Tôi cũng xi gửi lời cam on dén những người dã nhiệt tỉnh cung, cấp thông, tìm, số liệu cho luận văn: Thầy Nguyễn Iiữu Mùi, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu ‘Han Nôm; các cản bộ của Trimg
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI
NGUYÊN THỊ THANH 0A
TU VAN MIEU PHU TAM DOT DEN VAN MIEU
TINH VINH PHUC - TRUYEN THONG VA HIEN DAT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGANH LICH SỬ:
Tả Nội - 2017
Trang 2
DAI HOC QUOC GIA HA NOL
TRUONG DALHQC KHOA HOC XA HO] VA NHAN VAN
NGUYEN THI THANH HOA
TU VAN MIEU PHU TAM DOI DEN VAN MIEU
TINH VINH PHUC - TRUYEN THONG VA HIEN DAI
Luan văn Thạc sĩ chuyền ngành Lịch sử Văn hóa Việt Nam
Mã số: Đảo tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa hoc: PGS.TS Lam Thi MF Dung
Hà Nội - 2017
Trang 3TỎI CAM BOAN Tôi xin cam đoạn mọi thông tín, số liệu công bồ trong luận vẫn là trưng thực,
phân ánh thực tê những gì tôi nhân thức được khi khão sát dịa bàn nghiên cứu và đổi tượng nghiên cứu của mình Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan nảy
của chủ tịch Hội đồng
Trang 4LOT CAM ON
Tôi xm bảy tô lòng biết ơn của mình dén PGS TS Lam Thi Mj Dung, nguin
đã tận tĩnh chỉ báo, hướng đẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học
rgười đã trang bị cho lôi trí thức và kĩ năng cần thiết để có được tư duy và phương,
pháp nghiên cứu trong lĩnh vực Lịch sử Văn hóa
Tôi cũng xi gửi lời cam on dén những người dã nhiệt tỉnh cung, cấp thông, tìm, số liệu cho luận văn: Thầy Nguyễn Iiữu Mùi, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu
‘Han Nôm; các cản bộ của Trimg lâm Văn hóa Khoa học Văn Miếu Vĩnh Phúc, Bão tảng tinh Vinh Phos
Deo han chế về năng lực, luận văn khó tránh được những thiếu sót Rất mong
được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy, cô, bạn bè để trong tương lai, nếu tiếp tục theo
đuổi hướng nghiên cứu này, tôi có thể hoàn thiện thêm
Trang 512 Truyền thống hiếu học của Vĩnh Phúc
1.2.1 Nhân tổ tác động đến truyền thông hiểu học ở Vĩnh Phúc
CHUONG 3 VAN MIEU VĨNH PHÚC VÀ PHÁT HUY GIÁ TRI CUA VAN
MILEU DOLSONG VĂN HÓA HHỆN NAY,
Trang 631.3 Thờ tự tại Văn Miễu Vĩnh Phú
32.3 Liạn chế và vẫn đề bảo tên các di ích Nho học ở Vĩnh Phúc
PHỤ LỤC
3
Trang 7DANH MUC CAC BANG, SO DO
Sơ đỏ 1 Sơ đỏ mô tả Văn Miễu phủ Tam Đời sau đợt trùng tu lần thứ 2 (1702) qua
Sơ đỏ 2 Sơ đồ mô tả Văn Miều tỉnh Vĩnh Yên (rước nắm 1945) tải liệu xã chí 35
Bang 1 Băng thông kế Văn từ cấp tổng ở Vĩnh Phúc Error! Bookmark not
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chụn đề Lài
1.1 Nho giáo là một trong những trường phái tư tuống chỉnh trị chính của Trung Hoa tử thời cổ đại Do vị trí địa lý và điều kiện lịch sử, Nho giáo du nhập vào
nước †a từ thời Bắc thuộc va có ảnh hướng tới nhiều mặt của dời sông người dân
‘Vist Nam thời cỗ trưng đại, cận đại, bao gồm những lĩnh vực chính trị, tâm lý, văn
hoa, x4 héi Hoe thuyết Nho giáo sau nay được nhà nước quân chủ Việt Nam chi động tiếp nhận dễ khai thác những yếu lỗ dược coi là thể mạnh, thích hợp cho việc
tổ chức, quản lý xã hội và quắc gia Người Việt Nam tiếp thu ảnh hưởng của Nho
giáo bằng nhiều cách, trong đó có bình thức xây dựng Văn Miễu, Van ti, Van chi với nhiều cáp dé hành chỉnh khác nhau từ trung ương xuống địa phương, nhấn khơi
đậy và củng có lòng tự hào dân tộc, tỉnh yêu quê hương đất nước về truyền thống
Tiểu học của các làng xã khoa bằng; từ đó đấy lên lĩnh thân học lập, thí đưa đạy tốt, học tốt, phan dau trở thành nhân tải của dất nước
1.2 Vĩnh Phủe là vùng dắt cỗ nằm trong, cái nỗi phát triển sớm của nên van aminh sông Iléng, mang đậm dâu ấn của văn hóa Ilùng Vương Nơi đây được thiên
nhiên ban ting nhiều danh lam thẳng cảnh nói tiếng, sản sinh ra những anh hùng
‘bao kiệt, nhiều nho sĩ đổ đạt cao trở thành niềm tự háo của tỉnh, Kế từ khi Nho học
được các triều đại quân chủ cường thịnh lấy làm tiêu chí tuyển chọn và bố đựng,
người tài, Vĩnh Phúc đã có hàng trăm đanh Nho liêu biểu có đóng góp quan trọng
đổi với lịch sử quốc gia, đân tộc Năm 1124, ở Vĩnh Phúc xuất hiện vị Liên sĩ đầu,
tiên của tỉnh, đó là Tiển sĩ Phạm Công, Binh, người huyện Yên Lạc, ông có nhiều
công lao lớn đối với quốc gia Đại ViệU làm quan đến chức Thái úy [33] Cho đến
nay, các nhà nghiên cứu đã xác dịnh dược ở Vĩnh Phúc có 393 vị khoa bảng, trong
đó cô 91 vị đỗ Đại khoa (1 Trạng nguyên, 1 Bâng nhấn 20 Hoàng giáp, 57 Tiến
sĩ, ) |33{ vá Văn Miếu Vĩnh Phúc cùng hệ
hông Văn từ, Văn chỉ ö cáp lìng xã
Trang 9được phục dung với chức năng bảo tổn, phát huy, tôn vinh truyền thống biếu học, kính trọng hiển tài của Quốc gia nói chung và của tính Vĩnh Phúc nói riêng,
1.3 Có thể thấy rằng, Vĩnh Phúc có số lượng lớn các danh nhân khoa bảng, nhiều
lang khoa bảng có lượng người đỗ đạt cao, tuy nhiên hiện nay tại nhiều địa phương,
Trhận thức về truyền thống khoa bang xưa của làng xã còn mờ nhạt; nhiều động họ không còn lưu giữ tư liệu hay thờ phụng các bậc tiễn bối này Chính vi vậy, kháo sat va nghiên cửu về Văn Miếu, Văn tử, Văn chỉ Vĩnh Phúc là việc làm cần thiết
Điền này có thể góp phan nang cao tiểu biết cho người dân về văn hóa lịch sử địa phương, về các danh nhân khoa bảng, để truyền thống ấy luôn được con chau đời
đời biết đến, nai theo Trang những năm qua, việc nghiên cứu cáo di tích Nho học ở
dịa phương cũng đã được tiên hành ở những mức độ khác nhau
Từ những vẫn để nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Z”' Lăn Miễu phú Tam Dới
dén Vin Miéu tink Vinh Phúc, truyền thông và biện đạt” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
của mình nhằm giới thiệu một các tổng quát nhất vẻ lịch sứ hình thành, quy mồ, cầu
trúc của Văn Miễu Vĩnh Phúc qua các thời kỷ lịch sử; giải thích lý do Vĩnh Phúc
cing như ở một số địa phương khác hiện nay đang tiền hành trùng tu, xây mới Văn Miếu; đông thời thông qua dé thấy được giá Irị của Văn Miễu rong dời sống vẫn hóa biện đại khi dit nude ta đang đây mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
đóa Trong bối cảnh đó, ngành giáo đục với chức năng 1à đào tạo con người giữ vai
trỏ rất quan trọng
2 Lịch sử nghiên cứn vẫn dé
Ở nước ta, nghiên cứu v
Nho bọc, giáo dục khoa cử và Văn Miều, Văn tù, Văn
chỉ không phải là mới Đã có nhiều sách, các công trình nghiên cứu vẻ Nho giáo ở Việt Nam như: Cuốn Ao giáo của tác giá Lrần Trọng Kim; tác giá Nguyễn Tải Thư với công trình nghiên cứu Nho học và Nhà bọc ở Việt Nam — Một số vẫn dễ lý luận
và thực tiễn, đặc biệt cuốn Nho giáo và phát triển ở Việt Nam (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội) của tác giả Vũ Khiêu Các công trình nghiên cửu này mang đến cho người dọc một cái nhân khái quái về Nho giáo, chủ yêu tập trưng vào việc nghiên
cửu sự ra đời, hình thành và phát triển cúa Nho giáo Trung Quếc tại Việt Nam
Trang 10- Cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 - 1919) do Ngõ Đức Thọ chủ biên,
nhà xuất bản Văn học cấp giấy phép xuất ban năm 2006 Tác phẩm tổng hợp tên tuổi, quê quán, khoa thi và hành trạng của những người đỗ đại khoa từ năm 1075 đến năm 1919 Đây được xem là một công cụ tra cứu, giúp người đọc tìm hiểu
thông tin cần biết về các nhà trí thức Nho học nước ta đã trúng tuyển trong các ky (hi Dai khoa chính thức do triều đình tổ chức [43]
~ ANóm cúc công (rình nghiên cứu về lăn Miéu va di tích Nhơ học:
Nằm trong số những công trình cỏ tỉnh chất tổng hợp và là sơ sở cho bất cứ
nghiên cứn nào về khoa bảng phải kế đến:
-_ Hệ thông di tích Nho học Uiệt Nam và các Văn Miếu tiêu biêu ở Bắc Bộ
(Nxb Thông tia và Truyền thông) của tác giá Dương Văn Sảu Cuốn sách đã hệ thống hóa tổng quan những van dé về Nho học Việt Nam đồng thời giới thiệu khá
cn tiết những dị tích Văn Miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ Cuốn sách cũng cùng cấp một cách tiếp cận đa chiều thông qua việc “giải mã văn hóa” các vẫn đề liên quan hệ
thông di tích Nho học [5]
- Luận văn Thạc sĩ “Văn Miếu Quốc Tứ Giảm và hệ thông Uăn từ Văn chỉ qua tài
liệu Là Nội và phụ cận” của T'S DS Thị Lương Tháo đã trình bày cụ thể, hệ thông,
về quá trình hình thánh, phát triển và hiện trạng của Văn Miễu Quốc Tử Giám qua cáo thời kỳ lịch sử và Văn Miều Huế sự phát triển tiếp tục của hệ thông Văn Miếu Trung ương, thấy được mức độ thêm nhập, ảnh trưởng của Nho học vào Việt Nam [11]
- Hội thảo khoa học các đơn vị quân lý đi tích Nho học Việt Nam, chú đẻ “Nghiên cứu khoa học với công tác báo tốn và phát hay giá tị dĩ tích Nho học” do Trung, tâm Iloat động Văn hóa Khoa học Văn Miễu — Quốc Tử Giám tổ chức năm 2015
Hội tảo khẳng định hệ thống di tích Nho học là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể quý giá củng các truyền thống tốt dẹp của dân tộc, có tác dòng,
tích cực đến tiên trinh phát triển của đất nước và xã hội hiện đại Nhưng công tác bão tổn và phát huy hệ thông giá trị đi tích đặc biệt này hiện chưa tương xứng với
tiểm năng, Trước thie trang do, các nhá khoa học cho rằng, cần phải tiến bành ra soát, kiếm kế, phân loại toàn bộ các đi tích, đi vặt liên quan đến Nho học trên địa
Trang 11bản cả nước Ngoài ra, các dơn vị quản lý di tích Nho học nên chủ động phối hop với ngành du lịch đưa đi tích Nho học lên bản để đu lịch để chúng được sử đựng
