Trong phạm vỉ nghiên cứu đề tài cửa luận văn, trên cơ sở lược khỏa tổng quan các tài liệu ban về: Vai trò của Chủa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo Việt Nam nói chung vả Phật gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ IIẢ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ IIỌI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG VĂN DỨC
VAI TRÒ CỦA CHÙA PHẬT TÍCH
ĐÓI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO THỜI LÝ
(TU THE KY XI DEN THE KY XID
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội -2020
Trang 2DẠI HỌC QUOC GIA HA NOL
TRUONG DAI HỌC KIIOA TỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG VĂN ĐỨC
VAI TRÒ CỦA CHÙA PHẬT TÍCH DOI VGI SU PHAT TRIEN PHẬT GIÁO THỜI LÝ
(TU THE KY XI DEN THE KY XII)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Ma sé: 60 22 03 09
LUAN VAN TIIAC Si TON GIAO HỌC
Ha Nai - 2020
Trang 3LOI CAM BOAN
"Lôi xin cam đoan đây 1a công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, cú nguôn gốc rö rảng Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bổ trên bắt
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Dương Văn Đức
Trang 4LOI CAM ON
Tác gid xin chân thánh cảm ơn các Thây, Cô giáo trong Bộ môn Tôn
giáo học đã giảng dạy, trang bị kiến thức giúp tác giả nắm vững những vấn để
lý luận và phương pháp luận để hoàn thành tốt luận văn này Đặc biết, tác giá
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tiên Thiện - người thầy đã tận
tỉnh hướng dẫn, chí bảo tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Con xin đề đầu đảnh lễ và trị ân chư tôn Hỏa Thượng, chư Thượng tọa
lãnh đạo Trung ương Giáo hệi Phật giáo Việt Nam đã quan tâm, tạo nhiều
thuận duyên cho con trong suết quá trình học tập, bên canh đó nhờ sự động
'viên và trợ duyên quý báu của gia đình cũng như đản na thí chủ
Kính chúc Chư Liệt vị pháp thể khinh an, dao 16 tin pháp, chúng sinh
dị đô, Phật đạo viên thánh!
in chân thành cảm on!
Tác giá luận văn
Đương Lăn Dức
Trang 51.4 Tình hình đời sống dân cư, kinh tẾ, văn hóa, chính trị, xã hội xã
1.41 Tình hình đời sống đân cư, kinh tê xã Phật Tích 13
1.4.2 Về lĩnh hình chính trị, văn hóa, xã hội eeeeeeeoeeev 14 1.8 Vị thể di tích chủa Phật Tích
1.7.2 Quy mô kiến trúc khảo cỗ chúa Phật Tích - 25
1.8 Những di tích bảo vật quốc gia tại chùa Phật Tich 43 1.8.1 Tượng Phật A Di Dâ TH HH tt HH me 4 1.82 Hàng lỉnh thú 4
1.8.3 Tượng rao thân Chuyết Công hòa thương 45
19.1ễ hội 46
Chương 2: NHỮNG KHÍA CANH THẺ HIÊN VAI TRÒ CỦA CHỮA PHẬT TÍCH
DỐI VỚI SỤ PHÁT TRIỀN PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM THỞI KỲ NHÀ LÝ (TỬ
2.1 Chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo thời 49
2.1.1 Nơi hội Iụ các luẳng tư tưởng và dấu ân tam giáo đồng nguyên 49 2.1.2 Budi dau dư nhập Đạo Phat dén thé ky X - 51
“hùn Phật Tích là trung tâm Phật giáo thời Lý
Trang 62.3.1 Đôi nét về lịch sử Phật giáo thời Lý "—
2.2.2 Chủa Phật Tích trở thành trung tâm Phật giáo thời nhà Lý 59 2.3 Dẫu ấn kiển trúc và điêu khắc thời Lý tại chùa Phật Tích 66 2.3.1 Pho tuong A Di Da: - cco)
2.3.3 Tượng nữ thần dầu người minh chim (Kinnari)
Tỉnh thần dung (hông các thiền phái tại chùa Phật Tích -
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUÁ CÔNG Tả QUAN LY, BAO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TỈCII TRƠNG THỜI KỲ CONG NGIHP HÓA, THỮN ĐẠI HÓA VẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ IIỆN NAY 92 3.1 Đảnh giá vai trò của chủa Phật Tích đối với Phật giáo thời Lý %
phát huy giá trị di tích trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện dại hóa và hội
PHU LUC
Trang 7kiện cho các tô chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức lôn
giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đông góp tích cực
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất mước” Luật Di sản văn hoá được Quốc hội
nude Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Ngm, khoá X kỳ hợp thứ 9 thông qua đã
khẳng định “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các đân tộc
Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự ughiép dung nước và giữ nước cũa nhên dâu ta” Đó là những chính sách dùng Bin
đổi với cáo tôn giảo, nhằm phát hay những giá trị truyền thống tốt đẹp, bên vững, cửa đần tộc ta được hun đúc đối với sự phái triểnHch sử đân tộc là một trong những,
nhiệm vụ trong tâm hiện nay của Đăng
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo Trong đỏ Phật giáo cũng được quan tâm bão tổn, gìn giữ và phát huy Cúc vẫn đề về di tích lịch sử, đi tích kiến Irúc - nghệ thuật, di tích kháo cổ và danh lam thắng cảnh Phật giáo được nhận thức về vai trỏ, ý'
nghĩa ngày cảng được nâng cao Bảo vệ di tích, phát tuy giả trị của di tích phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hỏa đất nước, đâu tranh chống vi phạm đã trở
thành nhiệm vụ quan trọng của toản Đăng, toàn đân Trong suốt chặng, đường dựng,
nước và giữ nước, từ buổi đầu danh độc lập, tự chủ phải kế đến vai trò của Phật gián
thời lý, như là mội hiệu tượng hoàn bị nhất, từ sự dung hỏa các lớp văn hóa, tím
ngưỡng du nhập với văn hóa, tin ngưỡng bản địa cách kỷ diệu, uyén chuyển thành
một sắc thái đặc trung của phong cách Phật giáo Việt Nam, đôi với tiền trình lịch sử
cửa đân tộc, từ một lôn giáo ngoại lại Phật giáo đã trở thành quốc giáo Triểu đại nhà Lý tổn tại hơn 200 năm (1009-1225) với chùa đời vua, Trong lịch sử Việt Nam,
Trang 8triểu Lý là một triểu đại lớn và dễ lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên các lĩnh vực khác nhau, nổi bật và gắn liên là những dâu ấn Phật giáo, sự kế thừa tử buổi dâu du nhập và tiển để tiếp tục phát triển Phật giáo thời Trân Vai trò của Phật giáo đối với những quyết sách quân sự, chính tị, kinh tế, xã hội dựng nẻn dộc lập, tự chú buổi dâu vả những thăng trầm qua các thời đại Lý - Trần Dó cũng là thời kỳ phát triển rực rờ xuhậi của Phật giáo
Nhắc đến thời kỷ nhà Lý, là phải nhắc đến thời kỳ Phật giáo được hưng thịnh
nhất, hàng trăm ngôi chủa được xây dựng, các hệ thống kinh, luật, luận và tr tưởng,
chính sách ủng hệ hoằng đương Thật pháp Nhưng một trong rhững ngôi chữa được đầu tư kiến thiết với quy mô lớn phải kể đến chủa Phật Lích tọa lạc trên nủi Phat Tích (còn gọi là núi Lạn Kha) — xã Phật Tích — Huyện Tiên Du — Tỉnh Bắc Ninh với tên chữ là “Vụn Phúc Tụ” Với ý nghĩa, vai Irò quốc Lự Phật Tích ]à Irung lâm Phật giáo thời kỳ nhà Lý Và việc nhận thấy rõ tâm quan trọng của việc bảo tổn những giả trị di sản vật thế và phi vật thể đặc biệt khu đi tích lịch sử Quốc gia Chủa Phật Tích trong lịch sử đân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nhị từ buổi dấu dung nude va
git nude
Trong phạm vỉ nghiên cứu đề tài cửa luận văn, trên cơ sở lược khỏa tổng quan các tài liệu ban về: Vai trò của Chủa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo Việt Nam nói chung vả Phật giáo Thời Lý (Tử thể ký XI đến thé ky XIH) nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu
Cha Phật Tích với vị thể là ngồi chủa cổ, có vai trỏ quan trọng dối với Phật giáo thời Lý nói riêng, dòng chày Phật giáo Việt Nam nói chúng, vì vậy, các vấn đề xoay quanh chủa Phật Tích duoc dé cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, ở nhiều góc độ khác nhau:
Tài liệu góc chúng tôi tiếp cận nghiên cứu có thể kế đến như: /73 sơ xếp hang
di tích Quốc gia đặc biệt chùa Phật Tích, Hồ sơ là sự tông hợp tật cả các thông lĩn
về chùa Phật 1ích 1rong đó các tài liệu cổ xưa cũng được tập hợp đây dit
Tài liệu của các nhà nghiên cứu có để cập đến liên quan trực tiếp như:
Thích Đức Thiện (201 4), 2 sản Phát Tích, Nxb Mỹ Thuậi
ta
Trang 9Đảo tàng tỉnh Bắc Ninh năm 2013 tái bân cuốn sách Di đích Lịch sử - văn
hỏa tính Bắc Ninh, cuốn sách gồm bai phần nội dung chỉnh: giới thiệu toản bộ các
di Geh lịch sử văn hỏa tỉnh Bắc Ninh theo địa danh, địa giới hành chính và phần phụ lực ảnh Cuỗn sách là kết quá của việc sử dụng các tư liệu thực tiễn kết hợp với tư liệu lưu trữ của Bảo tàng và các cơ quan chuyên môn tại tính Bắc Ninh và các cơ quan lưu trữ khác
Nhận thức được vai trò của chủa Phật Tich với sự phát triển lịch sứ Việt Nam nói chưng, lich str Phat giáo Việt Nam nói riêng, Viện Nghiên cứu Tên giáo, Viện Nghiên cứu Phật học phối hợp với Trường Đại học Mỹ thuật Việt, Nam tổ chức hội tháo khoa học: Phật Tích đổi với sự phát triển lịch sử Hội tháo đã nhận
được sự quan tâm của đồng đảo các nhà nghiên cửu, khna học quan tâm đến lĩnh
vực này, các kết quả nghiên củu được thế lộn trong Kỹ yếu Hội thảo khoa hoe Phật
Tích đối với sự phát triển lịch sử:
Ngoài ra trong các công trình nghiên cứu Phật giáo Việt Kam nói chưng, cỏ
nhiều tác phẩm để cập íL nhiều đến các khia cạnh ên quan sủa chùa Phật Tích: lịch
sử, mỹ thuật, lễ hội, , như Thích Đức Thiện Nguyễn Quốc Tuấn (Đồng chit
biên), Phát giáo thời Lý với 1.000 năm Thăng Long — Hà Nội, Nxb Chính trì Quốc gia, Nguyễn Bá Lăng (1972), Kiến trúc Phật giáo, Nxb Vạn Hạnh, Kiều Thu Hoạch
(1965), fim hiéu Tho van các nhà sư thời Lý - Trần, Tạp chỉ Văn học
Ở khía cạnh khác, các công trình nghiên cứu về vùng đất kinh Đắc xưa cũng không thẻ không dễ cập đến các vận để có liên quan dén chủa Phật Tich: Ty Văn hóa và Thông tin (1982), Dia chia Ila Bae, Thu vién tinh Bac Ninh; Dé Trong Vi
(1997), Bắc Ninh dự địa chỉ, Nxb Văn hòa Thông tin, Sở Văn héa — Théng tin tinh
Bắc Ninh (1997), Văn hiến Kinh Bắc, tập 1; Sỡ Văn hòa — Thông tin tỉnh Bắc Ninh
(2002), Van biến Kinh Hắc, tập 2
Nhìn chứng với với trò đặc biệt của mình, chùa Phật Tích được đề cập đến ở nhiều khia cạnh khác nhau, trong nhiều cỏng trình nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên một công trinh nghiên cứu đầy đủ về vai trỏ của chùa Phật Tích đối với sự phát triển
Trang 10Phật giáo thời Lý thì còn bỏ ngỏ, luận văn sẽ là công trình bù đắp vào khoảng trồng, nói trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
~ Khảo cứu sự du nhập, tiếp biển văn hóa Phật giáo, văn hóa Ấn Độ với văn hóa bản địa của người Việt những năm đầu Công nguyên qua việc nghiên cứu chùa Phật Tích
- Khẳng định vai trò, giá trị của chủa Phật Tích đối với sự phát triênlịch sử Thật giáo Việt Nam
~ Trên cơ sở nghiên cứu chữa Phải Tích đối với sự phái triển lịch sử dân tộc
fa, luận văn dễ xuất định hưởng, giải pháp tết thực, hữu liệu góp phan nâng cao liệu quả công tác quản lý, bảo tổn và phát huy giá trị di tích trong thời kỷ công, nghiệp hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cửa
- Nghiên cửu tổng quan về chùa Phật Tích qua các thời kỳ lịch sử ( thời Lý.)
- Nghiên cứu khảo sát thực trạng chùa Phật Tích hiện nay (kiến trúc, điên
khắc, tải liệu cễ vật, hoạt đồng lâm linh, lễ hội )
~ Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bão tổn và
phát huy giả trí di tích chủa Phật Tích trong thời kỳ hiện nay
4, Đỗi tượng và phạm vi nghiên cứu
41 Đỗi tượng nghiên cửu
Taiận vẫn đi sâu nghiên cứu về chúa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo Thời kỷ Nhà Lý (thế kỷ XI - XD
42 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu chủa Phật Tích đổi với sự phải triểnlịch sử Phật giáo và phát triển dên thời kỹ nhà Lý (Hởi theo sử liệu tử thời Lý Thánh Tỏng chữa dược xây dựng trảnh Dai danh Lam va dau ích vật chất vẫn côn giữ được đến may)
- Plưmn vị không gian: Ngoài nghiên cứu khảo sát chùa Thật Tích, luận văn
Trang 11cồn mở rộng pham v¡ nghiên cửu một số ngôi chrủa từng là đại đanh lam cỗ tự như: chia Dau, Chia Dam, chia Bach Mén, .trén dia ban tinh Bac Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Đô tải của luận vẫn là để tải mang tỉnh lịch sử, tính hội cổ, chủ yêu sử đụng, tài liệu lịch sử học, khảo cổ học, phật học, xã hội học để khái quát, bàn luận
những vấn đẻ nghiên cứu Tài liệu lịch sử hay sủ Hệu cũng hết sức phong phú, đa
dạng, theo quan điểm hiện đại là tắt cá những gì chứa đựng những lượng thông tin
về lịch sử, giúp người nghiên cửu khai thác, gạn lọc dé tái hiện vả nghiên cứu quả khứ lịch sử Không những tài liêu chữ viết, mà lài liệu vật chất, những di tích di vật, những huyển thoại và truyền thuyết đân gian, những phong tục, tập quân cho đến tiếng nói tín ngưỡng tất cả đêu được coi là nguồn sử liệu Do
vấn để thu thập tài liệu và phân loại tải liệu là phương pháp nghiên cửu quan
trọng Vận dụng phương pháp này, nghiên cứu sinh đã tập hợp các bư liệu thành văn
và không thành văn, phân loại các tài liệu theo lĩnh vực, tiêu chí sau:
- Các tài liệu chính sử đã công bố: lịch sử Việt Nam, lịch sử Phật giáo Việt Nam
~ Co trước lắc: tư tưởng, đạo đức, văn chương, nghệ thuật, của cáo nhà
cằm quyền, các nhà tụ hành, các tác gia thời nhà Lý
- Các tải liệu của các nhà khoa học nghiên cứu về chính trị,
giáo thời nha Ly
- Các tải liệu của các khoa học nghiên cửu về chúa Phật Tịch
Trang 12mình Luận văn sẽ vận dụng phương pháp này vào nghiên cứu biểu hiện của quan
lộ giữa Phật giáo thời đại Lý, mã cụ thể là vai trò của chùa Phật Tích đối với sự phat triển Phật giáo thời kỳ nhà Lý
* Phương pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phương pháp nghiên cửu phê biến trong các khoa học mà khoa hoc luận phương Tây đã để xướng Phương pháp phân tích là phân chúa sự vật thành các bộ phận, các yếu tổ đế nghiên cứu, còn phương pháp tổng hợp là tìm ra các mdi
lữa các yêu tổ, các bộ phận đã được phân tích Từ đó xác định cái nhìn khái quát đổi với sự vật Cải khải quát mà người nghiên cửu thu được lá kết quá nhận
liên
thức khoa học, không phải là cải cụ thể gián đơn của vấn dễ nghiên cửu
Học viên vận dụng phương pháp này vào nghiên cứu để tải luận văn dễ
phan tích là vai trò của chùa Phật Tích đối với sự phát triển Phật giáo thời ky nhà Lý
Sau dé téng hop lai dé thay dược ảnh hưởng của Phật giáo đối với toàn bộ
6 Những đóng góp của luận van
- Luận văn nghiên cứu chia Phật Tích đối với sự phát triếnlịch sử Phật giáo
và phát triển đến thời kỳ nhả Lý, trên cơ sở đỏ để xuất với cấp có thẫm quyền, cơ quan quan lý nhá nước, cơ quan chuyên mén dinh hưởng, giải pháp thiết thực, hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bão tén va phát huy giá trị đi tích nói chưng, chủa Phật Tích nói riêng trong thời kỳ hiện nay
- Luận văn có thể là tải liệu tham khảo, nghiên củu cho các cho các dé tai khoa học khác có liên quan vẻ các lĩnh vực: lịch sứ, văn hỏa, tín ngưỡng tôn giao
7 Bồ cục của luận văn
Ngoài phần mở đâu, kết luận, tải liệu tham khảo và phụ lục, nội dụng hiận
văn gồm 3 chương, 16 tiết
Trang 131.1.1 Vị trí địa Lý - điều kiện tự nhiên
Phat Tích là một xá thuộc huyện Tiên Dù, tính Bắc Ninh
Mã hành chính: 9349
Phía Tây xã Phật Tích giáp xã trì Phương và Hoàn Sơn có các ngọn đổi:
Mam Xéi, Con Lon, Con Nghệ, Con Phượng đổi đất không cao, ân hiện những,
cây trằm, vườn tram, cây chè xum xuê cổ thụ Phía Đông xã Phật Tích giáp xã Việt
Doàn, khu vực xóm Ni Dất (Láng Ngõ Xã) có một gó đất, gỏ đất nằm thoại thoải,
trông xa giồng như rnột hạt ngọc
Phía Nam Phật Tích giáp xã cảnh Hưng vá Minh Đạo Đoạn dé séng Duéng
từ xã Minh Dạo đến x4 Tri Phương là đường phản gianh giữa xã Phật Tích vả xã
Cảnh Hưng Thủa xưa, sông ngôi nước ta chưa được định hình, những nhánh sông
lớn, sông nhỏ hầu như không có dé bao bọc vì thể bang năm mỗi mùa mưa về, cả
xnột vùng rộng lén ngập chỉm dưới nước Khi mùa khô nước rút nhanh xuống các
lòng sông, còn trơ lại lớp phủ sa phủ đày khắp các gò bãi, đồng ruộng
Tân số khoảng 5945 người với diện tích dất tự nhiên là 543,81 ha Trong dỏ
đất nông nghiệp chiếm 293,45 ha, được chia như sau: Đắt ven đê: Do phù sa sông,
uống bi đấp, quá trình bồi tu hang ngắn năm, lớp phủ thực vật bị phân giải thành than bùn Lớp phủ sa bẻi lấp thánh những cảnh đồng bát ngat phí nhiều Đặc tỉnh của loại đất này là mùn cao, ít chua, lượng đạm khá, dễ tiêu, thành pằn cơ giới nhẹ Phủ hợp với việc cưnh tác, cây lúa, rồng hoa máu và cây công nghiệp ngắn ngày
bi nui: Do đặc điểm của địa hinh, đôi nói
Trang 14Đất dồi núi Feralidich: Thành phần sa thạch và phiến thach s¢t, dic tinh dé xói mòn, rửa trồi, dẫn đến bạc màu Loại đất này phù hợp với việc trồng cây ăn quả
trước mây lần khơi thông, lỗi nước chảy củ vừa khơi ra lại tắc liễn” Năm 1851
Nguyễn Tư Giãm đuợc cũ làm Higp Ly Bé Chink đã đem tải năng xin được khơi
thẳng một đoạn sông nhưng không được chấp nhận Tháng 7/1858 nước sông Thiên
Đức lên eo, gây lụt lội hai huyện Đông Ngàn và Tiên Du Năm 1861 vua Tự Đức
mới đồng ý cho đi dân 15 xã ngoại dé va nin dong khơi sông đấp để, xây thêm các cổng thoát nước Năm 1872, thống Thụ Chiến lại một lần nữa được phép thực hiện
dự án nạo vét lòng sông Thiên Đức, đắp đê ngăn nước lũ đoạn từ Nghĩa Chỉ (Minh Đạo) chạy sát xã Phù Lập (Sộp) nói vào thôn Cao Dung (Tri Phuong) Ver theo chin dé, len lối giữa cảnh đồng làng Phật Tích vá Vĩnh Phú có đông Tảo Khê (Khe cựn) rộng chừng 15m — 20m “là hạ lưu của sông Tiêu Tương, huyện Bang Ngan chảy qua các xẽ Dương Húc, Đạt Vị, Đại Sơn, Vĩnh Phú, Phật Tích, Nội Viên, Chỉ
Nê xuống xã Lara Miệt của huyện Quế Dương, dài 4 dặm, rộng 3 trượng, binh
thường nước sâu bø bốn thước, khoảng giữa hạ thu nước sáu, bây, lám thước”
Dòng Tảo Khẻ là nguồn cung cấp nước tưới, tiêu cho dòng ruộng khu vực phia
Nam xã Phật Tích
1.12 Đường đi đắn xã Phật Tích
Trừ thủ đô Ha Nội ngược phải về phía Bắc theo Quốc lộ 1A hưởng Hà Nội
Lạng Sơn đi khoảng 20km đến thị xã Từ Sen rẽ phải theo tỉnh lộ, qua câu Dễng,
Xép di Skim là đến đi tich
lioặc từ LIá Nội đi theo Quốc lộ 1B hướng liá Nội Lạng Sơn đi 20km đến cầu Đồng Xép rẽ phải đi 5km là đến di tích.
