìm hiểu văn hỏa, lối sống, văn hoá của cư dân Việt Đặc biệt,
thông qua nghiên cứu lớp từ Ấm thực tiếng Việt chủng ta sẽ có thể hiểu biết về
nếp sinh hoạt mà biểu hiện cụ thể là các món ăn trong đời sống, hiểu về “văn
hoá ứng xử với môi trường”, hiểu về nếp sinh hoạt của cư đân lủa nước, vẻ
các món ăn các ving lam nên những nét đặc trung văn hóa ở người Việt Mỗi
dân tộc có những lựa chọn khác nhau để định danh Đó cũng là một trong
những lý do có tác động không nhỏ trong quá trình chuyển dịch từ ngữ Ẩm
thực trong tiếng Việt sang tiếng Ảnh
32
Trang 37CHƯƠNG 2: TỪ NGỮ ÄM THỰC TRONG TIỂNG VIỆT
Từ ngữ âm thực là biểu hiện sinh động vẽ sinh hoạt và văn hoá của
người Việt, đây là một lớp từ góp phan làm phong phú vốn từ tiếng Việt Dễ
có cái nhìn tổng quát về từ ngữ âm thực trong tiếng Việt, chúng tôi đã mô tả
từ ngữ ẩm thực tiếng Việt trên cơ sở những tư liệu đã thu thập dược Trong
chương này, chúng tôi sẽ trinh bày những kết quả phân tích về từ ngữ ẩm thực
theo các đặc điểm về nguồn gốc, đặc điểm về cầu tạo từ loại, đặc trưng về ngữ
nghĩa và đặc trưng vẫn hoá
2.1 Đặc diém về xuất xứ và cầu tạn
'Từ ngữ âm thực trong tiếng Việt là một phần trong kho Lừ vựng phong
phú của tiếng Việt Do vậy, lớp từ này cũng có những đặc điếm của lớp từ
tiếng Việt Lớp lit nay kha da dạng về nguôn gốc, bao gồm từ thuần Việt, và
từ ngoại lai (gồm các từ pốc Hán, gốc Pháp, pốc Anh hay hỗn hợp cả Việt + vay mượn), Sự đa dang về nguồn gốc này cũng góp phần làm phong phú
âu tạo cũng như vỀ mặt ngữ nghĩa
thêm vốn từ vựng tiếng Việt về mặt
2.1.1 Đặc điễm vê xuất xử
Với hơn 1000 năm Bắc thuộc va hơn 100 năm dé hộ của phương Tây
đã hình thánh nên lớp từ vựng tiếng Việt đa dạng về nguồn gốc Trong quá
trình tiếp xúc về chỉnh trị văn hóa, ấm thực cũng theo người Trung, Quốc,
người Pháp, người Mỹ vào Việt Nam Đến thời kỳ dễi¡ mới, từ năm 1986, việc tiếp xúc văn hóa có phần cởi mỡ hơn, việc giao thương qua lại giữa gác nước
cũng nhiều hơn và đặc biệt là đời sống con người được cải thiện tốt hơn
Những thay dỗi về mặt kinh tế xã hội tác dệng không nhỗ dến đời sống con
người, con người từ ăn no chú trọng đến ăn ngơn hơn Dẫn dẫn món Tây hiện
hữu trong đời sống của người Việt ngày càng nhiều, nhất là ở các đô thị lớn
33
Trang 38Do vay, trong kho từ ngữ ẩm thực tiếng Việt có nhiều nguồn gốc khác nhau
từ thuần Việt, từ vay mượn Hán, vay mượn Pháp, Mỹ
Những năm gần đây, trong quá trình tiếp xúc, món ăn của các nước cũng du nhập vào Việt Nam nhiễu hơn và hầu như vẫn giữ nguyên cách gọi ở
băn dịa, ví dụ món susi của Nhật, chi ma phù, mi vằn thắn của Trung Quốc,
hay một số thương hiệu như KEC - món gà rắn của Mỹ vào Việt Nam vẫn là
KFC Xem xét kho từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt, số lượng từ này không
nhiều, nhưng nếu quá trình tiếp xúc vẫn diễn ra như hiện nay thỉ số lượng tử
bổ sung vào lớp từ này sẽ nhiễu hơn lên Chúng ta thử xem xét lớp từ ngữ ẩm
thực tiếng Việt có gốc ngoại lai Hán, An - Au, Nhat - I]an
3.1.1.1 XuẤt xử món ấn có nguồn gic Han
Từ ngữ ẩm thực có nguồn gốc TIán có số lượng không đáng kể Tên các
món ăn có nguồn pốc từ Trung Quốc, ví dụ như: chí mà phù (món ăn được
làm từ mè đen xay nhg$ễn nấu với đường kinh), lục tảo xd (âược nấu từ đỗ
xanh, hạt sen, đường kinh), mì vẫn thắn (món mỹ sợi ) sũi cdo (được làm từ
vỏ là bột mỳ và nhân thịt lợn, mộc nhũ), hú tiếu, bì chạy, hãi sân xào bát bữu
chay, vịt quay Bắc Kinh, ngô tửu thân, sườn vị tỏi, gà áp chảo hạnh nhân, súp
tam thi hội Tê Châu, tác hiên hầm hào kh, bún gạo Phúc Kiến, cả mướng Tứ
AXupén, tom bìa đồn sốt chua ngọt, đậu hữ hai màu, sườn non hấp tương, đậu
hã Tứ Xuyên, bánh khoai môn hấp, nằm xào cải xốt tôi, gà áp chảo hạnh
nhậm
“Theo bảng thẳng kế từ ngữ ẩm thực trong tiếng Việt của chủng tôi (Phụ
lục 1) có khoảng 45 đơn vị có nguén gốc Hán
Từ ngữ ẩm thực có nguồn gốc Ilán thường lưu lại yếu tố bản địa Trung
Tloa kha r nét, vi đụ vị quay Bắo Kinh, đậu hữ Tử Xuyên, súp tam thị hội Tô
34
Trang 39Châu, bún gạo Phúc Kiến, súp tam thì hội Tô Châu Phần lớn từ ngữ am thực nảy dược cầu tạo bằng từ Hán Việt
21.12 Xuất xứ món ăn có gắc Ẩm - Ẩm
Người phương Tây vào Việt Nam khá lâu, song ánh hưởng về ẩm thực
lại thực sự không nhiều, trước hết là do văn hóa ẩm thực của hai nền văn hóa khác nhau và hơn nữa khi vào Việt Nam, thì dất nước lại trong tỉnh cảnh
chiến tranh nên vấn dễ đó không dược chủ ý Bộ phận từ nảy những năm pần
đây có xu hướng gia tăng đo các mối quan hệ quốc tế mở rộng, tạo điều kiện
chơ sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ ngữ Khi du nhập vào Việt Nam, tên goi được giữ nguyên khá nhiều như: san-uich (sandwichs), sa-lat (salad),
pizza (bánh pizza), caramen (loại bánh được làm từ trứng, sữa), spaghetti
(món mù Ý nỗi tiổng), pasta (mỹ) Ý), pate (dược làm từ gan, thị, cá thường ăn
với bánh nọ), bữ-tlet (món bò rắn), hotdog (xc xich), pizza phô mai súp
Hamburger ,Pizza nhân thịt gà, xà lách pho mát kiểu Pháp, gà kiểu Marengo,
súp cdi tim sita tuoi, thit hun khói, bò hẳm cà rất
3.1.1.3 Xuất xứ món ăn có nguồn gắc khác (Nhật, Hàn )
Việt Nam va Nhật Hân piao lưu với nhau từ khá sớm, dấu tích người
Nhật trên đất Việt in đậm ở phố cễ LIội An, có thế nói đó là thương cảng sim uất nhất thời kỳ Nhật và Việt giao thương Ngày nay, ở các thành ph lớn như
Hà Nội, thánh phố Hồ Chí Minh, Hôi An các quán ăn Nhật, cũng có xu thế
xuất hiện ngày cảng nhiều Vi thể, một số tên gọi món ăn của những nước này
cũng nhổ biển trong ẩm thực của Việt Nam Đặc biệt, khi vào Việt Nam, các
món ăn Nhật còn g1ữ lại nhiều yêu tố của tên gọi bản địa, ví dụ:
Cá Nóc kugu, Lẫu Mayumi Nhat Ban, Soup Thanh cua, Dau hii cd
Mayumi, Chao cua Mayumi, Théi cua bọc ba rọi, Viên cua xiên que, Sò điệp
Trang 40Adawwmi, Chả Cá xoắn, Chả Cá đủ, Viên cá biển Hireko, Vién mre Geso,
Tempura ca, Tempura tém, Tempura cua (Tempura: tâm bột rắn lôm, cua, cá
và các loai rau), chạo cua, đậu hũ cả, rượu Sake, rượu ShocHu, Sushi cuộn
(Suahi:một loại cơm dược trận với giắm, kết hợp với các loại thức ăn như cả
sống, trứng cá, rau củ), Sushi gói, Sushi rắn, Tsuli Lông Kinh, bánh xèo
Ôkonemi, cơm cuỗn Suisi, lẩu Sukiyaki, cơm Onigiri, bảnh khoai tây korokke,
thịt thân lợn tâm bột rán Tonkatsu, sashimi (cá và hài sản tươi sống dược
người Nhật đặc biệt yêu thích), bánh xếp Nhật (có lớp nhân gam thịt rau)
Trong 35 đơn vị từ ngữ âm thực có nguồn gốc từ Nhật Bản, chỉ có 6 đơn vị là được Việt hóa hoàn toàn (thôi cua boc ba rọi, viên cua xiên que, chả
có xoắn, chả cá dã, chao cua, dậu hũ cá, bánh xếp Nhật), sô còn lại dược câu tao theo, yếu tổ gồc Việt ! yêu +6 vay mượn
Tiếp xúc muộn hơn, nhưng một số món ấn được xuất xử từ Làn Quốc
cũng đã có trong thực dơn các nhà hàng Việt, pm: ngao om ti, cơm rang
kim chỉ hải san, thit ba chi dim được liệu, túi bò xào nằm, thịt lợn ran kim
chỉ, cơm cuộn, cơm trộn, lầu kim chỉ, lẫu nấm tương đỏ Hàn Quốc, cả hỗi
nhúng sốt mù tạt, mực trộn, canh rong biển, miễn nấu nằm và thịt bà
Trong 14 món ăn Hản Quốc dược tìm thấy trong các tử ngữ Âm thực
Việt Nam, món kưm chỉ Hản Quốc là nổi tiếng nhất, món này khả gần với món đưa muối của Việt Nam
Những trường hợp cho loại nảy thường là những từ ngữ có 2 thành
phan, trong dé một thành phần là tiếng Viết và thành phần còn lại là dược
mượn từ các tiếng khác
Ví dụ: Bánh san-tých, mỳ spaghHi bảnh pizza, mì pasia, bánh cavái,
hanh flan, bo xdo sald, bo bit-tét, chuối sỐi caramen, cơm hấp a-ti ¬vô, gả nưởng sa -t6, gà nấu cani, khoai tây nhỏi dăm-bông
36