Nho học, Nho giáo ở V
hiểu nội dung, ý nghĩa của các di tích của Văn Miều - Quốc Tử Giám ở Hà Nội
Đẳng thời sơ sánh nỗ với các Văn Miều ở các tỉnh khác như Bắc Ninh, Hung Yên,
góp phần hệ thông hoá danh sách các vị Dại khoa trong lịch sử
Ở các tỉnh thành có Văn Miều, cũng đã có nhiền tác phẩm viết về Văn Miền
tỉnh cũng như đi tích Nho học: Khoa vit và giáo đục Việt Nam (Nxb Văn hóa thông,
tim) của Nguyễn Quang Thắng; Dương Văn Sau, Van Miéu.Mao Dién — Hai Duong,
giá trị lịch sử văn hóa (Luận văn Thạc sĩ Văn Hóa học, trường Đại học Văn hóa, Hà
Nội, 2000, Tê Việt Nga (Chủ biên) cuốn Văn Miễu Bắc Ninh, Nguyễn Quang Khải (dịch và chú giải) cuốn Văn bia Văn Miễu Bac Ninh
-_ Mhám các công trình nghiên cứu, bài viết uễ Văn Miễu JTnh Phúc:
Trong những năm gắn đây, nhiều nghiên cửu về Văn Miều vá dị tích nho học
ở Vĩnh Phúc, lịch sử khoa bảng, truyền thống hiểu học của Vĩnh Phúc cũng như những tư liệu liên quan đến lịch sử, văn hỏa tại địa phương đã dược xuất bản
- Cuốn Văn Miếu và truyền thẳng hiểu học ở Vĩnh Phúc do Viên Nghiên cửu Han Nôm phối hợp cùng Sở Văn hỏa Thông tin Vĩnh Phúc xuất bản Nhiều tư liều thư tịch cố quý lần đầu tiên được công bỏ, những minh chứng xác đảng trên cơ sở nguồn tư liệu Hán Nôm về một Văn Miều hang phú, hàng tỉnh; một hệ thống các trường học cấp phú, huyện, xã cùng hang trầm bia dã lưu danh các trường học cập
phủ, huyện, xã, cùng hàng trăm bia đá lưu danh các nhà khoa bảng của Vĩnh Phúc
từ Van Miéu Quốc Tử Giám, Văn từ hàng huyện va Văn chỉ làng xã đã làm nổi bật
truyền thông hiểu học, khoa cử thành danh, Nho sĩ hiển tải, cống hiển trí tuệ vả sức
lực cho quốc gia của người Vĩnh Phúc trong lịch sử [72]
Trang 12- Cudn ?rujyễn thống hiếu học và hệ thẳng Văn Miễu Lăn từ Văn chỉ ở Vĩnh Phúc,
Nguyễn [tu Mùi, Sở Văn hóa Thể thao vả Du lịch Vĩnh Phúc, được xem là một
tiphiên cứu đây đủ tính cho đến thời đim hiện tại về truyền thống khoa bâng của Vĩnh Phúc với nhiều thông tín liên quan đến số hượng những người để đạt, hệ thông Văn
"Miếu, Văn từ, Văn chỉ tại Vĩnh Phúc, cũng như bước đầu lý giải nguyên nhân tác động
đến truyền thông hiểu học của Vĩnh Phúc [33]
- Công trình “Vấn hóa các làng khoa bảng Vĩnh Phúc” do Trung tâm Văn hóa Khoa
thọc Văn Miễn thực hiện đã nghiên cứu một cách có hệ thống các làng khoa bảng để tim hiểu truyền thông biếu học ở Vĩnh Phúc; lý giải nguyên nhân hình thành và đặc
điểm các làng khoa bảng, từ đỏ góp phần nâng cao lòng tự hảo vẻ quê hương Vĩnh
Phúc Đồng thời, đề xuất giải pháp nhằm bảo tôn, gìn giữ và phát huy truy ên thông, hiểu học cùng các giả trị văn hóa của làng khoa bắng tỉnh Vĩnh Phúc [75]
- Cuốn Văn hỏa làng khoa bằng Quan Tử của tác giả Trân Thị Xuyên do Nxb Hội nhà
ệt làng khoa bảng tại Vĩnh Phúc Tuy nhiên đây mới chỉ là một nghiên cứu ở quy mô nhỏ, với một làng,
văn xuất bến năm 2012 được xem lả nghiên cứu tiểu biểu vẻ
điểm mà chưa có tỉnh hệ thống trên toàn tỉnh [5S]
- Hội thảo khoa học “Tế Tứu Quốc Tứ Giám Nguyễn Duy Thi — Con người và sự
nghiệp” do Trung tên Hoạt dong Văn hóa Khoa học Văn Miễu — Quốc Tử Giảm tổ chức (2017) với 27 bài tham luận của các nhá khoa học tập trung nghiên cứu, đánh
giả 3 nội dung: Quê hương, đòng họ của Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Duy Thị;
Hoàng giáp Nguyễn Duy Thi - Con người và sự nghiệp, Bão tên và phát huy giá trị
di sén dòng họ Nguyễn Duy ở Vĩnh Phúc liội thảo nhằm góp phan làm sảng tổ về thin thé, sự nghiệp của nhà khoa bảng, vẻ truyền thẳng hiểu học của đòng họ, đồng,
thời từ đó giữ gìn và phát huy tình hoa văn hiển của đân tộc, quê hương,
- Tac gid Nguyễn Thị Lâm với bài viết Lĩnh Tường Lăn Miễu chung - nguần tư liệu
nói về Văn Miễu phú Vĩnh Tường và tác giả Nguyễn Văn Thanh với bài việt Khánh
đồng ở Lăn Miếu phủ Tum Poi wong hội thảo “Văn Miễu và truyền thông liêu học
ở Vĩnh Phúc” (2008) Dây là hai nghiên cứu quan trọng liên quan đến những hiện vật
Trang 13mình chứng cho sự tổn tại của Văn Miếu phú Tam Đới Một trong hai hiện vật dỏ lá chuông đồng hiện nay vẫn còn được lưu giữ
Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết đáng tải trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu vẻ Văn Miễu và truyền thống hiếu học ở Vĩnh Phúc như: nhà nghiên cửu Nguyễn iIửu Mùi với bài viết Vĩnh Yên tính Văn Miễu bì lạ-nguôn tài liệu nói về
Van Miéu tinh Vinh Yên, trang “Văn Miễu và truyền thông hiểu học ở Vĩnh Phúc”,
tác giả Phạm Thị Thùy Vĩnh với bài viết ăn Miều Phù Tươa Đới thể kỹ XƯII qua văn bia Trùng tu Văn Miễu tịnh nghỉ môn bí lỹ, tác giả Trịnh Khác Mạnh và nghiên cứu Tổng quan nguồn tài liệu chữ Hán vé lich sve Van Miéu Vĩnh Yên Tắt cả những nghiên cứu máy đều có liên quan trực tiếp đến lịch sử Văn Miễn Vĩnh Phúc
Tiên cạnh đó, không thẻ không kẻ đến những công trình nghiên củu vẻ lịch
sử, vẫn hóa và người Vĩnh Phúc Những nghiên cứu này vữa là nguồn Lư
liệu để từm hiểu về đặc diễm tự nhiên, văn hỏa, nhân văn của Vĩnh Phúc như: Địa
chỉ Vĩnh Phúc (sơ tháo) của nhà nghiên cửu Nguyễn Xuân Lân xuất bán năm 2000 [28] và cuốn Địa chí Vĩnh Phúc [56], [Danh nhân Vĩnh Phúc sùa Lô Kim Thuyên phát hành năm 1999; Sắc phong Vỹnh Phúc, tác giả Lẻ Kim Thuyên (2012), Công trình Aghiên cứu Lăn bia Vĩnh Phúc của tác giá Nguyễn Liữu Mùi viết năm 2013
Tuy nhiên, tái cả các công trình nghiên cửu trên mới chỉ đừng lại ở việc
thống kê số lượng, đánh giả về tình hình khoa cử chung của Vĩnh Phúc bay là các bài nghiên cửu riêng vẻ Văn Miễu, Văn từ, Văn chỉ qua các cuộc hội thảo khoa học
Jăn Miễu Vĩnh Phúc
Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về
xột cách day di te lich sử Văn Miếu phú Tam Đới, Văn Miếu tính Vĩnh Yến đến
hiện tại, đặc biệt là khi tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành xây dưng hoàn toàn mới công
trình Văn Miếu tỉnh — được coi là biểu tượng văn hóa, công trình trọng điểm
la
3 Déi tượng và phạm vỉ nghiên cứu
31 Bỗi trạng nghiên cứu:
Nghiên cứu một cách tổng quất nhất về lịch sử hình thánh, phát triển của Văn 'Miễu Vĩnh Phúc trong lịch sử và hiện tại Đẳng thời thây được ảnh hưởng và phát triển
Trang 14của Nho giáo trong quan niệm của người Việt Nam hiện dại thông qua việc xây dụng,
trùng tu lai các Văn Miều hàng tĩnh, trong đỏ có Văn Miều tĩnh Vĩnh Phúc
32 Phạm vi ngiiên cứu:
-_ Nghiên cứu Văn Miều Vĩnh Phúc từ khi còn là Văn Miễu cấp Phú (khoảng thé
kỷ XVID, qua thời gian được nâng cấp và đi đời về Vĩnh Yên và cho đến nay được xây đựng hoàn toàn muới với quy mô lớn
- _ Luận văn tập trung nghiên cửu các tài liệu Văn bia, các hiện vật còn lưu giữ có
liên quan đến lịch sử của Văn Miền phủ Tam Đới, Van Miéu tỉnh Vĩnh Yên và Văn
Miếu tỉnh Vĩnh Phúc xuới xây dựng tại khu Gò Chúo — phường Liên Bão — Vĩnh
Yên _ Vĩnh Phúc, các di tích nho học còn tổn tại trên dịa bản tỉnh tại các huyện Lập
Thạch, Yên Lạc, Binh Xuyên
4 Phương pháp nghiên cứu
41 Phương pháp điển 4ã dân tộc học:
Phương pháp điển đã dân Lộc học được tiến hành nhằm 1hu thập thông tim trục tiếp trên dối tượng nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cửu này, tôi tiền hành đến trục tiếp các làng khoa bang để khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu cỗ
(Hương ước, gia phả dòng họ, ), từ chính những người dân địa phương như: làng Quan Tử (Son Đông Lập Thạch), làng Lý Hải (Phú Xuân Bình Xuyên), Vũ Di
42 Phương pháp xử lý tài liệu
- Phương pháp phân tích, diễn giải tài liệu: Các tài liệu được sử dụng bao
"Viện Nghiên cứu Hàn Nôm, thư viện tĩnh Vĩnh Phúc, Trimg tâm Văn hóa Khoa học
Văn Miều Vĩnh Phúc Do là các nguền tài liệu Văn bia cổ, các sách dã dược xuất bản, các hội thảo khoa học về Nho học, Văn Miễn, truyền thống hiểu hoc, Van
Trang 15Miều Vĩnh Phúe, Sử dụng phương pháp phân tích định tính lá rút ra được những
nội dung tư tưởng cơ bản liên quan đến chủ để nghiên cứu sau khi đã đọc và tham
khảo tải liệu Đây lá phương pháp sử dụng tài liệu có sẵn, tuy nhiên sử đựng
phương pháp nảy là dựa trên các nhìn chú quan của người viết nên nhiều khi còn
nang tính hạn chẻ Do vậy chứng tôi tiếp tục sử đựng các phương pháp tiếp sau đề
có thể có được kết quả đứng với đề tai
- Các phương pháp phông vẫn, quan sát, thông kế: Nhằm cô dược các thông,
tin xác thực, cụ thể, khách quan
5 Đáng góp của luận văn
Luin văn trình bảy một cách cụ thể, khải quát, dây đủ vẻ lịch sử hình thánh, phát triển, hiện trạng của Van Miéu phi Tam Poi, Văn Miễu tỉnh Vĩnh Yên và Văn Miếu lĩnh Vĩmh Phúc Thông qua các tài liệu văn bia, tác giả phục dụng lại kiến trúc của Văn Miều qua các thời kỷ lịch sử từ Văn Miễu cắp phú, phát triển lên Van Miéu
câp tỉnh
Giá trị của Văn Miều trong đời sống văn hóa hiện nay; ảnh hưởng và sự phát
triển của Nho giáo trong quan niệm của người Việt hiện đại thông qua việc xây
dung, tring tu lai các Văn Miếu hàng tình; các hoạt động nhằm phát huy có hiệu
êu, đặc biệt là Văn Miền Vĩnh Phúc
quả Văn M
6 Cấu trúc của luận van
Ngoài phần mở dâu, két luận, tài liệu than khảo và phụ lực, nội dung chỉnh của luận văn gềm 3 chương,
Chương 1 Tổng quan về lịch sử - văn hóa vả truyền thống hiểu học của Vĩnh Plrúc
Chương 2 Từ Văn Miễu phủ Tam Đới đến Văn Miếu tỉnh Vĩnh Yên
Chương 3 Văn Miền Vĩnh Phúc và phát huy giá trị của Văn Miễu trong đời sống văn hôa hiện nay.
