Truyện tranh dành cho nữ giới ngảy nay đã được thay đổi dần để đáp ứng với sự thay đổi vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhật Bản đà vấn đề phân biệt giới tính vẫn luôn tồn tại Vấn để h
Trang 1PAT HOC QUOC GIA HA NOT
TRUONG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VAN
TRAN TH] HANH LE
SỰ THAY DOT VE QUAN NITEM TINH YEU
VA Y THUC HON NHAN CUA PHU NU NHAT BAN
SAU NAM 1945 PHAN ANH TRONG TRUYEN
TRANH DÀNH CHO THIẾU NỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
TIả Nội — 2017
Trang 2PAT HOC QUOC GIA HA NOT
TRUONG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VAN
TRAN THI HANH LE
SU THAY DOI VE QUAN NIEM TINH YEU
vA Y THUC HON NHAN CUA PHU NU NHAT BAN
SAU NAM 1945 PHAN ANH TRONG TRUYEN
TRANH DÀNH CHO THIẾU NỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHAU A HOC
Tuận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu A hoc
Mã số: 60 31 06 08
Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Minh Vũ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ Luận vấn thạo sĩ tốt nghiệp chuyên ngành Châu
A hoe voi dé tai ‘su thay déi vé quan niệm tỉnh yêu và ý thức hôn nhân của
phụ nữ Nhật Bản sau năm 1945 phản ánh trong truyén tranh danh cho thiểu nữ” lả công trình nghiên cửu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng
dẫn của TS Võ Minh Vũ
Mọi trích din và số liệu trong luận vấn này đều được trích nguồn đầy đủ,
rõ rằng luận văn này không trùng lặp về nội dung với các luân văn dã công
bố trước đó
Tác giả
Trần Thị Hạnh Lê
Trang 4LOI CAM ODN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cấm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên
hướng dẫn TS Võ Minh Vũ đã định hướng và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận vấn thạc sĩ với đề tài “sự thay đổi về quan niệm tình yêu
và ý thức hôn nhân của phụ nữ Nhật Bản sau năm 1945 phần ánh trong
truyện tranh dành cho thiếu nữ”
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Nhật Bản
học, khoa Đông phương học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hả Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có cơ hội được
học tập và nghiên cứu vẻ lĩnh vực chau A học, cụ thể là Nhật Bán học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bẻ đã luôn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thành công trình liận văn
Do trình để còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chắc hẳn hiận vấn nay sẽ không tránh khỏi những sai sót Tôi hy vọng sẽ nhận
được sự góp ý khách quan tử các thầy cô, các bạn để luân văn này được hoán
thiện hon
¡, ngàp 25 tháng 10 nấm 2017
Trần Thị Ilạnh Lê
Trang 53 Cấu trúc của luận văn "“ Ha "¬-
CHƯƠNG 1 SỰ THAY DOI QUAN DIEM TINH YEU VA HON
1.1.1.Tình hình kinh tế- xã hôi
1.1.2 Quan điểm của phụ nữ vẻ tỉnh yêu, hôn nhân
1.2 Thời kì kinh tế bong bóng sựp để và trí trễ kéo dài sau năm 1970 14
1.2.1 Tĩnh hình kinh té-x hột
1.2.2 Quan niệm của người phụ nữ về tình yêu và hôn nhân wilt
CHƯƠNG 2: QUAN BIEM VE TINH YEU VA HON NHAN CUA PHU
NU NIIAT BAN TRONG TRUYEN TRANII DANII CIO TIDEU
2.2 Giai doạn sau năm 1970 dến những năm dầu thé ki 21 ca BB
2.2.1 Bự phát triển của truyện tranh dảnh cho thiếu nữ: thời kì lên
2.2.2 Quan điểm về tình yêu và hôn nhân của phụ nữ
Trang 6Tiểu kết - wo SI
CHUONG 3 QUAN DIEM VE TINH YEU VA HON NHAN CUA PHU
NỮ NHIẬT BẢN TIIỂ HIỆN QUA MỘT SÓ BỘ TRUYỆN TRANIT
3.1.1 Sazae san - bộ truyện tranh thiểu nữ sinh ra trơng thời hậu chiến 53
3.1.2 Quan diểm về tỉnh yêu của người phụ nữ luồn chiến dấu cho sự
bình đẳng
3.2.1 Ribbon no Kishi- bộ truyện tiên phong cho phong cách giả
tưởng để cao sức mạnh người phụ nữ
3.2.2 Ribbon no kishi - hành trình từm tỉnh yêu vả khát khao lá chính mmỉnh của phụ nữ
3.3.1 Nana - bộ truyền tranh bán chạy thứ tư trên toàn thể giới 70
3.3.2 Nana - thể giới tình yêu của phụ nữ trưởng thành: đầy dục vọng
và mãnh hệt, chóng vánh nhưng chân thật 72 3.4, Totsuzen Desu Ga Ashita Kekkon Shimasu (2014) ce 9
Trang 7DANITIMỤC CÁC BANG BIEU
Bang 1.1 Khảo gái ý kiến của phụ nữ về "sống chúng Irước hôn nhân" giai
Biểu đỏ 1.2 Quan điểm “Chồng dị làm, vợ nên chắm sóc gia đình” của cả
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Lý do chọn lựa để tài
Nói đến truyện tranh Nhật Ban, người ta nghĩ đến một nét văn hóa
đặc trưng, hay một nền công nghiệp mũi nhọn -một biểu tượng tự hảo của
xứ hoa anh đào, chứ không giống với quan diểm truyện tranh là dành cho
trẻ em
Ở Nhật Bản, sự phổ biến của truyện tranh va ảnh hưởng của nó đối với văn hoá thị giác và xã hội là nải trội hơn so với sự ảnh hưởng của
truyện tranh ở các quốc gia khác Thông qua truyện tranh, xã hội Nhật Bản
hiện lên một cách đa chiểu rõ nét với vô vàn các góc nhìn từ văn hóa, lỗi
sông đến tư duy Nhật Bản, thậm chí tệ nạn hay các vấn đẻ xã hội
Ảnh hưởng của nó xuất hiện khắp Nhật Bản trong quảng cáo trên TV,
quảng cáo, và thậm chỉ ch giáo khoa Truyền tranh Nhật Bản góp phần
mang văn hóa Nhật ra với thế giới, quảng bá rộng rãi trên một phương điện
nào đó còn vượt qua cá các loại hình nghệ thuật khác, vượt qua rảo cắn
ngôn ngữ, dễ dến với mọi déc gid trên tư cách là dại sử Nhật Bản
Mặc di rất phổ biến, tuy nhiên không nhiều người thực sự hiểu được
tầm quan trọng của truyện tranh Nhật và sự khác biệt với truyện tranh Mỹ
Một trong những đặc diém chính của truyện tranh Nhật là nó đã chia thành
hai thể loại theo đối tượng là shounen manga (dành cho nam giới) và
shoujo manga (đảnh chơ nữ giới) Truyện tranh dành cho nữ giới ngảy nay
đã được thay đổi dần để đáp ứng với sự thay đổi vai trò của phụ nữ trong
xã hội Nhật Bản đà vấn đề phân biệt giới tính vẫn luôn tồn tại
Vấn để hôn nhân- tỉnh yêu luôn lả vấn để hấp dẫn và phong phú là dé
tài của nhiều loại hình nghệ thuật phản ánh như văn chương, điện ảnh và
Trang 9Manga với tư cách là một mảng của nghệ thuật hiện đại Nhật Bán cũng,
không phải là ngoại lệ Tuy nhiên, cách thể hiện các vấn dễ tỉnh yêu cũng,
như hôn nhân hiện đại Nhật Bản (sau năm 1945) thi có thể nói có tính đại
chung hon, hap dẫn cũng như nhiều mau sac hon
Vấn đề sự thay đổi ý thức hôn nhân cùng những quan niêm tinh yếu
trong xã hội Nhật Dân có thể nói là vấn để không mới nhưng luôn nóng
bồng, ảnh hưởng tới những vẫn dẻ dặc biệt nổi bật của xã hội như pid hoa
dân số và tỉ lệ sinh thấp, hay xu hưởng cân bằng giữa công việc và gia đỉnh
của người phụ nữ hiện dai Điều này được thể hiện qua truyện tranh đặc
biệt lả truyện tranh thiểu nữ vô cùng độc đáo sáng tạo nhưng cũng rất chân
thực, phán ánh thực tế xã hội Vì vậy, trong luận văn thạc sĩ, tôi sẽ khảo sát
về những thay đổi trong quan niệm tình yêu vả ý thức hôn nhân của phụ nữ
Nhat Ban từ sau năm 1945 thông qua việc phân tích một số tác phẩm truyện
tranh dành cho thiểu nữ tiêu biểu
1.2 Ý nghĩa khua học và thực liễn của dễ tài
Luan vin nay sé dua ra cdi nhin cu thé về vai trò cũng như vị trí của
người phụ nữ trong xã hội Nhật Đản hiện đại, từ đó đối sánh với hình ảnh
người phụ nữ trong truyện tranh để làm rõ sự tương tác giữa thực tế vả
truyện, mang lại tư liệu hữu ích cho bạn đọc quan tâm tới vấn để xã hội thể
hiện qua truyện tranh
Luận văn cũng là cơ sở tư liệu cụ thế về một số bộ truyện tranh thiếu
nữ điển hình về các vẫn đề tình yêu, hôn nhân thể hiện qua nó
2 Lịch sứ nghiên cứu vẫn đề
Lịch sử nghiên cứu truyện tranh thiểu nữ
'VỀ truyện tranh thiếu nữ, tại Nhật Bắn cững như một số quốc gia khác
đã từng có khá nhiều tác phẩm, công trình nghiền cứu Riêng về truyện
Ww
Trang 10AangalGiris' Comics! 4 Mirror of Girlg' Dreums " ïn trên tạp chỉ nghệ
thuật Mechademia số 2 năm 2007 thể hiện dời séng tỉnh thần của nữ giới
phản chiếu qua truyện tranh cũng như vai trỏ của người phụ nữ củng
những thay dỗi trong xã hội thông qua truyện tranh thiếu nữ Không chỉ có vậy, tác phim International Perspectives an Shojo and Shojo Manga: The
