1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn so sánh dân ca của người nùng Ở lạng sơn việt nam và người choang Ở quảng tây trung quốc

105 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh dân ca của người Nùng ở Lạng Sơn Việt Nam và người Choang ở Quảng Tây Trung Quốc
Tác giả Dương Đụng Mi
Người hướng dẫn TS. Bui Thi Bich Lan
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiều điểm tương đồng với người Nùng ở Việt Nam Những nghiên cứu về loại hình dân ca của từng tộc người, Nủng hoặc Choang dã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam hoặc Trung Quốc.. kho Ling dan c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIA NOI

TRUONG ĐẠI HỌC KIOA HỌC XÃ HỘI VA NIIAN VAN

YANG DONG MEL

(Dương Đông Mi)

SO SÁNH DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở LẠNG SƠN (VIỆT NAM)

VA NGUOI CHOANG 0 QUANG TAY (TRUNG QUOC)

LUẬN VĂN THAC SIVIET NAM HOC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIA NOI

TRUONG ĐẠI HỌC KIOA HỌC XÃ HỘI VA NIIAN VAN

YANG DONG MEL

(Dương Đông Mi)

SO SÁNH DÂN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở LẠNG SƠN (VIỆT NAM)

'VÀ NGƯỜI CHOANG Ở QUẲNG TÂY (TRUNG QUỐC)

Chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số : 60220113

LUẬN VĂN THAC SIVIET NAM HOC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bui Thi Bich Lan

Hà Nội - 2019

Trang 3

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cửu - 3

CHƯƠNG 1TÖNG QUAN TỈNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀGIỚI

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả 1rung Quốc a7

1.1.3 Nghiên cứu của các lắc giã nước ngoài - 12

1.3 Giới thiệu tộc người nghiên cứu 14

1.41, Về người Ning & huyén Cao Lộc, tỉnh Lạng Son 17

1.42 VỀ người Choang & huyén Long Chau, Khu tự trị đân lộc Choang

Trang 4

CHUONG 2.DAN CA CUA NGUOL NUNG GO HUYEN CAO LOC, TINH

LANG SON cosscccssssssssssieis sniseeeeernnie 23

3 5 Thực trạng bảo tồn và phát huy - - 62

CHƯƠNG 4.MỌT VÀI SO SÁNII VẺ DẦN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở

TỈNH LẠNG SƠN VÀ NGƯỜI CHOANG Ở KHU TỰ TRI DAN TOC

Trang 5

43

44

45

46

Về trường hợp diễn xướng

VỀ xu hướng biển dỗi

Trang 6

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Việt Nam được biết đến là một quốc gia đa tộc người với nén vin hỏa

thống nhất trong da dạng Các tộc người đã cùng sinhsống, gắn kết và tương

trợ lẫn nhau trong suốt quá trình lịch sử Bức tranh văn hóa Việt Nam được kết thànhtừ những bản sắc văn hóa đặc trưng, riêng có của mỗi tộc người

Người Nủng là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Thco số liệu từ

Tổng điều tra Dân số và nhà ở nắm 2009, người Nủng ở Việt Nam có 968.800

người, là tộc người có dân số dong thứ 7 trong cộng dỗng các đân tộc ở ViệU Nam Hiện tại, người Nùng hiện diện ở hẳu khắp các tỉnh, thành từ Hắc chi Nam,

tuy nhiên, chỉ chủ yếu tập trung tại các tỉnh như LạngSơn (314.295 người), Cao

Bing (157.607 người), Bắc Giang (76.354 người), Hả Giang (71.338 người),

Bắc Kan (27.505 người), Irong văn hóa dân gian của người Nùng, dân ca là

mot trong những loại hình văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của tộc người vàđược duy trì chủ yếu với hình thức truyển miệng từ thể hệ này nối tiếp thể hệ kia Với

thọ, dân ca lả một phương tiện giao tiếp và biểu dat tinh cảm giữ các cá nhân

trong công đồng Những bài hát dân ca thường được cất lên từ sự rung động của

con tim, thể hiên tĩnh cảm, nỗi lòng của người hát với nhữngngười xung quanh Nội dung của những bài dân ca phong phú, sâu sắc và được truyền tải dưới

những hình thức nghệ thuật đa dạng

Trung Quốc cũng là một quôc gia đa dân tộc và Choang là một dân tộc

thiểu số có đân số đông nhất tại đầy Dân tộc này chủ yêu được phân bấ

ởQuảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu và Hồ Nam, trong dé, kha te

trị dân tộc Choang Quảng Tây là nơi cư tri tập đồng nhật củangườiChoang,

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giểng, núi liền núi, sông hển

sông, Quan hệ ngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước đã dược

hình thành từ rất lâu đời Người Choang ở Trung Quốc có quan hệ gần gũi vả

Trang 7

nhiều điểm tương đồng với người Nùng ở Việt Nam Những nghiên cứu về

loại hình dân ca của từng tộc người, Nủng hoặc Choang dã xuất hiện từ lâu ở

Việt Nam hoặc Trung Quốc Tuy nhiên, với nhiều nguyên nhân, trong lịch sử

nghiên cửu, các công trình nghiên cửu về dân ca của cä hai tộc người nảy từ

góc nhìn sơ sánh còn rất hiểm thấy Vì vậy, qua nghiên cứu này, chúng tôi hi

vọng sẽ không chỉ làm sáng tỏ thể loại, hình thức điển xưởng, xu hướng biến

đỗi, mà còn đi tìm sự tương dễng cũng như khác biệt trong dân ca của dẫn

tộc Nủng vàChoang - nhữngdân tộc vốn có chung một nguồn gốc lịch sử,

nhưng hiện đang cư trú ở hai quốc gia khác nhau, nơi có những sự khác biệt nhất định về bối cảnh chính trị cũng như điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội

2 Mục đích của luận văn

Mục đích nghiên cửucủa đề lãi nảy là nghiên sửu một cách có hệ

thốngvề dân ca của người Nùng ở Việt kam và người Choang ở Irung Quốc,

tim ra su tương đồng và khác biệt Từ đó, để xuất các khuyến nghị nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị tối đẹp của loại hình văn hóa này ở mỗi

quốc gia, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, tăng cường tỉnh

đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cửu của dé tai 14 dan ca của người Nủng và người

Choang, bao gồm các khía cạnh như-thể loại, hình thức diễn xưởng, trưởng

hop diễn xướng, xu hướng biến đổi,

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của dề tài là người Nùng ở huyện

Cao Lậc, tình Lạng Sơn, Việt Nam và người Choang ở huyện Long Châu,khu

tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc

- Về thời gian:Đề tài nghiên cứa dân ca hai dân tộc Nủng và Choang, trong bối cảnh hiện nay Cụ thể, ở Việt Nam là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi

mới đất nước (năm 1986) đến nay và ở Trung Quốc là những năm 1980 đến

Trang 8

nay — thời kỳ mà văn hóa phi vật thể của các tộc người được chủ trọng bão

tổn, kế thừa vả được tạo ra những cơ hội phát triển mới

5 Cách tiễn cận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Cách tiấn cận

Điểtải dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam và Irung

Quốc về xây đựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới, với

những cách tiếp cận cụ thể như sau

- Tidpean từ góc nhìn Dân tậc học/Nhân học: Biển đổi văn hóa liên

quan đến việc lựa chọn và thực hành văn hóa của chủ thể văn hóa Vì vậy, kết

quả nghiên cứu cũng như những đề xuất, khuyến nghị về bảo tổn và phát huy

các giá của loại hình dân ca ở 2 tộc người được nghiên cửu cần phải dựa

trên cơ sở là quan di cúa chủ thể văn hóa và gan với lợi ích của họ

~ Tiếp cận liên ngành: các khia cạnh của dần ca liên quan đến điều kiện

sống, bổi cảnh xã hội, quan hệ giao lưu giữ các tộc người Trong nghiên cứu này, mỗi nội dung nghiên cứu của để tải đều dược bám sát tỉnh hình và

điều kiện cụ thể tại các địa phương, văn hóa của muỗi tộc người Những đề

xuất nhằm bảo lồn dân ca nói riêng vả văn hóa truyền thông của mỗi tộc

người néi chung déu dựa vào điều kiện cụ thể tại địa phương, quốc gia nơi hợ

sinh sống VÌ vậy, ngoải tiếp cận dân tộc học/nhân học, nghiên cửu nảy còn

tiếp cận hên ngành với các lnh vực như: địa lý học, văn hóa học, xã hội học,

tôn giáo học

- Tiếp cận phát triễn: Văn hóa gắn liền với phát triển bền vững của mỗi tộc người Nghiên cứu về dân ca của các tốc người Nùng vả Choang là nhằm

phát huy các yếu tế tích cực của một loại hình văn hóa truyền thống, gắn lian

với nó là mục tiêu phat trién kinh 16, nang cao đời sống của cộng đồng

42 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng quan tài liệu Đây là phương phápđầu tiên, được sử

dung trong suốt quá trình nghiên cứu, baogồm tổng quan các tải liệu đã xuất bắn

Trang 9

liên quan đến dân ca của dân tộc Nùng, dân tộc Choang và thu thập các tải liệu thứ

cấp tại địa bản nghiên cứu liên quan dến nội dung của dễ tài

- Phương pháp điền dã dân lộc học Đây được xem là phương pháp chủ

đạo, với các công cụ như quan sát tham dự, phỏng van sâu, thảo luận nhóm

vớinhiều đối tượng, thành phần trong cộng đồng dân cư, phỏng vấn hỗi có được

áp dụng để tìm hiểu các yếu tố văn hóa truyền thống hiện không cỏn được duy trì

trong công dỗng dân tộc Hên cạnh đỏ, các kỹ thuật chụp ảnh, bảng biểu, ghi âm

cũng được áp dụng để bổ trợ cho những phương pháp khác

- Phương pháp tỐng hợp, phân tích, so sảnh Từ các số liệu thu thập

được, đề tai tiấn hành phương pháp tống hợp, phân tích, so sánh, đễ đem lại

những thông tin cần thiết cho nghiên cứu.Đề tìm ra sự tương đồng và khác

biệt, để tài tiến hành so sánh lịch đại vả đằng đại về những đặc điểm, nội

dung va hinh thức của loại hình dân ca giữa 2 dân tộc được nghiền cứu

- Phương pháp chuyên gia Mục đích là nhằmtranh thủ ý kiến từ các

chuyên gia có kinh nghiệm nghiên cứu về văn hóa và về các lộc người dược

nghiên cứu Ngoài việc tranh thủ ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học,

dé tai còn thực hiện những cuộc tháo luận nhanh nhằm thu thập và tham khảo ý

kiến của các nhà quần lý địa phương ở các địa bản được lựa chọn nghiên cửu

6 Kết cầu luận văn

Ngoái phần Mở dầu, Mục lục,Phụ lục, Kết luận và Tai liệu tham khảo,

luận văn gầm 4 chương:

Chương I.Tổng quan tỉnh hìnhnghiên cứu và giới thiệuđịa bàn nghiên

cứu

Chương II Dân ca của người Nủng ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

Chương II Dân ca của người Choang ở huyện Long Châu, khu tự trị

dân tộc Choang Quảng Tây

Chương IV.Một vài so sánh về dân ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn

và người Choang ử khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây

Trang 10

CHƯƠNG 1

TONG QUANTÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ

GIỚI TIHỆU ĐỊA BẢN NGIIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứucña các tắc giả Liệt Nam

Ở Việt Nam, đân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với đân tộc

Tây nên dã có khá nhiêu công trình nghiền cứu chung về văn hóa Tày Ning

Riêng về lĩnh vực đân ca, có thể nhắc đến,ượn cợi Tày Nùng:SH, lượn Dân

ca íPE lình Tủy Nùng của Vì liằng (Nxb Văn hóa, 1979), Dân củ trữ

tình/Cungvăn lược của Lê Bích Ngân sưu tầm và biên soạn (Nxb Văn hóa

dân tộc, 1987); Si lượn hát đôi của người Tày Nùngô Cao Bằng của Iioàng

Thị Quỳnh Nha (Nxb Văn hóa thông tín, 2003) Trước đây, người Nùng vả

người lày thường chung sống, lao động sản xuất trong củng một không gian

cư trú nhất định nên trong sinh hoạt văn hóa, họ có rất nhiều điểm tương đồng

Tuy nhiên, không iL những những đặc trưng, những nét độc đảo riêng trong

văn hỏa của từng tộc người cũng được các nha nghiên cứu tìm tỏi, phân

tích Trong những công trinh nghiên cứu riêng về dân ca người Nủng đáng lưu

yláDân ca Ning cia Mong Ky Slay, 1.8 Chi Qué, Hoang Huy Phat sun tim,

tuyén, dich vabién soan (Nxb Vin héa dan téc, 1992) Cuốn sách nay tập

trung giới thiệumột phần vốn dân ca của hai nhóm địa phương dân tộc Nùng

là Nùng Cháo vàNùng Phản 5lình, trong đó có các bải đồng đao, các khúc hát tang lễ, CO Lau, Sli Ngoài ra, còn một số công trình sưu tập từng thể loại đân

ca của người Nùng ở tỉnh Lạng Son nhuftdo slao sli 6 toop của Mã Thế Vinh

sưu tim, biên dich và giới thiệu (Nxb Lao Động, 2011); Cé lau vd sli Ning

Phân Slinh Lạng Sơn do Tloàng San sưu tầm và Mã Thế Vĩnh biên địch

(Nxb.Lao Hing, 2012),SHi lớn — dân ca của người Nàng Phản Slình — Lạng

Son do Iloang Tuấn Cư, Hoàng Văn Mộc sưu tầm, Lâm Xuân Đào, Tloang

Tuấn Cư địch (Nxb Hội nhá văn, 2016), Những oông trinh trên đã cho thấy

Trang 11

kho Ling dan ca người Ning khá đồ số về quy mô và phong phú về thể loại,

làn diệucũng như nội dung phản ánh

Do người Nùng Việt Nam và người Choang Trung Quốc có quan hệ

chặt chẽ, nghiên cứu sơ sánh về hai tộc người này dã dược một số học giả Việt Nam quan tâm, trong đó phải kể đến “Mội số hình thức tín ngưỡng dân gian

của người Tùy Nùng Liệt Nam và người Choang Trung Quốc” của tác giả

Nguyễn Thị Yên (2004) Thêng qua nghiên cứu nảy, tác giả đã chí ra dân tộc

Tây, Nùng ở Việt Nam và dân tộcChoang ở Trung Quốc đều thuộc nhóm ngôn

ngữ Tảy-Thái Các nhóm dân tộc này có nhiều điểm Lương đồng về nguồn gốc lịch sử, địa bản cư trú, dẫn đến nhiễu điểm tương đồng về văn hóa và phong

tục tập quán Tác giả đã trình bày những điểm tương đồng cụ thể về tôn giáo

tin ngưỡng của hai tộc người này và phân tích nguyên nhân của sự tương

đồng đó

Tiên cạnh các công trình liên quan đến người Choang Trung Quốu, có một số lài liệu đã đỀ cập trực tiếp dến dân ca người Choang Quảng Tây Có

thé ké ra những nghiên cứu như: So sánh kết cẩu vẫn luật trong ca dao của

tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca dao của lộc người Việt ở Diệt

Namcủa tác giá Kiều Thu Hoạch dịch, Vì Thụ Quan (2005), Từ ñễ hội Tông

Tổng dân tậc Choang bản về tết mông Ba tháng Ba ở Việt Nam của Nguyễn

Ngọc Thơ (2008), Ca dao dân tộc Choang - Quảng Tây (so sánh với ca dao

đân tậc Tày Ning Lang Son) cua Hoàng Diệp Hằng (2013)

Trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thơ, thông qua nghiên cứu vẻ lễ

hội truyền thống của người Choang Quang ‘ly Trung Quốc — lễ hai Long ‘long,

tac gid kéu gọi sự coi trọng các hình thức văn hóa dân gian của dân tộc và kiến

nghị phục hội lễ hội mồng Tạ tháng Ta truyền thống của người Việt Nam

Ca dao là phần lời của dân ca, là những bài thơ dân gian mang phong

cách nghệ thuật chung với lời thơ đân ca Trong bài “So sánh kết cấu vẫn luật

trong ca dao của tộc người Choang ở Trung Quốc và trong ca đạo của tộc

Trang 12

ấu vẫn luật trong các hình

người Hệt ờ Hiệt Nam”, thông qua so sánh kếU

thức ca dao của hai tộc người Choang — Việt, tác giả cho thấy kết cấu vẫn luật

của hai tộc người này đại thể giống nhau, và đã phân tích bếi cảnh văn hỏa

của sự tương dỗng vỀ vẫn luật tron ca dao hai dan tộc Choang — Việt Luận

văn thạc sỹ của Hoàng l3iệp Hằng, “Ơa dao đân tộc C hoang — Quảng Tây (so

sảnh với ca dao đâm tộc Tày Nùng — Lạng Sơn) ” đã tập trung nghiên cứu ca

đao dân tộc Choang ở các khía cạnh như nguễn pốc văn hóa, nội dưng và

những phương diện nghệ thuật, trong đó có sự so sánh với ca dao của đân tộc

Tây, Nùng ở Việt Nam

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giäTrung Quốc

Do sự tác động của các chính sách nhà nước Trung Quốc, các vấn để về

văn hóa dân gian ngày cảng được nhiều học giã quan tâm nghiên cứu Từ thập

kỷ 80 của thể kỷ XX, dân ca người Choang ngảy cảng được coi trọng trong

bối cảnh khuyến khích bảo lồn và phát huy văn hóa đân gian truyền thẳng Tội nghị về dân ca người Choang lần dầu tiên được triệu tập tại Học viễn Dân

tộc Quảng Tây vảo năm 1984 Tình hình nghiên cứu về đân ca người Choang

cũng đã đạt được nhiều thành tựu Lo lớn, kể từ thập kỹ 8O của thế ký XX đến nay Trong đó, các hưởng nghiên cứu chú yếu bao pm: nghiên cứu về nguồn

gốc lịch sử, nghiên cứu về nội dung và hình thức, nghiên cửu về bản thể âm

nhạc, nghiên cứu về sự bảo tổn vả phát huy Trong số những công trình

nghiên cứu tiêu biểu, phải kế đến những bải viết được công bố trên các tạp chí

và báo chí như;

( ): (Phan Ki Hic (1981).Nghién cau vé vẫn đề khởi nguyên và

phát triển của hội chợ dan ca dan tộc Choang, Nghiên cứu Dân tộc, 01 (001),

trang 65-73)

Trang 13

FAK ) Baa tae TNE SR ( ): (Châu lác Thu (1982), fhảo luận về hình thức đân ca Choang, Bảo Học viện Sư phạm Quảng Tây, 04 (004), trang 22-29)

(loing Cach (1989), Khái lược din ca dan tộc Choang Quảng Tay, Bao Dai hoc Quang Tây, 01(016), trang, 64-72),

(ĐàmQuê Thanh (1994),Thdo Iudn vé “Ddi hat" wong dan ca Quảng Tây: Nghệ thuật Dân tộc, 03(009), trang, 127-139)

-_ R5 , NHESELRIRAIEI“WAT, SIRBTR

( ) {Vi Quê IIý (2012), Nghiên cứu và phan tich véphong cachdién

xưởng của dân ca người Choang Quảng Tâu, Âm nhạu Dân tộc, 2012(01),

trang 55-57)

(Trương Thừa Vĩ (2015), 8ơ lược về đân ca người Choang Long Châu Quảng

2 ay,Ca Hai, 2015(03), trang 40-44),

CBG RAR, ( ): của (Irương Lợi Quần(2017),

Truyền thông ngày chợ hội dan ca “Ming Ba Thang Ba đân tộc Choang” và

tiệc xâp dựng thương hiệu văn hóa ngày lễ, Báo Học viện Sư pham Quảng

Tây,03(018), trang 106-111)

Ngoài các công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chívả báo

Trang 14

chí ngày cảng nhiều học giã chọn dân ca người Choang làm đồtải nghiền cứu

cho khỏa luận cử nhân, luận văn thạc sỹ, VỀ luận văn Thạc sỹ, có thể kể đến:

(Lý Vĩ Hoa, Sự tuyên truyền và chuyển hình hiện đại của văn hóa dân

ca dân tộc Choang, Dại học Sư phạm Quảng Tây, Qué Lâm, 2006)