Trang 16CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE LICH SU - VAN HOA VA
TRUYEN THONG HIEU HOC CUA VINH PHÚC
1.1 Lịch sử - văn hóa — xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
1.11 Về vùng đất thuộc tỉnh Lĩnh Phúc ngày nay trang lich sit
- Thời Tiền sử và Sơ sử
Giai đoạn văn hỏa Phùng Nguyên cách dây khoảng, 4000 năm, với sự ra dời
của nên kinh tế nông nghiệp lủa mước và nghề luyện kim, con người đã tiên dân xuống khai phá vùng dòng bằng phù sa cổ vưn sông ở Vĩnh Phúc hình thành rên
những khu cư trú, mộ táng, ở Lập Thạch, Nghĩa Lập, Lũng Hỏa (Vĩnh Tường), Đồng Dậu, Dinh Xá, Gò Gai (Yên Lạc), Gò Ngành (Binh Xuyên), Thành Dân (Mê Linh)
Khoảng, 700 năm trước công nguyên, thời điểm khởi đâu của văn hỏa Đông, Sơn — vùng đẳng bằng phủ sa cổ thấp của Vĩnh Phúc đã hình thành, bờ biên lúc bây giờ dã lùi xa khỏi Hải Dương và cho dén khoảng đâu công nguyên tủ bờ biển dã lùi khả xa về phía đông, ving đồng bằng Vĩnh Phúc cảng én định Là cư dân lấy nghề
nông làm chính họ đã sớm chẹn vùng đất phù sa nay dé sinh sống Các dị tích di
vật văn hỏa Đông Sơn có mặt ở Lập Thạch, Bình Xuyên, nhưng nhiều nhất là ở
Vĩnh Tường, Yên Lạc Chính độ phi nhiêu của phủ sa vả lượng nước sông Liỗng đã
có sức thu hút cư dan Dang Sơn đến sinh sống, khai tháo nguồn lợi tự nhiên Dén
giai doạn nảy trên đất Vĩnh Phúc cũng như cá vủng lưu vực sỏng Hỏng dã có một xiển nông nghiệp đa dang lẫy nông nghiệp lủa nước làm cơ bản và đã đạt đến trình
độ khả cao — nông nghiệp đủng trâu bỏ cày kéo
ời văn hoá Dông Sơn, thời kỳ của nhà nước Văn Lang Âu Lạc, Vĩnh Phúc
cững là địa bản quan trong, bên cạnh các đấu tích văn hoá vật chất thi theo sử liệu, nhà nước Văn Lang, gỏm 15 bộ, trong dỏ bộ Văn Lang là bộ gốc, trung tâm của
nước Văn Lang, nằm trên hợp lưu của 3 con sông: sông Thao, sông Đà, sông Lô
Lanh thé trai réng ra hai bén sông Hằng từ dãy Ba Vì sang dãy Tam Đảo, phạm vi tương đương với tính Phú thọ, Vĩnh Phúc, miễn Tây Sơn Tây, một phần Yên Bái
và miễn Nam tỉnh Tuyên Quang ngày nay:
Trang 17Năm 257 TƠN, Thục An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc, dời dỗ về Cô
Loa Bộ Tây Vụ, đất đai thuộc Thục Vương, mở rộng ra Bộ Văn Lang bị thu hẹp
một phần ở phía bắc và đông bắc, còn lại khoảng Vĩnh Phúc và Son Tây ngây nay 'Yên gọi miễn đất này là Mê Linh
- Thời kỳ Bắc thuộc và chẳng BắẮc thuộc
Năm 111 Trước Công nguyên, nhà Hán chiếm nước ta, chia thành 3 quậm:
Giao Chỉ, Cứu Chân, Nhật Nam Dưới quận đơn vị cai trị là huyện Từ đó đến hết
thời thuộc Han, Vĩnh Phúc nằm trong huyện Mê Linh, Thời Tam Quốc, dất dai của
Vĩnh Phúc bị xé lẻ và nằm trong hai huyện Gia Ninh và Mê Linh Thời nhả Tùy,
nam trong hai huyén Gia Ninh và Tân Xương
Nam 621, nha Pudng thay nhà Tủy, thay đối chế độ cai trị và phan chia lai
các châu, quận Từ đầy cho đến năm 938, phần lớn Vĩnh Phúc nằm trong huyện Tân Xương, một phản trong huyện Gia Ninh, thuộc Phong Châu Thừa Hỏa quận, gợi tắt
bản đồ trong nước Nhà vua định bân đồ 12 thừa nuyền nhất sau: Son Tay 6 phú
Tam Padi: quan Binh 6 luyện: Yên lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc, Tiên Phong, Lập
Thạch, và Phù Khang " Ï5\, tr.1076] Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí,
phủ Tam Dới gồm 5 huyện: Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc, Lập Thạch, Phù Khang:
“Phủ Tam Đới ở bên tả sông Hát Đoạn thượng lưu sông Thao từ huyện trắn yên
thuộc trấn hưng hỏa chãy qua huyện Son Vi thong dén ngd Ba Lige, lai mét nhanh
gọi là sông Đà, đầu dòng từ luyện Thanh Xuyên, trần Hưng Hóa chấp qua huyện
Son Vi, cing thong dén dây, ba nhánh hợp lại một dòng, thành ra sông lớn, Năm
huyện trong phủ, chỉ có một lugyện Phù Khang ở bên hữu sông; huyện Yên Lãng,
Trang 18huyện Bạch Hạc dều ở ven sông, dất rộng” [45, tr.133-134] Năm Hồng, Đức thử 21
(1490) đổi gọi các thừa tưyên là xú, sau đổi lại là trấn Theo đó, phạm vi hành chính
của Vĩnh Phúc thuộc phi Tam Poi, phi Doan Hùng và phú Phú Bình Đẻn thời Minh Mang (120 1840) đổi làm phú Vĩnh Tường Thế ký XLX, niên hiệu Minh
Mạng thứ 12 (1831), nhà Nguyễn đối trần thành tính, phạm vi Vĩnh Phúc nằm trang
tại tĩnh Sơn Tây và Thái Nguyên,
“Thạch tách thánh hai huyện là Lập Thạch và Sông Lô Đến dây, Vĩnh Phúa còn lại 7
huyện cùng 1 thị xã và Ì thành phố
Vinh Phúc hiện nay có điện tích tự nhiễn là 1.231,76 ha, dân số là 1.014.448
người [2] Phía Dông Bac và phía Bắc của tỉnh tiếp giáp 2 tỉnh Thái Nguyên va
Tuyên Quang, phía Tây giáp tình Phú Thọ, phía Nam và phía Đông giáp thành phố
Hà Nội
Tư liệu tống hợp về sự thay đối tên gọi và dia danh hành chính của Vĩnh
Phúc là cơ sở đễ xét dến truyền thông giáo dục và khoa cử Nho học, xác dịnh va
Trang 19quy dỗi quê quản của các nhá khoa băng thuộc dịa bản tính hiện nay, đặc biết là xác định vị trí của Văn Miếu Vĩnh Phúc qua các thời kỳ lịch sử
1.12 Diễu kiện tự nhiên — tài nguyên thiên nhiên, kinh tỄ - xã hội
* Điều kiện tự nhiên _ tài nguyên thiên nhiên
- Địa hình
Vĩnh Phúc có 3 loại địa hình: địa hình miễn múi, địa hình vùng đổi và vừng,
động bằng Trong đó, 3/5 là địa hình đổi núi, gồm cả dãy Tam Đo với 3 đình Phù
Nghĩa, Thạch làn, Thiên 'Thị đều cao khoảng 1400m Xét về nguồn gốc tạo thành
và độ cao, thì địa hình miền múi Vĩnh Phúc gồm 3 loại, đó là địa hình múi lửa, núi thấp và núi sót [28]
Ở Vĩnh Phúc dạng địa hình vùng đổi khá điển hình, huyện nào cũng có đồi,
nhiều nhất ở 2 luyện Lập Thach và Tam Dương, các huyện đồng bằng cũng sót lại một ít đôi gò, đổi thường có dạng bát úp, dạng vỏm, diện tích không lớn lắm Di
đồng bằng thường chỉ cao 20-50m, đổi trung du cao trên đưới 100m, đổi cao nhất cũng chỉ khoảng 200m
âm 2/5 điện tích toàn tỉnh, bề mặt tương đối bằng
Địa hình đồng bằng c
phẳng, dỗ cao tuyệt đối khác nhau tủy nơi phân bố của đồng bằng, gồm 3 loại: dòng,
bằng châu thỏ, đồng bằng trước múi và cáo thung lũng, bãi bởi Các dòng sông Lô,
sông Hẳng, sông Phó Đáy cừng một sô sông nhỏ nội địa trong quá trình tích tụ lắng,
dọng tại các cửa sông dã hinh thành nên vũng đồng bang chau thé, bao gdm toàn bộ huyện Yên Lạc, hậu hết huyện Bình Xưyên, Vĩnh Tường Dịa hình đồng bằng trước
núi là đạng đồng bằng giới hạn bởi các đổi núi bao quanh, được hình thành bôi quá
trình kiến tạo, phả hủy lâu dài vũng núi Loại đồng bằng này có diện tích không lớn
và cao dân từ ngoài vảo trung tâm Tiêu biểu là đẳng bằng trước núi Sáng, trước các
ving Bao Tri (Lap Thach), dong bang khu vue Quang Ha, Thanh Lang (Binh Xuyên) Ngoài ra, ven các bờ sông, thung lũng, đàm hỗ cũng hình thành những dãi đồng bằng hẹp và dài Đồng bằng thung lũng sông Hồng bằng phẳng, thoải và rộng
Trang 20lớn dang bang thang lũng sống Lỏ, có chỗ rộng tới 300m, trung bình khoảng 150- 200m, còn đẳng bằng thung lững sông Lô thường dudi 150m [19, tr.20]
Qua đó có thể thấy dịa hình Vĩnh Phúc khá đa dạng, tiêu biểu cho dịa hình có tính chất trung gian, chuyên tiếp từ vùng rừng nủi, qua vùng đổi gỏ xuống ving
đông bằng châu thổ Xen kế trong đó có những địa hình dạng mihi sót ở vimg trưng,
du hay dịa hình dỗng bằng giới hạn ỡ vùng sét chân núi Đồng bằng tuy chỉ chiếm
xen nửa điện tích toản tỉnh tập trung ở 2 huyện Vĩnh Tưởng, Yên Lạc nhưng lại
đóng vai trò quan trọng, bởi đây là nơi đất đại mâu mỡ, thu hút người đân dén sinh
cơ lập nghiệp Vì vậy người dân có điều kiện cho con cái theo đuôi việc học
- Khi hậu
Khí hậu Vĩnh Phúc mang tỉnh chất nhiệt đói gió mùa Dây Tam Đảo ở phía
Bac da phân khi hậu Vĩnh Phúc Hành 2 vùng rõ rêt: vùng đồng bằng và vùng múi Tam Đảo Vùng nui ‘lam Dao có số ngảy mưa, lượng mưa và độ âm cao hơn vùng, đông bằng Trên đất Vĩnh Phúc, giữa 3 vùng địa hình cùng lúc nhiệt độ thường cach nhan ] độ, nhiệt độ tăng dẫn từ vững núi qua vùng trung da xuống vùng đồng bằng,
- Thỗ nhưỡng
'Tiểm năng to lớn nhất của Vĩnh Phúc là đất, Đất ở đây có nhiều loại, không,
*ẻ vùng nủi Tam Đảo, Vĩnh Phúc chủ yêu lả vừng bán sơn địa, vừng trung du, ving
đổi dất thập và đông bằng Vũng đồng bằng châu thé kéo dai tir vimg déi gò ra tận thung lũng sông Liỗng, sông Lô Dây là vùng đất phù sa mới được bởi tụ trong thới
†oàn tân chứa nhiễn khoáng chât và vi hượng nên rất phi nhiều, màu mã, sẵn nước
tưới, khi hậu ôn hoàn, thuận lợi cho việc thâm cạnh phát triển nền nông nghiệp trồng lúa nước Nhờ vậy đất Vĩnh Phúc, cả vùng đổi lẫn đồng bằng châu thổ, đã sớm được khai phá trồng trọt từ thời dựng nước đâu tiên của đân tộc
- Sông ngôi:
Vĩnh Phúc có mạng lưới sông, suối, hỗ, dim khác đày đặc cung cấp nguồn nước tri déi dao cho nông nghiệp và bồi đắp phủ sa cho các vùng đồng bằng, đó là hai hé théng sông chính là sông Hồng và sông Cả Lô (sông Hồng với 2 nhánh lớn là
Trang 21sông Đã và sông Lô; 2 nhánh của sông Lô lá sông Cháy vá sống Phó Đáy), củng với
đó là nhiều đầm, hể lớn, thiên tạo có Dẳm Vạc (Vĩnh Yên), Dâm Dung, vực Xanh
(Vĩnh Tường), hẻ Đại Lãi (Phúc Yên), hẻ Xa Hương (Tam Đảo),
11ệ thống sông ở Vĩnh Phúc có vai trỏ đặc biệt quan trọng đổi với việc phát triển kinh tễ, xã hội trong lịch sử, bởi đây là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoại, nơi
giao lưu buôn bản, cũng chính la đường giao thông đẻ sĩ tứ tham dự các kỹ thi
Tiương tế chức ở Sơn Tây và Thăng Long, trong đó sông Lô và sảng TTồng là tuyến
đường chính Sông I.ô chạy vào địa phận Vĩnh Thúc qua các xã Bạch Tu, Hải Luu, IDôn Nhân, Phương Khoan, Thị trấn Tam Sơn, Tứ Yên, Dúc Hác, Cao Phong (huyện Sông L8) qua Sơn Đồng (Huyện Lập Thạch) đên ngã ba Bạch Hạc đễ vào
sông Hồng Sông Hồng chây qua địa phận Bồ Sao, Cao Đại, Phú Thính, Lý Nhân,
An Tường Vĩnh Thịnh, Vĩnh Ninh (Vĩnh Tường), sang Dại Tự, Liỏng Châu vả kết thúc ở Trung Hà (Yên Lạc), chảy xuỗi về Hà Nội đố ra biến [33, tr21-22] Nhà Nghiên cứu Lê Kim Thuyên đã timg ghi white “Lang Quan Tử, xã Sưn Đông, làng
tọa bền bở tả sông Lõ, có một bên dò dành riêng, gọi ta bến dò Tiên sĩ (lực gọi là hén Nghe), duoc xép hang dé ong, ding dé don những người Đại khoa vinh quy bái
tổ, còn mỗi dến sưu năm 1954" |22, tr.228]
«Kinh lễ - xế hội
- Kinh lễ nông nghiép, thi cong nghiệp
‘Vinh Phúc là một tỉnh đồng băng có trung du và miễn núi, hình thành 3 ving sinh thái rõ rệt trong đó điện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 50% [28, 115], dia hình có độ dốc tự nhiên theo hướng Tây Bắc Đông Nam có sự chénh lệch khá lớn
về độ cao giữa vùng núi và vùng đẳng bằng Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, ngay
từ thời đựng nước, người Việt cổ đã đến Vĩnh Phúc sinh sống và biết làm nghề
ông Lủa nước là loại cây trằng phổ biến trong đời sống cư dân lúc bẩy giờ
Tiên cạnh nghề nông, thủ công nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong dời
sống với các nghề làm đã, làm gốm, làm dé xương, đệt vải, đan lát và đặc biệt là
huyện đúc đồng Từ rất sớm, Vĩnh Phúc đã hình thành và phát triển các làng nghề
Trang 22thủ công truyền thông Làng gôm Hương Canh (xua là xóm Lò Cang) là làng nghề thủ công truyền thống nế¡ tiếng từ lâu của tĩnh Vĩnh Phúc Một số nhà nghiên cứu trước đây đựa vào thân tích đình làng Chiêm Trạch (Đông Anh) cho rằng nghề gốm Hương Canh đã có từ thởi An Dương Vương Gốm Hương Canh được chuyển đi
‘ban khắp nơi ở miễn Bắc Lảng Quan Tử xưa chính đanh là x4 Son Déng, mét trang
Trâm xã của lỗ: Cao Mặt, én Nom là Kế (ốm, bởi làng từng có nghề làm gốm khá phat dạt Nghề mộc Bích Chu (An Tường Vĩnh Tường) nỗi tiếng từ trên 300 năm nay Những năm trước đây, nghề mộc được tố chức thành tế nghẻ, hợp tác xã Có
thời thịnh, thụ hút hàng ngăn lao động Nghề rên Lý Nhân (Viit Tường) chuyên
sản xuất công cụ phục vụ nông nghiệp vả các dụng, cụ sinh hoạt gia định như dao, tiểm, cnốc, xẻng Ngay từ thê kỹ X, làng rèn đã tham gia sân xuất nhữmg mặt hàng
có kỹ thuật và chất lượng cao như kiếm, giáo, mac và dóng góp nhiều sức người sức của cho phong trảo cách mạng tiên khởi nghĩa Kháng chiến chống Mỹ, lang con
sản xuất một số đao kéo, đụng cụ nhẫu thuật phục vụ đắc hực cho chiến trường,
Cáo huyện trong tính đều cỏ một số cửa hiệu nhớ ở phố huyện và chợ huyện, nổi huyện cũng có một số chợ nông thôn phân bề tương đổi thuận tiện cho nhân
dân từng vùng Huyện Lập Thạch có chợ Liễn Sơn (chợ huyện), chợ Gốm (Sơn Đông), chợ Trục (Xuân Hòa); huyện Tam Dương có chợ Vẽ (Hoàng Hoa), chợ Cói (Hợp Thịnh), chợ Vàng (Hoàng Đan); là
Canh), chợ Láng (Thanh Lãng), chợ Đền (Tam Lộng, Hương Sơn), huyện Vĩnh
én Bình Xuyên có chợ Cánh (Hương
'Tường có chợ Giang (hổ Lang), chợ Dưng (Tử Trung), chợ Hỗ Sao, Yên Lạc có chợ Rau (Liên Châu), chợ Mỏ (Minh Tân) [28, tr241-2⁄2], các chợ nâng thôn thường là buôn bản nông, lâm sản Miỗi chợ thưởng có các dặc sản của dịa phương,
minh, C4c chợ huyện xưa cũng sâm uất, nẻi tiếng một vùng, nhất là chợ Cánh Chợ
Hương Canh vào vị trí thuận lợi, vừa là thị rân huyện l¡ Bình Xuyên, vừa ở vào
vùng nông nghiệp trủ phủ và một khu thủ công, nghiệp truyền thống Đặc trưng của các làng nghề truyền thống và các khu chợ đều tập trung ở cdc ving đồng bằng trên
địa bản các luyện Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Lập Thạch
- Di tích — l hội
Trang 23Nằm ở cải nội của nền Văn mình sông Hồng, Vĩnh Phúc ghỉ dấu nhiều giả trị văn hóa lịch sử Trong đó, các giá trị văn héa vat thé va phi vat thé được xem như nhimg thành tổ không thế thiêu, góp phần câu thành nẻn những truyền thống tốt đẹp của địa phương như truyền thống yêu nước, truyền thống đầu tranh anh dũng,
truyền thống hiếu học Vĩnh Phúc hội tụ nhiều thăng cảnh vả di tích lịch sử tiêu biểu cho cã nước Theo kết quả thông kê của Ban quần lí di lích tính, năm 1998, Vĩnh
Phúc có 967 di tích - danh thẳng, trong đó có 2§7 đình, 122 đến, 95 miễu chiếm tỉ lệ 52% tổng di tích; riêng chủa có 325 ngôi, chiếm tỷ lên 33% tống đi tích, S6 di tích được xếp hang cấp quốc gia |74, tr.51J Nổi tiếng có ch tích danh thắng Tây Thiên
(Bai Dinh Tam Đảo), chúa Bảo Ấn (Phúc Yên, nơi cò văn bia mang niên dại năm
1310 sớm nhật Vĩnh Phúc), đi chỉ khảo cố học Đống Đậu (Yên I.ạc), tháp Bình Sơn (Lập Thạch), đều Thính (Yên Lae), dén da Phú Đa (Vĩnh Tường), dịnh Thỏ Tang (Vĩnh Tưởng), cụm định Tam Canh (Binh Xuyên) gồm 3 ngôi định Hương Canh Ngọc Canh — Tiên lường gắn liên với làng gêm Hương Canh, đền thờ Trần
Nguyên Han, dén Đỗ Khắc Chưng (Lập Thạch), trong đỏ lưu giữ nhiều di vật cỗ như văn ba, chuông, khánh, hoành phi, câu đối,
sử, văn hóa, đặc biệt nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp các Tiên sĩ Nho học của
tỉnh
Ác phong, giúp nghiên cứu lich
Tóm lại, Vĩnh Phúc là một vùng đất có rừng râm, nữi cao, đổi thấp, đẳng,
bằng bằng phẳng, nhiều sống suối, hỗ - đâm, khí hậu diéu hoa hai mùa rõ rệt và cũng lá tính có nhiều tiêm năng của đốt rùng nên tử rất sớm đã được cư dân nguyên thủy tìm đến khai phá và không ngừng phát triển trên cơ sở của nghề trêng lúa nước, bên cạnh dỏ lá các ngành nghề thủ công nghiệp, thương nghiệp ra dời dáp tửng nhu câu của người dân Việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên, kinh tê xã hội đề thây được cuộc sống của cư dân Vĩnh Phúc, từ đó làm cơ sỡ
để giải thích việc hinh thánh các nhà khoa bảng, của các làng khoa báng; lý giái sự phân bồ cửa hệ thẻng di tích Nho học trên địa bàn tỉnh.
Trang 241.2 Truyền thống hiểu học của Vĩnh Phúc
12.1 Nhân tẳ tác động đắn truyền thông hiểu học ¿ Vinh Phúc
Sự xuất hiện của các làng khoa bảng, xã khoa bảng ở các vùng đất khác nhau, trước hết lâ đo hệ quả tất yêu của chế độ xã hội phong kiến Việt Nam, cu thé
đó là hệ quả của nền giáo dục Nho học, của việc luyển bỏ quan lại cho bộ máy nhà
nước các cấp thông qua con đường khoa cử Nho học Từ thời Lê Thánh Tông, cứ 3 năm lỗ chức một khoa thì, cử nắm trước Hương năm sau thì Hội, là thời kỳ khoa củ
phat triển thịnh dạt nhật của cã nước, cũng như của tỉnh Vĩnh Phúc với 47 vị Tiền sĩ
đỗ đạt [38] Đến thời Nguyễn, kinh đồ chuyển vào Huế và Nhà nước cho xây Quấc
Tử Giám ở Huế và mở ra các kỳ thì lại đây Văn Miếu Huế có quy md nhé hon so với Văn Miễu ở hăng Long, chú yếu chỉ là nơi thờ phụng các vị tiên hiển và dé
dựng bia Tiền sĩ
- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kính tế xã hội của các làng khoa bằng
Cáo làng khoa bồng, vùng đái sâm gình ra các vị Tiểu sĩ cũng là như có những,
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thuận lợi cho việc đi học, đi thí, Láng Quan Tử
xằm bên bờ trái sông Lô, lại có cơ sở kinh tế khá nhờ việc buôn bán đường sông
vat phat triển và giao lưu văn hóa với cả miền xuôi và miễn ngược Đây là điều kiện thuận lợi để các thể hệ dân lang dựng lên trên mãnh đất làng mình một hệ
thống các công trinh thờ cúng mang đây đủ những đặc trưng về văn hóa vat thé
của một làng Việt, gồm đình, đến ruiễu, chủa, văn chỉ, nhà thờ các dòng họ Bản
khai thần tích - thần sắc của làng biện còn lưu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội có đoạn: “Ông (Đã Khắc Chung) nguyên là người Giáp Sơn tỉnh Hải Dương,
hic ÍI tuôt có tài văn võ, học hành rất thông rảnh, lúc chưa hiển dạt có di chơi dẫn
làng chúng tôi thấy nhân dân phong tục thuần hậu mà Ít học bảnh, Ngài mới lập
bường dạy học, nhờ đó nhân dân học tập thông thái, thành ra một làng có ý nghĩa ” [75, tr.3]_
Lang Lý Hải năm ở vị trí trung tâm của xã Phú Xuân, huyện Binh Xuyên,
tinh Vĩnh Phúc từ xưa đến may dược vinh danh là “Ùảng Tiền sĩ”, dừng thứ lưi về số
Trang 25lượng người dé dat (sau Ling Quan Tt Sơn Đông Lập Thạch) với 08 vị dỗ Tiên
sĩ Nho học Làng xưa kia từng là vùng quê trủ phú, giàn tiêm năng nuôi sống cơn
người Ngoài con sông Như Nguyệt, thiên nhiên còn tru đãi cho Lý Hải hệ thống
sông ngôi, đầm, hỏ dân thủy nhập điển tự nhiên, với những cánh đồng, ruộng mia,
trại vải đến mủa thu hoạch chín rực cả một vùng [75, tr.176]
- Chính sách khuyên học của các làng khoa băng
Vĩnh Phúc là vùng đất có bề đây lịch sử — văn hóa lâu đời, với hàng tram di tích lịch sử — văn hỏa gắn với các địa đanh nỗi tiếng Người dan Vink Pluic có truyền thông lao động cần cù, hiểu học, thông minh, năng động vả sáng tạo, luôn
chú trọng việc khuyến heo, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi giúp người đi
đọc mau đại kết quả Hình thức khuyến học gồm khuyến học bằng val chal và khuyến học bằng tính thần Khuyến hoc bằng vật chất thể hiện qua việc xây dung
trường học, đặt học điện, thưởng bằng tiên cho học sinh khi đỗ đạt khoa trường, áp
đụng cho học sinh lớn tuổi thanh du vào các ky thi Huong và thủ Hội Cách này để giúp hợ bớt một phản lộ phi Thac ban Van bia ghỉ học diện tông Sơn Bình huyện
Lập Thạch cò ghi: “Đắn mua thu năm Quý Sửu, niên hiệu Tự Đức (1853), Từ vũ thờ
Tiên hién trong tong hoàn thành, con ông là Cai tẳng Hoàng Tĩnh cùng Hội Tư văn trong tổng bàn định theo việc cũ Bèn lượng lấy ruộng công tự trong mỗi xứ của
tùng xã, mỗi xã 3 mẫu 2 sào 2 thước Cơi tằng [Hoàng Tĩnh] tự nguyện củng liễn
một xứ ruộng tư của nhà, cũng 3 mẫu 2 sào, thành 8 xứ, tẳng cộng thành 22 mẫu 4
tiển Số ruộng còn lại
sào đề cụng ứng vào tiết xuân thu bàng năm tại đền th
#7 xứ, là 16 mẫu, nộp tô hàng năm, còn bao nhiêu sung đây đủ cha th) dạy hạc,
quanh năm lo liệu mọi chỉ phí” [66]
Tinh thức khuyến học bằng tỉnh thân thể hiện ở việc người đân luôn tôn vinh người có học Pdi với người đã đạt khoa trường, đặc biệt lá người đỗ Đại khoa, ngày hợ vĩnh quy không chỉ được được vua ban biến vàng, mũ áo, dy yến tiệc, má
khi về làng côn được nhân đân đón tiếp nồng hậu với bao nghỉ thức lang trọng, trở
thành mệt sự kiện trong đại trong đời sống tinh thân của làng, của lông Những
người có học dược nhà nước phong kiến trọng dụng thuyên chuyển vào bộ máy
Trang 26chính quyển, đáp ứng, cho nhụ cầu của triệu dình cũng, như cả nhân và xã hội Cách lấy học vị làm tiêu chuẩn tuyển dụng công chức vào bộ máy hành chính được các triểu đại phong kiến Việt Nam áp dụng, được cơi là cách thức cơ bản khuyên khích người đi học Khi họ mất được dân làng khắc họ tên, năm đổ, chức tước lên bia đả
hoặc để biến ngạch tòng tự ở Văn chỉ: Những xã lập Văn chỉ là nơi hiển học, có nhiều người đỗ Đại khoa Bản xã Lăn cñó bí ký Vũ Di (huyện Vĩnh Tường) được lạo vào năm Tự Đức thứ 20 (1867), ghi lại thông tim những người dỗ dạt, khích lệ tính
thin học tập cho người dân trong vùng Văn chỉ càn dung bia ghi hoc điển, đặt điều
lê miễn giâm lạp địch, thưởng tiên cho người đỗ đạt khoa trường nhằm khích lệ tinh thân học tập cho sĩ tử trên địa bàn: “Xã Vũ Đi là nơi văn vật vời nhiều người dễ dạt
khoa trường nhưng chưa có Uăn chủ đề thờ cúng tiên hiển khai ở nộc học Nay các
vị hào mục trong xii hing ra lập Văn chỉ, dông thời khắc họ lên các vị khoa trường
người bản xã, như Nguyễn Lăn Chất, Nguyễn Bú Dung, Nguyễn Đình Phương, ghỉ một số điều lệ của văn hội xã Vũ Di, trong đó quy định việc mùng thưởng đối với người đỗ khoa trường |34, tr.390| Ngoài ra, trong Hương, ước xã Vũ Di cũng cỏ
có ghủ: “Mi năm tiệc tháng giêng là ngày tổ 1w văn tổ xong, cho bidu quan Dai
khoa dau lon 1 chân, xôi 1 đẫu, cau 10 quả Quan Trung khoa, đầu lợn ¡ chân, xôi
1 dấu, cau năm quả Quan Tiễu khoa, chan gid ign I chân, sôi 1 dĩa, cau 3 quả,
rượu trù 1 củt "(khoản thứ 25) [17, tr.1] Quyên lợi vật chất và vĩnh dự về tình thân
là nguồn động lực giúp người đi học không ngimg phan dau để đạt kết quả cao
12.2 Truyền thẳng liễu học
Lịch sử khea cử nước ta được tính từ năm Ất Mão niên hiệu Thái Ninh, triểu
vua Lý Nhân Tông (năm 1075) đến năm Kỹ Mùi dời vua Khải Định (năm 1919) và trong khoảng thời gian đó cá nước có tới 2889 người đạt được những học vị cao
155, tr] Trong số họ, nhiều người có đóng góp nối bật đổi với triều đình phong
kiến, cũng như trở tưảnh tắm gương sảng, niềm tự hào cho quê hương, dòng họ, gĩa
đỉnh Vĩnh Phúc xưa thuộc không gian văn hỏa xử Doải, nên từ lầu người dân nơi đây đã có truyền thẳng hiểu học rất đáng tự hảo với nhiều người thánh đạt bằng con đường thì cử Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã xác định được ở Vĩnh Phúc có
