Do dé, rat cần có những, đánh giá khách quan, khoa học định hướng dư hiân xá hội nhận thức đủ và đúng vỆ tinh thần nhập thể của Phat gido Việt Nam, dỏng thời phát huy vai trò cúa Phật gi
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG DẠI TỌC KIIOA TIỌC XA TIOT VA NITAN VĂN
PHẠM THỊ PHƯƠNG MY
TINH THẢN NHẬP THẺ CỦA PHẬT GIÁO
VIET NAM TRONG BOI CANH NEN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỈ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN
PHAM THI PHUONG MY
TINH THAN NHAP THE CUA PHAT GIAO
VIET NAM TRONG BOI CANH NEN
KINH TE TH] TRUONG HIEN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xưa cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
bường dẫn của Tả, Nguyễn Thị Thúp Hãng Cúc số liệu, tải liệu dược sử
dụng trong luận văn là trung thực và cô nguồn géc ré rang
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Xy
Trang 4Với tình cảm chân thành, tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
lội đồng khoa học, lội đồng đão tạo thạc sĩ chuyên ngảnh Triết học cửa Khoa Triết học — Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia i4 Nội cùng quý thầy c khoa Triết học đã tận tình giáng dạy vá giúp đỡ tôi trong
suốt quả trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bảy lỗ lỏng biết ơn sâu sắc tới T6 Nguyễn Thủy Hằng — người đã tận tỉnh hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp những ý kiền quý báu cho luận văn cũng như truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời giam học tập, nghiên cửu, thực hiện luận văn
Mặc dù có nhiều có gắng trong quả trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cửu, song luận văn không tránh khỏi những sai sỏi, kính nong được sự góp ý của các
thay cô dễ luận văn dược hoàn thiện hơn,
Xin chân thánh cảm ont
Tác giả
Phạm Thị Phương My
Trang 5Nxb
TE HCM XHƠN
Trang 6MỤC LỤC
MỞ DẦU LH HH HH HH HH HH HH gan seneraeeool
Chương 1 MỘT SỞ VÂN ĐẺ LÝ LUẬN VE TINH THÂN NHAP THE CUA PHẬT GIÁO VA NEN KINH TE THI TRUONG Ở VIỆT NAM L1
LL Tinh thin nap thé cia Phat giao và tỉnh thần nhập thé cia Phat giáo
1.3.1 Tình thần nhập thê của Phái giáo và vẫn dễ phát triển kinh tỄ 4 1.5.2 Tình thần nhập thế của Phật giáo va vin dé vin hỏa, giáo dục, đạo đức
1.3.3 Tình thân nhập thê của Phật giáo và vẫn đề từ thiện, nhân đạo 45 1,3,4, Tình thân nhập thể của Phật giáo rà vẫn đề khoa học công nghệ
1.5.5 1ình thân nhập thế của Phật giáo và vẫn đề đối ngoại, hợp tác quốc #8
Chương 2 TINH THÂN NHAP THE CUA PHAT GIAO VIRT NAM TRO BO1 CANH NEN KINH Ti ‘THI TRƯỜNG HLEN NAY: THUC TRANG,
DANH GIA VA GIAI PHÁP - - 49
2.1 Thực trạng tình thần nhập thé của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh
nếu kinh tế thị trường hiện nay 48
3.1.1 Thực trạng tình thân nhập thế của Phật táo Liệt Nama biểu biện ở phương diện
2.1.2, Thwe trạng tình thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam biếu biện ở phương điện
Trang 72.1.3 Thực trạng tình thân nhập thế của Phật giáo Việt Nam biêu hiện ở phương điện
từ thiện, nhân dao TH HH2 121 1.111 gee "`
2.1.4 Thực trạng tình thân nhập thê của Phật pảo Liệt Nam biu biện ở phương diện
3.1.5 Thực trạng tĩnh thân nhập thế của Phật giáo Việt Nam biểu hiện ở phương điện
on OF
3.2 Những đánh giá về Linh thần nhập (hế của Phật giáo Việt Nam trong bối
cảnh nên kinh tế thị trường hiện nay 74
3.4.1 Những đóng góp tích cực đối với tỉnh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam ong bồi cảnh nên kinh lễ thị trưởng hiện nay! 74
2.2.2, Nhiing han chế, bắt cập đối với tình thần nhập thê của Phật giáo Việt Nam
trong bối cảnh nền kanh lê thị trường hiện nay, 75 2.3 Giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiên cực dõi với tỉnh thần nhập thé của Phật giáo Việt Nam trong bỗi cảnh nền kính tế thị trường
2.3.1 Nâng cao đời sống vật chất và tình thân cho nhân dân đề phát huy ảnh hưởng
dích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tình thần nhập thế của Phật giáo Liệt Nam T8 2.32, Tăng cường công tác huên truyền, giáo dục giúp tăng nủ, Phật từ và quân
chứng nhân dân nhận thúc đúng về giá trị cũng như hạn chế đỗi với tình thân nhập
thế của Phải giáo Viti Nam 8
3.3.3 Khuyến khích tăng nị, Phật tứ tham gia các hoạt động từ thiện nhân dạo nhằm phát huy truyền thống nhập thê tích cục Phật giáo Việt Naữn .&5
3.3.4 Tăng cường công tác quân lý của Đảng, Nhờ nước đỗi với hoại động và tổ chức
Trang 8MO PAU
1 Lý do chọn dé tai
Phật giáo là một học thuyết lên giáo - triết học lớn hình thành ö Ấn Độ vào thể ký thử VI trước công nguyên với mục tiểu day con người tu tập dễ thơát khổ, giác ngộ và giải thoát Trong quá trình tổn tai va phat triển, Phật giáo đã có ảnh
thưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của dời sống xã hội ở một số nước chau A, trong
đó có Việt Nam Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những thể kỷ đầu Công
nguyên đã sểm hỏa mình với tín ngưỡng và văn hóa bản địa hình thành nên nên
Thật giáo dân tộc — Phật giáo Việt Nam Hơn hai nghìn năm Lồn tại cùng đần lộc Việt Nam, Phật giáo luôn thể hiện tình thản nhập thể tích cực đồng hảnh củng với
dan tộc trong công cuộc chẳng ngoại xâm cũng như trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước Cho đến nay, Phật giáo vẫn tổn tại và gắn bó khẳng khít, hòa quyện vào mọi mặt trong đời sống xã hội của người Việt Nam Tuy nhiên, trong bồi
cảnh hội nhập và toan cau hóa, rất nhiễu vẫn đê như: xung đột dân tôc, sắc tộc,
chống khủng bế, ứng phỏ biến đổi khí hậu, thửm họa về môi Hường, gia lắng dân sổ, mức độ giải quyết không chỉ dùng ở phạm vị quốc gia, dân tộc mả co tim anh thưởng quốc tế Phật giáo Việt Nam - với tình thần nhập thế vốn có của mình - đã và
dang thể hiện vai trò và vị thể bằng những, cách thức mới như thẻ nào Để đánh giá
đúng vị thế cũng như vai trỏ của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh mới nảy rất cần những nghiên cửu cả 6 phương điện lý luận cũng như thực tiển
Hơn nữa, khi Việt Nam dang xây dựng nên KITT dịnh hưởng XHƠN với hiểu bước chuyển mình quan trọng, đã đạt được những thành tựu nổi bật vẻ kinh
tế, từng bước nâng cao đời sống tỉnh thản che người đân Bên cạnh mặt tích cực,
TT cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến mọi tảng lớp nhân dan trong xf hoi
Sự phân hóa giàu - nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội; đã nảy sinh
tham những, tôi phạu, bạo lực, kích thích chữ nghĩa thực dụng, chủ ngÌữa cá nhân, lỗi sống chạy theo đồng tiên bất chấp đạo lý Dễ ứng phó với mặt trái của nên
KTTT ở nước ta hiện nay đã cá rất nhiều giải pháp được đưa ra thông qua các văn
tần pháp luật, cũng như các chủ trương, chỉnh sách gần Đâng và Nhà nước trên mọi
Trang 9bình điện từ kinh tế, chính trị, văn hỏa, xã hội cho dén tin ngưỡng, tôn giáo Trong, những giải pháp khắc phục mặt trái của nên K] ' ở nước ta hiện nay, giấi pháp từ tình điện lín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mạnh, vỉ lín ngưỡng, tôn giáo vốn di
là nhu cầu tỉnh thân dối với dại da số người Việt Vì thể, việc phát huy vai trỏ của
các tôn giáo trong xây dụng đời sống tỉnh thần, hoàn thiện đạo đức cho người dan Việt Nam là một vấn dễ hết sức có ý nghĩa Và dễ phát huy vai trò của các tồn giáo
ở Việt Nam hiện nay, không thể không nói đến đạo Phật Bói, lịch sử đã chứng,
sinh trong quá khít nghìn năm Bắc thuộc cũng như trong thời kỳ thực đân Pháp
xâm lược và để quốc Mỹ đô bộ, đạo Phật vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc đâu tranh chồng giặc ngoại xâm Va trong béi cảnh KP hiện nay, đạo Phật vẫn tiếp
tụo đồng hành cùng đản tộc kiến thiết đất nước, tạo ra những đóng góp to lớn trang
Trhiều lĩnh vực như: an sinh xã hội, bão vệ mỗi trường, hoàn thiện đạo đức, lỗi sống,
cho người đân
Tuy nhiên, chỉnh trong bối cảnh nay Phat gio Viet Nam cũng bộc lộ những,
“tạm chế”, “bất cập” trong cách quản lý tầng nỉ, cách lỗ chức các hoại động tín
ngưỡng tâm linh tạo nên sự phán ứng từ phia dư luận xã hội, làm méo mỏ hình ánh của Phật giáo, dẫn tới phô nhận vai trò nhập thế lich cực của Phật giảo Tím ngưỡng,
tôn giáo là một vân dễ khả nhạy cấm vì liên quan dến đời sóng tình thân, tâm linh:
của đại đa số quản chủng nhân dan Do dé, rat cần có những, đánh giá khách quan, khoa học định hướng dư hiân xá hội nhận thức đủ và đúng vỆ tinh thần nhập thể của Phat gido Việt Nam, dỏng thời phát huy vai trò cúa Phật giáo trong giảo dục hoàn thiện đạo đúc, lối sống cho người đân nhằm khắc phục mặt trái của nền KTTT ở
nước ta hiện nay
Với tắt cá những lý do nêu trên, học viên lựa chọn van dé “Tink than nhập (hể
của Phật giáa Việt Nam trong bỗi cảnh nần linh 18 thi trường liện nay” làm đề tài
ï Triết học, chuyên ngành Triết học
những ý kiến nhằm phát huy vai trỏ của Phật giáo V
+ Nam trong bồi cảnh mới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến dé tai
Tinh than nhập thế gủa Phật giáo Việt Nam đối với công cuộc xây dựng,
Trang 10bảo vệ và phát triển đất nước luôn là chủ để được quan tâm bởi các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu với nhiều công trình ở các góc độ tiếp cận khác nhau Trong phạm vì để tài này, chúng tôi tổng quan lình hình nghiên cứu ở những hưởng tiếp cận sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về tình thần nhập thế của Phật giáo
Ở hưởng nghiên cứu này phải nói đến những công trình như: 7 ựe sử Phật gido An D6 cia ‘Thich Thanh Kiém (1989); 7m hiểu về tình thần nhập thế của Phật
giáo Việt Nam của táo giá Dặng Thị Lan (2003); Phật giáo Việt Nam trong bỗi cảnh hội nhập và loàn cầu hỏa của Đỗ Quang Hưng (2006), Chức năng của Phật gián
đổi với vần đề kinh tẾ của tác giả 'Trần Liỏng Liên (2007); Phật giáo dân gian: con
đường nhập thế của I"hật giáo Việt Nam của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2008), Giải
thoái luận Phật giáo của Nguyễn Thị Toan (2010); Vài nết về vẫn đề nhập thể của
Phat giáo thời Dĩnh và Tiên Lê của Nguyễn Tuấn Anh (2010), Những điềm chính
yêu của Phật giáo nhập thể của Quân Như (2011); Nhận thức chuẩn về tinh than
nhập thể
của Phật giáo của Hòa thương Thich Thiện Nhơn (2017), Nhập thế cũa
Phật giáo - truyền thống và yêu cầu mới của tác giá Hoàng Thị Thơ và Nguyễn Thị
Tuyến (2017), Cu thé:
Cuôn Lược sử Phật giáo Ấn Độ của Thích Thanh Kiêm được Thành hội Phật
giáo thành phổ Lỗ Chí Minh ản hành năm 1989 đã khái quát về lịch sử xuất hiện cũng nhú những van dé Phật giáo giải quyêL Tác giả đã viết, “Hai giai cấp Bả-la- môn vả vua chúa là giai cấp thông trị, hai giai cấp bình dân và tiện đân là hai giai cấp bị trị giai cấp tiện dân lại bị xã hội khinh miệt, không được pháp luật bão hộ, câm chế không cho đự phần tín ngưỡng tôn giáo, và tán trng kinh điển Veda Do đó
„mà gây thành sự tễ chức xã hội bắt công, dân chúng họ hằng khát vọng có bậc thánh:
nhân xuất hiện cúu đời Dễ đáp lại lòng mong mỗi đó, nên đã phát sinh một tên giáo
tha tiết với mục đích nhất vị bình đẳng cứu đời, chính là Đức Thật Thich Ca Mau
Ni sảng lập” [52] Như vậy, sự xuất hiện của Phật giáo với hình tượng Phật Thích
Ca Miu Ni đã đáp ứng được nhu cầu của thời đại đó là khát vọng giải thoát chứng,
sinh khởi áp bức, bất công Điều này cho thấy, lư tưởng nhập thế của Phật giáo đã
Trang 11tỉnh thành ngay từ thời Phật Thích Ca Mâu NI
Năm 2011, Quản Như với bài viết Những điểm chính yếu của Phật giáo nhập thé đồng trên websile Thư viện hơn sen đã cho độc giả hình dụng rõ hơn về tĩnh thân nhập thể của Phật giáo Trong bai viết, tác giả nhìn nhận Phật giảo nhập thể từ góc độ khác nhau như trưyền thông — hiện đại, trí tuệ - hành động, chính niệm
và thập cuộc Tác giả định nghữa Phật giáo nhập thể là “Iham du, nhap cuộc, hành
động chuyển hoa thể giới bên ngoài” [68] Tao giá cứng đã đưa ra những đặc
tính chính yểu của Phật giáo nhập thế gồm chuyển hoa thin tam va thé gidi bén
ngoài, Trí luệ và từ bí cũng như từ bì và hành động Hiên hệ mật tết với rhau; Tý
tưởng Hỏ tát lá sự chỉ đường trí tuệ của Phật giảo nhập thế; Người lãnh đạo Phật
tử nhập thể kết hợp được những quan niệm tiên bộ nhu dân chủ, công bằng kinh tế, chính trị và xã hột, Con đường hành trì mới chú tâm trên khá răng thực hiện giác
ngộ của cả tăng sĩ lẫn cư sĩ
Công trinh nghiên cứu Viận thức chuẩn về tỉnh thân nhập thê của Phật giáo
của Hôn Hượng Thích Thiện Nhơn trong Hội thảo Khoa học Quốc lễ Phật giáo nhập
thể và các vấn đề xã hội đương đại năm 2017 Trong công trúnh nảy, tác giá khẳng định
“Đạo Thật là đạo từ bí và trí luệ, được thể hiện qua hành động, người có lòng từ bì thì
không thể làm ngơ trước thống khê của nhân loại, hoằng pháp lợi sinh thì phải dị vào
đời sống nhân sinh và đây chỉnh là hành động thể hiện hạnh nguyện bẻ tát như tính thần nhập thị ới tấm lòng lử bì thương Lưởng chúng sinh” [ốT, tr 22] Từ đó, Lic giả
nhận dịnh rằng Phật giảo cũng thể hiện tính thân nhập thế uyên chuyển cúa mình trên nhiêu lĩnh vực trong đời sống xã hội tùy theo con người và bối cảnh thời đại
Hoàng Thị Tho vả Nguyễn Thị Luyén với bài viết Mhập thê của Phật giáo — Truyền thẳng và yêu cầu mới trong Hội thảo Khoa học Quốc tế Phật giáo nhập thé
và các vấn để xã hội đương đại năm 2017 Trước khi phân tích tỉnh thân nhập thể
của Thật giáo Việt Nam trong lịch sử và trong giai đoạn hiện ray, tác giả đá làm rố
tính thân nhập thế của Phật giáo nói chung Theo táo giá “Phật giảo không phải từ
thư không hay từ trên trời rơi xuống mà nó được thai nghén từ các vấn đẻ của cuộc
sống, và sinh ra để giải quyết các vấn để đó của cuộc sống”, “Có thể hiểu về căn
Trang 12‘ban nhập thé đã vốn có ở Phật giáo Ấn Độ , vá đến nay, tính thân nhập thế của Phật giáo vẫn không ngừng được phát huy mỗi khi bản thân Phật giáo cần chân tưng, canh tân để đáp ứng hơn nữa những đòi hỏi phát triển Phật giáo cing nh trước những nhiện vụ của dân tộc, của xã hội” [82, tr 483]
Thư vậy, ở hướng nghiên cứu tỉnh thần nhập thể của Phật giáo được nhiều tác giả quan lâm Đây là co số giúp cho tác giả của luận văn có điểu kiện nghiên
cứu vả triển khai nhằm đạt được mục địch và nhiệm vụ đề tải đã đặt ra
Thứ hai, những công trình nghiên cửa về nên kinh lỄ thị trường ở Việt Nam: Kinh tế thủ trường đã được chấp nhận ö Việt Nam lừ năm 1991, cho đến nay
đã có rất nhiều công trinh nghiên cửu về lĩnh vực nảy như: Kinh if thi trường trong
sự nghiệp phát triển đất nước của Nguyễn Hữu Vuong (2002), Kink tễ thị trường
định hưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của tắc giả Vũ Đình Bách (2008); Kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ ngÏĩa - ljÿ luận và thực tiễn của Nguyễn Duy
Himg (2009), Phát triển nên kinh tễ thị ruờng định lướng xã hội chủ nghĩa ð Việt
Nam của Đỗ Hoài Nam (2013); Bản chất của nên kinh lễ thị trường dịnh hướng xã
hội chữ nghĩa ở Liệt Nam của Trần Thị Minh Châu (2014)
Cụ thể, bài viết “Kinh tế thị trường trong sự nghiệp phát triển đất nước” của
tác giả Nguyễn Hữu Vượng trong cuén Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Liệt Nam
1ã" luận và thực tiễn của tập thể tác giá Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thể Nghĩa, Đăng Hữu Toản được Nxb Chính trị Quốc gia ân hành năm 2002 đã để cập tới nền
KTTT định hưởng XHƠN ở Việt Nam Củc tác giá nhận dịnh: "nên kinh tế thị
trường mà chủng †a xây đựng là nên kinh tế vận động theo co chế tự nhiên của nó nhưng có sự quản lý, hướng dan va điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm xây đựng, chủ nghĩa xã hội” [100, tr 517] Đăng ta chỉ rõ: “Vận dụng các hình thức và
phương pháp quản lý nên kinh tế thị trưởng là để sử dụng mặt tích cực của nó phục
vụ mục đích xây đựng chủ nghữa xã hội chứ không đãi theo con đường lư bản chủ nghia” [100, tr 517]
Nam 2008, cudn Kink i thi trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa & Viet Nam
của tác giả Vũ Đình Bách, do N<b Chính trị Quốc gia ân hành đã có những luận giải
Trang 13vẻ nên KTTT dịnh hưởng XHƠN Theo đó, nền KTTT dịh hướng XHCN “vừa tuân theo những quy luật thị trường, đẳng thời lại dựa trên co sé và được dẫn dắt,
‘dan
cn phối bởi các nguyên tắc mang bản chất chủ nghấa xã hội, nhằm mục liệt
giảu, nước mạnh, xã hội cỏng bằng, dân chủ, văn mình” và từng bước quả độ lên chủ nghĩa xã hội” [2, tr.31] Tác giả khẳng định, “Đăng Cộng sản và Nhà nước xã héi chủ nghĩa giữ vai trỏ lãnh đạo, lỗ chức vả quần lý riên kinh tế thị trường định hưởng xã hội chú nghữa” [2, tr.31]
Bai viết Bản chất của nền kinh tô thị tường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam trên Tạp chí Nghiên cửu Kinh lế số 431 — Tháng 4/2014, tác giả Trân Thị Minh Châu đã làm rö bán chất khác biệt của KTLT định hướng XHCN với KITT
từ bản chủ nghĩa và nội dung căn bản trong phát triển KTTT định hướng XHƠN ở nude fa Theo tác giá sự kháo biết duy nhất giữa nên KTTT từ bản chủ nghĩa và nền KTTT định hướng XIICN là ở chỗ “ai làm chủ sức mạnh kinh tế thị trường và sức amanh chỉnh trị trong một nước Trong niên kinh tế thị trường tư ban chủ nghĩa: đó là giới chữ; Irong nén kinh tế tị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: đó là đông đảo nhân đân lao động” [10, tr 29] Linh chất XHCN trong nên KTUT định hướng, XHCN “là đa phần tụ liệu sản xuất đã được tích lũy phải nằm trơng tay nhân dân
lao dòng dưới một hình tức nào dở và Nhà nước là của nhân dân lao dong, vi
nhân dân lao động” [10, tr 31]
C6 thé noi, cdc công trinh nghiên cứu trên đã để cậi khá toàn điện các vấn để liên quan dến KITT và KITT định hưởng XHƠN ở Việt Nam Đây là những tư liệu cần thiết để chúng tôi có thể tiếp cận, phân tích tỉnh thân nhập thế của Phật giáo 'Việt Nam trong bồi cảnh của KTTT ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, những công trình nghiên cứu về tình than nhập thế cũu Phật giáo Việt Nam (rong bỗi cảnh nên kinh tỄ thị trường hiện nay
Tinh than nhập thể của Phật giáo Việt Nam trong hối cảnh nến KTTT hiện nay được đề cập trong các công trình nghiên cửu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như văn héa, xã hội, kinh tế, chính trị như PÖ@ï giáo Việt Nam trong bối cảnh loàn cầu hóa của Nguyễn Đức Tữ (2006); Phật giáo nhập thế và phái triển
Trang 14của Lê Mạnh Thát và Thích Nhật Từ (2008); lai trò của Phật giáo Việt Nam dối
với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước qua phương chân hoạt động “Dạo
pháp — lân lộc — Chủ nghĩa Xã hội của Hòa thượng Thích Gia Quang (2012), Đặc
trưng của Phật giáo Việt Nam trong thời dại hội nhập toàn câu của Hòa thượng,
Thích Phước Dạt (2013), Phật giáo nhập thế và các vẫn đề xã hội đương đại ở
Nam của Hòa thượng Thích Gia Quang (2017), Phật giáo nhập thé
iếp cận từ hoạt
động đối ngoại của Giáo bội Phật giáo Vist Nam của Thượng tọa Thích Đức Thiện (2017), Phật giáo Việt Nam nhập th trong kỹ nguyên công nghiệp 4.0 hiện nay của Thượng loa Thich Nguyên Đạt (2017), Chuyên nghiệp búa hoạt động từ thiện xã hội: Xu hướng nhập thế của Phật giáo Việt Nam đương đại của tác giá Loàng Thu
Hương (2017); Lễ Hằng thuận — Một biếu hiện sống động tính thần nhập thả của
Phật giáo Việt Nam hiện thời ola tac gi Mai Thị Thơnn (2017) Cu thể
Năm 2006, trên tạp chí Triết học số 11, bài viết Phật giáo Việt
bỗi cânh toàn cầu bóa, Nguyễn Đức Lữ đã khẳng định “Xu hướng chung của Phật
Nam trong
giáo Việt Nam không phải là thoát tục, tuả là nhập thế Ngày nay, truyền thống,
nhập thể của Phật giáo Việt Nam không cón chung chung, trừu tượng mà đã đi vào
cuộc sông đời thường cụ thể và thiết thực hơn” [S9, Ir 43] Tuy nhiên, [heo tác gì
trong bôi cảnh hiện nay, Phật giáo không thể tránh Khỏi những tác dộng mạnh mẽ tử
xu thể toàn cầu hóa vả cơ chế thị trường, trong đỏ có cá tác động tích cực vả tiêu cực Để thích ứng với bối cảnh hiện đại, theo ông, Phật giáo Việt Namn cầu phâi biết
“tự diều chỉnh”, “cùng, đất nước bước trên lộ trình déi mới đễ phù hợp với bối canh lịch sử mới” [59, tr 45]
Đài viết lai rô của Phật giáo Liệt Nam đổi với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước qua phương châm boạt động "Đạo pháp Dân tộc Chủ nghĩa xã hội trên tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 năm 2011, Hòa thượng Thích Gia Quang,
đã phần tích phương châm hoại động của tăng rủ, Phật tử GHPGVN lừ truốc đến
xay là "Dạo pháp Dântộc Chủ nghĩa xã hội” “Dó là sự kế thửa có chọn lọc tư tưởng giáo lý của Đức Phật và truyền thông Hộ quốc an đân của Phật giáo Việt
Nam”, “Giáo hội đã và đang chữa sẻ trách nhiệm của mình và nỗ lực phân đâu góp.