Trang 15Đường thủy: Từ Hà Nội xuôi theo dòng sống Đuồng qua hốt dia phan Ha Nội, ái tới bến phà Trị Phương, bên kia là xã Dinh Tổ, bên nảy lả xã Trí Phương và Phật Tích, lên bến phả thuộc địa phận Tủ Phương lên bờ đề đi khoảng 2km là đến
nó cái tên Tiên Du phân ánh một vùng đất kỳ vĩ và lãng mạn Tiên Du là chiếc nỗi
ra đời của thiên anh hùng ea ông Công, muội mô hình anh hìmg cứu nước điên hình
znà mọi người Việt hôm nay vẫn còn xúc động tự hào Phật Tích - Tiên Du là vùng đất cố, một địa danh đây ắp những huyền tích ly ky
Trang hệ thông Trong hệ thống đổi núi của xã Phật Tích, dẹp nhất là núi Lan
Kha (còn gọi là nữi Tiên Du), Núi Lạn Kha nằm trong địa phận làng Phật Tích nên người đần quanh vừng thường lây tên làng đặt ten cho núi Phật Tích (Núi Tạn Kha)
là doạn cuối của dãy Nguyệt Hằng Sơn có tên nôm là Núi Chẻ (Trà Sơn) Núi Chè không ao, nhưng ở đó mọc lên muôn ngàn mồm đá đứng với thông reo vi vút, chứa
đựng nhiều huyền tích, huyền thoại kỳ thủ Trên đỉnh núi có khối đá vuông rất lớn,
theo các cụ cao niên kế lại dỏ lá bản cỡ tiên gắn liên với sự tích Tiểu phụ Vương, Chất gặp Tiên Mon cao, non Xi, non Nghè là các ngọn của núi Phật Tích Mon Xỉ được giải thích câu chuyên tranh chấp uy tin giữa bà Chúa Chẻ (Đặc Thị Huệ) và 'trạng Bựu Non Nghè nơi nhân dân xây dựng Nghề Thần Cao Sơn
Núi Bát Vạn nằm ö phái Bắc xã Phật Tích, tiên giáp xã Việt Doàn và Liên
Bao Tuong truyén rằng: Cao Điền là tướng giã
phương Bí phương Nam, vốn giỏi phép thuật, ông phát hiện trên đính Non Tiên (núi Phật Tỉch)
sang đánh đẹp
có huyệt đế vương Để dân Nam không thế xưng vương mà chóng lại triểu đình
Phuong Bắc, Cho Biên đã cho mở ö dưới chan nti làng Trùng Minh một lò gạch,
Trang 16xung 8 van bảo tháp và yếm trên núi Tring Minh dễ trần long mạch, nên gọi là núi lát Van Sử chép “Sử quân Nguyễn Thú Tiệp, tiếp chiến ở núi lát Vạn, đắp thành đưới chân núi, khi chết người địa phương lập đến thờ” Nguyễn Thủ Tiệp, nguời Phúc Kiến (Irung Quốc), cha là Nguyễn Xê, làm quan doi Tan (936 946) dẫn chức Kiêu Ky Dại Tướng Quân Dô Dốc Quản Bình Dương liầu Nhân lúc nước Nam có loạn, Nguyễn Nê mang 1.000 lừa và 8 vạn tỉnh bình Tiúc bấy giờ Thiên Sach Vương (tửc Ngô Xương Ngập) bỏ triều cống Nguyễn Nẽ đem đại quân đến xã
Thanh Quả, truyền quân hạ trại, sau lây người cơn gái xã Thanh Quả lA Nguyén Thi
Môi, sinh được 3 người cơn ai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu đều tình bam phi thường Nguyễn Nê muốn mưu tỉnh việc lớn, bẻn ân uy, giáo
đường kiêm thi Lớn lên 3 ông đêu trở thành tướng giỏi đánh đâu được đầy
Ngày 03 - 3 năm Giáp Thìn, Nguyễn Nê không bệnh mủ chết, Lưởng sỹ là
Tiiệu, Trần Mưu đưa về táng dưới núi Thanh Xuân (tỉnh Phúc Kiến - Trưng Quốc) con trai là Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp và Nguyễn Siêu ở ại quê raẹ - đất Nam thay nhau nắm giữ bình quyền Ngô Quyền xưng vương, phong cho Nguyễn Khomi làm Điều hạt Tưởng quân, Nguyễn Thủ Liệp làm Tứ Xuyên Đô Quân, chiếm cử vùng đất Tiên Du Ngày nay tại thôn Phúc Nghiêm — xã Phật Tích vẫn còn đến thờ
Tướng quản Nguyễn Thủ Tiệp cùng nhiều giai thoại xung quanh những nhân vật
truyền thuyết, thêm khẳng định về vùng đất ngàn năm văn vật nơi đây
Xung quanh truyền thuyết tên làng, tên núi, lên chùa, làng Phật Tích nay côn lưu truyền nhiều câu chuyện mang dam tinh huyện thoai có mau sắc dọa giáo, Phật
giáo: Bà chúa Vĩnh, tích chùa Kim Ngưu, chuyện am Mở Mang vị tăng sĩ Ấn Dộ
Khâu Đà La - Man Nương và đến Nguyên Phi Ý Lan thôn Vĩnh Phú, truyền thuyết lãng Quốc Hoa Công Chúa thôn Cổ Miễu, truyền thuyết Lừ thức gặp 'Tiên
Với vị trí địa linh, cảnh quan có nhiêu lợi thê khiến cho làng quê, thôn, xóm
trù mật, đân cư đông đúc Từ trước đời thuộc Tùy — Đường, Phật Tích đã trở thành
một trung tâm Phật giáo của người Việt cổ, là nơi hành đạo của nhiều cao tăng, đạo
sỹ; chùa tháp được xây đựng khá nhiễu Từ ngôi thán đỗ lộ ra pho tuong A Di Da vi
vậy làng có tén Phat Tich.
Trang 171⁄3 Lịch sử xã Phật Tích Năm 1975 đoàn kháo cô học do giáo sư sử học Trần Quốc Vượng làm trưởng, đoàn, cùng ruột số cán bộ bảo làng Sở văn hóa thông lim tĩnh Hà Bắc đã tiến hành diễu tra, kháo cứu một số di chí đọc bờ sông, Tiêu Tương cỗ và núi Lan Kha, núi Tiên Vân, núi TIỂ đã phát hiện nhiều hiện vật các loại công cụ chết tác bằng đá, vòng khuyên, hon tì, chuỗi hại, những mãnh gốm hoa văn hình sóng nuớc, hình xoắn ốc khắc vạch, vân thừng bằng phương pháp khơa học Viện khio cổ đã xác định tương đương với thỏi đại Dêng Son, cỏ niên đại cách ngày nay trên 3.5000 xăm Điều đó khẳng định: Vào thời đại đá chuyên tiếp sang thời đại đỗ đồng đã có con người đến các địa bản này cư trú, khai pha rừng nủi như các địa đanh rừng Mia, rùng
Sộp, rùng NỄ xây nhà dụng cửa, lập xém làng Ban dau cae cw dan da chon cdc
đổi gò, sườn đổi, chân núi, nhưng khu đất cao, thuận lợi cho phòng ngự, sân xuất,
săn bắn, trồng tỉa
Những đấu tích cỗ xưa ngay nay phan nào còn được phân ảnh bằng các tên Tầng: kè Mưỡn, kè Ngô, kè Sộp tên gọi các cánh đồng ở Phật Tích: Trùng Mẹo, đồng Xi, đẳng D Đặc biệt mới đây lại phát hiện thêm những lưỡi Bồn, chiếc Riu
có vai bằng đá cứng, Rìu lưỡi xéo bằng đồng có lỗ tra cán ở khu vục thủng lò gạch
xa Tri Phương, di chỉ bãi Tháp Đạt Trung (Đại Đông) Tất cả các hiện vật dêu được xác định có từ thời đại Hùng Vương Căn cử vào các tải liệu của ngành khóa cổ học
và ngành khoa học lịch sử, khẳng đmấc Ngay lừ thời Hùng Vương đựng nước Phật Tích dã la một trong, những, điểm quần cư sớm của con người Thuở ấy, cư dân sống, thanh bình trong quốc gia Văn Lang, không chia ra cấp bậc, uy quyên, không có ai xâm lần, Vua — Tôi cùng cây cây yêu thương nhau
Trải qua nhiều năm, nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, nhờ phát triển néng nghiệp và thủ công nghiệp lại có quân mạnh, tướng hùng trở thành quốc gia giảu mạnh Năm Quý Mão (258 TƠN) Thục Phản thấy nước Văn I.ang giàu có, liển mang quân đánh Liùng Vương, thống nhất các bộ tộc Vua Liùng váo bộ tộc minh, cho xây thành, đắp lì
Lac, xumg 14 An Dương Duong,
đóng đô 6 Phong Khê (nay là Cổ Loa), đối hiệu là nước Âu
Trang 18Theo Đại Nam Nhất Thống Chí - Phạm Trọng Điểm, Nxb Thuận Hóa 2006,
Dại Việt địa dư toàn biên _ Phan lluy Chú - nxb Vin héa, 1997; Dia chi [14 Bắc
1b thông tin tuyển thông, Bắc Ninh dư địa chí — Đỗ Trong Vĩ ~ mxb Thông lin
truyền thông; Lich sit Dang bé xa Phat Tich nxb thông tin truyền thông Lịch sử xã Phật Tích được thống nhất qua các thời kỳ như sau:
Thời Khuộc Hán (207 TƠN) Hai Bà Trưng (nã
n 40 SƠK) Phật Tích là địa vực ủa huyện Long tiên, quận Giao Chỉ, năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1417) thuộc Phủ Bắc Giang, châu Vũ Ninh
Thời Trần vững mạnh (1226-1400) nhà ước phong kiến lập tiêm cấp Phủ,
thời lê Thánh Tông (niên hiệu Quang Thuận 1460 1469) huyện Tiên Du thuộc phú
Từ Sem, trấn Kinh Bắc Năm Minh Mệnh thứ hai (1821) trần Kinh Bắc đối thành
trấn Bắc Ninh Thời Nguyễn Năm Mimh mệnh thứ 12 (1831) trấn Bắc Ninh đổi
thành tỉnh Bắc Ninh, Năm 1895 thực dân Pháp chai tính Bắc Ninh thành 2 tỉnh, phía Nam sông Câu là tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc sông Cầu là tỉnh Bắc Giang Các làng xã
Phật tích thuộc huyện Tiên Du — phú Từ Sơn — Tĩnh Bắc Ninh
Huyện Liên Du có 9 tổng là: Phủ Đồng, Dũng Vị, Đại Ví, Đông Sơn (Thụ
Thúc), Trụ Triển, Nội Duệ, Khắc Niệm, Chỉ Mê, Nội Vién Ly sở đóng ở xã Đông
Son - tổng Đông Sơn Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) chuyển vẻ xã Hỏi Bao, tổng
Nội Duệ
Tổng Thụ Triển cỏ 7 xã, thôn: Thụ Phúc (Chiểng), Phù Lập (Sộp, Trung,
Thượng), Trung Minh (Trùng Quang) có 2 xóm: Ngô (Ngõ Xá) và Phúc Nghiệm, xã
Cổ Miều (Muốn), Vĩnh Phú, Cao Dinh và Phật Tích
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dan chi
cộng hoa ra doi, don vi hanh chính cập tổng, bị bãi bỏ Năm 1948 xã Phượng Hoàng,
được thành lập bao gồm 5 thôn: Phật tích, Trùng Quang (Phúc Nghiêm), Ngô Xã (Ngô) Cổ Miều Mướn) và Vĩnh Phú
Năm 1963 hai tính lắc Ninh va Bac Giang hợp lại thánh tính LIả Hắc Ngày
14-3-1963 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 25/QĐÐ sáp nhập huyện Tiên Du và
Từ Sơn thènh huyện Tiên Sơn Huyện Tiên Sơn có 27 xã, Ì thị trấn; xã Phượng
Trang 19Hoảng đối tên là xã Phật Tích Năm 1997 tình Bắc Ninh dược tái lập (theo Nghị
quyết tại kỳ hợp thử 10 Quốc hội khỏa LX nước Cộng hỏa XIN Việt Nam) Ngày
9/8/1999 Chính phủ ra Nghị quyết số 68/1999 NĐ-CP tách huyện Tiên Sơn thành tai huyện Tiên Du và Từ Sơn Huyện Tiên Du chinh thức hoạt động có 15 xã và Ì
thị trần, trưng tâm huyện 1y đóng tại chân núi Lim (Tổng Vân Sơn) thị tran Lim Xa Phật Tích là 1 trong 16 xã, thị trần của huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
1.4 Tình hình dời sống dân cư, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã
"Phật Tích
LAL Tinh hình doi sing dân c, lình tễ xã Phật Tích
Xã Phật Tích có tính lộ 270 (180 cũ) và 295 chạy qua, hai tuyển đường giao thông gặp nhau ở địa phận xóm Núi Đất tạo thành ngã ba Một nhánh 270 nối Phật
Tích với quốc lộ 1 - cách thị trấn Tâm trưng tâm huyện ly Tiên Du 6,5km, đường
295 từ xớm Núi Dất chạy qua làng Phật Tích và Vĩnh Phú; nổi Phật Tỉch với trung tâm huyện ly Tiên Du, đoạn chạy qua Phật Tích chừng 2 lam
Ở vào vị trí thuận lọi, cách đây hàng ngàn năm, Phật Tích đã một thời là tũng tâm quản sự, văn hóa quan trọng Phật Tích là địa bàn cư trú lãu đời cửa dân nông, nghiệp trồng lúa nước, cư din sống quảu Lạ thành từng xóm, làng gắn bó với nhau bằng mỗi quan hệ “Trong họ, ngoài làng”, nhà no liễn kể nhà kie, xỏm này nim
cạnh xém kia, “Lối lửa tắt đèn có nhau”
Trãi qua bảng ngàn năm, bằng khối óe thông nrình và báu tay lao động, vùng lấp trũng cải tạo dồng ruộng, chế ngự thiên nhiên dễ lao động sắn xuất, từ một năm cây một vụ, năng suất chỉ đạt 30-60kg thỏc/sào, chuyển sang cấy một năm hai vụ, năng suất đạt 150kp — 200kp thóc/ sảo Ngoài ra người nông đân cỏn làm thêm được vụ xuân, trồng các loại cây lương thực khác như: Ngô, khoai, sẵn, các loại cây
màu: Lạc, để rau xanh Chăn muôi gia súc, gia cầm, góp phân thu nhập nâng cao
đời sống nhân dân
Dựa vào nên kinh tế sản xuất nông nghiệp, mang tính thời vụ, những lúc
néng nhàn, nhân đân đã biết tranh tủ thời gian rối để lảm nghệ phụ Lâm đậu, xay
sat, lam hàng xảo, thợ xây, thợ nề Một số làng trước đây có nghề thủ công phát
Trang 20triển lâu đời như: Làng, Phật Tích, Vĩnh Phú có nghẻ trông dâu muôi tằm, làm hương, đen, đan sợi Làng Cổ Miễu có nghề đục cối, làng Ngô x/á có nghề đạn thuyền
Ngày nay một số nghệ thủ công vẫn còn được giữ gìn tổn tại và phát huy, nghề đan dễ xoong nói, làm bột lọc gạo nếp, gạo tế, nàu chè, bảnh khoai Làng Ngô
Xã phát triển nghề dan thuyền nan, phục vụ cho sản xuất đánh cá, được nhần dan trong vùng lín nhiệm, tra chuộng
'Thu nhập tử phát triển kinh tế vườn đổi, phát triển trang trại, trồng các loại cây ấn quả, góp một phản không nhỏ năng cao đời sống nhân dân Phật Tích cỏn nỗi
Tăng, phợ chùa, hợp lúc sáng, khi ưa hoặc húc xế chiẩu
Trước đây, của chủa Phật Tích có chợ, bán mua các sản phẩm của địa phương, quang cảnh sâm tật
Cảnh chùa Phật tích vui thay
'Tam quan cỏ chợ, mỗi ngày một phiên
* Truyễn thắng khoa bằng
Trong chặng dường 844 năm cử nghiệp Hản học (1075 — 1919) quê hương Phat Tích đã cung cấp cho đất nước nhiều trí thức tái đúc, hiểu rộng, biết nhiều Láng,
xã Phật Tích xưa nổi tiếng có truyền thống khoa bằng, các dàng họ lớn đều có người
đổ dat lam quan Dong họ Nguyễn Đức làng Phật Tích thời hậu Lê có tới 4 người thí
đã tiến sỹ Dong họ Dễ có 8 vị kế tiếp nhau lâm quan thái y, số người của các dòng
họ đỗ cử nhân, tú tải, tương cống, sinh đỗ làm đến các chức quân sát sứ, đốc học thì
có rất nhiều Làng Phật ích hiện còn 2 tâm bia khắc tên tuổi các vị đại khoa
1-42 Lễ tình hình chính trị, văn hỏa, xã hội
Trải qua hàng nghìn năm, người đân Thật Tích đã xã dung cho minh mat truyền thống lao động cần củ, sáng tao; đầu tranh kiên cường bắt khuất chẳng giặc
ngoại xâm Truyền thông lịch sử quý bán đó đã được nhân lên gấp bội kế từ khi cd
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo.
Trang 21Dưới sự lãnh dạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam nhân dân Phật Tích dã vùng lên dau tranh giảnh chỉnh quyền, cách mạng tháng lám năm 1945 thành
công, kháng chiến chẳng thực dân Pháp thắng lợi, đánh Mỹ giải phóng mién Nam thống nhất đất mước Đặc biệt trong công cuộc dỏi mới Đăng bộ và nhân dân Phật Tích đã quán triệt sâu sắc các chủ trương chính sách của Dảng và Nhà nước vào hoàn cảnh địa phương, dẫy manh sân xuất, phát triển kinh tế vấn hóa, tang cường,
tệ thống chinh trị, ổn định trật tự an toàn xã hội, hoàn thánh tốt moi nhiệm vụ trong thời kỳ mới
Công tác văn hỏa, văn nghệ cũng có những chuyển biên lích cực Đăng ủy, chính quyển vá các đoản thể nhân đần tích cực vận động, tuyên truyền nhân din
thực hiện nếp sống mới trong việc may chay, cưới xin, đồng thời đầu tranh kiên quyết
dem lại sự binh yên cho nhân đân Lực lượng dân quân tự vệ duợc xây dựng dén
từng thởn, thường xuyên duyệt tập vá tham gia có hiệu quả các đợt điễn tập, hoàn
Là công trình văn hóa tin ngưỡng thờ Phật khởi dựng từ lầu đời, đắn thời Lý
TK XI chùa được xây đựng với quy mô lớn Đền thời Lẻ Trang Hưng được trùng tụ
tôn lạo và mở rộng hơn.
Trang 22Chiủa được xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc" và nhiều lớp nhà tạo thành kiểu "trăm gian", Tổng thể công trình chủa Phật Tích được bổ trị đăng đổi Không kế Tam Quan
à gác chuông đứng ở phía trước, lỏa Tam bảo được khuôn
kin trong mét hinh chữ nhật lớn giới hạn bởi Tiên Đường, phía trước và Hậu dường,
ở phía sau và hai dãy hành lang
Ti liên và phía sau những công trình chính là nhà Tổ, nhà MỸ Âu, Phủ chúa,
trong vườn chủa xảy những cây tháp cỗ bằng gạch và đã cao vúi Từ xưa đến nay,
tháp chủa được xem như một công trinh kiên trúc không thể thiếu, nó góp phản tên
vin giá trị cho các ngôi đanh lam cỗ tự và thủ Hút đồng đảo khách thập phương đến
dụ ngoạn cảnh chùa Vườn tháp cùng hệ thống di vật cỗ độc đáo có giá trị văn hoa nghệ thuật cao
Tuy nhiên, năm 1947, do chiến tranh, chúa bị phả hây hoàn toàn Nhà nước cho dựng tạm một nhà kho nhỏ để lưu giữ đỗ vật
Chia Phat Tich được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa tại Quyết định số 313/VH-VP, ngày 28 tháng 4 năm 1962 của Bộ Văn hóa và được Thủ tưởng chính: phủ ký vả xếp hạng 62 Dị tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam
Năm 1986, nhân đân địa phương dựng lạm ngôi chùa nhỏ để thờ phụng và xăm 1991, ngồi chủa nhô này dược suở rộng thành chia Phat Tich nb ngay nay 'Tuy nhiên, do kinh tế eo hẹp, khó khăn nên quy mồ ngôi chủa xây mới năm 1986 và
1991 không đáp ứng yêu cầu vẻ diện Lích, quy mô, kiến trúc, mỹ thuật, không xửng dáng, với một di tích có thời thời Lý,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng bào Phật tử thập phương và địa phương
có nguyện vong tha thiết muốn phuc đựng lại chủa Phật Tích cho xứng đáng với quy mô vả tầm cỡ của di tích lịch sử cấp quốc gia, dap ửng nhu cầu văn héa, tin
ngưỡng, tham quan, du lịch của nhân đân
Để bão tên nhiều đi vật thời Lý và lồn tạo ngôi chùa có lịch sữ gầu 1.000
xăm, tùng lả một trung tâm giáo đục vá văn hóa của Dại Việt, ngây 11-10-2008, Ủy
than Nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã cũng chủa tổ chức long trọng lễ khởi công trùng tu,
tôn tạo Di tích lich sử văn hóa chủs Phật Tích với khi phí khoảng 35 tỷ đồng do
Trang 23Công ty cỗ phân Tu bẻ di tích và Thiết bị văn hóa trung wong thi công từ năm 2008
đến năm 2010, gêm: Tứ trụ, gác chuông, tỏa Tam ảo, nhà Tẻ Dệ nhất, phú Mẫu
theo mẫu kiến trúc chùa Phật Tích thời T.ê
Căn cử kết quả khảo sát, nghiên cửu tại di tích và phân loại đi tích theo quy định tại Diễu 11 Nghị định số 98/2010/ND-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010, chùa Thật Tích (Vạn Phúc Iự) thuộc loại lrình di tích Lịch sử
1.6 Lịch sử chùa Phật Tích
Theo sach "Dei Việt Sử Kỹ toàn thu" và các dâu tích còn lại, cũng như các đi vật tìm thấy ở khu vục chủa, thì Vạn Phúc Iự được xây dựng vào khoảng thể kỹ thứ VII-X và được xây dựng thành Dại danh lam vào triểu Lỷ Thánh Tông năm Dinh Dậu, niên hiệu Long Thuy Thái Bình thứ 4 (1057
Năm 1066, vua Ly Thánh Tông lại cho xây dụng mệt cây tháp cao Sau khi tháp để mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-da bằng đá xanh nguyên khối
được đát ngoài bằng vàng Đế ghi nhận sự xuất hiện kỹ điệu của bức tượng này,
xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chủa dỗi tôn thành thôn Phật Tích
Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vúng Phật 'Tích và viết chữ
“Thật” đải tới 5m, sai khắc vào đá đại trên sườn núi Bà Nguyên phú Ÿ Tan có đóng góp quan trọng trong buổi dâu xây đựng chủa Phật Tích
Thời Tran, chủa Phật Tịch vẫn là một trong những trung tâm Phật giảo trong vùng Năm Xương Phù năm thứ 8 (1384): Mùa xuân tháng 3, Thượng Hoàng cho thị Thái học sinh ở chủa Vạn Phúc, núi Tiên Du, [lây dỗ] bọn Đoàn Xuân Lôi,
Tloang ITối Khanh 30 người
Vào thời nhà Lẻ, năm Chính Hỏa thứ bây đời vua Lê Hy Tông, năm 1686,
chủa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, cỏ giả trị nghệ thuật cao và đổi tên là
Van Phúc tự Người có công trong việc xây dựng nảy là Bả Chúa Trần Ngọc Am -
đệ nhất cung tần của Chúa Tinh: Đô Vương Trịnh Tráng, khủ Bà đã rời phú Chúa về
tu ớ chủa này
Đời vừa Lê Hiển Tông (1740-1786), mệt đại yến hội đã được mở ở đây Năm
1846, vua Thiệu Trị triểu Nguyễn cho lrùng tn chửa.
Trang 24Nhung rồi về huy hoàng và sự th„h vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tòn tại sau đó được gần 300 năm Kháng chiến chống thực dân Pháp bừng nế vá chùa bị
tàn phả nhiều Chữa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào nim 1947, chi con
lai pho trong A Di Đà, dây la kiệt tác diệu khắc thời Lý và dã dược Nhà nước công, nhận là bảo vật quốc gia năm 2013; Ngoài ra có hàng lính thú đá 10 cơn trước cửa
Tiển đường và hệ thống Tháp mộ ở phía sau chủa Năm 1958, chứa được dựng lại
sơ sài Năm 1991, với sự hảo tâm của khách thập phương và nhân dan trong ving, chùa được xây đựng lại nhung có quả mô nhỏ
Tủ tháng TÔ năm 2008, UBND tỉnh Bac Ninh và Giáo hội Phật giáo ViệL
Nam cùng chủa Phật Tich bắt đầu tiến hành đại trùng tu chia theo nguyên mẫu thời Lê
Hướng tới Đạt TẾ kỹ miện 1000 nam Thăng T.eng — Hà Nội (1610 — 2010), dị
tích chùa Phật Tích đã được Nhà nước quan tâm đầu tư kinh phí lớn để phục hỏi đi
tích khang trang te đẹp như hiện trạng ngày nay
1.71 Quy mã liển trúc chùa Phật Tích hiện na}
Tiiện chùa Phật Tích nằm trên thủa đất ô số 2/20.087.8 tờ bản đồ địa chính số
29, 30 xã Thật Tích, đo vẽ năm 2012, tỷ lệ 1/1000
Từ ngoài vảo, qua cổng chủa lá đến một con đường nhỏ dẫn lên chúa nim
giữa hai ao chùa hình chữ nhật Trước khi bước lên bậc cấp dẫn lên tảng nên của
Gace chuông ta gấp một khấu giếng đá tròn ở bên phải, só đường kính 1,50m nude rất trong, có cây đa có thụ xỏe bóng che phú Dưới đây giếng có đâu rống đá rất
Trang 25Từ cổng ngoài theo trục trung tâm có con đường lát dá rộng 4m đi 30 bậc lên
đến cấp nên 2 tới Gác chuông 3 gian 2 tâng, rộng 8,20m, đải 10,40m, cao 4,10m,
phía trên treo muội quả chuông đồng và ruột khánh đẳng, nằm ở trục giữa phía trước,
trai bên phia sau lá vườn mít và ring nhãn dọc hai bên dường trục chính Sân nảy,
chính là vườn chủa, trước kia trồng mẫu đơn để đầu Xuân mở hội xem hoa, cũng ở đây, ra đời moi tinh duyén (rong truyén kỳ về Từ Thúc Tầng nên thứ hai rộng 62m, suốt cả chiều dải của sân cũng được kẻ đá tảng đặt 3 cấp, bước tường cao tới 5m
Phía bên phải có nhà Sắp lễ gắm 7 gian gỗ lừm, bộ vì kiếu giá chiéng, xung
quanh để không gian mở, không có Lường bao, nên cao hơn sẵn 0,30m
Ô giữa búc tưởng cũng mở một lỗi lên chủa (cũng làm bằng những bậc đã) to
Vị wi diy tượng thú ở chùa Phật Tích được đặt ở thêm bậc thứ hai, đâm hang
ngang, mỗi bên 5 con, giữa là lỗi dị, Với vị trí như thể, có nhiều cách lý giải khác nhau Ý nghĩa thứ nhất đều thống nhất lả các linh thủ có vai trò canh giữ Phật pháp, giảm hộ nguời qua lạt Ý nghĩa thứ hại thì theo nhà nghiên cửu Ngô
dây là hệ thống các vị thần Hộ pháp, hai con voi la than indra (Để Thich) nhiép chính phương Dòng, hai con tráu là thần Yama (Diềm Vương) nhiếp chính phương Nam, hai cen là tê giác là thân Agni (thân lửa) nhiếp chính phương phụ Déng Nam,
in Doanh cho
hai con ngựa là thần Vaynu (thân Giỏ) nhiếp chỉnh phương phụ Tây Bac
Lớp nền thứ hai, bể sâu tới 33m và mép sân bên trong mở rộng ra tới 66m
Toàn bộ những kiến trúc Irọng yếu đều được xây dựng: ở lẳng này
* 1ảa Tam Bao:
Tòa Tam Bảo hiện nay được làm lại đựa trên quy mô, hình thức kiên trúc của
tòa Tam Bão đã được Bœater ghi lại vào những năm 30 của thế kỹ XS Tuy nhiên,
Trang 26kiến trúc này cũng dược diểu chỉnh bỏ sung dễ phủ hợp với các yêu cầu va công, năng sử dụng cũng như các yêu cầu về kỹ thuật
'Tiển đường gồm 11 gian, bước gian có kích thước 2,80m, riêng gian giữa là
3,30m Nền lát gạch bát 300x300x50, cao hơn nên sân 0,20m Khung cột gã lim
có đường kính cột cái trung bình từ 0.35¡n đến 0,39m, cội quân trung bình là 0,30m, Mặt trước 5 gian cửa bửe bản thượng song hạ băn, 6 gian vách đồ lụa Hộ
vì mái và vì nách kiến trúc theo kiểu chồng rường Câu đâu, xà nách liên kết theo
kiểu ngôi đầu cột
Tiên trái bài trí tượng 11ộ pháp, Dúc ông; Bát bộ Kim cương, Bên phải bải trí tượng Hộ pháp, đúc Thánh Hiên, Bát bộ Kim cương, tất cã các ban thờ phía trước dễu có hương ám và môn vuông chất Hiện gỗ sơn son thiếp vàng rực rỡ,
- Thiêu Hương:
Thiệu hương gồm 3 gian bước gian 2,80m; 2,80m; 2,80m 8o với bản về của Bozacicr phan Thiêu hương (Ông muống) được bổ sung Ì hàng cột giữa trục 5 và Ố, giữa 7 và 8 Dây lá kết cầu cân thiết bổ sưng để đám bão tính kỹ thuật đỡ xả nách, tẩy, kẻ xối ăn vào lừ Tiên đường và Thượng điện (rước đây gối vào tường, điều
này ảnh hưởng lớn tới kết cầu và tuổi thọ của dị tich)
Thiêu hương nên lát gạch bát 300x300x50, cao độ nên hơn Tiền đường 0,20m Chiểu cao của thượng lương Thiêu hương cũng lớn hơn Tiên đường 5,05m
và 5,25m, phần cao hơn của Thiêu hương được biển tự trên nóc của Tiên đường che
kin TIệ thẳng khưng cột gỗ lim, bộ vi nóc theo kiểu chồng rường câu đâu kê dau
cột, vị rách kế liên bây, cột cái
đường kinh 0,39m, cột quân đường kính 0,30m
Phía dưới là chân tháp thời Lý, phía trên được bài trí pho tượng A Di Da, 7
pha tượng Dược sư, đọc hai bên tường bài trí tượng Thập điện Diêm Vương, mỗi
bên 3 pho, ngôi trên ngai sơn sơn thếp vàng
Trang 27- Thượng Điện:
"thượng điện gồm 3 gian, 2 chái, gian giữa 3,5m, gian bên 2,80m Nén
Thượng điện lát gạch bái 300x300x50, cao độ nên là 0,65m, hệ thống khung cột gỗ lim, cột cải giữa dường, kinh 0,39m, cột cải bên dường kinh 0,35m, cột quân dường, +inh 0,30m, bộ vỉ nóc, vì nách của Thượng điện cũng được lâm tương tự như Thiếu
tương nhưng có kích thuốc nhỏ hơn vì giữn 3,Ôm; vì nách 1,8m
tên trong Thượng điện gian giữa bái trí tượng tam Thế; A Di Đà Tam
Tên, hai bên có 2 tượng châu là Anan đà và Ca điếp va Thich ca sa sinh G pian
biên phải có lượng đức Địa lạng, Thánh tăng, Gian bên trái có Lượng Quan ain toa
sơn, Sơn than
- Hanh Lang:
Hanh lang gồm 2 bến, mỗi bên có 7 gian, hai hàng chân oội, đường kính 0,28m, phía trước trồng không có của vách, nên lát gạch bát 11ệ thông khung cột gỗ lim Vì nóc kiến trúc theo kiểu chống rường giá chiêng Để tiện cho giao thông và
rong Nhả Hậu được bài trí các tượng như: Quan âm Chuẩn để, Văn Thù, Phế Liên, Tế Tỷ ni đa lưu chỉ, Lý Thái Tễ; Lý Thái Tông: Lý Thánh Tổng: tượng,
Hậu; Tổ Khương Tăng Hội, Trần Nhân Tông; Phap Toa; Huyền Quang,
‘Yrong cum kiến trúc chính, còn có các tòa nhà như: Nhà Tổ, nhá Mẫu, Phi chúa, nhà Khách
Trang 28Đổi xứng qua cụm kiện trúc chính về bền phải có miễu tiên chúa thờ Trịnh Thị Ngọc Am
Phía trước mmiếu có dựng một ngọn tháp Tanh: Quang xôy năm Chính Hòa 20
(1699) Tháp Linh Quang chỉ gồm 1 tầng nhưng khả cao, mặt trước mở cửa vuông,
phía trước cửa và bia trong lỏng tháp có thể hiện chữ Hán theo kiểu trang trí đẹp và
it gặp Phiến đá trên cửa dòng trên cũng khắc chữ Háu: “Nam vo A Di Đã Phát”,
“Sắc kiến” bên dưới la ba chit: “Linh Quang tháp” mỗi chữ đều được cham tach riêng trong một vòng trỏn nổi Diểm hai bèn chữ Iián theo lối đọc, bên phải viết:
“Chỉnh Hỏa nhị thập ruên đổ đuy, Đan át thái chương cốc nhật tạo”, bên trái viết
“Phụng Phật ngoai hd Thải báo Tuyên Quận Công kị đạo tràng chúng đẳng” 'Irong lòng thân đặt bia đá với ba mặt trời cách điệu với hình vòng tròn nãi, chính giữa là động chữ hán (viết theo chiều đọc): Phụng Phậi tự tổ 8a đỉ mímh lình hiển thân ebú
thiên tọa
Bén trai Tam Bảo có nhà Tổ đệ nhất với 5 gian trước và 5 gian điện phía sau Tầng tiên thứ ba cũng được kè đá phẳng phiu, hùng vĩ như 2 tang dưới Ở tầng nền nảy chỉ được san bằng ở phua ngoải, còn bên trong van giữ nguyên khung, cảnh thiên nhiên
Chính giữa ca tầng nên này, cảnh mép nên 14m30 có một ao nhỏ hình chữ
nhật gọi là “Long #?” Ao dài 8,20m, rộng 5,85m, sâu hơn 2,20m Hồn bể đêu được
kè đá tảng, vách thẳng, vuông góc Long trì ray đã cạn khô, đây ao lộ ra nhiều đá khối Tuøng truyền dây là duéi của con rồng mà dẫu của nó là Giêng Ngọc dưới kia Dung dẫn xuống Long Trì có cầu than đã rộng 2m với 13 bậc cấp Ở đầu cầu thang có một nên nhà bằng đã tảng mài nhẫn hinh chữ nhật đài 4m25 rộng độ 3m Người giá kể rằng công trinh kiến trúc dựng trên nên này cũng được cất bằng đá xanh huyền điệu
Trên mặt niên mày, năm chen vào đã mưa, thấp nhô 3Š ngọn tháp lớn nhỏ, cái được dựng bằng đã, cái được xây bằng gạch
Phân lớn các tháp lớn déu được đặt tên phi năm đựng
- Tháp Phố Quang đựng năm Cảnh Trị 2 (1664):
Trang 29Gém 4 tang, tang 2 rỗng có trần khắc hình trọn bát quái, 3 mặt vách chạm tới
7 tượng phật ngồi trên tòa sen Tháp Phổ Quang được trang trị theo một hình thức đặc biệt kháe với tran phía trong chạm các biểu tượng giống như tháp Bồ Đề, mặt chính phia trong chạm mỗi phú diễu Tam Thế Phật ngôi tinh tọa trên tỏa sen (gồm hai lớp cánh chạm kép để trơn), hai tay kết định ân đặt ngửa trong lỏng đùi, mình 1nặc áo cả sa với các nếp áo phủ trăn xuống chân mều mại Hai mặt bên cham nỗi phù điêu tử vị Quan Âm Bỏ Tát cũng trong thể ngôi thiền trên đài sen, đàu đội mũ
thiên quan, chính giữa mũ chạm nối hình đức Phật A Di Dà
- Tháp Viên Dung đựng năm Kỹ Mùi (16797),
7
Cling cao 4 lang, mit trước của lẳng 2 cham nổi hình tròn trên hình chữ nhật, dường như muốn biểu hiện trời tròn, đất vuông,
- Tháp Hiễu Quang đựng năm Jĩnh Tvị 5 (1680)
- Tháp Liên Quang dựng năm Chỉnh Hòa 5 (1684):
Cao 2 tang và Bồ Đẻ trong lòng thấp có an trí tượng, mặt trước khắc chữ Hán tên tháp vả đặc biệt trên trần phía trọng lỏng tháp (tầng 1) có chạm nổi hình vòng tròn
ở giữa, bao quanh là quê địch với các vạch khắc thể hiện 8 cung: Can, Kham, Can,
Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài Phía ngoài, tại 4 gỏc của trân tháp Bồ Để chạm hình hoa sen năm cánh vả các đái mây cách điệu dạng tra lứa phong cách nghệ thuật thời Hậu Lễ
Tháp Viên Minh gồm 3 tầng, trong lòng của lầng 1 đặt 1 bài vị bằng đã nguyên khỏi, diễm bài vị chạm mặt trời với các tia lửa, các đường xoắn cong đổi xứng nhau và cách đải mây nhọn đâu Trên trần tầng 1 chính giữa khắc một vòng trên chữa hai nữa với các vách nổi đen - trắng đối xứng nhau thể hiện sắc sắc không không của đạo Phật Vòng tròn bao ngoài khắc Luc tu dai minh than cli (chit Phan)
OM MANI PADME HUM
Tháp Báo Nghiêm dựng năm Chính Hòa 13 (1693)
Nổi cao nhất với 4 tầng, Mặt thắp co chạm tượng Phật ngôi trên tòa hoa sen trong vom tròn lá để ở mặt chỉnh tầng thứ 3, hai mặt bên cũa tang thir 2 chạm thủng chữ Vạn Trong lỏng tháp am uí tượng thiển su ở Lâng 2 vả tượng Tỏ - Thiển sự
bà bì
Trang 30Chuyét Chuyết ở tầng 1 Tư liêu PG3 TS Nguyễn Lân Cường cho biết, vào một đêm mưa bão cuối tháng 8/1989, kẻ gian đã lén sau chùa phá ô cửa nhớ bằng đá của tháp Báo Nghiêm nhưng trong lòng thấp chí vốn ven cd mot vai sinh, cong dé dựng xương và những mảnh vỡ của một phơ tượng cổ Được sự giúp dé của các chuyén gia, nha sư trụ trị chia Phật Tích, nhãn đân địa phương và các cơ quan chức từng lĩnh Bắc Ninh, trong những năm từ 1991-1993, PGS TS Nguyễn Tâm Cường
vả các chuyên gặa đã phục dựng thánh công một pho tượng nhục thân và xác minh
được đó chính là tượng nhục thân của sư tô của chúa là thiên sư Chuyết Chuyết (nay
được đặt trong nhà Tổ của chùa)
Còn một số tháp như Lông Ý, lễ Dễ đều không rỡ năm xây dựng Sườn
phía bén mũi Phật Tích còn một số tháp gạch nhỏ Cộng tật cả 35 cây tháp, mỗi cây
thấp, giữ xá H của các hòa thượng đắc đạo Hơn bất cứ nơi nào, số lượng tháp ở
Phật Tích đã chúng tỏ, đây lả nơi biết bao nhiêu nhà tu hành đã về tu luyện
Trong tổng số 35 ngồi tháp hiện còn, có thể thây hậu hết các tháp đếu được xây dụng bằng chất liệu truyền thống như gach chi nung gid (27/35), midt mach vôi
vữa, không trát phia ngoải Cáo tháp đả (8/35) gêm những viên da lớn xếp chồng, Tên nhau, bầu như không thấy mạch phép Đa số các ngôi tháp đều có Lên, Nhưng lâu năm nét chữ dần mờ phai nên khỏng thông kẻ hết được Một số tháp có bia đá
hoặc bài vị và ghi thời gian sinh, hỏa và hoạt động Phật sự của các nhà sự Thực
sự là nguồn Iw liệu chân thực giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu sấu sắc hơn về Phật
siáo nói chung, lịch sử chủa Phật Tích nói riêng,
Sau khi di hét c& 3 ting nên từ trên đỉnh cao nhìn xuống bao quát càng thầy kinh ngạc trước sức lao động vĩ đại của con người đã đồ mồ hôi xuống đây xế đôi, san nủi để xây dựng nên những công trình “Öẩu son gác tỉa ”
Mat bang kién trúc Phật Tích cũng như nhiều chủa khác được đựng ở thời
Tý thường được làm lrên sườn núi cao, đựa vào múi lạo niên một bộ phận đột xuất
của thiển nhiên Mặt khác nó cỏn mang một nội dung Dất Nước Núi Sông rõ
rệt ĐỘ cao của mặt bằng nhằm nâng kiên trúc hay bống, gân với thể giới siêu
nhiên hơi
Trang 31Những bức tường dã ghép khéo léo đã bảo vẻ các tầng nên rất hiệu quả Đã gắn 1000 năm nay nó vẫn đùng vững với thời gian, chứng tỏ tài năng kiến trúc đặc
cha ông 1a thủa trước
1.72 Quy mã kiến trúc khẩo cỗ chùa Phôi Tích
Thực hiện kế hoạch trừng tu tồn tạo đi tích chùa Phật Tích đã được Bộ Văn
hod, Thé thao va Du lịch phê duyệt, tháng 11 nấm 2008, công việc trùng tụ, tốn lạo
di tích chủa Phật Tích đã được triển khai Trong quá trình thí công trùng tụ tồn tạo chùa Phật Tích tại cấp nền này đó làm xuất lộ di tích móng tháp thời Lý được xây đựng bằng gạch Phải hiện có ý ngiấna rất quan trọng, khẳng định rõ những kết quả nghiên cửu trước của học giả người Pháp Jøzaeler và các nghiên cứu cũa các học
giả Việt Nam trong nhiều năm qua, đồng thời đây là lần đầu tiên chủng ta nhận điện
Tố về vị Irí, qui md mat bằng và trình độ xây dựng tháp Phật thời Lý tại cỉ tích chúa Phật Tích
Trước phát hiện quan trọng nói trên, để tìm hiểu giá trị và để xuất hướng
1rghiên cứu, bãn lồn di tích, Sở Văn hoá Thế thao và Du lịch lĩnh Bắc Ninh đã chỉ
đạo tiền hành khai quật khảo cổ học đợt 2 tại khu vue phat hiện dẫu tích tháp gạch tại chùa Phật Tích, từ ngày 23/11/2008 đến ngày 25/12/2008, trước đỏ (đợt 1) đã tiến hành khai quật 1 hỗ nhỏ có diễn tích khoảng 1Ôm? tại khu vực góc đông - bắc Jam xuất lộ dấu tích rất đậm đặc được đoán định có thể là phần tháp đồ Như vậy, trong 2 đợt khơi quật, một vẫn để quan họng ở đây đã được giải quyết: đó là dấu tích nên mong tháp, và hưởng, dỗ của tháp
Nhằm báo tên, nghiên cứu, lập hỗ sơ đánh giá giá trị của đi tích trước khi tiên hành các bước tiệp theo, Sở Văn hoá Th thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đá mời các nhà khoa học của Viện Kháo cổ 48 nghiên cửu, xảy dựng hề sơ tư liệu khoa học, từ đỏ đưa ra các giải pháp bảo tồn di tích phục vụ cho việc trưng bảy giới thiệu Theo hồ sơ Chùa Phật Tích di tích Quốc Giá Đặc Biệt ngày 47
ly ditich Sở Văn hóa Lhể thao vả IDu lịch đã lập các hạng mục khai quật kháo cổ học tại chủa Phật Tich như sau:
/2013 của Bam quản
bạ a
Trang 321.7.2.1 Hiện trạng của móng tháp:
Khi các nhà Khảo cổ của Viên Khảo
cô học có mặt thì toàn bộ ngôi chủa cũ đã
được hạ dãi, đơn vị thí công đang tiền hành
các công việc xây dựng, gia cô nên mỏng,
dé phục vụ cho việc trùng tu, phục dựng lại
ngôi chủa cũ Một số móng trụ đã được xây
dung trong phạm vi dau tich nen chia,
Phần mỏng tháp đã được lảm xuất lộ
toản bộ với quy mô chân tháp xây dựng
HI: Toàn cảnh di tích móng tháp
bằng gạch hét sức to lớn Bê mặt của chân
mỏng đã được làm xuất lộ cho thấy nó bị
phả hủy theo chiều thấp dần vẻ phía nam Trong tổng số 4 mặt của các cạnh tháp, bê mặt phía nam bi pha hủy nghiêm trọng nhất, ở đỏ cỏ nhiều các viên gạch bị bong lên khỏi bề mặt, cao độ của bê mặt chỉ tương đương ở khoảng giật cấp 2 trong số 3
cấp tường mỏng quan sát được ở bờ tường phía bắc
Bờ tường phía bắc và phía đông còn nguyên vẹn nhất với dẫu tích tường xuất
lộ với 3 cấp thu hẹp đân theo chiêu từ đưới lên trên Tại bờ vách bắc còn nhận điện được đầu tích của tường xây của giai đoạn 1991 (một bộ phận nằm trong gian thờ
chính của ngôi chủa cũ đã được hạ dải) Trên đoạn tường đó, bê mặt trong cỏn có
dau tích dùng vôi vữa trát khá bằng phẳng Pho tượng A-di-đả được đặt ở khoảng
chính giữa của đoạn tường và nằm lui vẻ phía bắc trên một đề đã được gia cô bằng,
bé-téng
Xung quanh bên ngoải các cạnh của móng tháp đã được khai quật sâu xuống,
làm lộ hết toàn bộ chân móng tường của tháp
Trong lòng tháp cũng được khai quật sâu xuống, bóc đi toàn bộ lớp vật liệu lắp lại Theo suy đoản của những người tham gia xử lý khai quật, thi lòng tháp này
là dầu tích do Bozacier dao, sau dé lap lại Sau khi bóc bỏ đi toàn bộ lớp đất lắp đó, phân gia có nên phía đưới được xuất lộ nguyên trạng với các lớp sỏi-đất sét đổi dam chặt thành từng lớp riêng biệt.
Trang 33Trên toan bộ các cạnh tháp còn lại, góc tây-nam bị phá hủy mạnh nhất, thấp xuống tới bè mặt của giật cấp thứ nhất (tính từ dưới lên)
Góc tây-bắc cỏ một khoảng (hình gân tứ giác) ở đó các viên gạch được dam vụn, các viên gạch xung quanh cỏ chiêu hướng xô nghiêng vao tâm của khoảng, dam Do vay, đoán định tác động này có thể hình thành từ thời Lê thê kỳ XVH (năm
1686) khi ngồi chủa được đại trùng tu, vị trí đỏ có thẻ lả dâu tích của đầm cột để phục vụ cho việc xây dựng bên trên
Dé triển khai công việc, từ dưới chân núi phia nam, lây cos (0;0) tại điểm bậc thêm đá (nằm trong lòng của giêng cỏ), dân điểm lên móng tháp, đồng thời dung
một trục toa độ chuân nằm ngang theo chiều bắc-nam của móng tháp nhằm tạo cơ
sở cho việc vẽ lại toàn bộ di tích
1.7.2.2 Dia tang di tích:
Tại các vách của hỗ khai quật, địa tầng,
phía trên đều không còn, sự mắt đi này có thẻ
do trong qua trỉnh thi công xây dựng Tuy
nhiên, tại các vách vần còn nhận điện được
địa tâng, nhưng đứt đoạn, không liên tục
Dia tang vách nam còn nguyên vẹn
nhất, do đó được xác định để nghiên cứu, sau
đó có thể quy chiêu, so sánh đề tìm hiểu tại
Nhìn chung, trên tổng thé dia tang
déu xuất lộ các lớp gia cổ móng và xung,
quanh tháp
Các lớp đầm gia cố xuất lộ với cao
độ tương đương nhau (960cm), đông thời có
tỉnh ôn định va chặt chẽ, cho thây khi xây
dựng tháp, người ta đã phải tiên hành dam
nén trên một quy mô rộng hơn diện tích của H3: Địa tầng vách Nam:
mỏng tháp Theo hiện trường xuất 16, thi cae
27
Trang 34lớp đầm này ngoài việc phục vụ cho việc xây dựng tháp, người ta còn đầm nên để
xây dựng các khoảng sân xung quanh chân tháp Đây là một hiểu biết có thể mới
nhất của kỹ thuật đâm nên xây dựng tháp thời Lý:
Địa tầng được nghiên cứu ở đây đều nằm phía ngoải của chân móng tháp,
điều này đưa đến suy đoản sau khi xây dựng chân mỏng tháp bằng gạch, người ta tiếp tục đầm gia có rông ra xung quanh có thê đề lát gạch tạo không gian thoảng cho
tháp, đây cũng là không gian tâm linh của tháp
Tại vách nam, nghiên cửu kỹ con quan sát được các lớp đắt có niên đại muộn
hơn nằm đè lên các lớp gia cỏ Niễn đại của các lớp đất phủ lên bên trên lớp đảm có thể được hình thành vào thời Lê (1686) Mặt khác, do day là hướng nam, nên có thể
cỏ một lỗi vào trong lỏng tháp từ hưởng này, do đó người ta dùng các vật liệu đắp
phủ lên còn đề xây dựng một lỗi vào bên trong tháp
Từ trên xuống dưới, diễn biển địa tẳng gồm 3 tẳng văn hoá như sau:
- Tầng văn hoá (PT.08N.TVOI): ở
dang đất đôi có mau nâu, đề bở rời, xốp, pha
nhiều sạn sỏi, khi bị ảm ướt rất đính, lỗi lõm
không đều nhau, dảy trung bình 20em Bề mặt
lớp này không bằng phẳng, nhiều đoạn bị thấp
lõm xuống, đây có thể là do nguyên nhân khi
thi công xây dựng tạo thành Đây là lớp đất
hiện đại, được chúng tôi xác định là lớp đất mặt,
bị xáo trộn mạnh và xâm thực xuống tảng văn
hoá 2
- Tang văn hoá 2 (PT.08.N.TV02): bị
tầng văn hóa 1 phủ đè lên, có diễn biến rất phức tạp, các lớp văn hóa trong đó
Ha: Tang van héa 2 — Dia tang
không bằng phẳng, mà thường xuyên có những thay đổi đi lên, hoặc đi xuống, một
số vị trí tạo thảnh các ỏ sét lớn khá thuần
Do dién bien và tỉnh chất phức tạp, nên tầng văn hóa được chia thành 3 lớp
như sau:
28
Trang 35+ Lớp PT.08.N.1V0241
Lớp này chỉ xuất lộ ở phạm vi nhỏ năm về phía tây của vách, rộng 218cm, đây 60em, mỏng đân vẻ phía đông Dất ở dạng sét có màu vàng, bị laterit hoá nhẹ, lẫn nhiêu các mảnh ngói cò niên đại thế ký XVII rong lớp đất loang nỗ các ô sét mau tring xám, khả thuần, năm xen kế trong, lớp đất của lớp văn hỏa
Tinh chất của lớp này có thể vẫn là lớp đất xáo trên, nhưng được hình thành vào thời Lê hoặc lả lớp san lắp khi ngồi chủa thời Lê bị phá huý Khi trùng tụ xây dựng, nguời ta đã tôn cao nên của ngôi chùa lên, plrö đẻ lên toàn bộ nền đầm gia có của thời Lý Khi Lồn cao nên, lớp dal nay dược dùng với công năng làm cao mặt bang ngôi chùa, sau đó bên trên người ta dùng gạch lát chùm lên Tuy nhiên, phạm
vi nảy rất gân với bậc thêm từ phí đưới đi lên, đo đó khu vục này có thê đảm trách công năng như là nên phía trước của chùa
+ Lớp PT.O8.N.TV02-B
Đất trong lớp này là loại đất sét thuận, có mảu vắng trắng, không chứa di vật, xuất lộ tạo thành 2 khoảng ở 2 bên phía đồng và tây của đường lên chùa (vách nam), dảy trung bình 60cm Ở đảy của lớp nảy chửa các dị vật vật liệu kiến trúc gạch, ngói của thời Trần và thời Lé
Lớp đất này có hình đạng xiên, theo chiên huớng đi từ trên xuống đưới, xen giữa lớp đất nảy có các ổ ken dảy các vật liệu xây dụng như ngói, gạch vụn liiện trạng xuất lộ như vậy đưa dến một giả thuyết dây là lớp đất san gạt, tân lấp, tôn cao xiển của thời sau (thời Lô) Lớp đất này nhìn chung nằm đưới PT.08N.TVØ2-A,
ủa thời I.ê (1686) so với
thung tính chất thì tương đồng — đều là lớp tôn cao tiết
nan ban dau ciia công trình kiến trúc
Khi ngôi clrùa thời Lý-Trân bị xuống cấp, người ta dã tiến hành san gạt lại xuặi bằng, sau đỏ xây dựng ngôi chùa thời Lẻ lên đó Vì vậy trong lớp này, nhận thay có nhiều ngói thời Trân và đất sét thuận
+ Lớp PT.08.N.TF02-C:
Đây là lớp dưới củng của tẳng văn hóa 2 Đất sét có mau nâu đỗ xấm, pha cát
iain (dang cái đồi), dãi đều trên bê mặt lớp gia cô, đây trung bình 17cm Đây là lớp đất ngăn cách giữa lớp đâm nên gia có của thời Lý và lớp nên tôn cao của thời Lê
Trang 36Nhân chung lớp này kha én định, hình dạng nằm trải đều trên bờ vách, tuy nhiên bê mặt của lớp này vẫn không bằng phẳng, cao thấp ở nhiều vị trí khác nhau
đo sự phá hủy và xâm thực của thời sau (thời T.ê-1 686)
Như vậy, mặc dù có niễn đại thuộc thoi Lý, nhưng, do tính chất vả dấu tich tác động của thời sau, nên lớp này vẫn được xếp vào thời Lê Đây là đấu tích cho thấy sự chuyển tiếp, trùng tu giữa hai giai doan Lý-Trần và thời Lê
ẳng văn hoá 3 (PI.08.N.LV03) Tắt đầu từ độ sâu 960cm (đáy của lớp đầm PT.08.N.TV02-C) đến độ sâu 1147em (và còn có thế sâu nữa) là bop gia cố móng nên của kiến trúc của thời Lý
hư đã trinh bày phía trên, bê mặt lớp đầm nên thời Lý có thể đã bị phá hủy vào thời Lê, tuy nhiên bắt đầu từ đây xuống đến hát phạm vi móng, các lớp đảm rat
ấn định Tỉnh ổn dịnh không chỉ thể hiệu trên vách rưm, ruà các lớp đảm còn ôn định, đều trên toàn hệ các vách địa tầng, Diễu này cho thay, sau khi xây đựng chân
để tháp âm xuống phía dưới, trên toàn bộ bê mặt người ta liên hành đảm trên một diện rộng, dòu, dỗng nhất giữa các lớp dâm Điều dé cho thấy, việc xây dựng hết sức tỉ mi
Kỹ thuật gia cố hết sức kiên cố: cứ 1 lớp sối dây từ 3cm đến Sem rổi đến 1 lớp đất sét đổi dày trung bình 5cm Kiểu gia cô này giống với cách gia có các xnỏng trụ kiến trủe thỏi Lý tìm được ó Lioảng thành Thăng Long, nhưng vật liệu
đất sét có khác nhau: nêu như 6 Phật Tích, người ta dùng đất sét đổi có độ cứng cao nhưng để bỡ đời dé dam xen voi các lớp söi, thì ở Hoàng thành Thăng Long người ta đừng đất sét đẻo, có độ dinh cao đề liên kết các lớp sỏi
30
Trang 371.7.2.3 Di tích:
Bê mặt di tích xuất lộ không đều nhau,
cạnh phía bắc còn cao nhất, ở đó cỏn dâu tích
nên chùa được xây dựng những năm 90
(1991) của thẻ kỷ trước đã nằm đẻ lên bề mặt
của tường, đồng thời móng bệ tượng được gia
cố bằng bé-téng chiếm mắt 1/3 phân giữa của
chiều đải tường phía bắc Mặt tường tháp
3Ÿ m3 Bà = H5: Bê luặt hường bắc và dẫu tích
xung quanh thap dân về phía nam, góc tây- của nền chùa hiện đại uằm đề lên
nam thấp nhất (bị phả huỷ đến giật cấp 1 của tường tháp) Các viên gạch trên bê mặt
tường tháp đều có dâu hiệu bị tác đông mạnh từ bên trên, một số viên gạch bị bong lên khỏi bẻ mặt
Các tường tháp không bằng phẳng mà uên cong lên ở 4 gỏc kiểu đao đình
Hiên tượng này là đo người xây dựng có tình tạo ra, bằng chứng có thẻ nhận thấy rất rõ ở hàng dưới cùng của giật cấp 1, ở đó các hàng gạch không chạy thẳng theo hàng
mả bị ngắt quãng, Có thẻ hiểu nôm na rằng đó là những hảng gạch đệm, kê cao các góc của tháp
Đặc điểm chỉ tiết còn lại của các
tường chân mỏng tháp như sau:
* Móng tường phía bắc: dài theo chiều
đông-tây 91§em, dày 250cm, lỏng tháp tường
đài đông-tây: 418em Đây là phân tường còn
nguyên vẹn nhất trong toản bộ chân móng
tháp Hiện xuất lộ với chiều cao 3.6m, được
xếp 60 lượt gạch chập khỏi đều từ trên xuống,
dưới Mặt ngoài khá bằng phẳng, mặt bên
trong lỗi lõm không đều Cỏn quan sát được
3 giật cấp thu nhỏ dân vào từ dưới lên trên
Phía đông của tường, các hàng gạch còn thắng hàng ngay ngắn, đều theo
chiêu đông-tây Tuy nhiên, từ vị trí bệ tượng A-di-đã vẻ phía tây, các hàng gạch bị
Trang 38mạnh lên bất thường (nhịp cong mạnh hơn so với các góc tường còn lại của chân mong tháp) Bề mặt tường ở vị trí này, các viên gạch bị vỡ vụn thành các mảnh rất
nhỏ, nhiều vị trí ở dạng bột, đo đỏ đây có thê lả đầu tích đầm cốt của thời Lê
Ngôi chủa được trùng tu vào thời Lê, có thể cỏ một cột được đặt tại vị trí
nảy, do vây khi đầm cột, người ta đã làm biến dạng các viên gạch ở đây
Hiện tượng này cũng có một số ý kiến cho rằng, đó là do bản thân tường tháp
bị phá hủy, vả là nguyên nhân làm cho tháp bị đỏ
Tuy nhiên, giải thích này cỏ những mâu thuần nhất định:
+ Thứ nhất, nêu vị trì này bị xuống cấp đến mức lâm cho ngôi tháp bị đỗ thì
chiêu đô của tháp phải nằm vẻ phía tây-bắc
Nhu vậy mâu thuân với kết quả khai quật thám
sát lần 1, tìm được dầu tích của tháp đồ về phía
góc đông-bắc, cũng như mâu thuẫn với truyền
thuyết về một ngồi tháp đỏ về phía này (ở đây
côn có địa danh Ngõ Gạch-tương truyền khi
tháp đồ về phia đó có nhiều gạch nằm ngôn
ngang, do đỏ dân trong vùng gọi là Ngõ Gạch)
+ Thứ hai, nêu vì vị trì này mà tháp bị
6 thi các Viện gạch ở đó không thể vỡ vụn „„ gu, tường tháp phủa Nam
(dạng bột đầm chặt), các viên gạch xung quanh
bị xô nghiêng vào tâm của khoảng gạch đầm
Như thể, để có một hiện trạng như quan sát phải cỏ một lực rất lớn và việc
các viên gạch bị vỡ dạng bột phải theo một chủ ÿ nhất định và khả năng lớn là do
vào thời Lê, khi đầm gia cô móng trụ kiến trúc tạo thành
Phía bên trong phân tường xây đè lên vào thời Lê được chát vữa bằng phẳng
Lớp gạch xuất lộ bên trên cùng bề mặt có sử dụng một số viên gạch vuông thời Lê, mạch giữa các viên gạch được dùng vôi vữa để gắn kết Điều đó cho thây đây cũng
là bể mặt nên của ngôi chủa trước khi được hạ dải Ngoài ra còn có một bờ móng chạy theo chiêu đông-tây, được xây dựng bằng gạch bia hiện đại, được trát bằng vôi
vữa, mạch liên kết giữa các viên gạch được dùng vôi vữa Bên trong bức tường con
32
Trang 39có dấu tích của 4 hàng gạch bia chay đài theo chiều đông-tây, đây có thẻ là gạch lát
của nên chủa trước khi được hạ dải
Nền gạch trên củng nằm cách lớp gạch của móng tháp khoảng 7em, đó là lớp
lót trước khi lát nên, có màu nâu đậm, xốp
Rịa cạnh trong của bờ tường bị thời sau phá hủy sâu xuống 5 lượt gach so với bê mặt của tường
* Móng tường phía nam: hiện xuất lộ đài đông-tây: 918em, bê mặt rộng bắc-
nam: 250em, trong lòng tháp tường đài đông-tây: 418em Đây là dấu tích tường bị thời sau phá hủy mạnh nhất, dâu tích phá hủy có xu hướng vát theo chiêu từ bắc xuống nam, đặc biệt góc tây-nam bị phá thấp xuống tới giật cáp 1
Tường phía nam hiện cao 230cm với 41 lượt gạch xép chập khối từ trên
xuống dưới
Nhìn tổng thể xuất lộ, các hảng gạch thẳng đều từ đông sang tây, phạm vi
giữa tường cong võng đều xuống, 2 góc cong đều lên Hiện tượng nảy là do kỹ thuật
xây dựng tạo thành Mặc dủ bẻ mặt tường bị phá hủy như vậy nhưng cạnh tường
cho thấy, đó là các phá hoại mà lực tác động theo chiêu ngang (chỉ tác động đến bê mặt tường)
Góc đông-nam, phân nối với tường phía đông còn nguyên vẹn nhất, sau đó dầu tích phá hủy tháp dân theo hướng tây-nam, và đặc biệt bị phá mạnh ở góc tây- nam Nêu tính từ điểm cao nhật của góc đông-nam và điểm thấp nhật của góc tây- nam chênh nhau 30 lượt gạch Khoảng giữa của móng tường có một dâu tích phả
hủy rộng 80em sâu 60em, đảy của vị trí phá
tủy có các mảnh gạch nằm lộn xôn
Bê mặt có nhiều các viên gạch có khắc
chữ “1ý gia đệ tam dé Long Thuy Thái Bình tứ
niên tạo” (1057)
* Móng tường phía đông: dai bac-nam
924cm, mặt tường rộng đồng-tây: 250cm,
tường bên trong lòng tháp rộng bắc-nam:
HS: Tường tháp phía Đông
424cm Dâu tích xuất lộ còn khá nguyên vẹn cao
33
Trang 403.0m, với S0 lượt gạch xếp chập khói liên, góc đông-nam bi pha hủy vát thoải theo chiều từ bắc xuống nam,
Rịa cạnh ngoài, ở khoảng giữa của tường, các viên gạch bị tác động lực của thời sau nên có xu hướng bị xô lệch ra ngoài
Canh trong của tường có đầu tích của một khoảng rộng bắc - nam 1.5m, đông
~ tây 1.0m, sâu 1.0m, đặc biệt phía trong của cạnh tây cũng có một dẫu tích tương tự nằm đổi xứng Do vậy việc xuất lộ dấu tích đỏ ở 2 phia bên trong của bở tường đông vả tây chắc hẳn có một mục đích cụ thể nào đỏ, tuy nhiên chưa thể lý dải được
sự hợp lý của xuất hiện nảy
Góc phia bắc, phân tiếp nối với bờ tường bắc có dâu tích của nên chủa xây
năm 1991, đỏ là 2 viên gạch bia xếp thành 1 hàng theo chiều bắc-nam, chất liên kết
giữa các viên gạch này là vôi vữa
* Móng lường phía tây: kích thước đài
bắc-nam: 924em, rộng đông-tây: 250cm, cao
hiện tại là 3.0m với 47 lượt gạch xếp chập khỏi
liên, cạnh bên trong lòng tháp dai bắc-nam la
424cm
Dấu tích xuất lộ của bờ tưởng này cho
thấy, sự phả hủy của thời sau và phạm vị của nỏ
thể hiện rõ nét nhất ở bở tường này Toàn bộ bê Hồ: Tường tháp phía Tây
mặt của bờ tường tây thấp dân từ bắc xuống
nam, vả thập sâu hẳn xuống tại vị trí góc tây-nam
Đầu phía bắc của tường có dâu tích của sự dam nén làm cho các viên gạch ở
đỏ bị vỡ thành dạng bột màu đỏ VỊ trí góc
tây - bắc bị phá hủy chỉ còn 2 lượt gạch nữa
là xuống đến bẻ mặt của giật cấp 1 Các viên
gach 6 vi tri dim bị đạp choãi ra phía bắc,
nhưng xu hướng thì nghiêng vào trong
Bên cạnh phía nam của dấu tích
gach dam, bé mat tường cỏn nguyên vẹn
HI0: Dấu tích của “Khám thờ” nam
ở tường đông và tây của mỏng tháp
34