Trang 27393 vị khoa bảng, trong dõ có 1 vị đỗ dâu Thái học sinh triều Lý (Phạm Công
Binh), 1 vi 48 dau khoa Minh Kinh (Triệu Thái), 1 Trạng Nguyên (Dao Su Tich), I
Bang Nhân, 1 Tham Hoa, 20 Hoang Giap, 57 vi dé Đệ Tam giáp Đảng Tiên sĩ xuất
than va 2 vj Pho Bang So voi ca nude, Vĩnh Phúc chỉ chiếm 2,9% số người đổ đại khoa cimg ngach van [33, tr.35] So với các tinh Bac Ninh, [Iai Duong, Ilumg Yên,
số người đỗ Đại khoa của tĩnh cũng tháp hơn khả nhiều Lý gi
¡ cho hiện tượng này
là do Vĩnh Phúc trước dây chỉ có 5 huyện: Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch,
Vĩnh Yên và Yên Lạc, lại nằm ở đỉnh châu thố sông Hồng, là vùng chuyển tiếp giữa
xây dựng một nhà nước lung ương tập quyền vững mạnh, Lê Thánh Tông chủ
trương dộc tôn Nho giáo nên dã đầy mạnh phát triển giáo dục và khoa cứ, nhằm dao
tạo được đội ngũ quan lại có học (văn quan) thay thể cho đội ngũ võ quan nắm gift quyên lực ương các cơ quan nhà nước cóc cấp Thường xuyên ba năm mổ một khoa thị Hội lấy người đưa váo bộ máy đang có xu hướng mở rộng của nhả nước “riêng
người đỗ Đại khoa thi rdi trọng vọng: vua bạn mũi áo cân đại, cho dự yẫn tiệc, cấp ngựa tốt về guê làm lễ vinh quy bái tổ Họ lại dược phong thưởng, cho năm giữ các chức vụ bong triều mà trước đỏ chưa có tiễn lệ" [33, tr36] Trong 37? năm trị vk (1460 — 1497), Lê Thánh Tông đã tố chức 12 khoa thi Hội, lây 501 tiền sĩ [40,
tr.126] Các thời nhá Mạc, Lê Trung Hưng, nhà Nguyễn trỡ
sau, số lượng người
để đạt rất ít, đây cũng là tính trạng chung của các tỉnh
Tuy nhiên, số lượng người đỗ đạt chñ yêu tập trung vào các huyện ở đồng,
Đằng (Vĩnh Tường có số lượng lỏn nhất là 23 Đại khoa, Yên Lạc 19 vị, Lập Thạch
7 vị, riêng huyện Tam Dao không có người đỗ khoa trường [33, tr.35] Sở đĩ cỏ sự
chênh lệch như vậy là do khu vục trưng du, miễn nói không có điều kiện đi học
Hau hết các làng dêu bắt dầu sự thành đạt về khoa từ thời Lê Sơ về sau Chỉ riêng,
Trang 28làng Lý Hải và làng Xuân Hy, rỗi làng có một vị dại khoa vào thời Lý - Tran Lang
Quan Tử, hân hết sẻ người đỗ Dại khoa tập trung vào thời Lê Sơ, có tới L1 người, trong khi chỉ có 1 người đỗ thời Mạc và I.ê Trung Hưng Đây cíng là thực tê điễn ra
ở lảng Xuân Hy, Nhật Chiêu, Vĩnh Mỗ, Văn Trưng và Vũ Di
Truyền thống hiểu học còn thế hiện ở cáo đồng hạ khoa bảng và các làng
khoa bằng Ở Vinh Phúc mặc dù số lượng người đỗ đại khoa mới đừng lại miùc khiêm tủn, nhưng nhờ tinh than hiểu học nên sớm hình thánh nhiều lang có số lượng người đỗ đạt cao (đã Đại khoa) vào loại nối tiếng của nước ta, nổi bật như
làng Lý Hải (xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên) có 8 vị, làng Quan Tử (xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch) có 12 vị, trở thành làng khoa bảng duy nhất cúa tỉnh Vĩnh Thúc Bên cạnh các làng khoa bảng lả các đông họ khoa bảng, Vĩnh Phúc trước đây
có khá nhiều dòng họ với nhiễu đời cha con, ông cháu, anh cm nổi nhau đăng khoa
ghi trong tải liệu Đăng khoa lục hoặc trong gia phá như cha con Nguyễn Văn Chất
và Nguyễn Văn Tủ của đàng họ Nguyễn (xä Vũ Di - huyện Vĩnh Tường), dng chau
Lê Ninh và Lê Hiển thuộc dòng họ Lê (xã Liên Châu - Yên Lạc); Dòng họ Nguyễn
ở Quan Tủ có ba anh em là Nguyễn Lộ, Nguyễn lrinh, Nguyễn Phúc Tư đều làm
quan củng triêu vua Lê Thánh Tông Nếi tiếng nhất dong họ Nguyễn ở làng Lý Hải,
huyện Binh Xuyên Mở dẫu là Nguyễn Báo Khuê, dễ Hoàng Giáp khoa Đình Múi,
xiên hiệu Hỏng Dức thứ 18 (1487), lâm quan đến chức Hình bộ Tả thị lang kiêm
Đình úy Năm 1508, người châu thứ nhật của ông là Nguyễn Sư Phó đỗ Tiến sĩ, làm quan đến chức Kiểm thảo, người cháu thứ hai là Nguyễn Duy Tường đã Hoàng
Giáp khoa Tân Mùi, làm quan đền chức Tham Chính Tiểp đến là con Nguyễn Duy
Tường là Nguyễn Hoàng Xước, châu các đời của ông gồm Nguyễn Thể Thủ,
Nguyễn Quang Luân, Nguyễn Duy Thì Nguyễn Duy Hiểu cùng dỗ Tiến si va ra làm quan [75] Như vậy dòng họ Nguyễn ở Lý Hải với § người, đều đã Đại khoa, làm quan đanh vọng trong Hiểu đình, được coi là 1 dòng họ Liêu biểu không chỉ của
Vinh Phúc mà còn chung cho cả nước
Với 391 vị khoa bang đỗ trải qua các thời kỳ từ thời Lý đến thời Nguyễn, từ
người khái khoa Phạm Công Bình đến người dé cudi cing 14 Phan Duy Bach déu
Trang 29được dào tạo trong môi trường khoa cử của Nho giáo dễ ra làm quan phục vụ dat tước Họ tham gia vào nhiều mặt hoạt động trong đời sống xã hội đương thời như nha lap pháp Triệu Thai, nha ngoại giao Nguyễn Văn Chất, Lê Ninh, Tô Thế Huy
êm hơn chục vị, phụng mệnh triều định sứ Trung Quốc; nhà Chính trị vào loại kiệt
xuất ở nước ta như Nguyễn Duy Thị, nhà giáo đục nổi tiếng nhìt Dễ Khắc Chung, Nguyễn Khắc Cân Bên cạnh đó còn hơn chục thà thơ như Nguyễn Tôn Miệt (thành
viên hội Tao Đán), Hà Nhiệm Đại với tập Khiểu vịnh thị tập, Trên đường xuất thân, có người đã đạt được tiêu chí là bậc Danh thân như Đỗ Nhuận, Nguyễn Duy
Thị, những bậc Danh Tiết như Nguyễn Thiệu Trí Lê Đức Toản, Nguyễn Duy
Tường, Nguyễn Khắc Cần, tên tuổi ghi chép trong sử thực lục, dược lap dén miéu riêng tên thờ, các triểu đại tăng sắc phong ban ân điển [74 tr.102]
Tiểu kết chương
Giáp với thủ đô Hả Nội về phia Bắc, Vĩnh Phúc là mặt trong “tứ trấn” phên đầu của kinh thành Thăng Long xưa, thuộc vùng vấn hóa giữa, chuyển liếp lừ khu
vực miền nủi phía Bắc xuống dồng bằng sông Hồng, Trong lòng dat Vinh Phuc con
hm giữ nhiều đi tích khảo cổ học thời Tiển sử, Sơ sử tương đương với các giai đoạn
văn hóa Phùng Nguyên, Pang Pau, Gò Mum, Đông Sơn Tuy điện tích và dân số
đủ 3 vùng miễn múi, trưng đu và đồng bảng với vùng núi cao Tam Dảo phía Bắc,
sông lớn Hỏng Hà phia Tây, dỏng bằng màu mỡ phía Nam và Tây Nam
Quả trình dựng nước và giữ nước của Vĩnh Phúc đã sắn sinh ra một nên văn
hóa rực rỡ Vĩnh Phúc là quê hương của Hai Bà Trưng khởi nghĩa, của danh tướng Trần Nguyên Hãn, lãnh tụ nông đân khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương, Chủ tịch
Quốc đân đảng Nguyễn Thái Học Vũng Phúc còn là vũng văn hỏa dan gian đặc sắc
với nhiêu loại hình phong phủ, đa đạng: từ tục ngữ, ca đao, tho ca dân gian đến
yết, giai thoại, trò diễn, hội làng, phong tụe tập quản, trên nền tự nhiên
— lịch sử - văn hóa ấy đã sản sinh ra hàng trăm nhà khoa bằng, tiền sĩ đanh tiếng các
triều Ngay từ thời nhà Tý, năm 1124, Vĩnh Phúc đã có người đỗ Trạng Nguyễn Từ
tạ w
Trang 30do dén khoa thi Nho học cuối củng thời nhà Nguyễn, tuy chỉ lá một phú nhỏ trong tran Son Tây rộng lớn, Vĩnh Phúc đã có gần 100 người đỗ Tiển sĩ, trong đỏ nhiều Tigười nỗi trội về trị quốc, về văn chương lỗi lạc được lích sử lưu danh.
