Với những thành ngữ loại này, chúng ta chỉ được phép hiểu nghĩa của chúng ở trên bình điện chung của cả cụm tử như give way là nhượng bộ, chịu thua, giãm giá, hay give p là từ bó một t
Trang 1ĐẠI HỌC QUOC GLA LIA NOL
DẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VẢ NIIÂN VĂN
a
NGUYEN VIET HOA
TÌM HIẾU VE SO SANH
TRONG THÀNH NGỮ SO SANH
TIENG VIET VA TIENG ANH
(Luận văn Thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học)
Ha Noi - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUOC GLA LIA NOL
DẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VẢ NIIÂN VĂN
Trang 3172 Các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh T15
13.1 Quan niệm vẻ thành ngữ trong tiếng Việt, T16
1.5.2 Quan niệm vẻ thánh ngữ trong tiếng Anh TU
1.3 Phân biệt thành ngữ và một số đơn vị lân cận 2
1.3.1 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 2
1.3.3 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự ảo 26
1.3.3 Phân biệt thành ngữ với từ ghép 26
1-4 Phân loại thành ngữ
Tã Nhận điện thánh ngữ so sánh tiếng Việt ai
Tế Nhận điện thánh ngữ so sánh tiếng Ảnh aa
Chuong 2 Cau trúc thành ngữ sa xánh và cầu trúc về so sánh của
thành ngữ su sánh liêng Việt và tiếng Anh
2.1 Đặc điểm cấu trúc thành ngữ so sảnh tiếng Việt 38
Trang 43.1.1 Quan niệm về hình ảnh và biếu trưng, T61
34 Hệ hình ảnh và biểu trưng trong thánh ngữ so sánh tiếng Viet va | m
tiếng Anh
32T Thánh ngữ tiếng Việt và Hếng Anh cing hình ảnh và biểu trmg 64
355 Thánh ngữ tiếng Việt và tiếng Ảnh cùng biểu trưng nhưng khác | “
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn dề tài
Trước một thể giới khách quan vô củng phong phủ và da dạng, loài người
đã thực hiện các thao tác so sánh, để đánh giá và mô tả một cách cụ thế môi trường xưng quanh, bao gồm cả môi Irưởng tự nhiên và môi trường xã hội
‘Trong quá trình dó, họ dã tìm ra nhiều phương thức khác nhau dễ thể hiện các
mức độ so sánh Một trong những sản phẩm ngôn ngữ của phương thức đó là
thành ngữ so sánh Thành ngữ (idioms) lá loại đơn vị từ vựng tổn tại trong mọi
ngôn ngữ Muốn nghiên cứu thành ngữ và thành ngữ so sánh, chúng tôi thấy
cần thiết phải làm rỡ nội hàm khái niệm thành ngữ, bởi trên thế giới, đang tổn
tại những cách hiểu khác nhau về tên gợi này
Thuật ngữ thành ngữ có hai nội dung Nội dung thứ nhất: là loại đơn vị có
tính chất đặc trưng, riêng biệt nằm trong hệ thông ngôn ngữ, mà cụ thể là trong
hệ thống từ vựng chung của một dân tộc, một đất nước, hay thâm chi 14 mét
vùng Nội dung thứ hai, xét về mặt cú pháp, thành ngữ là một cụm từ mà nghĩa
của nó không chí lả “phép cộng” đơn giãn nghĩa các tử thành viên lại với nhau
Liêu này thể hiện ở chỗ, ta có thể biết hết nghĩa của từng từ, nhưng khi ghép
chúng lại với nhau thì chúng rất ngô nghệ hoặc vô nghĩa Ví dụ như các cụm từ
give way (dua cho (đường dị), ghe p (dưa/lên) Với những thành ngữ loại
này, chúng ta chỉ được phép hiểu nghĩa của chúng ở trên bình điện chung của
cả cụm tử như give way là nhượng bộ, chịu thua, giãm giá, hay give p là từ bó một thứ gì dó
Ngoài những chức năng cơ bản giống từ, thành ngữ còn là loại đơn vị có
khá năng chứa dựng nhiều hơn từ những giá trị ngôn ngữ - văn hóa, mặc dủ
kích thước vật chất của nó không lớn V M Mokienko đã nói: “Dơn vị thánh
ngtt, cùng với các từ vị của minh, chính là nguồn ngữ liệu chủ yếu cho tri thức
nên của một dân tộc và còn có khả năng tích lũy thông tin ngoài ngôn ngữ”
Trang 6Điều này có thể lý giải được dựa trên nguyên tắc tiết kiệm trong ngôn ngữ: con
người chỉ dùng một số lượng hữu hạn các kí hiệu ngôn ngữ, nhưng luôn muốn
thé hiện được nhiều thông tin về thế giới vật chất và tỉnh thần vô hạn, noi ma
họ đang tồn tại ở đó Nghiên cứu thành ngữ ở bất cứ góc độ nào cũng sẽ giúp
cho những người quan tâm hiểu thêm về loai đơn vị từ vựng rất thú vị nay
Việc nghiên cứu thành ngữ so sánh cũng là một bước đi phù hợp với xu thế
hiện nay, khi ranh giới văn hóa giữa cáo quốc gia dang dẫn xích lại gần nhau
hơn ! Chúng tôi nghĩ rằng, chính xu hướng quốc tế hóa mọi mặt của đời sống
kinh tế - văn hóa - xã hội đã đặt ra những yêu cầu mới cho các nhà ngôn ngữ học trên toản thể giới Và một trong những nhiệm vụ quan trọng đó, lả lâm con
người trên thế giới hiểu nhau hơn
Tiếng Anh hiện là ngôn ngữ dược sử dụng rộng rãi nhất trên thể giới và ở Việt Nam hiện nay 'Irong xu thể hội nhập và giao thoa văn hóa, điều cần thiết
đối với người học và sử đụng ngoại ngữ, là nắm vững tiếng mẹ đẻ, đồng thời
có những kiến thức lý luận nhất định về ngoại ngữ mà mình dang sử dung dé
từ đó phục vụ cho việc địch tương đương hai hay nhiều ngoại ngữ Nghiên cứu
đề tải này, chúng tôi mong muốn làm sáng tô thêm một số vẫn đề về đặc điểm
của thành ngữ so sánh tiếng Anh, trong sự so sánh đối chiếu với thành ngữ
tiếng Việt, nhằm tăng khá năng vận dụng thành ngữ so sánh hiệu quả hơn trong
“Những thành ngờ phổ hiên ở Châu và xa hơn: " (Ntdegprordl 1Renks ta Burog end Bayend A Cross linguistic noi
Crosa-snlturel Rssaarch ProleclI với sự tham sia của nhiêu nhà thoa học từ cóc đến tộc nói nẵu ðU ngôn ngĩ Châu Âu:
tiên tầng số uớc chùng 1%€ - 302 ngôn nghì và 11 ngân ¡gữ thác (như Â Rập, Hữu, Nhội, Tiên, TIỆt, J
Trang 7Tủy vào các tiêu chí khác nhau, các nhà nghiên cửu chia thành ngữ ra lam
nhiều loại Nếu căn cứ vào phương thức tạo nghĩa, thành ngữ được chia ra làm
2 loại lớn: thành ngữ so sánh và thành ngữ miều tả an dụ Trong luận văn này,
chúng tôi nghiên cứu thành ngữ so sánh (comparison idioms), mà rong lâm lá
về so sánh của loại thành ngữ nay Cụ thể hơn, trên cơ sở thiết lập một danh
sách các (hành ngữ so sánh của 2 ngôn ngữ Việt và Anh, chứng tôi sẽ phân
tích, tìm hiểu về so sánh (về B) của thành ngữ so sánh ở khía cạnh cấu tạo, các
hỉnh ảnh và hệ biêu trưng của chúng, qua đó, hy vọng chỉ ra được những sự
khác nhau trong Lư duy dân Lộc giữa những người sứ dung tiếng Ảnh (người Anh va người Mỹ) và người Việt
Chúng tôi khai thác những khía cạnh cầu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ,
để thấy cách biểu hiện sơ sánh qua thành ngữ so sánh, piúp người Việt Nam học tiếng Anh lẫn người có bản ngữ là tiếng Anh vượt qua được những trở
ngại và những di chuyến tiêu cực khi dịch các thành ngữ so sánh từ Anh sang