Hoàn cánh hiện nay cúa dân ca người Choang, Bai học Sư phạm Quảng

Tây,Quế Lâm,2007),

- RXj, 277/1LNIKHGIEH147LG tHRƒWZ; ï R22 FEM, (Lÿ An Nhiên, ghiên cúu về sáng tác và kế thừa của dân ca

người Choang từ khi bắt đầu cải cách mở cửa;Dai học Sư phạm Quâng Tây,

Quế Lâm 2011)

(Thái A Lợi, Nghiên cứu về khai thác ngành du lịch vấn hỏa hộichợ dân

củ người Choang ở thành phó Nam Ninh, Học viên Sư phạm Quảng Tây,

Nam Ninh, 2011)

Các công trình nghiền cứu trên chủ yếu nghiên cứu về sự bảo tồn va

phát huy của dân ca người Choang,trong đó, dáng hưu ý hơn cả là luận văn

của Thái A Lợi khi tác giả đã phần tích được tiêm năng du lịch của hội cợđân ca

và đề xuất những giải nhápđể phát triển du lịch văn hóadân tộc Thông qua những

công trình nghiền cứu trên, người đọc thấy được những triển vọng của các loại

°hình văn hóa dân gian của dân tộc trong phục vụ phát triển ngành du lịch

"Trong số những công trình về dân ca người Choang Quảng Tây, cómột

số tác giả Irung Quốc để cập đến cả người Ning ở Việt Nam, tiêu biếu là một

Trang 15

số luận văn "Thạc sỹ và luận án Tiến sỹ như: B/E SEH FRE He RL

RAS ERR (Hoàng liểu Dịch, Vgiiên cứu về Hắng Choang vượt cảnh;

Đại học Khoa học kỹ thuật 1loa Trung, Vii Ilén, 2005), Soe Ht AF Ae 5t FLA) ERRAY OT (BŠ Xuân Xuân, Aghiên cửu vỀ sự sơ

sảnh của tục ngữ tiéng 1 lùng va tiéng Choang, Dai học Dân tốc Quảng,

Tây, Nam Ninh, 2008), WR 4f9/074iÄLPNHIESN5 Sit3# ii

We BRAS aT (Âu Dương Vũ, Nghiên cứu về ngữ âm của

phương ngữ nam bộ tiếng Choang 1rung Quốc và tiếng Tày Ning Viet Nam

từ góc nhìn so sánh, Đại học Dân tộc Quảng Tây, 2015); Những công trình trên chủ yêu nghiên cứu vỀ ngôn ngữ của dân Lộc Tày-Nùng Việt Nam và dân

tộc Choang Trung Quốc, chỉ ra những điểm tương đồng trong ngôn ngữ của

hai nhóm đân tộc này, đẳng thời cho thấysự liênquan giữa tiếng Tây-Mùng với

tiéng Choang

Một sô nghiên cứu khác đã chứng minh, dân tộc Choang Quảng Tây và

đân tộc Tày, Nùng Việt Nam có quan hệ gần gỗi, qua việc tìm ra khả nhiều

điểm tương đồng về tỉa ngưỡng dân gian, phong tục tập quán và văn hỏa xã

hội giữa hai tộc người này Có thể kế dến RM PMRW RG RHR

Nghiên cứu về tin ngưỡng thờ cúng nguyên thủy của dân lộc Choang, Tây Nimg ở khu vực biên giới Mệt-lrung từ góc nhìn so sánh, Đại học Sư phạm

Hoa Déng, Thuong Hai,2012), ARE PUSH HY RAL HA

RHRAR ERICA FB (Lu Việt Thắng, Nghiên cứu về văn

hóa xã hội lịch sử của dân lộc Choang, Nùng và Tay ở khu vục biên giới

10

Trang 16

Điệt-Trung từ góc nhìn so sánh, Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, 2014), H4 /"äHL&Sitjt(È 0T? H184 18] 0mRIEk*%

aT (Đảm Tiêu Hoa, Nghiên cứu về văn hóa tập tực ngày lễ của dân

tậc Tây, Ning Diệt Nam và đân tộc Choang Trong Quốc, Đại học Dân tộc

Quảng Tây, Nam kinh, 2016) Từ việc tìm hiểu về tín ngưỡng, lễ hội dân gian,

đối hát, gia đình hôn nhân, nhà ở và trang phục của người Nùng Việt Nam và

người Choang Trung Quốc, các nghiên cửu dã chỉ ra những điểm tương dồng

và khác biệt cũng như nguyên nhân của sự khác biệt trong các khía cạnh được nghiên cứu ở 2 dân tộc này.Ngoài ra, không thé không nhắc tới một số công

trình được công bố trên các tạp chí chuyên ngành như:#Ä Star

#t 4 #& 8 SE Œ 2ï Ñ H Ê đủ đĩ ft 1t # TR Bã XU ÿ lÃ

(Dương Nhiên (2014), Sự biển đổi hiện đại hoa x hội và kính tỄ dân

tộc của các dan téc Thdi, Tay, Nang Viét Nam, Doc ngang Dong Nam A,

2004 (12), trang 36-40), 46 FL HRASH ENABLER BEX

điểm tương động và khác biệt của sự hát Then tộc người Tây, Nùng ð phía Bắc Dệt Nam và tộc người Choang Trung Quốc Iloàng Hà Chỉ Thanh,

2010(09), trang 22-25), # II? LM, & REBAR AAT

Ninh (2010), Nghiên cứa về tình trạng dồng cảm đền lộc của các dân tộc

vượt cảnh Choang, Tàu, Nùng — thực địa khảo sát tại thôn Niệm Tĩnh huyện

Na Pha Quảng Tây, Nghiên cứu Dân tộc Quảng Tây, 2010 (03), trang

Trang 17

iiYLBli- 73 H8 # x LI#S3 18 (Vương, Minh

Phú (2012) Đồng cám dân tộc và văn hỏa của người Nùng Liệt Nam va

người Pu Nông khu biên giới châu Văn Sơn Trung Quốc _ căn cú vào sự điều

tra diễn dỡ thực dịa, Bảo Học viên Văn Sơn, 25(01), trang 29-32);

Có thể thấy rằng, ở Trung Quốc, các vấn để liên quan đến văn hóa của người Choang vả người Nùng đã được khả nhiều học giả quan tâm, nhưng

nghiên cứu riêng về dân ca của hai tộc người nảy cỏn chưa nhiều, nhất lả từ

góc nhìn so sánh giữa người Choang ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây

với người Nùng ở tinh Lang Son

1.1.8 Nghiên cửu của các tác giả nước ngoài

Kế từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cửu về đân ca của lừng lộc người, Nủng hoặc Choang đã xuất hiện khá nhiều ở Việt

Nam hoặc 1rung Quốc trong bối cảnh khuyến khích bảo tồn và phát huy di sẵn văn hóa phi val thé Bén cạnh do, do có quan hệ gần gũi, các vấn đề liên

quan đến hai tộc người nảy cũng được khéng it hoc giả quan tâm trong cùng

một nghiên cứu, trong đó, bao gồm tác giả ngoài Việt Nam và Trung, Quốc Tap chi Journal of Southeast Asian Sludics da e6ng bố bải việt Người Chodng, các dân tộc Ít người vùng biên giới Việt-Iloa trong triều đại nhà Tổng của tác gid Jeffrey G.Barlow (1987) Trong đó, tác giá đã đề cập đến người Choang ở

khu biên giới Việt — Trung và nguồn gốc lịch sử của các nhỏm dân tộc ở khu

vực này Tác giả chơ rằng ở Việt Nam, người Choang được xác định trong lịch sử là người Nủng Giáo sư ngưởi Nhật Shigeyuki Tsukada cũng quan tâm

tới 2 tộc người nảy trong một số nghiên cứu như Sự giao iw và quan hệ dân

tộc giữa dân tậc Nững Việt Nam và đân tộc Choang THứng Quốc (Bảo Đại học

Tân tộc Quảng Tây, 2007) và 8g giao lưu của các dân lộc Diệt Nam và dân

tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc (Hội nghị 'Irang Quốc, 2009) Qua đó,

chỉ ra mối quan hệ, nguồn gấc lich sở cũng như quá trình giao lưu văn hóa và

Trang 18

kinh tế giữa hai tộc người nảy

1.2 Mật số khái niệm

Dân ca

Tân ca là một bộ phận của văn học dân gian, được khới nguyên và lưu

truyền trong dân gian ở một cộng đồng, một quốc gia hoặc khu vực và trở

thành văn hóa đặc biệt của họ, đa phận bài dân ca không rõ người sáng tác

Dân ca của nhân dân lao động thông thưởng dược lưu truyền bằng cách truyền miệng từ thế hệ này nối tiếp thế hệ kia Nội dung chủ yếu đề cập đến

thé sy, là lời ca thán, là lời nhắc nhở, lời khuyên, lời cười nhạo, là câu châm biếm, câu mỉa mai thói hư ở đời của một ai đó, về một sự việc nảo đó Đặc

điểm của đân ca là biểu đạt tư tưởng, tỉnh cẩm, ý chí, yêu cầu và nguyện vọng

của nhân dân lao động, mang tính hiện thực, là một bộ phận cấu thánh quan

trọng trong các các loại hình văn hóa dân tộc Thuật ngữ "dân ca” lần đầu

xuất hiện vào thế kỷ XIX!, được sử dụng để chỉ các loại hình âm nhạc như

âm nhạc truyền miệng, âm nhạc của lằng lớp thấp; âm nhạc mà người sảng

tác là vô đanh Những điều nảy tương phản với các thể loại âm nhạc thương

xnại và cô điển

Tôần ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cễ truyền của Việt Nam, với

nhiễu làn điệu từ khắp các vùng miễn, các cộng đồng tộc người, với hinh thức

có nhạc hoặc không có nhạc Các làn điệu dân ca thể hiện phong cách bình

dan, giản đị, gần gũi với cuộc sống lao động Các địp để biểu diễn din ca thường lả các địp hội, hè, đình đám, Ngày thường, người ta cũng hát dan ca

trong quá trình lao động sản xuất để quên di sự rệt nhọc; cũng có khi là dịp

thể hiện tỉnh yêu đôi lửa, tình cảm giữa người với người Ilát đân ca là một

trong những nét đẹp văn hóa của dân tộc Nùng Từ xa xưa, người Nùng đã coi dân ca lả phương tiện giao tiếp, lời tâm sự tỏ tình với người khác giới Hát

dân ca là sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nễ¡ lòng của mình với

1 btps:/2vi.wikipedia.org/AiEiD96C354A2n_ ta

Trang 19

mọi người

Tn ca Trung Quốc là một trong những thể loại của ãm nhạc dân gian

dan tộc, là mệt nghệ thuật ca hat được sáng tác và phát triển qua truyền khẩu

trong cuộc sông thực tiễn của người dân lao động Trong dé, dân ca người

Choang rất phát triển, bất cử nam nữ, thiếu nhi hay người già đều thích hát

Với họ, hát dân ca đã trở thảnh một “món ăn tỉnh thần" không thể thiếu trong

Người Mừng ở Việt Namgồm các nhóm địa phương: Nùng Xuẳng,

Ning Giang, Ning An, Nung Léi, Ning Phan Slinh, Ning Chao, Nang Inh,

Ning Quy Rin, Nùng Din,

Ngôn ngữ, tiếng nói của người kủng thuộc ngữ chỉ Tài của ngữ hệ

Tai-Kadai Người Nùng dùng chit [dn hay chữ Nôm Nủng (được phát triển

khoảng thể ký XVI) để ghi chép thơ ca và truyện cỗ dân gian Trước dây, hầu

hết người Nùng đều không biết chữ, chỉ có những người giàu cỏ mới được di

học, nhưng lả học chữ Hán hoặc tổng Pháp Hiện nay, phần lớn người Nùng

đều không biết viết chữ của dân tộc mình Trẻ em dén trưởng dược học chữ

Quốc ngữ của người Việt Năm 1924, tiếng Nủng lần đầu tiên được ghi theo hệ

chữ T.atinh nhở linh mục người Pháp Erangois M 8avina Viên Ngôn ngữ học

Mia hé (Summer Institute of Linguistics) trudc nim 1975 cũng có một bộ

chữ cho người Nting Phan Slinh séng & miền Nam Việt Nam Ở miền Bắc

Việt Nam có thêm phương ngữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ Quốc ngữ từ

nấm 1961 Văn học dân gian của người Nùng rất phong phú về nội dung va

đa đạng về thể loại Trong đó, dân ca là một trong những loại hình văn hóa

đặc trưng, tiêu biểu của họ Ngôi nhà truyền thống tiêu biếu cho người Nùng

là ngôi nhà sản, lợp ngói máng, đưới gầm sản là chuồng gia cẦm, thậm chỉ cả

† htps:/i.vwikipcdi.org/aiki/Ngð4C694B0%4E194BBĐ%8D¡_N%CSiBồng,

1

Trang 20

gia súc Nguyên liệu để lâm nhà là gỗ, tre, ngói, là những thứ có sẵn tại chỗ Nguồn sống chính của người Nủng là lúa và ngõ Trồng trọt là hoạt động sinh

kế chính của người Nùng, họ kết hợp lâm ruộng nước ở các vùng khe đọc với

trằng lủa cạn trên các sườn đồi Các ngảnh nghề thủ công của người Nùng cũng khá phát triển, gầm nghề đệt, nghề mộc, nghề đan lát, nghề gốm sử

Ngoài ra, họ còn giữ kinh tế hái lượm và săn bắt, nhưng chỉ có vai trò bổ trợ

Họ có quan hệ pẦn gũi với người Choang sống dọc biên giới với Việt - Irung,

Tại Trưng Quốc, người Nùng cùng với người Tây được xếp vào dân tộc

Choang

Người Choang

Người Choang (Zhuang) là một trong 55 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc

Theo thống kê dân số lần thứ VI toàn quốc năm 2019, tổng dân số người

Choang là 16.926.381 người, là tộc người có dân số đông nhất trong cộng

đẳng các dân Lộc thiểu số của Trung Quốc Người Choangsống chủ yếu ở khu

tự trị đân tộc Choang Quảng Tây phía nam Trung Quốc Ngoài ra, có một số sống ở các tĩnh Vân Nam, Quảng Đông, Qúy Châu va 14 Nam Zhuang (It),

Bu ⁄huang (ÍEÄf) ban dầu là tên tự xưng của dân tộc Choang (⁄huang) Trong các sử sách chữ lân, địch sang “Ÿ#”, “3È”, phát âm giống voi “At” va

“4l” (phát âm: Zhuang/Choang) Sau khi thành lập Trung Quốc mới, thống

nhất viết bằng “4%” Sau đó, theo quyết định của Chính phủ thời kỳ đó vả sự

đồng ý của nhân dân dẫn tộc Choang, nim 1965, chir “fii” duoc thay bằng

chit “HL” (phat 4m giống nhau 14 Zhuang/Choang) Cho “HE” co ý nghĩa mạnh

Trang 21

khỏe Iừđó đến nay, dân tộc Choang được thông nhất gợi là9f#K?2 Người

Choang có hơn 10 nhóm địa phương và có các tên tự goi nhw: Bu Zhuang (46

4+, Bé Choang), Bu Nong (B#&, Bồ Nùng, Pu Nong), Bu Tu (4+, Bố Thổ),

Bu Yue (4722, Bé Viét), Bu Man (46, B6 Man), Bu lai 4b, BS Thai),

Bu Liao (44%, Bé Lao), Bu Long (47BE, BS Lung), Bu Pian (fifa, Bd Thién), Bu Yang (488, Bá Ương) Bu An (4682, Bd An), Bu Min (408, BS

Man)[33, 4-6],

về ngôn ngữ tiếng Choang thuộc ngữ chỉ Tái, bị ảnh hưởng nhiều bởi

gác phương ngữ của tiếng llán Tiếng Choang chia thành hai phương ngữ

Tam và Đắc, nhưng kết cấu ngữ pháp vả từ vựng cơ ban đại thể giống nhau

Tiếng Choang chuẩn dựa trên một phương ngữ phía bắc gọi là Choang Ứng

Bắc được sử dụng tại huyện Vũ Minh Quảng Tây Người Choang có chữ cổ

riêng của dan toc minh là chữ khổi vuông Choang, nhưng không được sử đụng phổ biến, chủ yếu là những người giả, thầy mo, nghệ nhân, dùng dé ghi

chép, viết kinh thư, biên soạn kịch bán vá dân ca Năm 1955, chính phú Trung

Quốc tổ chức xây dựng bộ chữ Choang mới dựa trên chữ Latinh Từ đó, chữ

Choang mới được phát triển, sử dụng rộng rãi hơn và bắt đầu được day 6 cac

cấp trường học ở khu dân tộc Choang vào thập kỷ 80 cia thé kyXX Voi sự

phát triển kinh tế- xã hội, tiếng IIản ngảy càng được sử dụng phổ biến đã khiến cho tiếng Choang dần bị mai một ở các thành phố, ngay cả ở những thị

trần và huyện ly - nơi chữ Choang vốn được sử dụng nhiều cũng chịu ảnh

hưởng mạnh mẽ Lliện nay, đa số người Choang không thể viết được chữ Choang của dân tộc mình Văn học đân gian người Choang được sảng Lắc vả

“bik AREA tups2baikebaidu.cemitcm/02596A396A1941269/97948E/1252511falnddin

16

Trang 22

lưu truyền bằng miệng với các thể loại chú yếu như thần thoại, truyền thuyết,

dân ca và kịch dân gian Họ tin vàoda thần, không có tín ngưỡng vả tôn giáo

thống nhatvéi 2 hình thức: một là lấy sự vật tự nhiéndé lam đối Tượng súng

bái, thuộc hình tháinguyên thủy, hai là giáo sỹ thông qua những nghỉ thức

nhất định (đọc kinh và cầu nguyên )33, tr 14]

Ngôi nhà truyền thống của người Choang là ngôi nhả sản, dưới gầm sản

là chuồng nhốt gia cẲm Nguyên liệu dễ lâm nhà lả tre, gỗ và ngồi Với sự

phát triển của xã hội, những ngôi nhà truyền thốngđã dân dần được thay thé

tbởinhững ngôi nhà cao tầng Về thức ăn, thực phẩm chính của người Choang

là gao, thực phẩm phụ có ngô và khoai Về hoạt động kinh tế, trằng lúa nước

là nghễ chính của người Choang, ngoài ra, họ thường trồng rau củ quanh

vườn nha và đất đổi Chăn nuôi và nghề thủ công của người Choang cũng khá

phát triển, đặc biệt là đệt vải

1.4 Giới thiệnđịa bàn nghiên cứu

1.4.1 VỀ người Nhng ở huyện Cao Léc, fink Lang Son

Tân tộc Nùng ở Lạng Sơn có ba nhóm khác nhau là Nùng Phân Siình,

Nùng Cháo va Ning Inh Theo Dd sir va dia chi Lang Sơn thì người Nùng ở Tang Son ti Van Thanh, Tong Châu và T.ong An của Quảng Tây, Trung Quắc

đến, trong đó, người Nùng Phản Silình đi cư vào Lạng Sơn muộn hơn các nhánh

khác|11, tr 11-12] Người Mng ở huyện Cao T.ộc chủ yếulàNùng Phản Slình

Cao Lộc là một huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn, giáp biển giới Việt - Trung luyện nằm ở phía bắc tĩnh Lạng Sơn, phía bắc và phía đông của huyện là khu

tự trị dân tộc Choang Quang ‘lay ‘Trung Quốc, phía nam là huyện Van Ling

và Văn Quan của tỉnh Lạng Sơn Với diện tích 644km”, dan số là 74,S88ngudi

(năm 2019), huyện có 2 thị trấn là Đồng Đăng, Cao Lộc va 21 xã; gồm 5 dân

tộc cùng sinh sống là: Nùng, ‘Ty, Kinh, Dao, Hoa Thị trấn Cao Lộc cách

thành phế Lạng Sơn 3 km về hướng đông bắc và cách cửa khẩu quốc tế Ilữu

Nghi khoảng 15km, nỗi sang thành phố Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc

Lộ

Trang 23

Tgoài ra cửa khẩu quốc Lế Hữu Nghị, địa bản huyện Cao Lộc còn gó cửa khẩu Đằng Đăng, các trục giao thông đường bộ và đường sắt quốc tế, quốc lộ 1A,

1B, 4A, 4B liên kết với tất cả các huyện, với IIä Nội vả các tỉnh đồng bằng

Đắc bộ Đây cũng là điểm cuối của dường cao tốc Hà Nội — I.ang Son* Nhiing năm trước đây, Cao Lộc vốn là một huyện nghèo của tỉnh Lạng Sơn Nguồn

sống kinh tế chủ yếnlà trồng trọt; ngoài ra còn có chăn nuôi gia súc, gia cầm

và phát triển một số ngành thủ công Những năm pần đây, thực hiện dường lỗi

đổi mới của Đảng và nhà nước, huyện đã tập trung mọi tiềm lực để khai thác

lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển dich cơ cầu kinh tếđúng hướng

Nhờ đó, các hoạt động thương mại — dịch vụ phát triển ngày cảng sôi động,

đem lại cho huyện nguồn thu cơ bản, đưa Cao Lộc từ huyện nghẻo trở thành

một trong nhữnghuyện khá của lĩnh Lạng Sơn"

Xã Cao Lầu lả một xã thuộc huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, tiếp giáp

với Quảng Tây, Trung Quốc Xã có diện tích 58,61 kmẽ, đân số năm 2018 là

3523 người, trong đó người Nùng chiếm 65.349” Xã báo gồm nhiều lang

bản như Bản Xâm, Bản Răn, Bản Don, Pác Cuỗng, Na Va, Pò Những, Bản

Vang, Con Nan, Co Sâu Người dân chủ yếu là dân tộc Nùng và Tây, vẫn đã

sinh sống lâu đời Khi Nhà nước dầu tư cơ sở hạ tầng thì ngày cảng có thêm

nhiều người Kinh đến cư trú và lập nghiệp tại đây.Iliện nay, với sự hỗ trợ của

hà nước cũng như sự nỗ lực tự thân, dời sống của các tộc người nơi đây

ngây càng được nâng cao trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo

đục, y 16

1.42 UỀ người Choang ở huyện Lang Châu, khu tự trị dan tộc

Choang Quảng Tâu

1 Bộ Thương mại trang thông tin thương mại biên giới miền núi, hài đảo -lyện Cao Lộc

Củ thông 0n đệm tệh Tag Sai layEnCHe Lộc

htip:“/eaolot.langzon gov wn/vihuyen-cao-loe-pha-thco-huong-phat-crien-manh-bien-gioi-va-loi-kinh-te-cua- khau

' tư liệu do ủy ban xẽ Cao Lâu cùng cấp.

Trang 24

Dan tộc Choang cỏ hơn 10 nhóm địa phương và có một số tên tự gọi

như: Bu Zhuang (#h‡†, Bế Choang), Bu Nong (4648, B4 Ning), Bu Ta Gt,

Tố Thể), Bu Yuc (Zb#Ä, Bồ ViêU, Bu Man (3b #, Bố Man), Bu Dai (258, Bá

‘Thai), Bu | tao (4 ff, Bồ Lão), Hu I.ong (4È, B46 Lung), Bu Pian (40 ff, BA Thiên), Du Yang (4828, B6 Uong), Bu An (46%, Bố An), Bu Min (2Ð, Bố

Min), Trong đỏ, người Choang ở huyện Long Châu, Quảng Tây chủ yếu

thuộc nhóm Bu Nong, và có một phẩn nhỏ tập trung ữ thị rắn Kim Long

thuộc nhóm Bu Dai Theo một nghiên cứuthihai nhóm nảy có mét bé phandi

cư sang miễn Bắc Việt Nam|33, tr.~5|

Huyén I.ong Châu lả một huyền thuộc thành phóSủng Tả khu tự trị din

tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc Huyện nằm ở phía tây namcủa Quảng

Tây, cách thủ phủ Nam Ninh 239 km Phía tây vả phía nam giáp khu Giang

Châu, huyện Ninh Minh và thành phố Bằng Tường, phía dông bắc giáp huyện

Đại Tân, phía tây bắc giáp tỉnh Cao Bằng của Việt Nam Iuyện có diện

tích2317.8 km”, đân số năm 2010 là 260.200 người; có 12 thị trấn và 123

thôn, với12 dân tốc cùng sinh sống, chủ yếu là: Choang, Hán Miêu, Dao, Hồi,

Động, rong đó, 95,89% là người Choang Long Châu là một thành thi vin hóa nỗi tiểngvới hơn 1000 năm lịch sử vềthương mại vùng biên giới Năm

1889, Long Châu đã trở thành một cảng thương mại lục địa đối ngoại, là cảng

thương mại mớ cửa đổi ngoại sớm nhất của Quảng Tây; đồng thời oững là

một cổng thông tin quan trọng của sự giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Irung

Quốc và các nướcĐông Nam Á với các tên “Trọng trần biên cuong”va “Ting Kông nh” Lơng Châu có nhiều danh lam thắng cảnh, vẻ đẹp tự nhiên, cảnh

quan dia chất độc đáo, cũnglả nơi đưỡng sinh thiên nhiên tuyệt vời.Tuôi thọ

bình quân người din nơi đây rất cao, được gọi là “quê hương trường thạ

” bitps:/'vi.wikipedia.org/wiki/Long_ChY%C3%0A2u,_ 890C3%B9ng_ THEIMBA%AS

Trang 25

Trưng Quốc”.Loại hình hát then cỗ của người Choang ở Long Châu rất nỗi tiếng, và được xem lả “quê hương của nghệ thuật hát then Trung Quốc” Các

lễ hội dân gian như “Chợ hội Dân ca” ngày 13 tháng 4 (theo âm lịch) và “Lễ

hội Nang Dộng (cũng gọi là Lồng Tổng, f&ÑlT5Y' cùng các phong tục tập

quán của người Choang đều là tài nguyên du lịch sinh thái hấp dẫn cho Long Châu, thu hút được hàng nghìn khách du lịch đến tham quan.Nông nghiệp là

hoạt dộng kinh tếchủ yêu của người dân huyện Long Châu, trong do, trang

trọt chiếm tỷ trọng lớn bao gầm cây lương thực và cây hànghóa” Những năm

gần đây, kinh tế cửa khẩu của huyện phát triển nhanh chóng Năm 2015, tông

lượng ngoại thương đã tăng lên vị trí thứ 2 trong 8 thành thibiên giới của Quảng Tây”

Xã Vũ Đức năm ở phía bắc cúa huyện Long Châu, phia đông giáp thi

trân Kim Long, phía nam giáp xã Lhượng Long, phía tây kết nối với thị trấn

Thủy Khẩu, phía bắc giáp Việt Nam với đường biên giới đải 25 km Đặc điểm

dịa hình toản xã là tây bắc cao, déng nam thấp, phần lớn là khu núi đá Xã Vũ

Die có 8 thên vớitỗng diện tích toàn xã là 204 km” và dân số 18.572 người, Nông sản chính của xãlả lúa, ngô, đậu nành vá lạc, cây hàng hóa oó mỉa vá khoai sa

Trang 26

vật thểhiện nay, các vấn đÈhên quan đến văn hỏa dân gian, nhất là văn hóa dẫn pian của các tộc người thiểu sốđược ngày cảng nhiễu học giả quan tâm va

nghiên cứu Miột số học giả không chỉ giới hạn trong nghiên cửu về văn hỏa

dân gian của các đân tộc trong nude ma con quan tim đếncáodân tộc ở nước

ngoài vốn có quan hệ gần gñi với các dân tộc trong nước Không ngoại lệ,

người Nùng Việt Nam đo có quan hệ gần gũi với người Choang Trưng Quấc

nên các van dễ liên quan đến hai tộc người này, nhất là yếu tố văn hóa tộc

người đang ngảy cảng được nhiều học giả, cả ở Việt Nam và Trung Quốc

cùng quan lâm nghiên cứu.Các hướng nghiên gứudù khá đa dạng, nhưng chủ

đề về dân ca, và tiếp cận dưới góc nhìn so sánh còn hiểm thầy và nếu có, chỉ ở

xmức sơ lược Đặc biệt, chưa có một công trình nào lựa chọn địa bản nghiên

cứulà huyện Cao Lộu, tinh Lạng Sơn, Việt Nam và huyện Long Châu, khu tự

trị dân tộc Choang Quảng lây, Irung Quốc - nơi hai tộc người nảy vốn có

những mối quan hệ gần gũi trên nhiều phương diện

Tin lộ Nùng ở Việt Nam có số lượng cư dân khá déng, đứng thứ 7

trong tống số 54 dân tộc tại Việt Nam Kgười Nùng ở huyện Cao Lộc, tỉnh

Lạng Sơn chủ yếu lá Nùng Phản Slinh Cao Lộc lá một huyện núi biên

piớinnằm ở phía Bắc Lang Sơnnơi có cửa khẩu quốc tế Hữu nghị nối sang

thành phổ Bằng Tường, khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc Tiuyệncó xuất

phát điểm kinh tễ tương đối thắp, trồng trọt là nghề chỉnh của người Nùng ở

đây Những năm gần đây, theo đường lối đổi mới của Nhả nước, huyện tập trung tiểm lực để khai thác lợi thế biên giới và kinh tế cửa khẩu, chuyển địch

cơ câu kinh tếdúng hướng, các hoạt động thương mại — dịch vụ phát triển

ngày cảng sôi động Người Choang là tộc người có dân số đông nhất trong

cộng đồng các dẫn tộc thiểu số của Trung Quốc Khu tự trị đân tộc Choang

Quảng Tây là nơi cư trú tập trung nhất của người Choang và huyện Long

Châu lả một trong những nơi người Choang giữ gìn tốt bản sắc văn hóadân tộc

minh Nông nghiệp là cơ sớ kinh tế của huyện, trong đó, nghệ trồng trọt chiếm

Trang 27

tytrọng lớn trong cơ cầu thu nhập Những năm gần đây, kinh tế cửa khẩu và du

lịch của huyền cũng phát triển nhanh chóng, tạo những bước nhãy vọt về kinh

tế - xã hội Người Nùng vến có quan hệ gần gũi với người Choang Trưng Quốc,

vì thể ở vùng biển giới hai nước Việt — Trung, hai tộc người nảy cỏ những quan

hệ khả gần gũi trên mọi khía cạnh của đời sống như kinh tế, xã hội và văn hóa

Trang 28

CHƯƠNG 2

ĐẦN CA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN CAO LỘC,

TỈNH LẠNG SƠN

Tần tộc Nùng ở Việt Nam có truyền thông lịch sử phát triển lâu dời và

hiện vẫn giữ được nhiều phong tục tập quán độc đáo Văn hóa dân gian dân

tộc Nùng phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại Trong kho tảng Ấy, dan

ca là hồn cốt, giữ vai trò và vị trí quan trọng Từ xa xưa, người Nủng đã coi

dan ca là phương tiện giao tiếp, lời tâm sự tổ tình với người khác giới IIát

dân ca là sự rung động của con tim, thể hiện tình cảm, nỗi lòng của người hát với mọi người xung quanh Các làn điệu dân ca của dân tộc Nùng được hình

thành từ quá trình lao động sản xuất, từ cuộc sống thường ngày,thể hiện tỉnh

cám mộc mạc, dân đã

2.1 Các thể loại dân ca

Tân ca của người Nùng có nhiều thể loại, mỗi nhóm Nùng địa phương

lại cỏ cách hát, lân diệu, lối thể hiện khác nhau vả nội dung các bài hát vô

cùng phong phú Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về đân ca

của người Nùng Phan Slinh, một nhóm địa phương của dân tộc Nùng ở huyện Cao 1.ée, tinh Lang Sơn.T3ựa trên kết quả nghiên cửu của các học giả đi trước

vả qua kết quả điền đã tại tỉnh Lạng Sơn cho thấy các thể loại đân ca của

người Nùng nơi dâybao gdm: hát SH,Cð T.äu, khúc hát tang lễ, hát Then, hat

Tu, đồng dao

Aatsh

Nói dến dan ca của người Nùng thì phải nói dến 8liUủng gọi là Sli

nhưng các nhánh Nùng không giếng nhau, trong đó, Nùng Phàn Slinh gọi

là5h Phản Slinh Sli Phan Slỉnh khi hát hay có đôi và đặc biệt đôi đó phải hợp

giọng, Họ ht theo lối ứng khẩu và theo cảm xúc của mình.8li¡ là một thể loại

dan ca rất phổ biến và độc đáo đối với dân tộc Nùng Sli của người Nùng được coi là một thể loại trữ tình, được thể hiện trongoác ngày hội, chợ phiên,

Trang 29

ngảy cưới, ngày lên nhà mới, Người Nủngtrước đây hầu như ai cũng yêu thích và biết hát Sl¡,đặc biệt là tầng lớp thanh niễn Trai, gái dân tộc Nủng hát

Sli dé két giao tinh bạn hoặc tìm bạn đời.Đặc điểm của hát Sli 14 hát không

cần có nhạc cụ đệm, không có vũdao kẻm theo và có thể hát ở bất cứ lúc nào, chỗ nào, miễn là nơi đó có đối tượng hát

vaehd loại, hat Sli 14 mét hinh thie hat tho Sli 1a nhtmg bai van vin,

mỗi cau tit 5 dén 7 chữ, mỗi bài từ 4 dén 8 cu hode tnrdng thiên vải trăm cầu

Nội dung của SH rất phong phủ và hấp dẫn Từ những hiện tượng tự nhiên

như mây, mưa, trăng, sao, oây cổ, núi đồi, các mùa, cho đến các câu chuyện lịch sử, văn hóa, xã hội đều là dễ tải, nội dung trong các bài hát SI1.'Iyong lời

của Sli có sự liên tưởng, viven, so sánh thông qua những hình ảnh cụ thể để

nởi lồn tỉnh căm, tâm trạng và nguyên vọng của con người Trong các để tài

SH, tình yêu nam nữ vẫn là nội dung chính yếu mà dân ca Ning nói chung và

hat Shi nói riêng hay để cập tới Iát Sli giao duyên thường do 2đôi trai gái thể

hiện theo lỗi dối đáp, hát không có bải cụ thể mà theo lối ứng khẩu vá cảm

xúc của người hát Người hát trước thường là người có giọng vang, tải tình và

nhanh nhạy Khi bên này vừa ngừng tiếng Sli thì bên kia cũng phải có người

nhanh chóng cất lời Si để đáp lại như

Chang trai: Dén day ta có đôi lời tâm sựý

Nhưng lại sợ dem phiền cho bạn

Cô gái:7uy khá nói nhưng hấu cùng lâm sựi

Như mạ gặn nước như lúa gặp mây

Chàng trai: Trồng nàng vừa đẹp lại vừa xinh/

Quả ngon lòng ngâm ngủi nhé mãi

Cô gái Rừng xanh xuất hiện đôi măng trúc/

Ruộng tất xuất hiện bông lúa vàng 1

1Í Dân ca Slì của người Nũng Phản Slình Lạng Sơn

hip: Aapchidantoc.ubdt gov.vi/201-4-11 -06/a9315580461993a59685>603e4S18e64-cema itm,

a

Trang 30

Trong cuốn 8l, lượn dan ca trữ tình Tày-Nùng, nhà nghiên cứu Vì

Hằng cũng cho thấy rằng: “Người Nùng dùng từ SIi dễ chỉ toàn bộ dân ca

mang tính trừ tình của họ cũng như người Tày dùng từ Lượn đề chỉ hẳu như

toàn bộ dân ca của mình” Hát Sli là hình thức hát phổ hiến nhất của người Ning Hat Sli thể hiện sự ửng đối tài hoa của mỗi người với những lời si ví

von, béng bay, hài hước, đôi khi lại xa xôi, an chứa rất nhiều hàm ý

Có lãm

CöLâu là một lối hát chỉ sử dụng trong đám cưới của dân tộc Ning nói

chung vá người Nùng Phản 5lỉnh nói riêng Đó là một cách nói chuyện, một

hình thức giao tiếpthông qua những bài hát, trong đó chứa đựng những tỉnh

cảm trân trọng đổi với cha me, họ hàng và những người có công vun đắp, tác

thành cho đổi lứa Có Lẫu tức là kể chuyện cưới, lả hình thức hát trong sinh hoạt đảm cưới, là những bài hát xm vào cửa, xi trao lễ, mời nước mời

xượu, khi đến đón đâu

Đám cưới của người Nùng Phản Slinh thưởng diễn ra hai, ba ngày

Doan nha trai di dén đâu gổm có: chú rễ và các phủ rễ, cô đỏn, thầy Môi

người được nhận là cha nuôi, thay mặt nhả trai trong giao tiếp với nhà gái để

tiến hành các bước củadám cưới Những thành viên của doàn dón dâu dược

nhà trai lựa chọn cân thận vả tin can, thường là những người bạn vàho hàng

thân thích hoặc là những người bên ngoại giới hát Cỏ Tảu Thông thường

những người giỏi hát Cổ Lâu mà di đón dâu này phải đượcmời trước vải tháng để họ có thời gian tập luyên các bàihát.Đoàn nhà gái sang nhà trai,

ngoài cô dâu còn phủ dâu, Nảng Tài (cũng gọi là Me Tai hoặc Bà ngoại nuôi)

-người đại điện nhà gái đưa dâu về nhà trai, và một thiểu nữ khác mang vác,

trông cơi Lư trang cho cô dâu Những người này cũng phải là người giỏi hat

Giỏ Lãuvà cũng phải có lời mời trước đó vài tháng để họ có thời gian chuẩn bị

Khi đoàn đi đón đầu đến nhà trai, Cé Lau duce tiên hành chỉ với một, hai bải

ca ngợi thầy Môi và cỗ đón Khi xin vào cửa đón dau, cáu phù rễ vả phù dầu

Trang 31

ngồi quanh bàn trong sản, trên bản hay có nước và rượu, các phủ rể đại điện

bên nhà trai và các phủ dâu đại diện bên nhà gái, họ giao lưu với nhau bằng

Cỏ Lâu, hát đối đáp với nhau, thông thường bên nhà trai hát thắng mới được

phép vào cửa đón dâu

Cô Lãuđược bắt đầu ở nhà trai bằng việc Nàng Tai dẫn cô dâu và phụ

đâu đi ra mất họ nhà trai Nang Tai dẫn cô dâu đi chảo trưởng họ và bế mẹ

chồng Năng Tại cat tiếng hát kể lại việc cảm ơn bố mẹ của chú rổ về công lao

nuôi dưỡng tử nhồ tới chuyện đi tim đâu và chuẩn bị lễ cưới của nhà trai,

tiếng hát của Nàng Tai vừa dừnglại thì người đại điện bên nhả trai (thường 14

bố chủ rể) yêu cầu phải có một bài đáp lại để cảm ơn vả ca ngợi Nàng Tài

Nàng Tai tiếp tục đưa cô đâu đi chảo họ hàng thân thích vả bạn bẻ, khi đó

những bải hát lại được kiếp diễn giữa Nàng Tai và các vị khách Đền oanh đó,

trong đám cưới còn hay có 8li, nam nữ hát đổi đáp với nhau Cuộc hát như

vậy kéo dài cho đến khi tàn tiệu cưới

Hiển nay, Có Lau ở trong dám cưới của người Nùngdã rất hiểmkhi diễn ra

Người Nùng Phản Slinh ở huyện Cao Lộc nói rằng, từ những năm1990 trở lại

đây thỉ hầu như không cỏn Cö Láu nữa Da nhiều nguyên nhân, những bài Có

T.áu sưu tầm không được nhiều bằng các bải hát 8H Dưới dây là mat bai Cô Lâu

đã được dịch sang tiếng Việt trong cuén 72ân ca Nùng[8, tr.77]:

Mae áo trắng bên trong

Mac do hông bên ngoài

Nhiều người cùng đi kèm

Nhiều người cùng theo với

26

Trang 32

Thứ bậc chẳng thấp cao

Theo mai nén dao lí

Đi theo một rừng mới

Ti theo mười lượt bạn

Sương mù xuống đăng ding

Sương kéo thánh muôn sợi

Sợi giãng trên núi da

Sợi giăng trên lũng xa

Cơn đường đã cất giọng Cất giọng gọi xuống nhà Khúc hát Tang lễ

pủa

Khúc hát Tang lễ là một thể loại dan ca chi ding trong tang lễ

người Nùngvà đếnnay vẫn được sử dụng khá phổ biến, nhật là những địa bàn

người Nùng cư trú tập trung Trong tang lễ sửa dân tộc Nùng só nhiều nghỉ lễ

và thủ Lục khác nhau dễ người sống làm tròn nghĩa vụ cuối cùngvới ngườiqua

đời Trong suốt quả trình diễn ra tang lễ, thầy Tào chủ trì các hoạt động, đảm

xhhận việc cũng lễ, đưa dẫn linh hồn người vừa mắt về với tổ tiên Thân nhân

của người vừa mất thì hát qua tiếng khác theo các bài sẵn có mà thông thường

do thầy Tào cung cắp, kẻm theo những cụ nhạc như cồng, trống, Thân nhân

dùng lời ca qua tiếng khóc của minh dể biểu dạt tâm sự, tình cảm với người

đã mất, để chào khách, để tô lời cám ơn với thầy Tào, Dưới đây là một

đoạn của bài ca đầu tién Ldy nude di dugc dich sang tiéng Việt và được tập

hợp trong cuốn sách J2ân ca Nừng[M, tr 28-32]

Người” ốm mấy ngày rồi Người đau đã mấy tháng

“Thấy! cứu cũng không lại

12 Người: chỉ người vừa mắt

1) ‘Thay: chi thay Mo, thay Tao

a

Trang 33

Thuốc chữa cũng không day

Tôm nay Người ngã di với nương,

liêm nay Người khuất đi với móc

Con Người cầm gạo trắng đi moi Cơn Người cầm nắm gạo đi cậy Mời thầy già bản xa

Mời thầy piỏi bản lớn

Mang bộ sách ba người vác

Mang bộ chóng tám người khiêng

"Thầy lập bản Thầy phía bên cửa

"Yên vị bàn thờ chính giữa

Mời Người xuống bên cửa má dựa

Mời Người xuống giữa nhà mà ở

Thay đến gọi Người đi Thay dén mời Người dậy

Người hãy theo đâu chân Thay di

Người hãy theo got chan Thầy ma bude

Bai ca này được coi như lả tiếng khóc đầu tiên của thân nhân sau khi có

người qua đời trong tang lễ, cũng là thủ tục đầu tiên của thầy Tảo để chuẩn bị đưa người mắt vảo quan tài Thấy Tảo Lý Văn Xuân có tên cấp sắc!" 1a Ly Báo Điền (E5ERI) ở xã Yên Trạch (người Nùng Phan Slinh, sinh nim 1970) cho biết rằng những khúc hat Tang lễ chí sử dụng trong tang lễ, bất cứ là thân

nhân hay thầy Tào đều không được hát vào thường ngày hoặc ngày lễ khác (chỉ

ngoài tháng Giêng thầy Tào có thể lẫy ra để tập luyện cho thuộc lòng)

11 Tên cắp sắc: mỗi ngưởi lam thẩy Tào đều có biệt danh mà thông thường, đo các thây cấp sắc đặt đề tranh

tinh trang cling véi các cụ xua, gọi là tên cấp sắc.

Trang 34

Hat Then

Ildt Then là một thể loại âm nhạc tín ngưỡng truyền thống lâu đời của người Nùng mà đến nay vẫn được sử dụng phổ biển Mỗi vùng, lăn điệu Then lại có những nét độc đảo riêng, trong đó, Lhen của người Nủng ở Lạng Sơn

với những lản điệu khi hát lên thì vui tươi, rộn ràng hơn các vùng, khác Then

Lang Son có nhiều giai điêu độc đáo, các nghỉ lễ khác nhau hoặc các giai

đoạn khác nhau trong một nghỉ lễ sẽ có giai điều khác nhau Lạng Sơn được

xem lả một trong những cái nôi của thể lại dân ca độc đáo nảy,

*Then” có nghĩa là thiên, tức lá Trời [Jat Then cỗ được coi là lân điệu

hát thẦn thiên, là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc tín ngưỡng, thuật lại

một cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin một điểu gi đỏ Theo tập tục từ

xa xưa, mỗi khi trong cuộc sống pặp hiện tượng lạ, không thể lý giải được lả

người Nùng thường tổ chức lễ sầu cũng, mời người làm Then đến đàn hát để

cầu mong cho gia đỉnh được bình yên, may mắn, mạnh khỏe, làm ăn thuận lợi

Tgoài ra, hát Thencễ còn được sử dụng trong những địp quan trọng khác như:

hội làng cầu mùa hay trong từng gia đỉnh vào địp năm mới, vào nhà mới, lễ mimg thọ, lễ khai quang valé khai trương của các doanh nghiệp Ngay cả

những vấn dễ cá nhân như cầu công danh, duyên số, cũng có thể nhờ người

lam Then giải hạn Người lamThen dan hat với cây đàn tính nhờ lời ca tiếng

hát của mình, đưa những nguyện ước đó đến với các đẳng thần linh để biến

những lời cầu mong đó thành hiện thực Trong các nghỉ lễ đó, hát Then cổ là

một cuộc diễn xướng trường ca mang mảu sắc tín ngưỡng, tường thuật lại cuộc hành trình lên thiền giới dễ cầu xin dang thần linh giải quyết một tâm nguyên gì đó cho gia chủ Người làmThơn cổthường là những người có bối cánh trong gia đình đã có nhiều đời làm Then hoặc cỏ căn số phải làm

Then.Ilo xin hoc ở các thầyThen uy tín, chủ yêu học theo hình thức truyền

miệng, Ít khi có sách vở

Không thể không kể đến lễ cắp sắc của 'Lhen, dó lả một việc lớn trong đời của người làm Then Lễ cấp sắc thường được diễn ra ba ngảy dễm với

Trang 35

nhiều thủ tục khác nhau, được coi như là lễ cấp chứng chỉ hành nghề cho học

trò sau khi đã theo thầy học thành, người học Thencô sau khi được cấp sắc

mới được chính thức vào nghề Then có ba bậc đẳng cấp, bậc ba là đắng cập

cao nhất

Trải qua quả trình hình thành và phát triển, những năm gần dây, hát Then

không chỉ được trình diễn trong các hoạt động tâm linh tín ngưỡng mà còn

được điễn xướngnhư một hình thức nghệ thuật dân gian độc dao trong các lễ

hội và hoạt động văn nghề như hội diễn khu vực, các cuộc thị, lược bộ đi

những yếu tổ tâm linh tin ngưỡng mang màu sắc mẽ tín, hátThen đã thực sự

póp phẳnlâm sự phong phú đời sống văn hóa tỉnh thẳncủa người dân Hiện nay,

ở Lạng Sơn, ngảy cảng nhiều lớp trẻ đi học hát Then và đân tính, họ học với

các thầy cô giảng dạy có sách vở ở trong nhà trường hoặc tạicác lớp mở dạy hát

Các lớp học và cfu lac bd ‘Then được tổ chức khá phổ biển ở Lạng Sơn Đội ngũ

tham gia hát Then, din tinh được tăng nhanh, góp phần khơi dậy niềm đam mê

trong lòng công chúng yêu nghệ thuật hát Then, dan tính

Có thể nói, hiện nayhát Lhenlả loại hình nghệ thuật diễn xướng dân

gian vừa mang yếu tố tâm linh vừa mang yếu tổ văn hóa nghệ thuật.Kókhông

chỉ thể hiện doi sống tầm lĩnh phong phủ, mà còn là sinh hoạt văn hỏa văn

nghệ dân gian mang tỉnh đân tộc độc đáo

Đẳng dao

Đẳng đao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻem, là một trong

những thành tế din ca cấu thành nền văn hóa din gian truyền thống Đồng đạo

bao pồm nhiều loại: các bài hát của tre em, lời hát trong trỏ chơi, bài hát ru

em, Đổi với dân tộc Nùng, đồng dao thường vừa hát vừa kết hợp các trò

chơi và gắn với những kiến thức về ngôn ngữ, địa danh làng bản Các bài

hát diễn tả thể giới xung quanh vỗ cùng phong phú, gần pũi, mộc mạc,

chân chất mà đằm thắm yêu thương Các chủ để của đồng dao đa dang,

ngôn ngữ linh tế, có vần điệu hoại bái, sống động và vui về Dưới đây là

Trang 36

một bài đổng dao của người Nùng ở Lạng Sơn đã được dịch sang tiếng Việt và sưu tầm trong cuỗn 72án ca Nùng|8, tr.21 |

Trời hãy mưa

Nước hãy lữ

Ga thién trén vao ling

Ong vua trên vào lềng

Con chó trốn vào hang,

Con khi cười ha hả

Cun ngựa cười hè hè

“trước đây, ở đầu có con trẻ là ở đó có đồng dao Nhưng ngày nay, củng

với các trỏ chơi dân gian, đông đao không còn phổ biến như xưa nữa

HatRu

Hat ru là một thế loại đặt biệt trong kho tảng âm nhạc dân gian và đã

tồn tại lâu dải trên thể giới.TTát ru thường là những bải hát nhẹ nhàng,đơn giản,

c ngủ Phần lớn các câu trong bai hat ru Vay tir ca giúp tré con dé di vao gid

dao, đồng đao, hay trích từ các loại thơ hoặc hỏ dân gian được truyền miệng

từ bả xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau Đối với đân tộc Nùng, hát ru là

một thể loại dân ca phổ biến khắp nơi ở các vùng người Nùng cư trủ tập

trung.Cùng với những bài đồng dao, hát ru chủ yếu là lời ca dành Tiêng cho

các em nhỏ Đa phần người hát ru là các bà, các cô di và các chỉ em gai Ngay

từ hôi thơ ấu, các em đã được đấm chìm trong tiếng hát, lời ca, những lời ru

ngọt ngào của người bả, người mẹ, người chị Người Nùng thường hát ru con

bên nội, khi địu con dễ làm những công việc gia dình hay hay khi dịu con

đinương IIát ru kế chuyện chân thật, nội đung kể về công việc, các con vật,

công ơn cha mẹ, cộng đồng, ca ngợi quê hương tươi đẹp, Lời ru mộc mạc,

giản dị, chân thành, và giàu hình ảnh I3ưới đây lả một bải hát ru mà chúng, tôighi lại được khi khảo sát tại huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Søơn,đo bà Iloàng