Trang 31
CHUONG 2 TU VAN MIEU PHU TAM DOT DEN
VAN MIEU TINH VINH YEN
2.1 Lịch sử hình thảnh và phát triển của Văn Miễu phủ Tam Đới và Văn
Miéu tính Vĩnh Yên
Văn Miều Vĩnh Phúc hiện nay có nguồn gốc lừ Văn Miếu hàng phú của phô Tam Đới và được trùng tu vào những năm 7Ô của thế kỹ XVI, sau dó đỏi tên thành Van Miéu phủ Vĩnh Tưởng, rỗi phát triển thánh Văn Miéu tinh Vĩnh Yên vào đầu thể ký XX Hiện nay xây đụng lại lẫy tên là Văn Miếu tỉnh Vĩnh Phúc Dựa vào các
tài liệu chính sứ, tải liệu văn bia hưu trữ tại viện Hán Môm, các hiện vật hiện cón
như bia, chuông, khánh, các nhà nghiên cứu xác định ở Vĩnh Phúc từng tổn tại
ăn chỉ khả hoàn chỉnh gồm 4 Văn tử và 34 Văn chí các cấp [38] Dưới đây là một số nguồn tải liệu liên quan đều
yăn Miều tỉnh Vĩnh Yên:
Văn Miễu cấp tỉnh, cùng với đó là hệ thông Văn từ,
lịch sử Văn Miều phủ Tam Dới và
Thử nhất, Vin bia ming tu Van Miéu tink aghi mén bi ig’ (1669) dat tai Văn
chỉ xã Cao Xá huyện Vĩnh Tường, bia gồm 2 mặt, mặt 1 ghỉ việc trùng tu Văn Miều
và nghỉ môn lần thứ nhất đa Miễu cũ chỉ còn lại nên, thời gian bắt đầu trùng tu
được văn bia ghi rõ như sau "Chọn ngày tốt tháng 10 năm Đình Mài (1667) khởi
công, qua 12 tháng, đến Hết đông thì hoàn thành Lập bia vào Hết lối, mùa đông
thẳng 10, năm Kỹ [Dậu, niền hiệu Cảnh Trị thứ 7 (1669) trong vạn vạn năm [70]
Bia do Trần Dãng Tuyển, Dỗ Dồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thin, Dặc Tiến
im Tử Vĩnh Lộc đại phu, Tham tụng, Tổ tướng, Bình bộ Thượng thư, tước Xuyên Quận công, người xã Hoàng Mai huyện Yên Dững phú Lang Giang,
Thử bai, Văn bia Từ đập từ vữ bí (chỉ việc tu sửa Văn Miều phủ Tam Dới) đặt
tại Văn chỉ xã Cao Xá huyện Vĩnh Tường, là Lâm bia trụ gồm 4 mặt Lập bìa ngày
tốt, tháng 1, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Chính Hỏa thử 23 (1702) Nội dưng bia ghỉ
lại thời gian tu sửa Văn Miễn phú Tam Đới lần thứ 2: "Công việc tường tái, bài đâu
từ năm Đình Sữu (1697) thì khởi công, đến năm Tân Ty (1703) thì hoàn thành”
[71] Bia do Nguyễn Phủ, Tién sĩ khoa Ất Sửu (1693), Tri thị nội Thư tả Bình
tạ 3
Trang 32phiên, Bồi tụng Hộ khoa Đồ cấp sự trung, người xã Đỏng Khê huyện Thanh Lâm
soạn
Thứ ba, Vĩnh Tường phú Văn Miễu chung (chuông Văn Miếu phủ Vĩnh
7ường) Tài văn khắc cho biết Văn Miều bản phủ đất tại một khu đất riêng biệt, yên
tĩnh ở xã Cao Xá, huyện Bạch Hạc Nội dung chuông tác giả thuật lại quả trình đúc
chuông đúc khánh của Văn Miếu phú Tam Đới trước day va cho biết lý do duc chuông lần này là đo chuông cũ của Văn Miễu phủ Tam Dới bị hỏng nên các vị
quan chức phủ Vĩnh Tường tập hợp mọi người góp công đức, đúc thành chuông
angi cung tiền vào Văn Miều phủ Vĩnh Tường: “Các vị quan viền tả hữu suất đội ở
Eỡ thuộc (ngạch võ) tại các huyện Yên Lạc, Bạch Hạc, Lập Thạch và Phù Khang
cùng các vị Văn thuậc (ngạch văn) bản phú, cũng như mọi người trong bốn huyện cùng nhau tạo đồ tế khi gdm chuông, khánh và trồng, cụng tiễn vào Văn miễn bản
phủ đột ở xã Cao Xá” [31, tr.55] Công việc đúc chuông được tiền hành vào rnừa
xuân năm Canh Thân, đến khi hoàn thành, mười phần đền tối đẹp Qua đây cho thấy đến giữa thế kỷ XIX, phú Vĩnh Tưởng cỏ Văn Miễu của phú nhưng dây lả sự kế
thừa từ Văn Miễn phủ Tam Đói thời Tê
lliện nay, quá chuông nay đang được lưu giữ tại Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh
Tường, nặng khoảng 30 cân, kích thước 116 x 60cm, đường kính miệng 35cm [37,
tr.55J Ngay ở múi đầu tiên của chuồng cho biết thời gian đúc chuông và lác giả
“Ngày mông 4 tháng 3 nhuận năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) Lê Duy Trung người
xã Thượng Phúc, tống La Phù, buyện Thượng Phúc, phủ Thường Tin, nh Hà Nội
đỗ Tiên sĩ khoa Mậu Tuất năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), giữ chức Tri phú Vĩnh Tường kiêm biện Giáo thụ soạn" [31, tr.55]
Thứ tr, bài mình khắc trên khánh đông đặt ở Văn Miễu phủ Tem Đới, khánh
nay không có tiêu đề Bai minh do Hiệu sinh Luân khaa Nguyễn Khả Tập, người xã Tũng Xuyên huyện Yên Tạc soạn, cung cấp thông tin về những người tham gia đóng góp công đức đúc khánh, chuông và trống cung tiên vào Văn Miễu bản phủ
Nghe rằng “Khánh đứng đầu trong ngũ âm, (Hỗng) thông thấu suốt núi sông
Khánh đâu chỉ là (ié khú) thờ thin ma con dùng tẳng đề hòa hợp trên dưới” [39,
2
Trang 33tr60], nên “Các vị quan viên tả hữu suất dội ở Võ thuộc (ngạch võ) tại các huyện Yên Lạc, Bạch IIạc, Lập Thạch và Phù Khang cùng các vị Văn thuậc (ngạch văn)
bản phủ, cũng như mọi người trong bin huyén cùng nhau tạo đỒ tế khi gồm chuồng, khánh và trồng, cung tiễn vào Văn Miễu bản phú đặt ở xã Cao Xá “Bắy giờ mọi
người không hep hoi tiến của, góp đồng tốt đúc khánh Diên tháng 2 năm Canh Thân
(1800), đội mong mà khánh hoàn hảo, mười phân vạn muối ” [39, tr 60]
Thứ năm, văn bia Vink Fén tình Văn Miếu bí ký (bài ký về Văn Miễu tỉnh Vĩnh Yên): “Măm Quý Hợi (1923), tôi phụng mệnh lâm Tuần phả ở đất này bàn bạc với các vị đẳng liêu muôn di đời Văn Aiễu cñ từ Vĩnh Tường về gò Giác Lạc ở phia
Bảo xã Định Trung thuộc phạm vi tình thành, Sau đó, do bận công việc nên chưa thực thu, Mùa đông năm Ất Sửu niên hiệu Khai Dinh (1925), Trung thừa Phạm Gia
Thủy thay tôi đăm trách công việc di chuyển Van Miéu vé đây” [68] Lập bia ngày
27 tháng 5 niên hiệu Bảo Đại thứ 2 (1927)
Dựa vào các nguồn tải liệu là các văn bia và các hiện vật chuồng, khánh, có
thể đoán định niên đại của Văn Miều phủ Tam Đới vào khoảng thế kỷ XVIIL Chua
rõ thời gian chính xác Văn Miễu của phô thành lập vào nàn nào, tuy nhiên cho biết
đã trải qua hai lần trùng tu vào giữa thế kỷ XVI vả đầu thể ký XVIHI,
Như vậy, Văn Miếu tỉnh Vĩnh Phúc có lịch sử lâu đời, là nơi biểu thị lòng tôn
sư trọng đạo, khích lệ tĩnh thần học tập của con em trong ving Ở đây luôn dién ra
cáo hoạt động tế lễ Khống Tử và các bậc tiên hiển vào dịp xuân thu hàng năm
2.1 Quy mô vả cấu trúc của Văn Miếu phủ Tam Đới và Văn Miễu tỉnh Vĩnh Yên
Quy mô và câu trúc của Văn Miễu tĩnh Vĩnh Yên qua các thời kỹ lich sử đã
được phản ánh phân nảo qua các tài liệu văn bia hiện còn như: Văn bia 7rừng íu Văn Miễu tịnh nghỉ môn bi ký, tạo năm Cảnh Trị thứ 7(1669) (No.5107-08), Tu tap
từ vũ bì kỷ (van bia ghi vide lao đựng từ vũ), tạo năm Chính Hỏa thứ 33 (1702),
(No.1509-12) và Vĩnh Yên tỉnh Văn Miễu bị lý, tạo nim Bao Dai thr 2 (1927),
(ÑG.14636-7)
Trang 34Văn Miễu Vĩnh Yên là một trong những Văn Miều cỏ lịch sứ lâu đời ở Việt
Nam Căn cứ vào tải liệu văn bia, các nhà nghiên cứu đã xác định đây là Văn Miều
có nguồn góc từ Văn Miễu hàng phủ của phâ Tam Đởi và được phục đựng vào
những năm 70 của thế ký XVIH, sau đỏ đổi tên thánh Văn Miều phú Vĩnh Tường,
những năm đầu thể kỷ XIX, rồi phát triển thành Văn Miiễu tỉnh Vĩnh Yến vào đâu
thé ky KX
Trong Bài ký trân bia ghỉ việc tụ sửa Từ vữ (No 5109) có ghi và địa điểm và vị
thê của Văn Miếu: “Học xá của phú Tươn Đới đặi tại xã Cao Xá huyện Bạch Hạc
vậy Toàn cục lôn nghiềm, hình thế kỳ tú, núi Tam Dáo phát mạch đạo mà ôm ấp
phía sau; ngọn Tân Viên làm giá bút nghiên mã bày ra phía trước Sông lớn vậy
nhiễu cận kể, mênh mông bờ thánh; sông nhỏ vẫn vít bên trong, bái ngài dòng trí Tám phương sơn thủy ôm châu điệp trùng, chẳng phải do tạo vật an bài nên móng
hay sao [71] Van bia Tring tu Van Miéu tinh nghi mon bi ky là văn bia có niên đại
cd nhất trong toàn bộ số văn khắc còn lại của Văn Miễu Vĩnh Yên, trên đỏ có ghỉ
“rị sỡ của phú Tam Đới dật tại xã Cao Xá của huyện Bạch Hạc, phia Tây của xấ
là Uăn Miễu của phù, Văn Miễu của phù xây dung lâu đòi, đến nay chỉ còn lại
nên”(70| Như vậy, kiến trúc Văn Miễu có nhất của Vĩnh Phúc chỉ còn lại nên, cũng không cỏ tải liệu ghi rõ kết cầu như thể mảo, chí thấy được vị trí, địa thế vả không,
gian xung quanh Văn Miễu: “Quan sát phong cảnh trong vùng, hình thể nhự đứng
riêng ngoài trời dất dòng sông như đâi bạc ôm ấp phía trước, núi Kim Tinh sừng
sững chân phia sau, cung thè Phật đổi diện mà bên tả ngân tiếng chuông chùa, chợ Vương họp đông đúc mà bên hữu liên với đình Hỗ Bạn Cây cổi rậm rạp xanh tươi, trước cửa hoa bôn mùa khoe sắc Danh miễu này sáng lập từ xưa, trải đến nay nên
cũ vẫn còn, nghĩ thức thè tự không đút Quy mô tạo đựng ban đầu còn nhỏ, chưa
được đối thay rực rõ" [70]
Sau khi di dời về địa phận tính Vĩnh Yên, Văn Miếu có vị trí: “hương dựa váo
mái Tươn Đảo, mỗi hướng ra Dâm Uạc, lấy mùi Tích làm án, còn núi Phong đẫn thấy
nhập dường ” [68]
Trang 35Cho đến thei diễm tác giả soạn văn bia thi tuy vẫn còn nghị lễ phạng tho không dứt nhưng quy mô thì còn nh hep, chua thay dai “Dén khi Tri phi Tam Doi
là Nguyễn Duy Chí cùng các lỄ môn khác xuất phát từ việc nghia dé wimg tu Thanh
Miéu, dựng nghỉ môn, để mỡ rộng nên đức, khơi thông mạch đạo Mọi người cùng
Khuyén gop tài sản, tiền bac dé xây dựng lại Văn Miếu" [10] Dựa nên có sẵn, các
quan chức lrong phủ đứng ra lập hợp mọi người góp tiến trùng tú, hoàn thiện trong thời gian một năm, sau lần trùng tu thứ nhất, kiến trúc của Van Miéu dã dược dụng,
lại: “Điện Aiếu được trùng tân, không cần tô vẽ mà tự nó đã loát ra vé thâm nghiêm, không đá đẹp, hoa lạ mã tự nà đổ lỏa sảng Lại còn lô tượng Tiên Thánh để thé trong Van Miéu” [48, tr.65]
Tiến năm 1697, cùng với sự hỗ trợ của “Huyện thừa luyện Bạch Hạc Lô Đăng Tương, Giảm sinh Nguyễn Công Dhụ, Lại viên bản phủ Dỗ Văn Tu, Lại viên huyện
Bạch Hạc Đỗ Tuần Đức, Lại viên luyện Lập Thạch Nguyễn Quang Hoa, Xã trưởng
Tô Đăng Doanh, Thôn trưởng Tả Quang Ảnh là những người trọng đạo kinh lài, cùng bỏ công góp sức Sau lại thêm các viên sinh cùng dạo, rợ của giúp nhân, nãm
tu tháng sữa Chỗ nàa chưa hoàn bị thì sửa sang thêm, chỗ não chưa đẹp thì trang tí” Ứ11 Công việc trùng tu Văn Miếu bắt dầu từ nữ Định Sữu (1697) thì khởi công, đến năm Tân Ty (1702) thi hoàn thành “May ngắm cung rộng, tường cao,
thầm nghiêm, sân rộng, gig mô chẾ độ rực rỡ, văn vật đẹp tươi, tụ nghỉ sẩm sấi,
cảnh quan trắng lệ |71|
Sau lần trùng Im thứ hai, Văn Miễu có điên mạo mới gồm các công trình: Chính điện, Tiên đường, hai đãi vũ hai bẻn, xuột chiếc cầu bắc qưa ao, nghỉ môn và tưởng xây bao quanh, đắp và tô tượng thánh hiểu Văn bia ải &ÿ trên bia ghi vide
tu xa Từ vũ miêu lã như sau “Năm gian chính điện, sơn đàng xon, đề thêm lộng
lẫy Ba gian tiền dường, chip hinh dai quot, dùng số thay tre Làm bai dải vũ ở bai
Trang 36So dil So dé mé ta Vin Miéu phi Tam Doi sau dt tring tu tan thit 2 (1702)
qua tai liệu uăm bìa (nguôn: tác giả)
Trong lịch sử phát triển từ Van Miéu phủ Tam Đới thể kỷ XVIH đến Văn Miếu
Vĩnh Yên, Văn Miều Tam Dới đã giữ vai trỏ quan trọng trong qué tinh hun đúc tỉnh thần tôn sư trọng đạo, hiển học đổi với nhân dan địa phương và vùng cận phụ Bia trừng u Văn Miễu tịnh nghỉ môn bí ký trật thứ hai ghì tên những người đông
góp tiến của đề trùng tu Văn Miều phủ Tam Dới gồm 18 tập thể là Tội tư văn của
các xã trong địa bàn bản phú, củng 206 cá nhân, trong đó có 81 vị quan chức của cửa phủ vả 125 dân thường |70J Không chỉ lả người dân trơng huyện Bạch Hạc
32
Trang 37hoặc phú Tam Đởi ma có rất nhiều người từ các dịa phương khảo nhứ huyện Đông,
Ngàn, huyện Gia Lâm, huyện Yên Lang, Iuyện Tiên Du, huyện Quảng Yên, Điền này chứng tô khi Văn Miễu phủ Tam Poi duoc khởi xướng trùng Iở mỡ rộng
quy mô đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nho sĩ ở các phú huyện khác
Tử đầu thế kỷ XVH, Văn Miếu phủ Tam Đới đã có cả khu điện thờ lần nghĩ môn (cửa vào khu Văn Miều để tiến hành tế lễ) nhưng do quy mỏ giữ nguyên như khi săng lập nên còn nhỏ hẹp Vi thé đến giữa thế kỷ XVIT Văn Miễu và nghỉ môn
đã đuợc trùng tụ lại Về sau, khi phủ Vĩnh Tường được thành lập (1822), sau mội thời gian, Văn Miều phú Tam Dới được bản giao cho phú Vĩnh Tường quán lý, trở thành Văn Miều phủ Vĩnh Tường Trải qua cáo thời kỷ lịch sử, Van Miễu cấp phủ
đã không còn thích hợp với dia danh hành clính mới được phân cấp theo tính,
huyện dựa trên các cải cách hảnh chính của triểu đỉnh nhà Nguyễn dui triéu vua Minh Mạng Nhằm kế thừa vả phát huy truyền thống của Văn Miễn xưa, chính
quyề sở tại đã cho dĩ chuyển Văn Miễu cũ về Vĩnh Yên thỏi kỳ sau nay,
Do tỉnh thành lập muộn (1890) nên Văn Miễu tỉnh Vĩnh Yên không thấy
tạo lại: “Mùa đông năm ẤI Sữu niên hiệu Khải Định, Trung thừa Phạm Gia Thủy
thay tôi ñâm trách công việc di đời Lăn Miễu và đây, sửa sang nội lẫm, ngoại cung,
tê đường, bên phải là nơi thờ Khải Thánh (tức Tiưúc Lương Ngội, cha của Khẳng Tủ), bên trải là nhà Hội đồng, phia trước là Đại môn xây bằng gạch, có tường bao quanh “Tháng 3 năm nay công việc hoàn thành, quy mô đổi thay thành Văn Miễu
zmới"[ 35, r.105]
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tit Mii trong “So dé cdu tic Van Miéu Vinh Yên qua
ân trúc Văn Miêu Vĩnh Yên qua nguồn lải liệu xã
tôi liệu xã chỉ" đã công bỗ sơ đỗ
chỉ, về văn bia, Văn Miếu Vĩnh Yên bay giờ đóng trên dịa bản xã Định Trung,
' Xã chỉ là phông, tài liệu viết bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, trên chất liệu giấy Tây kê 6 ly do 11ọc viện Viễn Đông Bác cổ của Pháp (LEEEO) xây dựng vào những năm từ 1938 đên đầu mãm
33
Trang 38thuộc tổng Định Trung, huyện Tam Dương, Lý trưởng xã Định Trang Hoang Van Ngọ xáo nhận: “Văn Aiểu Ïnh Yên có 5 bia 12 mất là: Tu tao đình vĩ đường bí ký, niên hiệu Chỉnh Hòa thứ 28; Vĩnh Yên tĩnh bi tg}, niên hiện Bảo Tại 2; Văn Midn bi
ký, niên hiệu Cảnh 1Yị thứ 7¿ Lăn Miễu thạch bị, niễn hiệu Thiệu
Binh Dan thi hang tinh mang về xã Định Trung và sứa sang lại Câu dẫu Văn Miễu:
Bảo Đại Binh Dẫn miền tr tạo" [36, tr.374] Canh do là sơ đỗ và câu trúc của Văn Miếu Vĩnh Yêu do Lý trưởng Hoang Văn Ngọ phác họa với các hạng ruụe; Chính
pitta la Tiên đường, tiếp sau là Văn Miếu, bên phái ngang với tòa Tiên đường có
đến thờ Hách linh, đến thờ Khải Thánh và Văn chỉ, bên trái cũng ngang với toàn
Tiển dường có nhà bia và nhà Hội đồng,
Như vậy, có thế xác nhận Văn Miễn Vĩnh Yên tốn tại trước Cách mạng tháng Tám nằm 1945 có 6 công trình chính và có câu Irúc tổng thể bình chữ Nhị cùng các
công trinh phụ trợ
1945, mang kí hiệu AJ, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, điều tra về địa chí ở các làng _
xã Việt Nam thuậc 27 tỉnh thành, từ Khánh Hòa trở ra Bắc Cuỗi mỗi bản đều có chữ ký và con dầu xác nhận của L.ý trưởng,
Trang 39
a 'Ấ:: Nha rg
Sơ đã 2 So dé mé ta Vin Miéu tinh Vink Vên (rước năm 1943) tài liệu xã chỉ
(Nguén: Tae gid)
Tính từ khi tính Vĩnh Yên được thành lập (1890) đến năm 1925, tính Vĩnh
Yên đã xây Văn Miền mới nhằm tiếp nói, giữ gìn giá trị truyền thêng của tính, mặc
cùng váo thời điểm này, giáo dục khoa cử Nho học đã kết thúc (kết tháo bằng khoa thị năm 1919) Về sau, Văn Miều tỉnh Vĩnh Yên vẫn tên tại thành một quản thể có Tiền đường, Chính điện kết câu hình chữ Nhị (năm 1938) cừng các hạng mục phụ
trợ ry đến Bách Tinh, đến Khôi Thánh, nhà bia, nhà Hội đồng (theo tài liệu xã chỉ
của nhà nghiên cứu Nguyễn IIữu Mùi) Trước đó vào năm 1830, trong quá trình cãi cách hành chính của vua Minh Mạng, đơn vị hành chính tĩnh của nước ra ra đời, Văn Miếu Vĩnh Phúc thuộc tỉnh Sơn Tây (gồm các huyện Bạch Hạc, Lắp Thạch,
‘Yam Dương, Yên Lạc hiện nay)
2.3 Hệ thống Văn từ, Văn chỉ ở Vĩnh Phúc
Duới cấp hành chính lĩnh, phủ, huyện cũng có hệ thông di tích Nho học gợi là Văn từ, Văn chí, Từ vử, những di tích này thường được xây dụng ở dịa phương
w a
Trang 40mơi cô nhiều người dỗ dạt khoa báng Với quy mỏ khác nhau, những Văn từ, Văn chỉ ở địa phương thường khêng có hệ thống tượng thờ mà chỉ có cáo ban, bệ thờ đôi
khi lộ thiên hoặc với những nz khi đơn giãn Theo từ điển Văn hóa cễ truyền Việt
Nam định nghĩa: “Vờn đừ, Văn chỉ là nơi thờ Không Tử và những bậc khoa hoạn trong làng Bệ gạch xây lộ thiên là Van chỉ, eó mái che là Văn từ ]I§, tr.683] Việc
lập Văn từ, Văn chỉ ở các địa phương được trở niên phổ biến dưới thời Nguyễn Việc lập Văn chỉ dược tiến hành dổng thời với lập Văn từ hàng tổng, làng huyện, chỉ sau Văn Miễu cấp phủ (khoảng thể kỷ XVII, phát triển mạnh đưới triển Nguyễn) Sự phân bố của các Văn từ, Văn chỉ không đồng đều, chủ yếu lập trung,
vào 2 huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc, nơi có nhiều người dỗ Đại khoa nỗi tiếng của
Vinh Phúc Thành phần tham gia xây dựng Vấn từ chủ yêu là Hội tư văn và người dân trong làng Hàng năm cứ dến ngày “Đính” của tháng giữa 1nủa xuân và tháng giữa xuủa thu (tháng 1 và tháng 8), Tư văn làm lễ tại Văn chỉ, gọi là Xuân Đình và Tho Dinh’ lội Tư văn là hội của những người có học thức trong làng, thường, đâm nhiệm công
việc đặc biệt là thảo tổ, tổ chức các buôi tế lễ quan trọng, soạn thảo hương,
Tử trước cach mang thang Tam, hau nh lang xã nào ở Việt Nam cũng đều có Văn từ, Văn chỉ Tuy nhiền, số Văn từ, Văn chí ở hau hết các dịa phương đều đã bị tan phá gân hết do chiến tranh, đến nay cỏn lại rất it, không được tu sửa, nhiều nơi
mước văn hiển, sung sw trong đạo, từ xưa đã thế rồi, ở kinh đã lập quốc học, ở quận
mở hương bọc, lấy lam dat giáo đục nhân tài, làm đường tiễn thân cho kẻ sĩ, Phàm
“hữ Dinh thuộc về một hàng trơng mười can, can chỉ phối hợp với nhan, thánh những ngày định
sứu, Dinh Mão, Dinh Ty, Dinh Mũi, Dinh Dậu và Dinh Hơi Môi mủa 90 ngây thi 9 ngày cô chữt
“Đinh”, vì thế nên mỗi năm cử đến mùa xuân và mùa thu, thì mỗi mùa chọn lây một ngày có chữ Dinh dé Jam tế lễ ở Văn Miễu, Sở đĩ đăng ngày đình là lây ý rằng “ĐinÌi' thuộc hàng hóa, hỏa là tượng trưng cho văn chương