Trang 15phân giải quyết những khó khăn còn tổn tại trong sự nghiệp dỗi mới của đất nước” T71, tr 18] Qua đây, tác giá đã cho chứng ta thầy được tĩnh thân nhập thể tích cực
của GHPGVN hiện nay
Năm 2017, Hòa thượng Thích Gia Quang với bài viết Phật giáo nhập thé va
các vấn đề xã bội đương đại ở Vide Nam đã đưa ra tự tưởng Phật giáo nhập thê đốt
với xã Hội đường đại là tính ứng dụng của giáo pháp Phật giáo trong cuộc sống |72,
tr, 158] Lrên cơ sở đỏ, tác giá phân tích thực trạng tỉnh thần nhập thế của Phật giáo
‘Vist Nam trên hai phương điện tích cực và tiêu cực ở các vấn để gia đình và xã hội;
từ thiện, nhân đạo; phát triển kinh tế; giáo dục; môi trường và biến đổi khí hậu; khoa học công nghệ; quan hệ quốc tế Tử đó, tảo giá để xuất phải pháp để tình thân
nhập thê của Phật giáo phát triển hơn trong tương lai
Như vậy, qua quả trình khảo gứu các công trình đã liệt kế, chứng tôi rút ra
Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nên KTTT hiện nay Tuy nhiên, các công trình
riểu trên déu rit bỏ ích, không chỉ cung cấp tư liệu mà còn gợi mỡ cho học viên
Tuưởng bi én khai pác nội dưng nghuên cứu trong quá trình thực hiện luận văn
Thứ ba, về vẫn dễ tĩnh thân nhập thẻ của Phật giáo Việt Nam trong béi cảnh tiên KTTT hiện nay Dây là mảng nghiên củu tỉnh thân nhập thể của Phật giáo trong, bối cảnh nên kính tế hiện đại và hội nhập, cho nên các công trinh nghiên cứu chưa thành hệ thông, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau vả chú yếu khai thác dưới góc
độ văn hóa, lịch sử
Vì vậy, kế thừa thành qua trong những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, dưới góc độ tiếp cận triết học, luận văn triển khai nghiên cứu, lam
rõ những vẫn để sau: 1 Hệ thông hóa những vấn dé ly hiận vẻ tỉnh thần nhập thể của
Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, cũng như nền KTTT định hướng XHƠN, 2 Phân
Trang 16tích, danh giá thực trang tính thần nhập thể của Phật giáo Việt Nam trong bối canh nén KITT hién nay; 3 Dé xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực linh thần nhập thể của Phật giáo Việt Nam rong
bồi cảnh nên KLTT hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
311 Mục đích nghiên cửu
"Trên cơ sở hệ thông những vẫn để lý luận về tình thần nhập thế của Phật giáo
và Phật giáo Việt Nam, cũng như nẻn KTTT định hướng XIICN, luận văn lảm rõ
thục trạng tình thân nhập thế của Phật giáo Việt Nam trơng bối cảnh rên KTTT, lừ
đó, đề xuất các giải pháp chứ yêu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực
tinh than nhập thế của Phật giáa Việt Nam trong bối cảnh nên KTTT hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Dé dp ứng được mục đích để ra, hiện văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận văn hệ thông hóa những vấn đề lý hiện về tỉnh thân nhập thế của
Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, cũng như nền KTTT dịnh hướng XHƠN;
Thứ hai, luận văn phân tích, đành giả thực trạng tình thần nhập thể của Phật giáo Việt Nam Irơng bối cảnh nên KTTT hiệu nay;
Thứ ba, dễ xuất các giải pháp chủ yêu nhằm phát hay mắt tích cực, lan chế mặt,
tiểu cực tính thần nhập thẻ của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nên K'I''T hiện nay
4 Bối tượng, phạm vỉ nghiên cou
+41 Đối tượng nghiên cửu
Tinh thin nhập thẻ của Phật giáo Việt Nam trong bồi cảnh nên KTTT hiện nay Bồi cảnh nền KTTT trong luận văn bản đến chính là nên KTTT định hướng XHCN
42 Phạm ví nghiên cứu
Pham vi không gian: Nghiên cũu tỉnh thần nhập thế của Phật giáo 6 Việt Nam
Phạm vì thời gian: Trong phạm vi nghiên cứu của đề lài, chứng Lôi lấy mốc tù thời gian từ năm 1991 cho đến nay khi Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ VII (1991)
Trang 175, Cơ sử lý luận và phương pháp nghiÊn cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Để lãi được thục hiện trên cơ số lý luận duy vật biên chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tướng Hồ Chỉ Minh và quan diém cúa Đảng Cộng sắn Việt Nam vẻ kinh tổ, giáo dục, khoa học công nghệ, về tín ngưỡng, tôn giáo nói clnmg, Phật giáo nói riêng Ngoài ra, luận vẫn còn kế thừa, tiếp thu có chon lọc những tư tướng của một số công, trình nghiên cửu khoa học đã cỏ như các bài viết,
các tư liệu điều tra, khảo sát có liên quan đền nội cưng được để cập treng luận văn
5.2 Phương phúp nghiên cứu
Tựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Lô Chỉ Minh, luận văn sử dụng chủ yêu là phương pháp lịch sử - logie kết hợp với các phương pháp khác như: Phân tích - tổng hợp, so sánh, thống kê, tha thập {héng tin, Cac phương pháp này được lựa chọn sử dụng phủ hợp với từng nội dung cu thé
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
61 Ýnghĩa tý luận
Luận văn góp phân hệ thống hỏa những van đề lý luận về tỉnh thân nhập thể của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, cũng như nên KTTT ở Việt Nam, đồng thoi
làm sáng tổ thục trạng và dễ xuất các giải pháp chủ yêu nhằm phát huy mặt tích cực,
ban chế mặt tiêu cực tình thin nhập thể của Phật giáo Việt Nam trong bối cánh nên KTTT hiện nay
7 Kết câu của dé tai
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tải liệu tham kháo và danh rnục các công trình
của táo giả có liên quan đến luận văn, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
10
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VẺ TINH THẦN NHẬP THẾ CCA
PHẬT GIÁO VÀ NÉN KINH TẺ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1.1 Tỉnh thần nhập thể của Phật giáo và tính thần nhập thế cua Phat
giáo Việt Nam
1.1.1 Tình thần nhập thê của Phật giáo
1.1.1.1 Khái niệm nhập thế
* Nhập thế
Theo Từ điền Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản nấm 2004, “nhập
thê được định nghĩa là “đự vào cuộc đời (hường làra làn quan), gánh vác việc đời,
không đi ở ân, theo quan niệm của Nho giáo” [98, tr 714]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trang tâm Từ điển học xuất bản năm 201L định
xghữa, nhập thế là “gánh vác việc đời, không xa lánh cối đời” [#T, tr 1243], còn
xuất thế là “lanh đời, lưi vào ở ân hoặc đi tu, không tham gia vào hoạt động xã hội”
[87, tr 1875]
Tiên cơ sở khâo cứu quan niệm của ede hoe gid, trong nghiên cứu này chủng
tôi cho rằng, nhập thế là không xa lảnh cuộc dời và chủ dộng tham gia vào các hoạt động của đời sẵng xã hội
Thư vậy, nhập thế và thể tục hóa là hai khái niệm không đồng nhật với nhau
Theo 7 điển Nho, Phật, Đạo do Lao Tử, Thịnh Lê chủ biên giái thích, “Đạo
gia cho rằng, tại gia mà tu đạo, đó có nghĩa là hòa nhập theo thế tục ma lập thân
11
Trang 19Hành đạo, cho nên gọi lá công phu nhập thế Như Lão Tử thờ nhà Chu, Trương Lương phò nhà lân, Lưu Cơ giúp nhà Minh hưng thịnh, đều gọi là công phu nhập
the, dé doi lap voi céng phu xual the Hơn nữa, rêu lại làm cán việc đời 6
công đức sửa minh, giúp dời, độ thể hành dạo, v¡ thể gian mả làm mọi dạo dức tẻ vật, tích lũy công hạnh đê chứng đạo quả thì đều gọi là công phu nhập thể” [9I, tr 1001]
Nhà vậy, khái niệm nhập thế trong tôn giáo cá thể dược hiểu là lôn giáo chủ động dần thân, tiếp cận và thích ứng với thực tễ sống động của đời sống thế gian;
vận dụng tị hướng từ phía tôn giáo cùng với xã hội thể tục giải qHUỗt các vấn nạn
của xã hội Nói cách khác, nhập thễ trong tôn giáo chính là sự mở rộng phạm ví
hoạt động ra ngoái phạm vi tên giáo, như: chính trị, kinh tế, giáo dục, ngoại
giao Tân giáo nhập thể để phát triển
Nhập thd trong Lin gido cén là sự thể hiện mỗi quam hệ giữa lôn giáo và xã
hội thể tục Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là kết quả của nhu câu tỉnh thân
và tâm linh của xã hội thể tục Tôn giáo không thế tách rời xã hội thế tịc cũng như
không thể tắn tại và phát triển bên ngoài nhủ câu tâm lĩnh của đời sống xã hội Khi quan hệ giữa tồn giáo và xã hội thể tục tốt, nghứa lả tôn giảo gop phan giải quyết nhiêu vấn để của xã hội thế tục, thì tôn giáo ngày cảng phát triển Với xã hội thế lục,
khú những ưu việt của tôn giáo được phát huy sẽ góp phản thúc dây xã hội phát triển
trên nhiều phương điện chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, Nói tòm lại, khi tốn giáo dẫn thân vào cuộc đời, thể hiện tính thần nhập thế tích cực của mình thì không, chỉ tôn giáo má cả xã hội thể tục với những, phương diện của nó déu phat triển
Khai niệm này cho phép ta có thẻ khái quát những đặc trưng cơ bản của tỉnh than nhập thế trong tôn giáo như san:
Thứ nhất, tình thần nhập thẻ trong tôn giáo thuộc lĩnh vực đời sống của
con người
Thứ hai, tính thần nhập thể trong lôn giáo biểu hiện môi quan hệ giữa ton giáo và xã hội của con người Vì vậy, tình thần nhập thế trong tôn gido mang tinh
lịch sử - xã hội, gắn với sự vận động và phát triển của xã hội Nó biếu hiền trình độ
và lợi ích khác nhan của con người rong những giai đoạn lịch sử nhất định
12
Trang 20Thứ ba, những nội của tình thân nhập thể trong tôn giáo có ảnh hưởng quyết định đến định hướng các hảnh vi của mỗi cá nhân hay cộng đẳng
*Nhập thể trong Phải giáo Trong nghiên cứu “Phật giáo nhập thê - Tiếp cận tư tưởng Phật giáo nhập thé của Trần Nhân Tông” in trong cuỗn Piật giáo nhập thể và các vẫn đề xã hội đương
đại, tác giả Tại Quốc Khánh cho rằng, ở Việt Nam, từ thập niên 30 của thế kỹ XÃ,
đã xuất hiện một khải niệm có liên quan đến khái niệm “Phật giáo nhập thể” Đó la
khái niệm “Nhân gian Phật giáo” Khái niệm này xuất hiện lắn đầu trên tờ báo Duốc
Tuệ (ra mắt số đầu tiên ngày 10/12/1935) và gắn liên với loại bài của học giả kiêm tiểu thuyết gia Nguyễn Trọng Thuật, Lheo đó, “Nhân gian Phật giáo” lá đạo Phật
đóng vai trò dẫn đắt tỉnh thân với mục đích đem lại những điều có lợi cho nhân gian
[Nn then $0, tr 349]
Theo Thiên sư Thich Nhất [lạnh trong nghiên cứu Đạo Phật ấi vào cuộc đời
(1964) cho rang, “dem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thế hiện những nguyên
lý đạo Phat trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thục trạng của cuộc đời để biển cải cuộc đời theo chiều hưởng thiện, mỹ Chững nào sinh lực của đạo Thật được trông thấy dào đạt trong raọi hình thức của sự sống chứng đó ta
xmới có thể nói được rằng đạo Phật dang thật sự hiện hữu trong cuộc doi” [34, tr
41] Bán thân Thiển sư cũng đã giải thích: “Cuộc đời có nghĩa là cuộc sống hay xã
Phat là đi vào cuộc đời rồi Nếu không, đi vào cuộc đời thì đâu còn là đạo Phật nữa?