Influence of Girl Culture véi su góp mặt của nhiều chuyên gia nghệ thuật
Nhật Bản vả thể giới đã thể hiện khá rõ sự phát triển của truyền tranh thiếu
nữ cùng vai trò của nó nhìn tử quan điểm mang tính toàn cầu, được tống
hựp và viết lại bởi Masami Toku của nhà xuất bản Reutledge năm 2015
Ngoài ra còn có bài nghiên cứu của tác giả Fujimoto, Yukari Japanese
Contemporary Manga (Number 1}: Shoujo (Girls Manga) đăng trên báo
Japanese book sé 56 năm 2008 nói về truyện tranh cho nit gidi ven tur cach
là một phần của truyện tranh hiện đại Một số khía cạnh về giới tính cũng
được đề sập trong luận văn “gender and sexuality in shoujo manga:
undoing heteronarmative expectations in wena, pei shop of horrors, and
angel sanctuary” cia Emily M Hurford Thé giới riêng cùng tỉnh cách,
phẩm chất của nữ giới cũng được bản Lới khá chỉ tiết trong bải viết "§hosjo
Manga—Something for the Girls", ding, trén The Japan Quarterly, tap 48,
số 3 của tác gid Matt Thorn
Ở Việt Nam cũng dã có khả nhiều các công trình nghiên cứu vừa va
nhỏ về truyện tranh nói chung và truyện tranh thiển nữ nói Tiêng Về
truyện tranh Nhật Bản, có thể kế ra một số bài nghiên cứu trên các tạp chí
hay các tiểu luận và luận văn khoa học tiêu biểu như bải nghiên cửu
"Những ảnh hưởng của truyện tranh Nhật Ban đối với trẻ em Việt Nam
hiện nay" của tác giả Ngô Thanh Mai đăng lrên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Nước ngoài, Tập 32, bàn về sức ảnh hưởng của
truyện tranh tới thế giới và tại Việt Nam đối với đối tượng thanh thiếu niên
Trang 11Ngoài ra, nghiên cứu truyện tranh trên phương diện là môt bộ môn nghệ
thuật đặu biết mang dậm bắn sắc và dấu ấn của đất nước mật trời moc lả
nội dung của bài viết "Truyện tranh Nhật Bản - một nền nghệ thuật quốc tế
và bản địa" của tác giả Phạm Tuần Anh dăng trên tạp chí Sông Hương số
316 ra ngày 15/6/2015
Nghiên cứu vẻ truyện tranh thiếu nữ nói chung, có bài viết của tác giả
Trần Thị Hiền "Tìm hiểu Shoujo Manga (420318) — Truyén tranh dành cho thiếu nữ ở Nhật Ban" trén lap chỉ nghiên cứu Đông Dắc Á Tác giả đã
trình bảy sơ lược về sự hình thành và phát triển của truyện tranh thiểu nữ
cũng như sự ảnh hưởng tới giới trẻ Nhật Bản và Việt Nam Ngoài ra còn
có bài viết "Shoujo manga và giấc mộng nữ quyển" của nhà báo Vĩnh Khang đăng trên victnnam net nói về sự thể hiện những ước mơ và khát vọng của nữ giới, với sự khẳng định truyện tranh thiểu nữ đang ngày cảng trở
thánh một bước tiến đải của " nữ quyền" trong xã hội Nhật Bản hiện đại
Lịch sử nghiên cứu về phụ nữ về dời sông phụ nữ Nhật Hắn
Về vấn đề quan điểm, đời sống xã hội của nữ giới Nhật Bản hiện đại, NHK cũng đã có các cuộc khảo sát đều dặn năm năm một lần về vẫn dễ ý
thức của người Nhật trên nhiều phương điện xã hội, trong đó có ý thức về
hôn nhân giá đình của cà hai giới Một tác phẩm đáng lưu ý vỀ vị trí xã hội và quyển phụ nữ sau năm 1945 đó là Z* Š⁄23#*2š⁄7 ~ÙkJƒEÆ (cuấn lược
sinh tần của phụ nf) cha Ueno Chikako dang trén Bunshun Shinshou nim
2013 Riêng về nghiên cứu lịch sử phụ nữ Nhật Bản, nhóm tác giả nghiên cứu
toàn dién vé phu ni GAH PUPILS aa cho ra déi nhidu tập sách có giá
tri về mặt tư liệu lịch sử khi đã phân tích sâu sắc về mọi mặt của đời sống phụ
nữ Nhật Bản như quyền ĐÐ.Á⁄#/2/#, £z—SYW (lịch sử phụ nữ Nhật Đản- tỉnh yêu và gia dinh) nim 1992, quyén H Ade pPEO EER ed
Trang 12fe & & (lịch sử phụ nữ Nhật Bản - vấn dễ việc làm) năm 1993 va AWA ~ 'EE ( phụ nữ và hôn nhân) xuất bần năm 1998
'Tại Việt Nam, vấn để kết hôn, xu hưởng lập gia dinh hiện nay của
Xhật Bàn đã được khảo sát nhiều từ góc độ nghiên cứu xã hội học Ở Việt Nam, cững só một số các nghiên cứu như cia Bui Bich Van với các chủ dé
Su dich chuyén tir “xd hội kết hôn” sang “xã hội kết hân muộn và không
kết hôn” Ở Nhật Hán và bài việt " hướng kết hôn ở Nhật Ban hiện nay”
đăng trên tạp chí nghiên cứu Dông Bac A Ngoài ra còn cé Ldi sống độc
thân của phụ nữ Nhật Bản hiện dại- nguyên nhân và hệ quả cũng được
dăng trên Tap chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 6 năm 2008 Cùng chủ dề về
kết hôn của phụ nữ Nhật có bải của tác giả Vũ Lloàng, Tại sao phụ nữ Nhật
Bản “ngại” lấy chẳng đăng trên Báo Dời sống pháp luật năm 2006
Như vậy, đã có không ít các bài nghiên cứu bàn về truyện tranh nói
chung vả truyện tranh dành cho thiểu nữ nói riêng, qua đó người đọc có
thể thấy được những nét nỗi bật, riêng biệt của truyền tranh thiểu nữ so với các thể loại khác Đồng thời, đã có những bài nghiên cứu trên phương diện
xã hội và lịch sử bàn về phụ nữ Nhật Bản củng đời sống hôn nhân của họ
Tuy nhiên, có thể nói hiện vẫn chưa có một công trình nảo nghiền cứu
cụ thế về quan điểm tình yêu cũng như xu hướng hôn nhân mới của nữ
giới Nhật Hản dược thể hiển qua truyện tranh thiểu nữ
Vì vậy, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu về vấn dễ tình yêu- hôn
nhân trong xã hội Nhật Đăn thco quan điểm cúa nữ giới và phân Lích thêm
tính cụ thể trong truyện tranh thiểu nữ
3 Dỗi tượng và phạm vi nghiên cứu
Để lài luận văn lập trung nghiên cứu ý kiến oủa phụ nữ trước và sau kết hôn về tỉnh yêu và hôn nhân, đồng thời lẫy hình ảnh người phụ nữ
trong truyện tranh thiếu nữ Ur sau năm 1945làm đối Lượng phân tích
Trang 13Phạm vi nghiên cứu của luận văn nằm trong các tác phẩm truyện tranh dành riêng chơ thiếu nữ từ sau năm 1945 đến năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Dé hoan thành được nhiêm vụ nghiên cứu đề tải, luận văn này sẽ sử
dụng các phương pháp sau
Phương pháp phân tích: phân tích nội đụng một số bộ truyện tranh nổi tiếng tiêu biểucó để cập dến các vẫn dễ hôn nhân, tỉnh yêu
Phương pháp so sánh: so sánh đối chiếu sự tác động qua lại, có hay
không sự ảnh hưởng lẫn nhau từ thực tế và truyện tranh
Phương pháp thống kê xử lý các số liệu bảng biểu về các vấn đề về
hôn nhân, và tién hôn nhân đế làm rõ được xu hướng kết hôn cũng như quan niệm về tình yêu, hôn nhân mới của nữ giới Nhật Bắn
§ Câu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kế: luận, phụ lục và danh mục tải liệu tham khảo,
đề tải có kết cầu gồm 3 chương
Chương 1: sự thay đổi quan điểm tình yêu và hôn nhân của phụ nữ
Nhật Bản sau năm 1945 Chương nảy sẽ làm rõ những biến chuyển về xã hội và sự tác dộng của nó tới sự thay đỗi của xu hướng kết hôn cũng như
quan điểm dũa phụ nữ về tỉnh yêu và hôn nhân
Chương 2: quan điểm về tỉnh yêu và hôn nhân của phụ nữ Nhật Bản
trong truyện tranh dành cho thiếu nữ sau năm 1945 Chương 2 sẽ làm rõ
hình ảnh người phụ nữ được xây dụng trong truyện tranh theo từng thời kì cùng quan điểm về tỉnh yêu và hôn nhân
Chương 3: quan điểm về tỉnh yêu và hôn nhân của phụ nữ Nhật Bản
thể hiện qua một sô bộ truyện tranh thiểu nữ hiện đại
Đây là chương phân tích cụ thể một số bộ truyện tranh thiểu nữ tiêu
biểu cho từng thời kì phát triển Qua đỏ làm rõ quan điểm tỉnh và hôn nhân của nữ giới được thể hiện trong truyện
6
Trang 14CHƯƠNG 1 SU TILAY DOI QUAN DIEM TINII YEU VA IION
NHÂN CỦA PHỤ NỮ NHẬT BẢN SAU NĂM 1945
Sự thay dỗi về bất cứ lĩnh vực tỉnh thần, văn hỏa nào cũng có nguyên nhân đến tử thực tế lịch sử, từ sự thay đổi về chính trị, kinh tế kéo theo sự
thay đổi về văn hóa, môi trường xã hội, kết hợp với những yếu tế vấn có
dé tao nên những bước ngoặt mới trong nhận thức và tư duy của con
người Vì vậy, chương này sẽ điểm qua tình hình xã hội Nhật Bản sau năm
1945 và những dấu ẩn nỗi bật về cả kinh tế lẫn biến chuyển về ý thức xã
hội theo từng thời ki, song song với đó chương 1 cũng sẽ đưa ra những
thay đối về vai trò vị trí của người phụ nữ cũng như biến chuyển về những
quan niệm tình yêu, hôn nhân tương ứng với lừng giai đoạn
1.1 Giai doan trước năm 1970
1.1.1.Tình hình kinh tế- xã hội
Sau khi Chiến tranh thể giới thứ II kết thúc, ngày 15/8/1945, Nhật
Bản tuyên chấp nhận “Tuyên cáo Postdam” đầu hàng Dông minh vô điều
kiên Sự bại trận của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai kéo theo
sự sụp để hoàn toản của những giá trị của thởi chiến Nền kinh tế Nhật Bản
bị rơi vào tinh trang hết sức hỗn loan va bi dat
Nhật Bản bi quin déi Péng minh ma thuc té 1A quan M¥ chiém ding
Chính phủ Nhật Bản vẫn được công nhận và tiếp tục cai trị đất nước Từ năm 1945 - 1951, đưới sự chỉ đạo của GHQ!, Nhat Bản đã tiến hành cải
cách toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tạo dựng cơ sở cho sự
cất cảnh kỳ diệu của Nhật Bản Đây là một trong những giai đoạn quan
trọng tạo những biến đổi cơ bản về mợi mặt của đời sống kinh tế, xã hội,
' GHQ là từ viết tắt của Ganeral Headquarters Nó dược dịch là “Bộ Tổng từ lệnh tôi
cao quân Dễng minh” hoặc “Bộ Tổng tt lệnh quãn Dỗng minh”
¬
Trang 15có những tác động to lớn thúc đẩy phát triển lịch sử Nhật Băn giai đoạn
sau đó Cùng với sự nỗ lực, chú dộng của chính phú vả nhãn dân Nhật Bản,
cuộc cải cách đã thành công, cứu nguy cho dân tộc Nhật Bán Dưới tác
dộng của cuộc cải cách kinh tế, xã hội giai đoạn 1945-1951, Nhat Ban dã
có những biển chuyển thực sự về mọi mặt như: cơ sở kinh tế, xã hội, nhân
tổ con người, quan hệ kinh tế Đây được xem là những nhân tố mới hết
sức quan trọng tạo sự ting trưởng thần kỳ cho kinh tế Nhật Ban sau chiến
tranh [Phan Ngọc Liên, 1995: tr.227]
Cải cách chính trị Nhật Bản quan trọng nhất sau chiến tranh là ban
hành bản Hiến pháp mới Hiến pháp mới đã được ban bố vào ngày
7/10/1946, quy định chế độ Thiên Iloàng là tượng trưng, chủ quyền thuộc
về nhân đân, hỏa bình và tôn trọng quyền cơ bản cua con người Hiến pháp
trên thực tế đã tuyên bô xẻa bỏ những hình thức phong kiến ràng buộc quyền cơ bản của con người lliển pháp 1946 thực tế công khai xóa bỏ những ràng buộc phong kiến và là diễm khởi dầu cho những tư tướng din
chủ, tự do, bình đẳng của xã hội Nhật Bản ngay sau Chiến tranh thể giới thứ TI, đã tạo cơ sở xã hội mới cho mọi người đân trong cuộc sống và đông
gop xứng dang vảo sự phát triển đất nước Đây lả một trong những nhân tổ quan trọng kéo theo sự thay đổi của nề nếp văn hóa, lối sống, nâng cao sự bình dẳng giới ở Nhật Bắn khiến cho quan diểm về hồn nhân của người
phụ nữ có sự thay đối
Cải cách giáo đục sau Chiến tranh Thế giới thứ II đã loại bỏ những
người có tư tưởng phát xít ra khôi ngành giáo dục, dưa tư tưởng giáo dục
mai, thé chế giáo dục mới vào các tường học đã tạo nên một thể hệ con
người mới sau chiến tranh có trình độ học van cao, có tư tưởng dân chủ hòa bình và phát triển kinh tế ác cuộc cải cách dân chủ sau chiến
tranh đã góp phần chuyển biến nước Nhật từ “quân phiệt”, “hiểu chiến”
Trang 16sang “hỏa bình”, “dân chủ”, góp phần vào việc xây dựng và cúng cổ một nền chính trị vả xã héi én dịnh suốt một thời gian dài sau đó Cùng với
những tư tưởng bình đẳng giới, tôn trọng quyền dân chủ, du nhập lỗi sống
Tây phương với tính cả nhân được chủ ý hơn, việc nữ giới kéo đài con
đường học tận và làm việc đã dần trở nên phổ biểnvà bình thường hơn Từ
sự đổi mới về giáo dục, dẫn tới những tư tưởng mới của văn hóa phương
‘Tay dần giao thoa giữa những lối sống truyền thống, chỉnh từ giáo dục,
một loạt các lối sống và tư đuy xã hội mới đã hình thành
Chỉ 10 ngày sau khi chiến tranh kết thúc, Tổ chức “Ủy ban phụ nữ
ứng phỏ với thời hậu chiến” ra đời Tổ chức đã đưa ra yêu cầu phụ nữ
được quyền tham gia vào chính quyền Tháng 11 củng năm, tổ chức “Đồng
mình phụ nữ nước Nhat Ban mới” được thành lập Vào tháng 3/1946, Luật
bầu cử được sứa đổi và yêu cầu phụ nữ có quyền tham gia chính quyển
được thực thỉ Phong trào đấu tranh đôi quyền bình đẳng cho phụ nữ giảnh
thắng lợi quan trọng
Hiển pháp năm 1947 đã nâng quyền binh đẳng cho phụ nữ lên một
tầm cao mới Phụ nữ được quyền bầu cử, đi học và phân chia tải sẵn khi lì hôn, môi cơn cái Luật dân sự dược sửa đổi vả ban hành vào năm 1946 dã
nêu rõ quyền tự do kết hên và li hôn với nghĩa vụ như nhau ở cả hai
giới [§&Ê ACHE OPFESS, 1992: 7.225]
Thời kì sau chiến tranh, binh sĩ Nhật Bản về nước, tý lệ kết hôn ting cao hơn so với trước chiến tranh Thế hệ 2ankzi2chính là những người trải
qua quá trình này, họ đẳng loạt kết hôn, xây dựng gia đình trước khi quá
độ tuổi kết hôn thích hợp Trong những năm 1947-1949, § triệu em bé đã
dược sinh ra Không chỉ có tí lệ kết hôn cao, mã tỉ lệ các cặp vợ chẳng có
? thể hệ sinh ra trong cuộc bùng nỗ dân số lân thử nhất sau chiến tranh thê giới Thứ hai 1947-1949
Trang 17cơn cũng rẤt cao, trune bình mỗi vợ chỗng đều có 1-3 nguoi con [EERE
F, 2009]
Trong khoảng 20 năm tử năm 195] đến nim 1973, nén kinh té Nhat Bản phát triển với nhịp độ rất nhanh chóng Nhiễu nhà kinh tế thể giới coi dây là giai đoạn phát triển “thần kỷ” của nền kinh tế Nhật Bán Nhật Bản
dã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trong thể giới tư bản sau Mỹ
Chính trong thời kỳ này, kinh tế Nhật Bản đã đuổi kịp các nền kinh tế
tiên tiến của thế giới Nếu vào năm 1950, GNP của Khật còn nhỏ hơn của bất cứ nước phương 'lây nảo và chỉ bằng vai phần trăm so với của Mỹ thì
đến năm 1960 nó đã vượt qua Canada, giữa thập niên 1960 vượt
qua Anh và Pháp, năm 1968 vượt Tây Đức Năm 1973, GP của Nhật Bản
bằng một phần ba của Mỹ và lớn thứ hai trên thể gidi [Luu Ngoc ‘Irinh,
1998: tr.187]
Xã hội Nhật Bản thời kỉ này rất chú trong tới việc xây dựng một gia
đình hạt nhân Giữa những năm 1960 được cho là thời điểm ma dân số Nhật Bản dạt tới trạng thái ổn định với tỷ lệ kết hôn của đân số trên 40 tuổi
lên tới 97% ở nam và 98% ở nữ [.L#ƒ-f'#8, 2013: tr100]
Hiển pháp năm 1947 cảm phân biệt giới tính trong chính trị, kinh tế,
quan hệ xă hội, đồng thời khẳng định các đạo luật được ban hành trên cơ
sở hình đẳng giới tính vả tôn trọng nhân phẩm cúa cá nhân Luật Dân sự
cũng khẳng định sự bình đẳng giữa vợ vả chẳng, Các tòa án gia dình can
thiệp vào những vẫn đề như tranh chấp tải sẵn và quyền nuôi con Sơng
thực tế, không phải các quy dịnh trong luật luôn được thực thị nên xã hội
gia trưởng của Nhật Bản vẫn là một chủ dễ dược nói dến rất nhiễu, trong
khi nước Nhật hiện đại đang chuẩn bị bước vào thiên niên ký mới Đây
cũng là thời kì mà phong trảo phụ nữ dấu tranh cho bình dẳng giới diễn ra hết sức rnanh mẽ đặc biệt là những năm 1960
10
Trang 181.1.2 Quan điễn của phụ nữ về tình yên, hôn nhân
Những nghiên cửu về lịch sử phụ nữ cho thấy, ít nhất là trước thể kỷ
11, phụ nữ Nhật Bản luôn đồng vai trẻ trung tâm trong gia đình, giống như
nhiễu xã hội mẫu hệ Bên cạnh đó, phụ nữ còn có ánh hướng dặc biết to
lớn đối với tôn giáo và chính trị
Cho đến năm 1898, Hiến pháp Minh Trị đã chính thức bãi bỏ chế độ
trùng hôn, thừa nhận chế dộ giản hỗn — tức là hên nhân một vợ một chẳng,
Từ đó, chế độ giãn hôn dan din được xã hội tiếp nhận, quan điểm đối với chế độ trùng hôn cũng thay đối (heo Nếu như trước đây, chế độ thê thiếp
được xem là đương nhiên, là đặc quyền của nam giới thì bắt đầu từ thời kỳ
này, nó đã trở thành chuyện ngoại lệ, bị xã hội phê phán Luật pháp thời kỳ
Minh Trị quy định chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Đây được coi là
một thắng lợi lớn của phụ nữ Nhật Bản, vì họ đã được bình đẳng hơn với
nam giới trên phương diện hôn nhân Chỉnh vì vậy, xã hội kết hôn mà cả
nam giới và nữ giới đều có quyền kết hôn được xác lập [FRBRZE, 2000: tr
38-109]
Trong thời kỷ sau năm 1945, củng với sự phân chia công vide thea
giới, sự bám chắc của tập quán hôn nhân đã giúp cho dân số Nhật Ban én
dịnh, và cũng là một yếu tố quan trọng tạo nên sự tăng trưởng của nên kinh
tế Nhật Bản ở giai doạn sau này Đây là thời dại của gia đình hạt nhân.Thời
ki này, phụ nữ Nhật Bản không hể tiến thân vào xã hội mà ngược lại, họ
dồng loạt kết hôn, sinh con, trở thánh người phụ nữ của gia đỉnh Hầu hết
phụ nữ khi chưa kết hôn đều đi làm, nhưng khi đã kết hôn và sinh on, hầu
hết trong số họ sẽ nghỉ việc để ở nhà làm nội trợ, chăm sóc con cái và gia
dinh Đó chính lả sự phân chia công việc theo giới của giai doạn này
chẳng đi làm và chu cấp kinh tế, vợ làm nội trợ và chịu trách nhiệm chăm
sóc giáo dục con cai
11
Trang 19Như vậy, chủng ta có thé thấy được rằng, sau chiến tranh, kết
hôn,sinh cơn dồng nghĩa với nghỉ việc là xu hướng chung của phụ nữ thời
y, họ bi buộc chặt trong cuộc sống sinh hoạt chăm lo “ăn,
ki do, Tang nga
tắm, ngú” cho chẳng, con Giai đoạn này người phụ nữ vẫn khá truyền thông, trong cả cách yêu và kết hôn tiến tuổi đương nhiên là lấy chồng, sinh con đẻ
cái, coi chồng là chễ dựa và cần phái hết lỏng chăm lo, phục vụ
Ở Nhật Bản, theo truyền thống vợ vả chẳng, hầu như có thể giới riêng,
và thực tế này hiện vẫn khá phổ biến, tuy có xu hướng tiến tới quan hệ chặt
chế và trao đổi với nhau nhiều hon Cuộc sống của người chồng lập trung
vào công việc, dành nhiều thời gian rỗi với các đẳng sự nam giới của mỉnh
trong mối quan hệ xã hội không có sự tham gia của vợ Còn cuộc sống của
người vự Lập trung vào gia đình, con gái và hàng xóm Ở nhà, người vợ cỏ
quyên to lớn vỉ thường lá người chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc diéu
hành ngân sách của gia đình và luôn quyết định về những việc liên quan
dén con cái Nhìn chung người vợ ở Nhật Ban không dể nghị và không trông đợi chồng giúp đỡ các công việc nhà, thậm chí ngay cả khi bản thân
người vợ phải đi làm
Tai Nhật Bản, tủy từng thé hé ma số lượng phụ nữ di làm có sự khác
biệt Ví dụ như, ở thể hệ Dankai Tỷ lẻ làm việc của nhóm tuổi từ 15-19 và
20-24 là oao nhất, sau đó giảm mạnh và từ 30-34 trở đi, tỷ lệ làm việc lại
dần tăng lồn Khi ấy, trình độ học vấn của nữ giới thế hệ Dankai sedai
chưa hắn là cao Vì thế, sau khi tốt nghiệp trưng học phổ thông, hầu hết nữ giới đều không học lên cao mà xin việc đi làm ngay Sau đó một vải năm,
ho đồng loạt kết hôn ,sinh con, rút ra khỏi xã hôi, chuyên tâm vào lo việc
nhà và chăm sóc con cai
Trong thời kì kinh tế cao độ, hầu hết đàn ông đã kết hôn ở Nhật Bản đều ý thức được bản thân họ phải làm việc có thể duy trì sinh hoạt ở mức
Trang 20cao cho toản bộ các thành viên còn lại trong gia đình Vì thế, rách nhiêm
của người vợ không phải là làm việc, mà là ở nhà lâm chu đáo bốn phận
của một bà nội trợ Sự phân chia vai trò theo giới dần được hỉnh thành vả
ngảy cảng vững chắc trong xã hội (Quan điểm về vai trò nội trợ của phụ nữ
có gia đình, đã dược xã hội thừa nhận vả cả nam giới hay nữ giới đều sống, dựa trên sự tuân thủ quan niệm này Những quan diểm về gia dinh, hỗn
nhân như “Đã là phụ nữ thì khi đến độ tuổi thích hợp phái kết hôn, sinh
con” hay “ Là phụ nữ có nghĩa là sẽ làm nội trợ” đã chỉ phối toàn bộ xã hội lúc bấy giờ Khi ấy, kết hôn và sinh con được xem là một lẽ tất thường của cuộc sông, củng với đó, trở thành một bà nội trợ cũng là cơn đường đương
nhiên cần phãi di của những phụ nữ cỏ gia dinh Có thể trước khi kết hôn, hợ
là những người lao đông làm việc ngoài xã hội, nhưng một khi đã cỏ kết hôn,
như một quy định từ trước, họ sẽ trở thành một bả nội trợ Va với những phụ
nữ không đảm nhận tết vai trò của một người vợ, nột người me, chắc chắn
họ sẽ bị xã hội phê phán Thời điểm đó, ca khúc "Konnichiwa akachan" trở
nên vô cùng phổ biến, với nội dung ca ngợi người mẹ và thiên chức lảm mẹ
của người phụ nữ, và chào đón em bé ra đời trong niềm hân hoan cỏa cả nhà
dã cho thấy quan niệm việc phụ nữ lập gia đình sinh con là diều cần thiết và
vé cung hién nhién [EGR LIER, 1992: tr.249]
Không chi nam giới, ngay cả nữ giới khi ấy cũng thừa nhận vai trò nội trợ của mình Khi những người xung quanh đều tim duye gia đình
riêng cho minh mà bản thân lại chưa gặp được đối Tượng kết hôn thích hợp, thì trong lỏng họ sẽ có một cảm giác bất an vễ cuộc sống tương lai của mỉnh Bởi, ho luôn trản ngập trong những suy nghĩ như “Hạnh phúc chỉ có
khi kết hồn” hay “Nếu không kết hôn sẽ không cỏ cuộc sống tốt đẹp” Kết hôn được xem như lả một diễu kign dim bao cho cuộc sống tương lại của
người phụ nữ ngay cả trên phương điện vật chất lẫn tỉnh thần Khi ấy, sa với nam giới họ không nhận được nhiều sự quan tâm của bố mẹ về mặt
13
Trang 21giáo dục, dẫn đến trình độ học vấn đa phan đều thấp hơn nam giới Trỉnh
độ học vẫn thấp sẽ đồng nghĩa với mức thu nhập thấp Vì vậy, đù có không
bị xã hội phê phản, họ cũng không thể có được một cuộc sông sinh hoạt ồn
định nêu như không kết hôn, tức là không có một người chồng với mức thu
nhập cao để trông cậy Xét ngược lại, trong suy nghĩ cúa người phụ nữ
cũng vay, họ nghĩ rằng sau khi tốt nghiên phế thông xong sẽ di làm một vài năm, rồi kết hôn, sinh oon, ở nhà chuyên lâm lo cho gia đình Chính
bản thân phụ nữ cũng không coi trọng việc nâng cao trình độ học vấn của chính miỉnh, trong suy nghĩ của họ, cuộc sống sau khi kết hôn sẽ dựa toàn
bộ vào người chồng của mình Bởi những lý do này, không chỉ có nam giới mả bản thân nữ giới cũng cho rằng cuộc sống của mình sau nay sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng Đồng nghĩa với việc đó, trách
nhiệm của người vợ không phải là làm việc kiểm tiền mà là chuyên Lâm
chăm la việc nhà, nuôi dưỡng con cái Dây không phải lá quy định của pháp luật, nhưng tất cả mọi người đều cho rằng đó là một quan niệm đúng
Ding thời với hiện tượng dầu cơ này về phia chính phú Nhật Bắn vào những năm đó để đối pho vai su lên giá mạnh của đồng yên sau Hiệp ước
Plaza 1985 đã duy trì kéo đải một chỉnh sách cho vay với lãi suất thấp,
14
Trang 22khiến cho uáu hoạt động đầu tư buôn bản bất động sản, trái phiếu cảng
ra tăng mạnh Lạo nên sự lăng trưởng kinh tế cực nhanh vào cuối những
năm 1980 Sự xẹp xuống của nên “kinh tế bong bóng” đầu năm 1990 đã
tạo ra sức ép nghiêm trọng lên các tổ chức tài chính Nhật Bản và làm giảm động lực chỉ tiêu của người tiêu dùng cũng như giảm đầu tư kinh đoanh
Rat nhiều ngân hàng Nhật Bản phải đổi mặt với gánh nặng nợ nần [Ngô Xuân Bình, 2008]
Thập niên mất mát (2®‡2#L#- 10 #F) là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế
kéo đài của Nhật Bán suốt thập niên 1990 Sau khi bong bóng tài sản vỡ
vào những năm 1990-1991, tốc độ tăng trưởng kinh bê của Nhật Ban th4p hin di Bình quân hàng năm trong suốt thập niên 1990, tổng sản phẩm
quốc nội thực tế của Nhật Bản lẫn tổng sẵn phẩm quốc danbinh quân dầu
người chỉ tăng 0,5%, thấp hơn so với hẳu hết các nước công nghiệp tiên
tiến khác 1ý lệ thất nghiệp gia tăng nhanh qua từng năm [ZïJi|#Z, 2003]
Người ta thấy rõ tác động của việc suy giảm kinh tế đối với việc tuyển dụng các sinh viên mới ra trường tham gia vào thị trường lao động
lần đầu tiên Vải năm trước, những sinh viên mới ra trường trẻ tuổi nảy có rất nhiều cơ hội việc làm Nhưng hiện nay, khi các công ty cạnh tranh nhau nhằm tối thiểu hóa chỉ phí nhần công “suốt đời” thi họ trở nên do đự khi tuyển thêm người lao dông Việc giắm tuyển đựng lao động và thậm chí đóng băng trong nhiều công ty cao cấp đã làm sâu sắc thêm tính cạnh
tranh việc làm đốt với lao động trẻ tuổi vá buộc nhiều ứng cử viên có trình
độ cao phải thoo đuối những nghề nghiệp kém phủ hợp
Khi những nguời trẻ tuổi nhận thấy điều đó, họ kết luận rằng sự trung
thành với công ty có thể không được đền đáp xứng đáng, và điều đó cho
thấy su duy tri truyền thống là rất khó khăn Sự hoang mang vẻ việc có nên
Trang 23công hiển hết đời cho một công ty hay là theo đuổi một sự nghiệp riêng, đã
khiến cho những người trề tuổi giải đoạn nảy cũng trở nên chông chênh trong những quan niệm tinh yêu và hôn nhân kiểu cũ Với nam giới, họ lo
sợ kết hôn sẽ không gồng gánh được tài chính cho cả gia đỉnh, việc hẹn hè với một cô gái khi khả năng chỉ trả đo công việc không én định khiến họ ngại yêu đương, sợ kết hôn Với phụ nữ, sự phả bỏ lỗi làm việc theo thâm
niên lại mang đến nhiều cơ hội hơn cho họ tiếp tục theo đuổi học vẫn và
chứng minh năng lực với công việc phù hợp, họ không cỏn cơi hôn nhân là sông còn vả việc lựa chon người đàn ông thích hợp cũng trở nền cao hơn
Ngay từ thập niên 70, hiện tượng kết hôn muôn đã dược dự báo bởi các nhà xã hội học Từ thập niên 80 trở đi, nó đã trở thánh một vẫn để của
toàn xã hội Nhat Ban Hon nữa, vẫn đề oòn ngày cảng trầm trọng hơn khi
nó không chỉ dừng lại ở kết hôn muôn mà đang dần chuyển sang không kết
hôn Thế hệ IIanal‹o sedai? đã phá vỡ trật Lự hình thành hơn 20 năm dy Io không kết hôn hoặc làm việc cho đến khi gần 30 tuổi hay quá 30 Luỗi
Nếu làm phép tính từ cuộc bing né trẻ em sau những năm 50, cộng
vứn tuổi thọ trưng bình đang kéo đải thêm từng năm thì chắc chắn rằng trong vỏng ít nhất 15-20 năm tới lả đân số Nhật Bản sẽ liên tục giảm Bộ Y
tê, Lao động và Phúc lợi xã hội cho biết: sự thu hẹp đó sẽ diễn ra chậm, nhưng với lượng íL hơn trẻ cm sẵn sảng để gia nhập lực lượng lao đông và
những người về hưu lại nhiều dần lên thì lượng dân số trong dộ tuổi lao
động (từ 15-64 tuổi) sẽ giảm khoảng 0,7% một năm
Nếu suy ra từ xu hưởng hiện nay cho những năm sau năm 2020, thi con
số thu được sẽ đáng giật mình Một đự đoán của Bộ Y tế đưa ra rằng din số
Ÿ Là thế hệ sinh năm 1960-1964, trưởng thành trong thởi ki kinh tế bong bóng
16
Trang 24Nhật Bản sẽ giảm từ 128 triệu dần vào thời điểm này xuống còn 100 triệu
người vào năm 2050, 90 triệu dân vào năm 2055 |Hạ Thị T.an Ph, 2008|
1.22 Quan niệm của người phụ nữ về tình yên và hôn nhân
Co thể nói thời kì này, ảnh hưởng của lối sống phương Tây cảng có điều kiện thấm sâu rộng hơn trong đời sống xã hội Lỗi sống va tư đuy hiển đại, tôn trọng bình đẳng giới, quyền cá nhân đặc biệt là sự tư do của
người phụ nữ được chú trọng hơn Trong chiến tranh, ngoài việc bị không
chế bởi những tư tưởng phong kiển cũ vẫn còn bám rễ, thì sự tập trung cho quân đội được ưu tiên hàng dầu, quyển tự do và bình đẳng của phụ nữ vẫn chưa dược chú ý nhiều, thì nay, cùng sự cải cách mỡ cửa về tư Lưỡng dân chủ và giáo dục, đi đối với sự phát triển về kinh tế, đã khiến cho những lỗi
tư duy cũ có nhiều thay đổi Không chỉ ở nam giới, má cả ở chính những
người phụ nữ vẫn quen với việc chăm sóc gia đình tÈ gia nội trợ suễt cuộc
di minh Io bắt đầu quan tam nhiều hon tới ban thân, cắm xúc, nhu cầu,
tước mơ cá nhân Sự giáo duc phổ cập đã khiến một thể hệ mới sinh ra vả
¿ tiếp tục học vấn, lự nuôi
trưởng thành trong thời kì nảy suy nghĩ vé vi
sống bản thân, theo đuổi tình yêu một cách chủ động hay kết hôn với sự tự nguyện và chúa sẽ bình đẳng sau hôn nhân
Chính vì những cởi mở trong quan điểm sống, thời kì này cũng đã xuất hiện những xu hướng về tỉnh yêu trước hồn nhân mới tuy chưa rô rệt
đó là quan hệ tình dục vả sông thử ( sống chung) trước hôn nhân Việc cả hai giới đều ngại kết hôn khi đến tuổi do những thay đôi về việc làm cũng,
như quan niệm truyền thống đã dẫn đến xu hướng tắt yêu nảy Tuổi trẻ vốn không thể thiếu tình yêu, việc hẹn hd hay những nhu cầu vé tinh đục, dù
họ cổ muốn kết hôn hay không,
Trang 25Dưới đây là bảng kết quả điều tra của NHK về sống chung trước hôn nhân của phụ nữ theo các tiêu chí : không chấp nhận và không có ý định sống chung, sống chung vì có dự định kết hôn trong tương lai, sống chung
vì đang hẹn hò và sống chung không vì lí do gì
Bảng 1.1 Khảo sát ý kiến của phụ nữ về "sống chung trước hôn
nhân" giai đoạn 1973-1988
Theo kết quả khảo sát trên, từ năm 1973 đến 1988 tỉ lệ việc phản đối
sống chung mà không có hôn thú đã giảm khá ấn tương từ 65% xuống còn
439% vào những năm cuối thập kỉ 80 Đây chính là giai đoạn người Nhật trẻ đang hoang mang giữa những lựa chọn không vững chắc về làm việc cho công ty hay tự lập nghiệp trong sự chớm khủng hoảng Việc làm không còn được đảm bảo như trước, trách nhiệm nuôi sống gia đình của nam giới càng khó khăn hơn, đồng thời người phụ nữ cũng đứng giữa sư lựa chọn và đắn đo trước việc nên hay không nên lập gia đình, nên hay không nên theo đuổi công việc Và từ đó, họ quyết định sống chung mà
‘https:/Avww.nhk or jp/bunken/summary/research/report/2009_04/090401.p
df (truy cap ngay 26/10/2017]
18
Trang 26không có ràng buộc pháp luật hay con cái Thâm chí, tỉ lệ sống thử nhưng
không có dự tính sẽ kết hôn tăng nhanh từ 18% lên 30% vào những năm
cuối thập niên 80 Con số này cũng cho thấy, lối tư duy về tình yêu của người Nhật đặc biệt là phụ nữ đã cởi mở hơn, vấn đề về trinh tiết, tình dục
đã thay đổi theo chiều hướng "Tây hóa" Cũng theo kết quả điều tra của NHK về vấn đề này, từ năm 1993 đến 2008 tỉ lê người phản đối sống chung đã giảm từ 36% còn 26%, so với con số phản đối là 65% của năm
1973, đây thực sự là một bước ngoặt trong quan điểm của người phụ nữ
Có đến 2/3 số phụ nữ được phỏng vấn cho rằng sống chung là việc bình
thường và không có gi đáng phê phán cả Trong đó, tỉ lệ người sống chung
vì đang hẹn hò mà không xác định kết hôn tăng từ 28% lên 41% [NHK, 2008]`
Không chỉ vấn đề sống chung trước hôn nhân, mà vấn đề tình dục
trước hôn nhân cũng đã có sự thay đổi về quan điểm Khảo sát về ý thức
tỉnh dục của thanh thiếu niên Nhật Bản năm 1983 cho thấy „ quan điểm
"không nên quan hệ tình dục trong mọi trường hợp" đã giảm xuống chỉ còn
24% so với 30% năm 1973 Tuy vậy, việc quan hệ tình dục trước hôn
nhân đối với nam giới vẫn là một khái niệm bình thường hơn hẳn so với nữ
giới [KfWâ 4tE!tØfZ2,1992]
Thời kì này hôn với phụ nữ không còn là chuyện đương nhiên như trước đây, nó chỉ đơn giản là một sự lựa chọn trong nhiều sự lựa chọn khác nhau Trong suốt gần một thế kỷ, ở Nhật Bản luôn lưu hành cụm từ EE
#¥(ryosai kembo -vợ đảm mẹ hiền) như một khâu hiệu đề cao và mang
tính ấn định vai trò của người phụ nữ trong xã hội Cụm tử nảy bắt nguồn
từ chính sách phổ cập giáo dục năm 1873 Chính sách này đã tạo điều kiện
Shttps://www_nhk or jp/bunken/summary/research/report/2009_04/090401.p
df (truy cap ngay 26/10/2017)
19
Trang 27cho nhiều bé gái được đến trường, íL nhất là hết bậc tiểu học Nhưng gắn với khẩu hiệu trên phụ nữ Nhật Bản thường học hết dai hoc, hoặc chỉ cần
học hết 2 năm đại học đại cương để lây +kiến thức nuôi day con cái Điều
quan trong hơn cả đối với họ là học các lớp nấu ăn, cắm hoa, nữ công gia chánh học những kiến thức để chuẩn bị kết hôn và sinh cơn Chính vì
vậy, hơn một thế ký qua phụ nữ Nhật Bản đã có những đóng góp rất lớn
cho sự bền vững của gia dinh - nền tang xã hội Nhật Bản Nhưng nhiều
phụ nữ thời nay lại hoàn toàn thờ ơ với các lớp học này Tuy đã trên 30
tuổi, thông mính, giỏi giang và là những nhân viên, những công chức mẫn cán nhưng nhiêu phụ nữ vẫn chưa có một chút kiến thức gì cho cuộc sống,
gia đình và làm mẹ
Léi suy nghĩ “đã lả con người thì ai cũng phãi kết hôn” đã trờ thành
lạc hậu Kết hôn hay không, không còn là vấn đề quan trong nifa Sinh con
cũng vậy, trong thời kì nền kinh tế phát triển cao độ, mỗi gia đình Nhật Bản đều sinh 1 đến 3 com Nhưng hiện nay sinh cũng dược, không sinh
cũng không bị xã hội phê phán, không bị gia đình, họ hàng và những người
xung quanh thúc giục Trong bối cảnh con người không còn bị trói buộc
trong các quan niệm về hôn nhãn thi những người nghĩ rằng kết hồn không,
có nhiều điểm tốt, hay kết hôn thì nhất định phải sinh con, hoặc sinh cơn
thi nhất dịnh phải kết hôn Chính vì thể, số phụ nữ duy tri lối sống độc
thân, không kết hôn ngảy cảng tăng
Trong thế hệ Dankai, đa số các gia đình đã duy tri sự phân chỉa vai trò theo giới, nghĩ là “Chồng ra ngoài làm việc, vợ chăm lo việc nha” Nam
giới là trụ cột gia đỉnh, có trách nhiệm kiếm tiễn, nuôi sống vo con va
ngược lại, tuy không cần phải làm việc kiếm tiền nhưng nữ giới cỏ trách nhiệm chăm lo việc nhà, con cải Phần lớn nữ giới thời kì Ấy đều nghỉ làm
việc sau khi họ kết hôn hoặc sau khi sinh con Cuộc đời của người phụ nữ
20
Trang 28sau khi kết hôn sẽ phụ thuộc tẤt cä vào người chồng Tuy nhiên, từ thập niễn 7Ô, cùng với sự nâng cao của trình dé học vấn, phụ nữ bắt dầu tiến
thân vào trong xã hội, thế hệ Dankai seđai củng lúc nghỉ việc, trở thành
những bà nội trợ thi giờ dây lại dồng loạt xin việc, tải gia nhập xã hội Xu
hướng phụ nữ mặc di kết hôn nhưng không phụ thuộc hoàn toàn kinh tế
vào chẳng đã tăng lên Từ khi nền kinh tế bong bóng sụp đỗ, để tiết kiệm
chi phí nhân sự, các doanh nghiệp đã dẫy mạnh tuyển dụng theo hình thức
phi chính thức Theo đó, tỷ lệ lao động phí chỉnh thức tăng lên một cách
nhanh chóng Ion nifa, trình độ học vẫn ngảy cảng nâng cao giúp cho
mức lương của nữ giới ngày tăng lên nhiễu so với trước đây nên khoáng
cách giữa nam giới và nữ giới về mặt thu nhập ngày càng được rút ngắn
Ở Nhật Bán, kế từ sau Chiến tranh thể giới thứ Hai, số lượng nữ thanh
niên học lên cao sau khi tốt nghiệp phổ thông tăng lên hằng năm Năm
1989, tỉ lệ nữ vào cao đẳng và đại học là 36,8% ( nam là 35,8%) [lạ
Thị Tan Phi, 2008 |
Trong tâm lý của người phụ nữ, họ không hắn muốn dựa đẫm, phụ
thuộc vào chỗng, nhưng ai cũng muốn lựa chọn chờ mình một người đàn
ông có thể trông cây Thế nhưng, hiện nay, số lượng nhân viên phi chỉnh
thức ngảy cảng tăng đã khiến cho kì vọng nảy của nữ giới khó có thể thực
hiện Không chỉ có thế, do suy thoái kinh tế, nhiều gia đình mả chỉ người
chỗng làm việc sẽ không đổ gánh vác kinh tế gia đình, buộc cả người vợ cũng phải ra ngoài làm việc, kiếm tiền Mặc dù Nhat Ban đang chuyển từ
gia dinh theo mô hình phân công vai trò theo giới, sang gia đình mà vợ và
chẳng đều làm việc Nhưng nói đến việc nhà và chăm sóc con cải vẫn chủ
yếu do người vo dam nhiệm Vừa phải đi làm kiếm tiền, lại vừa phải chăm
lo việc nhà va con cái đã tạo cho phụ nữ nhiều áp lực Theo truyền thông,
đản ông Nhật bản được giáo đục để luôn tim rằng họ là lao động chính, ra
21
Trang 29ngoài xã hội kiểm tiễn lo cho ga đình, người phụ nữ ở nhá lo việc nội trợ
gia dinh và nuôi dạy con cái Bắn thân phụ nữ không được phép sống như
những cá nhân, không đỏi hỏi cho bản thân mình, trong khi lại phải chịu
những trách nhiệm về tương lai của con cái và sự lớn mạnh của gia đỉnh và
dòng tộc Các ông chồng ngoải công việc thường tới các quán bar uống,
rượu cả đêm với bạn bè, hầu như không có mặt ở nhả, không chia sẻ việc
nhà vả tỉnh cắm với vợ Theo kết quả của một cuộc diễu tra do công ty Hảo
liiểm nhân thọ Meji Yasuda tiến hành với 1.200 người đã kết hôn vào
thang 11/2007, cho thấy 54% các cặp vợ chồng nói chuyện với nhau chưa
đến 30 phủt/1 ngày, 1⁄3 trong số này không còn có tình câm với nhau, đản
ông Nhật Bản sau khi kết hôn chỉ đành 30 phút/1ngày cho việc nhà hoặc
con gái Đây là kết quá của của quan niệm truyền thống, ch rằng đản ông
không phải bận tâm đến chuyện bếp núc, dọn dẹp, hay con cái Cũng theo
điều tra của công ty nảy thì ngày cảng có nhiều phụ nữ nghĩ đến chuyện ly hôn, sống một mình dến cuối dời %) [Hạ Thị Lan Phí, 2008]
Thém vao dé, trong hé théng giáo dục ở Nhật Bản, vai trò của gia
đình, đặc biệt là người mẹ rất quan trọng đổi với trẻ em hông thường, phụ nữ Nhật Bản có xu hướng trở thành các bả nội trợ chuyên nghiệp sau
khi lập gia đình, trong đó dạy dễ và chăm sóc con cái là một trong những
nhiệm vụ chính Điều nảy doi héi người mẹ phải có trình độ học vẫn cao
để có thể piúp con họ có thể vượt qua được chương trình giáo dục nổi tiếng là khắc nghiệt của Nhật Bản Nhưng đối với một xã hội luôn dề cao
“chủ nghĩa học vẫn” thi tương lai của một cá nhân được quyết định hỡi
nơi đảo tạo từ khi sòn ở bậc Liêu học, đến hết đại học Chỉnh vi để caa
“chủ nghĩa học vấn”, mà đã tạo nên một sự cạnh tranh khắc liệt Trong không chỉ các em học sinh, mà cả ở các bậc cha mẹ Như vậy, khi bước
vào cuộc sống hôn nhần, có con, thi phụ nữ Nhật Bản tuy không phải là
Đà
Trang 30người ra ngoài xã hội lo kinh tế cho gia đình, nhưng lại là người đầu tiên
phải đổi mặt với những chỉ tiêu hàng ngày và chịu trách nhiệm hoàn toản
về việu học hành của con cai
Nếu như trước kia, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong lực lượng lao động của nông thôn Nhật Bản Nhưng kể từ quá trình công nghiệp hóa sau Minh Trị Duy Tân (1868), đã thu hút nhiều phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động trong các nhả máy Ở nông thôn, các gia đình thường gồm nhiều thể hệ cùng chung sông dưới một mái nhà, người phụ nữ thường nhận được sư hỗ trợ của những người xung quanh khi có con Bởi vậy tỷ lê
phụ nữ kết hôn va sinh con vấn tương đối cao Nhưng ở các dô thị lớn, nhà cửa chật hẹp, sống cách xa người thân, bên cạnh đó người chỗng không thể
gánh vác việc nhà, giúp vợ chăm con Khi xã hội ngày cảng phát triển, nữ
thanh niên ngày cảng có nhiều cơ hội học hỏi và và chạm với lỗi sống
phương Tây, thì con uái và gia đỉnh truyền thẳng có thể là gánh nặng ủa
người phụ nữ
Một nguyên nhân còn lớn hơn nữa mà thường được coi là nguyên
nhân chính đó là văn hoá đoanh nghiệp nỗi tiếng là khắt khe trên toàn thế
giới của đất nước này.Theo truyền thống, các công ty chỉ thuê nam giới
làm các công việc quản lý, còn phụ nữ thường chỉ thuê những công việc phục vụ, mang tính ngắn hạn, chủ yếu lả thư ký vả phục vụ trả, những
người này được goi là phu nữ văn phóng Bắt kế người phu nữ có bằng cấp
gi ho déu phải đối mặt với những thành kiến kéo dài, bị dối xử như dễi xử với trễ em ‘Trong các công ty Nhật Bản bao giờ cũng tồn tại cách suy
nghĩ không nên giao cho phụ nữ những công việc và vị trí quan trọng
trong công ty vì họ sẽ nghỉ việc sau khi kết hôn và sinh con Tuy có năng
Trang 31lực, và cố gắng rất nhiều nhưng mức lương của phụ nữ bao giờ cũng bị
thấp hơn đồng nghiện nam giới Lừ 10% - 20% [Hạ Thị Lan Phi, 2008]
Phụ nữ Nhật trở lại làm việu sau khi sinh con gặp không ít khó khăn
Nhiều người phái chật vật trong việc tìm một cơ sở chăm sóc trễ sơ sinh để
họ có thể yên tâm gửi con ở đó cả ngày Và họ luôn phát hiện ra rằng mặc
đủ có việc làm, nhưng hầu như mọi việc không còn được như trước và họ hầu như mắt hết mọi cơ hội thăng tiến
Song song với quá trình chuyển dịch của xã hội kết hồn muộn đó, giải
đoạn này cũng đã những bước khởi sắc tích cực hơn khi xu hướng phụ nữ bắt dầu có thể cân bằng dược gia đình và công việc đã tăng rõ rệt, ding
Thời nhận được sự ủng hô từ phía cảnh nam giới
Đây là một xu hướng mang tính tích cực, có thể póp phần từng bước
giảm bớt hiện tượng kết hôn muộn, không kết hồn hoặc không muốn có cơn Ở phần trên, chúng ta đã xom xót sự thay đổi trong cách suy nghĩ của
nam, nữ Nhật Ban về “gia đình” và sự biển đối các giá trị quan liên quan Những biển đối này là hệ quácủa việc thực hiện Hiến pháp mới với tiêu chỉ
“tôn trọng cá nhân”, “bình đẳng nam nữ”
Theo kết quả khảo sát về ý thức xã hội của người Nhật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cia NHK, từ năm 1973- 1988, quan điểm vẻ lập gia
đỉnh, mối tương quan với công việc của người phụ nữ cũng như việc có
cơn đã có sự thay đối 1ï lê phụ nữ dù cỏ con vẫn muốn duy trỉ công việc
hiện tại tầng từ 203% năm 1973 lên đến 33% vào năm 1988 Cùng với dó,
kiến của phụ nữ cho rằng đã kết hôn thì tập trung chăm sóc gia đỉnh dã piám từ 35% xuống còn 24% | NHK, 20135]
*https://www nhk or jp/bunkon/summury/yoron/social /pdl/140520 pal
24
Trang 32Biểu đồ 1.2 Quan điểm “Chồng đi làm, vợ nên chăm sóc gia đình” của
cả hai giới khảo sát năm 2008_
Đúng thời điểm đầu năm 80, cum ti
vợ và chồng đi làm xuất hiện với tần suất lớn trên các phương tiện truyền
ew family” chi gia đình có cả
thông giống như một từ ngữ thông dụng Có nghĩa là, mô hình gia đình
phân chia vai trò theo nam nữ dần mất đi, thay vào đó là mô hình cả chồng
Và vợ đều ra ngoài làm việc Đối với phụ nữ, khi so sánh với mô hình “gia
đình chồng đi làm, vợ ở nhà” thì mô hình kiểu “New family” có nhiều ưu
điểm hơn Dù ít hay nhiều, phụ nữ được thoát ra khỏi vai trò mà xã hội quy
định trong một thời gian dài Điều này đã thể hiện sự thay đổi về quan điểm
“http://www garbagenews net/archives/2008388 html, (truy cap 7/2017)
25
Trang 33hôn nhân của phụ nữ, đồng thời cho thấy rõ những biến đổi lớn về tính độc
lập tự chủ của họ với công việc, sự nghiệp và bản thân Dù kết hồn hay
không, người phụ nữ Nhật thời kì này vẫn muốn tự chủ về kinh tế và theo
duỗi công việc, quan niệm phụ nữ là của gia dinh, chỉ chăm lo cho con cái
đã dần thay đổi theo chiều hướng thoáng hơn, xã hội cũng như bản thân nữ
giới không coi nặng vấn đề phân chia công việc theo giới như một sự mặc
dịnh tuyệt đối ở giai doan trước nữa
Nhưng thực +6 thi người phụ nữ vẫn chưa thật sự đã thoát khôi vai trỏ
chăm sóc con cái gia đình và con cái Với mô hình vợ chồng cùng làm,
cuộc sống của phụ nữ đã không cỏn là một cuộc sống nhắm tế với ngây ba
bữa cơm, bó buộc trong việc nhà, con cái mà họ còn có không gian riêng
thực hiện oái tôi cá nhân với cai trả của một người laa động kiếm Liền
ngoài xã hội Mặc dù mô hình gia đình thay đổi nhưng trách nhiệm chăm
soc con cdi, gìa đình vẫn là phụ nữ gánh váu
Trang 34Tiểu kết
Nhật Dân đã trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử kinh tế xã hội,
nhưng trình đê nhận thức vả dấu tranh cho sự công bằng giới tính vẫn luân
đi lên từng ngày
Giải đoạn rước năm 1970, người phụ nữ vẫn mang trong minh quan
điểm truyền thống về tình yêu và hôn nhân : đấn tuối là kết hôn và sinh
con, coi việc phục vụ chồng con là bổn phận cả đời và không tham gia vào
lao động xã hội Tuy nhiên, từ thập niên 70 trở đi, phụ nữ Nhật Bản đã
thay đối dần quan điểm nảy với những xu hướng ngại kết hôn, kết hôn
muộn, thoáng hơn trong việc quan hệ tỉnh dục và sông thử trước hôn nhân
Phụ nữ Nhật Bắn- người vợ- với ý nghĩa “ người ngồi trong góc” còn người chồng là “ chú nhân” đã không còn chịu số phận uất ức như xưa Họ
được ra ngoài xã hội, lâm chủ cuộc đời, không chịu sự sắp đặt cho hôn
nhân, chủ động hơn trong các mỗi quan hệ chứ không chỉ gắn mình vào góc bếp căn nhà nữa Tuy rằng những định kiến xã hội dành cho người phụ
nữ “ chăm sóc con cải và người chồng” vẫn còn do chưa xóa bỏ hẳn,
nhưng vị trí người phụ nữ Nhật Bản trong xã hội hiện đại đã khác xưa
€ó thể nói rằng lỗi sống độc thân của phụ nữ Nhật Bản hiện nay là xu
hướng mang tính toàn cầu, là tất yếu của xã hội hiện dại và của một nền
văn hóa mang tính đặc thù Nhật Bản Trước đây, phụ nữ Nhật kết hôn vì ke
do truyền thống, vì nghĩa vụ và nhu cầu tài chính Còn hiện nay, khi có
việc làm đã trở thành một trong các “nữ quyển”, thỉ ngày một nhiều người
không lây chồng nữa mà tự lo cho cuộc sống của mình Sự tự đo cá nhân
tưởng chừng như đơn giấn ấy lại có những ảnh hưởng rất lớn dến vẫn hóa
và sự phát triển của toàn xã hội Diễu này đã khiến chính phủ Nhật Bản
cing nh toàn xã hội phải nhìn nhận vai trỏ của người phụ nữ, tim ra
tà bì
Trang 35những đối sách khuyến khích phụ nữ kết hôn vá sinh con, nhằm lấy lại sự cin bằng trong gia đình vả xã hội
Dân số trẻ em giảm ở Nhật Bản là do tỉ lệ không kết hôn hoặc kết
hôn muộn cao, số con của mỗi cặp vợ chồng ít Phải chăng nếu để phụ nữ được tự do lựa chọn “vừa nuôi con, vừa di lam” thì tỉ lệ bỏ việc sau khi
sinh con sẽ ít đi, việc kết hôn và sinh con có lễ cũng không trở thành gánh
nặng nữa, và có thể vì thế mả hiện tượng ít con ở Nhật Bản sẽ được khắc
phục Điều nảy phụ thuộc vào ý thức tham gia việc nhà của người dân ông, giúp đỡ vợ trong việc chăm sóc gia dình, nuối day con cải Thời dai ma những hà mẹ phải gánh vác việc nhả và một mình chăm sóc cơn cái vào thời kỳ Lăng trưởng cao ở Nhật Đân có lẽ sắp chấm dứt, thay vào đó lả thời đại vợ chồng cùng làm việc, cùng nhau chia sở, gánh vác công vide gia
đình, để người phụ nữ vừa có thể làm việc nhà, vừa có thể đảm đương
công việc xã hội
Trong bổi cảnh quan niệm về hôn nhân có nhiều thay đổi, việc kết
han hay không không còn lá vẫn để quan trọng, mỗi người cỏ quyền tự do lựa chọn cuộc sống mả mình mong muốn Nếu lựa chọn kết hên có thể trở
thành một bả nội trợ, ở nhà chuyên tâm chăm lo cho gia đình, chồng con hay vừa di làm vừa chăm sóc con cái, nghĩa là vừa có dược niềm vui với
cuộc séng trong hôn nhân vừa có thé thực hiện cái tôi riêng cla minh
Ngược lại, nếu lựa chọn lối sống độc thân có thể sống tự da mà không hị
vướng bận vào gia đình, con cái
Trang 36CHƯƠNG 2: QUAN BIEM VE TINII YEU VÀ IIỒN NHÂN CUA PHỤ NỮ NHẬT BẢN TRONG TRUYỆN TRANH DÀNH CHO
TIMEU NU SAU NĂM 1945
Ở chương này, luận văn sẽ đề cập đến những đặc điểm chính của thể loại
truyện tranh dành cho thiểu nữ và quá trinh phát triển gắn với từng thời kì
của Nhật Bản Đẳng thời, chương 2 cũng sẽ làm rõ những suy nghĩ, xu hưởng, lỗi sống của phự nữ thể hiện trong truyện tranh thiểu nữ cùng sự đối chiếu những xu hướng, lối sống đỏ với thực tế thcơ thời kì, trong đó có
xu hướng tình yêu hôn nhân
Manga là từ dùng để chỉ truyện tranh khật Bản Trong tiếng Nhật,
Manga được viét bing hai tir S216] (man hoa), có nghĩa là hải hước hoặc
tranh châm biểm Văn hóa Manga có ở Nhật Bản từ rất sớm, manh nha tử
thế kỉ XI, ngày nay Manga trổ thành loại hình giải trí không chỉ ở Nhật
Bản mà phổ biên tại hầu hết các nước trên thế giới Manga có các thể loại
phong phú như: Shounen (dành cho con trai), Shoujo (danh cho con gai),
Kodomo (danh cho tré em), Seinen (danh cho người lớn, thanh niên), Yaoi
(truyện tranh đồng tỉnh nam), Yuri (truyện tranh déng tinh n@), Horror (thé loai kinh di chét chóc), Fantasy (thé loai giả tưởng), Adventure (thé loai mao hiém)
Shouje manga(Kanli: 2>Í#xÌ8lBj; phiên âm Tián-Việt thiểu nữ mạn họa) là thể loại manga nhắm tới độc giả là nữ thiếu niên (từ độ tuổi 10 đến
18) Shoujo manga bao trùm nhiêu đề tài với sự đa đạng về phong cách kế chuyện vả tạo hình, thường tập trung mạnh vào các mối quan hệ tình cảm con người Nói đúng ra, bản thân shoujo manga tự nó không phải một phong cách hay thể loại chính xác hơn 14 biéu thi một đổi tương khách
Trang 37hàng làm mục tiêu Shouje Manga ban đầu là thể loại được định hướng
dành cho các bé gái có đô tuôi dưới 18, tuy nhiền sau này phạm vì độc giả mở rộng ra mọi lứa tuổi và được yêu thích bởi cả những đối tượng là nam giới
“Tương tự như “shounen”, khái niêm “shouje” ban dầu cũng ding dé chỉ những tạp chỉ dành cho thiểu nữ tại Nhật Trải qua lịch sử phát triển và
chuyển mình, “shoujo” thực sự đã trở thành một thế loại tiêu biểu của
truyện tranh Nhật Hản
Josei manga dugc sang tac cht yếu bởi các tác giả nữ cho những độc
giả nữ trên 15 tuổi và được coi 1A mét ahdnh cha truyện tranh thiểu nữ
Josei manga có thế miêu tả sinh động những lãng mạn thực tế Những câu truyện hưởng đến những kinh nghiêm hằng ngảy của phụ nữ sống ở Nhật
Hân Phong cách của josei manga cũng hướng đến là một phiên bân tự chủ, Thực tế của shoujo manga, giữ những dường nét dài thướt tha và bd qua
những đôi mắt to long lanh
Shoujo manga luy xét về ý nghĩa là truyện tranh đành cho thiểu nữ nhưng đối tượng độc giả thật hướng đến bao gồm cä phụ nữ trung niên, đã
kết hôn Vì vậy trên các bảng xếp hạng hay gợi ý những bộ manga đóng mác shoujo manga ta vẫn có thể tìm thấy những josei manga vỉ dụ như Nana cia Ai yazawa
Mặc dù các cột mắc phát triển của truyện tranh thiếu nữ không hoàn
toàn trùng khớp với các thời kỉ phát triển trong lịch sử Nhật Bản, nhưng
gắn với những giai đoạn xã hội đó truyện tranh thiếu nữ đã có những đặc
điểm khá riêng biệt có thể tóm gọn lại bằng những nội dung điển hình Từ
sự phát triển đó, cũng có thể thấy được những thay đối trong cách thể hiện
hình ảnh người phụ nữ có mỗi quan hệ chặt chẽ với hiện thực.
Trang 3832.1 Giai đogH trước năm 1970
2.1.1 Sự phát triển của truyện tranh thiến nữ gin liền với tên tuỗi của cac hoa si nam
"Iruyện tranh thiếu nữ đã có một lịch sử lâu dài tại Nhật Ban, suốt thể
kì 20 hàng loạt các tạp chỉ truyện tranh dành riêng cho nữ giới đã dược
xuất bản Ngay từ những năm dầu thể kỉ 20, phong cách vẽ tranh với đôi mắt to tròn đã xuất hiện, điển hình là các họa sĩ Yumeji Takchisa vả
Junichi Nakahara bởi đặc trưng nghề nghiệp của họ có gắn liền với việc
chế tác búp bê Phong cách nảy đã ảnh hưởng tới shoujo từ rất sém [Nozomi Masuda, 2015: tr.24]
Những truyện tranh thiếu nữ dầu tiên, giống với các thể loại truyện
tranh khác, được trình bảy dưới dang chương ngắn, dăng tải trên các tạp
chi danh cho trẻ em bên cạnh tiểu thuyết và các nội dung khác Tạp chí
đành cho các em gái, hay còn gọi lả tạp chi Shoujo, bat đầu xuất hiện vào giai đoạn đầu những năm 1900 với sự ra đời của Shoujo-Kai (>#xZ#Ð —
“Thế giới thiếu nữ” sau dé tiến tục phát triển với các tạp chí khác
nhu Shoujo Sekai (DAHA) va Shoujo no Tome (220) [Thom
Matt, 2001: tr.3]
Khi mới xuất hiện, từ hình thức đến nội đụng Shoujo Manga đều đơn
giản và không tránh khỏi những khiểm khuyết về bố cục khung tranh, trang trí nền, cốt truyện Vào những năm 1930, sự phát triển của 8houjø
Manga thể hiện ở nội dưng dải hơn, kĩ thuật võ phức tạp hơn, bên canh các
nội dung khác thì các chương truyện tranh cho bé gái đã chiểm một vị trí quan trọng hơn trong tạp chi Dan dan, quan niệm truyện tranh là phì phiém đã bắt đầu biển mắt [Nozomi Masuda, 2015: tr.24]
Truyện tranh thiếu nữ phát triển nhanh trong những năm tử 1950 đến
thập ki 60, mặc dù các chính sách kiểm duyệt của chính quyền chịu sự
chiếm dòng dủa MĨ tuyệt dối cắm những bài viết và các tác phẩm nghệ
31
Trang 39thuật cá ngợi chiến tranh và chú nghĩa quân phiệt Nhật Bắn nhưng những
chỉnh sách này lại không ngăn căn việc xuất bản những thể loại khác, bao
gềm truyện tranh Iiơn nữa, điều 21 Iiiển pháp Nhật Bản năm 1947 ngăn
cẩm mọi hình thức kiểm duyệt? Kết qủa là sự bủng nỗ của các sảng tạo nghệ thật trong thời kỳ này hết sức mạnh mẽ
Trong những năm 50 và 60, đã có khá nhiều bộ truyện hướng tới độc
giả nữ, nhưng hầu hết lại được sáng tác bởi những họa sĩ nam - những,
người vốn quen viết vẽ những nhân vật nữ khá thụ động và nhàm chắn
đứng sau người đàn ông trong truyện tranh dành cho nam giới, nên những,
bộ truyện náy không mấy thảnh công trong việc thu hút độc giả là nữ giới
Mối quan hệ mẹ - con gái chiếm ưu thế Các truyện về quan hé boys - girls
trữ nên hiểm, nhất là phụ thuộc tho lửa tuổi Thời kỉ này trùng với thời kì
phát triển cao 46 & Nhat Ban, khi những giá trị truyền thống và hiện đại
đang giao thoa nhau Lúc này, người phụ nữ với vai trò là người nội lrợ
trong gia đỉnh, thiên chức quan trọng nhất là làm mẹ làm vợ, không có
nhiều phụ nữ tham gia đóng góp sức lao động cho xã hội mà chủ yếu lả
nam giới- những người chồng của họ Đây cũng là thời kì mả hầu hết mọi
người đều kết hôn và ý thức dộc lập tự chủ về mọi mặt của người phụ nữ
vẫn chưa có những biểu hiện rõ rệi Chính vi thế, tất cã các ngảnh nghề tử
lao động chân tay đến lao động nghệ thuật, trí óc nam giới vẫn chiếm dại
da sé Tuy khá là mâu thuẫn khi những tác giả nam lai di viết truyện cho
nữ giới đọc, nhưng lại hoàn toàn có thể hiểu được
Họ viết truyện tranh cho nữ giới như là hước đệm trước khi chuyển
sang thể loại chính của mình là Shaunen- truyện đành cho phái nam Ví du
®'Theo The Japanese constitution is in the Kodansha encyclopedia "Japan: Protile of a Nation, Revised Edition" (1999) Tokyo: Kodansha
32
Trang 40như Talsuys Chibä”, ông thường phải hỏi vợ mình về cắm xúc của phụ nữ
khi viết truyện Một nguyễn nhân khác của việc khan hiểm nữ họa sĩ
truyện tranh là bởi thời kì này công việc vẽ truyện tranh không dành nhiều
cơ hội như là một công việc thông thường cho phụ nữ Tuy nhiền, vẫn có một số nghệ sĩ nữ đáng được chú ¥, dic biét 1a ‘Toshiko Ueda, Hideko Mizuno, Masako Watanabe, va Miyako Maki Nhimg nghé sĩ nay dem lai
nguồn cắm hứng không chỉ cho déc gid mà cả những họa sĩ theo dudi
truyện tranh thiếu nữ hiện đại
2.1.2 Quan điễn của phụ nữ về tink yên và hôn nhân
Ở giải đoạn nảy, cốt truyện hầu hết là những câu chuyện đẫm lệ,
người phụ nữ tuy là nhân vật chỉnh nhưng lại yếu dudi và thụ dộng, vùi
dập hết lần này đến lần khác, chờ vào sự giải cứu, hầu hết là bi kịch Dó là truyện tranh thiếu nữ ma nam giới vỡ nên! Lí giải điều này, có thể nói rằng
trong lăng kính của nam giới, người phụ nữ vẫn luồn là những dối tượng,
yếu đuối cần được bảo vệ, thậm chí có vẻ nhu nhược và đơn giản, vì họ
cho rằng người phụ nữ giai doạn này vẫn lả phụ nữ của gia đình, không
tham gia vào xã hội, vốn liễng về xã hội cũng như cảm xúc của phụ nữ
Có thể , truyện tranh vẫn luôn luôn lả tắm gương phần chiếu của
thời đại, đủ có sáng tạo hay thay đổi so với thực tế để hap dẫn hơn, thì với
sự chỉ phối của Lư lưởng chung từng giai đoạn chảy theo những biển động
về thời cuộc, kinh tế, xã hội, truyện tranh thiếu nữ nói riêng vẫn luôn bám
sát những cái gọi là lối suy nghĩ, định kiến hay cách nhỉn của thực tại
Giẫn với hổi cảnh xã hội thời kì đỏ, ta cũng có thể hiểu dược Thời kì này Nhật Bản tập trưng khôi phục và phát triển kính tế, đẳng thời những
*Chiba Tetsuya ( 3&ÑWfR hoặc #5 [‡'C*2*°, sinh ngày 11 thing 1 nim 1939) la một
xuangakn Nhật Bán, ông được biết tới nhiều nhất qua các loạt xuanga vẻ thể thao như Ashita no Jou, Notari Matsufarou hay Siêu quậy Teppi (Ore wa Teppei)
33