Tuy nhiên, khi khảo sát những, righiên cứu về “tính lai ghép” trong văn học Việt Nam, một vấn đề khách quan chủng †a cân nhin nhận, đó là mới chỉ có một số lượng ít các bài viết tập tam
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NOL
TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN
Trang 2
ĐẠI HỌC QUOC GIA IIA NOT
DANG THI VAN ANH
THO TRAO PHUNG CUA TRAN TE XUONG NHÌN TỪ SỰ TIẾP XÚC VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 6ll 22 (01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: 15 Dỗ Thu Hiền
Hà Nội —2018
Trang 3TỜI CẮM ƠN
Dé hoàn thành luận văn này, tôi xin bảy tổ lòng kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc Lới T8 Đỗ Thu Hiển, người hướng đẫn khoa học đã lận Linh chỉ đẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quả trinh nghiên cửu và thực hiện luận văn
Tôi xin bảy tổ sự biết ơn chan thành tới Ban giảm hiệu, tập thể giảng viền,
cán bộ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn dã giúp dỡ, góp ý, lư vẫn và
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cửu và học tập tại trường
Tôi xin trì ân sự động viên, khích lệ vả ủng hộ của gia đình, người thân, bạn
‘be va dang nghiệp đã giúp tôi yên tâm và có thêm động lực để hoàn thành luận văn
(là Nội, ngày thẳng HẰm
'Học viên cao học
Dang Thị Vân Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Dặng Thị Vân Anh, học viên cao học lớp QHI K 2016 2018, Khoa Văn học, Đại họo Khoa học Xã lội và Nhân Văn, Đại học Quốc giá Hà Nội Tôi
xin cam doan luận văn này là công trinh nghiên cửu cá nhân đưới sự hưởng, dẫn
khoa học của T5 Dỗ Thu Hiển, hiện lả giảng viên khoa Văn học, Dại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn là sự trưng thực, không
sao chép ở bắt cử công trình nào khác, Vị vậy, tôi xin chịu hoản toàn trách nhiệm
trước cam kết cá nhân
Hà Nội, ngày tháng nắm
Trang 5MUC LUC
1 Lý do chơn dễ tải và mụe dích nghiên cửu oc co 1
4 Phương pháp nghiên cứu ăn re reererrerre T
Chương 1: THỜI ĐẠI, TÁC GIÁ VA CÁC VĂN ĐÊ I.Ý THUYẾT 9
1.1.1 Vài nét thời đại và tiểu sữ tác giá Trần TẾ Xương 9
1.2.3, Thơ trào phủng và một số khái niệm thuậc phạm trù mộ học: cái bài cải bị
1.2.3 Về khái niệm “ lai ghép” trong lý tụt hậu thục dân của ! lomi Hhabbha
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Ý THỨC VỆ “CẢI KHÁC” (THE OTHER) VA CHU DE, DE TAT
TRONG THƠ TRẢO PIHÚNG CỦA TRẲN TẾ XƯƠNG 23
2.1 Những yến tế phi truyền thống trong hệ thống chủ dé, dé tai trong tho
2.1.1 Búc tranh sinh động về xã hội nữa thực đân nữa phong kién
3.1.3 Tú Xương: “Khi cười, ki khúc, lầu Hưm thờ”
3.2 So sánh “cải khác” (the other) trong hệ thống chú dễ, dé tai trong thơ
Trang 6311.1, Nhân vật quan lại,
4.1 “Tỉnh tiên nghiệm” trong lý thuyết hậu thực dân của Homi Bhabha 69
4.2 “Tính tiên nghiệm” trong thơ trảo phúng Trần Tế Xương 72
Trang 7MO PAU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Xu hướng Loin cau hoa cho đến ngày nay ngày cảng diễn ra sôi động trên hầu hế
„mọi mặt của dời sông xã hội Trong rất nhiều lĩnh vục mà toàn cầu hoá tác động và chỉ
phối, chủng 1a không thế không nhắc đền lĩnh vục văn học Trong đó, sự ảnh hưởng
được thể hiện ở nhiều mặt, như việc tiếp nhận lý thuyết văn học nước ngoài, một công việc luôn có ý nghửa quan trọng đối với việc xây dụng nên ly luận, phẻ bình văn học của
xrọi quốc gia, trong đồ có Việt Nam Cho nên, việc rhân thức và ứng đụng lý thuyết văn
học của phương Tây để nghiên cứu, phê bình văn học là công việc hết sức cần thiết Do
đó, trong để tải nảy, chúng tôi chủ trương đựa vào lý thuyết hậu thực dân của llomi Bhabha mà cụ thể vả tập trưng hon cá là lý thuyết về “lai ghép”, một khái niệm được đề cập khả nhiều ở Việt Nam trong những năm gản dây Tuy nhiên, khi khảo sát những, righiên cứu về “tính lai ghép” trong văn học Việt Nam, một vấn đề khách quan chủng †a cân nhin nhận, đó là mới chỉ có một số lượng ít các bài viết tập tam để cập tới lý thuyết này cũng như chí có một số it tác phẩm của các nhả văn, nhả thơ có thể vận dụng được lý
thuyết ây khi phân tích: Dó cũng chính là lý đo chúng tôi lựa chọn “Thơ trào phứng của
Trần Tế Xương” là trường hợp cụ thể để phân tích trong để lài này
Vào những năm tám mươi của thể kỉ trước, cộng dẳng nghiên cửu lịch sử
Việt Nam đã có sự đồng thuận trong việc xác định lại những móc phân kì quan trụng của lịch sử văn học Thời điểm những năm “bản lễ” giữa hai thể kỉ XIX — XX: lại trở thành cột mốc quan trọng nhất cỏ ý nghĩa phân chia hai thoi dại lớn trong,
lịch sử văn học dân tộc Xét ở một góc độ khác, từ thưc tế lịch sử, đây cfing là giai
đoạn “quốc biển” của Việt Nam khi phải chịu sự xâm lăng của thục dân Phúp va
rộng hơn sự va chạm đỏ lá “sự đụng độ giữa hai thế lực, hai thực thể thế giới được
ude 18 gọi là phương Dễng và phương Tây” mà sau đó, khẳng chỉ Việt Nam mà các
nước trong khu vực Đông Nam A cũng lần lượt chuyển hưởng vân động, phát triển tạo ra những cuộc biển thiên trong lịch sử, làm thay đổi cá “hệ hình xã hội” và kéo theo là sự thay đối của “hệ hình văn học” Từ đỏ sinh ra một loạt những tin hiệu về
“gái khác”, “cái mới” trong, rối Hên hệ và ràng buộc với “cái cũ”.
Trang 8La tac gia quá dò giữa thời ki mang tính “bản lễ” ấy nghiền cứu thơ Tran Tế Xương nói chung và thơ trảo phúng nói riêng “bao hàm rất nhiều những vẫn dé ca
n học” Chính cái “chất thi din”
từ góc nhìn lý hiận văn học, gã từ cái nhấn lịch sử vị
va tu thé “dt chan lên hai con thuyền di ngược chiêu nhau” lúc bẫy giờ của Trần Tế Xương là những yếu tổ khiến nhà thơ thành Nam nảy (mét cách không hê khiên
cưỡng) trở thành "lân thời nhâu vật”, thành “cơn người phong vận, ở chốn thị
thành”, hành xử đậm chất “trai phố” trong văn chương buổi giao thời Chính điều
nảy cũng đã tạo ra không ít ồn ảo trong các nghiên cứu, phê bình trước đó Tiới vậy,
theo chúng tôi, nghiên cứu về thơ Trần Tế Xương, một trong những nhà thơ có vị trí
“mắt lưới” như thể chắc chắn sẽ đem tới những hiểu biết và giả trị quan trọng không
chỉ trong văn học mà côn một phần nảo đỏ về lich sử - văn hóa — xã hội thời điểm
bấy giữ
Ngoài ra, chúng tôi cũng xác định đổi tượng chính và xuyên suốt trong đẻ tài
xảy là mảng thơ trào phúng của Trân Tế Xương Mâng thơ mà nói như Trần Ngọc
Vương trong Sáng tác của Trấn TẾ Xương trong tiễn trình hiện dại hóa của vẫn học
Việt Nam “Bao trừn lên toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Trin Tế Xương là hệ
van đề của một khuynh hướng vẫn học đặc thủ, tay đã mamh nha tù nhiều thé ky trước nhưng chỉ mới dặc Diệt “tầng trưởng” trong thời quả dộ và giao thoa Đóng —
‘Tay ð Việt Nam vào cudi thé ky XIX đầu thế ký XX hệ vấn để của dòng văn
học ráo phúng” |32, tr.31 | Đây cũng là mảng thơ văn mà trong dé cae sáng tác của
ông đêu khéng “gam hoa, son phan”, chi yéu di thing vào cuộc dời với những cái
“sản sùi”, “xù xì” của no Cũng chính quan điểm đó đã mang đến kiểu sáng tác mang tính chất hiện thực chủ nghĩa, mả sau này ching ta vẫn thường định đanh là
“văn học hiện thực phê phản” Với gió trị và vai trỏ quan trọng như vậy, đây cũng lả
xnột trong những “lý do chọn đẻ tài” của chúng tôi khi tiếp cận nội đung này
Với tính thân xuất phát điểm như trên, chúng tôi tú vọng rằng để tài này, một
để tài hấp dẫn song còn khả nhiều mới lạ có thể làm sáng tố và rõ rảng hơn các nội
đụng về thơ trảo phúng Tủ Xương như chủ đề, để tài, hệ thống nhân vật cùng những,
đặc điểm về thí phúp như kết cần, ngôn ngũ, mang tin hiệu của tiếp xúc vẫn hóa
Trang 9Đông — Tây, Đẳng thời, qua dó cũng có thể dưa ra nhiều luận diễm hữu ích trong việc lấy dẫn chứng phân tích lý thuyết "lai ghép” trong lý thuyết hậu thực dân của THơmi Bhabha Chúng tôi thiết nghữ, điều này cũng một phân nào đó giúp độc giả có thêm một cải “ngoái nhìn” vẻ những biến thiên một thời của lịch sứ, bên cạnh đó cũng giúp định vị đồng thời tái khẳng định vai trỏ và những giá trị thơ văn quan trọng của nhà thơ Tran Tế Xương trong lịch sử văn học Việt Nam
2 Tịch sử vấn dé
21 Lễ tác giả Trần TẾ Xương và thơ trào phủng Trân TẾ Xương
Trong các công trình về lịch sử văn học Việt Nam, Trân Tế Xương (1871 — 1907) tên thật lá Trằn Duy Lyên, quen gọi là Tủ Xương, tự lá Mặc Trai vẫn luôn được coi là một nhà thơ lớn với nhiều đóng góp thơ văn có giá trị Các sáng tác của
ông kể từ khi xuất hiên đến nay ngày càng được độc giả các thế hệ quan lâm, thưởng thức và phẩm bình Thơ Tú Xương không chỉ có phản trữ tỉnh, đau thương, xót xa trước những cảnh nghẻo túng bản củng trong thời cuộc mắt nước mả ông
còn “làm bạn thơ” cùng độc giã với tư cách lả một nhá thơ trào phúng với nhiều câu thơ, chủm thơ có tính nghịch cảnh, nghịch lý, gây cười Lế dĩ nhiên, không thể phú
nhận những đông góp rải lớn của ông ở mắng thơ trữ tình nhưng cái làm quân
clrảng nhớ tới tên tuổi ông nhiều hơn vẫn là với tư cách nhà thơ trảo phúng,
Dén nay độc giả đương thời cũng đã cùng thơ trào phùng Tủ Xương bước sang thé kỹ XXT nhưng thơ Tủ Xương và những “tiếng cười trào phúng” của thời đại ông, thể
Ÿ của ông vẫn được báo tồn và yêu mến bởi nhiều thể hệ người dọc, người nghiên cửu Qua quá trình tổng hợp, chúng tôi nhận thầy có hai hướng nghiên cứu chính liên quan đến để tài luận văn:
Hưởng thử nhất, bao gồm những công trình nghiên cứu đề cập đến tiêu sứ
cuộc đời, sự nghiệp của Tú Xương như: Công tình Tú Xương — Tho, lời bình và giải thoại của lác giã Mai Hương tập hợp được khả nhiều bài the táo phúng của Tủ
Xương, số bài viết liên quan đến tiểu sử cuộc đời của nhả thơ Trong đó có bài viết
“Tú Xương, nhả thơ lớn của đân tộc” của Nguyễn Đình Chú nói đến cuộc đời, sự
nghiệp của Tú ương cùng như tập hợp lại một số đánh giá của các nhà nghiên gứu,
Trang 10nhà phê bình vẻ Tủ Xương như Trần Thanh Mại gọi Tủ Xương là “nhà thơ thiên
tài”, Nguyễn Công Loan tôn Tú Xương là "bậc thần thơ thánh chữ”, Dặng Thai Mai khen Tú Xương là "một thấy Tú cũng biết cười” cạnh “một ông Nghệ thích cười”
(Yên Đỗ Nguyễn Khuyến), Nguyễn Tuân ca tụng Tú Xương là “một người thơ, một nhà tho vén nhiều công đúc trong công cuộc trưởng kỳ xây đựng tiếng nói văn
học của dân tộc Việt Nam, Xuân Diệu xếp hạng Tủ Xương thứ năm sau “ba thị hào
dân tộc” (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương) và Đoàn Thị Điểm”, Cuốn
Trồng dòng sông Ƒ¡ của Trân Thanh Mại đề cập đền một phân đời của nhà thơ Tú
Xương với những tiếng than thờ đan đớn của một kẻ thất thời Những điều đó được ông nói ra bằng giọng trào phủng khỏi hai như để nhạo bang ban thân minh hay dé
che lắp về thám thiết, ảo não của một tâm hồn đau đớn,
Hướng thứ hai bao gồm các công trình nghiên gứa về nội đừng, nghệ thuật qua thơ văn tự trào của Tủ Xương, ít nhiều đề cập đến các nội dung biểu hiện những
“va cham van hỏa Đông — Tây" mà luận văn của chủng tôi muốn làm sáng tổ như
Trân TẾ Xương - về tác giả và tác phẩm lập hợp nhiều bài viết liên quan đến nội
dung tho ty trảo của Tủ Xương, Trong đó, bái viết “Bức tranh xã hội trong thơ Tủ Xương” của Nguyễn T.ộc có phân tích và đồng góp một cát nhìn toàn cảnh về hiện
thực xã hỏi xuống cấp Việt Nam những năm cuối thê ky XIX dau thé ky KX hay
xnột số công trinh nghiên cửu, khảo cửu quan trọng và ý nghĩa khác như 7Yông dòng
sống Vị (1935) của Trần Thanh Mại, Thân thế và thơ văn Tú Xương (1951) của Vũ Đăng Vân, 70 Xương, con người và nhá thơ (1961) của Trân Thanh Mại, Trần
Tuần Lộ, Tho Trdn Té Xwong (1970) của Xuân Diệu, Tú Xương nhà tho lớn của
dan téc (1984) của Nguyễn Định Chủ, ruận để về Trấn Tổ Xương (1960) của
Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong hay mới đây nhất, năm 2017, tác giá Trân Thị Hoa
Lê củ cho ra mắt cuỗn Văn học trào nhúng Việt Nam thời trung đại Trong đỏ, tác
giả không chỉ giới thuyết mội cách kỹ lưỡng và cần trọng những khái riệm, thuật ngữ quen thuộc trong nghiên cửu ở nước ta má còn mở rộng tim hiểu những thuật
ngữ đó trên thể giới, từ đó chỉ ra nhiều nét tượng đẳng, dị biệt củng nhiều công
âu hết các tác phẩm đó đều lá những phác họa trình nghiên cứu khác Xét Lng thi
Trang 11sinh động về cuộc đời và thơ văn của Trân Tế Xương cùng những lời bình, đánh giá sâu sắc Tuy nhiên, các tác phẩm đỏ không phải giúp “đọc hệ” độc giá mà chí góp phân giúp người đọc hiểu hơn về cơn người, sự nghiệp văn chương và các giá lrị thơ văn của Trân Iế Xương, từ dỏ thêm tran trong cải hay, cái dẹp trong nổi niêm
và tâm tình của một nhà thơ nặng lòng với nhân tình thế thái
32 Vễ sự tiếp xúc văn hỏa Đông — Tây trang thơ trào phủng của Trần TẾ Xương
"Trước hết, phải nói rằng, sự tiếp xúe văn hóa Đông Tây trơng thơ trào
'phưng của Trần Tế Xương, theo chúng tôi, đó không, chí biếu hiện ở sự xuất hiện và
đối sánh giữa những “cái khác”, “cải mới” với “cải cũ” trong nhân quan của rhà thơ sông Vị má sâu xa hơn, nó cón thể hiện ÿ thức về tỉnh dân tộc của con người nhà nho với tính hiện đại của con người thị đân nhập cuộc tư sản hóa Chúng tôi cha
vắng, về điều này thật không khó để nhậu ra khi trếp cận và nghiên cứu một cách tập
trung, nghiêm túc các sáng tác của Tú Xương, Dây cũng là một đê tải vô cùng thú vị
và đặc sắc, trở thành đối tượng cho nhiéu bai nghiên cứu, phê bình có giá trị Tuy
nhiên, do d kiện lỉn hiểu có hạn, chúng tôi chỉ xm trích đâm ra một số công trình
tiêu biểu như Sáng tác của Trân TẾ Vương trong tiến trình hiện đại hóa của văn học
Điệt Nưn của Trần Ngọc Vương (với sự hợp tác của Nguyễn Thị Hòa Bình), 7ú
Xương toàn tập (2010) của Đoàn Hồng Nguyên là những nhận định, đánh giá vẻ thơ
'Irần lế Xương trong quá trinh hiện đại hóa văn học, tác giá Dậu Thị Thường với bả việt Yếu tố phả truyền thống trong thơ Trần TẾ Xương (2010) với những luận điểm chỉnh thể hiện những nhìn nhận, dành giá về Tủ Xương trong mạch văn học trung dại
và những nét mới của thơ Tú Xương so với văn học truyền thống, Hệ thống trào phúng của Trần Tả Xương (195?) của Nguyễn Sỹ Tê là những lời bản và so sánh về 'Tủ Xương và các tác giả củng thời Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết, bài nghiên
cứm khác có nội đụng Hên quan mà độc giả chỉ cần tra cứu các khái niệm, từ khóa
như: “thơ trào phúng của Tủ Xương ”, “những cách tân, đối mới trong ruyôn rgíf ”, “tính đân tộc trong thơ Lrần Tế Xương ”, thì sẽ thấy xuất hiện bảng loạt các
bài viết, nghiên cứu có nội dung với tính đa đạng khác nhau Mặt khác, chúng tôi
whan thay ring, ngoài những tác phẩm, sẵn phẩm nghiên cửu có hệ thống lý luận clưmi
Trang 12chuốt, chất ché, mach lac ké trén thi hau như những nội dung đặt ra trong đẻ tài luận
văn này mới chí dùng lại ở những phân tích mang tink cảm nhận chủ quan hoặc ở xuột khía cạnh nào đỗ mà ít có bài nghiên cứu nào có hệ thống rõ ràng hoặc được soi
sảng bởi một hê thông lý thuyết thực sự nhất định Vì vậy với dẻ tải nảy, bằng, việc vận dụng những lý thuyết (khách quan mà nói chỉ mới đang din da được tiếp cận đối
với nghiên cứu và phê bình văn học Việt Ngra như lý thuyết hậu thực dân, .), chứng,
tôi tỉa rằng sẽ mang lại một cách phân tích mới mẻ và phần nào đỏ chỉ tiết, kĩ cảng,
hơn về các nội dưng được đề cập ở trên trong thơ trào phúng của Trân Tẻ Xương
3, Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
31 Đối tợng nghiên cứu
Đổ tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu những biểu hiện của sự tiếp xúc
văn hóa Đông — Tây hay uôi cách khác là mang tính “lại ghép” (khái mệm thuộc lý
thuyết hậu thực đân của Ilomi Bhabha) trong thơ trào phúng của Trân Tế Xương Trong đỏ, những ý niệm về “cai khac” (the other) trong chủ để, để tải, hệ thống
nhân vật, và câu hồi “có hay không “tính tiêu nghiệm” và “sự phẩm kháng trang ý
thức hệ” (2) chinh là những nội đụng mà chúng tôi muốn lâm sáng tỏ và nhân mạnh
trong nội dụng của luận vẫn này
(010) của Đoàn Hồng Nguyễn, 7 Xương con người và nhà thơ (1961) của Trân Thanh Mai, Trần Tuân Lộ Dây cũng được coi là hai trang số ít những tập thơ có sự
tập hợp day đã các don vị tác phẩm cho tới thời điểm hiện lại sau khi khép lại giai đoạn được định danh là “bước đầu sưu tâm vá giới thiệu” thơ văn lrần Tế Xương
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Dé tim hiểu và nghiên cửu để tải này, chúng tôi sứ dụng hai nhém phương pháp
Trong đó, phương pháp chính là phương pháp phân tích — lổng hợp dựa trên sự vận
dụng một cách chọn lọc, khách quan lý thuyết vẻ “tính lai ghép” dược dễ cập trong lý thuyết hậu thực dân của Ilomi Bhabha đề “chất lọc” ra những đặc điểm rõ nhất thể hiện
tưng liếp xúc văn hóa Đông - Tây trong các lác phản thơ trào phúng của nhà thờ thành Nam Tủ Xương, Song song với đỏ, để đạt được những mục đích nghiên cứu đặt
7a trone để tài, chúng tôi cũng vận đựng một sẻ phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác
thir phuong phap thống kế, phương pháp tiểu sử, phương phúp lịch sử - xã hội,
phương pháp so sánh đổi chiếu, phương pháp tiếp cận thì pháp học,
5 Một sé đong gúp của luận văn
Nghiên cứu và phê bình về Trần TẾ Xương, các lác phẩm thơ của ông nói
chung và thơ trảo phúng nói riêng, như chúng tôi để cập trên, đó không còn là một
vấn để quá mới mẻ Song, với đề tài này của chúng tôi, có thể coi là một trong số it những dễ tải tiếp cận đơn vị tác phẩm của một tác giá thuộc thời điểm những năn
“ban 18” gitta hai thé ki XLX XX (cụ thể là trường hợp thơ trảo phúng của Tủ Xương) dưới hệ quy chiếu của một lý thuyết phương Tây biện đại (ví cụ như lý
thuyết hau thu din cia Homi Bhabha), Ro rang công việc này dòi hỏi nhiều thận
trọng bởi sẽ la “bi kịch” và “không phù hợp” nếu người nghiên cửu “bung bé”
nguyên sỉ các lý tuyết phương Tây để nghiên cứu văn học Việt Na: (đặc biệt là văn học trung dai) ma khéng tinh đến những đặc trưng về con người và tỉnh dân tộc
Ngoài ra, cùng với mong ruốn tìm hiểu vả phân tích khái niệm vẻ lý thuyết
“lai ghép" để tìm ra những đặc điểm thơ thẻ hiện sự tiếp xúc văn hóa Dang — Tay trong thời điểm giao thời, chủng tôi cũng hi vọng sẽ giúp bán thân và những độc giá
khac thấy được sự đặc biệt trong ngôi bút thơ của nhà thơ sông Vị Tác giả mả cả
quãng đời của ông nam gon và gần nhu được trải nghiệm tron ven những chuyển biến lịch sử cùng sự thay đổi sâu sắc cơ cầu của xã hội Việt Nam hồi cuối thé ki
XIX Déng thời, qua đây, chúng tôi cũng tin tưởng để tài của mình sẽ góp phân giúp
Trang 14ơi mở cho bạn dọc thêm nhiều thủ vị khi tiếp cận các tác phẩm thơ Tủ Xương nói
chung va mang tho trio phimg noi néng
6 Câu trúc lận văn
Ngoài “Mơ dầu”, “Kết luận”, “lài liệu tham khác” và “Phụ lục”, luận vẫn
của chủng tôi được chia làm bền chương:
Chương 1: Thời đại, tác giả và các vấn để lý thuyết
Chương 2: Ý thức về “cải khác” (the other) và chủ đề, dé tai trong tho trio phimg
của Trản Tế Xương
Chương 3: “Người khác” trong thơ tảo phúng của Trần Tế Xuơng
Chương 4: “Linh tiên nghiệm” trong thơ trảo phúng của lrần Tế Xương
Trang 15Chương 1: THỜI ĐẠI, TÁC GIÁ VA CAC VANDE LY THUYET
1.L Thời dai va Lic gid Trin Tế Xương
1.1.1 Vải nết thời dại và tiêu sử tác giả Trần TẾ Xương
Nam 1858, thực dân Pháp nỗ tiếng sứng thị uy đầu tiên ở Đà-Nẵng, mở đầu
cuộc chiến trang xâm luợc đất nước Việt Nam ta Năm 1862, Phan Thanh Giản thay zặt triểu đỉnh phong kiến nhà Nguyễn ký với Pháp hiệp ước cắt nhường ba tỉnh xuiển Đông Nam Bộ Đến năm 1867, Phan Thanh Gian Hiệp Lục dau hàng, ký hiệp
tước đâng nót ba tỉnh miễn Tây khiến toàn cối Nam bộ rơi vào tay Pháp
Nam 1873, Pháp đánh Lá Nội, Quan khim mang tréng coi việc Hắc kỳ
Nguyễn Trị Phương kiên quyết giữ thành những sau đó trúng đạn và bị giặc bắt
Một mực trung thành không chịu nhục, không chịu bản nước, ông tuyệt thực dến chết Thánh LIà Nội không giữ được, Liếp đỏ, các thành LIái Dương, Ninh Bình và
qué huong Nam Định của Trần Tế Xương cứng mắt liên tiếp vào lay quân giặc Do thiểu dường lỗi chi dạo dùng dẫn vá quyết tâm kháng chiến của triệu dinh nhà Nguyễn, mặc đủ cuộc đấu tranh của nhân dan dian ra ban bi va đeo đai, nhiêu lần khiến thực din Pháp phải chín rốn thất, song cuối củng Việt Nam đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Hiệp ước Pa-tơ-nốt ký kết ngày 06-06-1884 lả hiệp ước cuối
cùng đánh đâu sự đâu hàng hoàn toàn của triểu đỉnh phong kiến nhà Nguyễn Việt
Nam độc lập,
"Trong những năm cuối của thế kỷ XUX, cuộc đầu tranh chẳng Pháp của nhân đân ta vẫn liếp tue nổ ra Từ 1885 đến 1895, mười năm ay cũng là thời thanh niên của Tú Xương khi mà nhà Nguyễn đã hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện Tháng 07 năm 1#85, phong trào Cần Vương dược phát dộng , kéo dai dén nam 1896 mdi chấm đứi Cửng lúc đó, phong tảo đầu tranh tự vệ ở các địa phương, tiêu biểu là cuộc khỏi nghĩa néng dân Yên Thế như một biểu hiện cụ thể và sinh động của tính thân quật khởi và bất klruất của nhân dan ta Mặc dù thất bại, do những nguyên thân chủ quan và khách quan nhưng phong trào yêu nước cuối thế kỹ XIX cũng đã
làm tròn sử mệnh của những trận đánh thử thách, của nhiệm vụ lịch sử, đánh mốc
son trong trang lịch sử chồng ngoại xâm của dân lộc ta.
Trang 16Giai đoạn 1897 — 1907 sau dỏ cũng chính là giai đoạn mười năm cuối đời của nhà thơ Tủ Xương Lúc này, thực dân Pháp đã hoàn thẻnh công cuộc xâm lược
và bình định bằng quân sự và bắt đầu thực hiện cuộc khai thác thuộc địa trắng rợn
và tản bạo về mọi mặt kinh tẻ, chỉnh trị, văn hóa, xã hội Day cũng lả giai doạn bon
Việt gian bán nước hoành hành bằng phản bội, nịnh hót, lừa bịp, Tuy nhiên,
cũng trong giai đoạn uay, cu thé là từ nắm 1898 trở di, nhiều luỗng giỏ tới, yêu lổ mới đã xảy đến vá có tác động tích cực với tẳng lớp sĩ phu yêu nước Việt Nam Đó
là từ các cuộc vận động cla Khang [du Vi, Luong Khải Siêu của Trung Quốc, của
cuộc chính biến Mậu Tuất và những Lư tuổng đân chủ tự sẵn tiến bộ của Rit-xô,
Vôn-te, Mông-te-sli-ơ, Liảng loạt các cuộc vận đồng cách mạng của các lãnh
đạo có xuất thân từ thanh phần phong kiến như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
Tăng Bạt Hồ, Ngõ Đức Kế, Tang Bại Hỗ, đã bắt đầu íL nhiều có xu hướng tự sẵn
Die biét hon, trong số đỏ có không ft người là bạn thân của nhà thơ Tú Xương và
có ảnh hưởng nhất định tỏi trr trởng sáng tác của nhà thơ này
Ôn bại tiểu sử của nhà thơ thành Nam Trần TẾ Xương, chúng In có thể thấy cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bị thương bậc nhất của đất nước Trần Tế Xương lên thật là Trần Day Uyên, quen gọi là Tủ
Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, dến khi thí Hương mới lấy tên là Trân
'Tế Xương, Ông sinh ngay 05 thang 09 năm 1870 tại phố Dĩnh LIữu, láng Vị Xuyên,
huyén Mỹ Lộc, tĩnh Nam Định tức phố Hàng Nâu, khu Đình Hữu, Nam Định ngày
nay và mắt ngày 2Ó tháng, 01 năm 1907 ở láng Địa Tử cúng huyện, Ông thuộc dòng, đối nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời nhà Trần lập công lớn
được phong “quốc tính", được vua cho đối họ cũ lây họ của vua Thân sinh của
'rằn Tế Xương là cụ ‘Trdn Duy Niwin cũng lả một nhả nhọ, sinh thời thì nhiều
khoa rửtmg không đổ, sau làm chức Tự thừa ở đỉnh đốc học Nam Dịnh, sinh được 9 người con, 6 trai, 3 gái, Tú Xương là con trưởng
Tú Xương đi học sớm và sớm nỗi tiếng thông minh, Ông theo học chữ Liên
cụ Kép Thành Thị, tên là Trần Chân Thái, một nhà nho ở Nam Định Có rất nhiều
câu chuyên truyền lại về tư chất thông mình và tài nhớ nhưh của chú bé Trần Duy
10
Trang 17Uyên nảy Có người kế lại câu chuyện khi Duy Uyên lên mười, khi có bạn của cha
đến nhà chơi, nhân trước nhà có dãy chậu hoa, cụ khách ra đổi: “Dinh tiên ngũ sắc hoa ”, Duy Uyén liền đối lại: “Tưng trung bách tưnh điều”, Khách nghe xong, tâm tắc khen tải nhưng “theo khẩu khí, nhất định đời nó sẽ lao dao, lận dận, khó bẻ
ngang đọc, vẫy vùng '” Nói vậy là bởi, đời xưa có lỗi đoán tương lai theo duy tâm
vị khẩu khí dễ lộ ra có chim hay bị nhất trong lồng Hay câu chuyên khi Tủ Xương được mời viết văn tế khi làng có lễ Khi mọi người giục cuồng cuồng lên vi gid
hành lễ sắp bắt đầu, ông vẫn ưng đứng, thân nhiên nói: “Các ông không lo Tổi làm
sẽ đọc lây Lúc đỏ có văn thì thôi Và quả thục vậy, đến giờ tuyên đọc văn
văn, tô
tế, chí cằm một tờ giấy trắng, nhưng ông đọc lưu loát như thể có bải văn tế thần viết
sẵn Một lần khác, khi sang viéng tang người hàng xóm, bả vợ kế của ông này nhờ
xin nhà thơ viết cho câu đối, nhà thơ cũng không suy nghữ lâu mã cẩm lay bút đề
neay một câu: “Thân cỏ lặn lội bờ sông, rủ rí nuôi son mà hóa thực” họa theo câu ca đao quen thuộc của dân gian:
“Cái cô lặn lội bở sông,
Giánh sao nuôi chồng, tiếng khóc ní noi.”
Chẳng những théng minh, tai tri, ông còn là một trong những người đâu liên
dịch những bài thơ Đường của Lý Bạch, Đồ Phú sang Tiếng Việt một cách “lưu loát
tự nhiên như một bài nguyên tác, chứ không có những ý, những chữ gò ép sống
sương” Ở đây, chúng tôi xin vỉ thử một bài, đỏ là Cung Gương hành lạc (được địch
là 7hú vui rong cung) của Lý Bạch:
“Gió thơm lỏng trướng gdm, Nắng sáng lọt nhà vàng, 'Thêm ngọc hoa dua nở,
TIõ trong cỏ đâng hương,
TẢ
cao cou gai mira,
Cây biếc tiếng chim vang, Đào lý ngày xuân tết,
Cùng tiên nỗi nhớ thương”
11
Trang 18Về chuyện thi cử của Tủ Xương, từng có ý kiến cho rằng “lịch sử đời nhà thơ
là lịch sử của mnột người suốt đời lận đận vị thi mà chẳng bao giờ toại nguyện” Qua
thực vậy, nhờ theo học cụ Tủ kép Thánh Thị và “thiên Ur sớm phái”, năm 1886
(Bính Tuấ, niên hiệu Đồng Khánh thứ nhất, triểu dình mở khoa tu Hương ân khoa, trường IIà Nội và Nam Dịnh hợp thi tai Nam Dinh, Tran Duy Uyên đổi tên thành Tế Xương (Trin Tế Xương) dự thí lần thứ nhát nhưng không dỗ Cùng trong năm nảy, Trằn Tế Xương lấy vợ là bà Phạm Thị Mẫn, người làng Lương Đường,
THải Dương Năm 1888 (Mậu Tý), Trần Tế Xương đi thí lần thứ hai không đỗ Năm
1891 (Tân Mão), Trần Tế Xương thi Huong lần thứ ba không đã Năm 1894 (Giáp
Ngọ), đời vua Thành Thái thứ sáu, Trần Tế Xương thí iiương lần thử tư đỗ Tử tải Trong năm nảy ông cỏ bài thơ Gửi bạn thi đã Năm 1897 (Định Dậu), Tran Tê
Xương thí Hương lần thứ răm, không đỗ Ông làm các bài thơ rhư Ø7 đu, Hương
thi tự trào, Lễ xướng danh khoa Dinh Dậu, GiỂu người thi đỗ Năm 1900 (Canh
Ty), Tran Tế Xương thi Hương lần thứ sảu vẫn không đỗ Ông làm các bài nhy
Giẫu khoa thi Canh Tý, Than sự thí và Phú bông thí Năm 1903 (Quý Mão), thục dân Pháp quy định thí sinh phái đỗ cá hai kì thí chính vả phụ (thị Hương truyền
thông và kì thí phụ bằng tiếng Việt và tiếng Phap) thi mdi được bố nhiệm làm quan
Tran Tế Xương dỗi tên thành Cao Xương, thí Hương lần thứ bẩy, không dé, hỏng,
vẫn cử hỏng liài thơ /láng thì khoa Quy: Mão cũng nhắc đến chuyện đỗi tên này:
“Tế đổi làm Cao ma cho thé t
Kiện tròng ra Tiệp hồi trời ôi I”
song theo tương truyền Yên Dổ Nguyễn Khuyến “không hài lòng” ở chỗ Trân Tế Xương ứng đổi “trời” với “chó” nên rằng,
“Răng hay thủ thực là hay,
Dem Trời đổi Chó lão này không tra.”
Nam 1906 (Bính Ngọ), toàn quyền Đông Dương ra nghị định lập Hội đồng
“hoàn thiện nên giáo dục bản xử nhằm loại bỏ Liăn học Vua Thánh Thái cũng bạn
hanh cai cach thi Huong ở Bắc kỳ vẻ việc “bỏ kinh nghĩa và thơ phú, bắt buộc thí
sinh phổi thí thêm luận Quốc ngữ, khoa học thường thức và ruột bài dịch tống,
Trang 19Pháp” Trân Tế Xương tiếp tục di thí Hương lẫn thứ tám Đây cũng là khoa thí cuối cùng trong đời ông nhưng vẫn “hỏng” Các bài thơ 7t hồng 11, Thi hong Lif được ra
đời Có thể thấy rằng, cuộc đời Trần Tế Xương gần như gắn liễển với thí cử, tính ra
có tất cá tám lần, Đỏ là các khoa: Binh Tuất (1886), Mậu Tý (1888), lân Mão
(1891), Giáp Ngọ (1894), Dinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và
Binh Ngo (1906) Sau 3 lẫn hỏng thú mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông,
mới độu tứ tải, nhưng, cũng, chỉ là “tú tải thiên thú” (lấy thêm) Sau đó không sao lên
đỗ cử nhân, bằng cấp tối thiên đề người nho sĩ trong chẻ độ phong kiến được bổ làm
quan mặc đủ kiên trì theo đuổi
Cũng bản tới chuyện thì cứ của Trản Tẻ Xương, luôn cỏ một câu hỏi được
đặt ra đây mâu thuẫn, đó là việc nhả thơ mặc đủ rất kịch liệt lên án, phản đối và da
kích chế độ khoa cử nhướp trong thực tế ông lại cử mấi kiên trì đeo đuổi và suốt đời
Đã có nhiều lý giải cho câu chuyện này, song chúng tôi
ha), do là thể giới quan chủ dạo của từng lớp nho sĩ ấy, Cho nên từ bé, Tủ Xương đã
găng công dén sách theo đuổi mục đích tiến thân bằng con đường thị cú” [2, tr.24],
“cũng như nhiều người kháo Hong lìmg lớp nho sĩ, nhủ thơ bị gian hãm trong ý
thức phong kiến lạc hậu, tưởng rằng muốn dược giúp đời, muôn được thi thé tai năng với đời thì không có con đường hợp pháp nào khác ngoài con đường thí cử để
za lam quan .” [2, tr.25] Va mâu thuẫn ây treng tư tưếng và trong các sảng tác thơ
văn của nhà thơ cử dai dẳng và kéo đải cho đến ngày Trấn lế Xương mắt,
1.1.2 LỄ sự nghiệp văn chương của tác giả Trần Tế Xương
Mac di cl
tưởng đương” 37 tuổi, song nhà thơ Trần Tế Xương đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn chương dân tộc với những bái thơ sâu sắc về lịch
sử xã hội đương thời và chính đời mình trong những năm tháng đau xót của cã dân
tộc Việt Nam lúc bắt đầu lạ “thuộc địa hóa” Từ đó, nhà thơ thành Nam Ấy cũng Irở
13
Trang 20thành một trong những nhà thơ lớn dược nhân dân tự hào và được ca tụng bởi nhiều
các thị sĩ, văn nhân nỗi tiếng khác Như Nguyễn Công lloan từng suy tồn Tú Xương là bậc “hân thơ thánh chữ” Xuân Diệu xếp bạng Tú Xương thứ 5 sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hỗ Xuân Hương vả Đoàn Thị Điểm Tân Đã khi con sống "trơng những thi sĩ tiên bồi, phục nhất Tủ Xương" (Xuân Diệu kế vậy) Ông tự Tihận trong đời tho của mình "mới dịch nỗi Tú Xương một lâu thôi bằng chữ
véo”
trong bài thơ Cảm thu, Tiễn thục của ông: “Vẻo trông lá rụng đẩy sân” Nguyễn Công Hoan cững kế vậy Còn Nguyễn Tuân thì biểu đương Tú Xương là “một
Trgười thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỹ xây dựng tiếng
nói văn học cúa dân tộc Việt Nam”
Tho văn của ông gồm hai phân rõ rệt, thuộc thuộc hai mảng nghề thuật “nghệ thuật hiện thực rào phímg” và “nghệ thuật trữ tình” Tuy nhiên, khi nói đến thơ văn
của Tú Xương, người đọc thưởng nghĩ ngay tới mãng thơ trào phúủng của öng Dởi
về khối lượng, trong gân hai răm bài thơ còn được lưu truyền thì hai phân ba bài là
thuộc thơ trào phimg Hon thé, về mặt này, quả thực Tú Xương dã đạt lới trình độ bậc thầy với những, bài thơ châm biểm nhức nhỏi, sầu cay đi thẳng và ám ảnh vào
tâm trí người nghe, người đọc lòng người Tuy nhiên, nói như vậy nhưng chúng ta
cũng không thể phủ nhận giá trị của các sảng tác thơ trữ tình trong toàn bộ thơ văn
của ống bởi thực sự các sảng tác trữ tỉnh của ông mặc đủ không có những cảm tính
cười mía mai, cay độc, những câu chửi tính vi mà tàn nhân, những, ngọn roi rất sắc,
rất ngọt quật thắng vào cánh những thói hư, tật xâu của một xã hội giao thời, lúc chủ nghĩa phong kiến suy tân và chủ nghữa tr bản thuộc địa xâm nhập” Và ân sau
đó là những tim sự căm phẩn đây u uất, bất lực cùng những mâu thuẫn giằng xẻ
“không thoát ra được” đến thương tâm của một kẻ sĩ “tm thời mẫn thể” trong hoàn
gãnh nước uất nhà lan
14
Trang 21Về tình hình van ban tac phẩm của Tủ Xương thì hết sửc phức tạp bởi sinh thời, nhả thơ Trần Tế Xương sảng tác dường như chỉ đề tỏ lòng, tiêu sâu hoặc mua vụi, thơ làm đọc lên cho vợ con, bạn bè nghe, rỗi tùy ý truyền khẩu Hơn nữa thành Nam thuở ấy con có nhiều người hay thơ cúng nổi niềm vả khuynh hưởng với Tủ
Xương như Tran Tích Phiên, Pham Ung Thuan, Tran Tử Chỉ, Vũ Công Tự Thơ
lộn Bởi cho đến nay, các nhà nghiên cứu
vẫn chưa tìm thấy dĩ cão của tác giả Hiện chứ có mội số công trình tập hợp các tác
phẩm của Tủ Xương trong các sách nghiên cứu, phê bình như Lj-Xuyên /hi văn tập
của Sở Cuảng Lê Du, Nam Kỷ thu quán (1931) giới thiện 174 tác phẩm gồm thơ,
phú, câu đối, Trồng dòng sông VỊ (Văn chương và thân thế Trần TẾ Xương) của Tran Thanh Mai, Trin Thanh Dịch (1935), Tú Xương thĩ tập ảo nhà sách Phúc
Chỉ tại Hà Nội in năm 1950, giới thiệu 75 bài thơ phú, Than chế và thơ uăn Tú Xương của Vũ Đăng Văn, Nha xudt bin Cây Thông, Hà Nội xuất bản năm 1951
'Tuy nhiên, gần như trước 1954, các sách sưu tắm thơ Tủ Xương còn chưa chủ đảo, cân thận va bau như không có chủ giải cần tưêt Việc khâu củu vẻ nhà thơ cũng
clrua dược đặt ra, nêu không ké dén cuén Trdng động sông VỊ Sau này, nhiều cuỗn
sách cỏ các tác phẩm sưu tắm có độ tin cậy cao hơn được ra mắt như: Vấn £hơ Trên
TẾ Xương của nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội (1957) giới thiệu chính thức 125 bai
và dưa 55 bài vào phân tổn nghị, Đầu tranh chống bai guan niệm sai lâm về Tủ Xương của nhà xuất bản Nghiên cứa cục xuất bản, Bộ văn hỏa Ila Nội (1957) của Trần Thanh Mại nhân dịp lần thứ 50 ngày gié Tú Xương, Tú Xương
con người và nhà thơ của Trin ‘Thanh Mai, Trần Tuân Lộ, nhà xuất bán Văn hóa (1961) giới thiệu 193 bài chính thức, L7 bài tôn nghi, 7hø văn Trần Tá Xương
của nhà xuất bản Văn học (1970) có sự them gia của Nguyễn Công Hoan chọn 15T
tác phẩm và 22 bải tôn nghị, 7e văn ?rấn Tế Xương do Nhà xuất bản Giáo Dục
xuất bản tại Ha Nội (1984) Và cuỗn Tí Xương tác phẩm giai thoại của nhóm
Nguyễn Văn Huyền (chủ biên), PS Huy Vinh, Mai Anh Tuấn và người giới thiệu
Trang 22Nguyễn Dinh Chủ được xuất bản bởi Hội văn học nghệ thuậtHà Nam Ninh năm 1986 lá một công trình nghiên cứu được cho lả kỹ lưỡng vả cổng phụ,
1.2 Các vẫn đề lý thuyết
1.2.1 Văn hảu là gi?
Về khái niệm văn hỏa, chứng tôi xin trích dẫn lời của Trần Dinh Sử trong bài
viết “GHá trị vẫn hóa của văn học ViệL Nam”: “Khải niệm văn hoá ngày nay dã rất
phổ biến, tuy vậy khi bản về giá trị văn hoá của văn học thiết nghĩ cũng cần nhắc lại
đối nét về lchái niệm văn hoá, bởi nó sẽ soi sáng giá trị văn hoá của văn học Văn
hoa theo nghĩa rộng lá tổng hoà mọi sản phẩm vật chất và linh thần đo con người sáng, tạo ra, trong đó thê hiện đời sống vật chất, tình thân, các loại tư tưởng, phương,
thức tư đuy, hình thức biểu đạt, mô hình hành động, thái đô ứng xử làm cho một
công đẳng dân lệu này phân biệt với các dân lốc khác, văn hoá thể luện năng lực chế ngự thiên nhiên, phương thúc tổ chúc xã hội cùng chế độ điển chung ding đề phát triển nhân cách con người và phân chia hưởng thụ thành quả xã hội Văn hoa
au trúc thì vấn hoá
trghữa hẹp là quan miệm Iư tưởng và quan miệm giả trị XiéL về
bao gồm tảng nên tảng là toàn bộ cơ sở vật chất, cái “tự nhiên thử bai” của con người đo con người sáng lạo ra bằng sức lao động Tầng thứ li là cùng cách ăn ở,
„mặc, di lại, nói năng, hộn thú, lễ nghị, phong tục Tầng thứ ba gm tư tưởng chỉnh
trị, tôn giao, pháp luật, tổ chức nhả nước và tầng trên cùng, lá các sảng tác văn học, nghệ thuật, triết học, biểu hiện tam hồn, lài nghệ, sức sáng tạo của cơn người Toàn
bộ văn hoá thể hiện trong hệ thống ki hiệu, biểu tượng, ngôn ngữ của con người thấm nhuân ý thức về giá trị Văn hoá không chỉ là cái phân biệt cơn người với con vật mà côn là cái tiêu biếu nhất cho một đân tộc, phân biệt đân tộc này với dân tộc khảo [Dẫn theo 45] Có thể thấy rằng, văn hỏa lá một khái niệm rộng với nhiễu tâng,
lớp nghĩa, vừa có thê hiển là sự tổng hòa của mợi sản phẩm tỉnh thân và vật chát mà
cơn người lạo ra hoặc cùng có thể là những quan điểm, quan niệm giả trị, mang ý
nghia khu biét giai đoạn này với giai đoạn khác, dân tộc này với dân tộc khác Với ý
nehia d6, xét pia tri van hóa trang văn học Việt Nam thời trung dai tir thé ki X đến
thiết thế kỉ thế kỉ XTX cũng được chúa làm bốn giai đoạn: giai đoạn thế ki X — XTV,
l8
Trang 23thé ki XV — XVI, giai đoạn thể kỉ XVIH, giai đoạn thé ki XIX 6 méi giai doan lịch sứ xã hội, lịch sử văn học, văn hỏa lại có sự thể hiện và mang những giá trị
khác nhau Tuy nhiên, theo khuôn khổ của bài, chứng tôi xin tập trưng đi vào tim
hiểu giả trị văn hỏa của văn học giai doạn thẻ kỉ XIX
TNhư đã phân tích khái quát ở trên, thế kĩ XTX là thẻ kỉ mà dân tộc Việt Nam ta
bị đặt đưới triều dại phong kiến nhà Nguyễn dang đà suy thoái, yếu ớt đẳng thời cũng,
là thể kĩ đau thương trong tiếng sủng xâm lược của thực dân Pháp Kinh tế, văn hớa, xã
hội đêu thay đối và văn học cũng không nằm ngoài vòng biển thiên đó Hiên cạnh việc
tiếp lục rạch phát triển văn học từ thế kỉ XVTI, văn học thế kĩ XD liếp tục phát Iriển
văn thơ chữ Jian (Cao Ba Quat, Nguyễn Văn Siêu, .) và đồng thời thơ Nôm đường
hiật cũng đạt đến đỉnh cao moi điều luyện, sâu sắc và tỉnh tế Thơ Nguyễn Khuyên, Tủ
Xương trở thành mội kiện lượng lớn trong vấn học cận đại Việt Nam Đặc biệt, thơ Tủ
Xương với tiếng cười trào lộng sầu cay, chát chúa trước thực trạng xã hội nhỏ nhăng, đão lộn trong giao thời Cười đời rải lại tự giễu mình, bắt đâu từ Nguyễn Công Trữ
với Hàn nho phòng vị piái, thơ Tủ Nương tay Nguyễn Khuyến đã góp phần phát
triển "văn hoá cười” trong văn học viết Việt Nam cũng như khơi một dòng, thơ trào phúng san này với nhà thơ Tú Mỡ và nhiêu nhà thơ khác
1.22 Thơ trào phủng và một xỗ khứi niệm thuộc phạm trù mỹ học:
Bi,
nút hỏi, củi
Về “thơ trào phúng”, để hiểu được khải niệm nảy, chứng tôi xïu ổi vào cắL
nghĩa và ly giải chơ hai khái niệm con lá “thơ” vá “trảo phủng”
Trước hết, khi nói tới “thơ”, mỗi người, mỗi thời đều có những quan niệm riêng
thủ vị Chẳng hạn như Platon, một nhà triết học cổ dai Hy Lap thi cho rằng “thơ là thân
trứng” hay thơ, ấy là “những gi đã thất lạc trong quả trinh chuyển đổi”, “thơ ra đời khi
cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ đã tìm ra lời của chứng” theo như
nghi cia Robert Frost, mot trong những nhà thơ Mỹ lừng bến lần đoạt giải
Pulitzer Lidgar Allan Poe, được gọi là “nhà thơ điên”, cũng là một cây bút kỳ tải trong
thể loại văn chương trinh thám và hình sự cũng có những phát ngôn nối tiếng về tha
Tửtr: “Tôi định nghĩa rất ngắn về tho ca, ngôn ngữ thơ lò nhịp điện, thẩm wy Trong |i
Trang 24duy nhất của chúng là khâu vị Trí khôn và nhận thục chỉ khiển nó trở thành một tải sản 'Irừ yếu tổ tỉnh cờ, thơ không quan tâm đến bất cử điều gì, dù là nghĩa vụ hay chân
lý”, hay thậm chỉ có người côn cho ví *thơ” như snội “biểu thúc tâm hỗn”, một cơn
say, một cơn diễn loạn thân thánh, Chí một chữ “thơ” nhưng lại là một câu hỏi mở
với võ vàn đáp án Do vậy, khái niệm này không chỉ được định nghĩa khác đi bởi nhiều
Tgười mà còn ở nhiều thời (thời đại, thời điểm) như quan niệm chính thống về thơ troug, Nho giao “thi di ngôn chí” đã chí phỏi hàng ngản năm thơ trung đại Việt Nam
hay quan niệm “thi ngôn tình” của Tnmg Quốc thế kỷ II đời Dẻng Tản cững đã có
Thiệu ảnh hưởng đến Irào lưu nhân đạo cha nghia trong thơ Việt Nam nữa cuối thế kỹ XVII, nửa đầu thê ký XIX mà ??syện Kiểu là một vị dụ điển hình và tiêu biểu Khải
niệm này trong những năm gần đây cũng tiếp tuc được nhiều nhà nghiên cứu nã hrc
định nghĩa như Hà Minh Dic, Ma Giang
có một định nghia tron vẹn và đây đủ nhất để nói về thơ
Trong Tự điển Văn học (2004) của nhóm tác giả Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ
, Phan Ngoe song dén nay vẫn cliưa thể
Chị, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, “tảo phủng” (saira) được định nghĩa là “một
loại đặc biệt của sảng tác văn học đồng thời lả một nguyên tắc phán ảnh nghệ thuật, trong đó các yêu lỐ của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài
hước dược sử dụng dễ chế nhạo, chỉ trích, tổ cáo, phân kháng những cái tiêu cực,
xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội” [22, tr1124] Thơ trào phúng cũng được coi lá
Tnột Irong những tiếng nói cuối cùng của loại hình văn học trung đại kh chuyển đối
tử trung dại sang hiện dại Bởi vậy, không phải ngâu nhiên mà các nhà thơ trảo
'tphúng nhu Nguyễn Khuyén, Tủ Xương, được xếp vào hang những nhà nho cuối thê kỷ XIX đầu thé ky XX Bén canh dé, trong văn học, nói đến trảo phúng thì không thẻ thiểu cải cười Xét về nguồn gốc, “trảo phủng” là từ Hản - Viét Tach
chiết ra thì độc giả có thể hiểu “trào” là cười cợt, chế giễu còn “phúng” là lời bóng,
gió đề châm biểm, đã kích hay như cách hiểu đơn giản nhất trào phúng là nghệ thuật gây ra tiếng cười Dũ cười ở các cưng bậc khác nhau nhưng nhất thiết tác phim trac
phúng phải gây hải, phải có tiếng cười Về điều này, theo các nhà mĩ học, cái hải là
một trơng những phạm iri my hos, đuợc bật ra khi người ta phát hiện được một
18
Trang 25mâu thuần đặc biệt, trái với lẽ tự nhiền Mẫu thuần đó có thể là gì? Đỏ có thể là “sự
nâu thuẫn giữa các hiện tượng không hoàn thiện” hoặc theo quan ruệm của phương,
Tây, đó là mâu thuẫn gia cải xấu và cái đẹp của ArixlôL trong Thi Age Kank nha triết học, mỹ học Đức coi dé 1a mau thuan giữa cái cao thượng vả cải thấp hẻn Tléghen cho đó là mâu thuẫn giữa hình tượng vả ý niém Sécnusepxki cho ring, dai ý: Cái hài kịch xây ra khi bình tượng lẫn áL ý miệm, tức cái hải ló sự trống rỗng mà tính hoàn toàn vô nghĩa ở bên trong được che đậy bới một vẻ bẻ ngoái phô trương,
le loạt, Còn theo quan mệm phương Dồng và cụ thể là ở Việt Nam, đặc biệt lả
trong đạo Nho thì lại được nhìn nhận rất khác bởi đạo Nho là đạo “tu kí, trị nhận”,
nhà nho luôn theo đuổi bình mẫu “nội thành ngoại vương” lý tướng (tức bền trong,
mang phẩm chất thánh nhân, bẻn ngoái làm vua thiên hạ), là người eó nhân cách
cao cả, là thánh nhân thoái tục Chính vì vậy, trong các sáng láo ofa cde riho gra
Việt Nam từ thể kỉ XIV đến thế ki XVI, tiếng cười, tiếng khóc, những cảm xúc tự nhiên bình thường không xuất hiện trong văn chương nhà nho chỉnh thẳng và thay
vào đó là cái đạo dức, trang nghiêm Tuy nhiên, vào khoảng thế kỹ XVTNT, mô hình
“thánh nhân quan tử” đã không cón hấp dẫn nho sĩ nữa, thay vào đó là hình ảnh con người của tự nhiên, cơn người bình thường gần gui Tiếng cười cũng bắt đầu xuất
hiện trong thơ ca từ dò mặc du van chưa cụ thể, xác dịnh, vẫn con mo hé va mang
xu hưởng nhằm vào cải chung, một hạng người, một loại người Phái đợi đến cuối
thể kĩ XTX, trước sự xâm nhập của thực dân phương Tây, trước thời cuộc đảo điền,
lai cing, “dé dé ương ương”, quan niệm của nhà nho mới chính thức có sự thay dồi, đao động lớn Tig bắt đầu nhận ra chữ nghĩa thánh hiển không giúp ích gì cho thời cuộc trước củ “đụng đầu lịch sử" Họ chế giễu, cười cợt chính xã hội bắt đâu mục xuông mà họ đang sông, tỏi những kẻ võ tích sự, lười biếng, sàn dớ, và cá tự chế
trách, “kiểm điểm” bản thân mình Cười người rối lại cười mình, là những chuyện
thidm thay trước đề
Như vậy, có thể thấy rằng thơ trào phúng lá loại thơ dừng ngôn từ vị vơn, bóng
gió để châm biểm, đã kích những mâu thuẫn, những thỏi hư tật xâu trái với lương trị, đạo
đức xã hội Trong đó, tiếng cười mang nhiều sắc thái, cũng bậc phong phú, đa dạng như
18
Trang 26cười khinh bị, cười thiện cảm, cười nghiêm khắc, cười chua chát, Ngoài ra, trong sáng
tác thơ văn trảo phủng, phạm trủ mỹ học cái bài còn được thể hiện qua nhiều lăng kinh,
chu: tính cách hải, tình huông hài, chủ tiết hải, cường điệu nhân rrạnh, nhại, biểm họa,
biến dạng, nghịch dị, tự tổ cáo và tố cáo nhau (giữa các nhân vật), plrương tiện ngôn ngữ (chơi chữ, .), ngu ý, tương phản, bao hàm yếu tổ bắt ngờ, Dây cũng chỉnh là những
“chất liệu đặc biớt, sinh đông và đa dang dom dén sự khác biệt giữa văn chương hiện thực trao phúng vẻ các mảng văn học khác
1.23 LẺ khải niệm “lai ghép” trong Lý thuyết hậu thực dân của Hommi Bhebha
T,ý thuyết hậu thục đân ra đời vào khoảng những thập miên cuỗi của thê kỉ
XX, có sự ãnh hướng lớn từ những tư tướng đặt ra trong cuốn 2ông Phương luận
của Eđward W Said, xuất bản lân đầu năm 1978 Trong 46, W Said giải mã quan
hệ quyền lực giữa phương Đông và phương Tây qua việc sảng tạo nên khải niệm
“phương Dông” như một “cái khác” (the other) so với “phương Tay” Dong phương,
không chỉ tiếp giáp mã còn là nơi của những thuộc địa lớn nhất, giàn có nhất và xưa
nhật của châu Âu Thêm nữa, Đông phương côn giúp “định nghĩa” phương Tây nhur
là hình ảnh trải ngược của nó, là một phân cần thiết của nên văn minh va van hoa
sư củng lúc với sự thoái trào của chủ nạÌữa thục dân, nhưng sẵn đây, nỏ xuất hiện trở
lại trong lĩnh vực văn hoá, xã hỏi học, nhân chủng học và văn học bởi sự phát triển
Tranh mẽ cửa xu thế loàn cầu hóa Trong rẩiễu tiập kỉ qua, trên thế giới, đã có rất nhiều nhà nghiền cứu, lý thuyết gia bàn vẻ “tính lai ghép” Một trong những lý thuyết pia quan trong va dau tién ban vé tinh “lai ghép” 1a Mikhail Bakhtin ¢ Nea, người đã
sử dụng tử “tinh lai ghép” như một thuật ngữ triết học và văn học, đồng thời "tách nó ra khỏi những thành kiến về chúng tộc hay chúng loại vốn phô biến trong các lãnh vực
động vật học, thực vật học và thực đân luận” [Dẫn theo 17] Pnina Werbner xem tính
“lai ghép” như một thứ “siên kiến tạo lý thuyết của trật tự xã hội” Renato Rosaldo xem tinh “lai ghép” như một điều kiện đang tiếp điển vá càng lúc cảng phát triển cứa tất cả
20
Trang 27các nên văn hoá nhân loại, nơi vốn không có chỗ cho sự thuận nhất và thuần khiết, bởi
vi mọi thứ đều ở trong lrạng thải xuyên văn hoà hoá (Irarseulturation) với hai động tác
muon va cho mượn điễn ra hâu như cũng lúc Theo Edwarđ Said, “tính “lai ghép” giải
phóng các niển văn hoá hậu thực đân/thuộc địa ra khối cả tỉnh giáo điêu của chủ nghĩa
thực dân lần thử yếu tỉnh luận (cssentialism) hẹp hỏi vốn gắn liễn với bản thân các nên
” [Dan theo 17]
văm hoá hận thực đân/thuộc ở
Củng những lý thuyết gia trên, về “lai ghép”, sẽ thực sự thiểu sót nêu chứng
ta không nhắc tới sự xuât hiện của IIomi Bhabha, mét ly thuyét gia nồi bật của lý
thuyết hậu thực dân cũng là người tập trưng nhiều phân tích về lý thuyết nảy ‘Theo
lý thuyết mà họ cho là có giá trị phổ quát nhưng cuối cùng, âm mưu ấy đã thất bại,
và thay vào đỏ, một cái gì vừa quen thuộc lại vừa mới lạ ra đời nhu một thứ đối tự
sự (eounter-narrative) của những diễn phạm ở Tây phương, Với Bbabha, lai ghép
không phải lá một sự vật, một cái gì đá hoàn tốt và tĩnh tại, mà là ruột quá trình: bài
ghép đối đầu với cái logic thống trị của điễn ngôn quyên lực và mở ra một không
gian thứ ba (thizd space) hay không gian của cái thứ ba (space of thirđness), ở đó, ý ugbia luén luén é-gitta (in-between), khéng phải cải/chỗ này mà cũng không phải cái/chỗ kia (neither-ner) và không bao giữ éu dinh ea” [Din thea 17] Homi Bhabha
coi “lại ghép” như một một chiên lược của kẻ thực đân để “ký hiệu héa” văn hỏa
Pháp vào văn hóa Việt cùng âm mưm thôn tính và đồng hóa Lai ghép mang tính
“nước đôi” (lưỡng trị), nảy sinh trong khi quyền lục thực dân bị “phân ly” va kết quá thường tạo ra những lai tạp, trộn hỏa giữa cải xa lạ và diéu quen thuộc Bên cạnh những luận điểm tích cực trên, một trong những thiêu sót trong quan điểm này
của IIemi Bhabha là ở “tính tiên nghiệm” bởi theo chúng tối, “lai ghép” có cả một
“phổ hệ” cho kế thục dân và kế bị thực dân, mang những lựa chọn đây toan tính chứ không thuần tủy la chiến luọc một chiều “tự nhiên như nhiên” của kế thông trị
Tại Việt Nam, trong vài năm gần dây, khái niệm “lại ghép” (ybridily) cũng ngày cảng trở nên quen thuộc với giới nghiên cứu văn học, văn hỏa Khải niệm này
được để cập khá nhiều vi ảnh hướng của lý thuyết hiện đại phương Tây, đặc biệt lả
21
Trang 28lý thuyết hậu thực dân Trong số những bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước
và hải ngoại, chúng tôi xin dẫn cử hai bài viết có liên quan, đó là: “Địch văn hóa, tính lưỡng trị, và chủ nghĩa thục đân ở Việt Nam" của Phạm Quốc Lộc (Đại học Massachusetts Amherst, Iloa Ky) va bai viét “Tinh lai ghép trong van hos Việt
Nam” của Nguyễn Hưng Quốc Có thẻ nói, cả bai bài viết trên đều có sự phân tích:
và liển thu lý thuyết hậu thực dan của Hơmi Bhabhs, song mỗi nhà nghiên cứu lại
có những luận giải khác nhau Cụ thể là Phạm Quốc Lộc, trong bài viết của mình,
bên cạnh những, đánh giá và phân tích về quá trình dịch văn hóa, các khái niệm “lai
ép”, “phần kháng”, ông cũng đưa ra nhiều phản biện quan trọng vả tích cực về tinh “tinh tiên nghiệm” trong lý thuyết hậu thực dân của Homi Bhabha Ông chơ Tầng luận diễm này của chủ thể viết phương Tây còn rang chủ quan và nhiều áp đặt Chúng tôi cũng hoàn toàn đồng tĩnh với ý kiên này Cùng đưa ra nhiều phan tích hữu ích, bài viết của Nguyễn lưng Quốc cũng đã dé cập khả bao quát vẫn đề, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng ông chua để cập thấu dáo, đặc biệt là ông xuất phát từ
lý thuyết hậu thực đân nhưng đến cuối bài viết lại hiển “lại ghép” theo ngôn ngữ đời thưởng Ong cho rang: “Phuong cach that dé đảng: Lai ghép, lai ghép nữa, lai ghép
mãi ” Khái niềm “lai ghép" như thế đã bị giàn hóa, hiểu “chộch” đi theo nghĩa
pha trộn, cây ghép thông thường,
Tiểu kết chương 1
Tú Xương, nhà thơ lớn của văn học trưng cận đại Việt Nam Thơ trảo phúng
ông được coi là một biên tượng văn học độc đáo, là “cầu nải" đánh đâu sự chuyển Tình mạnh mẽ từ vẫn học Irung đại truyền thống sang hiện đại (rong tiên trình văn
học Việt Nam
Tả một giọng thơ trào phúng đặc biệt của văn học Việt Nam cudi thé ki XTX,
Tủ Xương dã dễ lại cho văn đàn dân tộc nhiều sáng tác thơ vấn đặc sắc, phân ảnh: chân thực và sinh động thực trạng xã hội hết sức rỗi ren và nhiễu loạn của Việt Nam trong buốt giao thời mà cuộc đời ngắn ngũi cửa ông được gới trọn trong đó Đọc — luểu thơ Tú Xương cũng là một góc nhìn giúp dộc giả dương thời hiểu rõ hơn về
những năm bàn lễ của lịch sử dân tộc Hỏi vậy, các sáng tác thơ trào phủng nói riêng với những tiếng cười trào lộng nhưng chất chúa những tâm sự, hoài vọng ây
22
Trang 29của kê sĩ nhà nho thất thế thành Nam đã trở thành đẻ tài thú vị cho nhiều công trình của nhà nghiên cứu và độc giả yêu thơ Với nhiều hướng tiếp cận, trên nhiều phương điện khác rau, độc giả có thể đi sâu vào tìm hiểu, thâu câm Lỗng cười tảo phúng trong thơ Tủ Xương, tâm sự của nhá thơ thông, qua bút pháp trữ tỉnh, vẫn dé thi pháp trong thơ Tú Xương hay những yếu tê phi truyền thống, Song trong nội
dụng nghiền cửu thuộc đễ tài này, khải miệm “lai ghép” trong lý thuyết hận thực dân
của Homi Bhabha là một trong những quan điểm cơ bản mà chúng tôi dựa vào để
'phân tích, tìm hiểu bởi khái niệm này được đề cập khá nhiều trong thời gian gắn đây
vì ảnh hưởng của lý thuyết hiện đại phương Tây Tuy nhiên, cùng sụ tham khâo
thêm nhiều bài viết, bài nghiên cửu của các hoc gid uy tin trong và ngoài nước,
chúng tôi cũng xìn vận đụng một cách chọn lọc cáo ý niệm đồng thời đưa ra những,
phân biện cá nhân về những luận điểm chưa thực sự mình xác về “tại ghép”, đặc biệt là “tỉnh tiên nghiệm” theo quan niệm cua [lomi Bhabha trong cy thé tac phim Điều này sẽ được chúng tôi phân tích kỹ hơn trong các chương mục sau đó
Chương 2: Ý THỨC VẺ “CẢI KHÁC” (THE OTHER) VÀ CHU DE, BE TAL
'TRƠNG THƠ TRẢO PIÚNG CỦA TRẢN TẾ XƯƠNG
2.1 Những yến tô phí truyền thông trong hệ thông chữ để, để tải trong thơ trảo
nhúng cửa Trần Tế Xương
Có thể nói, khái niệm “dịch văn hóa” không phải chỉ đến khi thực đân Pháp
xâm lược Việt Nai nưởi xuất hiện mã trước đó, trong lịch sử Việt Nam cũng đã có
sự tiếp biến mạnh mẽ với nhiều nên văn hóa khác, có thể kể đến Trung Hoa,
Tuy nhiên, trong khuôn khố bài nghiên cứu, chúng tôi chỉ xin để cập khái quát tới
quá trình “dịch văn hóa” và biểu hiện của “cái khác” trong thời điểm thực đân Pháp
đem dã tâm xâm lược Việt Nam Theo những ghi chép lịch sở, diễn ngôn “khai hóa
văn minh” của Pháp ở nước Việt ta thực chât chỉ là một phương cách Tháp thục
hiện điển ngôn quyển lực và đã tâm xâm lược của tình Vielor Hugo từng nói
“Hòa bình là đức hạnh của nhân loại Chiến tranh là tội ác” Quả thực vậy, từ khi
Tháp nỗ tiếng súng dau tiên tại Đà Nẵng đã gây ra biết bao biên đông, nỗi đau
23
Trang 30thương trong lịch sử dân tộc Việt Nam Mat Nam Ky, Bac Kỳ rồi thực đân ngang, nhiên, hồng hách đặt ach thống trị trên toàn cði nước Việt Xã hội phong kiển yếu
ớt, nhụ nhược, mục ruộng đầu hàng trước giặc nhưng chưa “chết hẳn, chưa làn lại
lại manh nha một xã hội mới nhề nhãng hơn, kệch cỡm, lỗ bịch Đây cũng chính
là giai đoạn bắt đâu mô hình “xã hội giao thời — thực dân nửa phong kiến” diễn ra đông dều cả hai miền Nam Kỳ và Bắc Kỳ
Ở Nam Kỷ, “Người Pháp cho xây dựng những công trinh, dinh thự của họ
trên đất Gia Dịnh, từ Han Tổng tham mưu, Dinh Thống déc, Ngan khé, Nha in, cho
đến kho vũ khi hải quân, công trường đông tàu, Sở cầu đường, Sở bưa điện, mạng viễn thông cho đến Thão Cảm Viên, song bạc, sở thầu thuốc phiện, sở thu thuế
xuất khâu gạo của người Pháp và người Hoa kiểu) ” [15, tr178] Còn ở Bắc Kỳ
“đồ thí hỏa theo mổ hình thực dân muộn hơn, bắt đầu từ những năm 1890, Công
cuộc khai thác mô, trồng cây công nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ (sản xuất
bỏng sợi, rượu, bia, đường, xà phòng, dâu, đệt, gạch ngói, thủy tính, đổ gia đụng),
thương mại Gnd ngân hàng, nhà buôn), giao thông (xây bến tảu, dường sắt, cầu cổng) theo hướng tập trung nguồn lợi và quyền lực váo tay chính chủ “bảo hộ đã lam xã hội Việt Nam tiếp Lục phân hóa và mâu thuần ngày càng sâu sắc.” [15,
+r,178J Không chỉ thay dối về cơ cấu kinh tế, xã hội, một tầng lớp mới cũng xuất
hiện Lớp Tây học tân nhe có danh vị như ông Tham, ông Phán, Dốc tờ thay thể cho
lớp quan Nghe, quan Tham, Tri thie Tay hoc bit ding táo vẫm chương và
phát triển và kiểm sống bảng nghề viết văn, viết bảo, “tho ca ban phố phường” Tầng lớp cựu nho đến đây bắt đầu bị phân hóa tư tưởng, cứ lửng lơ giữa ''cựu” và
“tan”, giữa Nho và Tây, giữa Âu và Ả
Sinh tưởng trong thời buổi “dé dé ương ương” ấy, nhả thơ Tú Xương cũng,
không tránh khỏi những trắc trở, tư hy, bắt lực về nghiệp chữ “Chữ nghĩa Tây Tàu trút đỡ đang/ Nôm mà phá nghiệp kiếm ăn xoang” (Twa — Tan Pa) và cả nỗi đau
buôn, những niềm phẫn uất riêng hoa chung với nỗi đau của dân tộc, nhân dân Tất
cã những điều đó, ông không giảu đi, cũng không che đậy, phủ nhận mả thang thin
đưa cả cái xã hội “vãi hợm” äy vào thơ với bảo toàn hầu như nguyên vẹn cả “Hình
34
Trang 31hải”, Từ sự tha hĩa của nhiều bộ phận xã hội trước ma lực ca đồng tiền, chức vị, hão danh đến “sĩ khi rụt rẻ gả phái cáo” của tẳng lớp nho sĩ cuối mùa, vừa muốn giữ
vẻ người cĩ chữ òi nghiêm, chững chạc, thanh lao, vừa kem khorn chen lần để cĩ lí chút quyền lực và của cái Tủ Xương gắn như dảnh cả cuộc dời vả sự nghiệp văn chương của mình để làm thơ trào phúng về bao cải mới nhưng quái gở đĩ Thậm chỉ, nhà tho cũng chẳng ngại ngần vạch tần, đã kích thẳng tay và khi sần “gọi lên,
điểm mặt”
Tinh thể giao thoa giữa cái mới mới xuất và dẫn thắng thé và cái cũ đang yêu
ớt, ngơi ngộp giữa hai nên văn hĩa Đơng — Tây đã lạo nên một “tình thế cưỡng búc
“cãi lộn””, một bối cảnh lai căng phức tạp với đây nghịch đị chính lá yêu tố làm bật
Ta tiếng cười trảo phúng giữa hai bén cum va tan Vé diéu nay, Homi Bhabha gọi đá
là “bí ghúp” như một một chiến lược của kẽ thực dân để “ký hiệu hĩa” văn hĩa
Pháp vào vấn hĩa Việt cùng âm mưu thơn tính và đồng hĩa Lai ghép mang tính
“nước đồi" (lưỡng trì, nảy sinh trong khi quyền lực thực dân bị “phân ly" và kết quả thường lạo ra những lai Lạp, nghịch dị, trộn hịa giữa cĩi khác, cái xa là và điều
quen thuộc ở tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hỏa, xã hội “nứa nạc, nửa mỡ”
Vậy “cái khác”, “cái nghịch đị” ấy được biểu như thế nào?
Về khái niệm “cải khác”, dây khơng chỉ lả một khái niện quan trọng trong,
luận điểm của W Said về văn chương mà cịn lả vẫn để trưng tâm của các nên vin
hố và vấn học hậu thực dân Ở Việt Nam, khải niệm nảy từng được Nguyễn Hưng
Quốc dé cập và phân tích trong bài viết “Chú nghĩa hậu thực đân”: ““Cải khác”
khác với sự khác biệt (difference) vì “cái khác” bao gồm cả sự kháo biệt lẫn bàn sắc “Cái khác”, tự nĩ, là một bản sắc và bản sắc ây được hình thánh chủ yếu trên sự
phân biệt với những bản sắc khác đang chiếm giữ vị trí trung tâm No được tạo
lập từ bảng giá trị mà nĩ luơn luơn tìm cách phú nhận: nêu thực đân là trật tự, văn xainh, duy lý, hùng mạnh, đẹp đế và tốt lãnh thì thuộc địa lại là hỗn loạn, mơng
xruội, cảm tính, yếu ớt, xấu xí và xấu xa Sự phú nhận ấy được thực hiện ở thể yếu,
do dé, khang bao giờ thục sự triệt đề Tính chit phan vân ấy làm cho người thuộc
dia khơng những là những “cái khác” sa với thực đần mà cịn là những “cái khác” so.
Trang 32với chỉnh quả khứ của họ ” [Dẫn theo 44J Nôm na có thể hiểu, trong thời kỳ Pháp
thuộc, nước Việt không chi là “cái khác” với nước Pháp má còn là “cái khác” so với
nước Việt trong quá khứ Bởi vậy, khi tim hiểu lịch sử nước nhà trong lừng giai
doan, người ta luôn sự nhìn nhận da chiêu giữa “trước” và “sau” thời kỉ ấy dễ thấy được sự du nhập hay tiếp biển “cái khác” vào cộng đồng bản địa Qua đỏ cũng để trả lời cho những câu hỏi như: “đã có những sự thay đổi khác biệt như thế nào?” hay “thay đổi bằng cách nào?”, Một vị dụ đơn giản, trước khi văn hóa phương Tây
đu nhập vào Việt Nam, nước ta vẫn còn mang đậm đẫu ẩn của một nước có nên
xiông nghiệp truyền thông lâu đời cùng rhững đâu ân rất riêng của tuột rước vẫn hóa phong kiến phương Lông, Dó là một nước “lẫy gia tộc làm gốc, lẫy tình căm
lam trọng, trông vào con chan duy tri ndi gidng và nỗi nghiệp tổ tiên, coi trong tinh
trường Lỗn, tra chuộng hoa binh, an cu lac ughiép, Tuy nhiên, đến cudi thé ki XTX,
du thé ki XX, khi thyc dân Pháp thực hiện “sử mệnh khai hóa” trên đất nước †a, xã hội Việt Nam đã có nhiêu chuyến biển từ xã hội phong kiến độc lập sang xã hội tu tiần thuộc địa Vì vậy, rửur một hệ quả tát yếu, qua quá trình tiếp xúc văn hỏa, mợi lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn hòa, xã hội đều có sự thay đổi so với trước, Cùng với
đó là sự xuất hiệu những thái độ khác nhau với môi quan hệ Đông — Tây của chủ thế
vân hóa Việt Nam Một bên dòng tỉnh với việc Âu hóa hoàn toàn, Một bên, khi nhìn nhận những mặt tiểu cực của chủ nghĩa thực dân lại mang tư tưởng chẳng cự lại quá
trình Âu hóa va coi đó là hành động “vong Tổ” Đó cũng là một vải nét khái quát
vẻ khái niệm “cái khác” theo cách nhìn, cách tiếp nhận và dành giá của những chủ
thê văn hỏa Việt Nam
Về khái niệm “cái nghịch lý" (grotesque) (tiếng Pháp) Nphich dị còn được
gọi là “thô kệch”, “kỳ quặc”, lá “thuật ngữ chí một kiểu tỏ chức hình thúc nghệ thuật
(hình thức/phang cách#hê loại), đựa vào huyển tưởng, tính trào phúng, tính ngụ ngân,
Trang 33một chính thẻ không tách biết cả hai cực, cái cũ và cái mới, cái mất đi và cải sinh ra,
vừa phú định, vừa khẳng định, .” [Dẫn theo 15, w.112] Tay nhiên, “cái nghịch dị” trong văn lọc Việt Nam mã cụ thể là trong văn học trung đại Việt Nam thì thường,
không mang dây dũ các yếu tổ như trên được dễ cập của Phục hưng Phương lây Theo
đó, “chất nghịch đi trong phần lớn các tác phẩm thường giao thoa‘dan cdi/léng
ghếp/dụng nạp một cách kín đáo với chức năng giáo huấn hoặc thái dộ phê phán hiện thực nên luôn gây ra những cách tiếp cận khác nhau” [15, tr.116]
Trên day là một số cách hiểu khái quát vẻ các lý thuyết như “lai ghép”, ý
tiệm về “cái khác”, “cái nghịch đị” Vậy khi vận dụng vào cụ thể các tác phẩm thơ trảo phúng của nhà thơ Trần Tế Xương, điêu đó sẽ được thể hiện như thế nảo?
21.1 Bức tranh sinh động về xã hội nửa thực đân nửa phong kién
Thải nói rằng, Tủ Xương rất tải làm thơ trào phúng Chủ đẻ và đề tải trong
thơ ông rất phong phú Tắt cá hiện lên vô củng chân thực và sống dộng như thể dó
là “tắm gương soi chiều cuộc đời” Cho nên cuộc đời có gi thì nó biện lên như vậy,
không phân biệt đề tài lém, nhô Không những thẻ, nên những cảnh ngang trải đó,
những người “lạ đông” đỏ lại dụng Irùng tâm hồn, vào trái tim, ly Lng cia nha tho thì ông déu tim ra tiéng cười có lúc đã kích có lúc lại đây chua xót Tựu chung lai, thơ ông chính là sự quan sá, suy ngẫm và chiêm nghiệm cánh đời, xã hội khách
quan và chính đời mình
Trước hết là đề tải đã kích bọn thực dân Pháp Để tải đầu tiên nay có lẽ
không dỗ gì mới lạ và khúc biệt với các sáng tác trước đó bởi châm biểm và đã kích
thực dân Pháp, đầu tranh, phản dối chủng chính là hành động chúng, là nỗi niém chung
của mỗi người đân yêu nước mọi thời đại chứ không riêng gì các nhà văn, nhà thơ,
những người có độ “nhạy bến” về tâm hỏn Trưng văn học Việt Nam đã có những, Nguyễn Định Chiếu, Nguyễn Khuyến, thể nhưng, tiếng cười mía mai ð Tú Xương,
vấn có sắc điệu rất riêng Trước sự xâm nhập của chủ nghĩa tứ bản xâm lược lúc chế độ
phong kiến bước vào chỗ tàn lụi, Tú Xương không cỗ xúy theo hưởng lac như Nguyễn
Công Trủ, Cao Há Quát, cũng không công nhiên nhin nhan tinh wang đô hộ của Pháp.
Trang 34bay vui về tán thành nó, xem như vạn sự thái bình, không có hẻ hắn gì xây ra với tô quốc, nhân dân như trong những bái ca trủ hỗ bành lạc của Trin Lé Kỷ:
“Tự lên một đến murời lắm còn bré nil,
Hồn mươi năm cút kít dã về giả
“Tính trong vòng cần đá với trăng hoa
Ba ruc nam là sắp kiệt
“Thế mà côn đi học đi hiệc, di thi di thiée,
Giời đã sinh ra kiếp làm mười,
Chả choi, người cười ra chủ vích†
Được ngày nảo ta chơi cho thích ”
(Tam thập nửn lập)
hay như Dương Khuê cũng từng vịnh:
“Mây thuở thái bình nay lại gặp!
‘Vd tay dưa dịp lính lĩnh caol ”
(Tự vụn) Thay vào đó, trước chính sách thâm độc của thục dân Pháp khi xâm chiếm
nước ta, khi chúng chiếm doat ham m6, cướp bóc nguyên liệu, mở dường giao
thông để chuyên chớ của cải của đất nước ta về nước chủng, Tủ Xương cũng đã
au dan doy
dũng cắm nói lên tiéng ôi cảm thông của mình: “Nấi nọn đào cũ
Sông, bẻ khơi đường, mãi cũng vẽnh ” Có thẻ nói rằng, dây là một trong số nhiều bài thơ trữ tình nói lên nỗi lòng và của nhà thơ Trữ tỉnh nhưng vẫn mang chiều đã kich Tuy nhiên, theo khuôn khổ của bài, chúng tôi sẽ không đi sâu nhiêu vào phần nội dung trử tỉnh nảy, Đồng thời, để có thể rạch rỏi trong việc phân định tác phẩm
thơ trào phíng, mà trong đẻ thế hiện trực tiếp sắc thái đã kích thực đân Pháp thi
đường như không có mội sáng tác nào đích danh, cụ thể Bởi nội dìmg đó đêu được nằm biểu ý trong gần như tất cã các tác phẩm thơ trào phúng của Tú Xương Dó
có thế thê hiện thông qua việc miêu tả, “đá xoáy” sự xuất hiện những nhân vật thị
dân (me Tây, câu ấm, ä buôn ), những kế học đôi những thói xấu, lỗ lắng, hợm
28
Trang 35tĩnh, sự lên ngôi của động tiên hoặc hay chế dộ Hán học dẫn bị “phê truất” trong xã hội đương thởi đây lúng tủng giữa cái mới và cái cũ,
Tiên cụnh đỏ, phê phản bor tay sai, quan lại cũng là một để tài gần như xuyên suốt trong các sảng tác của ông Tủ Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu từng nhận
? [Dẫn theo 15, tr.183| Xét theo tổng lớp xã hội, dây
được coi lả tầng lớp thống trị, Có quan tốt, có quan xâu (theo tiêu chí đạo đức Nhơ
giáo) song từ đân gian cho tới thư Nguyễn Khuyẻn, Tủ Xương, nhân vật quan lại
luôn được miéu ta ral cu thé, da dang và đông đảo, đồng thời cũng bị châm biém
nhiều nhất, gay gắt nhất Hới vay, dé tai nay mặc đủ là một đề tải cũ nhưng cải mới
được thẻ hiện và nhân mạnh ở đây chính là ở bút pháp của Tủ Xương đậm cá tỉnh
“khu biệt” và raang nói cảm hứng thời sự
Tươi thời thực dân Pháp xâm lược, không chỉ có bon quan tham mả còn xuất
hiện những tên tay sai, bán mước Dưới ngôi bút cũa ông Tủ, hình ảnh của bọn chúng cảng hiện lên phong phú da đạng, Hiậm chi nha dio con “chỉ mặt điểm tên”
qua danh xưng, chức tước, như những kế ra sức xu phụ thực dân để được cân nhắc lên chức quan to, nhân việc đỏ mà đuổi cô hầu về vì cho rằng cỗ ta lẳng lơ trong
Cô hậu gửi quan lớn:
“Chí trách người sao chẳng trách minh?
Minh trung dau day, Irách người trình?
Ao day cơm nặng, bao nhiêu dức?
Chiếu cạnh giường bên mẫy hột tình?
Tơ tóc nổi riêng thì xét nét,
Giang sơn nghĩa cả nỡ mân thính!
Cổ cong mặt lệnh người đâu thé?
Gái cóc bôi vôi khéo đại hình!”
Tối với bọn quan tham những khi về giả, không hoảnh hành được nữa, lại
giờ trỏ giả nhân giả nghĩa niệm phật, đói lừa nhân đân, nhà thơ cũng kiên quyết lột xuất nạ của chúng
29
Trang 36hồi lộ, bòn rút của đân không nghĩ gì đến trách nhiệm trong Dua ống Phú Cũng
có những bài thơ như Ông cử Ba, tác giả xéo xất ví ông cử tên Ba như cơn ba ba, xấu xi như con rin trong hang những ra vẻ tay đây lắm Thậm chí tác giả cén họa
theo câu Kiểu “Thân lươn bao quản lắm đâu” để điểu cợt tên quan mũ áo lượt là:
“Của Vũ ba nghìn sóng nhảy qua,
Ai ngờ mũ áo đến ba bai
Dau như lươn đật mà không lâm, Thân Lựa xã hang cũng ngó ra
Dưới nước chẳng ưa, ưa trên cạn,
TÂI sẻl không ăn, ăn thịt gà
Tuy ring cé rut, ma khong ngồng,
11ễ cần ai thi sét mới tha.”
Có thể nói, nhà thơ đã dựng lại châu dụng của bọn quan lại, mỗi người mỗi
vẻ nhưng, dễu rất sắc cạnh Một tên quan luyện “minh trang, đâu dây trách người
trình”, ông Dốc cờ bạo ăn chơi rặt một màu, ông Cử Sách như hủ nút, chữ như mù,
trong một xã hội lỗ lăng, rêm đời đã được Tú Xương tái hiện cụ thể và đây sinh động Qua đó, độc giá cảng thấy được thai độ phần uất của Tủ Xương trước thực
trạng xã hội lễ lăng với những cơn người, những hiện tượng trái tai, gai mắt, chẳng,
giúp gì cho đân mà chỉ cảng cản quấy, lũng đoạn lòng đân của đán quan tham vô
lại lúc bây giờ
Không nhĩmg thể, Tủ Xương tiếp tục còn chia mũi đủi đả kích mạnh mẽ của
Tình vào chỗ độ khoa cử và tình trạng Nho học lúc bây giờ Sự xuất hiện cửa
30
Trang 37chữ Quốc ngữ đã thay cho chữ Hán, chữ Nôm kèm theo đó là việc thì cử chữ Han
đang trong tỉnh trạng hấp hổi đồng nghĩa với sự sụp đỗ hoàn toán của nên an
hoc di (én lạt lâu đời trên đất nước ta Tất sống “tư sâu hóa”, “Au hoa” dan
dần hình thành, xâm nhập và tân céng vao lỗi sống phong kiến, cổ truyền của nhân đân Dạo Kho một thời làm nền móng cho những luận lý, đạo đúc của cã dân tộc nay Irong bối cảnh giao thời giữa nền vấn học cũ và mới, chữ Nho đã mắt din vi trí của mình và “đang chờ chết” Tủ Xương thuộc lớp nho sĩ cuỗi cùng chúng kiến
bao quát cả một nên Iián học sựp đổ Sự “giãy chết” của chữ Nho cũng là nguyên
whan lam sup dé ca nén Han hoc nước nhà
“Nghe nói khoa nảy sắp đổi thí
Các thầy đ cố đỗ mau dit
Dau khong bia đã gòn bia miệng,
'Vứt bút lông di, git but chil”
(ai thi) Nhà thơ cũng bảy tổ thái độ chân ngắn vì lá nhà nho mà phải di thi bang chit
Quốc ngữ tân thời
“Ra ky trọn vẹn tiêm kỳ niữa Ủ,ớ,u,ø ngọn bút chi”
Wi thi
“Ma bao vẫn tây chẳng khó gì,
Cho tiên đi học để chờ thị Thôi théi lay mo xanh căng lay:
Mã tế tôi không tang bút chỉ!”
thánh hiển cũng, chẳng còn mật ai đọc nữa, chẳng cẻn giúp họ tiên thân lam quan,
làm kế quân tử thanh tao với lý tưởng giúp dân, giúp nước nữa Ngược lại lả xu
Trang 38khoa cữ khi mà thủ cử trở thành một món hàng mua bản, đứt lót, gửi gắm Vì thể,
việc lỗ chức thì ngay trong vòng thí khảo đã toàn gian đối
“Thánh cắt ông vào chủ việc thi
TÐêm ngày coi sóc chỗn trường quy
Chẳng hay gian dối vì dầu vậy?
Ba ngo thang ông biết chứ gì!”
(Chế ông huyện Ð).)
Trước những cách tân và đối mới về chữ việt, chế độ khoa củ, các nho sĩ chân
chính đương thời cũng chẳng mây ai mặn má Khoa thủ [lương cử hai năm lại tổ chức
„một lần, song có lẽ số lượng người di thi rat it nên phải nhập hai trưởng lại thí chung,
“Nhã nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với trường TIả”
Chẳng còn thấy cảnh uy nghiệm, trang trọng của mnột trường thí chữ liên xua
‘kia, tat cả những cảnh tượng quen thuộc ây đã mờ nhỏe Thậm chí lễ xưởng đanh khoa
bảng trang trọng, cao dẹp là thể cũng trở nên kệch cởm, lố lăng hơn bao giờ hét
“Một đàn thẳng hỏng đứng mà trồng,
Nó đã khoa này có sướng không ! 'Trên ghẻ bà dằm ngơi dit vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng ”
(Giẫu người thi đổ)
Ở dây, nhà thơ Tú Xương đã tạo nên dược những tình huồng, tỉnh thế đặc
biệt Chẳng hạn trong câu thơ trên “Trên phê bà đâm ngoi dit vịt/ Dưới sẵn ông cử
nông đầu rằng ” Hình anh ba dam ve dng quan Tây đến dự lễ xướng danh thì ngồi
trên ghế Các nho quan thì ở dưới sản Khi dọc xướng danh, phải lạy thiên tử nhưng,
ở đây người để đạt làm quan (tiêu biểu cho đạo học) lại ở đưới tháp củi lạy bà đầm (đại điện cho kế thông trị) ngồi chếm: chị ỗ cao Tình thế giữa kẻ thống trị va bi trị kẽ vỏ học vá kế có học, “dit vịt” và "dầu rồng” được dựng như thế huông gây
cười Các động từ chỉ thế ngồi, ngóng nhìn như “ngoi”, “ngàng” bẫng trở nên thật
đất giá Vừa rất nghịch những cũng rất sâu cay Bà “ngoi”, ông “ngồng”, hình ảnh
đó khiến sân khẩu của lễ xưởng danh thánh ra như trò hề, như tắn tuông sau khẩu
32
Trang 39Liên án sức mạnh, thể lực của dỗng tiên cũng là một để tải đặc biệt trong thơ
ông Tú Dưới nhấn quan của nhà thơ thành thị, Thành Nam xưa là một đỏ thị sảm
uất, người người lu lơí làm ăn nhưng nay thì không còn nữa rà thay vào đó là một
đô thị xô bê, nhốn nháo, dạo dức xuống cấp Nguyên nhân chỉnh có lẽ là do sửc
mạnh thể lực đồng tiền đã bắt đầu ngự trị và ra sức “tác oai tác quải” theo kiểu: “Có tiên mua liên cũng được” Đông tiên đã thật sự làm đão lộn và xáo trộn trật tự xã hội Nó làm cho đạo đức suy đổi từ trong gia đính cho đến ngoài xã hội như Tủ
Xương cũng phải cay đăng thốt lên:
“Kẻ yêu người ghét hay gì chữ,
Dua trọng thằng khinh chỉ vị tiên.”
(Thói đời)
Có thể thấy đồng tiên trong bức tranh hiển thực xã hội trong thơ tự trào của
Tú Xương bị tha hóa đến trằm trọng Nào côn lạ gì cảnh:
“Khăn là bác nọ to tây rễ, Váy Tĩnh cô kia quốt sạch hè Công đức tu hành sư cũng lọng,
Ku hao ring rink, Man nigdi xe.”
(Nam moi) Cùng với đỏ nhà thơ cũng phê phán những kẻ chí biết có tiến hay có cũng chỉ
giữ bo bo lâm vila dng wa Jam điều tên ác, bắt nhân:
“Dơ dáng thay những mit tai tinh
Vi tiền mã bao cói xấu xa, nực cười, quái gớ, lỗ lãng trong xã hội ngảy cảng,
được phơi bày Những cảm về về vật chất phù hoa đã làm cho con người mủ quảng,
khiến Khong can phân biệ được đầu là đẹp đâu là xâu, “cô kia”, “bác nọ” ăn
33
Trang 40mặc chẳng giống ai, chỉ cân mô-den, trông Au, Tay la dược Kế ca thay tu cing dùng lọng che đi trên đường, ngênh ngang, bỏng bấy như quan lớn Không những thé, vì đông tiền, con người lừa gạt, dối trả nhau để sống, đối xử không tình nghĩa Tình cha con, vợ chồng, tỉnh bạn bẻ đều bị chả dạp trước sức mạnh của danh hão, của đồng tiền:
“ii hóa đem ruình Hựa cửa quan,
Nghĩ rằng quan lớn thế là sang,
Thuong con toan lay day tơ buộc,
Tên rễ vì tham cai long tan.”
(Ađuồn thông gia với quan) Đến ngay cả bản thân Tñ Xương cũng là nạn nhân của đồng tiền, vi quá tin tưởng vào bạn nên phải mất cả đất, bán cả vườn để trả nụ trong Không vay mà trã hay Gan té than vi8e nhà:
“Bồ ở một nơi, con một nơi,
Bam tay tháng nữa hết năm rối Văn trường ngoại hạn quan không chấm,
"Nhà cửa giao canh nợ phải bồi
Tin bạn hóa ra người thất thé,
Vì ai nên nỗi chịu lâm vôi
Ta mươi mốt tuổi đã bạo chốu,,
Lặn suối trèo non dã mẫy hỏi.”
Củng với sự lên ngồi của đồng tiền, nhà thơ cũng không quên vạch trần những thói hư, tật xấu của thời đại Dưới con mắt của Tú Xương, xã hội của nhà nho, của đạo đức thánh biển đã sụp đổ, không còn chút thể lực Trước kia, xã hội
“tam tong,
tử đức” Kế gây ra những việc làm vô nhân đạo đều bị xã hội quyết liệt lên án
nhưng nay, dưới xã hội thực dân rửa phong kiến, những giá trị, tuyển thống tốt đẹp
đường như đã bị đạp đổ Cái xâu xa, giá đối lên ngồi Đến ngay như âng Đốc học, phang kiên rang bude con người bằng đạo đức “tam cương ngũ thường:
3