Việt hoặc ngược lại, góp phần nâng cao hiệu quả day và học tiếng Việt như
một ngoại ngữ
3 Lịch sử nghiên cứu vấn dễ
Việu nghiên cứu thành ngữ hay thành ngữ so sánh không phải là một mắng
để tài mới mê ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam giai đoan hiện nay Dỗi với
thành ngữ tiếng ViệU có thể kể đến các công trình tiêu biểu như Les
expressions comparatives de la langue annamite nim 1925 cia V Barbier va
Thành ngĩ so sánh tiéng Viét cla Trrong Déng San, nim 1974, Diéu dé nói
lên rằng, thành ngữ đã thu hút được sự quan Lâm từ rất sớm của các nhà nghiền
cửu Ngảy nay, những người quan tâm có thể tìm pắp rất nhiều bai báo viết,
bảo điện tử, giáo trình, khóa luận, luận văn hay luận án .đề cập đến van dé
nảy Có thể nói, việc nghiền cứu thành ngữ chưa và không tạo ra những “cơn
sốt" như trào luu nghiên cứu ngữ pháp chúc năng, trào lưu nghiên cửu ngữ
Trang 8nghĩa cudi thé kj XX va nhiing nam đầu thé ký XXIL mà trong suy nghĩ của nhiều người, nó hiễn nhiên là một phạm trủ cần nghiên cứu Chỉ tỉnh riêng ở
Việt Nam, các bài báo, các công trình nghiên cứu về để tải này, mang hơi
hướng đối chiếu đã uó rất nhiều Tuy nhiên, việo so sánh đối chiếu ngôn ngữ
chỉ mới được quan tâm nhiều hơn trơng thởi gian gần đây Lhực tiễn đã đưa
đến những yêu cầu cấp bách, đỏi hồi giới nghiên cứu tập trung giải quyết Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như
- Các nghiên cứu về thành ngữ so sánh tiếng Việt của Hoành Văn Hành : Kể
chuuện thành ngữ lục ngữ Việt Nam- N2B Khoa học Xã hội, 2002, Thành ngữ
học tiếng Liệt - NXB Khoa hoc Xã hội, 2008 Đây lá những nghiên cửu tâm
tuyết, được tiến hành trong một thời gian dài của ông Ở chương 4 của 2 cuốn
sách, tác piá tập trung miêu tả cầu trúc của thành ngữ so sánh tiếng Việt và gác đặc điểm ngữ nghĩa của nó một cách công phu và tỉ mỉ Hầu hết các khía cạnh
về thành ngữ so sánh đều được cỗ G5 đề cập đến, với những phân tích sâu và
mang tỉnh hệ thông cau
- Với củng một tên là 7 điền thành ngữ và tục ngĩ Việt Nam, ba nhỏm tac giả
1) Vũ Dung, Vũ Quang lão, Vũ Thúy Anh, NXD Văn hóa, 1995, 2) Dủi Hạnh
Cần, Bich Hằng, Việt Anh, NXB Văn hóa Thông tin, 2000 vả 3) Nguyễn Lân,
NXD Văn học, 2007, đã cung cấp một danh sách khá đây đủ các thành ngữ so
sánh trông Việt
- Luận án tiến sĩ năm 2009 ;Đặc điểm thành ngĩ so sánh tiếng liần (có đối chiéu voi hổng Việt) chuyền ngành lý luận ngôn ngữ của Phạm Minh Tiền đã
cung cấp một cải nhin khá dây đủ về thành ngữ so sánh tống Hán và Lếng
Việt Qua đó, công trình nảy cũng giải quyết được những vấn dé vẽ phương
pháp khi nghiên cứu đối chiều thành ngữ so sánh các ngôn ngữ
- Luận án tiễn sĩ ngữ văn Phương thức dịch các thành ngũ nhận xét danh giá
cơn người giữa các ngôn ngữ Việt- Anh- Nga, Dai hoc KIIXII & NV,
ĐHQGHN, 2001 của Trần Thị Tan dã dưa ra dược những nhận định rất quý
bau về thỏi quen tr duy, đặc điểm văn hóa, thái độ đánh giá của các dân tộc
Trang 9Việt, Anh, Nga qua thành ngữ Những kết quả mả luận án tiến sĩ này thực sự
có giá trị cho hướng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi
- Luận văn Thạc sĩ khoa hạc Ngữ Văn, chuyên ngảnh Lý luận ngôn ngữ của
Bùi Thu Hỏa, ĐHKHXH & NV, 2004 với tên “Gop phan tim hiểu thành ngữ
có thành tế chỉ tên gọi động vật trong tiếng Anh” đã giải quyết được một phần
nhỏ khi để cập đến thành ngữ số sánh liếng Anh có yếu tổ tên gợi động vật
TMiều là những nét chưng nhất của cấu tạo thành ngữ so sánh tiếng Anh, Đùi
Thu Hòa đã chỉ ra được một số tương đồng và đị biệt trong tư đuy ngôn ngữ-
vin hoa ở người Việt vả người Anh
- Các Tận văn Thạc sĩ khoa học ngữ văn của Đường Tú Trân và Ví Trường, Phúc, Đại học KITXII & KV, ĐIIQG ITN 2005 lần lượt khảo sat các thành ngữ
có yếu tố chí thực vật trong tiếng Hán, có so sảnh với tiếng Việt và đặc điểm của thành ngữ chỉ tâm lý tỉnh cảm tiếng Hắn
- Bài báo Dặc điểm cẩu trúc hình thái của thành ngữ so sánh tiếng Anh của
Hoàng Quốc, đăng trên Tạp chí thông tin Đại học An Giang, số 17 năm 2004
ải báo nảy tuy có tên lá “ cấu trúc hình thái " nhưng chủ yếu giải quyết vấn
để cấu tạo gủa (hành ngữ so sánh tiếng Anh, từ đó, đưa ra các mô hình tổng
quát Đây có thể coi là một sự bỗ sung khá hoàn chỉnh cho luận án T'S cha
Nguyễn Công Đức, bản về bình điện cấu trúc hình thái — ngữ nghĩa của thành
ngữ tiếng Việt Luận án đã giải quyết được cơ bán vấn để dầu trúc thành ngữ
tiếng Viết trên 2 góc độ lả cầu tạo và ngữ nghĩa
- Cuốn sách của táu giá Jenniler Scidl vdi tén goi “English Idioms and How to
Use Them”, Oxford Univ Press, 1978, c6 thé due coi 14 cudn sách cơ bán khi
thiết lập những khái niệm và cách hiểu về thành ngữ trong tiếng Anh
- English Idioms in Use" cia Michacl McCarthy, Felicity O'Dcll, Cambndge
University Press quan tam đến thành ngữ như một khía cạnh hết sức thú vị và
vui nhộn của Lừ vựng Nó giúp cho người đọc hiểu được nghĩa của (hành ngữ
tiếng Anh, như cách tri nhận của người bản ngữ Việc cung cấp cách hiểu như
Trang 10vậy thực sự quan trọng trong quá trình dịch Anh- Việt và ngược lại Tuy nhiên, các thành ngữ được sưu tập trong công trình nảy chủ yếu là loại được hiểu theo
nội dung thử 2 của khái niệm thành ngữ ? Cuốn sách cũng thiết lập được ở một
mức độ nhất định ác vấn đề liên quan dén idioms
- Ngoài ra, hiện nay, còn có rất nhiều những bài viết, bài nghiên cứu khác mả chúng tôi thấy không cần phải kiểm dếm hết ở đây Đó thực sự là những nguồn
†ài liệu phong phú cho chủ a8 nghiên cứu mà chúng tôi quan tâm
Da số các công trình lrên nghiên cứu một cách tổng thể theo từng chủng
loại thánh ngữ Luận văn của chúng tôi đi vào những nghiên cửu cụ thể hơn - ở
một về của thành ngữ so sánh Những nghiên cứu trước là những tiền đề ke
luận và thực tiển rất có giá trị và ý nghĩa mã luận văn của chúng tôi có thể tiếp
thu
4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
Trơng quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng các thủ pháp
thống kê, phân tích, và sơ sảnh đối chiếu Đối tượng nghiên cứu của luận văn
là về so sánh (về n) trong thành ngữ so sánh được rút ra từ mô hình tổng quát
của cấu lrúc so sánh Á như B Tư liệu nghiên gứu của luận văn được cung oấp
từ các nguồn sau đây:
1 Thành ngữ học tiếng Việt, Iloàng Văn lành, Nxb Khoa học Xã hội,
2008
2 Từ điển thành ngữ và tục ngữ Liệt Nam, Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ
Quang Hào, Nxb Văn hóa, 1995,
sarong Ä), give tp tuaflên) ớt nhưững thành ngữ loại nếp, chúng tú chỉ dược phạp hiẫu nghĩa của chủ:
nhượng b8, chu thua, giảm giá,
điện chung của cả cur tie nine give way ive up ld rt bd mde ti gt do,
Trang 11
3 Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, Nxb Văn học,
2007
Để thu thập thành ngữ so sánh tiếng Anh và làm cơ sở đối chiếu nghiên cửu
trong tư liệu luận văn, chúng Lôi sử dụng các nguồn tư liệu sau đây
1 NYC’ American idioms Dictionary , Richard A Spears, NIC Publishing
Phan tư liệu của luận văn được xây dựng nhằm phục vụ những mục dích
nghiên cửu cụ thể Vì vậy, chúng tôi thây rằng, cần thiết phải đưa ra những chú
giải cụ thể về cách thiết lập bảng tư liệu, nhằm tránh gây ra những khó khăn
cho người đọc Tư liệu của luận van được xây dựng đựa trên những nguyên tắc
sau đây:
8o sánh (dng Latin cơmgpøz7o), là một thủ pháp nhằm kết nỗi cái so sánh
và cái được so sánh từ một yếu tô chung và nhờ một công cụ ngữ pháp Hay
noi cách khác, đó là việc thiết lập mối quan hệ giữa hai thực tế có hai trường
nghĩa khác nhau nhưng lại giếng nhau ở một diễm nảo đó bằng một từ biểu thị
quan hệ so sánh Nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Bội Liêu giải thích điều này trong ngôn ngữ như sau dân tộc nào cũng vậy, khi cần hình dung một vật
gì, hay muốn miều tả một ý gi cho xác đáng, dều cảm thấy sự cần phải dem vật
này ví với vật khác, việc nọ với việc kia, để cho rõ ý mình muến nói” Thành
ngữ so sánh nói chung vả thành ngữ so sảnh tiếng Việt, tiếng Anh nói riéng
đều được xây dựng trên quan hệ đó
Trang 12Trong dịch thuật, đặc biệt là dich van hoc, việc dịch tục ngữ, thành ngữ từ
ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích không phải là một việc đơn giản Bởi,
như đã trình bảy ở chương 1, nghĩa của thành ngữ hay tục ngữ không cho phép
hiểu theo nghĩa đen một cách đơn giản, Việc thành ngữ so sánh của tiếng Anh
và tiếng Việt tương đương với nhau hoàn toàn trong mọi bồi cảnh sử dụng là điều rất khó xảy ra Xung quanh việc dịch thành ngữ này còn có nhiều tranh luận, mà chủ yếu giữa hai trường phái : hướng nguồn và hướng đích Trường phái hướng nguồn chủ trương dịch sát nghĩa (word by word) thành ngữ của văn bản nguồn để trung thành với tỉnh thần và sắc thái của nguyên bản Đây chính là cách dịch tôn trọng nghĩa đen của thành ngữ Trong khi đó, trường
phái hướng đích đề xuất dịch thành ngữ bằng thủ pháp tương đương về ngữ
nghĩa Người ta nói đến tương đương nghĩa khi nguyên bản và bản dịch có
củng nội dung ngữ nghĩa hay ký hiệu, hay nói cách khác là chúng có chung cái
được biểu đạt hoặc trường nghĩa Trường phái nào cũng có những ưu và nhược
điểm riêng của chủng, song, theo quan điểm của chúng tôi, việc dịch thành ngữ sang một ngôn ngữ thứ hai, với mục đích của luận văn này, cần đi theo hướng
tương đương về nghĩa Điều này có nghĩa là, cách thiết lập tư liệu của chúng
tôi sẽ dựa trên sự giống nhau về biểu trưng, về hoàn cảnh thành ngữ sẽ được sử
dụng, chứ không phải giống nhau về hình ảnh Hai thành ngữ có thể rất khác nhau về hình ảnh, nhưng nếu biểu trưng của chúng là giống nhau thì sẽ được
đặt cạnh nhau Hãy thử lấy một ví dụ đơn giản như sau:
- Nếu địch theo nghĩa đen, chúng ta sẽ đặt hai thành ngữ sau đây tương
đương nhau:
Trang 13
Skilet chảo rán|* Đơn thuận Đen nhu cét nha | As black as skillet |(ý nói màu đen | chỉ là so sánh
chảo rán) màu đen
~_ Tuy nhiên, nếu đề cao tính biểu trưng của thành ngữ, thì thành ngữ as
black as skillet va as slippery as an eel phai tuong đương với thành ngữ
sau day:
Tôi như bưng As black as skillet
Khôn như ranh As slippery as an eel
Rõ ràng, với mục đích nghiên cứu của luận văn, hướng đi thứ hai là hướng
đi phù hợp hơn cả Nó cho phép người sử dụng dùng đúng thành ngữ tiếng
Anh trong hoàn cảnh nhất định khi đã hiểu rõ thành ngữ tiếng Việt Nếu dùng
cách dịch tôn trọng nghĩa đen của văn bản, chúng ta sẽ không có cơ sở tin cây
để so sánh hình ảnh và biểu trưng của kho tảng thành ngữ so sảnh giữa hai
ngôn ngữ Cách này chỉ có tác dụng khi đặt trong những mục đích nghiên cứu khác
Vì vậy, phần phụ lục của luận văn, chúng tôi xây dựng trên nguyên tắc như
sau >
- Néu thanh ngữ tiếng Việt và thành ngữ tiếng Anh có củng hình ảnh và
cùng biểu trưng (kể cả trường hợp một thành ngữ tiếng Việt tương đương với nhiều thành ngữ tiếng Anh), vị trí của chúng như sau:
Trang 14(Cùng là màu trắng, người Việt dùng màu trắng của quả trứng gà luộc so sánh
với màu da, có ý khen, còn người Anh đùng màu trắng của khăn trải giường
với ý chê làn da trắng nhọt nhạt, trắng bệch)
Trang 15
- Thanh ngét tiéng Viét khong có thành ngữ tiếng Anh tương đương:
1 | Tromcap | như | Rươi
~_ Thành ngữ tiếng Anh không có thành ngữ tiếng Việt tương đương
§ Bồ cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tải liêu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1 Téng quan lý luận về thành ngữ và thành ngữ so sánh
Cầu trúc thành ngữ so sánh và cấu trúc về so sánh của thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh
Hệ hình ảnh và biểu trưng trong về B của thành ngữ so
sánh Việt -Anh
Chương 2
Chương 3
Trang 16CHƯƠNG 1
TONG QUAN LY LUAN
VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ SO SÁNH
1.1 Cun đường bình thành thành ngữ
Về khía cạnh lịch sử, giống như các tử trong ngôn ngữ, thành ngữ là
những đơn vị có sẵn, xuất hiện dan da từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm
khác nhau và được sử dụng rộng rải, tự nhiên trong đời sống xã hội Các kết
quả nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tễ tạo nên thành ngữ, tục ngữ vốn là
những từ dộc lập, tửc những dơn vị dịnh danh có ÿ nghĩa từ vựng và có chức
năng cú pháp ổn định Tuy vậy, trong hệ thống thành ngữ của các ngồn ngữ,
xót trên góc nhìn đồng đại, không dễ dàng nhận biết được ý nghĩa của các yếu
tổ, do đó, việc suy xét nghĩa thành ngữ, cũng như việc tìm kiếm nguồn gốc của
nó cững trở nên khó khăn hơn
Xuất phát từ quan diém coi vốn lừ là hệ thống của các dơn vị dịnh danh,
Hoàng Văn Hành đã phân biệt đơn vị định danh gốc (hay bậc l) với đơn vị
định danh phái sinh (hay bậc 2) Đơn vị định danh gốc (từ đơn âm tiếp là
những từ tỗi giản vẻ hình thái - cấu trúc, mang nghĩa đen, dược dùng làm cơ sở
để tao ra những đơn vị định danh khác - mà thành ngữ là một tiểu loại Các
đơn vị phải sinh ra đời, đáp ứng nhu cầu định danh của con người Đơn vị định
danh phái sinh là những đơn vị có hình thái - cầu trúc phức tạp hơn don vi gốc,
mang nghĩa biểu trưng hóa (đưới hình thái ẩn đụ hay hoán dụ) Đơn vị định
danh phái sinh được tạo ra bằng hai con đường
a, Bằng con đường ngữ nghĩa, có thể nhân khả năng định danh gốc lên
nhiều lần (phái sinh nghĩa) VD như: xương trong xương xấu và xương
trong bài toán này xương quá
Trang 17
b Bằng con đường hình thái - cú pháp, có thể tạo ra hàng loạt các đơn vị
định danh với các đặc trưng khác nhau về hình thái, cấu trúc, bao gồm
quá trỉnh tạo từ trên cơ sở dựa vào đơn vị gốc (như suy phỏng, lấy,
ghép ) và quá trình từ vựng hóa (hay còn gọi là định danh hóa) đoản
~>.,.1, Bằng con đường hình thải- cú pháp
như suy phỏng, láy, ghép, quá trình từ vựng hóa đoàn ngữ
“al Don vi dinh danh bac 2
Về cơ bản, trong tiếng Việt, thành ngữ được hình thành từ các nguồn sau
3 Bằng con đường ngữ nghĩa
đây
- Sử dụng tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác nhau, như mượn
nguyên dạng, mượn không nguyên dạng hay dịch nghĩa (chủ yếu là tiếng Hán)
~_ Định danh hỏa các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định, có tỉnh ổn định về thành phân, chặt chẽ về cầu trúc, hoàn chỉnh về nghĩa
- Mô phỏng theo mẫu câu trúc của thành ngữ đã có trước
1.2 Các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt và tiéng Anh
Để đi đến sự thống nhất trong cách hiểu khái niệm thành ngữ, các nhà ngôn
ngữ học đã gặp những khó khăn nhất định, mà một trong những khó khăn đó là
sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ Tuy nhiên, khác biệt loại hình này không
Trang 18gay can trở quá lớn Có chăng, sự khác nhau đó là do góc nhìn khi các nhà
nghiền cứu nghiêng về mặt này hay mặt khác
1.2.1 Quan niệm về thành ngữ: trong tổng Việt
Do góc nhìn và hệ quan điểm khác nhau, các nhà nghiên cửu Việt ngữ cũng
có những cách hiểu khải niệm thành ngữ khác nhau Có thể liệt kê ra một số
tác giả tiêu biểu sau đây:
- “Từ điễn tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2006 định nghĩa rằng, “thánh ngữ là tập hợp có dink dỡ quen dùng mà ngha thường
không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các rừ tạo
nén no”
- Nguyễn Thiện Giáp trong “Yir vung hoc tiếng Việt, NXH Giáo lục,
2005 cho rằng, “(hành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tỉnh hoàn
chỉnh và nghĩa, vừa có tỉnh gợi cảm” Ví dụ: lừ dừ như ông từ vào dén,
lanh chanh như hành khéng mudi
~_ Nhóm tác giả của công trình “Nhập môn ngôn ngữ học”, NĂ Giáo dục,
2007 cho rằng, “thành ngữ là đơn vị đặc trưng của ngĩt cỗ định về tính
én định trong cầu tạo và giá trị biỗu trưng về mặt ngÌĩa."
-_ Nhóm Lắc giá cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Nxh Giáo dục,
2008 cũng định nghĩa thành ngữ qua khái niêm cụm từ cổ đỉnh: “thành
ngữ là cụm từ cô định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ÿ nghĩa Nghia cha
chủng có tính hình tượng vài hoặc gợi cảm ”
- Hoành Văn Hành thì nhận xét, “thành ngữ là loạt tễ hợp cô định, bên vững về hình thái- cấu trúc, hoàn chính, bóng bây về nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong khẩu ngữ ”
- Nguyén Nhu Y trong cuén “Dai tr dién Tiéng Vier”, 1999 đưa ra định
nghĩa thành ngữ như sau: *?hảnh ngữ là tập hợp từ có định quan ding
có ý nghĩa định danh sọi tên sự vật, thường không thé suy ra tr nghia
Trang 19cha ting yéu té cdu tao thanh, và được lưu truyền trong dân gian và văn
chương.”
- Tác giả Hỗ Lê trong “Ván đề cẩu rạo từ tiếng Việt hiện đại" viết
“Thành ngữ là ngữ tỖ hợp từ cỗ định có tính vững chắc về câu tao vỏ có
tính bóng bẩy về nghĩa dùng đễ miêu tả một hình ảnh hiện tượng, một
tỉnh cách hay một trạng thái nào đó ”
Nhìn chung, về cơ bản, cách hiểu thành ngữ của các tác giả trên không khác
nhau nhiều Có chăng, đó là sự khác nhau ở các nét phụ, ví như tên gọi của những khải niệm đừng để dịnh nghĩa Hoàng Phê gọi thành ngữ là “zâp hợp od
định đã quen đừng ” trong khi Nguyễn Thiện Giáp gọi là “những cụm tir cb
định” Hay HỀ Tê miễu tả thành ngữ có tỉnh bóng bẩy và nghĩa trang khi nhóm tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, lại dùng cụm từ tính
hình tượng và gợi cảm Sự khác nhau này không ảnh hưởng nhiều tới quan
niệm về thành ngữ của các tác giả Vỉ vậy, diễm chung dễ thấy nhất của ác
nhà Việt ngữ học là tính cố định và tính hình tượng/ hình ảnh về nghĩa của
thành ngữ
1.22 Quan niệm về thành ngữ trong tổng Anh
Do những khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, việc nghiên cứu thành ngữ trong
tiếng Anh đã đi rước Việt Nam một khoảng thời gian rất dài Tuy nhiên, có
một đặc điểm chung của người Anh vá người Việt là cả hai dân Lộc du ưa
thích sử dụng các thành ngữ so sánh Năm 1978, Mc Modie và Seidl đã nhận
xót về xu hướng của tiếng Anh hiện dai “Modem English usc many short comparison in order ta make language vivid and clear.” (tiéng Anh hiện đại sử
dựng nhiều dạng so sảnh ngắn để làm cho ngôn ngữ sinh động, giàu màu sắc
và rõ rằng hơn ) Có thé liệt kẽ một vài quan niệm về thành ngữ như sau
Trang 20- Jenniffer Seidl *“
đội thành ngữ có thể được định nghĩa là một nhằm từ
khi xuất hiện cùng nhau và mang một ý' nghĩa khác những ý nghĩa của
mỗi tit don.”
- Rosalind Ferguson dinh nghia “Thanh ngấ có thể được định nghĩa là
một “Cụm từ” boặc ngữ mà nghĩa của nó không thể hiểu ngay được từ
nghĩu của các thành tÔ cầu tạo nó”
-_ Trong English lảiom in use, Cambridge Universily Press, Michacl Me
Carthy va Felicity O'Dell néu lén cach hiểu về thành ngữ như sau:
Thành ngữ lá sự diễn đại má nghĩa cua chúng không thể hiểu bởi các từ
riêng lẻ Vi du, thanh ngtt Drive somebody round the bend nghia la lam cho
ai dé nan chi, nhung ching ta khéng thé hiểu nghĩa của nó chỉ bằng cách
hiểu nghĩa của từ (Iđiom are expression which have a meaning that is not
obvious from the individual words Hor example, the idiom drive sombody
round the bend means makes somebody angry or frustrated, but we cannot
know this just by looking at the words.)
