nhiều điểm tương đồng với người Nùng ở Việt Nam Những nghiên cứu về loại hình dân ca của từng tộc người, Nủng hoặc Choang dã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam hoặc Trung Quốc.. kho Ling dan c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIA NOI
TRUONG ĐẠI HỌC KIOA HỌC XÃ HỘI VA NIIAN VAN
YANG DONG MEL
(Dương Đông Mi)
SO SÁNH DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở LẠNG SƠN (VIỆT NAM)
VA NGUOI CHOANG 0 QUANG TAY (TRUNG QUOC)
LUẬN VĂN THAC SIVIET NAM HOC
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIA NOI
TRUONG ĐẠI HỌC KIOA HỌC XÃ HỘI VA NIIAN VAN
YANG DONG MEL
(Dương Đông Mi)
SO SÁNH DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở LẠNG SƠN (VIỆT NAM)
'VÀ NGƯỜI CHOANG Ở QUẲNG TÂY (TRUNG QUỐC)
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số : 60220113
LUẬN VĂN THAC SIVIET NAM HOC
Người hướng dẫn khoa học: TS Bui Thi Bich Lan
Hà Nội - 2019
Trang 35 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cửu - 3
CHƯƠNG 1TÖNG QUAN TỈNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀGIỚI
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả 1rung Quốc a7
1.1.3 Nghiên cứu của các lắc giã nước ngoài - 12
1.3 Giới thiệu tộc người nghiên cứu 14
1.41, Về người Ning & huyén Cao Lộc, tỉnh Lạng Son 17
1.42 VỀ người Choang & huyén Long Chau, Khu tự trị đân lộc Choang
Trang 4CHUONG 2.DAN CA CUA NGUOL NUNG GO HUYEN CAO LOC, TINH
LANG SON cosscccssssssssssieis sniseeeeernnie 23
3 5 Thực trạng bảo tồn và phát huy - - 62
CHƯƠNG 4.MỌT VÀI SO SÁNII VẺ DẦN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở
TỈNH LẠNG SƠN VÀ NGƯỜI CHOANG Ở KHU TỰ TRI DAN TOC
Trang 543
44
45
46
Về trường hợp diễn xướng
VỀ xu hướng biển dỗi
Trang 6MO DAU
1 Ly do chon dé tai
Việt Nam được biết đến là một quốc gia đa tộc người với nén vin hỏa
thống nhất trong da dạng Các tộc người đã cùng sinhsống, gắn kết và tương
trợ lẫn nhau trong suốt quá trình lịch sử Bức tranh văn hóa Việt Nam được kết thànhtừ những bản sắc văn hóa đặc trưng, riêng có của mỗi tộc người
Người Nủng là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Thco số liệu từ
Tổng điều tra Dân số và nhà ở nắm 2009, người Nủng ở Việt Nam có 968.800
người, là tộc người có dân số dong thứ 7 trong cộng dỗng các đân tộc ở ViệU Nam Hiện tại, người Nùng hiện diện ở hẳu khắp các tỉnh, thành từ Hắc chi Nam,
tuy nhiên, chỉ chủ yếu tập trung tại các tỉnh như LạngSơn (314.295 người), Cao
Bing (157.607 người), Bắc Giang (76.354 người), Hả Giang (71.338 người),
Bắc Kan (27.505 người), Irong văn hóa dân gian của người Nùng, dân ca là
mot trong những loại hình văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của tộc người vàđược duy trì chủ yếu với hình thức truyển miệng từ thể hệ này nối tiếp thể hệ kia Với
thọ, dân ca lả một phương tiện giao tiếp và biểu dat tinh cảm giữ các cá nhân
trong công đồng Những bài hát dân ca thường được cất lên từ sự rung động của
con tim, thể hiên tĩnh cảm, nỗi lòng của người hát với nhữngngười xung quanh Nội dung của những bài dân ca phong phú, sâu sắc và được truyền tải dưới
những hình thức nghệ thuật đa dạng
Trung Quốc cũng là một quôc gia đa dân tộc và Choang là một dân tộc
thiểu số có đân số đông nhất tại đầy Dân tộc này chủ yêu được phân bấ
ởQuảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu và Hồ Nam, trong dé, kha te
trị dân tộc Choang Quảng Tây là nơi cư tri tập đồng nhật củangườiChoang,
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giểng, núi liền núi, sông hển
sông, Quan hệ ngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước đã dược
hình thành từ rất lâu đời Người Choang ở Trung Quốc có quan hệ gần gũi vả
Trang 7nhiều điểm tương đồng với người Nùng ở Việt Nam Những nghiên cứu về
loại hình dân ca của từng tộc người, Nủng hoặc Choang dã xuất hiện từ lâu ở
Việt Nam hoặc Trung Quốc Tuy nhiên, với nhiều nguyên nhân, trong lịch sử
nghiên cửu, các công trình nghiên cửu về dân ca của cä hai tộc người nảy từ
góc nhìn sơ sánh còn rất hiểm thấy Vì vậy, qua nghiên cứu này, chúng tôi hi
vọng sẽ không chỉ làm sáng tỏ thể loại, hình thức điển xưởng, xu hướng biến
đỗi, mà còn đi tìm sự tương dễng cũng như khác biệt trong dân ca của dẫn
tộc Nủng vàChoang - nhữngdân tộc vốn có chung một nguồn gốc lịch sử,
nhưng hiện đang cư trú ở hai quốc gia khác nhau, nơi có những sự khác biệt nhất định về bối cảnh chính trị cũng như điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội
2 Mục đích của luận văn
Mục đích nghiên cửucủa đề lãi nảy là nghiên sửu một cách có hệ
thốngvề dân ca của người Nùng ở Việt kam và người Choang ở Irung Quốc,
tim ra su tương đồng và khác biệt Từ đó, để xuất các khuyến nghị nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị tối đẹp của loại hình văn hóa này ở mỗi
quốc gia, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, tăng cường tỉnh
đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cửu của dé tai 14 dan ca của người Nủng và người
Choang, bao gồm các khía cạnh như-thể loại, hình thức diễn xưởng, trưởng
hop diễn xướng, xu hướng biến đổi,
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của dề tài là người Nùng ở huyện
Cao Lậc, tình Lạng Sơn, Việt Nam và người Choang ở huyện Long Châu,khu
tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc
- Về thời gian:Đề tài nghiên cứa dân ca hai dân tộc Nủng và Choang, trong bối cảnh hiện nay Cụ thể, ở Việt Nam là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi
mới đất nước (năm 1986) đến nay và ở Trung Quốc là những năm 1980 đến
Trang 8nay — thời kỳ mà văn hóa phi vật thể của các tộc người được chủ trọng bão
tổn, kế thừa vả được tạo ra những cơ hội phát triển mới
5 Cách tiễn cận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Cách tiấn cận
Điểtải dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam và Irung
Quốc về xây đựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới, với
những cách tiếp cận cụ thể như sau
- Tidpean từ góc nhìn Dân tậc học/Nhân học: Biển đổi văn hóa liên
quan đến việc lựa chọn và thực hành văn hóa của chủ thể văn hóa Vì vậy, kết
quả nghiên cứu cũng như những đề xuất, khuyến nghị về bảo tổn và phát huy
các giá của loại hình dân ca ở 2 tộc người được nghiên cửu cần phải dựa
trên cơ sở là quan di cúa chủ thể văn hóa và gan với lợi ích của họ
~ Tiếp cận liên ngành: các khia cạnh của dần ca liên quan đến điều kiện
sống, bổi cảnh xã hội, quan hệ giao lưu giữ các tộc người Trong nghiên cứu này, mỗi nội dung nghiên cứu của để tải đều dược bám sát tỉnh hình và
điều kiện cụ thể tại các địa phương, văn hóa của muỗi tộc người Những đề
xuất nhằm bảo lồn dân ca nói riêng vả văn hóa truyền thông của mỗi tộc
người néi chung déu dựa vào điều kiện cụ thể tại địa phương, quốc gia nơi hợ
sinh sống VÌ vậy, ngoải tiếp cận dân tộc học/nhân học, nghiên cửu nảy còn
tiếp cận hên ngành với các lnh vực như: địa lý học, văn hóa học, xã hội học,
tôn giáo học
- Tiếp cận phát triễn: Văn hóa gắn liền với phát triển bền vững của mỗi tộc người Nghiên cứu về dân ca của các tốc người Nùng vả Choang là nhằm
phát huy các yếu tế tích cực của một loại hình văn hóa truyền thống, gắn lian
với nó là mục tiêu phat trién kinh 16, nang cao đời sống của cộng đồng
42 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng quan tài liệu Đây là phương phápđầu tiên, được sử
dung trong suốt quá trình nghiên cứu, baogồm tổng quan các tải liệu đã xuất bắn
Trang 9liên quan đến dân ca của dân tộc Nùng, dân tộc Choang và thu thập các tải liệu thứ
cấp tại địa bản nghiên cứu liên quan dến nội dung của dễ tài
- Phương pháp điền dã dân lộc học Đây được xem là phương pháp chủ
đạo, với các công cụ như quan sát tham dự, phỏng van sâu, thảo luận nhóm
vớinhiều đối tượng, thành phần trong cộng đồng dân cư, phỏng vấn hỗi có được
áp dụng để tìm hiểu các yếu tố văn hóa truyền thống hiện không cỏn được duy trì
trong công dỗng dân tộc Hên cạnh đỏ, các kỹ thuật chụp ảnh, bảng biểu, ghi âm
cũng được áp dụng để bổ trợ cho những phương pháp khác
- Phương pháp tỐng hợp, phân tích, so sảnh Từ các số liệu thu thập
được, đề tai tiấn hành phương pháp tống hợp, phân tích, so sánh, đễ đem lại
những thông tin cần thiết cho nghiên cứu.Đề tìm ra sự tương đồng và khác
biệt, để tài tiến hành so sánh lịch đại vả đằng đại về những đặc điểm, nội
dung va hinh thức của loại hình dân ca giữa 2 dân tộc được nghiền cứu
- Phương pháp chuyên gia Mục đích là nhằmtranh thủ ý kiến từ các
chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu về văn hóa và về các lộc người dược
nghiên cứu Ngoài việc tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học,
dé tai còn thực hiện những cuộc tháo luận nhanh nhằm thu thập và tham khảo ý
kiến của các nhà quần lý địa phương ở các địa bản được lựa chọn nghiên cửu
6 Kết cầu luận văn
Ngoái phần Mở dầu, Mục lục,Phụ lục, Kết luận và Tai liệu tham khảo,
luận văn gầm 4 chương:
Chương I.Tổng quan tỉnh hìnhnghiên cứu và giới thiệuđịa bàn nghiên
cứu
Chương II Dân ca của người Nủng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Chương II Dân ca của người Choang ở huyện Long Châu, khu tự trị
dân tộc Choang Quảng Tây
Chương IV.Một vài so sánh về dân ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn
và người Choang ử khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây
Trang 10CHƯƠNG 1
TONG QUANTÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ
GIỚI TIHỆU ĐỊA BẢN NGIIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứucña các tắc giả Liệt Nam
Ở Việt Nam, đân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với đân tộc
Tây nên dã có khá nhiêu công trình nghiền cứu chung về văn hóa Tày Ning
Riêng về lĩnh vực đân ca, có thể nhắc đến,ượn cợi Tày Nùng:SH, lượn Dân
ca íPE lình Tủy Nùng của Vì liằng (Nxb Văn hóa, 1979), Dân củ trữ
tình/Cungvăn lược của Lê Bích Ngân sưu tầm và biên soạn (Nxb Văn hóa
dân tộc, 1987); Si lượn hát đôi của người Tày Nùngô Cao Bằng của Iioàng
Thị Quỳnh Nha (Nxb Văn hóa thông tín, 2003) Trước đây, người Nùng vả
người lày thường chung sống, lao động sản xuất trong củng một không gian
cư trú nhất định nên trong sinh hoạt văn hóa, họ có rất nhiều điểm tương đồng
Tuy nhiên, không iL những những đặc trưng, những nét độc đảo riêng trong
văn hỏa của từng tộc người cũng được các nha nghiên cứu tìm tỏi, phân
tích Trong những công trinh nghiên cứu riêng về dân ca người Nủng đáng lưu
yláDân ca Ning cia Mong Ky Slay, 1.8 Chi Qué, Hoang Huy Phat sun tim,
tuyén, dich vabién soan (Nxb Vin héa dan téc, 1992) Cuốn sách nay tập
trung giới thiệumột phần vốn dân ca của hai nhóm địa phương dân tộc Nùng
là Nùng Cháo vàNùng Phản 5lình, trong đó có các bải đồng đao, các khúc hát tang lễ, CO Lau, Sli Ngoài ra, còn một số công trình sưu tập từng thể loại đân
ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Son nhuftdo slao sli 6 toop của Mã Thế Vinh
sưu tim, biên dich và giới thiệu (Nxb Lao Động, 2011); Cé lau vd sli Ning
Phân Slinh Lạng Sơn do Tloàng San sưu tầm và Mã Thế Vĩnh biên địch
(Nxb.Lao Hing, 2012),SHi lớn — dân ca của người Nàng Phản Slình — Lạng
Son do Iloang Tuấn Cư, Hoàng Văn Mộc sưu tầm, Lâm Xuân Đào, Tloang
Tuấn Cư địch (Nxb Hội nhá văn, 2016), Những oông trinh trên đã cho thấy
Trang 11kho Ling dan ca người Ning khá đồ số về quy mô và phong phú về thể loại,
làn diệucũng như nội dung phản ánh
Do người Nùng Việt Nam và người Choang Trung Quốc có quan hệ
chặt chẽ, nghiên cứu sơ sánh về hai tộc người này dã dược một số học giả Việt Nam quan tâm, trong đó phải kể đến “Mội số hình thức tín ngưỡng dân gian
của người Tùy Nùng Liệt Nam và người Choang Trung Quốc” của tác giả
Nguyễn Thị Yên (2004) Thêng qua nghiên cứu nảy, tác giả đã chí ra dân tộc
Tây, Nùng ở Việt Nam và dân tộcChoang ở Trung Quốc đều thuộc nhóm ngôn
ngữ Tảy-Thái Các nhóm dân tộc này có nhiều điểm Lương đồng về nguồn gốc lịch sử, địa bản cư trú, dẫn đến nhiễu điểm tương đồng về văn hóa và phong
tục tập quán Tác giả đã trình bày những điểm tương đồng cụ thể về tôn giáo
tin ngưỡng của hai tộc người này và phân tích nguyên nhân của sự tương
đồng đó
Tiên cạnh các công trình liên quan đến người Choang Trung Quốu, có một số lài liệu đã đỀ cập trực tiếp dến dân ca người Choang Quảng Tây Có
thé ké ra những nghiên cứu như: So sánh kết cẩu vẫn luật trong ca dao của
tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca dao của lộc người Việt ở Diệt
Namcủa tác giá Kiều Thu Hoạch dịch, Vì Thụ Quan (2005), Từ ñễ hội Tông
Tổng dân tậc Choang bản về tết mông Ba tháng Ba ở Việt Nam của Nguyễn
Ngọc Thơ (2008), Ca dao dân tộc Choang - Quảng Tây (so sánh với ca dao
đân tậc Tày Ning Lang Son) cua Hoàng Diệp Hằng (2013)
Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thơ, thông qua nghiên cứu vẻ lễ
hội truyền thống của người Choang Quang ‘ly Trung Quốc — lễ hai Long ‘long,
tac gid kéu gọi sự coi trọng các hình thức văn hóa dân gian của dân tộc và kiến
nghị phục hội lễ hội mồng Tạ tháng Ta truyền thống của người Việt Nam
Ca dao là phần lời của dân ca, là những bài thơ dân gian mang phong
cách nghệ thuật chung với lời thơ đân ca Trong bài “So sánh kết cấu vẫn luật
trong ca dao của tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca đạo của tộc
Trang 12ấu vẫn luật trong các hình
người Hệt ờ Hiệt Nam”, thông qua so sánh kếU
thức ca dao của hai tộc người Choang — Việt, tác giả cho thấy kết cấu vẫn luật
của hai tộc người này đại thể giống nhau, và đã phân tích bếi cảnh văn hỏa
của sự tương dỗng vỀ vẫn luật tron ca dao hai dan tộc Choang — Việt Luận
văn thạc sỹ của Hoàng l3iệp Hằng, “Ơa dao đân tộc C hoang — Quảng Tây (so
sảnh với ca dao đâm tộc Tày Nùng — Lạng Sơn) ” đã tập trung nghiên cứu ca
đao dân tộc Choang ở các khía cạnh như nguễn pốc văn hóa, nội dưng và
những phương diện nghệ thuật, trong đó có sự so sánh với ca dao của đân tộc
Tây, Nùng ở Việt Nam
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giäTrung Quốc
Do sự tác động của các chính sách nhà nước Trung Quốc, các vấn để về
văn hóa dân gian ngày cảng được nhiều học giã quan tâm nghiên cứu Từ thập
kỷ 80 của thể kỷ XX, dân ca người Choang ngảy cảng được coi trọng trong
bối cảnh khuyến khích bảo lồn và phát huy văn hóa đân gian truyền thẳng Tội nghị về dân ca người Choang lần dầu tiên được triệu tập tại Học viễn Dân
tộc Quảng Tây vảo năm 1984 Tình hình nghiên cứu về đân ca người Choang
cũng đã đạt được nhiều thành tựu Lo lớn, kể từ thập kỹ 8O của thế ký XX đến nay Trong đó, các hưởng nghiên cứu chú yếu bao pm: nghiên cứu về nguồn
gốc lịch sử, nghiên cứu về nội dung và hình thức, nghiên cửu về bản thể âm
nhạc, nghiên cứu về sự bảo tổn vả phát huy Trong số những công trình
nghiên cứu tiêu biểu, phải kế đến những bải viết được công bố trên các tạp chí
và báo chí như;
( ): (Phan Ki Hic (1981).Nghién cau vé vẫn đề khởi nguyên và
phát triển của hội chợ dan ca dan tộc Choang, Nghiên cứu Dân tộc, 01 (001),
trang 65-73)
Trang 13FAK ) Baa tae TNE SR ( ): (Châu lác Thu (1982), fhảo luận về hình thức đân ca Choang, Bảo Học viện Sư phạm Quảng Tây, 04 (004), trang 22-29)
(loing Cach (1989), Khái lược din ca dan tộc Choang Quảng Tay, Bao Dai hoc Quang Tây, 01(016), trang, 64-72),
(ĐàmQuê Thanh (1994),Thdo Iudn vé “Ddi hat" wong dan ca Quảng Tây: Nghệ thuật Dân tộc, 03(009), trang, 127-139)
-_ R5 , NHESELRIRAIEI“WAT, SIRBTR
( ) {Vi Quê IIý (2012), Nghiên cứu và phan tich véphong cachdién
xưởng của dân ca người Choang Quảng Tâu, Âm nhạu Dân tộc, 2012(01),
trang 55-57)
(Trương Thừa Vĩ (2015), 8ơ lược về đân ca người Choang Long Châu Quảng
2 ay,Ca Hai, 2015(03), trang 40-44),
CBG RAR, ( ): của (Irương Lợi Quần(2017),
Truyền thông ngày chợ hội dan ca “Ming Ba Thang Ba đân tộc Choang” và
tiệc xâp dựng thương hiệu văn hóa ngày lễ, Báo Học viện Sư pham Quảng
Tây,03(018), trang 106-111)
Ngoài các công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chívả báo
Trang 14chí ngày cảng nhiều học giã chọn dân ca người Choang làm đồtải nghiền cứu
cho khỏa luận cử nhân, luận văn thạc sỹ, VỀ luận văn Thạc sỹ, có thể kể đến:
(Lý Vĩ Hoa, Sự tuyên truyền và chuyển hình hiện đại của văn hóa dân
ca dân tộc Choang, Dại học Sư phạm Quảng Tây, Qué Lâm, 2006)
Hoàn cánh hiện nay cúa dân ca người Choang, Bai học Sư phạm Quảng
Tây,Quế Lâm,2007),
- RXj, 277/1LNIKHGIEH147LG tHRƒWZ; ï R22 FEM, (Lÿ An Nhiên, ghiên cúu về sáng tác và kế thừa của dân ca
người Choang từ khi bắt đầu cải cách mở cửa;Dai học Sư phạm Quâng Tây,
Quế Lâm 2011)
(Thái A Lợi, Nghiên cứu về khai thác ngành du lịch vấn hỏa hộichợ dân
củ người Choang ở thành phó Nam Ninh, Học viên Sư phạm Quảng Tây,
Nam Ninh, 2011)
Các công trình nghiền cứu trên chủ yếu nghiên cứu về sự bảo tồn va
phát huy của dân ca người Choang,trong đó, dáng hưu ý hơn cả là luận văn
của Thái A Lợi khi tác giả đã phần tích được tiêm năng du lịch của hội cợđân ca
và đề xuất những giải nhápđể phát triển du lịch văn hóadân tộc Thông qua những
công trình nghiền cứu trên, người đọc thấy được những triển vọng của các loại
°hình văn hóa dân gian của dân tộc trong phục vụ phát triển ngành du lịch
"Trong số những công trình về dân ca người Choang Quảng Tây, cómột
số tác giả Irung Quốc để cập đến cả người Ning ở Việt Nam, tiêu biếu là một
Trang 15
số luận văn "Thạc sỹ và luận án Tiến sỹ như: B/E SEH FRE He RL
RAS ERR (Hoàng liểu Dịch, Vgiiên cứu về Hắng Choang vượt cảnh;
Đại học Khoa học kỹ thuật 1loa Trung, Vii Ilén, 2005), Soe Ht AF Ae 5t FLA) ERRAY OT (BŠ Xuân Xuân, Aghiên cửu vỀ sự sơ
sảnh của tục ngữ tiéng 1 lùng va tiéng Choang, Dai học Dân tốc Quảng,
Tây, Nam Ninh, 2008), WR 4f9/074iÄLPNHIESN5 Sit3# ii
We BRAS aT (Âu Dương Vũ, Nghiên cứu về ngữ âm của
phương ngữ nam bộ tiếng Choang 1rung Quốc và tiếng Tày Ning Viet Nam
từ góc nhìn so sánh, Đại học Dân tộc Quảng Tây, 2015); Những công trình trên chủ yêu nghiên cứu vỀ ngôn ngữ của dân Lộc Tày-Nùng Việt Nam và dân
tộc Choang Trung Quốc, chỉ ra những điểm tương đồng trong ngôn ngữ của
hai nhóm đân tộc này, đẳng thời cho thấysự liênquan giữa tiếng Tây-Mùng với
tiéng Choang
Một sô nghiên cứu khác đã chứng minh, dân tộc Choang Quảng Tây và
đân tộc Tày, Nùng Việt Nam có quan hệ gần gỗi, qua việc tìm ra khả nhiều
điểm tương đồng về tỉa ngưỡng dân gian, phong tục tập quán và văn hỏa xã
hội giữa hai tộc người này Có thể kế dến RM PMRW RG RHR
Nghiên cứu về tin ngưỡng thờ cúng nguyên thủy của dân lộc Choang, Tây Nimg ở khu vực biên giới Mệt-lrung từ góc nhìn so sánh, Đại học Sư phạm
Hoa Déng, Thuong Hai,2012), ARE PUSH HY RAL HA
RHRAR ERICA FB (Lu Việt Thắng, Nghiên cứu về văn
hóa xã hội lịch sử của dân lộc Choang, Nùng và Tay ở khu vục biên giới
10
Trang 16Điệt-Trung từ góc nhìn so sánh, Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, 2014), H4 /"äHL&Sitjt(È 0T? H184 18] 0mRIEk*%
aT (Đảm Tiêu Hoa, Nghiên cứu về văn hóa tập tực ngày lễ của dân
tậc Tây, Ning Diệt Nam và đân tộc Choang Trong Quốc, Đại học Dân tộc
Quảng Tây, Nam kinh, 2016) Từ việc tìm hiểu về tín ngưỡng, lễ hội dân gian,
đối hát, gia đình hôn nhân, nhà ở và trang phục của người Nùng Việt Nam và
người Choang Trung Quốc, các nghiên cửu dã chỉ ra những điểm tương dồng
và khác biệt cũng như nguyên nhân của sự khác biệt trong các khía cạnh được nghiên cứu ở 2 dân tộc này.Ngoài ra, không thé không nhắc tới một số công
trình được công bố trên các tạp chí chuyên ngành như:#Ä Star
#t 4 #& 8 SE Œ 2ï Ñ H Ê đủ đĩ ft 1t # TR Bã XU ÿ lÃ
(Dương Nhiên (2014), Sự biển đổi hiện đại hoa x hội và kính tỄ dân
tộc của các dan téc Thdi, Tay, Nang Viét Nam, Doc ngang Dong Nam A,
2004 (12), trang 36-40), 46 FL HRASH ENABLER BEX
điểm tương động và khác biệt của sự hát Then tộc người Tây, Nùng ð phía Bắc Dệt Nam và tộc người Choang Trung Quốc Iloàng Hà Chỉ Thanh,
2010(09), trang 22-25), # II? LM, & REBAR AAT
Ninh (2010), Nghiên cứa về tình trạng dồng cảm đền lộc của các dân tộc
vượt cảnh Choang, Tàu, Nùng — thực địa khảo sát tại thôn Niệm Tĩnh huyện
Na Pha Quảng Tây, Nghiên cứu Dân tộc Quảng Tây, 2010 (03), trang
Trang 17iiYLBli- 73 H8 # x LI#S3 18 (Vương, Minh
Phú (2012) Đồng cám dân tộc và văn hỏa của người Nùng Liệt Nam va
người Pu Nông khu biên giới châu Văn Sơn Trung Quốc _ căn cú vào sự điều
tra diễn dỡ thực dịa, Bảo Học viên Văn Sơn, 25(01), trang 29-32);
Có thể thấy rằng, ở Trung Quốc, các vấn để liên quan đến văn hóa của người Choang vả người Nùng đã được khả nhiều học giả quan tâm, nhưng
nghiên cứu riêng về dân ca của hai tộc người nảy cỏn chưa nhiều, nhất lả từ
góc nhìn so sánh giữa người Choang ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây
với người Nùng ở tinh Lang Son
1.1.8 Nghiên cửu của các tác giả nước ngoài
Kế từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cửu về đân ca của lừng lộc người, Nủng hoặc Choang đã xuất hiện khá nhiều ở Việt
Nam hoặc 1rung Quốc trong bối cảnh khuyến khích bảo tồn và phát huy di sẵn văn hóa phi val thé Bén cạnh do, do có quan hệ gần gũi, các vấn đề liên
quan đến hai tộc người nảy cũng được khéng it hoc giả quan tâm trong cùng
một nghiên cứu, trong đó, bao gồm tác giả ngoài Việt Nam và Trung, Quốc Tap chi Journal of Southeast Asian Sludics da e6ng bố bải việt Người Chodng, các dân tộc Ít người vùng biên giới Việt-Iloa trong triều đại nhà Tổng của tác gid Jeffrey G.Barlow (1987) Trong đó, tác giá đã đề cập đến người Choang ở
khu biên giới Việt — Trung và nguồn gốc lịch sử của các nhỏm dân tộc ở khu
vực này Tác giả chơ rằng ở Việt Nam, người Choang được xác định trong lịch sử là người Nủng Giáo sư ngưởi Nhật Shigeyuki Tsukada cũng quan tâm
tới 2 tộc người nảy trong một số nghiên cứu như Sự giao iw và quan hệ dân
tộc giữa dân tậc Nững Việt Nam và đân tộc Choang THứng Quốc (Bảo Đại học
Tân tộc Quảng Tây, 2007) và 8g giao lưu của các dân lộc Diệt Nam và dân
tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc (Hội nghị 'Irang Quốc, 2009) Qua đó,
chỉ ra mối quan hệ, nguồn gấc lich sở cũng như quá trình giao lưu văn hóa và
Trang 18kinh tế giữa hai tộc người nảy
1.2 Mật số khái niệm
Dân ca
Tân ca là một bộ phận của văn học dân gian, được khới nguyên và lưu
truyền trong dân gian ở một cộng đồng, một quốc gia hoặc khu vực và trở
thành văn hóa đặc biệt của họ, đa phận bài dân ca không rõ người sáng tác
Dân ca của nhân dân lao động thông thưởng dược lưu truyền bằng cách truyền miệng từ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia Nội dung chủ yếu đề cập đến
thé sy, là lời ca thán, là lời nhắc nhở, lời khuyên, lời cười nhạo, là câu châm biếm, câu mỉa mai thói hư ở đời của một ai đó, về một sự việc nảo đó Đặc
điểm của đân ca là biểu đạt tư tưởng, tỉnh cẩm, ý chí, yêu cầu và nguyện vọng
của nhân dân lao động, mang tính hiện thực, là một bộ phận cấu thánh quan
trọng trong các các loại hình văn hóa dân tộc Thuật ngữ "dân ca” lần đầu
xuất hiện vào thế kỷ XIX!, được sử dụng để chỉ các loại hình âm nhạc như
âm nhạc truyền miệng, âm nhạc của lằng lớp thấp; âm nhạc mà người sảng
tác là vô đanh Những điều nảy tương phản với các thể loại âm nhạc thương
xnại và cô điển
Tôần ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cễ truyền của Việt Nam, với
nhiễu làn điệu từ khắp các vùng miễn, các cộng đồng tộc người, với hinh thức
có nhạc hoặc không có nhạc Các làn điệu dân ca thể hiện phong cách bình
dan, giản đị, gần gũi với cuộc sống lao động Các địp để biểu diễn din ca thường lả các địp hội, hè, đình đám, Ngày thường, người ta cũng hát dan ca
trong quá trình lao động sản xuất để quên di sự rệt nhọc; cũng có khi là dịp
thể hiện tỉnh yêu đôi lửa, tình cảm giữa người với người Ilát đân ca là một
trong những nét đẹp văn hóa của dân tộc Nùng Từ xa xưa, người Nùng đã coi dân ca lả phương tiện giao tiếp, lời tâm sự tỏ tình với người khác giới Hát
dân ca là sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nễ¡ lòng của mình với
1 btps:/2vi.wikipedia.org/AiEiD96C354A2n_ ta
Trang 19mọi người
Tn ca Trung Quốc là một trong những thể loại của ãm nhạc dân gian
dan tộc, là mệt nghệ thuật ca hat được sáng tác và phát triển qua truyền khẩu
trong cuộc sông thực tiễn của người dân lao động Trong dé, dân ca người
Choang rất phát triển, bất cử nam nữ, thiếu nhi hay người già đều thích hát
Với họ, hát dân ca đã trở thảnh một “món ăn tỉnh thần" không thể thiếu trong
Người Mừng ở Việt Namgồm các nhóm địa phương: Nùng Xuẳng,
Ning Giang, Ning An, Nung Léi, Ning Phan Slinh, Ning Chao, Nang Inh,
Ning Quy Rin, Nùng Din,
Ngôn ngữ, tiếng nói của người kủng thuộc ngữ chỉ Tài của ngữ hệ
Tai-Kadai Người Nùng dùng chit [dn hay chữ Nôm Nủng (được phát triển
khoảng thể ký XVI) để ghi chép thơ ca và truyện cỗ dân gian Trước dây, hầu
hết người Nùng đều không biết chữ, chỉ có những người giàu cỏ mới được di
học, nhưng lả học chữ Hán hoặc tổng Pháp Hiện nay, phần lớn người Nùng
đều không biết viết chữ của dân tộc mình Trẻ em dén trưởng dược học chữ
Quốc ngữ của người Việt Năm 1924, tiếng Nủng lần đầu tiên được ghi theo hệ
chữ T.atinh nhở linh mục người Pháp Erangois M 8avina Viên Ngôn ngữ học
Mia hé (Summer Institute of Linguistics) trudc nim 1975 cũng có một bộ
chữ cho người Nting Phan Slinh séng & miền Nam Việt Nam Ở miền Bắc
Việt Nam có thêm phương ngữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ Quốc ngữ từ
nấm 1961 Văn học dân gian của người Nùng rất phong phú về nội dung va
đa đạng về thể loại Trong đó, dân ca là một trong những loại hình văn hóa
đặc trưng, tiêu biểu của họ Ngôi nhà truyền thống tiêu biếu cho người Nùng
là ngôi nhà sản, lợp ngói máng, đưới gầm sản là chuồng gia cẦm, thậm chỉ cả
† htps:/i.vwikipcdi.org/aiki/Ngð4C694B0%4E194BBĐ%8D¡_N%CSiBồng,
1
Trang 20gia súc Nguyên liệu để lâm nhà là gỗ, tre, ngói, là những thứ có sẵn tại chỗ Nguồn sống chính của người Nủng là lúa và ngõ Trồng trọt là hoạt động sinh
kế chính của người Nùng, họ kết hợp lâm ruộng nước ở các vùng khe đọc với
trằng lủa cạn trên các sườn đồi Các ngảnh nghề thủ công của người Nùng cũng khá phát triển, gầm nghề đệt, nghề mộc, nghề đan lát, nghề gốm sử
Ngoài ra, họ còn giữ kinh tế hái lượm và săn bắt, nhưng chỉ có vai trò bổ trợ
Họ có quan hệ pẦn gũi với người Choang sống dọc biên giới với Việt - Irung,
Tại Trưng Quốc, người Nùng cùng với người Tây được xếp vào dân tộc
Choang
Người Choang
Người Choang (Zhuang) là một trong 55 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc
Theo thống kê dân số lần thứ VI toàn quốc năm 2019, tổng dân số người
Choang là 16.926.381 người, là tộc người có dân số đông nhất trong cộng
đẳng các dân Lộc thiểu số của Trung Quốc Người Choangsống chủ yếu ở khu
tự trị đân tộc Choang Quảng Tây phía nam Trung Quốc Ngoài ra, có một số sống ở các tĩnh Vân Nam, Quảng Đông, Qúy Châu va 14 Nam Zhuang (It),
Bu ⁄huang (ÍEÄf) ban dầu là tên tự xưng của dân tộc Choang (⁄huang) Trong các sử sách chữ lân, địch sang “Ÿ#”, “3È”, phát âm giống voi “At” va
“4l” (phát âm: Zhuang/Choang) Sau khi thành lập Trung Quốc mới, thống
nhất viết bằng “4%” Sau đó, theo quyết định của Chính phủ thời kỳ đó vả sự
đồng ý của nhân dân dẫn tộc Choang, nim 1965, chir “fii” duoc thay bằng
chit “HL” (phat 4m giống nhau 14 Zhuang/Choang) Cho “HE” co ý nghĩa mạnh
Trang 21khỏe Iừđó đến nay, dân tộc Choang được thông nhất gợi là9f#K?2 Người
Choang có hơn 10 nhóm địa phương và có các tên tự goi nhw: Bu Zhuang (46
4+, Bé Choang), Bu Nong (B#&, Bồ Nùng, Pu Nong), Bu Tu (4+, Bố Thổ),
Bu Yue (4722, Bé Viét), Bu Man (46, B6 Man), Bu lai 4b, BS Thai),
Bu Liao (44%, Bé Lao), Bu Long (47BE, BS Lung), Bu Pian (fifa, Bd Thién), Bu Yang (488, Bá Ương) Bu An (4682, Bd An), Bu Min (408, BS
Man)[33, 4-6],
về ngôn ngữ tiếng Choang thuộc ngữ chỉ Tái, bị ảnh hưởng nhiều bởi
gác phương ngữ của tiếng llán Tiếng Choang chia thành hai phương ngữ
Tam và Đắc, nhưng kết cấu ngữ pháp vả từ vựng cơ ban đại thể giống nhau
Tiếng Choang chuẩn dựa trên một phương ngữ phía bắc gọi là Choang Ứng
Bắc được sử dụng tại huyện Vũ Minh Quảng Tây Người Choang có chữ cổ
riêng của dan toc minh là chữ khổi vuông Choang, nhưng không được sử đụng phổ biến, chủ yếu là những người giả, thầy mo, nghệ nhân, dùng dé ghi
chép, viết kinh thư, biên soạn kịch bán vá dân ca Năm 1955, chính phú Trung
Quốc tổ chức xây dựng bộ chữ Choang mới dựa trên chữ Latinh Từ đó, chữ
Choang mới được phát triển, sử dụng rộng rãi hơn và bắt đầu được day 6 cac
cấp trường học ở khu dân tộc Choang vào thập kỷ 80 cia thé kyXX Voi sự
phát triển kinh tế- xã hội, tiếng IIản ngảy càng được sử dụng phổ biến đã khiến cho tiếng Choang dần bị mai một ở các thành phố, ngay cả ở những thị
trần và huyện ly - nơi chữ Choang vốn được sử dụng nhiều cũng chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ Lliện nay, đa số người Choang không thể viết được chữ Choang của dân tộc mình Văn học đân gian người Choang được sảng Lắc vả
“bik AREA tups2baikebaidu.cemitcm/02596A396A1941269/97948E/1252511falnddin
16
Trang 22lưu truyền bằng miệng với các thể loại chú yếu như thần thoại, truyền thuyết,
dân ca và kịch dân gian Họ tin vàoda thần, không có tín ngưỡng vả tôn giáo
thống nhatvéi 2 hình thức: một là lấy sự vật tự nhiéndé lam đối Tượng súng
bái, thuộc hình tháinguyên thủy, hai là giáo sỹ thông qua những nghỉ thức
nhất định (đọc kinh và cầu nguyên )33, tr 14]
Ngôi nhà truyền thống của người Choang là ngôi nhả sản, dưới gầm sản
là chuồng nhốt gia cẲm Nguyên liệu dễ lâm nhà lả tre, gỗ và ngồi Với sự
phát triển của xã hội, những ngôi nhà truyền thốngđã dân dần được thay thé
tbởinhững ngôi nhà cao tầng Về thức ăn, thực phẩm chính của người Choang
là gao, thực phẩm phụ có ngô và khoai Về hoạt động kinh tế, trằng lúa nước
là nghễ chính của người Choang, ngoài ra, họ thường trồng rau củ quanh
vườn nha và đất đổi Chăn nuôi và nghề thủ công của người Choang cũng khá
phát triển, đặc biệt là đệt vải
1.4 Giới thiệnđịa bàn nghiên cứu
1.4.1 VỀ người Nhng ở huyện Cao Léc, fink Lang Son
Tân tộc Nùng ở Lạng Sơn có ba nhóm khác nhau là Nùng Phân Siình,
Nùng Cháo va Ning Inh Theo Dd sir va dia chi Lang Sơn thì người Nùng ở Tang Son ti Van Thanh, Tong Châu và T.ong An của Quảng Tây, Trung Quắc
đến, trong đó, người Nùng Phản Silình đi cư vào Lạng Sơn muộn hơn các nhánh
khác|11, tr 11-12] Người Mng ở huyện Cao T.ộc chủ yếulàNùng Phản Slình
Cao Lộc là một huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, giáp biển giới Việt - Trung luyện nằm ở phía bắc tĩnh Lạng Sơn, phía bắc và phía đông của huyện là khu
tự trị dân tộc Choang Quang ‘lay ‘Trung Quốc, phía nam là huyện Van Ling
và Văn Quan của tỉnh Lạng Sơn Với diện tích 644km”, dan số là 74,S88ngudi
(năm 2019), huyện có 2 thị trấn là Đồng Đăng, Cao Lộc va 21 xã; gồm 5 dân
tộc cùng sinh sống là: Nùng, ‘Ty, Kinh, Dao, Hoa Thị trấn Cao Lộc cách
thành phế Lạng Sơn 3 km về hướng đông bắc và cách cửa khẩu quốc tế Ilữu
Nghi khoảng 15km, nỗi sang thành phố Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc
Lộ
Trang 23Tgoài ra cửa khẩu quốc Lế Hữu Nghị, địa bản huyện Cao Lộc còn gó cửa khẩu Đằng Đăng, các trục giao thông đường bộ và đường sắt quốc tế, quốc lộ 1A,
1B, 4A, 4B liên kết với tất cả các huyện, với IIä Nội vả các tỉnh đồng bằng
Đắc bộ Đây cũng là điểm cuối của dường cao tốc Hà Nội — I.ang Son* Nhiing năm trước đây, Cao Lộc vốn là một huyện nghèo của tỉnh Lạng Sơn Nguồn
sống kinh tế chủ yếnlà trồng trọt; ngoài ra còn có chăn nuôi gia súc, gia cầm
và phát triển một số ngành thủ công Những năm pần đây, thực hiện dường lỗi
đổi mới của Đảng và nhà nước, huyện đã tập trung mọi tiềm lực để khai thác
lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển dich cơ cầu kinh tếđúng hướng
Nhờ đó, các hoạt động thương mại — dịch vụ phát triển ngày cảng sôi động,
đem lại cho huyện nguồn thu cơ bản, đưa Cao Lộc từ huyện nghẻo trở thành
một trong nhữnghuyện khá của lĩnh Lạng Sơn"
Xã Cao Lầu lả một xã thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, tiếp giáp
với Quảng Tây, Trung Quốc Xã có diện tích 58,61 kmẽ, đân số năm 2018 là
3523 người, trong đó người Nùng chiếm 65.349” Xã báo gồm nhiều lang
bản như Bản Xâm, Bản Răn, Bản Don, Pác Cuỗng, Na Va, Pò Những, Bản
Vang, Con Nan, Co Sâu Người dân chủ yếu là dân tộc Nùng và Tây, vẫn đã
sinh sống lâu đời Khi Nhà nước dầu tư cơ sở hạ tầng thì ngày cảng có thêm
nhiều người Kinh đến cư trú và lập nghiệp tại đây.Iliện nay, với sự hỗ trợ của
hà nước cũng như sự nỗ lực tự thân, dời sống của các tộc người nơi đây
ngây càng được nâng cao trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo
đục, y 16
1.42 UỀ người Choang ở huyện Lang Châu, khu tự trị dan tộc
Choang Quảng Tâu
1 Bộ Thương mại trang thông tin thương mại biên giới miền núi, hài đảo -lyện Cao Lộc
Củ thông 0n đệm tệh Tag Sai layEnCHe Lộc
htip:“/eaolot.langzon gov wn/vihuyen-cao-loe-pha-thco-huong-phat-crien-manh-bien-gioi-va-loi-kinh-te-cua- khau
' tư liệu do ủy ban xẽ Cao Lâu cùng cấp.
Trang 24Dan tộc Choang cỏ hơn 10 nhóm địa phương và có một số tên tự gọi
như: Bu Zhuang (#h‡†, Bế Choang), Bu Nong (4648, B4 Ning), Bu Ta Gt,
Tố Thể), Bu Yuc (Zb#Ä, Bồ ViêU, Bu Man (3b #, Bố Man), Bu Dai (258, Bá
‘Thai), Bu | tao (4 ff, Bồ Lão), Hu I.ong (4È, B46 Lung), Bu Pian (40 ff, BA Thiên), Du Yang (4828, B6 Uong), Bu An (46%, Bố An), Bu Min (2Ð, Bố
Min), Trong đỏ, người Choang ở huyện Long Châu, Quảng Tây chủ yếu
thuộc nhóm Bu Nong, và có một phẩn nhỏ tập trung ữ thị rắn Kim Long
thuộc nhóm Bu Dai Theo một nghiên cứuthihai nhóm nảy có mét bé phandi
cư sang miễn Bắc Việt Nam|33, tr.~5|
Huyén I.ong Châu lả một huyền thuộc thành phóSủng Tả khu tự trị din
tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc Huyện nằm ở phía tây namcủa Quảng
Tây, cách thủ phủ Nam Ninh 239 km Phía tây vả phía nam giáp khu Giang
Châu, huyện Ninh Minh và thành phố Bằng Tường, phía dông bắc giáp huyện
Đại Tân, phía tây bắc giáp tỉnh Cao Bằng của Việt Nam Iuyện có diện
tích2317.8 km”, đân số năm 2010 là 260.200 người; có 12 thị trấn và 123
thôn, với12 dân tốc cùng sinh sống, chủ yếu là: Choang, Hán Miêu, Dao, Hồi,
Động, rong đó, 95,89% là người Choang Long Châu là một thành thi vin hóa nỗi tiểngvới hơn 1000 năm lịch sử vềthương mại vùng biên giới Năm
1889, Long Châu đã trở thành một cảng thương mại lục địa đối ngoại, là cảng
thương mại mớ cửa đổi ngoại sớm nhất của Quảng Tây; đồng thời oững là
một cổng thông tin quan trọng của sự giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Irung
Quốc và các nướcĐông Nam Á với các tên “Trọng trần biên cuong”va “Ting Kông nh” Lơng Châu có nhiều danh lam thắng cảnh, vẻ đẹp tự nhiên, cảnh
quan dia chất độc đáo, cũnglả nơi đưỡng sinh thiên nhiên tuyệt vời.Tuôi thọ
bình quân người din nơi đây rất cao, được gọi là “quê hương trường thạ
” bitps:/'vi.wikipedia.org/wiki/Long_ChY%C3%0A2u,_ 890C3%B9ng_ THEIMBA%AS
Trang 25Trưng Quốc”.Loại hình hát then cỗ của người Choang ở Long Châu rất nỗi tiếng, và được xem lả “quê hương của nghệ thuật hát then Trung Quốc” Các
lễ hội dân gian như “Chợ hội Dân ca” ngày 13 tháng 4 (theo âm lịch) và “Lễ
hội Nang Dộng (cũng gọi là Lồng Tổng, f&ÑlT5Y' cùng các phong tục tập
quán của người Choang đều là tài nguyên du lịch sinh thái hấp dẫn cho Long Châu, thu hút được hàng nghìn khách du lịch đến tham quan.Nông nghiệp là
hoạt dộng kinh tếchủ yêu của người dân huyện Long Châu, trong do, trang
trọt chiếm tỷ trọng lớn bao gầm cây lương thực và cây hànghóa” Những năm
gần đây, kinh tế cửa khẩu của huyện phát triển nhanh chóng Năm 2015, tông
lượng ngoại thương đã tăng lên vị trí thứ 2 trong 8 thành thibiên giới của Quảng Tây”
Xã Vũ Đức năm ở phía bắc cúa huyện Long Châu, phia đông giáp thi
trân Kim Long, phía nam giáp xã Lhượng Long, phía tây kết nối với thị trấn
Thủy Khẩu, phía bắc giáp Việt Nam với đường biên giới đải 25 km Đặc điểm
dịa hình toản xã là tây bắc cao, déng nam thấp, phần lớn là khu núi đá Xã Vũ
Die có 8 thên vớitỗng diện tích toàn xã là 204 km” và dân số 18.572 người, Nông sản chính của xãlả lúa, ngô, đậu nành vá lạc, cây hàng hóa oó mỉa vá khoai sa
Trang 26vật thểhiện nay, các vấn đÈhên quan đến văn hỏa dân gian, nhất là văn hóa dẫn pian của các tộc người thiểu sốđược ngày cảng nhiễu học giả quan tâm va
nghiên cứu Miột số học giả không chỉ giới hạn trong nghiên cửu về văn hỏa
dân gian của các đân tộc trong nude ma con quan tim đếncáodân tộc ở nước
ngoài vốn có quan hệ gần gñi với các dân tộc trong nước Không ngoại lệ,
người Nùng Việt Nam đo có quan hệ gần gũi với người Choang Trưng Quấc
nên các van dễ liên quan đến hai tộc người này, nhất là yếu tố văn hóa tộc
người đang ngảy cảng được nhiều học giả, cả ở Việt Nam và Trung Quốc
cùng quan lâm nghiên cứu.Các hướng nghiên gứudù khá đa dạng, nhưng chủ
đề về dân ca, và tiếp cận dưới góc nhìn so sánh còn hiểm thầy và nếu có, chỉ ở
xmức sơ lược Đặc biệt, chưa có một công trình nào lựa chọn địa bản nghiên
cứulà huyện Cao Lộu, tinh Lạng Sơn, Việt Nam và huyện Long Châu, khu tự
trị dân tộc Choang Quảng lây, Irung Quốc - nơi hai tộc người nảy vốn có
những mối quan hệ gần gũi trên nhiều phương diện
Tin lộ Nùng ở Việt Nam có số lượng cư dân khá déng, đứng thứ 7
trong tống số 54 dân tộc tại Việt Nam Kgười Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh
Lạng Sơn chủ yếu lá Nùng Phản Slinh Cao Lộc lá một huyện núi biên
piớinnằm ở phía Bắc Lang Sơnnơi có cửa khẩu quốc tế Hữu nghị nối sang
thành phổ Bằng Tường, khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc Tiuyệncó xuất
phát điểm kinh tễ tương đối thắp, trồng trọt là nghề chỉnh của người Nùng ở
đây Những năm gần đây, theo đường lối đổi mới của Nhả nước, huyện tập trung tiểm lực để khai thác lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển địch
cơ câu kinh tếdúng hướng, các hoạt động thương mại — dịch vụ phát triển
ngày cảng sôi động Người Choang là tộc người có dân số đông nhất trong
cộng đồng các dẫn tộc thiểu số của Trung Quốc Khu tự trị đân tộc Choang
Quảng Tây là nơi cư trú tập trung nhất của người Choang và huyện Long
Châu lả một trong những nơi người Choang giữ gìn tốt bản sắc văn hóadân tộc
minh Nông nghiệp là cơ sớ kinh tế của huyện, trong đó, nghệ trồng trọt chiếm
Trang 27
tytrọng lớn trong cơ cầu thu nhập Những năm gần đây, kinh tế cửa khẩu và du
lịch của huyền cũng phát triển nhanh chóng, tạo những bước nhãy vọt về kinh
tế - xã hội Người Nùng vến có quan hệ gần gũi với người Choang Trưng Quốc,
vì thể ở vùng biển giới hai nước Việt — Trung, hai tộc người nảy cỏ những quan
hệ khả gần gũi trên mọi khía cạnh của đời sống như kinh tế, xã hội và văn hóa
Trang 28CHƯƠNG 2
ĐẦN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN CAO LỘC,
TỈNH LẠNG SƠN
Tần tộc Nùng ở Việt Nam có truyền thông lịch sử phát triển lâu dời và
hiện vẫn giữ được nhiều phong tục tập quán độc đáo Văn hóa dân gian dân
tộc Nùng phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại Trong kho tảng Ấy, dan
ca là hồn cốt, giữ vai trò và vị trí quan trọng Từ xa xưa, người Nủng đã coi
dan ca là phương tiện giao tiếp, lời tâm sự tổ tình với người khác giới IIát
dân ca là sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nỗi lòng của người hát với mọi người xung quanh Các làn điệu dân ca của dân tộc Nùng được hình
thành từ quá trình lao động sản xuất, từ cuộc sống thường ngày,thể hiện tỉnh
cám mộc mạc, dân đã
2.1 Các thể loại dân ca
Tân ca của người Nùng có nhiều thể loại, mỗi nhóm Nùng địa phương
lại cỏ cách hát, lân diệu, lối thể hiện khác nhau vả nội dung các bài hát vô
cùng phong phú Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về đân ca
của người Nùng Phan Slinh, một nhóm địa phương của dân tộc Nùng ở huyện Cao 1.ée, tinh Lang Sơn.T3ựa trên kết quả nghiên cửu của các học giả đi trước
vả qua kết quả điền đã tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy các thể loại đân ca của
người Nùng nơi dâybao gdm: hát SH,Cð T.äu, khúc hát tang lễ, hát Then, hat
Tu, đồng dao
Aatsh
Nói dến dan ca của người Nùng thì phải nói dến 8liUủng gọi là Sli
nhưng các nhánh Nùng không giếng nhau, trong đó, Nùng Phàn Slinh gọi
là5h Phản Slinh Sli Phan Slỉnh khi hát hay có đôi và đặc biệt đôi đó phải hợp
giọng, Họ ht theo lối ứng khẩu và theo cảm xúc của mình.8li¡ là một thể loại
dan ca rất phổ biến và độc đáo đối với dân tộc Nùng Sli của người Nùng được coi là một thể loại trữ tình, được thể hiện trongoác ngày hội, chợ phiên,
Trang 29ngảy cưới, ngày lên nhà mới, Người Nủngtrước đây hầu như ai cũng yêu thích và biết hát Sl¡,đặc biệt là tầng lớp thanh niễn Trai, gái dân tộc Nủng hát
Sli dé két giao tinh bạn hoặc tìm bạn đời.Đặc điểm của hát Sli 14 hát không
cần có nhạc cụ đệm, không có vũdao kẻm theo và có thể hát ở bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là nơi đó có đối tượng hát
vaehd loại, hat Sli 14 mét hinh thie hat tho Sli 1a nhtmg bai van vin,
mỗi cau tit 5 dén 7 chữ, mỗi bài từ 4 dén 8 cu hode tnrdng thiên vải trăm cầu
Nội dung của SH rất phong phủ và hấp dẫn Từ những hiện tượng tự nhiên
như mây, mưa, trăng, sao, oây cổ, núi đồi, các mùa, cho đến các câu chuyện lịch sử, văn hóa, xã hội đều là dễ tải, nội dung trong các bài hát SI1.'Iyong lời
của Sli có sự liên tưởng, viven, so sánh thông qua những hình ảnh cụ thể để
nởi lồn tỉnh căm, tâm trạng và nguyên vọng của con người Trong các để tài
SH, tình yêu nam nữ vẫn là nội dung chính yếu mà dân ca Ning nói chung và
hat Shi nói riêng hay để cập tới Iát Sli giao duyên thường do 2đôi trai gái thể
hiện theo lỗi dối đáp, hát không có bải cụ thể mà theo lối ứng khẩu vá cảm
xúc của người hát Người hát trước thường là người có giọng vang, tải tình và
nhanh nhạy Khi bên này vừa ngừng tiếng Sli thì bên kia cũng phải có người
nhanh chóng cất lời Si để đáp lại như
Chang trai: Dén day ta có đôi lời tâm sựý
Nhưng lại sợ dem phiền cho bạn
Cô gái:7uy khá nói nhưng hấu cùng lâm sựi
Như mạ gặn nước như lúa gặp mây
Chàng trai: Trồng nàng vừa đẹp lại vừa xinh/
Quả ngon lòng ngâm ngủi nhé mãi
Cô gái Rừng xanh xuất hiện đôi măng trúc/
Ruộng tất xuất hiện bông lúa vàng 1
1Í Dân ca Slì của người Nũng Phản Slình Lạng Sơn
hip: Aapchidantoc.ubdt gov.vi/201-4-11 -06/a9315580461993a59685>603e4S18e64-cema itm,
a
Trang 30Trong cuốn 8l, lượn dan ca trữ tình Tày-Nùng, nhà nghiên cứu Vì
Hằng cũng cho thấy rằng: “Người Nùng dùng từ SIi dễ chỉ toàn bộ dân ca
mang tính trừ tình của họ cũng như người Tày dùng từ Lượn đề chỉ hẳu như
toàn bộ dân ca của mình” Hát Sli là hình thức hát phổ hiến nhất của người Ning Hat Sli thể hiện sự ửng đối tài hoa của mỗi người với những lời si ví
von, béng bay, hài hước, đôi khi lại xa xôi, an chứa rất nhiều hàm ý
Có lãm
CöLâu là một lối hát chỉ sử dụng trong đám cưới của dân tộc Ning nói
chung vá người Nùng Phản 5lỉnh nói riêng Đó là một cách nói chuyện, một
hình thức giao tiếpthông qua những bài hát, trong đó chứa đựng những tỉnh
cảm trân trọng đổi với cha me, họ hàng và những người có công vun đắp, tác
thành cho đổi lứa Có Lẫu tức là kể chuyện cưới, lả hình thức hát trong sinh hoạt đảm cưới, là những bài hát xm vào cửa, xi trao lễ, mời nước mời
xượu, khi đến đón đâu
Đám cưới của người Nùng Phản Slinh thưởng diễn ra hai, ba ngày
Doan nha trai di dén đâu gổm có: chú rễ và các phủ rễ, cô đỏn, thầy Môi
người được nhận là cha nuôi, thay mặt nhả trai trong giao tiếp với nhà gái để
tiến hành các bước củadám cưới Những thành viên của doàn dón dâu dược
nhà trai lựa chọn cân thận vả tin can, thường là những người bạn vàho hàng
thân thích hoặc là những người bên ngoại giới hát Cỏ Tảu Thông thường
những người giỏi hát Cổ Lâu mà di đón dâu này phải đượcmời trước vải tháng để họ có thời gian tập luyên các bàihát.Đoàn nhà gái sang nhà trai,
ngoài cô dâu còn phủ dâu, Nảng Tài (cũng gọi là Me Tai hoặc Bà ngoại nuôi)
-người đại điện nhà gái đưa dâu về nhà trai, và một thiểu nữ khác mang vác,
trông cơi Lư trang cho cô dâu Những người này cũng phải là người giỏi hat
Giỏ Lãuvà cũng phải có lời mời trước đó vài tháng để họ có thời gian chuẩn bị
Khi đoàn đi đón đầu đến nhà trai, Cé Lau duce tiên hành chỉ với một, hai bải
ca ngợi thầy Môi và cỗ đón Khi xin vào cửa đón dau, cáu phù rễ vả phù dầu
Trang 31ngồi quanh bàn trong sản, trên bản hay có nước và rượu, các phủ rể đại điện
bên nhà trai và các phủ dâu đại diện bên nhà gái, họ giao lưu với nhau bằng
Cỏ Lâu, hát đối đáp với nhau, thông thường bên nhà trai hát thắng mới được
phép vào cửa đón dâu
Cô Lãuđược bắt đầu ở nhà trai bằng việc Nàng Tai dẫn cô dâu và phụ
đâu đi ra mất họ nhà trai Nang Tai dẫn cô dâu đi chảo trưởng họ và bế mẹ
chồng Năng Tại cat tiếng hát kể lại việc cảm ơn bố mẹ của chú rổ về công lao
nuôi dưỡng tử nhồ tới chuyện đi tim đâu và chuẩn bị lễ cưới của nhà trai,
tiếng hát của Nàng Tai vừa dừnglại thì người đại điện bên nhả trai (thường 14
bố chủ rể) yêu cầu phải có một bài đáp lại để cảm ơn vả ca ngợi Nàng Tài
Nàng Tai tiếp tục đưa cô đâu đi chảo họ hàng thân thích vả bạn bẻ, khi đó
những bải hát lại được kiếp diễn giữa Nàng Tai và các vị khách Đền oanh đó,
trong đám cưới còn hay có 8li, nam nữ hát đổi đáp với nhau Cuộc hát như
vậy kéo dài cho đến khi tàn tiệu cưới
Hiển nay, Có Lau ở trong dám cưới của người Nùngdã rất hiểmkhi diễn ra
Người Nùng Phản Slinh ở huyện Cao Lộc nói rằng, từ những năm1990 trở lại
đây thỉ hầu như không cỏn Cö Láu nữa Da nhiều nguyên nhân, những bài Có
T.áu sưu tầm không được nhiều bằng các bải hát 8H Dưới dây là mat bai Cô Lâu
đã được dịch sang tiếng Việt trong cuén 72ân ca Nùng[8, tr.77]:
Mae áo trắng bên trong
Mac do hông bên ngoài
Nhiều người cùng đi kèm
Nhiều người cùng theo với
26
Trang 32Thứ bậc chẳng thấp cao
Theo mai nén dao lí
Đi theo một rừng mới
Ti theo mười lượt bạn
Sương mù xuống đăng ding
Sương kéo thánh muôn sợi
Sợi giãng trên núi da
Sợi giăng trên lũng xa
Cơn đường đã cất giọng Cất giọng gọi xuống nhà Khúc hát Tang lễ
pủa
Khúc hát Tang lễ là một thể loại dan ca chi ding trong tang lễ
người Nùngvà đếnnay vẫn được sử dụng khá phổ biến, nhật là những địa bàn
người Nùng cư trú tập trung Trong tang lễ sửa dân tộc Nùng só nhiều nghỉ lễ
và thủ Lục khác nhau dễ người sống làm tròn nghĩa vụ cuối cùngvới ngườiqua
đời Trong suốt quả trình diễn ra tang lễ, thầy Tào chủ trì các hoạt động, đảm
xhhận việc cũng lễ, đưa dẫn linh hồn người vừa mắt về với tổ tiên Thân nhân
của người vừa mất thì hát qua tiếng khác theo các bài sẵn có mà thông thường
do thầy Tào cung cắp, kẻm theo những cụ nhạc như cồng, trống, Thân nhân
dùng lời ca qua tiếng khóc của minh dể biểu dạt tâm sự, tình cảm với người
đã mất, để chào khách, để tô lời cám ơn với thầy Tào, Dưới đây là một
đoạn của bài ca đầu tién Ldy nude di dugc dich sang tiéng Việt và được tập
hợp trong cuốn sách J2ân ca Nừng[M, tr 28-32]
Người” ốm mấy ngày rồi Người đau đã mấy tháng
“Thấy! cứu cũng không lại
12 Người: chỉ người vừa mắt
1) ‘Thay: chi thay Mo, thay Tao
a
Trang 33Thuốc chữa cũng không day
Tôm nay Người ngã di với nương,
liêm nay Người khuất đi với móc
Con Người cầm gạo trắng đi moi Cơn Người cầm nắm gạo đi cậy Mời thầy già bản xa
Mời thầy piỏi bản lớn
Mang bộ sách ba người vác
Mang bộ chóng tám người khiêng
"Thầy lập bản Thầy phía bên cửa
"Yên vị bàn thờ chính giữa
Mời Người xuống bên cửa má dựa
Mời Người xuống giữa nhà mà ở
Thay đến gọi Người đi Thay dén mời Người dậy
Người hãy theo đâu chân Thay di
Người hãy theo got chan Thầy ma bude
Bai ca này được coi như lả tiếng khóc đầu tiên của thân nhân sau khi có
người qua đời trong tang lễ, cũng là thủ tục đầu tiên của thầy Tảo để chuẩn bị đưa người mắt vảo quan tài Thấy Tảo Lý Văn Xuân có tên cấp sắc!" 1a Ly Báo Điền (E5ERI) ở xã Yên Trạch (người Nùng Phan Slinh, sinh nim 1970) cho biết rằng những khúc hat Tang lễ chí sử dụng trong tang lễ, bất cứ là thân
nhân hay thầy Tào đều không được hát vào thường ngày hoặc ngày lễ khác (chỉ
ngoài tháng Giêng thầy Tào có thể lẫy ra để tập luyện cho thuộc lòng)
11 Tên cắp sắc: mỗi ngưởi lam thẩy Tào đều có biệt danh mà thông thường, đo các thây cấp sắc đặt đề tranh
tinh trang cling véi các cụ xua, gọi là tên cấp sắc.
Trang 34Hat Then
Ildt Then là một thể loại âm nhạc tín ngưỡng truyền thống lâu đời của người Nùng mà đến nay vẫn được sử dụng phổ biển Mỗi vùng, lăn điệu Then lại có những nét độc đảo riêng, trong đó, Lhen của người Nủng ở Lạng Sơn
với những lản điệu khi hát lên thì vui tươi, rộn ràng hơn các vùng, khác Then
Lang Son có nhiều giai điêu độc đáo, các nghỉ lễ khác nhau hoặc các giai
đoạn khác nhau trong một nghỉ lễ sẽ có giai điều khác nhau Lạng Sơn được
xem lả một trong những cái nôi của thể lại dân ca độc đáo nảy,
*Then” có nghĩa là thiên, tức lá Trời [Jat Then cỗ được coi là lân điệu
hát thẦn thiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng, thuật lại
một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin một điểu gi đỏ Theo tập tục từ
xa xưa, mỗi khi trong cuộc sống pặp hiện tượng lạ, không thể lý giải được lả
người Nùng thường tổ chức lễ sầu cũng, mời người làm Then đến đàn hát để
cầu mong cho gia đỉnh được bình yên, may mắn, mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi
Tgoài ra, hát Thencễ còn được sử dụng trong những địp quan trọng khác như:
hội làng cầu mùa hay trong từng gia đỉnh vào địp năm mới, vào nhà mới, lễ mimg thọ, lễ khai quang valé khai trương của các doanh nghiệp Ngay cả
những vấn dễ cá nhân như cầu công danh, duyên số, cũng có thể nhờ người
lam Then giải hạn Người lamThen dan hat với cây đàn tính nhờ lời ca tiếng
hát của mình, đưa những nguyện ước đó đến với các đẳng thần linh để biến
những lời cầu mong đó thành hiện thực Trong các nghỉ lễ đó, hát Then cổ là
một cuộc diễn xướng trường ca mang mảu sắc tín ngưỡng, tường thuật lại cuộc hành trình lên thiền giới dễ cầu xin dang thần linh giải quyết một tâm nguyên gì đó cho gia chủ Người làmThơn cổthường là những người có bối cánh trong gia đình đã có nhiều đời làm Then hoặc cỏ căn số phải làm
Then.Ilo xin hoc ở các thầyThen uy tín, chủ yêu học theo hình thức truyền
miệng, Ít khi có sách vở
Không thể không kể đến lễ cắp sắc của 'Lhen, dó lả một việc lớn trong đời của người làm Then Lễ cấp sắc thường được diễn ra ba ngảy dễm với
Trang 35nhiều thủ tục khác nhau, được coi như là lễ cấp chứng chỉ hành nghề cho học
trò sau khi đã theo thầy học thành, người học Thencô sau khi được cấp sắc
mới được chính thức vào nghề Then có ba bậc đẳng cấp, bậc ba là đắng cập
cao nhất
Trải qua quả trình hình thành và phát triển, những năm gần dây, hát Then
không chỉ được trình diễn trong các hoạt động tâm linh tín ngưỡng mà còn
được điễn xướngnhư một hình thức nghệ thuật dân gian độc dao trong các lễ
hội và hoạt động văn nghề như hội diễn khu vực, các cuộc thị, lược bộ đi
những yếu tổ tâm linh tin ngưỡng mang màu sắc mẽ tín, hátThen đã thực sự
póp phẳnlâm sự phong phú đời sống văn hóa tỉnh thẳncủa người dân Hiện nay,
ở Lạng Sơn, ngảy cảng nhiều lớp trẻ đi học hát Then và đân tính, họ học với
các thầy cô giảng dạy có sách vở ở trong nhà trường hoặc tạicác lớp mở dạy hát
Các lớp học và cfu lac bd ‘Then được tổ chức khá phổ biển ở Lạng Sơn Đội ngũ
tham gia hát Then, din tinh được tăng nhanh, góp phần khơi dậy niềm đam mê
trong lòng công chúng yêu nghệ thuật hát Then, dan tính
Có thể nói, hiện nayhát Lhenlả loại hình nghệ thuật diễn xướng dân
gian vừa mang yếu tố tâm linh vừa mang yếu tổ văn hóa nghệ thuật.Kókhông
chỉ thể hiện doi sống tầm lĩnh phong phủ, mà còn là sinh hoạt văn hỏa văn
nghệ dân gian mang tỉnh đân tộc độc đáo
Đẳng dao
Đẳng đao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻem, là một trong
những thành tế din ca cấu thành nền văn hóa din gian truyền thống Đồng đạo
bao pồm nhiều loại: các bài hát của tre em, lời hát trong trỏ chơi, bài hát ru
em, Đổi với dân tộc Nùng, đồng dao thường vừa hát vừa kết hợp các trò
chơi và gắn với những kiến thức về ngôn ngữ, địa danh làng bản Các bài
hát diễn tả thể giới xung quanh vỗ cùng phong phú, gần pũi, mộc mạc,
chân chất mà đằm thắm yêu thương Các chủ để của đồng dao đa dang,
ngôn ngữ linh tế, có vần điệu hoại bái, sống động và vui về Dưới đây là
Trang 36một bài đổng dao của người Nùng ở Lạng Sơn đã được dịch sang tiếng Việt và sưu tầm trong cuỗn 72án ca Nùng|8, tr.21 |
Trời hãy mưa
Nước hãy lữ
Ga thién trén vao ling
Ong vua trên vào lềng
Con chó trốn vào hang,
Con khi cười ha hả
Cun ngựa cười hè hè
“trước đây, ở đầu có con trẻ là ở đó có đồng dao Nhưng ngày nay, củng
với các trỏ chơi dân gian, đông đao không còn phổ biến như xưa nữa
HatRu
Hat ru là một thế loại đặt biệt trong kho tảng âm nhạc dân gian và đã
tồn tại lâu dải trên thể giới.TTát ru thường là những bải hát nhẹ nhàng,đơn giản,
c ngủ Phần lớn các câu trong bai hat ru Vay tir ca giúp tré con dé di vao gid
dao, đồng đao, hay trích từ các loại thơ hoặc hỏ dân gian được truyền miệng
từ bả xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau Đối với đân tộc Nùng, hát ru là
một thể loại dân ca phổ biến khắp nơi ở các vùng người Nùng cư trủ tập
trung.Cùng với những bài đồng dao, hát ru chủ yếu là lời ca dành Tiêng cho
các em nhỏ Đa phần người hát ru là các bà, các cô di và các chỉ em gai Ngay
từ hôi thơ ấu, các em đã được đấm chìm trong tiếng hát, lời ca, những lời ru
ngọt ngào của người bả, người mẹ, người chị Người Nùng thường hát ru con
bên nội, khi địu con dễ làm những công việc gia dình hay hay khi dịu con
đinương IIát ru kế chuyện chân thật, nội đung kể về công việc, các con vật,
công ơn cha mẹ, cộng đồng, ca ngợi quê hương tươi đẹp, Lời ru mộc mạc,
giản dị, chân thành, và giàu hình ảnh I3ưới đây lả một bải hát ru mà chúng, tôighi lại được khi khảo sát tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Søơn,đo bà Iloàng
Thị Sim (người Ning Phan Slinh, sinh năm 1964) ở xã Yên Trạch thể
3
Trang 37hiện Tamdịch như sau
Con oi con ngủ cho ngoan
Me di cây chưa về
Con ngũ trong võng ngoan nhé
Mẹ con đi bắt con tôm chưa về
Me con đi làm ở xa chưa về
Vẻ nhà con chưa dược bú
Cên đi tắm rửa sạch sẽ bà mới đưa cho mẹ bú
Còn được ăn, được bú con ngủ cho ngon
Hát ru có kết cầu đơn giản, dễ nhớ, gẦn gũi với tầm sinh lý trẻ, giaiđiệu
nhẹ nhàng, nội dung chân chất, mang tình cảmđằm thắm yêu thương,là nguồn
sữa tỉnh thần nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thủa còn trên nội
2.2 Hình thức diễn xướng
Với sự đa đạng về thể loại, dân ca Ning cling có nhiều hình thức diễn
xưởng khác nhau Phần lớn dân cả của người Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh
Lạng Sơn được diễn xướng không cần nhạc cụ đệm, không có vũ đạo kẻm
thco Hình thức diễn xướng có hát đối đáp, hát đơn cá và hợp xướng, trong đó,
hát đổi đáp nam nữ là hình thức diễn xướng chủ yếu đổi với hát 8li nói riêng,
vả hát đân ca nói chung.IIát S1i là một thể loại dân ca phế biến nhất đối với
người Nùng ở Lạng Sơn, cuộc hát Sh thường do 2 dõi trai pái thể hiển theo lỗi
đối đáp, nhưng số người tham gia mỗi bên có thể lên đến hơn chục người, hát
không có bài vở cụ thế mả mang tính ngẫu hứng, hát đến đâu ứng tác đến
đó Hai dõi trai gái hát đối dáp với nhau là hình thức diễn xưởng chủ yêu dối
với Sli Nùng nói riêng mà hát dân ca nói chung, ngoài ra, cũng có thể là một
hoặc một vải đôi trai gái ITơn nữa, trừ hát đối đáp nam nữ còn có thể là một vải bạn bè tụ hợp ma hát cho vui hoặc lúc khi đi xuống đồng, đi chăn trâu, đi trên đường, thì có thể hát một mình để thư giãn Bén cạnh đó, lớp thiếu nhỉ
thi hay hát đồng dao, họ thường hát với những bạn bẻ bằng tuổi theo lỗi hát
2
Trang 38củngnhau Hát ru thì lá hát một mình, người hát thường là các bả, cô dì, các
chị em gái, hát với piong nhẹ nhàng để ru con ngủ
Thác với những loại hỉnh dân ca không cần nhạc cụ đệm, hát Then thì
là một loại hình đân ca được điễn xướng theo hình thức vừa hát vừa dàn bằng
cây đàn tính Cuộc diễn xướng 'Then mới có thể hát đơn ca hoặc hát tận thể,
thông qua lời Then mới để ca ngợi thiên nhiên và cuộc sống ấm no, hạnh phúc
hiện nay Ngoài ra, hát Tang lễ cũng thường có những nhạc cụ kèm theo như
công, chữm chọc, trồng, :
2.3 Trường hựp diễn xướng
Với thể loại phong phú và hình thức diễn xướng đa dang, dân ca người
hùng cũng có các trường hợp điễn xướng khác nhau
Chợ phiên
Trước đây, trong đời sống của dân tộc Nùng ở Lạng Sơn, kinh tế thị
trường chưa xuất hiện, tự cung Lự cấp giữ vai trò chủ đạo, mua bản hàng hóa
chưa thành nhu cầu hàng ngày, nên chợ họp thưo phiên, cử 5 ngày một phiên
chợ.Dôi với người Nùng Lạng Sơn, chợ phiên không chỉ là một trung tâm
kinh tế trao đổi, mua bản hàng hóa, mà còn là nơi giao lưu văn hóa Họ xuống
chợ không chí dễ mua bán ma la dip gap ban bẻ, người thân, cùng nhau nhâm
nhỉ chén rượu và hát Sli Chợ phiên là nơi tạ hợp, gặp gỡ, giao lưu của thanh
niên người Nùng, lả điểm hẹn của tỉnh yêu lửa đôi Thanh niên nam nữ dân tộc
King thường hẹn nhau đến ngày chợ phiên dé hat Sli giao duyên Hình thức
hát gềm có một trai một gái, một đôi trai gái, một vải đôi trai gái, hát tập
thể trong đó, hình thức chủ yếu là một đôi trai gái hát đối đáp với nhau Họ
hát với nhau mà không cần bải bản có sẵn, tự đối đáp, hát đến đâu ứng biến
đến đấy Lời hát được coi là những lời Lâm sự lổ tình với người khác giới, họ
lầm quen với nhau bằng lời hát, nhiều đôi yêu nhau và nên vợ nên chẳng từ
những phiên chợ này
Chợ hộidân ca (chợ hộiháU)
Trang 39Chợ hội là nơi thanh niên nam nữ khắp nơi đến trấy hội và hát giao duyên” Người Tây — Nùng di hội chợ, mục dích chính không phải trao dỗi
mua bán hàng hóa, mà là để giao lưu văn hóa, đặc biệt là nhu câu tìm bạn đời
của thanh niễn nam nữ đến tuổi trưởng thanh Và như vậy, chợ hội dã từng là không gian sinh hoạt văn hóa không thể thiểu trong đời sống tỉnh thần của họ
Tioạt động nảy chủ yếu diễn ra trong sinh hoạt văn hóa người Tảy — Nùng
Tiếng Tày — Nùng gọi phiên “chợ” này là “Hang hội”, “Hang toán”, “Hang
lượn” Chợ hội hát được tổ chức rãi rác trong năm và trong một năm, mỗi nơi
thông thường chỉ tổ chức một lần Những hội chợ đâần ca nổi tiếng như
Choh6i Ky Lita 27/3 (theo âm lịch) được tố chức tại trưng tâm huyện thành
phỗ Lạng Sơn — chợ Kỷ Lừa, người Nùng đến đự từ các thành thị xã.Ngày
nay, chợ hội được tổ chứo với quy mô hạn chố, người đến dự không được
đôngnhư trước đây
Các ngày lễ tốt
Những ngáy lỄ hội truyền thống của người Nùng là những ngảy liên
quan đến sự chuyển đổi của thời tiết trong năm và liên quan đến nghề nghiệp
chính — trồng trọt của họ như lễ hội “LỗngTồng” có nghĩa là xuống đồng,
đước tổ chức trơng thời gian tử ngảy mùng 3 tết cho đến hết tháng Giêng Trong phần nghỉ lễ của lễ hội Lồng Tầng, các thầy củng được mời đến làm pháp để cầu trời cho mưa gió thuận hoa, mua mang tốt tươi Ngoài phần lễ, các thanh niên nam nữ vui hội, hát Si giao duyên, mời bạn về nhà vui chơi,
ăn uống Các ngày tết khác nhưTết năm mới (theo âm lịch), ngày Quốc
Khanh 2/9 (theodương lịch), lếtNguyên đán (heo dương lịch) cũng dược
người Nùng tổ chức với các hoạt động biểu diễn văn nghệ vả trỏ chơi din
gian Trong đỏ, nam nữ thanh niên gặp gỡ, giao lưu, hát SH ở giữa chợ, trên
5
tip: /nevanhoa vass gov va/UserControls:N ews/pFormPrint aspx?UrlListProcessinoidung/doituongnghien
cuw'vanhoadangian/Lists/phoagtuclehoi& List d=22cSecte-eb 22-14£2-b4 Fa-£5 7.1 SbeaS3SfKSitel d=99302971
~lt8-4198-ã7co-2e46037c0c8c6iTucmID=3688ileRootIlD=0186ñT-c45a-4113-9955-1cbadcB612ds# f4
Trang 40sườn nủi, đọc các nẻo đường vào phố, Ngoài ra, người Ning cing hay hat
Sli vào những ngày cưới, ngày sinh nhật, mừng thọ,
Các nghỉ lễ tin ngưỡng đân gian
Trong đời sống tình thần, đân tộc Nửng hiện nay vẫndang thực hành nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian phong phú Các nghỉ lễ dân gian như cầu
rnủa, tang ma, trừ tà chữa bệnh, vẫn được duy trì lát then cổ, hat Sli va
những khúc hát tang lễ được diễn ra trong các nghi lễ này để ca ngợi, cầu xin
thần linh, hay bảy tô tỉnh cảm của người hát
Các hoại động văn nghệ
Mức sống ngày cảng được nâng cao đã khiến người Nủng quan tâm
nhiều hơn tới đời sống văn hóa tỉnh thần, đặc biệt là nhu cầu hưởng thụ văn
hóa cũng như nhục hồi áo nói đẹp văn hỏa truyền thống tộc người Cáo cộng động văn nghệ dân gian như câu lạc bộ hát Then, câu lạc bộ Dàn vả hát dân ca tỉnh Lạng Sơn, được thành lậptừ vùng nông thôn lan đến thành thị Cáo hoạt
dông văn nghệ như các cuộc thí, hội diễn, liên hoan, giao lưu văn
nghệ, được tổ chức thường xuyên Các loại hình đân ca được diễn lên sâu
khẩu, tạo ra sức lan Lóa thật mạnh mẽ, đóng góp vào việc truyền bá văn hóa dân giandân tộc
Ngoài ở chợ phiên và vào các ngày lễ tết, các loại hình đân ca người
Tùng như hát Sli, hát ru son, ding dao, hát Thencỏncó thể hát ở trong nha,
ngoài đồng, chốn đình lảng, hay bắt cứchễ nào, lúc nào, miễn là có đối Tượng hát hay mình muén hat
2.4 Xu hướng biên đổi
Ở Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc Đãi mới đến nay,sự tác động của
quá trình công nghiệp hỏa, hiện đại hóa, hội nhập, mở cửa, sự phát triên của
kinh tế - xã hội đã dẫn đến những xu hướng biển đổi khác nhau của văn hoa
truyền thống, nhất là văn hỏa truyền thẳng các đân tộc thiểu số Trong đó, dân
ca của đân tộc Nùng ở Lạng Sơn cũng không nằm ngoài sự biến đổi đó