Điều này rất đề hiểu Chúng la đã học Bát Chánh Đạo,
xột giáo lý khuyên chứng ta, chí dẫn cho chủng ta đổi điện trực tiếp với khé dau ma
không phải chạy trốn khế đau Sự thật thứ nhật là sự có mặt của đan khé, va minh
chúng 1a biết rằng, Từ Đề là
phải trực liếp đối điện với đau khổ đó Vậy thì ngay trong au hình thành của Phật
13
Trang 21giảo ta đã thấy cái tỉnh chất dẫn thân rồi Vì nêu không là dẫn thân, nêu không phải
là nhân gian, nếu không phải là di vào cuộc đời, thí đạo Phật đâu còn là đạo Phật
iữa? Vậy thì lại sao đã là đạo Phật rồi mà còn phải thêm chữ dấn thân, phổi thêm:
chữ nhập thể nữa, phải thêm chữ engaged nữa? Tại vì sao? Là tại có những người
ughi ring dao Phat lá chỉ đành cho những người tu ở trong chủa thôi! Vi vậy, cho
tiên phải dùng chit engaged cho ho hiểu Khi người ta dã hiểu rồi thì mình bỏ chữ engaged di cting được, bỏ chữ dẫn thân đi cũng được” [Dẫn theo 6Ø]
Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Tỉnh thân
nhận thế của Phật giáo là tình thần gắn đạo với đời, là sự thích nghỉ của đạo Phật trước mọi biến đối, động thải mới của cuộc sống; biểu hiện bằng việc áp dụng các
tự hướng clia Phat gido dé cải biến nhân sinh, xã hội theo hướng tốt đẹp bằng nhiều
phương tiện kháo nhau
1.1.1.2 Một số nội dung tính thân nhập thê của Phật giáo
Thật giáo được hinh thành từ Ân Độ vào thể kỷ thứ VI trước Công nguyên Người sáng lập ra Phật giáo là Thái từ Siddhartha (Tất Bat Pa), con vua Suddhodama (Tinh Phan) ti vi 5ykya - một bộ tộc nhỏ ven sông Ganga (sông, Hằng), thuộc Nepan ngày nay Sau khi giácngô, người la tôn ông là Buddha hay
Sakyamuni (Thich Ca Mau Ni)
‘Thich Ca Mau Ni đã kế thừa các tư tưởng truyền thống của Ấn Dộ cễ đại
(Kinh Veds, Kinh Upanishad của Balamor giáo ) để sáng lập ra một trường phải
tôn giáo - triết học mới, trường, phải vô thân, võ ngã, nhìn thẳng vào nỗi dau nhân thé
va tim con đường giải thoát từ sự nỗ lực của bản thân con người Sinh thời, Dức Phật
không viết kinh sách, mà chỉ truyền miệng, Về sau các đệ tử thuộc nhiều thê hệ khác
nhau đã biên tập lại thành những, Kinh, Luật và Luận (gọi là Tam tạng) truyền bá lại
cho đời sau Sau khi Phật Thích Ca mắt, Phật giáo chia làm nhiều tổng phái Trong đó
mối lên mi tông phái lớn về mặt triết học: Tiêu thừa (Himayana) và Đại thừa (Mahayana) Tiểu thừa phát triển ở miền Nam Ấn Dộ và truyền sang các nước
Srilanca, Miễn điện, Thái Lan, Campmehia, Lào, Nam Việt Nam còn gọi là Phật
giáo Nam Iruyện, Phật giáo Nam tông hay Phat gido Pali (vi ghi bing tiếng Pali) Dai
14
Trang 22thừa phát triển ở miễn Bắc An và truyền qua các nước Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật
lân, Bắc Việt Nam cẻn gọi là Phật giáo lắc truyền, Phật giáo lắc tông hay Phật
giáo SanskriL (vì ghi bằng tiếng Sanskrit) Lich sử phát triển Phật giáo trấi qua thiểu giai doạn khác nhau Sau khi Phat ‘hich Ca nhập diệt đã điển ra 4 lần kiết tập để chỉnh lý thống nhất giáo lý Sau mỗi lẫn kiết tập thì nội dung của giáo lý ít nhiều có
sự thay đổi nhằm phù hợp với cơn người và môi trường xã hội mới Giáo lý Phật giáo Đao gồm hệ thông quan niệm cỏ kết câu chặt chẽ về thế giới quan và nhân sinh quan
Thả giới quan Phật giáo được phản ánh trong thuyết Duyên khỏi Duyên khỏi là nói tắt câu “Chư pháp do nhân duyên nh khởi” nghĩa lá các pháp — van vật,
bao gồm cả vật chất và tỉnh thân đêu do nhân duyên má có Nhân là nhân tổ cơ bán
để hình thành vạn vật, đuyên là điều kiện táo động làm cho nhân sinh khởi Duyên
khởi do tâm mà ra Tâm là nguồn gốc của đuyền khối và là nguồn gốc của vạm val
Phật giáo đưa ra thuyết Thập nhị nhân duyên — mười hai cái vừa là nhân via
là đuyên quyết định đến đau khố Mười hai nhân đuyên đó được sắp xếp theo chiều
thời gian: Giả chết (12) khâu cuối cùng của sinh mênh, gid do Sink (77); sinh do
Hite (10): ý muốn sinh tổn, hiện hữu, hữu do 7#ứ (9): sức bám viu, níu kéo sự
sống, hi do 47 (8) long khát khao, haru muốn, đục vọng: ái do Thu (7): cẩn giác, tỉnh cảm nây sinh do thân tâm tiếp xúc với ngoại cảnh; thụ đo Xúc (6): sự tiếp xúc
của sảu căn (các giác quan của con người) với sáu trần (những thuộc tỉnh của ngoại
giới), xúe do 7„e nhập (5): lên gọi khác của sản căn, sáu cần HẾp xúc với sâu trên
khiến cho ngoại cảnh trôi vào trong tâm thức, sáu căn cỏ dược là do J2anh sắc (4): cơ chế tâm lĩnh, hình hài hay sự hội hợp của các yêu tổ vật chất và tỉnh thản; đanh sắc lại
do 7ưức (3): ÿ thức ban sơ của thai nhỉ, thức do #iảnh (2): hoạt động mù quảng
hướng tới sự sống; hành do 1⁄6 mình (1); sự mê lầm, không sáng suốt Như vậy, đây
là cơn đường đẫn tới khả đau, luân hải được đẫn dắt và chỉ phối bởi vô mình
Từ đây, Phật giáo chủ trương vô égo gid tte không có vị thần lĩnh lỗi cao tạo
ra thể giới Quan niệm này đối lập với các quan điểm hữu thần của các tôn giáo Ấn
Độ đương thời Phật giáo đã chứng mỉnh vạn vật là đo nhân và duyên tạo thánh, nhân duyên hỏa hợp thì vạn vật sinh, nhân đuyên tan rã thì vạn vật điệt Thuyết vô
15
Trang 23tạo giả gắn liên vơi thuyết về ngổ, về thường Trong Kinh Trường +1 hàm Đúc Phật
cho rằng, “nên biết tất cá các hảnh là vô thường, biến dịch, hư hoại, không đáng,
nương tựa” |96, Iz 437] Như vậy, mọi sự vậL, hiện tượng đều võ thường, đều phải nằm trong, quả trình “sinh, trụ, dị, diệt” hay “thánh, trụ, hoại, khỏng”, không bao giờ
ổn định và luôn bị cuồn vào đông biến hóa hư ảo theo luật nhân quả Nhân nhờ
duyén mdi sinh qué, quả nhỏ duyên mà thành nhân ruồi, nhận mới thờ duyên toà
thành quá mới cứ như thể vạn vật biển đôi luân hỏi, không có nguyên nhân đầu
tiên và kết quả cuối củng Do vô thường nên mọi vật déu vd ty tinh (không có te
tỉnh, không có bản thể riêng) Không có một cái ngã ổn định tuyệt đối, lân đài ở vạn
vật Theo Phật giáo, cái ngã, “cái tôi” cũng chỉ là một tập hgp của ngữ uẫn “Phám
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái gì thuộc quá khử, hiện tại, vị lai, nội hay ngoại, thô
hay lễ, tiệL hay thắng, xe hay gần đây gợi là sắc nấu, thụ nân, tưởng uận, hành tấn, thức uẫn” [94, tr 12H]
Như vậy, thế giới quan Phật giáo mang tỉnh vô thắn, vạn vật đều tổn tại
khách quan theø quy luật nhần quả
Về nhân sinh quan Phật giáo, nội dụng tập trung trong thuyết †ứ diệu để, gồm: Khổ đề, tập để, điệt để và đạo đề Khổ để là châm lý về các nỗi khổ Phật giáo
cho rằng cuộc dời của cơn người là khổ, “Đời là bê khỏ, đời là cả những chuối bị
kịch liên tiếp, bổn phương đều là bê khổ” [49, tr 12] Tất cá mọi người đều bình đẳng với nhau về nội khổ Phàm đã là người thì đều khổ, không có sự loại trừ về dẳng cấp, xuất thân hay dân tộc Theo Đức Phật, có tám nói khế gọi là Bat khé gdm: sinh, lão, bệnh, tủ, ái biệt ly (xa những người, vật, điều mình yêu), cán tăng hội (phải gân gtti với người, vật, điều mà mình oán ghét, câu bất đắc (câu mà không được) và ngũ thụ uẫn (nghĩa là thân vá tâm phái chịu hết thắy những nổi khổ Đó là
sự kết hợp của các yếu tế sắo, thụ, tưởng, hành, thức làm cho con người phải chịu
về thân và lãm}
tiết nỗi khổ này đến nổi khổ khi
7ập để là nguyễn nhân của nỗi khổ Phật giáo cho rằng cơn người chim dim
trang bể khổ khi không thoát khỏi ñuẩn bồi Luân hồi do nghiệp tạo ra Theo Phật
giáo, trong suốt một đời người, tắt cả những hành động thiên, ác về thân thể, về lời
16
Trang 24nói, về ý nghĩ đều tạo nên nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và kết quả của nghiệp ấy gọi là nghiệp báo Khi con người chết, thân thể mắt đi nhưng nghiệp
do con người lạo ra giống như luật vô bình quay lại gặp nhân duyên lạo thành mội
sinh linh mới Sinh linh nảy phải trả quả cho những giây phút trước, kiếp trước và đồng thời lại tạo nhân cho những giây phút sau, kiếp sau cứ thế không bao giờ ngừng nghỉ, như chiếc bánh xe quay liên tục gợi là luân hồi Phật giáo nhân mạnh
nghiệp do 7/am độc là tham, sân, sỉ gây nên
“Nây các Tỷ kheo, đây là nhân sinh khổ thật sự là đi đực Ái đục là nhân làm cho chứng sinh phải sinh vào cảnh giới mới, khi ấy lại phải lỗn lộn với sự ham
snuén trong cac dé muc” [78, tr 63] Như vậy, ải đục (lòng đam mê) là nguyên nhân
chính yếu của khổ Chính lòng đam mẽ đã khiến cam người bám vín vào sự sống,
dưới mọi hình thức Từ dục dẫn đến /am Sự tham lam của con người, xúi giae cort
người hành động để thỏa mãn lòng tham của mình Sân là khi lòng tham không được thỏa mãn thì cơn người trở nên tức giận, bực tức, nỏng nảy làm cho tâm phiền
não, u bud
, khiến cơn người không có cải nhìn sảng suối, tĩnh táo, khách quan được, đó gọi là si Si theo nghĩa rộng nảy thì cũng chính là võ mình 6 minh la không sáng suối, “chứ cái Lâm ân độn, không chiếu rợi được rõ ràng sự lý của pháp
Là tên gọi khác của sỉ” |86, tr 46J Vô mình mang ý nghĩa là sự mẻ lầm, không
sáng suết, lần lộn thật giã, thực hu, không hiểu lẽ võ thường vô ngã và Lử diệu đề
nhân sâu
Như vậy, vô mình là nguyễn nhân trực tiếp của ái dục và Ta ngu)
xa của khổ Vô minh dã day con người tái sinh qua các kiếp luân hổi dễ gảnh chịu
sy tram luân không cùng của nghiệp báo Nghiệp báo luân hỏi trong Phật giáo là khai niém ding để chỉ sự chuyển sinh vô tận của đời sông
Diét dé la chân lý về sự chấm đứt các nỗi khổ Phật giáo chơ rằng, nổi khổ
của cuộc đời con người có thể châm đứt được bằng cách điệt vô rmính, khi đó tam
con người đại tới Niết bàn (Nirvana)
Niết bản, theo tiếng Phạn gồm hai phẩm: “Nir” là hình thúc phú định, không;
“Vana” có nghĩa là ái đục, là diệt Cho nên, diệt trừ được làng tham, diệt trừ được
độc sẽ liên mất, luân hồi cham ditt,
Tổng giận, oán thủ, diệt trừ được mê lam (vô múnh), đỏ là Niết bàn “Về phương,
17
Trang 25điện siêu hình, Niết bàn là hoàn toàn giải thoát ra khỏi mọi khổ dau Về phương diện tâm lý, Niết bản lá tận diệt “Tụ Ngã” Về phương điện luận lý, Niết bản là sự
tan điệL them, sản, gỉ” |77, tr 578] Như vậy, Niết bản là một trạng thái tĩnh thần
hoàn toàn thanh than, yén tinh, sang suốt, không vọng động, diệt ải dục, xóa vô minh, chấm đút mọi khô đau, phiên não
Trong kinh Phật nguyên thủy có để cập lới hai hình thức của Niết bản dõ là:
Hữu dư Niết bàn và V6 du Niết bản, Cá Hữu dư Niết bàn và Võ đư Niết bản déu dé
chỉ trạng thai tinh thân tự đo, thanh tịnh tuyệt đổi của con người Tuy nhiên, Tita dir
Tiết bản là Niết bản xét ở phương điện tương đổi Người đạt tới Hữu dư Niết bản là người đã thoát khối vòng luân hỗi nhưng thể xác vẫn còn tôn tại Mặc dù đang sống,
nhưng tam độc, mọi phiển não đã được tiêu trừ Vô đư Niết bàn 14 Niét ban hiển
trêu phương điện tuyệt đối Đó là Niết bàn chỉ đạt được khi đã chấm đứt sự tôn lại của thân xác, Diễm khác biệt của hai trạng thái nảy là ở chỗ, Niết bàn đạt được khi than thé con sống (Hữu du Niét ban) hay đã chết (Vỏ dư Niệt bản), Đây cũng là co
sở căn bàn của sụ khác biệt giữa lỗi tụ xuất ga hay tại gia, lỗi giải thoát bằng xuất thé hay nhập thể của hai dòng Phật giáo Liểu thừa và Đại thừa sau này
Đạo để là chân lý và cơn đường điệt khổ hay là phương pháp thực hiện việc
diệt khổ Con đường dó goi lá Bát chính dao (8 con dường ding) Nội dung của Bát
chính đạo gồm: ¡ Chính kiến là biểu dùng Tử điệu để; 2 Chính tr dụp là suy nghĩ
đúng với lẽ phải; 3 Chính ngữ là lời nói chắn chính, 4 Chính nghiệp là hành động,
ding dan; 5 Chính mệnh là sống chân chỉnh, ó, Chính tỉnh tấn là siêng năng rên luyện đúng đắn; 7 Chính niệm là suy nghĩ chân chính, tin tưởng chính pháp, gạt bỏ những suy nghĩ sai lầm, 8 Chat định là kiên định, tập trung tư tưởng, ngẫm nghĩ đúng đắn
Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào 7m học — ba điều cần học tập và
rèn luyện để khắc phục tam độc, gồm: Giới, Định, Tuệ Trong đó, tham được khắc phục bằng giới (chính ngữ, chỉnh nghiệp, chính mệnh); sản được khắc phục bằng,
định (chính tỉnh tấn, chính niệm, chính định), sỉ được khắc phục bằng tuệ (chính
kiến, chính Lư đuy)
18
Trang 26Ngoài ra, Phật giáo còn khuyên chúng sinh thực hanh Agi gidi (khong sat
sinh, không trộm cắp, không tả dâm, không nói đổi, không uống rượu); rên luyện
Tứ vô lượng tâm (Từ: lòng tốt, yêu thương con người, đem lại lợi ich, an Tac cho
chúng sinh, Bi: lòng xót thương chúng sinh, từ tâm lòng nảy mà cửu nạn, cửu khô
cho chủng sinh; Iỷ: lòng vui, tự mình vui củng chứng sinh khi họ làm được điều thiện; Xã: tha thứ cho người và lự mình hy sinh dễ đem lại au lạc cho chúng sinl);
thực hành Lực độ (bộ thị, trì giới, nhẫn nhục, tình tần, thiên định, trí tuệ),
Vậy là Dức Phật đã chỉ ra và muên chúng sinh biết hết mọi nổi khổ ở đời
cũng rửnr con đường giải thoát nỗi khổ, Điều này cho tháy, Phật giáo không hề trốn trảnh cuộc sống trần gian cũng như không tô hổng nó má đã dũng cắm nhìn vào
hiện thực cuộc đời cơn người, đưa ra con đường để chứng sinh đến bến bờ an lạc
Nói đến cơn đường diệt khổ để giải thoái, đạt tới Niệt bản, từ khi Phật giáo ra đời cho đến nay, đã có ba quan điểm tu tập khác nhau thuộc ba trường phái là Phật
giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiếu thừa và Phật giáo Đại thừa Phật giáo Nguyên thủy là thời Đúc Phật côn tại thế, lây tâm lâm chủ và không coi trọng hình thức bên
ngoài Niết bàn lá khi tâm hồn đạt đến cảnh an nhiên tự tại (Hữu dự Niết bản) Phật giáo Nguyên thủy lây sự giải thoái cho mọi quân chúng nhân đân làm mục đích,
không phân biệt xuất gia hay tại gia Để thực luện mục dích nảy Phật giáo Nguyên
thủy chủ trương dùng mọi phương tiện thích ứng trên mọi vẫn đẻ nhân sinh 48 din đất chúng sinh đi theo chính đạo, về với con đường tốt lành và hạnh phúc Kế thừa Phat giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thửa lại dễ cao đến những quy dịnh bên ngoài hơn là nội tâm Phật giáo Tiểu thừa chú trọng sự xuất gia, con người để giải thoát phải sống cuộc đời của người tu hành, cuộc sống tại gia không thế đem đến sự giải thoát Trong khi đỏ, Phật giáo Đại Thùa nhân mạnh rằng tất cả chúng sinh đều
đã vốn có sẵn Phật tính, ai cùng có thẻ thành Phật và được như Phật Bởi vậy, Phật
giáo Đại thừa không quả chủ trọng đến xuất gia, cư sĩ lại gĩa cũng có thể đại đến
Niết bản Phật giáo Dại thừa xem trọng sự liên hệ mật thiết với đời sống thế gian,
lấy việc giáo hóa, cứu độ chúng sinh làm lý tưởng tối cao Với phái Đại thừa, con
đường hành không bao giờ chấm đứt “Tu đến thành Phật cũng không thôi”
19
Trang 27Nhu vay, xuất phát từ quan niệm về thế giới vả nhân sinh, trên phương điện tổng thể Phật giáo để cao sự giác ngộ giữa cuộc đời, lấy việc phổ độ chúng sinh,
giúp chúng sinh vượt qua bễ khó làm mục đích và phương tiện Để thực hiện mục dích giúp chúng sinh vượt qua bẻ khé thi tinh than tu, bị, lý, xả, phụng sự cộng đồng xã hội được đặt lên trước hết Tỉnh thân này thuật ngữ hiện đại gọi đó là tỉnh thần nhập thể Tĩnh thần nhập d Phải giáo được dé cip trong kinh điển khí Đức Phật nỏi đến các phương diện kinh tế, văn hóa, giáo dục, đạo đức, từ thiệu nhân đạo, đối ngoại Dức Phật đã tùng dạy cáo Tỷ kheo “hãy du hành, vi hạnh phúc cửa quần sanh, vì an lạc cho quân sanh, vì lòng thương Lưởng cho đời, vị lợi ích, vĩ
an lạc cho chư thiên và loài người” [23, œ, 128] 1reng phạm vi nghiên cửu này,
chúng tải phân tích tỉnh thân nhập thế của Phật giáo ở một số phương điện oụ thể sau:
Thứ nhất, ũ phương điện kinh tế, Phật giáo không phân đối phát triển kinh tế, trong kinh Phật đã chỉ ra rằng, "sự thiểu thén văn minh vật chất làm cho nghèo khả phát sinh, từ trang nghèo khổ mâ trộm cắp hoảnh hành Hơn nữa giết người,
bạo lực, phỉ bảng, chữi rửa, vọng tưởng, tà kiến, phí dạo đức và những dục vọng
biến thải công từ đó phát sinh, thậm chi con dẫn đến sự leo thang của tội ác, niềm
tu tôn giáo bị phá vỡ và sự ôn định của trật tự xã hội sẽ không giữ được” [Dẫn theo 39] Để hạn chế tê nạn xã hội, diệt “dục vọng biến thải” phát triển kinh tế là một
điều tắt yếu Mục đích phát triển kinh tế trong Phật giáo không tập trung vào cả nhân mà hướng đến xã hội Phát triển kinh tế không phải để thoả mãn lỗi đa những ham muốn của con người mà dễ đem lại sự an lạc và hạnh phúc cho toàn thé hân loại, biêu hiện bằng lòng từ bị và yêu thương, Trong vẫn để kinh tế, Phật giáo
chủ trương trung đạo, tránh những cực đoan của sự nghèo nàn và sự giàu có, nghĩa
la tranh sw doi nghẻo và tham dục Bởi vị, tệ nạn xã hội một mặt đến từ đói khổ,
mặt khác cũng xuất phát từ tham dục Bên cạnh đó, đạo Phật khuyên nên làm ra của
cãi và sử dụng của cải bang con đường chân chính và lương thiện Con người lạo ra
của cải bằng chính mỏ hôi nước mắt cúa mình, tuân theo chính nghiệp Trong kinh Tàng Chỉ Bộ, Đức Phật đạy 6 tiền tài, con người nên chỉ tiêu cho 4 việc: cho
những nhu cẩu sống cơ bản, đầu tiên là thục phẩm, đừng để nuôi vợ con, lăn Lừ
20
Trang 28thiện; làm việc hữu ích: Giúp dỡ họ hàng thân thích và bạn bẻ, lo việc ma chay,
củng giỗ, cúng dường cho những bậc thánh hiển; đỏng thuế cho nhà mước Lợi xrhuận của quốc gia hay cá nhân déu nên phân thành bốn phần dé six dung: “Phan thử nhất dé chi dung, bai phan kế tiếp dễ buôn bản kinh doanh, phân thứ tư dự trữ
ở, đi lại, y lế , Một phần dùng kiến lao công dức phước báo như hồ thí, cứng,
âu tư, tái đầu br
dường, phúc lợi xã hội, viện trợ nước nghẻo ; Một phần đừng để
để mở rộng sự nghiệp, phát triển đất nước; Một phản tiết kiệm, để đành đừng,
khi cấp bách Lợi nhuận không chỉ được sử dụng chỉ riêng cho mục đích cá nhận ma
còn cho việc phát triển hướng đến mục đích từ thiện xã hội Trong kinh lăng Chí
Bộ, Đức Phật cho rằng, nha kinh doanh muén thành công cần phải: Có năng lực va
xghi lực; Có sự thận trọng; Hợp tác với những người có tải, người có tình thần xây
đựng, có phẩm chất đạo đức tốt, Cuộc sống được cân bằng Giáo lý Phật giáo nhấn mạnh năm hoạt động kinh tế cẩn ngăn chăn là: buên bán vũ khí, buôn bán rượu và
các chất kích thích, buôn bán các chất độc, buôn bản sinh vật sống, giếL hại động vật
dé buôn bán Đểng thời, hoạt động kinh tế phải đem lại lợi ích cho chính bản thân
cũng như tha nhân, không những cho con người, mà còn cho các loài sinh vật và
xmôi trường sóng xung quanh | Dẫn theo 24]
Nhìn một cách tổng quát, phát triển kinh tế theo tính thần của Phật giáo đỏ là nâng cao chất lượng cuộc sống, tính bẳn vững và sự thịnh vượng chung, Nang cao
chất lượng cuộc sống cò nghĩa là chơ phép chủng ta sống an nhiên khi các như câu
cơ bản của con người được đáp ứng Nó không dựa trên việc mưa sắm tiêu dùng cá nhân mà dựa trên việc tao ra một hệ thông phục vụ mọi người Điều nảy có nghĩa là agi người đều được giáo dục tốt, được giúp đỡ khi họ cản Tính bên vững có nghĩa
la thu nhập và tiêu đủng gắn với việc để cao sức khỏe của con người, tốn vinh, bảo
vệ thiên nhiên, khả năng của thiên nhiên để sử đụng và để đành cho các thế hệ tương lai cũng như tất cá các loài củng sử dụng Chia sé thịnh vượng có nghĩa là
khoảng cách của sự bất binh đắng trong thu nhập sẽ nhé hon, sự quan tâm đến
người khác với sự giáo ngô Theo tình thần của Phật giáo, đó là sự giảu không chỉ
21
Trang 29bên ngoài mà hơn cả là từ bên trong, bao gồm nhiều giá trị tỉnh thản chứ không phải những gì con người mua sắm và tiêu thụ
Thứ hai, ð phương diện giáo dục, đạo đức, Phật giáo không dạy luân lý cần phái theo một cäch máy rnöe thụ động mã hướng tới sự hành trị, thực hiện, không phải đề lễ bái cầu xin Có thục hiện, người hành trì mới huỏng được hạnh phúc an lạc, thiết thực ỡ hiện tại và ngay trong dời này, không phải là một cánh giới thiên đường, xa xăm tưởng tượng, Phật giáo đề cao vị trí, vai trỏ của con người, xác định
cơn người có khả năng đoạn trừ mọi khổ não, chảm đứt sinh tử luân hỏi Khi cơn
người chứng quả rồi nên giáp cho mợi người được chứng quả như mình, trong kinh Phật nói: "Thánh tựu 5 pháp này, này các Tỷ-kheo, 1ý-kheo đem lại hạnh phúc cho
minh vả đem lại hạnh phúc cho người Thả nao là 5? Ở đây này các Tỷ-kheo, Tỷ-
kheo đây đã giới hạnh và khuyến khích người khác đây đủ giới hạnh Tự mình đây
đủ thiên định và khuyến khích người khác đây đủ thiên định Tự mình đầy đủ trí tuệ
và khuyến khích người khác đầy đủ trí mệ Tu minh day đủ giải thoát và khuyến khích người khác đẩy đủ giải thoát Tự mình dẩy đủ giải thoát trí kiên và khuyến khích người khác đây đủ giải thoát trì kiến Đây di 5 phap nay, nay các Tý-kheo, TTÿ-kheo đem lại lạnh phúc cho mình và đem lại hạnh phúc cho người" [Dẫn theo 9}
Phật giáo giáo dục dao dức con người hướng tới nếp sống thiện, thanh tỉnh,
trong sạch và lánh mạnh bằng việc khuyên con người giữ ngũ giới, hành thập thiện
TĐức Phật nót: "Tham là bất thiện, sân là bất thiện, sỉ là bất thiện; vô tham là thiện,
vô sản là thiên, võ sĩ lá thiện Như vậy ba pháp là bất thiện, ba pháp lá thiện Sát sanh lả bất thiện, từ bỏ sát sanh là thiện Lấy của không cho là bất thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện Tả hạnh trong các đục là bắt thiện, từ bổ tả hạnh trong các
dục là thiện Xói láo la bất thiện, tử bố nói lào là thiện Nói hai lưỡi là bất thiện, từ
tỏ nói hai lưỡi là thiện Nói ác khẩu là bất thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện Nói lời
phù phiểm là bất thiện, từ bỏ nói lời phù phiếm là Hưện Xan tham là bất thiện, từ bô
xen tham là thiện Sân lả bật thiện, từ bỏ sản lá thiện Tà kiến la bắt thiện, từ bó tà kiên là thiện Như vay nay Vacha, mười pháp là bắt thiện, mười pháp là thiện” [Dẫn
theo 9] Đức Phật nêu 14 điều lội lỗi mà giới tại gia nên tránh, đó là 4 phiển não
22
Trang 30Giiết hại các quần sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dói, 4 trường hợp gây tốn bại: Tham dục, sân hận, sợ hãi, vô minh; 6 việc làm cho tiễn tài mỗi ngày một hao giám: Thich uống chất gi say, luan đấm: nữ sắc, ua cờ bạc, thích ngủ nhiều, thích choi boi
ngoài đường, lười nhác
Giáo lý Phật giáo khuyên con người luôn nhớ đến đạo hiểu, lây chữ hiếu làm dầu Đúc Phat day: *
aon
7ó hai hạng người, này các Tỷ kheo, Ta nói không thể
được Thể nào là hai? Mẹ và cha Nếu một bên vai cng me, nay các Tỳ kheo, niều
xnột bên vai cống cha, làm vậy suét 100 nam cho đến 100 tuổi Như vậy, nảy các Tỳ
kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đã cho re và cha Nếu đấm bóp, thoa xúc, tắm: Tửa, xoa gội, và dù tại đấy, me cha cé vai đại tiện, tiểu tiện, đủ như vậy, nảy các TY
+kheo cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ rnẹ và cha ” [95, tr 75] Phật giáo quan niệm:
“Con người không có đạo đức mới thật sự là nghéo củng”, Đạo đúc ở đây được hiểu
là bao hàm cả việc ứng xử đối với thiên nhiên và muôn loài, chứ không phải chỉ riêng với con người Phật giảo hướng tới xây dựng nếp sống hài hòa gifa con người
với con nguồi và giữa con người với thiên nhiên “Mày các TŠ-khoo, Ta không có
tranh chấp với đời, chủ có đời tranh chấp với Ta Này các Tÿ-kheo, Người nói pháp
không tranh chấp với một ái ở đời" [Dẫn theo 9] "Ta là Phật đã thành, tất cả chúng
sanh dêu có khả năng thành Phật", cầu nói của Đức Phật thể hiện sự tôn trọng quyền
bình đẳng vá khuyên cơn người thải độ hành xứ công bằng trong cuộc sống lrong,
kinh Đức Phát nói: “Bản tiện không vì sanh Plumn chỉ không vỉ sanh Do nghiệp thành bản tiện Io nghiệp thành Phạm chỉ” [Dẫn theo 81] nghĩa là cơn người trở
tiên cao quý hay thấp kém là đo ba nghiệp của họ Dên cạnh đó, Phật giáo khuyên cơn người sống hải hỏa với thiên nhiên Đức Phật khuyên con người sống “chính mạng”, ngÌữa là phải kiếm sống một cách lương thiện, đăng đắn, không làm tổn hại
cho mình, cho người và muồn loài Cùng với đó, Dức Phật đạy bão Phật tử phải gi
gới “không được sát sử” để tăng trưởng lòng từ bí
Thứ ba, ö phương điện từ thiện nhân đạo Từ thiện theo Phật giáo được hiểu
là bé thị Bế thí là hành động độ tha, xuất phát từ lòng từ bi nhằm mang lại lợi ích
cho chứng sinh, đặc biệt là cho con người Như vậy, bồ thí là biểu hiện sự Lương tác
23
Trang 31giữa Phật giáo với xã hội và là một trong những con dường nhập thế của Phật giáo
Ngoài ra, giáo lý Phật giáo cũng quan niệm cơn người cần có lỏng từ, bi, hv, x4, day
là nhân lố chủ yếu giúp phát triển tâm từ bí, hạnh cứu khổ, đưa đến việc định hưởng
mọi hoạt động, cúa Phật giào cho con người và vì con người Trone kinh Dược sư,
Tức Phật khuyên “chứng hữu tỉnh nên thắp đèn làm phan, phỏng sanh, tu phước
khiến khôi dược các lai ách, khởi gặp những tai mại" |32, tr 99, Bố thí trong Phật
giáo gồm: Tải thí (chúa sẽ, grủp đỡ về vật chất, tiên bạo), Pháp thị (trao truyền, phô
biển giáo pháp, mang Phật pháp vào đời làm lợi lạc chúng sinh, giứp xây đựng đời
sống an lạc hạnh phúc trong hiện tại và lương lai, đời này và đời sau, hơn thể nữa là dứt trừ gốc rễ, nguyên nhân những nễi khé niém dau, chim dứt luân hỏi, sinh tớ);
V6 uy thi (mang lại sự an ốn, không lo lắng, không sợ hãi cho người đang khổ não),
Vô úy thí bao gồm cả tai thi và pháp thí nhưng ý ngiữa phát triểu rộng hon Trong kinh Tương Ưng, Dức Phật day: “Cho ăn là cho lực/ Cho mặc là cho sắc/ Cho xe là cho lạc/ Cho đèn là cho mắt/ Ai cho chỗ trú xứ/ Vị ấy cho tật cả/ Ai giảng day chánh phápy/ Vì ấy cho bài tứ” [Dẫn theo 7|
Trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật dạy khi bổ thị, vật cho phải lá vật wong sạch, vật thủ điệu, vật thích mg; cách cho phối là cho đúng thời (cho người mới đến
trú xứ, cho người sắp ra dị, rời khỏi trủ xứ, cho người dau bệnh, chơ trone thời dói,
những họa quã gi mnởi gặt hải được, dành chúng đầu tiên để cúng dường các bậc giữ
giới hạnh); cho với sự cầu thận, pho luôn luôn, và tâm ý cho phải là tâm tịnh tín khi
cho, tim lưỡn hoan lý sau khi cho Phật dạy thêm rằng có năm loại bó thí xứng đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng tin, bổ thí có kính tượng; bề thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép; bố thí không làm thương tổn mình và người Ngài cũng, day về năm loại khác lả: bố thí cò lòng cung kinh; bố thí cỏ suy nghĩ, bó thí tự tay
;ninh, bề thí để không quăng bẻ; bỏ thí có suy nghĩ đến tương lai Lợi ích của bố thí
được Đức Thật dạy rằng: “Người có bồ thí, khi được lãm maột vị trời hoặc được làm: người đều vượt qua người không bổ thí trên năm phương diện, đỏ lả thọ mạng, nhan
sắc, an lạ, đanh xưng và tăng thượng” ]19, tr 351] “Có người bố thí với tâm
không mong cầu, bổ thí với lâm không Irỏi buộc, bố thí không với ý nghĩ “la sẽ
24
Trang 32thưởng thọ cái này ở đời sau”, chỉ bó thí với ý nghĩ “lành thay su bé thi” Vi ay bố thị để trang nghiêm tâm Do bé thi nhu vay, sau khi thin hoại mạng chưng, được
sinh cộng trú với chư Thiên ở gối trời Phạm chúng Khi nghiệp lực đoạn tận, thân
lực, danh tiếng và uy quyên doạn tận, vị ấy trở thánh vị Bắt lai, không trở lai trạng,
thai nay” [20, tr 455] Trong kinh Diệu pháp Liên Hoa, Phật dạy: “Nếu Thiện nam tới Thiện nữ nhơn thành tựu bốn pháp, thời sau khi Như T.ai điệt độ sẽ động kinh
"Pháp Hoa nảy: Một là được các đức Phật hộ niệm, hai là trồng các cội công đức, ba
là trong chánh định, bên là phát lòng cứu tất cả chứng san” [33, tr 570] Như vậy, theo kính này, khi con người hành thiện, làm công đức sẽ có được kinh Pháp Hoa
đề hướng dẫn tu tập và giải thoát
Thứ tr, ö phương diện đối ngoại Theo Phật giáo đổi ngoại là tạo thêm nhân
đuyên tốt đẹp với chúng sinh, mở đường cho sự giáo hóa về sau Đức Phật từng dạy
các đệ tử của mình “Hãy đi đi, đừng ái hai người cùng một hướng, hãy đi mỗi người xmột ngã, hãy truyền bá chánh pháp” [93, tr 128] Cho nên người đệ tử Phật phải
luôn tìm đến chúng sinh, kết duyên lành với chúng sinh Vậy kết duyên lành bao nhiêu là đủ? Vô lượng vô biên không cỏ giới bạn, Đỏ là lý do má Đức Phật đã dạy bến phương pháp kết đuyên lành, gọi là Tứ Nhiếp Pháp, gồm: Bỗ thí — Ái ngữ — Lợi
anh — Đông sự Nguyên tắc dâu tiên của ngoại giao là bó thí, Để thi dé tao su thién
căm, mễn mộ rồi kết duyên lành với nhau rồi mang, đạo lý đến cho nhau .Í? ngữ là khảo lếo đùng lời nói hỏn nhẽ, khéo léo an di, khuyên nhủ nói đứng sự thật, làm cho mọi người nâng cao trinh dộ hiểu biết má nền phục, để rồi từ đó họ mới theo ta cùng nhau học hỏi và tu sửa Lợi hành là làm lợi ích cho nguời bằng ý nghĩ, lời nói và hành đồng, đán thân phục vụ, khiến người sinh lòng cảm miền mà theo ta học hạnh tù, Dị, hỹ, xá Zống sự là tạo điều kiện cùng làm clrang một công việc, để
tao phương tiện sống gần gũi với mọi người nhằm giứp đỡ họ làm tốt cảng việc ay,
sau đó dan đất họ đến với Phật pháp Bằng phương phán này, bước chân của Phật
và tăng đoàn đã hiện hữu khép wing miễn Ấn Dệ, rồi lan đến các mước xung quanh,
tủy theo mỗi người, mãi nơi, mỗi thời mà phưrơng thức truyền giáo khác nhau
25
Trang 33Tóm lại, từ khi ra đời cho đến nay, Phật giáo dã trải qua hơn hai nghìn năm
trăm năm phảt triển song những quan niệm về thê giới, nhân sinh của Phật giáo vẫn
là triết lý mang tính nhân văn sâu sắc, để gao vai trò của con người với niém lin vào sức mạnh tự giải thoát của từng cả nhân Giáo pháp phải được tự mình chứng ngộ, không nên ÿ lại nơi người khác mà phải bự mình giải thoát lấy minh Như thể, con
đường giải thoát của Phật giáo không hŠ huyển hoặc, áo tưởng mnà rất thực
"Nghiệp và luận hỏi là tư tưởng, nhân văn, giúp người ta khuyến thiện tri dc, lam cho thú tính con người giảm đi Iơn nữa, Phật giáo còn là học thuyết thể hiện được tỉnh
thần bình đẳng, khát vọng về tự do, hạnh phúc và tỉnh thân nhập thế cửu đời Tỉnh thần nhập thé nay đã có ngay tử thời Dức Phật, trong những giáo lý nguyên thủy
của Phật giáo Đó là tỉnh thân hướng vào đời sống cộng đồng ở hầu hết các phương,
điện như kinh lế, giáo đục, đạo đức, Lừ thiện nhân đạo, đối ngoại, Từ đó, Phật giáo
thưởng con người đến việc tu dưỡng đạo đức, đặc biệt là khuyến thiện, đến lỗi sóng
trong sạch, giản dị, lãnh mạnh với cái tâm từ, bị, hỷ, xã
1.1.2 Tình thần nhập thể của Phật giảo Việt Nam
1.1.2.1 Quả trình du nhập và phát triển tình thần nhập thế của Phột giáo
Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam (khoảng dâu Công nguyên), nơi dâu tiền
đón nhận Phật giáo chính là đồng bằng sông Liỏng Bởi ding bằng sông Liẳng có vị trí địa lý rất quan trọng, nhiều con đường thủy, đường bộ của Việt Nam lúc bây giờ đều qua nơi dây Vị trí giao thông tiện lợi đỏ khiến cho dồng bằng sông Hỏng trở thành trưng tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của chính quyển đô hộ phương Bắc trong nhiễu thê kỹ Cho nên, vào những thể kỹ đầu Công nguyên, Luy Lau (Thuận 'Thành, Bắc Ninh thuộc đồng bằng sông Hồng hiện nay) đã trở thành một trưng tân
Thật giáo lớn Từ Luy Lâu, Phat giao lan truyền ra khắp đồng bằng sông ITỏng,
sông Mã, sông C3, góp phầu tạo cho I.uy Tâu (vùng Dâu) một phong tục tốt đẹp,
xnột nét văn hóa đặc biệt
Theo như đánh giá của cáo nhà nghiên cứu, Phật giáo đu nhập vào Việt Nam chủ yếu là Phật giáo Đại thừa Vì “thời điểm tình thành (rung lam Phật giáo Tuy
26
Trang 34Lâu rất có thể do ảnh huồng của tư trào Đại thừa giáo ở Ân Độ, bắt dâu vao thé ky thử hai trước Công nguyên, một tư trào Phật giáo rất năng động và tích cực, kết hợp xrhuẫn nhuyễn tính phòng khoáng, không cố chấp, không giáo điều với một nhiệt tỉnh truyền dạo sôi nỏi, không quản ngại gian khỏ, hy sinh” [84, tr 31] Về sau, sự truyền bá Phật giáo đến Việt Nam còn được tiếp nồi, điển ra ở cuối thời kỳ Bắc
thuộc vá cả thời kỳ độc lập, chỉ có diều hướng du nhập được thay đối Hướng Tây
nam trực tiếp từ Ấn Độ sang trong buổi đầu được thay thế bằng hưởng Bắc xuống
Các tông phái Thiển ở Trung Quốc lân lượt được đưa vào Chính việc du nhập Phật
giáo vào Việt Nam diễn ra dưới nhiều hướng khác nhau, nhiều thời điểm khác nhau, nhiều tổng phải khác nhau, đã đẻ lại dấu ấn trong các giai đoạn phát triển của Phật
giáo Việt Nam và là một trong những cơ sở tạo nên nét đặc thù của tỉnh thần nhập
thê của Phật giáo nơi đây
Thời kỳ Phật giáo mới đu nhập vào Việt Nam, tinh thần nhập thế của Phật giáo được hính thành và phát triển trên nên của tỉnh thần nhập thé Phật giáo Đại
thừa Ấn Đó, đan xen với các yếu lô của Nho giáo, Đao giáo và văn hỏa, tin ngưỡng,
bản địa má hạt nhân lá ý thức cộng đồng dân tộc, tỉnh thân yêu nước, Việt Nam dau công nguyên là địa bàn của cư dân trồng lúa nước với những tín ngưỡng nông
nghiệp là tỉa ngưỡng da thân, tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ tổ tiên Phật giáo Ân Độ
với tỉnh thần tù, bu, hy, x4 đã gặp gỡ và tích hợp với thể giới quan, nhân sinh quan
của người đân bản địa, hình Hành nêu đông Phật giáo dân gian Từ đỏ, Phật giáo tr
nên gân gũi, dáp ứng được những yêu cảu của cuộc sống hàng ngày và thực sự trở thành một chỗ dựa tỉnh thân vững chắc cho đời sống của người Việt Nam lúc đó Ông Bụt (theo cách người Việt phát âm giản lược từ Buđđha của Án Độ) mang đáng dấp biển bậu, gân gũi đã trở thành một biểu tượng từ bị, nhân hậu luôn cửu
giúp người nghèo yếu với đạo lý “ở hiển gặp lành”, nghiệp, quả báo, kiếp sau
6 ngôi chúa không chỉ thử Thật mà còn thò Mẫu theo
cầu trúc “Liên Phật hậu Mẫu” Liên cạnh đó, Việt Nam cỏ các biểu tượng vé Phat ba
như: Quan Âm Thị Kinh (Quan Âm Tổng Tử), Quan Âm Diệu Thiện (Phật bã chùa
Hương), Phật Bò nghìn mắt nghìn lay, Bà Bồ lát thậm chỉ ngay cả Đức Phật Thích
37
Trang 35Ca vến là đàn ông mà trong các bức tranh dàn gian vẫn dược hình dung như dan ba Việt Nam còn có nhiều chủa mang tên các bà như: lá Dau, Ba Dau, Ba Danh, Didu nay biểu hiện khá rõ nét sự hoà quyện giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ Mẫu
ð Việt Nam
Tín ngưỡng Tứ Pháp cũng là sự kết hợp tư tưởng Phật giáo thời kỳ đầu tại Việt Nam với lín ngưỡng nông nghiệp bản địa Tín ngưỡng này Hiể hiện ước mờ giản dị của người nông dân Việt Nam vẻ cuộc sống 4m no, sung túc, đẩy đủ Lrong,
tín ngưỡng Tứ pháp, mây, mua, sâm, chớp ban đầu là các nữ thân trong tín ngưỡng,
Việt Nam đại điện cho các hiện tượng tự nhiên có vat trỏ quan lrợng trong xã hội
néng nghiệp Bau khi Phật giáo vào Việt Nam thì nhỏm các nữ thân được Phat hoa trở thành: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Người đân Việt Nam tin tưởng các vị Phật bà này với lòng từ bị, nhân ái sẽ cho mua thuận gió hòa, cây gối xanh tươi phát triển, mùa mảng bội thu
Thật giáo trong quả trình đu nhập vào Việt Nam có cả nhữmg yêu tổ của Nho giáo và Lão giáo Đức Phật của người Việt không phải là Đúc Pha Thich Ca nguyên mẫu má đã trở thánh một vị thân, củng với ông 'Trời, có thể biển hoa khén
lường, hiện điện mọi nơi, mọi lúc, sẵn sảng ra tay cứu giúp người tốt bụng, thật thả Xuất phát từ nhụ cầu học kinh Phật của các nhà sư, Phat giao và Nhọ giảo lại càng
có mỗi quan hệ khăng khít liễu hiện ở việc Mâu Tử và Khương Lăng Liội lả người Trung Hoa cũng là người đầu tiên địch kinh điển Phật giáo từ tiếng Phạn sang tiếng, Han, vay nên muốn học kinh Phật trước tiền phải biết chữ Hán, và người ta chí cỏ thé học chữ Ilan thông qua các kinh sách Nho giáo Do đó, các nhà sư Việt Nam cũng thường là những người tỉnh thông cä Nho học
Như vậy, Phat giao thoi ky đầu thâm nhập vào Việt Mam để tìm đước chỗ
đứng vũng chắc trong lỏng cu dan ở đây đã biến đối đề thích nghỉ, sẵn sàng hợp tác
với các tín ngưỡng, tôn giáo khác một cách có chơn lọc để phái triển Đây là cơ số
để hình thành tính thân nhập thể Phật giáo của một thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đó là thời Lý - Tran
28
Trang 36Tình thân nhập thể Phật giáo thời Lý - Trần có nhiều sắc thải mới và tiến bô Phật giáo Lý _ Trần đã thể hiện trí tuệ và tù bị sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động,
đa đạng qua tư lưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui, hạnh phúc của dân tộc Phật giáo dã trở thành quốc giáo ở cả triều dại Lý và triểu dại Trần Lúc
‘bay giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ đân đều theo Phật, đến chùa quy y, giữ giới, tung kinh, Thiền dịnh vậy nên tĩnh thân an lạc, hỏa hợp và thuậu từ bao trù khắp giang sơn Ngoài ra, vac vị sư như Không Lộ, Đạo Hạnh, Minh Không, Giáo Hái,
đêu tham chinh giúp mước, góp phân øiữ vững nên độc lập đân tộc
Tính thần nhập thể của Phật giáo Việt Nam thể hiện rõ nhất ở Thiển phái 'Trúc Lâm Yên Tứ Sử sách cón chép lại: năm 1239, số tăng sĩ xuất gia trong giáo hội của Trúc Lâm đã đến trên 15.000 người, số tự viện là trên 100 Tính đến năm
1329, Pháp I.oa đã xây 5 cây bảo tháp, 2 cơ sỡ hành đạo Quỳnh Tâm và Báo Ân với trên 200 tăng đường, đúc tới 1.300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đẳng Vua Trân Anh Téng nhân ngày lên làm Thai Thượng Hoàng đã cha đúc 3 tượng đồng: Phật Di Đà, Thích Ca và Di T.ặe, mỗi tượng cao 17 thước ta Vua Anh Tông (năm 1308) đã cúng
100 mẫu ruộng, năm 1313 củng 5 vạn quan tiển để bỏ thí, sau đỏ còn củng tiếp 500 mẫu ruộng, bảo vật thờ Lự, vật liệu xây dựng chùa Báo Ân Các vương công quý Lộc
trong triéu đình cũng dua nhau cúng hiển tiên và ruộng Chủa Quỳnh Lâm có tới
1000 mẫu ruộng và 1000 tá điển [57, tr 30-31] Thực tế nảy cho thấy, triết lý về
Phật tính nơi chúng sinh được nhiều thiển sư ở thời kỳ sảy Lâm đắc Từ triết lý nảy
triển Thién học Việt Nam theo khuynh hướng nhập thé Ông hiểu sâu sắc triết lý vô
thường về thân phận cơn người Sống chết chỉ là hợp tan của Ngũ uân Muốn thoái khả, thoát khối sinh tứ, Trằn Thái Tông khuyên con người phải tu hành Theo lrần
Thái Tông, ban thé, Phat tinh tiém ấn trong bản thân mỗi người, vẫn để là phải vạch
nó ra, phải thủ tiêu vẽ mảnh, vợng niêm để phái hiện bản lai điện mục |9?, tr 73-
29
Trang 37?4J Vi thể, tỉnh thân nhập thé trong Phat giáo của Trân Thái Tông coi việc hoàn thiện cải tâm và cứu khổ trong tâm mỗi cả nhân con người là vẫn để cốt lối Ông có
khái mềm “Hoại Phật” (Phật sống), tức là người thành Phật khi còn tồn tạt trorgr thể
giới hiện hữu nảy “Phat than tue nga than thị, võ hữa nhị thóng” (Thân Phật túc thân ta, không có hai tướng) [31, tr 208] Quan niệm về con người và cuộc đời con người của Trần Thai Tông chính là sự cụ thể hỏa tinh (ham nhập thế của Phật giáo trong điều kiện xã hội lúc bây giờ
Với Trân Nhân Tông (1258 - 1308), sinh tử chỉ tính chất vô thường huyển äo của thẻ giới hiện tượng, nhưng bản chất của nó là hy không, chẳng sinh, chẳng điệt, chẳng đi, chẳng đến, không đầu không cuối, vỏ thủy, võ chưng, Sinh tử là tính cách
vô thường ngắn ngủi của cuộc đời con người, nó như “hơi thở qua buông phổi”,
“Than người như hơi thổ trong 1uũi khủ hỗ hấp/ Cuộu đời nhự đám rnây bay theo gid ngoài núi xa/ Chim quyên kêu đã bao ngày tháng/ Chớ để luống qua mủa xuân một cách tâm thường” (Thân như hô hắp ty trung khi/ Thẻ tự phong hành lĩnh ngoại vân
Đỗ quyên dễ đoạn nguyệt như Irú/ Bất ti tâm thường không quả xuân) [97, tr 255]
Vi thế, Trần Nhân Tông cho ring, con người không thể tránh khói sinh tứ và vòng, nhân quả, mà ngược lại phải ở ngay trong sinh tử để thâu suốt bản tính của nó, để
nhận ra không si, không tử Đối với ông, sống chết không phải là chuyện tản
pháo má trước cuộc đời ngắn ngứi cân phải sống hết minh cho đời, cho đạo: “Sống, xuả không giúp Ích gì cho đời là điều đáng then của kẻ trượng phư Gió tuyết trước dầu ngựa, người lại trở vé/ Non sông day trong day mắt, hãy đừng ngựa lại chốc lát” (Sinh vô bồ thế trượng phu tàm/ Mã đầu phong tuyết trùng hỏi thủ/ Nhãn để
giang san thiểu trụ tham) [97, tr 477]
Tình thần nhập thể trong triết học Phật giáo của Trần Nhân Tông đổi khi có
sự ảnh hưởng quan niệm của Nho giáo Nhiều lân ông tán thanh quan điểm về kế
trượng phú của Mạnh Từ và chủ rằng sóng mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng hỗ thẹn của kẻ trượng phú Lắm trai quyết trả nợ non nước, phải để lại gi cho
núi sông Chính quan niệm này của Trần Nhân Tông đã tạo ra một đấu ăn riêng cho
tỉnh thân nhập thế cũa Phật giáo Việt Nam - yêu nuớc, gắn liền với dân tộc, với đậL
30
Trang 38nước Ông cho rằng Phật tại tâm, Đụt ở trong bản thân mỗi người, không phải tìm ở đâu xa Do bị bui tran che phú nên con người không nhận ra “tính sáng” của tâm,
Tiểu “coi lông trong sạch” thì đã chính là Tí độ, TH đã, Cực lạc Muôn được giác
ngộ, con người không cân phải cầu tìm ở dâu xa xôi mả chỉ càn trở về với tỉnh sảng, của tm “But 4 trong nhà/Chẳng phải tìm xa/ Nhân khuây bản nén ta tim But/ Dén
andi hay But chink 14 ta” (85, tr 506) Quan niệm tửnr vậy sau khi xuất gia
'Trằn Nhân Tông, đã thực hiện nếp sống đạo hạnh, gián dị, trong sảng, khỏ tin thây
ở một ông vua não khác Với tảm lòng yêu thương chúng sinh vô hạn, ông đã chỉ ra
ï ra cho họ lại sao bị lạc đường, để
cái gốc trong mỗi cơn người, sau đỏ ông lại chí
cho họ trở về gốc, trở về với chính bản thân minh Nhân Tông đã thực hiện đứng
cơn đường mà các Phật tế trước kia đã làm, đó là xuất gia tu hạnh Đâu Đà Ông đã
từ bỗ địa vị cao gang, phú quý, sống muột cuộc đời Hưanh tịnh, theo nếp sống thiện của nhà Phật Những gi mà Trần Nhân Tổng đã thực hiện đối với bản thân va cho nhân dân, cho thấy khát vọng lớn lao của ông thực sự muốn xây đựng xã hội Việt Nam lây dạo đức Phật giáo làm nền tầng
Khắc phục những hạn chế trong quan niệm về con người và cuộc đổi con người của các bậc cha ông, tiên bối đã trước, Phật hoàng Trân Nhân Tông đã đưa Lư
tưởng Phật giáo Việt Nam thoi ky nay phát hiển lên dùnh cao hoàn thiện, gắn dạo
với đời và sáng lập ra thiên phải Phật giáo riêng cho Việt Nam đỏ là Trủe Lâm Yên
Tử Tĩnh than nhập thê ong Phật giáo của ông, ngoài yếu tố Phật giáo là trụ gội còn có yếu tố của Nho giáo tiến bộ kết hợp với tư tưởng yêu nước truyền thống Chính tư tưởng yêu nước truyền thông củng với những yêu tổ Nho giáo tiến bộ đã góp phân làm cho tỉnh thân nhập thể trang Phật giáo của Trân Khân Tông nhập thể tich cực hơn “°tư tưởng của Trần Nhân Tổng là một thể hiện nhất quân của đạo vả
đời, xuất thế và nhập thể Vì vậy, tình thân của thién học Trúc Lâm là một thiên hạc
Trang 39vụ cho đất nước, dân tộc, những người gắn mình và có ân nghĩa trong cuộc sông
cách một nhà chính trị tài ba, vừa có phong độ cửa mội uền sư siêu phảm thoái lục,
quên minh phụng sự chúng sanh, cho dủ sống trong nhung lụa vẫn không bị phủ
hoa cám đỗ Khi đât nước cân các ngài sẵn sang cằm gươm, xông pha trận mạc, cứu
đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm, khi hòa bình các ngài để xuất những chinh sách đứng đấn xây dựng đất nước khiến chính trị ổn định, quân sự vững chắc, van học được khỏi sắc, giáo dục được cũng cổ, kinh tế phát triển
Từ những năm dầu thể kỹ XV, củng với sự xác lập của triều đình phong, kiến nha Hậu Lê, Phật giảo không còn lá tôn giảo giữ vai trò hệ tư tướng chủ đạo
trong xã hội, không được trong dung trong triểu đình nhưng không vì thể mã tình than nhập thẻ của Phật giáo giảm di Phật giảo Việt Nam vẫn lan toả trong tầng lớp
bình dân và những làng qué, gắn bỏ mật thiết với đời sống của phản lớn nhân dân
Việt Nam lúc bà giờ Của chùa đã giúp người dân vơi đi nỗi đau nhân thế, vượi
qua dược khó khăn, trắc trở của cuộc sống và an ti người đân hãy sống thiện sẽ được hạnh phúc Dỗi với người dân Việt Nam, tỉnh thắn nhập thẻ không phải chỉ là triết lý ma quan trong hơn là hành vi mang tính thiện Họ tỉn rằng sống thiện sẽ
được bình an, đặc biệt là bình an trong tâm Một tâm hỗn bình an và hạnh phúc
cũng chính là sống một đời đạo hạnh Cử như thế, các quan niệm của Phật giáo Việt
Nam đã chuyển thành luân lý đạo đức của xã hội mà từ, bị, hỹ, xã, cứu khổ, cứu nạn:
là bạt nhân, chứng sinh có thể làm được Đối với tâng lớp trí thức nhà liậu Lễ, nhất
là vua quan phong kiến, mặc đủ hệ tư tưởng Nho giáo đẫn thắng trị đời sống tỉnh
thần, song Linh than nhập thể của Phật giáo vẫn có ảnh hưởng ít nhiều Lê Thánh
32
Trang 40Tông lá một ong vua được tiếng nhân từ, thương yêu dân chúng như con mình
chính là nhở ảnh hướng tính thân từ bị của đạo Phật Tác phẩm “7hập giới cô hồn
quắc ngữ văn” của ông phân ảnh tình thương của nhỏ vua với mọi giới trong xã hội
Đến thời Thiệu Trị đã có phan nang dé Phật giao, cho xây chủa, tô tượng,
đúc chuông, làm thơ ca tụng Phật giáo Dưới thời Minh Mạng nhiều chủa được xây
đựng, sửa chữa, nhiều tăng sư được cấp giới đạo va dé diệp Trong triểu Nguyễn,
nhiều chủa được trùng tu vả xây mới [S8, tr 72] Chứa Nguyễn Phúc Chu (1675- 1725) là một Phật tử pháp danh [lung Leng, sòn có hiệu là Thiên Túng Dạo Nhân
đã chủ ương lấy tính thân Phật pháp định hướng cho đời sống tinh (han cia dan tộc Chủa Nguyễn Phúc Chu đã cho xây dụng và trùng tu nhiêu ngồi danh lam tại
Thuận Hóa như trùng tu chùa Thủy Vân, chủa Lảnh Mu Sai người sang Trưng
Quốc thỉnh bộ Đại tạng kinh, xây Tảng kinh lầu để bảo quân Dưới triều Nguyễn, Phật giáo Việt Nam nhận được sự ủng hộ của triểu định, của đa phản các vua chúa
và quan lại Tỉnh thân nhập thê của Phật giáo thời kỳ nảy được các nhà sư cũng như
các chủa Nguyễn lích cực vận đụng trong việc dem giáo lý, lư tưởng Phật pháp
truyền bả rộng rãi trong toàn thể nhân dân,
Vào thời kỳ cận - hiện đại, dân tộc Việt Nam sống dưới ách đô hộ cửa thục
dân Pháp và để quốc Mỹ, Dưới ngọn cờ thập tự chính Thiên Chúa giảo, thực dân
Pháp đã xâm lược đàn áp đân tộc Việt Nam, chèn ép Phật giáo Việt Nam Phát huy
truyền thông nhập thế thời lý - Trân, Phật giáo Việt Nam lại đồng hành cũng dân tộc trong cuộc chiến tranh giải phỏng đất nước, xây dựng xã hội tốt dẹp cho nhân đân Chẳng hạn như: tư tưởng Niẩn gian Phật giáo trong phong trào chân hung Thật giáo điễn ra ở miễn Bắc vào những năm nửa đâu của thể kỹ 5X do hòa thượng, Trí Hải củng cộng sự là cư sĩ Nguyễn Hữu Kha (Thiểu Chứu) thực hiện đã phác
thảo một “quốc độ Phật giáo” song song bên cạnh một xã hội thực tế “Quc độ
Thật giáo” này có các đơn vị hành chính, các cơ quan đoàn thể chúa theo lửa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có kinh tế tự túc tự cấp, không giai cấp, không tệ nạn, mọi người đều phát tâm tu thiện làm lành, lãnh áo, từ bi cứu khổ Không đừng lại ở mặt
lý biậu, các nhà côi cách Phật giáo ô thời kỳ nảy đã bãi tay vào vận động và thực
33