- Ilai tac gid cting chira ring để hiểu nghĩa của thành ngữ, cách tốt nhất là
đặt chúng vào trong ngit canh: The best way to undestand an idiom is ta
see it in context
Cũng như trong tiếng Việt, có rất nhiều cách hiểu về khải niệm thành ngữ
trong Hồng Anh Ê Tuy nhiên, điều đáng mừng ở đây là những cách hiểu này
© ea semantic unit whose meaning cane! be deduced from ihe meanings of de constituents, andi
© hase nam prnduceve sanh
Features
Trang 21đều có nhiều điểm chung, và dị biệt thường rất nhỏ Các tác giả Anh về co ban
cũng thống nhất với nhau ở kích thước lớn hơn từ của thành ngữ (cụm từ/ ngữ)
và nghĩa của thành ngữ không phải là sự công gộp đơn thuần của các thành tố
cau lao
Như vây, qua việc khảo sát các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt va
tiếng Anh, chúng tôi nhận thị
da trong các cách hiểu ít nhiều có sự khác
nhau ở phạm vi, phong cách sử dụng, tỉnh biểu cam, tinh biểu trưng nhưng
khái niệm thành ngữ đã được các tác giả hiểu tương đối giống nhau Xem lại
các định nghĩa trên, có thể thấy, các lác giá đều thống nhất với nhau ở 2 điểm
sau
-_ Tuy gọi thành ngữ bằng các tên khác nhau như mội 16 hop, một cụm từ
có định một ngữ cÓ định ngữ tỖ hợp từ cố dink, tap hop tie cd
định nhưng chung quy lại, các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở tính cố
định trong cấu tạo của khái niệm nay
-_ Về mặt nghĩa, thành ngữ có tính hình ảnh (nh (hành ngữ), mang tính
hinh tượng cao, và thường không thể giải thích được một cách đơn giản
bằng nghĩa của cáo Lừ tạo nên nó
Có thể giải thích sơ bộ hai thuộc tính này của thành ngữ như sau
NHÍ ure of ininnnÌ cokesion such that ea ayer be rapinced by ä kterai cowsterpart thet is made isp of'a single word,
© resists interrupison ty other words wheiher thay are semaniteally compatsie or noi
© Resists readenng oftte component parts
© Anidiom has a non-productive syutactic structure, Only single p
caanurlion 8ubslilulingr nha" woras fram the
meaning of the expression
10.4 figurative meaning that is known only through conunon we,
3 fdion as words collocated 1ogether happen to become fassiled, becoming fixed over time, This collacaton - words
Trang 22a Tink cễ định về hình thdi va cau trie:
-_ Về số lượng các thành tÔ tạo nên thành ngit
Do yêu cầu Ôn định về mặt cấu trúc, với một thành ngữ, nếu người ta đếm
được 4 từ cầu tạo nên nó ở một thời điểm nào đó, thì hầu như không bao giờ có trường hợp thành ngữ này biển đổi về số lượng và trổ thành 3 hay 5
từ
VD Thin thit nhuc thit ndu đông (+)
Thim thất giống như thịt nầu đông (~}
-_ Về trật tự của các thành tổ:
Có thể nói, khả năng thay đổi trật tự của các thành tổ trong thành ngữ là rất
thấp Đối với loại thành ngữ miều tả 4n du, vi dụ như: đo lọ nước mắm,
đếm củ dưa hành, giậu dễ bìm leo, khả năng này gần như bằng không
Tuy nhiền, người ta có thể nói đến sự thay đổi trật tự này ở một mức độ nào
đó, như ghét cay ghéi đẳng -> ghéi đắng ghét cay, ghi xương khắc cối- > khắc cốt ghi xương
- Kha ning chêm xen các yến tô cấu tạo mới vào thành ngữ
Mội tổ hợp có tính cố định cao thì khả năng thêm các yếu lỗ khác vào cấu trúc của nó là rất thấp Đây cũng chính lá hệ quả từ đặc điểm ổn định về số
lượng của các thành tố câu tạo, trừ trường hợp, người viết muôn tạo ý nghĩa
ngữ dụng phục vụ các mục đích nhất định Cũng cần phải nói thêm rằng,
tính cố định của thành ngữ sơ sánh không thể cao bằng thành ngữ miều tả
ấn đụ Đây là nguyên nhân của việc thành ngữ miêu tả ẫn dụ có tính thành
ngữ rất cao, làm cho khả năng chém xen hay thay đổi thành tố tương dương,
là không thế xây ra
Trang 23- Thanh phén tr vung ctic thank ngit
Thành ngữ có thành phần từ vung rat ôn định Các yếu tố tạo nên thành ngữ
hầu như được giữ nguyên, mả không thể thay thế bằng các yếu tổ đẳng
nghĩa khác VD: trong thành ngữ Chân đăm đã chân chiêu, chúng ta không
thé thay thế “đăm” bằng “phải”và “chiêu ”bằng “trái” được
Tính bền vững của thành ngữ có thể được giải thuyết ở nhiều nguyên nhân,
xihưng chú yếu do hệ quá của việc mờ nhạt về ngữ nghĩa của các thành tố và những mỗi quan hệ về ngữ pháp giữa chủng, hoặc do các diễn tích, điển cố
mang lại Sự mờ nhạt về nghĩa dẫn đến sự ổn định về đấu hiệu hình thức Và
người ta coi cá một tổ hợp có kí hiệu ngôn ngữ như vậy là mang một ý nghĩa X
nhất định Khi thay đổi thành phần từ vựng, điều đó có nghĩa làm thay đổi kí
hiệu ngồn ngữ của nó, và tất nhiên, việc hiểu nghĩa của thành ngữ sẽ gặp
những khỏ khăn nhất định Tuy nhiên, tính cố dịnh cần được hiểu một cách
linh hoạt, bởi đà sao chăng nữa, thành ngữ do nhân dân sáng tạo ra, phụ thuộc
rất lớn vào thôi quen sử dụng của nhân dân trong các thời kỳ lịch sử nhất định
b Tình thành ngữ
'Thành ngữ, đơn vị tương đương với từ xét về khía cạnh chức năng của nó
trong câu, biểu thị những khái niệm trọn vợn về các thuộc tỉnh, quá trình hay
sự vật Ví dụ như: mặi người dạ thủ, tin bom mat bd, giết người như
ngóe Tuy nhiên, như đã trình bảy ở phần con đường †ạo nên thành ngữ, thành
ngữ không đơn thuần lá đơn vị định danh bậc 1 như từ Nó là một loại đơn vị
dịnh đanh bậc 2, nghĩa là nội dung của thành ngữ không thể hiểu nếu tiến hành
một phép cộng đơn giản nghĩa của các thành tổ lại với nhau Có thể hình dung
diều nay như sau: giả sử cỏ một kết câu X gồm các yếu tố a, b, c hợp thành X
= a†b+c Nếu ý nghĩa của X mà không thể giải thích được bằng ý nghĩa của
Trang 24từng thành tổ a, b, c thi X có tỉnh thành ngữ Theo Hoành Văn LIảnh, nghĩa của
thành ngữ tiếng, Việt thường là kết quả của hai hình thái biểu trưng hóa: hình
thải tỷ dụ @ð như ban ngày ) và hình thái ân dụ ( tu nghĩn như mèo cất lai )
Tính gợi tắ, giảu hình ảnh, màu sắc là một đặc điểm cơ bản của thành ngữ
Nguyễn Thiên Giáp đã bảy tỏ quan điểm của mình , khi ông nhân mạnh, nói
tới thành ngữ là nói tới đơn vị định danh hình tượng, Cần phải đựa vào tính
hình tượng để xác định thành ngữ Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ
nếu trong đó có it nhất một từ khi địch toàn bệ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy
bằng một yếu tố ma yếu tố đó chỉ tương đương với từ äy khi xuất hiện đồng
thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp trong một trật tự nhất định Thêm
vào dé, từ này có thể được gắp khi không có sự xuất hiện của các yêu tế đi
củng, vả lúc đó, nó được dịch bằng một yếu tổ khác
Ö đây, cần nói thêm về tỉnh thành ngữ của thành ngữ so sánh So với các
thành ngữ miêu tả ân dụ, rõ ràng, tính thành ngữ của thành ngữ so sánh không
thé cao bằng, ví như thành ngữ đá mơ ré má so với cay như ớt, Tuy nhiên,
nếu để ý đến cách sử đụng, thành ngữ so sánh không phải là không có những
ngữ cảnh hạn chế Thành ngữ lạnh sư tiễn chỉ dimg nói đến thái độ ứng xử,
quan hệ của con người, không thể dùng nó với ý nghĩa chẳng hạn như trai lank
nhw tién duoc Uay thanh ngtt as dull as ditch water (nhạt nhẽo như nước 1ù
đọng trong ao) dùng với nghĩa một con người nhạt nhễo bay một bài phái biêu
nhạt nhẽo Vì thế, tuy nghĩa của thành ngữ so sánh có thé dễ hiểu hơn thành
ngữ miêu tả ân dụ, nhưng nếu không năm chắc các bối cảnh nó được phép xuất
hiện thì việc dùng thành ngữ trong giao tiếp sẽ trở nên kệch cỡm và vô duyên
1.3 Phân biệt thành ngũ và một số đơn tị lân cận
1.3.1 Phân biệt thành ngữ với tạc ngữ:
Trang 25Thành ngữ và Lục ngữ giống nhau ở chỗ, chủng đều do ede tir 14 hop với
nhau tạo nên và có tính én định cao Sự khác nhau giữa chúng, trước hết là sự
khác biệt về tw cách ngữ pháp Thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là
một câu hoàn chính, còn lục ngữ dù ngắn đến đầu cũng đã là một câu hoàn
chỉnh Trong 7c ngữ, ca dao, đân ca Việt Nam Vũ Ngọc Phan đã nều ra
nhận định của mảnh “?ực ng là một câu tự nó diễn đại mội ý lrọn một ý nghĩa,
một nhận xét, mội kinh nghiệm, một bì luận, một công by, có khi là một sự phê
phán, còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là mội bộ phận câu mài nhiễu
người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không điễn đại được mội ý trợn vẹn”
Vì thành ngữ có chức năng tương đương từ vả thực hiện chức năng ngữ
pháp là bộ phận, thành phần câu vả tục ngữ có tư cách ngữ pháp lả câu nên
diều này dẫn dến sự khác biệt giữa chúng về mặt biểu hiện Tục npữ là những
phản đoán thể hiện kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử (anh em khinh
trước, làng nước khinh sau, gió heo may, chuồn chuôn bay thi bão, đồng tién
di liền khúc ruột.) Tục ngữ cô thể dùng tương đổi độc lập Trong khi đó,
thành ngữ thực hiện chức năng định danh hoặc miêu tả sự vật, sự việc một
cách hình ảnh, được dùng phụ thuộc trong cầu mưu sâu chước độc, chân
không đến đất, cật chẳng đến trời, trời đánh thánh vật )
Tuy nhiên, khi đi vào xem xét từng trường hợp cụ thể, người ta vẫn cần có
những biện luận chi GG Theo lic giá Triều Nguyên, Hội Liên hiệp VHNT
'thừa 'Ihiên Huế, trong quá trình nghiên cứu thành ngữ so sánh, có khá nhiều ý
kiến tranh luận xung quanh việc xác định cấu trúc Ý như CVB cỏ phải là thành
trang thai, CVB
ngữ so sánh hay không X như CVB (X : vi tir chi tinh €
chủ ngữ, vị ngữ, bễ ngữ ) là cầu tric khá phế biến trong tiếng Việt:
- Te tdi như gà mái nhấy Ä
- Tua khua nin thấy chùa mắt sở điệp
-_ bếp bộp như gà mỗ mo
- Laing bing nh ngậm hột thị
- Lat dat nw ma vat ông vải
Trang 26C62 luồng ý kiến trái chiều nhau như sau:
+ Nhóm các tác giả gồm Vũ Ngọc Phan, (Tuc ngit ca dao dân ca Việt Nam,
1998), Vương Trung Hiếu, (Tục ngữ Việt Nam chọn lọc, 1996), Nguyễn Quốc
Tủy, Trần Gia Linh, (Tục ngữ ca dao đân ca chọn lọc, 1993) xếp các thành ngữ có cầu trúc trên vào loại tục ngữ
+ Nhóm tác giả Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Thành ngữ tiếng Liệt, 1993,
Hoàng Văn Hành, Thành ngữ học tiếng Liệt, 2008 xếp những thành ngữ như
trên vào loại thành ngữ
Để giải quyết vấn đề trên, cần xuất phát từ thuộc tính của thành ngữ
trong sự so sánh với tục ngữ Lâu nay, chúng ta vẫn phân biệt rằng: tục ngữ là
những biểu thức có định, nhưng thường là một bộ phân của văn học dân gian,
nên bản thân mỗi câu tục ngữ như là một “tác phẩm văn học” hoàn chỉnh, chứ không phải là một bô phân từ vựng của ngôn ngữ như thành ngữ Nói đến tục
ngữ là nói đến câu, tức ứng với chứ năng thông báo Còn nói đến thành ngữ là nói đến cụm từ có định, ứng với chức năng định danh
Hai thuộc tính của thành ngữ đã rõ ràng, nhưng để ấp dụng giải quyết
từng trường hợp cụ thể không hề đơn giản Thành ngữ X nh CVB 16 ràng
mang tính cổ định cao, và tính hình tượng về nghĩa Vấn đề ở đây là, các thành
ngữ trên mang chức năng thông báo hay chức năng định danh
Trong cầu trúc X như CVB, CVB có nhiệm vụ làm sáng tỏ X Một X có thể
tương ứng với nhiều CVB Chẳng hạn, có thể bắt gặp các trường hợp sau:
Trang 27Lac lao như qua ddu/vao chuông lợn
€ó thể nhân thấy tính chất giải thích tương đối rõ ở đây CVB cu thé hóa
thuộc tính được nêu ra ở X CVB làm cho X “được phép” cẻ tính gợi hình cao,
sức miêu tả mạnh, nhưng dù sao, vẫn chỉ ở mức chung chung, chứ chưa rõ
ràng Chắc hẳn, khi gặp thành ngữ: Ím oái như hai gái lấy một chồng thì nêu
chỉ nói ấm oái, chưa chắc tất cả mọi người đều đã hiểu ấm oái là gì
Nếu nhìn nhận V nøhư CVB là một câu thì không phải là không có lý,
trong đó X lả thành phần chủ ngữ, còn CVB đóng vai trò thành phần vị ngữ
Tuy nhiên, theo Triều Nguyên, nếu thử hình dung sự thu hẹp cấu trúc qua các
tổ hợp sau: Rưn như chó phải bá => run như cây sẩy => run như rẽ, chúng ta
sẽ thấy rõ tính chất “ngữ” của cầu trúc thành ngữ so sánh, chứ không phải cấu
trúc câu
Như vậy, với tính chất miêu tả mà cầu trúc của một ngữ có định, X như
CVB xứng đáng xếp vào loại thành ngữ Hay với trường hợp zước đồ đâu vit/
nước đỗ lá khoai, Hoàng Văn Hành xếp chúng vào mục thành ngữ an du hóa
đối xứng, và không có mục từ nr nước đồ đâu vịt/ như nước đồ lá khoai trong, danh sách thành ngữ so sánh của ông Tuy nhiên, các tác giả của Từ điển
Thành ngữ Tục ngữ Viét Nam do Bui Hanh Can, Bích Hằng, Việt Anh biên
soạn lại có hẳn một mục từ này trong công trình của minh Thành ngữ tiền vào
nhà khó như giỏ vào nhà trồng cũng là một trường hợp tương tự Mục tử này không có trong tập hợp thành ngữ của Hoàng Văn Hành, nhưng lại xuất hiện trong Từ điển Thành ngĩ tục ngữ của Nguyễn Lân
Rõ ràng, để xác định một ranh giới tuyệt đối giữa hai loại đơn vị này là
khá phức tạp Sự phân định này trên lí thuyết có vẻ dễ dàng, song nếu đi vào
từng trường hợp, đỏi hỏi chúng ta cần có những biện luận cụ thé
Trang 281.3.2 Phân biệt thành ngữ với cựm từ tự lo
Xét về mặt câu tạo, thành ngữ và cụm từ tự do đều là đơn vị lớn hơn từ, do
ác Lừ tạo nên Ähữn nữưừ bị là thành ngữ so sánh, trong khi whan nhw edi dén
xếp la cum từ tự do Diễm khác biết cơ bản giữa tổ hợp từ tự do và thành ngữ
là ở chỗ, các yếu tố cầu tạo nên chủng mang những thuộc tỉnh khác nhau Theo
các tác giá Nhập môn Ngôn ngữ học, NYB Giáo dục, 2007 sự khác biệt thư
nhật giữa cụm từ tự do và ngữ cỗ định là khả năng cô định của chúng Cụm tử
tự do được Lao ra tử các từ riêng biệt, có ý nghĩa Lừ vựng độc lập, chức năng cũ
pháp rõ rảng và không pắn kết với nhau thành khối chặt chế Chủng chỉ là sự
lấp đầy một khuôn ngữ pháp có trước mà thôi Trong khi đó, thành ngữ gồm
các từ gắn kết chặt chế với nhau, như một dạng tốn tại sẵn có của nó Các yếu
tổ cấu tạo thành ngữ tưy có nguồn gốc là từ, nhưng các thuộc tỉnh của từ (như
có ý nghĩa từ vựng, có chức năng cú pháp) đã nhược hóa hoàn toàn Nhược
hóa ở dây được hiểu là sự thay thể nghĩa den bằng nghĩa bóng, quan hệ cú
pháp giữa các yếu tố bị đứt gấy, thay vào đó là các mỗi liên hệ nội tại giữa các
cấu tổ bên trong một chỉnh thể Như vậy, chỉ có thành ngữ là tổn tại ở dạng
làm sẵn, cỏn cụm từ tự do chưa tôn tại khi ngôn ngữ chưa hành chức
Thứ hai, do tính Ổn định cao, khi sử dụng thành ngữ, chúng ta phải dùng
đứng với cầu tạo của nó Trong khi đó, tùy mục địch diễn đạt, cụm lừ tự do cỏ
thể có cầu tạo đài ngắn khác nhau
Thứ ba, sự khác biệt giữa thành ngữ và cụm từ tự đo là cơ chế tạo nghĩa Ý
nghĩa của cụm từ tự do là do cấu trúc và nghĩa của các từ trong nó tạo nên,
trong khi nghĩa của thành ngữ là nghĩa của cả tổ hợp, qua các biện pháp tu
Trang 29Trong tiếng Việt, thành ngữ và từ ghén đều là các đơn vị từ vựng có sẵn, có
chức năng định danh và có khả năng hoạt động như từ đơn 'Từ ghép và thành
ngữ phân biệt với nhau chủ yếu ở khia cạnh cấu tạo và ngữ nghĩa Từ ghép là
sự lắp ghép có chủ ý để tạo nôn một don vị biểu hiện khái niệm chung về sự
vật, hoạt động, tính chất hoặc trang thái Nó có cầu trúc khá vững chắc và biểu
thị một khái niệm hoàn chỉnh Từ ghép thường có 2 âm tiết, còn thành ngữ có
ít nhất 3 âm tiết trở lên
Về nội dung, thành ngữ và từ ghép phân biệt nhau ở phạm vi rộng hẹp từng
nội dung và ý nghĩa của chủng Từ ghép chỉ dừng lại ở việc nêu khái miệm về
tỉnh chất, trang thái hay hoạt động của sự vật, cỏn nội dung hảm chửa trong
Thành ngữ sâu rộng hơn, là cách gọi hình ảnh cho một hiện tượng nào đó lay
nói cách khác, việc nắm bắt nghĩa thảnh ngữ khó khăn hơn so với từ ghép
Điều này chỉ ra rằng, quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn một bậc
so với từ ghép
1.3.4 Một số trường hợp trung gian
'Thành ngữ mang trong mình 2 thuộc tính cố hữu: tính cố định và tính thành
ngữ Đây cũng là tiêu chí để xem xét tư cách thành ngữ của các đơn vi con
nhiều nghi vẫn Trong việc phân loại các đơn vị ngôn ngữ nói chưng và đơn vị
từ vụng nói riêng khó có thế tránh gặp những đơn vị trung gian Irong những
trường hợp nảy, lý thuyết tâm biển tổ ra là công oụ hết sức hữu hiệu để biện
luận Khi thu thập thành ngữ so sánh tiếng Việt, chúng Lôi bắt gặp cdc “thank
ngữ” sau đây:
—_ Nỗi nhự xách
-_ Tươi như hoa
-_ Tự nhiên như ruôi
-_ Làm như dành vật
-_ Lonxon như con gặp trẻ
Trang 30Tlay :
-_ Như cờ mắt xe
- Nhw chuyén chiém bao
~_ Mi pháo li ngôi
‘Trong tiéng Anh cũng không phải không có những đơn vị kiểu nay As
heavy as lead (nding nkw chi) hay as tim dx a mouse (nhát nhát nhự con
chuội) cũng là những trường hợp chưa dạt được sự thống nhất cao của các nhà
ngôn ngữ để xếp vào danh sách thành ngữ so sánh chân chỉnh
Những đơm vị như trên, mặc dủ ý nghĩa íL nhiều đã có Linh thành ngữ, nhưng
do tính Ổn định về cầu trúc chưa dược đắm bảo, tức là số thành tổ cầu tạo nên
chúng còn có thể tăng hay giảm một cách tủy nghị, nên việc xếp chúng vào
thành ngữ so sánh chưa én théa cho lắm Hay tủy vào quan điểm mỗi tac gid
khác nhan mà họ có chấp nhân những đơn vị như trên là thành ngữ hay không
Ví dụ, thành ngữ idm nh đánh vật có mặt trong từ điển của Nguyễn Lân và
nhóm tác giả Vũ l3ung, Vũ Quang Hảo, Vũ Thúy Anh nhưng lại không xuất
hiện trong phan thu thập thành ngữ so sánh của IIoảng Văn ITảnh
Những đơn vị này đã, đang và sẽ tiếp tục được tạo lập cùng với thời gian,
với hoạt động của đời sống ngôn ngữ nhân dân Vi vậy, cần có những trải
nghiệm cụ thể và những nghiên cứu kĩ càng khi xem xét vị trí của chủng trong
từ điển thành ngữ
Ngoài ra việc xác định chính xác các thành phần cấu tạo của thành ngữ
cũng không phải ld viéc dé dang Vi dy, trong Thanh ngit hoc tiếng Việt,
Hoang Van Hanh thu thập hai thành ngữ : mặt vàng nh nghộ/ mắt xắc như
đao cau Và nến lấy nur lam ranh giới phân chia hai về A, B, thì về A sé la
mặt vàng/ mắt sắc Nhưng trong Từ điền thành ngữ lục ngữ Việt Nam, Nguyễn
Tiân lại chỉ có thành ngữ vàng nhưc nghệ/ sắc như dao cau Trong luận văn này,
chúng tôi chọn cách giải quyết thu thập cả bến trường hợp này vào tư liệu và
coi đó là bốn thành ngữ so sánh
Trang 311.4 Phân loại thành ngữ
Tuy vao tiêu chí và mục đích nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học phân chia thành ngữ làm các loại khác nhau Trong tiếng Việt, có những cách thức và kết quả phân loại thành ngữ đáng chú ý sau
Trang 32& hình Tiêu lên hai sự kiện tương dong
# | thức) Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu lên hai
Trang 33Qua bảng phân loại trên, chúng ta thay mét điều rằng, dù trong trường
hợp sử dụng tiêu chí phần loại giống nhau, các nhà Việt Ngữ học cũng không
hoàn toàn thống nhất về tên gọi của thuật ngữ Với thành ngữ tiếng Việt, chúng
tôi lấy cách phân chia thành ngữ của Hoàng Văn Hành để làm cơ sở cho luận
văn của mình Với thành ngữ tiếng Anh, chúng tôi chọn cách phân chia của
Seidl và Mordie
Về cơ bản, nếu so với thành ngữ ẩn dụ miêu tả, thành ngữ so sánh có phần không phức tạp bằng Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là, việc nhận ra thành ngữ so sánh dễ dàng hơn thành ngữ miêu tả ẩn dụ Trong luận văn này, nhằm
làm cho công việc xử lý tư liêu mang tính thống nhất, chúng tôi đưa ra cách
nhận diện thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh như sau:
1.5 Nhận diện thành ngữ so sánh tiếng Liệt
Trang 34Trương Đông San cho rằng, cấu trúc thành ngữ so sánh đa dạng hơn câu trúc của cụm từ có ý nghĩa so sánh thông thường Nó gồm 4 dạng sau đây:
AnhưB Vênh váo như bô vợ phải đâm (A) nhu B (chắc) như định đóng cột
AB (Trường hợp này không được phân Déo queo, den thiti đông các nhà nghiên cứu chấp nhân
cách nhận diện đơn giản Ông “ơi
GS TS Hoàng Văn Hành đã nêu ra những điểm chưa hợp lý trong kết luận
của Trương Đông San, vì theo ông, nếu dùng mẫu tông quát của phép so sánh
A như B để giải thích cho thành ngữ so sánh thì chưa thực sự thỏa đáng, vì
vậy, sức giải thích về ngữ nghĩa bi han chế Trong phép so sánh, việc so sánh
sự vật A với sự vật B chỉ thực hiện được khi căn cứ vào một thuộc tính nào đó
được coi là tương đồng của A và B Phép so sánh nghệ thuật có đặc trưng là
các thuộc tính dùng làm căn cứ so sánh giữa các sự vật hiện tượng chỉ có tính
Trang 35chất tương đối và lâm thời Đặc điểm này cho phép so sánh trong nghệ thuật có
được tính bất ngờ và tính hình tuợng
Cấu trúc logic của phép so sánh là: 4/7 như B¿2 (t1 là thuộc tính của A và
12 là thuộc tính của B) Cầu trúc này làm cơ sở cho cấu trúc của phép so sánh trong ngôn ngữ Khi đó, t2 không bao giờ xuất hiện ở dạng hiển ngôn, nên mẫu cấu trúc đầy đủ và tổng quát của phép so sánh là: 4# như B
Như vậy, cầu trúc đầy đủ của thành ngữ so sánh sẽ có 4 dạng sau đây:
Tuy nhién, chúng tôi tán đồng với kết luận của của Hoành Văn Hành, cấu
trúc của thành ngữ so sánh không đa dạng hơn mẫu cấu trúc của phép so sánh
thông thường, mà chỉ tương ứng với dạng £ øh# B và như B mà thôi Dạng (4)
như B của Trương Đông San thực chất chỉ là dạng # như B của Hoành Văn
Hành
Như vây, luận văn của chúng tôi khảo sát cụ thể cấu trúc của thành ngữ so
sánh dạng £ như B và như B, tức thành ngữ có ý ng]ĩa so sánh ngang bằng Vì
khuôn khổ luận văn có han, chúng tôi xin phép không xét đến các trường hợp
so sánh hơn, kém, nhất như cay hơn ớt, chân ngoài đài hơn chân trong, con
nhà tông không giống lông cũng giống cánh, lệnh ông không bằng công bà trong luận văn này
Như vậy, tất cả các thành ngữ có cấu trúc thuộc vào một trong các dạng
tnhư B
Trang 36
sẽ được chúng tôi thu thập Nguồn tư liệu thành ngữ so sánh tiếng Việt của
luận văn này sẽ được rút ra từ các công trình đã được nêu ở mục 4 phần mở đầu
Các thành ngữ vàng như nghệ / mặt vàng như nghệ, sắc như dao cau/ mắt sắc như dao cau là những trường hợp cần thiết phải có những biện luận thích hợp Nếu để cao thói quen sử dụng thành ngữ của dân gian, người làm từ điển có thể cho cả 2 trường hợp đó xuất hiện trong từ điển của mình và ngược
lại Theo chủng tôi, đỏ là một cách lựa chọn phủ hợp hơn cả đối với luận văn
của mình
1.6 Nhận điện thành ngĩt so sánh tiếng -Anh
Michael Mc Carthy va Felicity O'Dell đã đưa ra các dạng tổng quát của
thành ngữ tiếng Anh như sau:
Types of idiom
Verb + object / Produce two useful
Kill two birds with one
Binomial Crude and lacking
(word and word) sophistication
Trinomial (word + Relaxed, incontrol, not
Cool, calm and collected
Trang 37
Thuật ngữ simile trong tiếng Anh (phép so sánh) tương đương với thuật ngữ
phép so sánh thông thường của tiếng Việt Simile là sự mô tả những sư vật, sự
việc bằng cách so sánh nó với những sự vật, hiện tượng khác, và thường sử
dụng những từ như as hay like (a simile ¡is an expression that describes something by comparing 1t with something else, usually using the words as or like For instance, Their boss is as lazy as a lizard means the boss is similar to
a lizard) Ciing giống như tiếng Việt, thành ngữ so sánh tiếng Anh cũng là
một tiểu loại trong simile
Hoàng Quốc trong bài báo Đặc điểm cẩu trúc hình thái của thành ngữ so
sảnh tiếng Anh trong Thông tin Khoa học, Đại học An Giang, trên cơ sở tập hợp các ví dụ, đã đưa ra các dạng cụ thể của thành ngữ so sánh (loại so sánh
ngang bằng) tiếng Anh như sau:
(A) like B Like a duck in a thunderstorm
Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý, trong tiếng Anh, có những trường hợp rất
dễ nhầm lẫn giữa simile và thành ngữ so sánh, hay nói cách khác, ranh giới giữa simile và thành ngữ so sánh là rất mong manh Đó là trường hợp những cụm từ có cầu trúc như trên nhưng không mang tính thành ngữ hoặc có mang tính thành ngữ nhưng không có ý nghĩa so sánh Vì thế, luận văn của chúng tôi không xét đến 2 trường hợp sau đây:
+ Trường hợp những cụm từ có cấu trac as + đđÿ + as, nhiều khi là thành
ngữ, nhưng không mang ý nghĩa so sánh, như với các từ soon, long, far, well,
Trang 38good Vd: as far as anyone knows Hoac cing cé dang cau trac trên, nhưng không có tính thành ngữ, vi du nhw She is as smart as my daughter
+ Trường hợp những cum tir bat dau bang like + noun, di mang ý nghĩa so
sánh nhưng tính thành ngữ không cao, và nó chỉ là các cụm từ tự do xuất hiện
trong những bối cảnh giao tiếp nhất định Vd: Z7is car looks like an untidy room
Cũng như thành ngữ so sánh tiếng Việt, trong luận văn nảy, chúng tôi chưa
đủ điều kiên để tìm hiểu thành ngữ so sánh tiếng Anh dạng hơn, như thành ngữ
more death than live (thừa sống thiếu chết)
Như vậy, thành ngữ tiếng Anh thuộc một trong các dạng sau
Như vây, qua mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể
thấy, các dạng tương ứng của thành ngữ tiếng Anh như sau:
(Rinh như mèo rình chuột)
(Fight like cat and dog)
Trang 39
Thành ngữ nói chung và thành ngữ so sánh nói riêng, là một loại đơn vi
từ vựng đặc biết Nó đặc biệt ở chỗ, chỉ với một tổ hợp có kích thước vật chất
không lớn, nhưng nó có khả nắng tích lũy các thông tin ngoài ngôn ngữ một
ách thủ vị Thành ngữ so sảnh có chức năng miêu tả một cách sinh động thể
giới khách quan, cụ thể hóa những trang thái tính chất và hoạt động của xã hội
loài người Vì vậy, sử dụng thành thạo thành ngữ là một nắc thang cần thiết đối
với người dạy và học ngoại ngữ
X G Gavrin đã nhận định: “Không thỄ gợi là năm được một ngôn ngữ
nếu không nghiên cứu một cách có hệ thông các thành ngữ của ngôn ngữ đó,
cũng như không thê nói là nằm được các thành ngữ, nêu không hiểu rõ xuất xứ
của chúng” Việc so sánh thành ngữ của hai nền văn hóa khác xa nhau, cho
phép hiểu rõ hơn về cách tư đuy hình tượng của những người đại điện cho một
ngôn ngữ văn hóa nhất định I.uận văn của chúng tôi cố gắng miêu tả một khia
cạnh của thành ngữ so sánh Anh- Việt, qua đó sẽ có thể góp phần tăng khả
năng thực hành ngôn ngữ nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng,
Trang 40CHƯƠNG 2
CÃ U TRÚC THÀNH NGỮ $0 SANH
VA CA U TRUC VE 50 SANH
CŨ 4 THÀNH NGữ $0 SANH
TI NG VIE T VA TIE NG ANH
Nhiệm vụ trọng tâm của (“hương 2 14 miéu tả cấu trúc của về so sánh we
B) trong thành ngữ so sánh Tuy nhiên, để thấy được mỗi quan hệ giữa các
thành tô cấu thành thành ngữ, chúng tôi thấy cần thiết phải đặt về B trong mỗi
tương quan với các bộ phan con lại Dễ tiện cho việc theo đối, chủng tôi sẽ lần
lượt miêu tả cấu tạo thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh theo trình tự về
A-véB
2.1 Dặc diém cau mic thanh ngữ so sảnh tiếng Vide
Như đã trình bày ở Chương 1, trong luận văn của chúng tôi, thành ngữ
so sảnh là thành ngữ được rút ra từ cấu trúc so sánh thông thường 14 A nhie B
Từ đây trở đi, chúng tôi gọi A (về A) là về được so sánh và B (về B) là về so
sánh Các thành ngữ so sánh dạng ngang bằng là đối tượng được chúng tôi
khảo sát
Trang số 599 thành ngữ thu thập được, chúng tôi phân làm 13 nhóm có
các dạng khác nhau như sau