Kết cầu tục ngữ bến mệnh đề - 55 2.5 Dặc điểm về tao nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng TIán và tiếng Việt...àă.ceccoo...58 2.5.1Con đường tạo ng
Trang 1(LI YAN JIE)
SO SÁNH CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIEN QUAN DEN
CACHAN CACII MAC TRONG TIENG ITAN VA TIENG VIET
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ha Nội, 2012
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG DẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN V,
KIIOA NGON NGỮ HỌC
1ý Diễm Kiệt
(ui YAN JLE)
§O SÁNH CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGU LIEN QUAN DEN
CACH AN CACH MAC TRONG TIENG HAN VA TIENG VIET
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Ilũu Đạt
Hà Nội, 2012
Trang 3LOL CAM ON
Trong qua trinh hoc tap va nghién ctu tại Việt Mam, tôi đã nhận được
sự giúp dỡ của các thầy cô, các giáo sư của trường Đại học khoa học Xã
hội và Nhân văn, và của rất nhiều bạn bè, tôi xin gửi lời cẩm ơn đối với
tắt cá cáo thây cô, các bạn đã tận tỉnh hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
này
Tôi xin bày tô lỏng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn [lta Dat,
cấm ơn thầy dã đành nhiều thời gian để chỉ bảo tận tỉnh, hướng dẫn cách
lam và đóng góp những ÿ kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn một
cách thuận lợi
Xin chân thành cảm ơm
Tac gid luận văn
Lý Diễm Kiệt
Trang 41.1 VỀ khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán 4
1.1.1 Cách hiểu thành ngữ trong tiếng Hản 54
1142 Nguồn gốc của thành ngữ tiếng TIán 6
1.2 Về khái nhiệm tục ngữ trong tiếng Hán " §
1.2.1 Cách hiểu tục ngữ trong tiếng Hán 8
1.3.1 Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt - 14
1.3.2 Nguồn gốc thành ngữ tiếng Việ 17 1.4 Về khái miệm tục ngữ trong tiếng Việt - 21 1.4.1 Khái niệm tục ngữ trong tiếng Việt 21 1.4.2 Phân biệt tục ngữ và thành ngữ tiếng Việ 24
Trang 52.2.2 Cầu trúc của từ ngữ quen dùng tiếng Hản - 42
2.2.3 Câu trúc của vết hậu ngữ tiếng Hán 44
2.3 Đặc điểm về cấu trùu sáo thành ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc
trong tiếng Việt AP 2.3.1 Đặc điểm chung và các quy tắc cấu tạo thành ngữ Ân dụ hoá đối
2.3.2 Dặc điểm chung và các quy tắc cầu tạo thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối
xứng ce - 49
2.3.3 Đặc điểm chưng của cấu tạo thành ngữ so sánh 50
2.4 Đặc điểm về cầu trúc các tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc
2.4.1 Ka céu tue ngé mit ménh dé 52
2.4.2 Kết cầu tục ngữ hai mệnh dễ .82
2.4.3 Kết cầu tục ngữ ba mệnh đề
Trang 62.4.4 Kết cầu tục ngữ bến mệnh đề - 55 2.5 Dặc điểm về tao nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách
ăn cách mặc trong tiếng TIán và tiếng Việt àă.ceccoo 58
2.5.1Con đường tạo nghĩa của các thánh ngữ liên quan đến cách ăn cách
mặc trong tiếng Han 55
2.5.2 Con đường lạo nghĩa oủa các lục ngữ liên quan đến cách ăn cách
mặc trong tiếng Hãn 58
2.5.3 Con đường tạo nghĩa của các thành ngữ liên quan đến cách ăn cách
2.5.4 Con đường tạo nghĩa của các tục ngữ liên quan dén cách ăn cách
SO SÁNH CÁC THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ LIEN QUAN BEN CÁCH
ĂN CÁCH MẬC TRONG TIÊNG HÁN VÀ TIENG VIẾT 0
3.1 Hiểu biết văn hỏa qua thành ngữ và Lục ngữ wo TO
3.1.2 Quan hệ giữa ngồn ngữ và văn hóa aw 3.1.3 Giá trị của ngôn ngữ thành ngữ và Lục ngữ đối với văn hóa 74
3.2 Những đặc điểm giống nhau và khác nhau của các thành ngữ, tục ngữ
trong tiếng Han va tiếng Viet
Trang 81 Lý do chọn đề tài
Hai nước lrung Quốc xà Việt Nam đều có lịch sử văn hoá lâu đời
Cách ăn cách mặc có thể phản ánh được bếi cảnh văn hoá và đặc trưng
dân tộc của mỗi một dân tộc, bên cạnh dó nó còn cỏ quan hệ chặt chế với
cuộc sống nhân dân, nên có nhiều thành ngữ, tục ngữ nói về cách ăn cách
mặc Hai nước Trung Quốc vả Việt Nam thường rat coi trọng cách ấn
cách mặc vả thích sử dụng các thánh ngữ, tục ngữ liên quan đến lĩnh vực
này Ở thời Chiến quốc Trung Quốc đã có nhà chính trị nói “3# ĐÁ R3
%: R3” (vương giả dĩ dân vi thiên, đân dĩ thực vi thiên), trong
câu này có thể thay rằng thức ăn 14 quan trong nhất đổi với nhân đân
Vi vị trí địa lý rất đăc biệt giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam,
nên trong quả trình giao tiếp văn hoá, chính trí kinh tế, cách ăn cách mặc
hàng ngày của người Ilán và người Việt có nhiễu nét tương đồng Nhưng
do hai đân tộc có truyền thống văn hoá khác nhau nên cách suy nghĩ
cũng có sự khác nhau Nhằm phân tích những điểm giống nhau vả khác
nhau về thành ngữ, tục ngữ nói về cách ăn cach mặc giữa Trung Quốc và Việt Nam, chúng tôi xuất phát từ góc độ đặc điểm cấu trúc và đặc điểm
ngữ nghĩa
Tuy đã có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về thành ngữ và tục
ngữ, nhưng hiện chưa có công trình nào tiến hành so sánh cách ăn cách mic cd hai nude Trung Quốc và Việt Nam trong thánh ngữ, Lục ngữ một
cách hệ thống, nên đây sẽ lả công trình đầu tiên về lĩnh vực này lo vậy.
Trang 9véu ede thanh ngt, tue ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc trong
nghĩ
tiếng Hán và tiếng Việt rất cần thiết Dây chính là lý do tôi chọn dé tai So
sảnh các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn, cách mặc trong tiếng
Han va tiéng Viét
2 Mục tích của để tài
Mu đích nghiên cứu luận văn là so sánh các thành ngữ, tục ngữ
liên quan đến cách ăn, cách mặc trong tiếng Han va tiéng Việt thông qua phân tích những đặc điểm cầu trúc và ngữ nghĩa của chúng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cỏ nhiệm vụ phân tích những đặc điểm giống nhau và khác nhau của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách ăn cách mặc
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thành ngữ, tục ngữ liên
quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Han và tiếng Việt trong các từ
điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả và phương pháp sơ
sánh Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thủ pháp thống kê
6 Tư liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu dựa trên từ điển và các nguồn tư liệu:
- Từ điển thành ngữ Tân Hoa, Nhá xuất bản Thương vụ, 2011
- 'từ điển yết hậu ngữ Tân Hoa, Nhà xuất bản 'Ihương vụ, 2010
Trang 10- Tir dién ngan ngit Tin Hoa, Nha xual bin Thuong vu, 2006
- Từ điến tử ngữ quen dùng lân Hoa, Nhà xuất bản Thương vụ,
” Hồ cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tải liệu tham khảo theo quy
định, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số van dé lý luận có liên quan đến đề tải
Trong chương nảy luận văn trình bảy quan niệm của các nhà Hán
ngữ học và Việt ngữ học về thành ngữ, tục ngữ
Chương 2: Đặc điểm về cầu trúc và phương thức tạo nghĩa của
các thành ngữ, tục ngữ liên quan dến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán và tiếng Việt
Tronp chương nảy luận văn trình bảy hai vẫn để về dặc diễm cấu
trúc và đặc điểm tạo nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ liên quan đến cách
ăn cách mặc trong Liễng Hán và tiếng Việt
Chương 3: So sánh các tục ngữ liên qưan dễn cách ăn cách mặc
Trang 11trong tiếng Ián và tiếng Việt
'lrong chương này, phân tích những đặc điểm giống nhau và khác
nhau về các thành ngữ, tục ngữ của hai thứ tiếng Ilán và tiếng Việt
CHƯƠNGI
MOT 86 VAN DE LY LUAN CO LIEN QUAN DEN DE TAI
Trang 121.1 Về khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán
1.1.1 Cách hiễu thành ngữ trong tống Hán
CRUD RO Rs “CRB MT Taha, eS ea
CHASE.” [13]
( £Từ nguyên} giải thích như sau: “ là cỗ ngữ Tắt cả được lưu hành
trong xã hồi, khả chứng đã biểu thị rõ cái ý nghĩa đều là thành ngữ.”)
(RAE) MERU: “HI AS APTI MER RAS + BRIE AMALGAM OARM, Aa STRMIe.” [14]
( ÊTừ Hải} giải thích như sau: “ Những cỗ ngữ thưởng được người
ta sử dụng hiện nay là thành ngữ Hoặc là xuất phát từ kinh truyện, hoặc
là xuất phát từ ca dao ngan ngữ đa số được truyền khẩu trong xã hội, được người ta biết rõ.)
(aigni) #0 Ps Ate bel 2 iB.” [15]
( €Từ diễn Han ngữ) giải thích như sau: * 1.à những cỗ ngữ thường,
được sử dựng trong xã hội.”)
€Tn thức Hán ngữ hiện dại) giái thích như sau: * Thành ngữ là
những từ tô cố định hình thành lâu dài, cũng có người gọi nó là “lời nói
sẵn' Thành ngữ có hai đặc trưng quan trọng
a) Hàm ý của một thành ngữ thường không phải là ý nghĩa thành
phần tổ chức của nỏ;
b) Kết cầu thành ngữ chặt chẽ, tố chức của nó cố định, không thé
Trang 13thay đổi thành phần tủy y.” [16]
{Hản ngữ hiện dại} giải thích là: “Thành ngữ là những từ tổ cố dinh
hình thành trên cơ sở thực tiễn ngôn ngữ lâu đài, giải thích ý nghĩa thành
ngữ không thể chỉ thông qua phương pháp đơn giản như lý giải mặt
chữ ”
“Nếu không gó yêu cầu đấu biệt, kết sầu thành ngữ không thể thay
đổi tùy ý, các thánh phẩn tố chức cũng không thể thay đổi tự do ” “Chức
năng thành ngữ đương tương với mệt tử, nhưng so với từ thì thành ngữ
thường có sức biểu hiền, cỏ tỉnh hình ảnh.” |17|
Theo quan điểm của Ông Sử Thức, thành ngữ của tiếng Han có thế
giải thích như sau: “ Tất cả được tiếp tục dùng lâu đải trong ngôn ngữ,
được thửa nhận bởi thói quen sử dụng theo quy ước, thường có hình thức
kết cấu và thành phần tổ chức cế định, có ý nghĩa đặc biệt, không thể
nhìn chữ đoán nghĩa, chức năng trong cầu tương dương với dịnh hình từ
tổ hoặc câu ngắn trong một từ, thi gọi là thành ngữ.” [9,tr12]
“Trong ngôn ngữ” là chỉ khấu ngữ Bơi vi đa số thành ngữ được phát triển do tục ngữ truyền miệng trong dân gian Một tục ngữ được sử
đụng trong khẩu ngữ lâu dải, được nhân din chấp nhận, rồi thông qua lựa
chọn, hoàn thiện thành thành ngữ Trong ngôn ngữ viết, quá trình này bao
gồm hai giai đoạn là khẩu ngữ và ngôn ngữ văn tự
“Được tiếp Lục dùng lâu dải”, “lâu đải” nghĩa lả bao lâu? Có thể lá
vai chục năm hoặc vài trăm năm, chỉ cần thành ngữ nảy từ lúc xuất hiện
Trang 14nó được mọi người thường xuyên sứ dụng
“Có hình thức kết câu và thành phần tổ chức cố định”, nghĩa là kết
cấu ngữ pháp cố định nên trật tự từ của thánh ngữ không thể thay đổi tùy
ý Thành ngỡ giống như tử, cũng trên cơ sở được thừa nhận bởi thỏi quen
sử dụng theo quy ước được nhân dân chấp nhận, không nên thay đổi theo
ý mình Cỏ khi chỉ thay đổi một Lừ sẽ làm cho người ta hiểu sai
1.1.2 Nguằn gốc của thành ngữ tẳng Hún
Trước hết ta có thể trả lời như thế này: nguồn gốc chủ yếu của
thành ngữ là tục ngữ cửa miệng Nói một cách đơn giản thi thành ngữ
xuất hiện từ dân gian Dương nhiên, không phải là tất cả thành ngữ đều
xuất hiện từ đân gian, có một số thành ngữ nảy sinh từ sách cỗ Ví đụ “7Í
H.WälL, fffil2A” (Hạng trang vũ kiếm, ý lại bái công)xuất từ {318}
“khikZ1E n3 WIMDNHIUZ2S, 8E,
Trang 15tạo ra Nói một oách đơm giản là xuất từ văn bán Chúng lôi bây giờ phân
biệt nguồn gốc của thành ngữ tỉ mỉ hơn
Nguồn gốc của thành ngữ chủ yếu có hai phương diện rất quan
trong, xuất phát từ “cửa migng” và xuất phát từ văn bản Những tục ngữ
cửa miệng dân gian lưu truyền lâu đài và những tục ngữ mới sản sinh từ hiện đại, trong đó có một số thông qua lựa chọn, đúc kết, hoàn thiện sau mới trở thành thành ngữ trong văn bản, còn có một số vẫn lưu truyền bằng truyền miệng Tục ngữ truyền miệng đân gian là nguồn gốc vô tận
của thành ngữ, từ trước và sau này cũng như vậy Đúc kết thánh ngữ từ
những tục ngữ truyền miệng là nguồn gốc chủ yếu người ta sáng tạo thành ngữ mới, tức là một phía quan Irọng đến Lừ nhân đân
Nguồn gốc của thành ngữ chú yếu còn có một phương diện là xuất phát từ văn bản Phương điện nay bao gồm ba con đường chính cho
ching ta sưu tập thành ngữ:
a) Những câu cú được tống kết hoặc trích lại từ các tác phẩm nỗi
tiếng trong các triều đại trước, thông qua lựa chọn, đúc kết lâu dải thì trở
thánh những thành ngữ cổ được sử dụng đến nay
b) Các tác giá hiện đại thông qua giao lưu văn hoá, thông qua
phiên địch, có thể tiếp nhận một số thành ngữ nước ngoài Nguồn pốc của
thành ngữ nước ngoài chủ yếu có hai loại, thứ nhất là xuất từ tục ngữ cửa
miệng dân gian nước ngoài, thông qua lựa chọn, đúc kết và hoàn thiện đã
trở thành thành ngữ Thứ hai là xuất từ các tác phẩm nước ngoài, thông
Trang 16qua lựa chọn, đúc kết trở thành
c) Những tác giả hiện đại cũng có thế tham khảo các thành ngữ cũ được lưu truyền trong tục ngữ truyền miệng đân gian và văn bản trước,
rồi từ đó sảng tạo thành ngữ mới
Theo nội dung trước, ta có thể biết rõ thành ngữ xuất phát từ
“truyền miệng” và xuất pháp từ văn bản Học Lục ngữ truyền miệng tương
đối đơn giản, không cần phân loại nữa So với nguồn gốc tục ngữ thì nguồn gốc thành ngữ trong văn bản không thống nhất, có thể nghiên cứu
tỉ mĩ hơn Nguồn gốc của thành ngữ trên văn bản, dù cỏ nguễn sốc từ bản
địa hay có nguồn gốc từ nước ngoài cũng có thể được chia thành sáu loại
¢ Trích lại các câu danh ngôn trong tác phẩm của văn nhân
Ý 'Trích lại những tục ngữ cửa miệng dân gian được trích dẫn trong,
tác phẩm của văn nhân
1.2 VỀ khá tục ngữ trong tiếng Hán
1.2.1 Cách hiểu tuc ngit trong tiéng Ldn
'tục ngữ là một hình thức ngôn ngữ só phong cách dân gian và
Trang 17được đông dio quần chúng ưa thích, trong văn học thời trước Tần đã có một số lượng lớn ghi chép Từ những năm bảy mươi của thể kỷ trước, đặc biệt là sau những năm tám mươi, các nhả ngôn ngữ đã bắt đầu coi trọng
sự nghiên cửu tục ngữ, các tác phẩm liên quan cũng ngảy cảng nhiéu hon
Trong từ điền “Từ Hải” xuất bản vào năm 1979, tục ngữ được giải thích
lả: “ Những gu thông Lục thịnh hành trong dân gian và mang tính trễng
địa phương nhất định Chủ yêu chỉ ngạn ngữ, lời nói thô tục và những thánh ngữ truyền miệng thường dùng.”[14]
Theo sự nghiên cửu sầu vẺ tục ngữ, đã xuất hiện rất nhiều dịnh
nghĩa khác nhau về tục ngữ Nói chung, có thể lí giải theo nghĩa rộng và
1í giải theo nghĩa hẹp Xin lấy ba vi dụ sau rất cỏ tính Liêu biểu
a) Chủ trương hai lí giải cùng Lồn tai {Thur lun Lục ngữ dân gian}
của ông Lữ Hồng Niên cho rằng: “ Tục ngữ có thé có lí giải theo nghĩa
rộng và lí giải theo nghĩa hẹp Tục ngỡ lí miải nghĩa rông là chi tat cả câu
cú thông tục được thịnh hành trong dân gian, bao gồm ngạn ngữ, yết hậu ngữ, thành ngữ cửa miệng, cách ngôn, danh ngôn, cụm lừ quen đủng,
câu nói đùa v.v , tục ngữ lí giải theo nghĩa hẹp là chỉ ngạn ngữ, vết hậu
ngữ v.v , và ngoài ngạn ngữ, yết hậu ngữ ra, không bao gồm những từ
tổ định hình xuất từ dân gian.” [4|
b) Cách lí giải theo nghĩa hẹp €ính chất vả phạm vi của tục ngữ}
ga ông Vương Cần cho rằng, Lừ góc độ yêu uầu chuẩn hoá ngôn ngữ thì
cách nói “tục ngữ nghĩa rông ” cỏn thiếu [I8]Vỉ vây, ông Vương Cần chủ
Trang 18trương vứt bỏ thành ngữ, ngan ngữ, yết hậu ngữ và tử ngữ quon dùng
€) Cách lí giải theo nghĩa rộng (Cổ kim tục ngữ} của ông Khuất
Phác cho rằng, * Cái gọi lả tục ngữ nghĩa hẹp, bắt cử lả chỉ ngạn ngữ, từ ngữ quen dùng hay là lời nói thê tục, đều không thể phản ánh được toàn
bộ tỉnh hình của khái niệm tổng, thể và hình thái dã dược hình thành trong
lịch sử Hán ngữ”; chỉ có những tục ngữ nghĩa rộng thông thường, tức là
“tụo ngữ Hán ngữ là chỉ những từ tổ định hình hoá hoặc là hưởng về định
hình hoá, bao gồm thảnh ngữ cửa miệng, ngan ngũ, cách ngôn, yết hậu
ngữ, cụm từ quen dùng và lời nói thô tục, chủng mới là nội dung cơ bản
của khái niệm tổng thể và bộ phận chủ thể hình thái ngữ thể cúa tục ngữ
Hân ngữ ” [6,tr16,17JNén quan hé gitta tục ngữ và thành ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, yết hậu ngữ, từ ngữ quơn dùng, lời nói thô Lục là “quan hệ
Trang 19tính chất và chức năng của “ngữ” tương đương với một từ Rất nhiều học
giả chấp nhân cách nói này và cách nói này được viết vào tải liêu giảng
đạy, hình như đã thành định luận Nhưng có học giả nêu thắc mắc, họ cho
rằng tuy “ngữ” và “từ” có điểm chung, vỉ du đều là don vị ngôn ngữ,
nhưng điễm không thống nhất giữa “ngữ” và “tù” mới quan trọng hơn
Có thể tổng kết có bốn điểm không thống nhất
a “Ngữ” là sự té hop của từ và từ, nó lớn hơn đơn vị ngồn ngữ của từ;
b “Ngữ” là đơn vị ngôn ngữ mang tỉnh tự thuật ma không phải là
mang tỉnh khái niệm,
ơ Tính cố định kết cấu cua “ngữ” mang tính chất Lương đổi;
d Nói về góc đô ngữ pháp thì chức năng của “ngữ” nhiều hơn
tg
Nên chúng ta có thể định nghĩa “ngữ” là dơn vị ngôn ngữ có tính
tự thuật hình thành do sự tổ hợp từ và từ, kết cầu tương đối cổ định, là đơn vị ngôn ngữ tỉnh tự thuật mang nhiều chức năng
"thứ hai, phải làm rõ “ngữ” là một hệ thông Ông Vương l.ựe nói
“ Tính hệ thống ngữ âm vả ngữ pháp của một loại ngôn ngữ đều rất dễ
hiểu, nhưng chỉ có tính hệ thông của từ vựng thường bị người ta coi nhẹ,
người ta nghĩ là mỗi một từ trong tử vựng rời rạc như cát vụn, thực Ta từ
và tử có liên hệ mật thiết.”|11,tr545| “Ngữ” cũng không phải rời rạc như
cát tụn, ngữ và ngữ cỏn có liên hệ chặt chẽ, từ vựng cũng có tính hệ
Trang 20thông,
'Thứ ba, tục ngữ phải phân biệt rõ “nhã” vả “tục”, Trong văn hiến có thể biết, “ngữ ở thời trước Tần đa số là tục
ngữ Trước “ngữ” thường thêm “bï”(#ð), “dã"ŒŸ), “l/"ŒH, f) v.v Điều
này có thé cho rằng “ngữ” mang tính dân gian Nhưng mà từ vựng là một
hệ thống, tỉnh hình nội bộ không đơn giản
"rong hệ thông từ vụng, ngoài tục ngữ ra cỏn có “nhã ngũ” Nhã
ngữ đều tập trung trong thành ngữ, đặc trưng chủ yếu là xuất phát từ hệ
thống văn bản, cấu trúc nhã ngữ da số là thành phan văn ngôn
Ngoài nhã ngữ ra, các thành viên khác trong hệ thông từ vựng đều
là Lục ngữ Tục ngữ không những mang đặc điểm của ngữ (ví dụ tụe ngữ
là sự tập hợp của tử và từ, kết cấu tương đối cố định, là đơn vị ngôn ngữ tính tự thuật mang nhiều chức năng) ra, còn có hai đặc điểm sau:
Thứ nhất, tục nạữ là đo quần chúng nhân đân sáng tạo ra, có tính
quan ching;
Thứ hai, tục ngữ chú yếu sử dùng trong dân gian, có tính khẩu
ngữ và tính thông tục
Thông qua phân tích những vấn để trên, ching ta cd thể định
nghĩa tục ngữ là những dơn vị trong từ vựng Hán ngữ do quần chủng
nhân dân sảng tạo, sử đụng và lưu truyền trong dân gian, mang tỉnh khẩu ngữ vả lính (hồng Lục
“theo định nghĩa này, tục ngữ trước hết phải bao gầm ngan ngữ.
Trang 21Ong Lu Thúc Tương cho rằng ngạn ngữ là “uục ngữ điển hình”|5| Quan
điểm này rất hợp với quan niệm truyền thống của nhân dân rung Quốc,
cũng hợp với thực tế của Lián ngữ từ cổ chí kim
Ngoài ngạn ngữ ra, tục ngữ phải bao gồm yết hậu ngữ vả từ npữ
quen dùng, còn những thành ngữ của miệng, tức là tục thảnh ngữ VI tục
thành ngữ và nhã thành ngữ có tính chặt chế về mặt kết cấu, oó tỉnh mơ
hỗ về mặt giới han, da số tác phẩm va wr dién nghiên cứu thành ngữ đều
đã liên quan tới tục thành ngữ và nhã thành ngữ, nên khi thảo luận về vấn
để tục ngữ thì không bao gằm tục thành ngữ
1.3.3 Phân loại tạc ngit tiéng Han
Như đã kể trên, tục ngữ phải bao gầm ngạn ngữ, cụm Lừ quen dùng
và yết hậu ngữ Ö đây, chúng ta cé thé định nghĩa ngan ngữ, cụm từ quen
dung va yết hậu ngữ trước
Nói một cách khái quát, naan ngữ là kết quá kinh nghiệm thực tế
của con người, thường được biểu hiện qua những từ ngữ tất đẹp, có thể
sử dụng trong đời sống hảng ngảy, là những ngữ ngôn có thể quy định
hành vi của con người Cụm từ quen dùng là một loại từ tế cố định
thường được sử dụng trong cuộc sống, cách thức thường là cố định ba âm
tiết, nhưng có kết cầu linh hoạt vả mang mẫu sắc tu từ mạnh mẽ Yết hậu
ngữ là một loại hình thức ngôn ngữ đặc biệt mà xuất phát tử thực tiễn
trong đời sống nhân dân Trung Quốc, nó thú vị, ngắn gọn và giảu hình
ảnh Yết hậu ngữ do hai bộ phận cấu thành, bộ phận trước có tác dụng
Trang 22“dẫn dat", giéng như ra câu đố, bộ phận sau thỉ lá lời giải sâu đố, nên trong đời sông hàng ngày người ta rất thích nói yết hậu ngữ
Tục ngữ bao gỗm ngạn ngữ, cụm từ quen dùng và yết hậu ngữ đã
dẦn dẫn trở thành nhận thức chung của người ta Vẫn để trước mắt là
phân loại tục ngữ có thể sử dụng tiêu chuẩn gì, phải xác định phạm vi của
các ngữ loại, phãi làm rõ biên giới cúa các ngữ loại
Khi thảo luận về tính chất của ngữ, chúng tôi nhắn mạnh ngữ lả đơm vị ngôn ngữ tự thuật Tính tự thuật là đặc trưng chủ yếu đề khác biệt
ngữ và những đơn vị ngôn ngữ đã dịnh hình như từ, chuyên đanh ngữ,
chuyên đùng ngữ Khi phân loại tục ngữ phải chú ý đặc trưng này Lay
nội dung vả phương thức tự thuật làm tiêu chuẩn, tục ngữ có thể chia
thánh ba loại sau
(1) Biểu thuật ngữ
Đặc diểm của biển thuật ngữ là có tính trì thức, nội dung rất
phong phú, vừa có nhận thức của sự vật khách quan, vừa có kinh nghiệm thực tiễn trong xã hội Ngạn ngữ thuộc về biểu thuật ngữ Phương thức
trình bày của biểu thuật ngữ rất đa dạng Có thể lả trực trần, có thể là tỉ
đụ Bất cứ sử dụng phương thức gì, biểu thuật ngữ dau thông qua nhận
định hoặc là suy lí để thể hiện nhận thức tư tưởng Ví dụ: 104?
2 J#(Không có gạo, tuy vợ khéo tay cũng không thể nấu được cơm)
(2) Miễu lá ngữ
Đặc điểm của miêu tá ngữ là miêu tả hình tượng và tình trạng con
Trang 23người hoặc sự vật, muỗu tả tỉnh trạng của hành vi động tác Tử ngữ quen
dùng thuộc về miều tả ngữ Miiễu tả ngữ cũng sử dụng thủ pháp trực trần
mở rộng và tỉ dụ Nhưng so với biểu thuật ngữ thì tắt cả miêu tả ngữ đều
không đủ tính trí thức vả không sử dụng phương thức tư đuy lôpíc như
nhận định, suy lí Ví dụ: ‡J ##(Dược bữa sướng miệng)
(3) Viện dẫn ngữ
Dặc điểm của viên dẫn ngữ là nó được tổ chức bởi hai bộ phận
mào đầu và tự thuật mang tính chú thích Viện dẫn ngữ thường được gọi
là yết hậu ngữ ví dụ: ELSEZ#JE—— T77 PHÍ(Người dâm ăn quả
hoàng liên khé nhưng không nói ra được.)
Chúng tôi chia tục ngữ thành ba loại “biểu thuật ngữ——ngạn
ngữ”, “miêu tắ ngữ ——cựm tử quen dùng” và viện đẫn ngữ——yết hậu
ngữ", đây là phân loại tầng thứ nhất của tục ngữ Các ngữ loại cũng có
thể phân loại nữa, và cầu thành hệ thống phân loại của tục ngữ Phản loại
tục ngữ theo nhiễu góc độ khác, còn có thể phá vỡ giới hạn giữa ngạn
ngữ, lừ ngữ quen dùng và yết hậu ngữ, chẳng hạn cé thé phan loai theo
ngữ nghĩa
1.3 Về khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt
1.3.1 Cách hiểu thành ngữ trong Hồng Liệt
Thanh ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của một ngôn
ngữ Tiếng Việt có một khối lượng thánh ngữ rất lớn, phong phú và da
Trang 24dạng Cùng phát triển với tiếng nói dân tộc, thành ngữ dẫn dẫn hình thành, được nhân dân sử dụng như một công cu giao tiếp chung Phát triển thành ngữ là một trong những cách tốt để bễ sung cho vốn từ Thành
ngữ đã sóp phần lam giau, lam dep cho tiếng Việt về nhiều phương điền
Mặt khác, đo được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu đãi của
nhân đân Việt Nam, thành ngữ lại là những cụm từ gỗ định, hay những
ngữ cố định, có nội dung ngữ nghĩa sâu rồng, nên nó cũng giữ được nhiều
khái niệm thuộc về truyền thống Những khái niệm này đã phản ánh nhiều mặt tr thức về giới tự nhiên và dời sống xã hội của các thời đại đã
sẵn sinh ra nó trên đất nước Việt Nam
Trước Cách mạng tháng Tam, những sách sưu tập Lục ngữ, ca đạo đều sắp xếp lẫn lôn tục ngữ và thành ngữ Vũ Ngọc Phan chỉ ra: * hành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là bộ phận của câu mà nhiều người đã
quen đúng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn Về mặt hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một
câu hoản chính ”|18,tr21| và “Nội dung của thành ngữ là nội dung của
những khái niệm”
Nguyễn Lực chỉ ra ba đặc tính của thành ngữ tiếng Việt:
a) VỀ mặt kết cầu hình thái, thành ngữ tiếng Việt phổ biển thuộc
loại cụm từ cễ định, cũng có thể có thành ngữ tính cé định cao, kết cầu
vững chắc, đạt mức một ngữ cố định
b.) Ngoài kết cấu hình thai, con cần phải xem về mặt biểu hiện
Trang 25chính, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng
ngày, đặc biết là trong khẩu ngit.[10,tr 31]
Tính cố định về hình thái — cấu trúc của thành ngữ được thế hiện ở những đặc diểm sau
Một là, thành phần từ vựng của thành ngữ, nói chung là ổn định,
nghĩa lả, gác yếu tổ tạo nên thành ngữ hằu như được giữ nguyên trong sử
dụng, mà trong nhiều trường hợp không thé thay thể bằng các yếu tố khác Ilai là, tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở sự cố
định về trật tự các thành tổ tạo nên thành ngữ
Tính bền vững về hình thái cầu trúc của thành ngữ có nhiều nguyên nhân khác nhau:
a Có thể đỏ là hệ quả của qua trình mờ nhạt về ngữ nghĩa của các
thành tố và những mối quan hệ ngữ pháp giữa chúng Các yếu tố này mat
đi mỗi liên hệ ngữ nghĩa với các yếu tố xung quanh, do dó ít nảy sinh
quan hệ thay thé
b Cé thé do die diém nguén géc cua thanh ngi từ truyện cỗ tích, truyền thuyết, điển cổ sách vở.
Trang 266 Có thể do tính vần điệu, tiết tấu, quan hệ đối, điệp
d Tính thoá đáng về biểu thị
e Tính không bình, thường về cú pháp
Tỉnh ồn định, cố dinh về thánh phần tử vựng và cấu trúc của thành
ngữ hình thành lả do thói quen sử dụng của người bản ngữ Dạng ổn định
của thành ngữ là đạng chuẩn, mang tính xã hội cao Cái đạng chuẩn nảy
cúa thành ngữ không phải lả “chết cứng”, mả trong sử dụng, nó vẫn linh hoạt Nói là chuẩn nghĩa là có sự bắt buộc, có tính quy định của xã hội
nhưng không vi thé ma han ché sự sáng tạo của cá nhân, đặc biết là của
những cây bút tài năng Tính bền vững của thành ngữ trong hệ thông
chuẩn và tính lĩnh hoại oũa nỏ trong sử dụng là hai mặt không hề mâu
thuẫn, không hễ loại trừ nhau
Đặc trưng nỗi bật thứ hai của thành ngữ là tính hoàn chỉnh và bóng
bay
zẻ nghĩa Nó biểu thị những khái niêm hoặc hiểu tượng trọn ven về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói một cách khác, thành ngữ là
những đơn vị định đanh của ngôn ngữ Nội dung của thành ngữ không
hướng tới điều được nhắc đến trong nghĩa đen của các tử ngữ tạo nên
thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đô suy ra từ chúng
1.3.2 Nguồn gắc của thành ngữ tiếng Liệt
Giống như các từ trong ngôn ngữ, thành ngữ là những đơn vị có
sẵn, xuất hiện dần dẫn từ nhiều nguẫn, vào nhiễu thời điểm khác nhau và
Trang 27được sử dựng rộng rãi, tự nhiền trong đời sống xã hội Cáo kết quả nghiên
cứu đã xác nhận ring các yêu tổ tạo nên thành ngữ vốn là những từ độc lập, tức những đơn vị định danh có nghĩa từ vựng và chức năng cú pháp
én định Nhưng trong hệ thống thánh ngữ của mỗi ngôn ngữ cũng có
những thảnh ngữ, xét trên qua điểm đương đại, không đễ đảng nhận biết
được ý nghĩa của cáo yếu tố; do đó, việo suy xót nghĩa thành ngữ cũng
như việc tìm kiếm nguôn gốc của nó trở nên khó khăn hơn
Quan hệ giữa các yếu tế trong thành ngữ, xét về cú pháp, âm vận
và ngữ nghĩa nói chung là rõ ràng, có quy luật Song cũng có khá nhiều
trường hợp, các yêu 16 cấu tạo thành ngữ kết hợp với nhau không theo
luật thường mà thoo lỗi mói tắt, nói gộp hoặc theo cách kết hợp, cách so
sánh lạ, bất ngờ khiến cho việc nhận biết nội dung toàn thành ngữ và việc
tìm kiếm xuất xứ của nó trở nên rất khó khăn
Ngoài ra, việc tồn tại các biến thể thành ngữ biểu đạt củng một ý
nghĩa hay biểu đạt các ý nghĩa, các sắc thái nghĩa khác nhau, cũng gây khó khăn đáng kể cho việc luận giải nghĩa (hành ngữ vả truy tìm xuất xứ
của nẻ
Nhưng nhờ vào khảo sát những trường hợp ph biển, có quy luật
về ngữ nghĩa, cấu tạo của thành ngữ của các ngôn ngữ khác nhau, người
ta cũng phát hiện ra được những nguồn chủ yếu, phd biến, tạo nên hệ thống thánh ngữ của một ngôn ngữ Có mấy con đường hình thành hệ
thống thành ngữ của tiếng Việt như sau:
Trang 28
Sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác
nhau
"Trong tiếng Việt, thành ngữ vay mượn nước ngoài chủ yếu là các
thành ngữ gốc Hán được đọc theo âm Hán Việt Những thành ngữ này khi
mượn vào tiếng Việt, có thế được giữ nguyên hình thái ngữ nghĩa, địch
từng chữ(một phần hoặc tất cả các yếu tố), hoặc dịch nghĩa chung của
thánh ngữ, có thay đối trật tự các yếu tố cấu tạo
Những thành ngữ mượn được sử dụng trong hình thức nguyên
dang chiém tỉ lệ khả lớn so với toán bộ thành ngữ gốc Hản trong tiếng Việt Theo thống kê, trong tống số 354 thành ngữ mượn từ Hểng Hán
trong tiếng Việt, có 71 thành ngữ giữ nguyên dạng, chiếm khoảng 20%
[104r 45]
TIầu hết thành ngữ gốc lIán đều được mượn từ tiếng Ilan Bach
thoai Song , do qua trinh tiếp xúc trực tiếp giởa người Việt với dân cư
Trung Quốc là người Quảng Dông, Quảng Tây, trong tiếng Việt xuất hiện
một ít thành ngữ mượn nguyên đạng nhưng được đọc theo ãäm Quảng
ông
Thành ngữ gốc Ilan muon nguyén dang chi yếu ding trong van
viết và mang tinh chất sách vớ rõ rệt Chúng ta có thể tìm thấy các thành
ngữ nảy trong các tác phẩm văn học cổ, trong văn phong chính luận trước
và nay Xin dẫn một ví dụ trong bài viết cua Hd Chi Minh: “Việt Nam ta
có câu tục ngữ có đực mới vực được đạn, 'ITung Quốc cũng có cầu tục
Trang 29ngữ dân dã thực vị tiện.”
‘Thanh ngữ mượn Hán được dùng trong hình thức dịch một bộ
phận ra tiếng Việt, giữ nguyên bộ phận còn lại và câu trúc thành ngữ gốc
Ví dụ, dịch yếu tổ hữu thành có trong thành ngữ hữu thủy hữu chứng Tao
thành một hình thức mới có thú? cô chung
Thánh ngữ mượn từ kiếng Hán được dùng trong hình thức dịch
toàn bộ các yêu tế ra tiếng Việt tương đương và giữ nguyên cấu trúc Ví du: ra sống ào chết dịch từ xuất sinh nhập từ, cưỡi ngựa xem hoa dich
từ tấu mã khán hoa, dừng ngôi không yên dịch từ toa lập bắt án
Thanh ngt muon được đùng trong hình thức dịch nghĩa chung của
thánh ngữ ra tiếng Viết Ví dụ, miệng ăn múi lớ được địch từ toạ thực sơn
bằng, đủ ăn đủ mặc được dịch từ phong v lúc thực
Cả bến tiểu loại này đều có biến thể đồng nghĩa trong sử dụng
theo cặp nguyễn đạng — dịch (từng chữ, dịch ý) Ví dụ, chúng ta déu pap
trong văn bản các hình thức như trdm trận trăm thẳng và bách chiến bách
thắng hoặc có chung có (huỷ bữn cạnh có trước có sau Điều này khiến
cho thành ngữ gốc Hán có được giả trị sử dụng đặc biệt linh hoạt, dễ
thích hợp với các hoan cảnh giao tiếp khác nhau Ngoài thành ngữ gốc
Hán, trong tiếng Việt còn có một số thành ngữ dược mượn từ ngôn ngữ
của các dân tộc anh em, hoặc từ các ngồn ngữ Ăn, Âu, Anh, My nhung
số lượng không đáng kế
Hộ phân chủ yếu của hệ thắng thành ngữ tiếng Việt là những đơn
Trang 30vi duoc cau tạo từ chất liệu Việt ngữ bằng ba con đường sau đây: định
danh hoá các tổ hợp từ tự do, tao thành ngữ mới theo mẫu của thành ngữ
đã có trước và liên kết các thành ngữ có nguồn gốc khác nhau tạo thành
một thành ngữ có nguẫn gốc khác nhau tạo thành một thành ngữ mới
Trong số các phương thúc trên, phương thức biến tổ hợp tự do thành
thành ngữ và phương thức loại suy theo mẫu có sẵn giữ vai trỏ quan trọng
hàng đầu
Định đanh hoá các tổ hợp tử tự do thành một cụm từ cá định, có
tinh dn định về thành phần, chặt chẽ về cầu trúc, chỉnh thể về ngữ nghĩa
Diễm khác nhau chủ yếu giữa tô hợp từ tự đo và thành ngữ là ở chỗ, các
yếu tố cầu tạo nên chúng mang những thuộc tính khác nhau Nói một
cách khái quát, tổ hợp từ tự do không có ý nghĩa từ vựng vì không phải là
đơn vị của hệ thống Tử vựng ngôn ngữ Ngược lại, trong thành ngữ, các
yếu tổ cầu tạo tuy vốn cỏ nguồn gốc là tử, nhưng các thuộc tỉnh của tử (như có ý nghĩa từ vựng, có chức năng củ pháp) đã nhược hoá hoàn toan
Ổ đây, ý nghĩa từ vựng của các yếu tố đã tan biến đi, thay vì nó lả
ý nghĩa quan hệ biểu trưng bậc hai; quan hệ cú pháp giữa các yếu tổ bị
đứt gãy, mờ nhạt, thay vào đó là các mối liên hệ nội tại giữa các yếu tố
bên trong một chỉnh thể
Từ tố hợp từ tự đo đến thành ngữ lả quá trình chuyển từ quan hệ
cú pháp thành quan hệ hình thái Hệ quá của quá trình nảy là hiện tượng
cố định hoá thành phần và cấu trúc của tổ hợp tự do, hiện tượng nhược
Trang 31hoá ngữ nghĩa của các thành tố từ nghĩa đơn, nghĩa sự vật — từ vựng đến nghĩa bóng, nghĩa liên đới, khái quát và hiện tượng nảy sinh nghĩa từ
vựng mới có tính biểu trưng, vốn không có trong các thánh tố của nó
trong tổ hợp từ tự đo — tiền thần của thành ngữ
Thông qua phân tích quan điểm giao tiếp ngôn ngữ, nguyên nhân
của việc chuyển từ tổ hợp tự do thành thành ngữ chính là nhu cầu về sự
phản ánh một cách cô đọng hình ảnh các khái niệm vén đã có cái biểu đạt trước đó trong ngôn ngữ
Thể biến hơn cả là những thành ngữ xuất hiện bằng con đường mô
phỏng theo mẫu cấu trúc của các thành ngữ đã có trước Ưu thế của
phương thức này là cho phép tạo ra một oách đễ đảng, nhanh chồng và
hang loạt các thành ngữ có thành ngữ tính cao trong thời hạn ngắn Nói
cách khác, phương thức này cho phép tạo ra được các đơn vị thành ngữ
tính không cần qua thời gian sử đụng lầu dải như phương thức thành ngữ
hoá từ tố nói trên
1.4 Về khái niệm Lục ngữ trong tiếng Vist
1.4.1 Cách hiểu cha tạc ngữ trong tiếng Liệt
Tục ngữ là những cầu nói hoản chỉnh, đúc kết kinh nghiêm của
nhân din về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội
Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian" 'Trí khôn đó rất phong phú mả cũng rất đa dạng nhưng lai được diễn dat
Trang 32bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, đỗ nhớ, giảu hình ánh và nhịp điệu Có
thé coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vân
dung trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn
như lởi ăn tiếng nói và khuyến răn
Với các đặc thủ như ngắn gọn, đễ nhớ, giàu hình tượng, giảu nhịp
điều, gần gũi với mọi người mà tục ngữ là một loại hình văn hóa dân gian
có mối quan hệ mật thiết nhất với lời ăn tiếng nói của nhần dân
Về nội dưng, Lục ngữ là những nhận định sau những kinh nghiệm
của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đỉnh, xã hội
Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua
nhiều thể hệ
Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sắn
xuất và đầu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác Nó được tách ra tử tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác
phẩm văn học bằng con dường dan gian hỏa những lời hay ý dẹp hoặc từ
Sự vay mượn nước ngoài
Giữa hình thức vả nội dung, tụo ngữ só sự gắn bó chặt chẽ, một câu
tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng Tục ngữ có tỉnh
chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thế thành những phương
châm, chân lý Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn dược xây
đựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ấn dụ
Trang 33Ta số gác câu Lue ngit déu v6 van, gdm 2 loar: van lién va van cach Các kiểu ngắt nhịp thường dựa vào cơ sở: trên yếu tố vần, trên cơ sở về, trên cơ sở đổi ý, theo tế chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tổ tạo
sự cân dối, nhịp nháng, kiến trúc vững chắc chơ tục ngữ Hình thức dối
đổi thanh, đối ý Thưởng thường tục ngữ có thể có 1 về, chửa 1 phản đoán, nhưng dũng oỏ thể gồm nhiều về, chữa nhiều phán đoán
Qua các tài liệu sảng tác văn học ở Việt Nam, trong tình hình thư tịch như hiện nay, cho phép khẳng định các công trình nghiên cứu về tục
ngữ dã bắt dầu xuất hiện ở khoảng dầu thể kỷ XTX, được biên soạn bằng
cả chữ Nôm vả chữ quốc ngữ Diễn hinh là các công trinh bằng chữ Ném
như “Nam phong nữ ngạn thì” của Ngô Đình Thái (thế kỷ 19), “Đại nam
quốc túy ” của Ngỗ Giáp Lâu Ghế kỹ 19), và một số tác phẩm khuyết
đanh như “Khẩu sử kỷ”, “Phong ngôn tục ngữ”, Các công trình bằng chữ quốc ngữ thì rất phong phú: “Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn” của Huỳnh
Tịnh Của (xuất bản năm 1897), “Sách truyện biến ngôn vả tục ngữ
thường dùng củng phép lịch sự” (khuyết danh, năm 1907), “Nam ngạn chính cắm” của Pham Quang 8an (2 tập, năm 1918) “luc ngữ cách ngôn” của llân Thái Dương (năm 1920), “Phong đao, ca dao, phương
ngôn, tục ngữ ” của Nguyễn Văn Chiểu (năm 1936), Đây mới chỉ lả các
công trình đã được đăng lên báo chí, còn trên thực tế thi sô lượng các
còn nhiều hơn
ông trình nghiên oứu về Lục ngữ oó thể
Công trình sưu tập tục ngữ công phu nhất, có nội đưng phong phú
Trang 34nhất trong thời kỳ này phái kể đến “Tục ngữ phong đao” của Nguyễn Văn
Ngọc, xuất bản lần đầu năm 1928 Riểng tập 1 của bộ sách nảy đã giới
thiệu khoảng 6500 câu tục ngữ và thành ngữ, cho tới hiện nay ở Việt Nam
no van được coi là một trong những công trình sưu tập tục ngữ Việt Nam
có qui mô lớn nhất
Sau Cách mạng tháng 8 nằm 1945, có thêm một số các tác phẩm
sưu tập, biển soan tạc ngữ có qui mô như tác phẩm của Nguyễn Văn
Ngọc, như “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan được xuất
ban lần đầu năm 1956, sau dỏ bộ sách này dược dỗi tên là “ Tục ngữ, ca
dao, dân ca Việt Kam" vào năm 1971 ở lần in thứ 7, có sửa chữa và bổ
sung, một tác phẩm đỗ sộ khác là “ Hợp tuyển văn học Việt Nam” tập 1
được xuất bản năm 1972, tác phẩm này đã tuyến chọn giới thiêu 365 cầu
tục ngỮ, v.v
Những cách hiểu về tục ngữ và con số thống kê trên đây đã được
ông Chu Xuân Diên trình bây trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam” Chúng tôi
hoàn toản déng ý cách hiểu về tục ngữ như vậy, vì cách hiểu này có thé
để hiểu hơn với người nước ngoai Chung tôi coi đây là cơ sở lý thuyết để
nghiên cứu để Lài của luận văn
1.4.2 Phân biệt tục ngữ và thành ngũ trong tiếng Liệt
Tất cả các công trình sưu tập trên đã dóng góp vao việc bảo tồn vả
giới thiệu được một phần quan trọng vốn tục ngữ cỗ truyển của đân tộc
Trang 35Việt Nam Trước tiên quan sát phương pháp biên soạn của áo công trình
này sẽ thấy, hầu hết các tác phẩm giới thiêu trên đây déu không giới thiệu
riêng biệt giữa tục ngữ và ca dao, thành ngữ, đặc biệt là không phân biệt
với thành ngỡ Tục ngữ vả thành ngữ ít khi dược người †a xem xét một
cách rạch ròi như là hai loại hình sáng tạo dân gian khác nhau, thể hiện rõ
nét nhất là phần đông đều quan niệm răng Tục ngữ và Thành ngữ đều là nhũng hiện tượng ngôn ngũ
Quan niệm mơ hỗ, coi tục ngữ cũng như thành ngữ đều là những
hiện tượng ngôn ngữ như vậy có liên quan tới khuynh hướng chọn cách
trình bày tục ngữ theo những tiêu chí hoàn toàn có tính chất hình thức Dó
14 cach trình bảy Lục ngữ theo trật tự ABC của oác chữ cái dau cfu va theo
trật tự số chữ ít nhiều của mỗi câu Những người biên soan tục ngữ sau đó
nhận thấy rằng cách trình bày theo những tiêu chỉ hoàn toàn có tính chất
hình thức chưa phần ánh được bản chất của tục ngữ; do đó một số người
đã tim dén với cách trình bảy tục ngữ theo những tiêu chỉ nội đung, theo
để tải của lục ngữ Cách trình bảy này ngày cảng được các nha suu Lip, biên soạn tục ngữ Việt Nam áp dụng rộng rãi, chứng tô tục ngữ ngày càng
được xem như là một hiện tượng ý thức xã hội chứ không phải chỉ như là
một hiện tượng ngôn ngữ Một số ví dụ diễn hình như “Tục ngữ ca đao
dân ca” của Vũ Ngọc Phan, “Ca đao, ngạn ngữ Hà Nội” của Triệu Dương,
Pham Héa, Tao Trang, Chu Ha
Trong qua trinh di tim sw khdc nhau gitta tuc ngit va thanh ngty, thi
Trang 36ý kiến của Dương Quảng Hàm trong sách Việt Nam văn học sử yêu (xuấL
bản lần đầu năm 1943) là một trong những ý kién được chú ý ông viết
“Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn
hoặc chỉ bảo điều gì: còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện
ding mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gi cho có màu mè”
|8,15, với gách nói nảy thỉ thấy bộc lộ ra tục ngữ được goi là một hiện
tượng ý thức xã hội mà thành ngữ chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ
Nhưng Vũ Ngọc Phan vẫn nhận xét rằng định nghĩa như vậy cũng vẫn
chưa được rõ lắm, vì chưa dề ra được các tiêu chí cụ thể dễ phân biệt tục
ngữ với thành ngữ Sau đó, trong sách Tực ngữ, ca đao, đân ca Liệt Nam,
Vũ Ngọc Phan đã viết như sau “Tục ngữ là một câu Lự nó diễn trọn ven một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phan Cén thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu,
má nhiều người đã quen đủng, nhưng tự riêng nỏ không diễn được một ý trọn vẹn” [18, tr31] Ở đây rõ ràng sự phân biệt tục ngữ với thành ngữ
được dựa trên hai tiêu chỉ lả: Sự khác nhau trong nội dưng và kết sấu ngữ
pháp của tục ngữ và thành ngữ
Trong cách nhin của ngữ nghĩa học, thì tục ngữ không chỉ là cầu
theo cách hiểu thông thưởng và nội dung của nó cũng không phải chỉ là
phán đoán Có thế nhận định tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật Khi nói tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật, là cùng một lúc chúng ta đã chú ý đến hai đặc trưng bản chất, không tách rời nhau của nó:
Trang 37Một lá, tục ngữ là câu, nhưng là loại câu đặc biệt, khác với mọi dầu
nói thông thưởng ở từ cách của nó là làm thông điệp nghệ thuật
THai là, tục ngữ là thông điệp nghệ thuật, nhưng là loại thông điệp
nghệ thuật đặc biệt, khác với mợi thông điệp nghệ thuật khác ở chỗ hình
thức của nó chỉ là một câu
Từ hai đặc trưng bản chất này, có thể thấy tục ngữ là chính thể có
cấu trúc đa diễn Nên không thé chi thấy mặt nảy mà không thấy mặt kia
trong cấu tạo của nó
Tục ngữ cũng như ca dao, “rất hay mà lại ngắn” (Hồ Chí Minh,
1960, tr.698), lời t mả ý nhiều, giản đị mà sâu sắc, cá biệt mà điển hinh Mỗi Lục ngữ là một thông điệp nghệ thuật Vĩ thế, muễn tiếp cận Lục ngữ một cách có hiệu quả thì không thể không tính đến những đặc trưng bản
chất của nó
Xem vậy di thấy thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét rương
đồng có thể chuyển hoá lẫn nhau, những về bản chất là khác nhau, xét cả
về hình thái câu trúc oũng như về mặt ngữ nghĩa, nội dung biểu đạt và chức năng của chúng trong giao tiến xã hội
Trong cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận với việc nghiên cứu
không gian, thời gian Hữu Đạt chí rằng: “con người cũng như bắt cứ sự
vật, hiện tượng nào tổn tại trong thể giới đều liên quan chặt chế với
không gian, thời gian Nói cach khác, không có sự vật hiện tượng nao lai
tôn tại bên ngoài không gian, thời gian ” [6,tr 12] Nên nghiền cứu thành
Trang 38ngữ, tụo ngữ bằng phương pháp của ngôn ngữ học tri nhận sẽ giúp chúng
tôi nhìn thấy mỗi quan hệ bên trong giữa mô hình nhận thức của tư duy
với câu trúc ngôn ngữ Chẳng hạn, để tạo ra một loạt các thành ngữ, tục
ngữ liên quan dến “văn hóa ăn”, “văn hỏa mặc”, người Việt trước hết
nhận thức “ăn như thế nào?” và “mặc như thế nào?” Trả lời cho các câu
hỏi này, ăn và mặc sẽ hướng đến các nghĩa: sướng/khổ, nhiềuÃU,
đep/xâu [6,tr 29]
Thành ngữ, tục ngữ giữa hai nước có rất nhiều điểm giống và khác
nhau Nhưng trong phạm vi của luận văn, tôi xin phân tích và so sánh các
câu thành ngữ, tục ngữ có chủ đề về cách ăn cách mặc trong tiếng Hán và
tiếng Việt
CIIVONG IL
ĐẶC ĐIÊM VẺ CẤU TRÚC VÀ PHƯƠNG THỨC TẠO NGHĨA.
Trang 39CỦA CÁC THIẢNII NGỮ, TỤC NGỮ LIEN QUAN BEN CACII AN
CACH MAC TRONG TIENG HAN VA TIENG VIỆT
2.1 Đặc điểm về cầu trúc các thành ngũ liên quan đến cách ăn cách mặc trong tiếng Hán
Trong thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ bốn âm tiết chiếm một số lượng lớn vì vậy chúng tôi sẽ trình bảy một số khái niêm liên quan đến
thành ngữ bến âm tiết trước
3.1.1 Khải niệm về thành ngũ bản âm tiết trong tông Liên
Trong thành ngữ tiếng Hán, thành ngữ bến âm tiết chiếm tỷ lệ khá lớn nên có nhiều người hiểu sai khái niệm này Họ cho rằng thành ngữ
phải có bốn âm tiết 1rên thực tế thành ngữ cũng cỏ thể có ba âm tiết,
năm âm tiết, sáu âm tiết, tám âm tiết và mười sáu âm tiết Ví dụ: R; ĐI
3 ( dân dĩ thực vi thiên), ®@ AIRHB2 (chẳng ăn thức ăn chín trên
trần thể), ‡M##‡H,, ZGBTR]4b ( chỉ biết ăn cả ngày không dị làm gì cả)
WN
Vì sao thành ngữ bến âm tiết có thể chiếm phần lớn và thành ngữ bổn âm tiết hình thành như thể nào? Theo ý tôi có ba lý đo sau đây:
a Thành ngữ chủ yếu xuất xứ từ ca đao, ngan ngữ Ca dao, ngan
ngữ được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu, và có rất nhiều ca đao,
ngạn ngữ có cầu tạo bồn âm liếL
b Thành ngữ còn xuất phát từ tác phẩm văn học, trong tiếng Hán
Trang 40oỗ có nhiều lử đơn am Van nhân chủ yếu sử dụng từ đơn âm, thông qua
suy nghĩ tỉ mỉ sáng tao ra những câu ngắn bổn chữ, rồi dần dần trở thành thành ngữ
c Trong xã hội phong kiến, rất nhiều thành ngữ phi bốn chữ dược
hoàn thiện thành thành ngữ bôn chữ
3.1.2 Cẩm trúc của thành ngữ liên quan dén cich ăn, cách mặc
trong tiéng Han
Vị thành ngữ tiếng Hán phần lớn là loại bổn âm tiết nên nó có tính
đổi xứng và tính đối img Về mặt cầu trúc, thành ngữ tiếng Hán thường
được chia thành 7 loại là: EÌB44fJ (rết cấu cha vi), RRA (kết
cấu thuật tân), ‡R#È#Ñ#J (kết cấu thuật bd), Hobe @kết cấu trạng
tâm), 3fZl#ÄJlJ (kết cấu song song), HEA (kết cấu tiếp nối), 5
44549 (ket cau dinh tâm),
2.1.2.1 Kết cầu “chủ vị”
KẾt uấu của loại thành ngữ này do chủ ngữ và vị ngữ cấu thành
"Trong kết cấu “chủ vị” có nhiều hình thức tổ chức khác nhau nên có thể
chia thánh các tiểu loại khác nhau, có thể phân tích các tiểu loại thông
qua các thành ngữ như sau
Loại a: loại này do một kết câu thứ cấp song song vả một từ hai
âm tiết cấu thành Hai từ trước là danh từ chuyễn dụng hod
là từ hai âm
tiết Hai từ sau là kết cầu “thuật bố” hoặc kết cầu “chủ vị”