Thị Sim (người Ning Phan Slinh, sinh năm 1964) ở xã Yên Trạch thể

3

Trang 37

hiện Tamdịch như sau

Con oi con ngủ cho ngoan

Me di cây chưa về

Con ngũ trong võng ngoan nhé

Mẹ con đi bắt con tôm chưa về

Me con đi làm ở xa chưa về

Vẻ nhà con chưa dược bú

Cên đi tắm rửa sạch sẽ bà mới đưa cho mẹ bú

Còn được ăn, được bú con ngủ cho ngon

Hát ru có kết cầu đơn giản, dễ nhớ, gẦn gũi với tầm sinh lý trẻ, giaiđiệu

nhẹ nhàng, nội dung chân chất, mang tình cảmđằm thắm yêu thương,là nguồn

sữa tỉnh thần nuôi dưỡng tâm hồn con người từ thủa còn trên nội

2.2 Hình thức diễn xướng

Với sự đa đạng về thể loại, dân ca Ning cling có nhiều hình thức diễn

xưởng khác nhau Phần lớn dân cả của người Nùng ở huyện Cao Lộc tỉnh

Lạng Sơn được diễn xướng không cần nhạc cụ đệm, không có vũ đạo kẻm

thco Hình thức diễn xướng có hát đối đáp, hát đơn cá và hợp xướng, trong đó,

hát đổi đáp nam nữ là hình thức diễn xướng chủ yếu đổi với hát 8li nói riêng,

vả hát đân ca nói chung.IIát S1i là một thể loại dân ca phế biến nhất đối với

người Nùng ở Lạng Sơn, cuộc hát Sh thường do 2 dõi trai pái thể hiển theo lỗi

đối đáp, nhưng số người tham gia mỗi bên có thể lên đến hơn chục người, hát

không có bài vở cụ thế mả mang tính ngẫu hứng, hát đến đâu ứng tác đến

đó Hai dõi trai gái hát đối dáp với nhau là hình thức diễn xưởng chủ yêu dối

với Sli Nùng nói riêng mà hát dân ca nói chung, ngoài ra, cũng có thể là một

hoặc một vải đôi trai gái ITơn nữa, trừ hát đối đáp nam nữ còn có thể là một vải bạn bè tụ hợp ma hát cho vui hoặc lúc khi đi xuống đồng, đi chăn trâu, đi trên đường, thì có thể hát một mình để thư giãn Bén cạnh đó, lớp thiếu nhỉ

thi hay hát đồng dao, họ thường hát với những bạn bẻ bằng tuổi theo lỗi hát

2

Trang 38

củngnhau Hát ru thì lá hát một mình, người hát thường là các bả, cô dì, các

chị em gái, hát với piong nhẹ nhàng để ru con ngủ

Thác với những loại hỉnh dân ca không cần nhạc cụ đệm, hát Then thì

là một loại hình đân ca được điễn xướng theo hình thức vừa hát vừa dàn bằng

cây đàn tính Cuộc diễn xướng 'Then mới có thể hát đơn ca hoặc hát tận thể,

thông qua lời Then mới để ca ngợi thiên nhiên và cuộc sống ấm no, hạnh phúc

hiện nay Ngoài ra, hát Tang lễ cũng thường có những nhạc cụ kèm theo như

công, chữm chọc, trồng, :

2.3 Trường hựp diễn xướng

Với thể loại phong phú và hình thức diễn xướng đa dang, dân ca người

hùng cũng có các trường hợp điễn xướng khác nhau

Chợ phiên

Trước đây, trong đời sống của dân tộc Nùng ở Lạng Sơn, kinh tế thị

trường chưa xuất hiện, tự cung Lự cấp giữ vai trò chủ đạo, mua bản hàng hóa

chưa thành nhu cầu hàng ngày, nên chợ họp thưo phiên, cử 5 ngày một phiên

chợ.Dôi với người Nùng Lạng Sơn, chợ phiên không chỉ là một trung tâm

kinh tế trao đổi, mua bản hàng hóa, mà còn là nơi giao lưu văn hóa Họ xuống

chợ không chí dễ mua bán ma la dip gap ban bẻ, người thân, cùng nhau nhâm

nhỉ chén rượu và hát Sli Chợ phiên là nơi tạ hợp, gặp gỡ, giao lưu của thanh

niên người Nùng, lả điểm hẹn của tỉnh yêu lửa đôi Thanh niên nam nữ dân tộc

King thường hẹn nhau đến ngày chợ phiên dé hat Sli giao duyên Hình thức

hát gềm có một trai một gái, một đôi trai gái, một vải đôi trai gái, hát tập

thể trong đó, hình thức chủ yếu là một đôi trai gái hát đối đáp với nhau Họ

hát với nhau mà không cần bải bản có sẵn, tự đối đáp, hát đến đâu ứng biến

đến đấy Lời hát được coi là những lời Lâm sự lổ tình với người khác giới, họ

lầm quen với nhau bằng lời hát, nhiều đôi yêu nhau và nên vợ nên chẳng từ

những phiên chợ này

Chợ hộidân ca (chợ hộiháU)

Trang 39

Chợ hội là nơi thanh niên nam nữ khắp nơi đến trấy hội và hát giao duyên” Người Tây — Nùng di hội chợ, mục dích chính không phải trao dỗi

mua bán hàng hóa, mà là để giao lưu văn hóa, đặc biệt là nhu câu tìm bạn đời

của thanh niễn nam nữ đến tuổi trưởng thanh Và như vậy, chợ hội dã từng là không gian sinh hoạt văn hóa không thể thiểu trong đời sống tỉnh thần của họ

Tioạt động nảy chủ yếu diễn ra trong sinh hoạt văn hóa người Tảy — Nùng

Tiếng Tày — Nùng gọi phiên “chợ” này là “Hang hội”, “Hang toán”, “Hang

lượn” Chợ hội hát được tổ chức rãi rác trong năm và trong một năm, mỗi nơi

thông thường chỉ tổ chức một lần Những hội chợ đâần ca nổi tiếng như

Choh6i Ky Lita 27/3 (theo âm lịch) được tố chức tại trưng tâm huyện thành

phỗ Lạng Sơn — chợ Kỷ Lừa, người Nùng đến đự từ các thành thị xã.Ngày

nay, chợ hội được tổ chứo với quy mô hạn chố, người đến dự không được

đôngnhư trước đây

Các ngày lễ tốt

Những ngáy lỄ hội truyền thống của người Nùng là những ngảy liên

quan đến sự chuyển đổi của thời tiết trong năm và liên quan đến nghề nghiệp

chính — trồng trọt của họ như lễ hội “LỗngTồng” có nghĩa là xuống đồng,

đước tổ chức trơng thời gian tử ngảy mùng 3 tết cho đến hết tháng Giêng Trong phần nghỉ lễ của lễ hội Lồng Tầng, các thầy củng được mời đến làm pháp để cầu trời cho mưa gió thuận hoa, mua mang tốt tươi Ngoài phần lễ, các thanh niên nam nữ vui hội, hát Si giao duyên, mời bạn về nhà vui chơi,

ăn uống Các ngày tết khác nhưTết năm mới (theo âm lịch), ngày Quốc

Khanh 2/9 (theodương lịch), lếtNguyên đán (heo dương lịch) cũng dược

người Nùng tổ chức với các hoạt động biểu diễn văn nghệ vả trỏ chơi din

gian Trong đỏ, nam nữ thanh niên gặp gỡ, giao lưu, hát SH ở giữa chợ, trên

5

tip: /nevanhoa vass gov va/UserControls:N ews/pFormPrint aspx?UrlListProcessinoidung/doituongnghien

cuw'vanhoadangian/Lists/phoagtuclehoi& List d=22cSecte-eb 22-14£2-b4 Fa-£5 7.1 SbeaS3SfKSitel d=99302971

~lt8-4198-ã7co-2e46037c0c8c6iTucmID=3688ileRootIlD=0186ñT-c45a-4113-9955-1cbadcB612ds# f4

Trang 40

sườn nủi, đọc các nẻo đường vào phố, Ngoài ra, người Ning cing hay hat

Sli vào những ngày cưới, ngày sinh nhật, mừng thọ,

Các nghỉ lễ tin ngưỡng đân gian

Trong đời sống tình thần, đân tộc Nửng hiện nay vẫndang thực hành nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian phong phú Các nghỉ lễ dân gian như cầu

rnủa, tang ma, trừ tà chữa bệnh, vẫn được duy trì lát then cổ, hat Sli va

những khúc hát tang lễ được diễn ra trong các nghi lễ này để ca ngợi, cầu xin

thần linh, hay bảy tô tỉnh cảm của người hát

Các hoại động văn nghệ

Mức sống ngày cảng được nâng cao đã khiến người Nủng quan tâm

nhiều hơn tới đời sống văn hóa tỉnh thần, đặc biệt là nhu cầu hưởng thụ văn

hóa cũng như nhục hồi áo nói đẹp văn hỏa truyền thống tộc người Cáo cộng động văn nghệ dân gian như câu lạc bộ hát Then, câu lạc bộ Dàn vả hát dân ca tỉnh Lạng Sơn, được thành lậptừ vùng nông thôn lan đến thành thị Cáo hoạt

dông văn nghệ như các cuộc thí, hội diễn, liên hoan, giao lưu văn

nghệ, được tổ chức thường xuyên Các loại hình đân ca được diễn lên sâu

khẩu, tạo ra sức lan Lóa thật mạnh mẽ, đóng góp vào việc truyền bá văn hóa dân giandân tộc

Ngoài ở chợ phiên và vào các ngày lễ tết, các loại hình đân ca người

Tùng như hát Sli, hát ru son, ding dao, hát Thencỏncó thể hát ở trong nha,

ngoài đồng, chốn đình lảng, hay bắt cứchễ nào, lúc nào, miễn là có đối Tượng hát hay mình muén hat

2.4 Xu hướng biên đổi

Ở Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc Đãi mới đến nay,sự tác động của

quá trình công nghiệp hỏa, hiện đại hóa, hội nhập, mở cửa, sự phát triên của

kinh tế - xã hội đã dẫn đến những xu hướng biển đổi khác nhau của văn hoa

truyền thống, nhất là văn hỏa truyền thẳng các đân tộc thiểu số Trong đó, dân

ca của đân tộc Nùng ở Lạng Sơn cũng không nằm ngoài sự biến đổi đó

Ngày đăng: 17/05/2025, 20:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm