1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tìm hiểu vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng việt và tiếng anh

92 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn tìm hiểu vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng việt và tiếng anh
Tác giả Nguyen Viet Hoa
Người hướng dẫn PGS. TS Vũ Đức Nghiện
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những thành ngữ loại này, chúng ta chỉ được phép hiểu nghĩa của chúng ở trên bình điện chung của cả cụm tử như give way là nhượng bộ, chịu thua, giãm giá, hay give p là từ bó một t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOC GLA LIA NOL

DẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VẢ NIIÂN VĂN

a

NGUYEN VIET HOA

TÌM HIẾU VE SO SANH

TRONG THÀNH NGỮ SO SANH

TIENG VIET VA TIENG ANH

(Luận văn Thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học)

Ha Noi - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUOC GLA LIA NOL

DẠI HỌC KIIOA HỌC XÃ HỘI VẢ NIIÂN VĂN

Trang 3

172 Các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh T15

13.1 Quan niệm vẻ thành ngữ trong tiếng Việt, T16

1.5.2 Quan niệm vẻ thánh ngữ trong tiếng Anh TU

1.3 Phân biệt thành ngữ và một số đơn vị lân cận 2

1.3.1 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 2

1.3.3 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự ảo 26

1.3.3 Phân biệt thành ngữ với từ ghép 26

1-4 Phân loại thành ngữ

Tã Nhận điện thánh ngữ so sánh tiếng Việt ai

Tế Nhận điện thánh ngữ so sánh tiếng Ảnh aa

Chuong 2 Cau trúc thành ngữ sa xánh và cầu trúc về so sánh của

thành ngữ su sánh liêng Việt và tiếng Anh

2.1 Đặc điểm cấu trúc thành ngữ so sảnh tiếng Việt 38

Trang 4

3.1.1 Quan niệm về hình ảnh và biếu trưng, T61

34 Hệ hình ảnh và biểu trưng trong thánh ngữ so sánh tiếng Viet va | m

tiếng Anh

32T Thánh ngữ tiếng Việt và Hếng Anh cing hình ảnh và biểu trmg 64

355 Thánh ngữ tiếng Việt và tiếng Ảnh cùng biểu trưng nhưng khác | “

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn dề tài

Trước một thể giới khách quan vô củng phong phủ và da dạng, loài người

đã thực hiện các thao tác so sánh, để đánh giá và mô tả một cách cụ thế môi trường xưng quanh, bao gồm cả môi Irưởng tự nhiên và môi trường xã hội

‘Trong quá trình dó, họ dã tìm ra nhiều phương thức khác nhau dễ thể hiện các

mức độ so sánh Một trong những sản phẩm ngôn ngữ của phương thức đó là

thành ngữ so sánh Thành ngữ (idioms) lá loại đơn vị từ vựng tổn tại trong mọi

ngôn ngữ Muốn nghiên cứu thành ngữ và thành ngữ so sánh, chúng tôi thấy

cần thiết phải làm rỡ nội hàm khái niệm thành ngữ, bởi trên thế giới, đang tổn

tại những cách hiểu khác nhau về tên gợi này

Thuật ngữ thành ngữ có hai nội dung Nội dung thứ nhất: là loại đơn vị có

tính chất đặc trưng, riêng biệt nằm trong hệ thông ngôn ngữ, mà cụ thể là trong

hệ thống từ vựng chung của một dân tộc, một đất nước, hay thâm chi 14 mét

vùng Nội dung thứ hai, xét về mặt cú pháp, thành ngữ là một cụm từ mà nghĩa

của nó không chí lả “phép cộng” đơn giãn nghĩa các tử thành viên lại với nhau

Liêu này thể hiện ở chỗ, ta có thể biết hết nghĩa của từng từ, nhưng khi ghép

chúng lại với nhau thì chúng rất ngô nghệ hoặc vô nghĩa Ví dụ như các cụm từ

give way (dua cho (đường dị), ghe p (dưa/lên) Với những thành ngữ loại

này, chúng ta chỉ được phép hiểu nghĩa của chúng ở trên bình điện chung của

cả cụm tử như give way là nhượng bộ, chịu thua, giãm giá, hay give p là từ bó một thứ gì dó

Ngoài những chức năng cơ bản giống từ, thành ngữ còn là loại đơn vị có

khá năng chứa dựng nhiều hơn từ những giá trị ngôn ngữ - văn hóa, mặc dủ

kích thước vật chất của nó không lớn V M Mokienko đã nói: “Dơn vị thánh

ngtt, cùng với các từ vị của minh, chính là nguồn ngữ liệu chủ yếu cho tri thức

nên của một dân tộc và còn có khả năng tích lũy thông tin ngoài ngôn ngữ”

Trang 6

Điều này có thể lý giải được dựa trên nguyên tắc tiết kiệm trong ngôn ngữ: con

người chỉ dùng một số lượng hữu hạn các kí hiệu ngôn ngữ, nhưng luôn muốn

thé hiện được nhiều thông tin về thế giới vật chất và tỉnh thần vô hạn, noi ma

họ đang tồn tại ở đó Nghiên cứu thành ngữ ở bất cứ góc độ nào cũng sẽ giúp

cho những người quan tâm hiểu thêm về loai đơn vị từ vựng rất thú vị nay

Việc nghiên cứu thành ngữ so sánh cũng là một bước đi phù hợp với xu thế

hiện nay, khi ranh giới văn hóa giữa cáo quốc gia dang dẫn xích lại gần nhau

hơn ! Chúng tôi nghĩ rằng, chính xu hướng quốc tế hóa mọi mặt của đời sống

kinh tế - văn hóa - xã hội đã đặt ra những yêu cầu mới cho các nhà ngôn ngữ học trên toản thể giới Và một trong những nhiệm vụ quan trọng đó, lả lâm con

người trên thế giới hiểu nhau hơn

Tiếng Anh hiện là ngôn ngữ dược sử dụng rộng rãi nhất trên thể giới và ở Việt Nam hiện nay 'Irong xu thể hội nhập và giao thoa văn hóa, điều cần thiết

đối với người học và sử đụng ngoại ngữ, là nắm vững tiếng mẹ đẻ, đồng thời

có những kiến thức lý luận nhất định về ngoại ngữ mà mình dang sử dung dé

từ đó phục vụ cho việc địch tương đương hai hay nhiều ngoại ngữ Nghiên cứu

đề tải này, chúng tôi mong muốn làm sáng tô thêm một số vẫn đề về đặc điểm

của thành ngữ so sánh tiếng Anh, trong sự so sánh đối chiếu với thành ngữ

tiếng Việt, nhằm tăng khá năng vận dụng thành ngữ so sánh hiệu quả hơn trong

“Những thành ngờ phổ hiên ở Châu và xa hơn: " (Ntdegprordl 1Renks ta Burog end Bayend A Cross linguistic noi

Crosa-snlturel Rssaarch ProleclI với sự tham sia của nhiêu nhà thoa học từ cóc đến tộc nói nẵu ðU ngôn ngĩ Châu Âu:

tiên tầng số uớc chùng 1%€ - 302 ngôn nghì và 11 ngân ¡gữ thác (như Â Rập, Hữu, Nhội, Tiên, TIỆt, J

Trang 7

Tủy vào các tiêu chí khác nhau, các nhà nghiên cửu chia thành ngữ ra lam

nhiều loại Nếu căn cứ vào phương thức tạo nghĩa, thành ngữ được chia ra làm

2 loại lớn: thành ngữ so sánh và thành ngữ miều tả an dụ Trong luận văn này,

chúng tôi nghiên cứu thành ngữ so sánh (comparison idioms), mà rong lâm lá

về so sánh của loại thành ngữ nay Cụ thể hơn, trên cơ sở thiết lập một danh

sách các (hành ngữ so sánh của 2 ngôn ngữ Việt và Anh, chứng tôi sẽ phân

tích, tìm hiểu về so sánh (về B) của thành ngữ so sánh ở khía cạnh cấu tạo, các

hỉnh ảnh và hệ biêu trưng của chúng, qua đó, hy vọng chỉ ra được những sự

khác nhau trong Lư duy dân Lộc giữa những người sứ dung tiếng Ảnh (người Anh va người Mỹ) và người Việt

Chúng tôi khai thác những khía cạnh cầu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ,

để thấy cách biểu hiện sơ sánh qua thành ngữ so sánh, piúp người Việt Nam học tiếng Anh lẫn người có bản ngữ là tiếng Anh vượt qua được những trở

ngại và những di chuyến tiêu cực khi dịch các thành ngữ so sánh từ Anh sang

Việt hoặc ngược lại, góp phần nâng cao hiệu quả day và học tiếng Việt như

một ngoại ngữ

3 Lịch sử nghiên cứu vấn dễ

Việu nghiên cứu thành ngữ hay thành ngữ so sánh không phải là một mắng

để tài mới mê ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam giai đoan hiện nay Dỗi với

thành ngữ tiếng ViệU có thể kể đến các công trình tiêu biểu như Les

expressions comparatives de la langue annamite nim 1925 cia V Barbier va

Thành ngĩ so sánh tiéng Viét cla Trrong Déng San, nim 1974, Diéu dé nói

lên rằng, thành ngữ đã thu hút được sự quan Lâm từ rất sớm của các nhà nghiền

cửu Ngảy nay, những người quan tâm có thể tìm pắp rất nhiều bai báo viết,

bảo điện tử, giáo trình, khóa luận, luận văn hay luận án .đề cập đến van dé

nảy Có thể nói, việc nghiền cứu thành ngữ chưa và không tạo ra những “cơn

sốt" như trào luu nghiên cứu ngữ pháp chúc năng, trào lưu nghiên cửu ngữ

Trang 8

nghĩa cudi thé kj XX va nhiing nam đầu thé ký XXIL mà trong suy nghĩ của nhiều người, nó hiễn nhiên là một phạm trủ cần nghiên cứu Chỉ tỉnh riêng ở

Việt Nam, các bài báo, các công trình nghiên cứu về để tải này, mang hơi

hướng đối chiếu đã uó rất nhiều Tuy nhiên, việo so sánh đối chiếu ngôn ngữ

chỉ mới được quan tâm nhiều hơn trơng thởi gian gần đây Lhực tiễn đã đưa

đến những yêu cầu cấp bách, đỏi hồi giới nghiên cứu tập trung giải quyết Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu như

- Các nghiên cứu về thành ngữ so sánh tiếng Việt của Hoành Văn Hành : Kể

chuuện thành ngữ lục ngữ Việt Nam- N2B Khoa học Xã hội, 2002, Thành ngữ

học tiếng Liệt - NXB Khoa hoc Xã hội, 2008 Đây lá những nghiên cửu tâm

tuyết, được tiến hành trong một thời gian dài của ông Ở chương 4 của 2 cuốn

sách, tác piá tập trung miêu tả cầu trúc của thành ngữ so sánh tiếng Việt và gác đặc điểm ngữ nghĩa của nó một cách công phu và tỉ mỉ Hầu hết các khía cạnh

về thành ngữ so sánh đều được cỗ G5 đề cập đến, với những phân tích sâu và

mang tỉnh hệ thông cau

- Với củng một tên là 7 điền thành ngữ và tục ngĩ Việt Nam, ba nhỏm tac giả

1) Vũ Dung, Vũ Quang lão, Vũ Thúy Anh, NXD Văn hóa, 1995, 2) Dủi Hạnh

Cần, Bich Hằng, Việt Anh, NXB Văn hóa Thông tin, 2000 vả 3) Nguyễn Lân,

NXD Văn học, 2007, đã cung cấp một danh sách khá đây đủ các thành ngữ so

sánh trông Việt

- Luận án tiến sĩ năm 2009 ;Đặc điểm thành ngĩ so sánh tiếng liần (có đối chiéu voi hổng Việt) chuyền ngành lý luận ngôn ngữ của Phạm Minh Tiền đã

cung cấp một cải nhin khá dây đủ về thành ngữ so sánh tống Hán và Lếng

Việt Qua đó, công trình nảy cũng giải quyết được những vấn dé vẽ phương

pháp khi nghiên cứu đối chiều thành ngữ so sánh các ngôn ngữ

- Luận án tiễn sĩ ngữ văn Phương thức dịch các thành ngũ nhận xét danh giá

cơn người giữa các ngôn ngữ Việt- Anh- Nga, Dai hoc KIIXII & NV,

ĐHQGHN, 2001 của Trần Thị Tan dã dưa ra dược những nhận định rất quý

bau về thỏi quen tr duy, đặc điểm văn hóa, thái độ đánh giá của các dân tộc

Trang 9

Việt, Anh, Nga qua thành ngữ Những kết quả mả luận án tiến sĩ này thực sự

có giá trị cho hướng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi

- Luận văn Thạc sĩ khoa hạc Ngữ Văn, chuyên ngảnh Lý luận ngôn ngữ của

Bùi Thu Hỏa, ĐHKHXH & NV, 2004 với tên “Gop phan tim hiểu thành ngữ

có thành tế chỉ tên gọi động vật trong tiếng Anh” đã giải quyết được một phần

nhỏ khi để cập đến thành ngữ số sánh liếng Anh có yếu tổ tên gợi động vật

TMiều là những nét chưng nhất của cấu tạo thành ngữ so sánh tiếng Anh, Đùi

Thu Hòa đã chỉ ra được một số tương đồng và đị biệt trong tư đuy ngôn ngữ-

vin hoa ở người Việt vả người Anh

- Các Tận văn Thạc sĩ khoa học ngữ văn của Đường Tú Trân và Ví Trường, Phúc, Đại học KITXII & KV, ĐIIQG ITN 2005 lần lượt khảo sat các thành ngữ

có yếu tố chí thực vật trong tiếng Hán, có so sảnh với tiếng Việt và đặc điểm của thành ngữ chỉ tâm lý tỉnh cảm tiếng Hắn

- Bài báo Dặc điểm cẩu trúc hình thái của thành ngữ so sánh tiếng Anh của

Hoàng Quốc, đăng trên Tạp chí thông tin Đại học An Giang, số 17 năm 2004

ải báo nảy tuy có tên lá “ cấu trúc hình thái " nhưng chủ yếu giải quyết vấn

để cấu tạo gủa (hành ngữ so sánh tiếng Anh, từ đó, đưa ra các mô hình tổng

quát Đây có thể coi là một sự bỗ sung khá hoàn chỉnh cho luận án T'S cha

Nguyễn Công Đức, bản về bình điện cấu trúc hình thái — ngữ nghĩa của thành

ngữ tiếng Việt Luận án đã giải quyết được cơ bán vấn để dầu trúc thành ngữ

tiếng Viết trên 2 góc độ lả cầu tạo và ngữ nghĩa

- Cuốn sách của táu giá Jenniler Scidl vdi tén goi “English Idioms and How to

Use Them”, Oxford Univ Press, 1978, c6 thé due coi 14 cudn sách cơ bán khi

thiết lập những khái niệm và cách hiểu về thành ngữ trong tiếng Anh

- English Idioms in Use" cia Michacl McCarthy, Felicity O'Dcll, Cambndge

University Press quan tam đến thành ngữ như một khía cạnh hết sức thú vị và

vui nhộn của Lừ vựng Nó giúp cho người đọc hiểu được nghĩa của (hành ngữ

tiếng Anh, như cách tri nhận của người bản ngữ Việc cung cấp cách hiểu như

Trang 10

vậy thực sự quan trọng trong quá trình dịch Anh- Việt và ngược lại Tuy nhiên, các thành ngữ được sưu tập trong công trình nảy chủ yếu là loại được hiểu theo

nội dung thử 2 của khái niệm thành ngữ ? Cuốn sách cũng thiết lập được ở một

mức độ nhất định ác vấn đề liên quan dén idioms

- Ngoài ra, hiện nay, còn có rất nhiều những bài viết, bài nghiên cứu khác mả chúng tôi thấy không cần phải kiểm dếm hết ở đây Đó thực sự là những nguồn

†ài liệu phong phú cho chủ a8 nghiên cứu mà chúng tôi quan tâm

Da số các công trình lrên nghiên cứu một cách tổng thể theo từng chủng

loại thánh ngữ Luận văn của chúng tôi đi vào những nghiên cửu cụ thể hơn - ở

một về của thành ngữ so sánh Những nghiên cứu trước là những tiền đề ke

luận và thực tiển rất có giá trị và ý nghĩa mã luận văn của chúng tôi có thể tiếp

thu

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

Trơng quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng các thủ pháp

thống kê, phân tích, và sơ sảnh đối chiếu Đối tượng nghiên cứu của luận văn

là về so sánh (về n) trong thành ngữ so sánh được rút ra từ mô hình tổng quát

của cấu lrúc so sánh Á như B Tư liệu nghiên gứu của luận văn được cung oấp

từ các nguồn sau đây:

1 Thành ngữ học tiếng Việt, Iloàng Văn lành, Nxb Khoa học Xã hội,

2008

2 Từ điển thành ngữ và tục ngữ Liệt Nam, Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ

Quang Hào, Nxb Văn hóa, 1995,

sarong Ä), give tp tuaflên) ớt nhưững thành ngữ loại nếp, chúng tú chỉ dược phạp hiẫu nghĩa của chủ:

nhượng b8, chu thua, giảm giá,

điện chung của cả cur tie nine give way ive up ld rt bd mde ti gt do,

Trang 11

3 Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, Nxb Văn học,

2007

Để thu thập thành ngữ so sánh tiếng Anh và làm cơ sở đối chiếu nghiên cửu

trong tư liệu luận văn, chúng Lôi sử dụng các nguồn tư liệu sau đây

1 NYC’ American idioms Dictionary , Richard A Spears, NIC Publishing

Phan tư liệu của luận văn được xây dựng nhằm phục vụ những mục dích

nghiên cửu cụ thể Vì vậy, chúng tôi thây rằng, cần thiết phải đưa ra những chú

giải cụ thể về cách thiết lập bảng tư liệu, nhằm tránh gây ra những khó khăn

cho người đọc Tư liệu của luận van được xây dựng đựa trên những nguyên tắc

sau đây:

8o sánh (dng Latin cơmgpøz7o), là một thủ pháp nhằm kết nỗi cái so sánh

và cái được so sánh từ một yếu tô chung và nhờ một công cụ ngữ pháp Hay

noi cách khác, đó là việc thiết lập mối quan hệ giữa hai thực tế có hai trường

nghĩa khác nhau nhưng lại giếng nhau ở một diễm nảo đó bằng một từ biểu thị

quan hệ so sánh Nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Bội Liêu giải thích điều này trong ngôn ngữ như sau dân tộc nào cũng vậy, khi cần hình dung một vật

gì, hay muốn miều tả một ý gi cho xác đáng, dều cảm thấy sự cần phải dem vật

này ví với vật khác, việc nọ với việc kia, để cho rõ ý mình muến nói” Thành

ngữ so sánh nói chung vả thành ngữ so sảnh tiếng Việt, tiếng Anh nói riéng

đều được xây dựng trên quan hệ đó

Trang 12

Trong dịch thuật, đặc biệt là dich van hoc, việc dịch tục ngữ, thành ngữ từ

ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích không phải là một việc đơn giản Bởi,

như đã trình bảy ở chương 1, nghĩa của thành ngữ hay tục ngữ không cho phép

hiểu theo nghĩa đen một cách đơn giản, Việc thành ngữ so sánh của tiếng Anh

và tiếng Việt tương đương với nhau hoàn toàn trong mọi bồi cảnh sử dụng là điều rất khó xảy ra Xung quanh việc dịch thành ngữ này còn có nhiều tranh luận, mà chủ yếu giữa hai trường phái : hướng nguồn và hướng đích Trường phái hướng nguồn chủ trương dịch sát nghĩa (word by word) thành ngữ của văn bản nguồn để trung thành với tỉnh thần và sắc thái của nguyên bản Đây chính là cách dịch tôn trọng nghĩa đen của thành ngữ Trong khi đó, trường

phái hướng đích đề xuất dịch thành ngữ bằng thủ pháp tương đương về ngữ

nghĩa Người ta nói đến tương đương nghĩa khi nguyên bản và bản dịch có

củng nội dung ngữ nghĩa hay ký hiệu, hay nói cách khác là chúng có chung cái

được biểu đạt hoặc trường nghĩa Trường phái nào cũng có những ưu và nhược

điểm riêng của chủng, song, theo quan điểm của chúng tôi, việc dịch thành ngữ sang một ngôn ngữ thứ hai, với mục đích của luận văn này, cần đi theo hướng

tương đương về nghĩa Điều này có nghĩa là, cách thiết lập tư liệu của chúng

tôi sẽ dựa trên sự giống nhau về biểu trưng, về hoàn cảnh thành ngữ sẽ được sử

dụng, chứ không phải giống nhau về hình ảnh Hai thành ngữ có thể rất khác nhau về hình ảnh, nhưng nếu biểu trưng của chúng là giống nhau thì sẽ được

đặt cạnh nhau Hãy thử lấy một ví dụ đơn giản như sau:

- Nếu địch theo nghĩa đen, chúng ta sẽ đặt hai thành ngữ sau đây tương

đương nhau:

Trang 13

Skilet chảo rán|* Đơn thuận Đen nhu cét nha | As black as skillet |(ý nói màu đen | chỉ là so sánh

chảo rán) màu đen

~_ Tuy nhiên, nếu đề cao tính biểu trưng của thành ngữ, thì thành ngữ as

black as skillet va as slippery as an eel phai tuong đương với thành ngữ

sau day:

Tôi như bưng As black as skillet

Khôn như ranh As slippery as an eel

Rõ ràng, với mục đích nghiên cứu của luận văn, hướng đi thứ hai là hướng

đi phù hợp hơn cả Nó cho phép người sử dụng dùng đúng thành ngữ tiếng

Anh trong hoàn cảnh nhất định khi đã hiểu rõ thành ngữ tiếng Việt Nếu dùng

cách dịch tôn trọng nghĩa đen của văn bản, chúng ta sẽ không có cơ sở tin cây

để so sánh hình ảnh và biểu trưng của kho tảng thành ngữ so sảnh giữa hai

ngôn ngữ Cách này chỉ có tác dụng khi đặt trong những mục đích nghiên cứu khác

Vì vậy, phần phụ lục của luận văn, chúng tôi xây dựng trên nguyên tắc như

sau >

- Néu thanh ngữ tiếng Việt và thành ngữ tiếng Anh có củng hình ảnh và

cùng biểu trưng (kể cả trường hợp một thành ngữ tiếng Việt tương đương với nhiều thành ngữ tiếng Anh), vị trí của chúng như sau:

Trang 14

(Cùng là màu trắng, người Việt dùng màu trắng của quả trứng gà luộc so sánh

với màu da, có ý khen, còn người Anh đùng màu trắng của khăn trải giường

với ý chê làn da trắng nhọt nhạt, trắng bệch)

Trang 15

- Thanh ngét tiéng Viét khong có thành ngữ tiếng Anh tương đương:

1 | Tromcap | như | Rươi

~_ Thành ngữ tiếng Anh không có thành ngữ tiếng Việt tương đương

§ Bồ cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tải liêu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương:

Chương 1 Téng quan lý luận về thành ngữ và thành ngữ so sánh

Cầu trúc thành ngữ so sánh và cấu trúc về so sánh của thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh

Hệ hình ảnh và biểu trưng trong về B của thành ngữ so

sánh Việt -Anh

Chương 2

Chương 3

Trang 16

CHƯƠNG 1

TONG QUAN LY LUAN

VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ SO SÁNH

1.1 Cun đường bình thành thành ngữ

Về khía cạnh lịch sử, giống như các tử trong ngôn ngữ, thành ngữ là

những đơn vị có sẵn, xuất hiện dan da từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm

khác nhau và được sử dụng rộng rải, tự nhiên trong đời sống xã hội Các kết

quả nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tễ tạo nên thành ngữ, tục ngữ vốn là

những từ dộc lập, tửc những dơn vị dịnh danh có ÿ nghĩa từ vựng và có chức

năng cú pháp ổn định Tuy vậy, trong hệ thống thành ngữ của các ngồn ngữ,

xót trên góc nhìn đồng đại, không dễ dàng nhận biết được ý nghĩa của các yếu

tổ, do đó, việc suy xét nghĩa thành ngữ, cũng như việc tìm kiếm nguồn gốc của

nó cững trở nên khó khăn hơn

Xuất phát từ quan diém coi vốn lừ là hệ thống của các dơn vị dịnh danh,

Hoàng Văn Hành đã phân biệt đơn vị định danh gốc (hay bậc l) với đơn vị

định danh phái sinh (hay bậc 2) Đơn vị định danh gốc (từ đơn âm tiếp là

những từ tỗi giản vẻ hình thái - cấu trúc, mang nghĩa đen, dược dùng làm cơ sở

để tao ra những đơn vị định danh khác - mà thành ngữ là một tiểu loại Các

đơn vị phải sinh ra đời, đáp ứng nhu cầu định danh của con người Đơn vị định

danh phái sinh là những đơn vị có hình thái - cầu trúc phức tạp hơn don vi gốc,

mang nghĩa biểu trưng hóa (đưới hình thái ẩn đụ hay hoán dụ) Đơn vị định

danh phái sinh được tạo ra bằng hai con đường

a, Bằng con đường ngữ nghĩa, có thể nhân khả năng định danh gốc lên

nhiều lần (phái sinh nghĩa) VD như: xương trong xương xấu và xương

trong bài toán này xương quá

Trang 17

b Bằng con đường hình thái - cú pháp, có thể tạo ra hàng loạt các đơn vị

định danh với các đặc trưng khác nhau về hình thái, cấu trúc, bao gồm

quá trỉnh tạo từ trên cơ sở dựa vào đơn vị gốc (như suy phỏng, lấy,

ghép ) và quá trình từ vựng hóa (hay còn gọi là định danh hóa) đoản

~>.,.1, Bằng con đường hình thải- cú pháp

như suy phỏng, láy, ghép, quá trình từ vựng hóa đoàn ngữ

“al Don vi dinh danh bac 2

Về cơ bản, trong tiếng Việt, thành ngữ được hình thành từ các nguồn sau

3 Bằng con đường ngữ nghĩa

đây

- Sử dụng tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác nhau, như mượn

nguyên dạng, mượn không nguyên dạng hay dịch nghĩa (chủ yếu là tiếng Hán)

~_ Định danh hỏa các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định, có tỉnh ổn định về thành phân, chặt chẽ về cầu trúc, hoàn chỉnh về nghĩa

- Mô phỏng theo mẫu câu trúc của thành ngữ đã có trước

1.2 Các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt và tiéng Anh

Để đi đến sự thống nhất trong cách hiểu khái niệm thành ngữ, các nhà ngôn

ngữ học đã gặp những khó khăn nhất định, mà một trong những khó khăn đó là

sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ Tuy nhiên, khác biệt loại hình này không

Trang 18

gay can trở quá lớn Có chăng, sự khác nhau đó là do góc nhìn khi các nhà

nghiền cứu nghiêng về mặt này hay mặt khác

1.2.1 Quan niệm về thành ngữ: trong tổng Việt

Do góc nhìn và hệ quan điểm khác nhau, các nhà nghiên cửu Việt ngữ cũng

có những cách hiểu khải niệm thành ngữ khác nhau Có thể liệt kê ra một số

tác giả tiêu biểu sau đây:

- “Từ điễn tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, 2006 định nghĩa rằng, “thánh ngữ là tập hợp có dink dỡ quen dùng mà ngha thường

không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các rừ tạo

nén no”

- Nguyễn Thiện Giáp trong “Yir vung hoc tiếng Việt, NXH Giáo lục,

2005 cho rằng, “(hành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tỉnh hoàn

chỉnh và nghĩa, vừa có tỉnh gợi cảm” Ví dụ: lừ dừ như ông từ vào dén,

lanh chanh như hành khéng mudi

~_ Nhóm tác giả của công trình “Nhập môn ngôn ngữ học”, NĂ Giáo dục,

2007 cho rằng, “thành ngữ là đơn vị đặc trưng của ngĩt cỗ định về tính

én định trong cầu tạo và giá trị biỗu trưng về mặt ngÌĩa."

-_ Nhóm Lắc giá cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Nxh Giáo dục,

2008 cũng định nghĩa thành ngữ qua khái niêm cụm từ cổ đỉnh: “thành

ngữ là cụm từ cô định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ÿ nghĩa Nghia cha

chủng có tính hình tượng vài hoặc gợi cảm ”

- Hoành Văn Hành thì nhận xét, “thành ngữ là loạt tễ hợp cô định, bên vững về hình thái- cấu trúc, hoàn chính, bóng bây về nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt trong khẩu ngữ ”

- Nguyén Nhu Y trong cuén “Dai tr dién Tiéng Vier”, 1999 đưa ra định

nghĩa thành ngữ như sau: *?hảnh ngữ là tập hợp từ có định quan ding

có ý nghĩa định danh sọi tên sự vật, thường không thé suy ra tr nghia

Trang 19

cha ting yéu té cdu tao thanh, và được lưu truyền trong dân gian và văn

chương.”

- Tác giả Hỗ Lê trong “Ván đề cẩu rạo từ tiếng Việt hiện đại" viết

“Thành ngữ là ngữ tỖ hợp từ cỗ định có tính vững chắc về câu tao vỏ có

tính bóng bẩy về nghĩa dùng đễ miêu tả một hình ảnh hiện tượng, một

tỉnh cách hay một trạng thái nào đó ”

Nhìn chung, về cơ bản, cách hiểu thành ngữ của các tác giả trên không khác

nhau nhiều Có chăng, đó là sự khác nhau ở các nét phụ, ví như tên gọi của những khải niệm đừng để dịnh nghĩa Hoàng Phê gọi thành ngữ là “zâp hợp od

định đã quen đừng ” trong khi Nguyễn Thiện Giáp gọi là “những cụm tir cb

định” Hay HỀ Tê miễu tả thành ngữ có tỉnh bóng bẩy và nghĩa trang khi nhóm tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, lại dùng cụm từ tính

hình tượng và gợi cảm Sự khác nhau này không ảnh hưởng nhiều tới quan

niệm về thành ngữ của các tác giả Vỉ vậy, diễm chung dễ thấy nhất của ác

nhà Việt ngữ học là tính cố định và tính hình tượng/ hình ảnh về nghĩa của

thành ngữ

1.22 Quan niệm về thành ngữ trong tổng Anh

Do những khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, việc nghiên cứu thành ngữ trong

tiếng Anh đã đi rước Việt Nam một khoảng thời gian rất dài Tuy nhiên, có

một đặc điểm chung của người Anh vá người Việt là cả hai dân Lộc du ưa

thích sử dụng các thành ngữ so sánh Năm 1978, Mc Modie và Seidl đã nhận

xót về xu hướng của tiếng Anh hiện dai “Modem English usc many short comparison in order ta make language vivid and clear.” (tiéng Anh hiện đại sử

dựng nhiều dạng so sảnh ngắn để làm cho ngôn ngữ sinh động, giàu màu sắc

và rõ rằng hơn ) Có thé liệt kẽ một vài quan niệm về thành ngữ như sau

Trang 20

- Jenniffer Seidl *“

đội thành ngữ có thể được định nghĩa là một nhằm từ

khi xuất hiện cùng nhau và mang một ý' nghĩa khác những ý nghĩa của

mỗi tit don.”

- Rosalind Ferguson dinh nghia “Thanh ngấ có thể được định nghĩa là

một “Cụm từ” boặc ngữ mà nghĩa của nó không thể hiểu ngay được từ

nghĩu của các thành tÔ cầu tạo nó”

-_ Trong English lảiom in use, Cambridge Universily Press, Michacl Me

Carthy va Felicity O'Dell néu lén cach hiểu về thành ngữ như sau:

Thành ngữ lá sự diễn đại má nghĩa cua chúng không thể hiểu bởi các từ

riêng lẻ Vi du, thanh ngtt Drive somebody round the bend nghia la lam cho

ai dé nan chi, nhung ching ta khéng thé hiểu nghĩa của nó chỉ bằng cách

hiểu nghĩa của từ (Iđiom are expression which have a meaning that is not

obvious from the individual words Hor example, the idiom drive sombody

round the bend means makes somebody angry or frustrated, but we cannot

know this just by looking at the words.)

- Ilai tac gid cting chira ring để hiểu nghĩa của thành ngữ, cách tốt nhất là

đặt chúng vào trong ngit canh: The best way to undestand an idiom is ta

see it in context

Cũng như trong tiếng Việt, có rất nhiều cách hiểu về khải niệm thành ngữ

trong Hồng Anh Ê Tuy nhiên, điều đáng mừng ở đây là những cách hiểu này

© ea semantic unit whose meaning cane! be deduced from ihe meanings of de constituents, andi

© hase nam prnduceve sanh

Features

Trang 21

đều có nhiều điểm chung, và dị biệt thường rất nhỏ Các tác giả Anh về co ban

cũng thống nhất với nhau ở kích thước lớn hơn từ của thành ngữ (cụm từ/ ngữ)

và nghĩa của thành ngữ không phải là sự công gộp đơn thuần của các thành tố

cau lao

Như vây, qua việc khảo sát các quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt va

tiếng Anh, chúng tôi nhận thị

da trong các cách hiểu ít nhiều có sự khác

nhau ở phạm vi, phong cách sử dụng, tỉnh biểu cam, tinh biểu trưng nhưng

khái niệm thành ngữ đã được các tác giả hiểu tương đối giống nhau Xem lại

các định nghĩa trên, có thể thấy, các lác giá đều thống nhất với nhau ở 2 điểm

sau

-_ Tuy gọi thành ngữ bằng các tên khác nhau như mội 16 hop, một cụm từ

có định một ngữ cÓ định ngữ tỖ hợp từ cố dink, tap hop tie cd

định nhưng chung quy lại, các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở tính cố

định trong cấu tạo của khái niệm nay

-_ Về mặt nghĩa, thành ngữ có tính hình ảnh (nh (hành ngữ), mang tính

hinh tượng cao, và thường không thể giải thích được một cách đơn giản

bằng nghĩa của cáo Lừ tạo nên nó

Có thể giải thích sơ bộ hai thuộc tính này của thành ngữ như sau

NHÍ ure of ininnnÌ cokesion such that ea ayer be rapinced by ä kterai cowsterpart thet is made isp of'a single word,

© resists interrupison ty other words wheiher thay are semaniteally compatsie or noi

© Resists readenng oftte component parts

© Anidiom has a non-productive syutactic structure, Only single p

caanurlion 8ubslilulingr nha" woras fram the

meaning of the expression

10.4 figurative meaning that is known only through conunon we,

3 fdion as words collocated 1ogether happen to become fassiled, becoming fixed over time, This collacaton - words

Trang 22

a Tink cễ định về hình thdi va cau trie:

-_ Về số lượng các thành tÔ tạo nên thành ngit

Do yêu cầu Ôn định về mặt cấu trúc, với một thành ngữ, nếu người ta đếm

được 4 từ cầu tạo nên nó ở một thời điểm nào đó, thì hầu như không bao giờ có trường hợp thành ngữ này biển đổi về số lượng và trổ thành 3 hay 5

từ

VD Thin thit nhuc thit ndu đông (+)

Thim thất giống như thịt nầu đông (~}

-_ Về trật tự của các thành tổ:

Có thể nói, khả năng thay đổi trật tự của các thành tổ trong thành ngữ là rất

thấp Đối với loại thành ngữ miều tả 4n du, vi dụ như: đo lọ nước mắm,

đếm củ dưa hành, giậu dễ bìm leo, khả năng này gần như bằng không

Tuy nhiền, người ta có thể nói đến sự thay đổi trật tự này ở một mức độ nào

đó, như ghét cay ghéi đẳng -> ghéi đắng ghét cay, ghi xương khắc cối- > khắc cốt ghi xương

- Kha ning chêm xen các yến tô cấu tạo mới vào thành ngữ

Mội tổ hợp có tính cố định cao thì khả năng thêm các yếu lỗ khác vào cấu trúc của nó là rất thấp Đây cũng chính lá hệ quả từ đặc điểm ổn định về số

lượng của các thành tố câu tạo, trừ trường hợp, người viết muôn tạo ý nghĩa

ngữ dụng phục vụ các mục đích nhất định Cũng cần phải nói thêm rằng,

tính cố định của thành ngữ sơ sánh không thể cao bằng thành ngữ miều tả

ấn đụ Đây là nguyên nhân của việc thành ngữ miêu tả ẫn dụ có tính thành

ngữ rất cao, làm cho khả năng chém xen hay thay đổi thành tố tương dương,

là không thế xây ra

Trang 23

- Thanh phén tr vung ctic thank ngit

Thành ngữ có thành phần từ vung rat ôn định Các yếu tố tạo nên thành ngữ

hầu như được giữ nguyên, mả không thể thay thế bằng các yếu tổ đẳng

nghĩa khác VD: trong thành ngữ Chân đăm đã chân chiêu, chúng ta không

thé thay thế “đăm” bằng “phải”và “chiêu ”bằng “trái” được

Tính bền vững của thành ngữ có thể được giải thuyết ở nhiều nguyên nhân,

xihưng chú yếu do hệ quá của việc mờ nhạt về ngữ nghĩa của các thành tố và những mỗi quan hệ về ngữ pháp giữa chủng, hoặc do các diễn tích, điển cố

mang lại Sự mờ nhạt về nghĩa dẫn đến sự ổn định về đấu hiệu hình thức Và

người ta coi cá một tổ hợp có kí hiệu ngôn ngữ như vậy là mang một ý nghĩa X

nhất định Khi thay đổi thành phần từ vựng, điều đó có nghĩa làm thay đổi kí

hiệu ngồn ngữ của nó, và tất nhiên, việc hiểu nghĩa của thành ngữ sẽ gặp

những khỏ khăn nhất định Tuy nhiên, tính cố dịnh cần được hiểu một cách

linh hoạt, bởi đà sao chăng nữa, thành ngữ do nhân dân sáng tạo ra, phụ thuộc

rất lớn vào thôi quen sử dụng của nhân dân trong các thời kỳ lịch sử nhất định

b Tình thành ngữ

'Thành ngữ, đơn vị tương đương với từ xét về khía cạnh chức năng của nó

trong câu, biểu thị những khái niệm trọn vợn về các thuộc tỉnh, quá trình hay

sự vật Ví dụ như: mặi người dạ thủ, tin bom mat bd, giết người như

ngóe Tuy nhiên, như đã trình bảy ở phần con đường †ạo nên thành ngữ, thành

ngữ không đơn thuần lá đơn vị định danh bậc 1 như từ Nó là một loại đơn vị

dịnh đanh bậc 2, nghĩa là nội dung của thành ngữ không thể hiểu nếu tiến hành

một phép cộng đơn giản nghĩa của các thành tổ lại với nhau Có thể hình dung

diều nay như sau: giả sử cỏ một kết câu X gồm các yếu tố a, b, c hợp thành X

= a†b+c Nếu ý nghĩa của X mà không thể giải thích được bằng ý nghĩa của

Trang 24

từng thành tổ a, b, c thi X có tỉnh thành ngữ Theo Hoành Văn LIảnh, nghĩa của

thành ngữ tiếng, Việt thường là kết quả của hai hình thái biểu trưng hóa: hình

thải tỷ dụ @ð như ban ngày ) và hình thái ân dụ ( tu nghĩn như mèo cất lai )

Tính gợi tắ, giảu hình ảnh, màu sắc là một đặc điểm cơ bản của thành ngữ

Nguyễn Thiên Giáp đã bảy tỏ quan điểm của mình , khi ông nhân mạnh, nói

tới thành ngữ là nói tới đơn vị định danh hình tượng, Cần phải đựa vào tính

hình tượng để xác định thành ngữ Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ

nếu trong đó có it nhất một từ khi địch toàn bệ tổ hợp người ta phải dịch từ ấy

bằng một yếu tố ma yếu tố đó chỉ tương đương với từ äy khi xuất hiện đồng

thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp trong một trật tự nhất định Thêm

vào dé, từ này có thể được gắp khi không có sự xuất hiện của các yêu tế đi

củng, vả lúc đó, nó được dịch bằng một yếu tổ khác

Ö đây, cần nói thêm về tỉnh thành ngữ của thành ngữ so sánh So với các

thành ngữ miêu tả ân dụ, rõ ràng, tính thành ngữ của thành ngữ so sánh không

thé cao bằng, ví như thành ngữ đá mơ ré má so với cay như ớt, Tuy nhiên,

nếu để ý đến cách sử đụng, thành ngữ so sánh không phải là không có những

ngữ cảnh hạn chế Thành ngữ lạnh sư tiễn chỉ dimg nói đến thái độ ứng xử,

quan hệ của con người, không thể dùng nó với ý nghĩa chẳng hạn như trai lank

nhw tién duoc Uay thanh ngtt as dull as ditch water (nhạt nhẽo như nước 1ù

đọng trong ao) dùng với nghĩa một con người nhạt nhễo bay một bài phái biêu

nhạt nhẽo Vì thế, tuy nghĩa của thành ngữ so sánh có thé dễ hiểu hơn thành

ngữ miêu tả ân dụ, nhưng nếu không năm chắc các bối cảnh nó được phép xuất

hiện thì việc dùng thành ngữ trong giao tiếp sẽ trở nên kệch cỡm và vô duyên

1.3 Phân biệt thành ngũ và một số đơn tị lân cận

1.3.1 Phân biệt thành ngữ với tạc ngữ:

Trang 25

Thành ngữ và Lục ngữ giống nhau ở chỗ, chủng đều do ede tir 14 hop với

nhau tạo nên và có tính én định cao Sự khác nhau giữa chúng, trước hết là sự

khác biệt về tw cách ngữ pháp Thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là

một câu hoàn chính, còn lục ngữ dù ngắn đến đầu cũng đã là một câu hoàn

chỉnh Trong 7c ngữ, ca dao, đân ca Việt Nam Vũ Ngọc Phan đã nều ra

nhận định của mảnh “?ực ng là một câu tự nó diễn đại mội ý lrọn một ý nghĩa,

một nhận xét, mội kinh nghiệm, một bì luận, một công by, có khi là một sự phê

phán, còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là mội bộ phận câu mài nhiễu

người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không điễn đại được mội ý trợn vẹn”

Vì thành ngữ có chức năng tương đương từ vả thực hiện chức năng ngữ

pháp là bộ phận, thành phần câu vả tục ngữ có tư cách ngữ pháp lả câu nên

diều này dẫn dến sự khác biệt giữa chúng về mặt biểu hiện Tục npữ là những

phản đoán thể hiện kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử (anh em khinh

trước, làng nước khinh sau, gió heo may, chuồn chuôn bay thi bão, đồng tién

di liền khúc ruột.) Tục ngữ cô thể dùng tương đổi độc lập Trong khi đó,

thành ngữ thực hiện chức năng định danh hoặc miêu tả sự vật, sự việc một

cách hình ảnh, được dùng phụ thuộc trong cầu mưu sâu chước độc, chân

không đến đất, cật chẳng đến trời, trời đánh thánh vật )

Tuy nhiên, khi đi vào xem xét từng trường hợp cụ thể, người ta vẫn cần có

những biện luận chi GG Theo lic giá Triều Nguyên, Hội Liên hiệp VHNT

'thừa 'Ihiên Huế, trong quá trình nghiên cứu thành ngữ so sánh, có khá nhiều ý

kiến tranh luận xung quanh việc xác định cấu trúc Ý như CVB cỏ phải là thành

trang thai, CVB

ngữ so sánh hay không X như CVB (X : vi tir chi tinh €

chủ ngữ, vị ngữ, bễ ngữ ) là cầu tric khá phế biến trong tiếng Việt:

- Te tdi như gà mái nhấy Ä

- Tua khua nin thấy chùa mắt sở điệp

-_ bếp bộp như gà mỗ mo

- Laing bing nh ngậm hột thị

- Lat dat nw ma vat ông vải

Trang 26

C62 luồng ý kiến trái chiều nhau như sau:

+ Nhóm các tác giả gồm Vũ Ngọc Phan, (Tuc ngit ca dao dân ca Việt Nam,

1998), Vương Trung Hiếu, (Tục ngữ Việt Nam chọn lọc, 1996), Nguyễn Quốc

Tủy, Trần Gia Linh, (Tục ngữ ca dao đân ca chọn lọc, 1993) xếp các thành ngữ có cầu trúc trên vào loại tục ngữ

+ Nhóm tác giả Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Thành ngữ tiếng Liệt, 1993,

Hoàng Văn Hành, Thành ngữ học tiếng Liệt, 2008 xếp những thành ngữ như

trên vào loại thành ngữ

Để giải quyết vấn đề trên, cần xuất phát từ thuộc tính của thành ngữ

trong sự so sánh với tục ngữ Lâu nay, chúng ta vẫn phân biệt rằng: tục ngữ là

những biểu thức có định, nhưng thường là một bộ phân của văn học dân gian,

nên bản thân mỗi câu tục ngữ như là một “tác phẩm văn học” hoàn chỉnh, chứ không phải là một bô phân từ vựng của ngôn ngữ như thành ngữ Nói đến tục

ngữ là nói đến câu, tức ứng với chứ năng thông báo Còn nói đến thành ngữ là nói đến cụm từ có định, ứng với chức năng định danh

Hai thuộc tính của thành ngữ đã rõ ràng, nhưng để ấp dụng giải quyết

từng trường hợp cụ thể không hề đơn giản Thành ngữ X nh CVB 16 ràng

mang tính cổ định cao, và tính hình tượng về nghĩa Vấn đề ở đây là, các thành

ngữ trên mang chức năng thông báo hay chức năng định danh

Trong cầu trúc X như CVB, CVB có nhiệm vụ làm sáng tỏ X Một X có thể

tương ứng với nhiều CVB Chẳng hạn, có thể bắt gặp các trường hợp sau:

Trang 27

Lac lao như qua ddu/vao chuông lợn

€ó thể nhân thấy tính chất giải thích tương đối rõ ở đây CVB cu thé hóa

thuộc tính được nêu ra ở X CVB làm cho X “được phép” cẻ tính gợi hình cao,

sức miêu tả mạnh, nhưng dù sao, vẫn chỉ ở mức chung chung, chứ chưa rõ

ràng Chắc hẳn, khi gặp thành ngữ: Ím oái như hai gái lấy một chồng thì nêu

chỉ nói ấm oái, chưa chắc tất cả mọi người đều đã hiểu ấm oái là gì

Nếu nhìn nhận V nøhư CVB là một câu thì không phải là không có lý,

trong đó X lả thành phần chủ ngữ, còn CVB đóng vai trò thành phần vị ngữ

Tuy nhiên, theo Triều Nguyên, nếu thử hình dung sự thu hẹp cấu trúc qua các

tổ hợp sau: Rưn như chó phải bá => run như cây sẩy => run như rẽ, chúng ta

sẽ thấy rõ tính chất “ngữ” của cầu trúc thành ngữ so sánh, chứ không phải cấu

trúc câu

Như vậy, với tính chất miêu tả mà cầu trúc của một ngữ có định, X như

CVB xứng đáng xếp vào loại thành ngữ Hay với trường hợp zước đồ đâu vit/

nước đỗ lá khoai, Hoàng Văn Hành xếp chúng vào mục thành ngữ an du hóa

đối xứng, và không có mục từ nr nước đồ đâu vịt/ như nước đồ lá khoai trong, danh sách thành ngữ so sánh của ông Tuy nhiên, các tác giả của Từ điển

Thành ngữ Tục ngữ Viét Nam do Bui Hanh Can, Bích Hằng, Việt Anh biên

soạn lại có hẳn một mục từ này trong công trình của minh Thành ngữ tiền vào

nhà khó như giỏ vào nhà trồng cũng là một trường hợp tương tự Mục tử này không có trong tập hợp thành ngữ của Hoàng Văn Hành, nhưng lại xuất hiện trong Từ điển Thành ngĩ tục ngữ của Nguyễn Lân

Rõ ràng, để xác định một ranh giới tuyệt đối giữa hai loại đơn vị này là

khá phức tạp Sự phân định này trên lí thuyết có vẻ dễ dàng, song nếu đi vào

từng trường hợp, đỏi hỏi chúng ta cần có những biện luận cụ thé

Trang 28

1.3.2 Phân biệt thành ngữ với cựm từ tự lo

Xét về mặt câu tạo, thành ngữ và cụm từ tự do đều là đơn vị lớn hơn từ, do

ác Lừ tạo nên Ähữn nữưừ bị là thành ngữ so sánh, trong khi whan nhw edi dén

xếp la cum từ tự do Diễm khác biết cơ bản giữa tổ hợp từ tự do và thành ngữ

là ở chỗ, các yếu tố cầu tạo nên chủng mang những thuộc tỉnh khác nhau Theo

các tác giá Nhập môn Ngôn ngữ học, NYB Giáo dục, 2007 sự khác biệt thư

nhật giữa cụm từ tự do và ngữ cỗ định là khả năng cô định của chúng Cụm tử

tự do được Lao ra tử các từ riêng biệt, có ý nghĩa Lừ vựng độc lập, chức năng cũ

pháp rõ rảng và không pắn kết với nhau thành khối chặt chế Chủng chỉ là sự

lấp đầy một khuôn ngữ pháp có trước mà thôi Trong khi đó, thành ngữ gồm

các từ gắn kết chặt chế với nhau, như một dạng tốn tại sẵn có của nó Các yếu

tổ cấu tạo thành ngữ tưy có nguồn gốc là từ, nhưng các thuộc tỉnh của từ (như

có ý nghĩa từ vựng, có chức năng cú pháp) đã nhược hóa hoàn toàn Nhược

hóa ở dây được hiểu là sự thay thể nghĩa den bằng nghĩa bóng, quan hệ cú

pháp giữa các yếu tố bị đứt gấy, thay vào đó là các mỗi liên hệ nội tại giữa các

cấu tổ bên trong một chỉnh thể Như vậy, chỉ có thành ngữ là tổn tại ở dạng

làm sẵn, cỏn cụm từ tự do chưa tôn tại khi ngôn ngữ chưa hành chức

Thứ hai, do tính Ổn định cao, khi sử dụng thành ngữ, chúng ta phải dùng

đứng với cầu tạo của nó Trong khi đó, tùy mục địch diễn đạt, cụm lừ tự do cỏ

thể có cầu tạo đài ngắn khác nhau

Thứ ba, sự khác biệt giữa thành ngữ và cụm từ tự đo là cơ chế tạo nghĩa Ý

nghĩa của cụm từ tự do là do cấu trúc và nghĩa của các từ trong nó tạo nên,

trong khi nghĩa của thành ngữ là nghĩa của cả tổ hợp, qua các biện pháp tu

Trang 29

Trong tiếng Việt, thành ngữ và từ ghén đều là các đơn vị từ vựng có sẵn, có

chức năng định danh và có khả năng hoạt động như từ đơn 'Từ ghép và thành

ngữ phân biệt với nhau chủ yếu ở khia cạnh cấu tạo và ngữ nghĩa Từ ghép là

sự lắp ghép có chủ ý để tạo nôn một don vị biểu hiện khái niệm chung về sự

vật, hoạt động, tính chất hoặc trang thái Nó có cầu trúc khá vững chắc và biểu

thị một khái niệm hoàn chỉnh Từ ghép thường có 2 âm tiết, còn thành ngữ có

ít nhất 3 âm tiết trở lên

Về nội dung, thành ngữ và từ ghép phân biệt nhau ở phạm vi rộng hẹp từng

nội dung và ý nghĩa của chủng Từ ghép chỉ dừng lại ở việc nêu khái miệm về

tỉnh chất, trang thái hay hoạt động của sự vật, cỏn nội dung hảm chửa trong

Thành ngữ sâu rộng hơn, là cách gọi hình ảnh cho một hiện tượng nào đó lay

nói cách khác, việc nắm bắt nghĩa thảnh ngữ khó khăn hơn so với từ ghép

Điều này chỉ ra rằng, quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn một bậc

so với từ ghép

1.3.4 Một số trường hợp trung gian

'Thành ngữ mang trong mình 2 thuộc tính cố hữu: tính cố định và tính thành

ngữ Đây cũng là tiêu chí để xem xét tư cách thành ngữ của các đơn vi con

nhiều nghi vẫn Trong việc phân loại các đơn vị ngôn ngữ nói chưng và đơn vị

từ vụng nói riêng khó có thế tránh gặp những đơn vị trung gian Irong những

trường hợp nảy, lý thuyết tâm biển tổ ra là công oụ hết sức hữu hiệu để biện

luận Khi thu thập thành ngữ so sánh tiếng Việt, chúng Lôi bắt gặp cdc “thank

ngữ” sau đây:

—_ Nỗi nhự xách

-_ Tươi như hoa

-_ Tự nhiên như ruôi

-_ Làm như dành vật

-_ Lonxon như con gặp trẻ

Trang 30

Tlay :

-_ Như cờ mắt xe

- Nhw chuyén chiém bao

~_ Mi pháo li ngôi

‘Trong tiéng Anh cũng không phải không có những đơn vị kiểu nay As

heavy as lead (nding nkw chi) hay as tim dx a mouse (nhát nhát nhự con

chuội) cũng là những trường hợp chưa dạt được sự thống nhất cao của các nhà

ngôn ngữ để xếp vào danh sách thành ngữ so sánh chân chỉnh

Những đơm vị như trên, mặc dủ ý nghĩa íL nhiều đã có Linh thành ngữ, nhưng

do tính Ổn định về cầu trúc chưa dược đắm bảo, tức là số thành tổ cầu tạo nên

chúng còn có thể tăng hay giảm một cách tủy nghị, nên việc xếp chúng vào

thành ngữ so sánh chưa én théa cho lắm Hay tủy vào quan điểm mỗi tac gid

khác nhan mà họ có chấp nhân những đơn vị như trên là thành ngữ hay không

Ví dụ, thành ngữ idm nh đánh vật có mặt trong từ điển của Nguyễn Lân và

nhóm tác giả Vũ l3ung, Vũ Quang Hảo, Vũ Thúy Anh nhưng lại không xuất

hiện trong phan thu thập thành ngữ so sánh của IIoảng Văn ITảnh

Những đơn vị này đã, đang và sẽ tiếp tục được tạo lập cùng với thời gian,

với hoạt động của đời sống ngôn ngữ nhân dân Vi vậy, cần có những trải

nghiệm cụ thể và những nghiên cứu kĩ càng khi xem xét vị trí của chủng trong

từ điển thành ngữ

Ngoài ra việc xác định chính xác các thành phần cấu tạo của thành ngữ

cũng không phải ld viéc dé dang Vi dy, trong Thanh ngit hoc tiếng Việt,

Hoang Van Hanh thu thập hai thành ngữ : mặt vàng nh nghộ/ mắt xắc như

đao cau Và nến lấy nur lam ranh giới phân chia hai về A, B, thì về A sé la

mặt vàng/ mắt sắc Nhưng trong Từ điền thành ngữ lục ngữ Việt Nam, Nguyễn

Tiân lại chỉ có thành ngữ vàng nhưc nghệ/ sắc như dao cau Trong luận văn này,

chúng tôi chọn cách giải quyết thu thập cả bến trường hợp này vào tư liệu và

coi đó là bốn thành ngữ so sánh

Trang 31

1.4 Phân loại thành ngữ

Tuy vao tiêu chí và mục đích nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học phân chia thành ngữ làm các loại khác nhau Trong tiếng Việt, có những cách thức và kết quả phân loại thành ngữ đáng chú ý sau

Trang 32

& hình Tiêu lên hai sự kiện tương dong

# | thức) Thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu lên hai

Trang 33

Qua bảng phân loại trên, chúng ta thay mét điều rằng, dù trong trường

hợp sử dụng tiêu chí phần loại giống nhau, các nhà Việt Ngữ học cũng không

hoàn toàn thống nhất về tên gọi của thuật ngữ Với thành ngữ tiếng Việt, chúng

tôi lấy cách phân chia thành ngữ của Hoàng Văn Hành để làm cơ sở cho luận

văn của mình Với thành ngữ tiếng Anh, chúng tôi chọn cách phân chia của

Seidl và Mordie

Về cơ bản, nếu so với thành ngữ ẩn dụ miêu tả, thành ngữ so sánh có phần không phức tạp bằng Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là, việc nhận ra thành ngữ so sánh dễ dàng hơn thành ngữ miêu tả ẩn dụ Trong luận văn này, nhằm

làm cho công việc xử lý tư liêu mang tính thống nhất, chúng tôi đưa ra cách

nhận diện thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh như sau:

1.5 Nhận diện thành ngữ so sánh tiếng Liệt

Trang 34

Trương Đông San cho rằng, cấu trúc thành ngữ so sánh đa dạng hơn câu trúc của cụm từ có ý nghĩa so sánh thông thường Nó gồm 4 dạng sau đây:

AnhưB Vênh váo như bô vợ phải đâm (A) nhu B (chắc) như định đóng cột

AB (Trường hợp này không được phân Déo queo, den thiti đông các nhà nghiên cứu chấp nhân

cách nhận diện đơn giản Ông “ơi

GS TS Hoàng Văn Hành đã nêu ra những điểm chưa hợp lý trong kết luận

của Trương Đông San, vì theo ông, nếu dùng mẫu tông quát của phép so sánh

A như B để giải thích cho thành ngữ so sánh thì chưa thực sự thỏa đáng, vì

vậy, sức giải thích về ngữ nghĩa bi han chế Trong phép so sánh, việc so sánh

sự vật A với sự vật B chỉ thực hiện được khi căn cứ vào một thuộc tính nào đó

được coi là tương đồng của A và B Phép so sánh nghệ thuật có đặc trưng là

các thuộc tính dùng làm căn cứ so sánh giữa các sự vật hiện tượng chỉ có tính

Trang 35

chất tương đối và lâm thời Đặc điểm này cho phép so sánh trong nghệ thuật có

được tính bất ngờ và tính hình tuợng

Cấu trúc logic của phép so sánh là: 4/7 như B¿2 (t1 là thuộc tính của A và

12 là thuộc tính của B) Cầu trúc này làm cơ sở cho cấu trúc của phép so sánh trong ngôn ngữ Khi đó, t2 không bao giờ xuất hiện ở dạng hiển ngôn, nên mẫu cấu trúc đầy đủ và tổng quát của phép so sánh là: 4# như B

Như vậy, cầu trúc đầy đủ của thành ngữ so sánh sẽ có 4 dạng sau đây:

Tuy nhién, chúng tôi tán đồng với kết luận của của Hoành Văn Hành, cấu

trúc của thành ngữ so sánh không đa dạng hơn mẫu cấu trúc của phép so sánh

thông thường, mà chỉ tương ứng với dạng £ øh# B và như B mà thôi Dạng (4)

như B của Trương Đông San thực chất chỉ là dạng # như B của Hoành Văn

Hành

Như vây, luận văn của chúng tôi khảo sát cụ thể cấu trúc của thành ngữ so

sánh dạng £ như B và như B, tức thành ngữ có ý ng]ĩa so sánh ngang bằng Vì

khuôn khổ luận văn có han, chúng tôi xin phép không xét đến các trường hợp

so sánh hơn, kém, nhất như cay hơn ớt, chân ngoài đài hơn chân trong, con

nhà tông không giống lông cũng giống cánh, lệnh ông không bằng công bà trong luận văn này

Như vậy, tất cả các thành ngữ có cấu trúc thuộc vào một trong các dạng

tnhư B

Trang 36

sẽ được chúng tôi thu thập Nguồn tư liệu thành ngữ so sánh tiếng Việt của

luận văn này sẽ được rút ra từ các công trình đã được nêu ở mục 4 phần mở đầu

Các thành ngữ vàng như nghệ / mặt vàng như nghệ, sắc như dao cau/ mắt sắc như dao cau là những trường hợp cần thiết phải có những biện luận thích hợp Nếu để cao thói quen sử dụng thành ngữ của dân gian, người làm từ điển có thể cho cả 2 trường hợp đó xuất hiện trong từ điển của mình và ngược

lại Theo chủng tôi, đỏ là một cách lựa chọn phủ hợp hơn cả đối với luận văn

của mình

1.6 Nhận điện thành ngĩt so sánh tiếng -Anh

Michael Mc Carthy va Felicity O'Dell đã đưa ra các dạng tổng quát của

thành ngữ tiếng Anh như sau:

Types of idiom

Verb + object / Produce two useful

Kill two birds with one

Binomial Crude and lacking

(word and word) sophistication

Trinomial (word + Relaxed, incontrol, not

Cool, calm and collected

Trang 37

Thuật ngữ simile trong tiếng Anh (phép so sánh) tương đương với thuật ngữ

phép so sánh thông thường của tiếng Việt Simile là sự mô tả những sư vật, sự

việc bằng cách so sánh nó với những sự vật, hiện tượng khác, và thường sử

dụng những từ như as hay like (a simile ¡is an expression that describes something by comparing 1t with something else, usually using the words as or like For instance, Their boss is as lazy as a lizard means the boss is similar to

a lizard) Ciing giống như tiếng Việt, thành ngữ so sánh tiếng Anh cũng là

một tiểu loại trong simile

Hoàng Quốc trong bài báo Đặc điểm cẩu trúc hình thái của thành ngữ so

sảnh tiếng Anh trong Thông tin Khoa học, Đại học An Giang, trên cơ sở tập hợp các ví dụ, đã đưa ra các dạng cụ thể của thành ngữ so sánh (loại so sánh

ngang bằng) tiếng Anh như sau:

(A) like B Like a duck in a thunderstorm

Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý, trong tiếng Anh, có những trường hợp rất

dễ nhầm lẫn giữa simile và thành ngữ so sánh, hay nói cách khác, ranh giới giữa simile và thành ngữ so sánh là rất mong manh Đó là trường hợp những cụm từ có cầu trúc như trên nhưng không mang tính thành ngữ hoặc có mang tính thành ngữ nhưng không có ý nghĩa so sánh Vì thế, luận văn của chúng tôi không xét đến 2 trường hợp sau đây:

+ Trường hợp những cụm từ có cấu trac as + đđÿ + as, nhiều khi là thành

ngữ, nhưng không mang ý nghĩa so sánh, như với các từ soon, long, far, well,

Trang 38

good Vd: as far as anyone knows Hoac cing cé dang cau trac trên, nhưng không có tính thành ngữ, vi du nhw She is as smart as my daughter

+ Trường hợp những cum tir bat dau bang like + noun, di mang ý nghĩa so

sánh nhưng tính thành ngữ không cao, và nó chỉ là các cụm từ tự do xuất hiện

trong những bối cảnh giao tiếp nhất định Vd: Z7is car looks like an untidy room

Cũng như thành ngữ so sánh tiếng Việt, trong luận văn nảy, chúng tôi chưa

đủ điều kiên để tìm hiểu thành ngữ so sánh tiếng Anh dạng hơn, như thành ngữ

more death than live (thừa sống thiếu chết)

Như vậy, thành ngữ tiếng Anh thuộc một trong các dạng sau

Như vây, qua mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể

thấy, các dạng tương ứng của thành ngữ tiếng Anh như sau:

(Rinh như mèo rình chuột)

(Fight like cat and dog)

Trang 39

Thành ngữ nói chung và thành ngữ so sánh nói riêng, là một loại đơn vi

từ vựng đặc biết Nó đặc biệt ở chỗ, chỉ với một tổ hợp có kích thước vật chất

không lớn, nhưng nó có khả nắng tích lũy các thông tin ngoài ngôn ngữ một

ách thủ vị Thành ngữ so sảnh có chức năng miêu tả một cách sinh động thể

giới khách quan, cụ thể hóa những trang thái tính chất và hoạt động của xã hội

loài người Vì vậy, sử dụng thành thạo thành ngữ là một nắc thang cần thiết đối

với người dạy và học ngoại ngữ

X G Gavrin đã nhận định: “Không thỄ gợi là năm được một ngôn ngữ

nếu không nghiên cứu một cách có hệ thông các thành ngữ của ngôn ngữ đó,

cũng như không thê nói là nằm được các thành ngữ, nêu không hiểu rõ xuất xứ

của chúng” Việc so sánh thành ngữ của hai nền văn hóa khác xa nhau, cho

phép hiểu rõ hơn về cách tư đuy hình tượng của những người đại điện cho một

ngôn ngữ văn hóa nhất định I.uận văn của chúng tôi cố gắng miêu tả một khia

cạnh của thành ngữ so sánh Anh- Việt, qua đó sẽ có thể góp phần tăng khả

năng thực hành ngôn ngữ nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng,

Trang 40

CHƯƠNG 2

CÃ U TRÚC THÀNH NGỮ $0 SANH

VA CA U TRUC VE 50 SANH

CŨ 4 THÀNH NGữ $0 SANH

TI NG VIE T VA TIE NG ANH

Nhiệm vụ trọng tâm của (“hương 2 14 miéu tả cấu trúc của về so sánh we

B) trong thành ngữ so sánh Tuy nhiên, để thấy được mỗi quan hệ giữa các

thành tô cấu thành thành ngữ, chúng tôi thấy cần thiết phải đặt về B trong mỗi

tương quan với các bộ phan con lại Dễ tiện cho việc theo đối, chủng tôi sẽ lần

lượt miêu tả cấu tạo thành ngữ so sánh tiếng Việt và tiếng Anh theo trình tự về

A-véB

2.1 Dặc diém cau mic thanh ngữ so sảnh tiếng Vide

Như đã trình bày ở Chương 1, trong luận văn của chúng tôi, thành ngữ

so sảnh là thành ngữ được rút ra từ cấu trúc so sánh thông thường 14 A nhie B

Từ đây trở đi, chúng tôi gọi A (về A) là về được so sánh và B (về B) là về so

sánh Các thành ngữ so sánh dạng ngang bằng là đối tượng được chúng tôi

khảo sát

Trang số 599 thành ngữ thu thập được, chúng tôi phân làm 13 nhóm có

các dạng khác nhau như sau

Ngày đăng: 17/05/2025, 21:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Đại từ diễn tiếng Tiệt, Nguyễn Như ¥ (1999) NXb Vin hoa Thong tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ diễn tiếng Tiệt
Tác giả: Nguyễn Như ¥
Nhà XB: NXb Vin hoa Thong tin
Năm: 1999
11. Bi tim diễn tích thành ngũ, 'Liêu Minh Hà (2007). Nxh Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi tim diễn tích thành ngũ
Tác giả: Liêu Minh Hà
Nhà XB: Nxh Thông tấn
Năm: 2007
13. Kễ chuyện thành ngữ tục ngữ, Iloàng Văn Ilành (2002), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kễ chuyện thành ngữ tục ngữ
Tác giả: Iloàng Văn Ilành
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
14. Khảo sát thành ngữ có yếu tỖ chỉ thực vật trong Hồng Hán, Đường Tủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thành ngữ có yếu tỖ chỉ thực vật trong Hồng Hán, Đường Tủ
15. Lược sử nghiên cửu dịch thuật, Nguyễn TIồng Côn (2006) Te Ngôn ngữ số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử nghiên cửu dịch thuật
Tác giả: Nguyễn TIồng Côn
Nhà XB: Te Ngôn ngữ số
Năm: 2006
16. Một số vẫn đề trong nghiên cửu đổi chiếu các ngôn ngữ, Lê Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vẫn đề trong nghiên cửu đổi chiếu các ngôn ngữ
Tác giả: Lê Quang
18. Nguyễn Lân (2007), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Liệt Nam, NXĐ Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Liệt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXĐ Văn học
Năm: 2007
19. Phương thức dịch các thành ngữ nhận xéL đánh giá con người giữa các ngôn ngữ Việt — Anh- Nga, Trần Thị Tran (2001) Tuận án tiến sĩ ngữ văn,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức dịch các thành ngữ nhận xéL đánh giá con người giữa các ngôn ngữ Việt — Anh- Nga
Tác giả: Trần Thị Tran
Năm: 2001
20. Thành ngữ Anh - Mỹ đẫn gidi, Richard M Spais, (1994), Châu Văn Thuận (biên dịch), Nxb Đẳng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ Anh - Mỹ đẫn gidi
Tác giả: Richard M Spais, Châu Văn Thuận
Nhà XB: Nxb Đẳng Nai
Năm: 1994
21. Thành ngữ học tiếng Piệt, [Hoành Văn Ilinh (2008), NXB Khoa hoc X4 hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ học tiếng Piệt
Tác giả: Hoành Văn Ilinh
Nhà XB: NXB Khoa hoc X4 hội
Năm: 2008
22. Thành ngĩ tiổng Liệt, Nguyễn lực, Lương, Văn Đang (1978) NXH Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngĩ tiổng Liệt
Tác giả: Nguyễn lực, Lương, Văn Đang
Nhà XB: NXH Khoa học Xã hội
Năm: 1978
23. Thành ngữ tục ngữ Việt Nam, Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn, Bích Hằng, Việt Anh
24. Thành ngũ, tực ngữ tiổng Ảnh, Xuân BA, Quang Minh (2008), , Nxb IIa Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngũ, tực ngữ tiổng Ảnh
Tác giả: Xuân BA, Quang Minh
Nhà XB: Nxb IIa Nai
Năm: 2008
25. Thứ đối chiếu thanh ngit so sinh tiéng Phap voi các thành ngữ so sánh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thứ đối chiếu thanh ngit so sinh tiéng Phap voi các thành ngữ so sánh
26. Từ điễn thành ngit Anh Viét, Martin IL. Manser (1995), Châu Văn Thuận (biên dịch), xb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điễn thành ngit Anh Viét
Tác giả: Martin IL. Manser, Châu Văn Thuận
Nhà XB: xb Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1995
12. Góp phân tìm biểu thành ngữ có thành tô chỉ tên gọi dộng vật trong tiếng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ãnh - Luận văn tìm hiểu vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng việt và tiếng anh
nh ãnh (Trang 4)
Hình  từ  loại  của  về  A  như  sau: - Luận văn tìm hiểu vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng việt và tiếng anh
nh từ loại của về A như sau: (Trang 43)
Hình ảnh. - Luận văn tìm hiểu vế so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng việt và tiếng anh
nh ảnh (Trang 65)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm