Nhận ra những khó khăn này và nguyên nhân của chúng, chúng tôi chon dé tai nghiên cứu: “Sø sánh cách chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang cau dẫn gián tiếp trong câu tiếng Pháp và tiếng Việ
Trang 1SO SÁCH CÁCH CHUYÊN TỪ CÂU TRỰC TIẾP
SANG CÂU GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG PHÁP VÀ
Trang 2SO SÁNH CÁCH CHUYÉN TỪ CÂU TRỰC TIẾP
SANG CÂU GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG PHÁP VÀ
TIENG VIET
LUAN VAN THAC SY
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Hà Nội, 2009
Trang 3
ket eden gui
Tơi xin bay 63 tong bil on atin aike tdi OATS Neupdn Vtin Higp,
giáo viên hướng cu khoa họa, đã dânh nhiều thal gion, cong atte Ineing én,
etd bdo tin tinh, đã cho tơi nhúng ly khuyên quý báu rong suốt quá Irhl
tực liệu liệt vấn hận
Tol xin tein trọig cán un các thây, cơ giáo của Khoa Ngĩu ngữ lọc,
trường Dgí học hoa học xã lội và nhân vấu, Di lọc quốc gia tá Mội đã
truyển đạt cho t6/ những kiếu thúc quý báu uổ chuyên agàuh Ngơn ngữ hoe
trong thi gian qua cũng như để giúp đ2 tơi iộn thánh luận văn này
Tơi xía chân tÍduh cắn 0n các trú viên trong gia chú, bạn bẻ, các
anh chi em hee vidn lip cao lọc ngồn ngữ khố AI đã động viều, giúa đ2'
tơi lưong quá trhli lọc tập và đồn Hiảnh lận văi
ân luận văn tny đã aĩ cố gắng cao, những Khơng thể triah kad
nứng thiểu sĩi, thiến thuyết, nấi mong niận được những ý kiến gĩp ý của
cáo thẩy cĩ giáo, cáo chupén gia troyg Inh vực nghiên cứu để liậu văn cuc
đồn dlilnh lên
Xin trên ọng cầm cư
Ngo vist luận văn
Trang 4
MỤC LỤC
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
1.3.1 Câu dẫn trục tiếp (le discours direct — DD) 21
1.3.2 Câu dẫn giản tiếp (le discours indirect — D1) 25
1.3.3 Cau ddn gidn tiép tu da (le discours indrect libre — DIL) 29
Chương 2: SO SÁNII NHỮNG QUI TÁC CHUYỂN TỪ CÂU DẪN TRỰC TIẾP SANG CÂU DẪN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG PHÁP VÀ TIẾNG
Trang 52.2 Những thay đổi khi chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn gián tiếp
2.2.2 Những thay đất liền quan đến trực chỉ 55 2.2.2.1 Những thay đổi của đại từ nhân xưng và những tit sé hitu 55
2.2.2.3 Những thay đất của cụm từ chỉ thải gian, nai chốn và từ chỉ
Chương 3: MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆC DỊCH CAC BAI BAO TỪ TIENG
VIỆT SANG TIẾNG PHÁP CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH CHUYỂN TỪ
3.1.1 Những động từ dẫn thường được sử dụng 73 3.1.2 Sử dụng những trạng từ hoặc liên từ thay cho mệnh để chính 82
Trang 6M6 DAU
1 Giới thiệu đề tài của luận văn
'Như chúng †a đã biết, thời đại ngày nay là thời đại của hoà bình, hợp tác và
hội nhập cho nền hơn lúc nào hết vị
Việt Nam là một nước đang phát triển, dang tích cực tham gia văo quá
trình hội nhập quốc tế theo tỉnh thần nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ 9;
“Viet Nam sdn sang la ban, la déi tdc tin cdy của các nước trong công đồng
quốc tế ”.[Đẳng cộng sẵn Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lên
thứ 9, 2001:1191 Như vậy, việc giảng dạy ngoại ngữ là nhu cầu tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá của đất nước Hiện nay, cố sáu thứ tiếng được 16 chee Lién [gp Quốc chọn làm ngôn ngữ chính thức, đó là tiếng
Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Nhật Bản, tiếng Đức Bên cạnh tiếng Anh, tiếng Pháp đang được sử dụng rộng rãi tại các cuộc hội thảo quốc tế
Nhiều văn bản tài liệu, tác phẩm báo chí và một khối lượng sách lớn đã dùng
tiếng Pháp hoặc dịch sang tiếng Pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới Chính vì
vậy, chúng 1a có thể nhận lhấy tiếng Pháp đang là một trong những phương tiện
giao tiếp rất thông dụng của nhân loại
Õ Việt Nam, từ hơn nửa thế kỷ nay, tiếng Pháp đã được sử dụng và trở
thành ngôn ngữ giao dịch được sử dụng trong nhiều linh vực như văn hoá, giáo
duc, văn học, khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị Đặc biệt là sau Hội nghị
thượng đỉnh các nước nói và sử dụng tiếng Pháp được tổ chức vào tháng 11 năm
1997, tiếng Pháp lại càng khẳng định vị trí đạc biệt quan trọng của mình Hơn bao giờ hết, nhu cầu giao tiếp để hoà nhập vào cộng đồng quốc tế ngày càng trở
nên quan (rợng và cần Ihiết Trên thực tế, cùng với tiếng Anh, tiếng Pháp được
dạy ở tất cả các cấp học từ tiểu học đến dại học.Tuy nhiên, việc nắm vững và sử
Trang 7dung thành thạo tiếng Pháp không hẻ là công việc để dàng Đối với người Việ Nam, một trong những nhân tố gây khó khăn cho việc học các tiếng Châu Âu nói chung và Liếng Pháp nói riêng là sự khác biệt về mặt loại hình ngôn ngữ Tiếng
Pháp thuộc loại ngôn ngữ biến hành, cö hệ thống hình thái khá phong phú, đặc
biệt là những phạm trũ ngữ pháp có liền quan đến động từ, đến sự thay đổi của
thức, thời, thể Học ngoại ngữ cũng có nghĩa là phải luyện bốn kỹ năng giao
tiếp: nghe, nói, đọc, viết Để thành thạo bốn kỹ năng này người học ngoại ngữ
nói chung và người học tiếng Pháp nói riêng phải nắm chắc ngữ pháp Chúng tôi
cho rằng dù phương pháp giảng dạy ngoại ngữ có thay đổi theo hướng não đi
chăng nữa thì việc nắm vững ngữ pháp vẫn luôn luôn là tiêu chí quan trọng hãng
đầu để đánh giá mức độ thành thạo của người học ngoại ngữ
“Trong quá trình học tập và nghiên cứu ngữ pháp tiếng Pháp, chúng tôi
nhận thấy học sỉnh, sinh viên Việt Namn gập rất nhiều khó khán trong khi chuyển
từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn giản tiếp Những khó khân này một phần do
ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, phần khác là do việc vận dụng chưa chính xác và
thãnh thạo các quy tắc ngữ pháp Nhận ra những khó khăn này và nguyên nhân
của chúng, chúng tôi chon dé tai nghiên cứu: “Sø sánh cách chuyển từ câu dẫn
trực tiếp sang cau dẫn gián tiếp trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt” đễ giúp người học nhận thấy những điểm giống nhau và khác nhau trong quá trình
chuyển câu ở cả hai ngôn ngữ nhằm tránh lỗi và tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình làm bài lập, dịch xuôi dịch ngược cũng nhữ có được sự thành thạo trong
giao tiếp khi phải sử dụng câu dẫn Bởi vì, trong khi giao tiếp, trong một câu
chuyện kể hay một bài báo chúng ta thường dẫn lại lời nói của một hay nhiều
nhân vật Việc dẫn lại những câu nối hay suy nghi của những nhân vật đó thường được thể hiện dưới nhiều hình thức Ở Việt Nam cũng như ở Pháp, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra rất nhiễu định nghữa khác nhau về câu dẫn Mỗi dịnh nghĩa
đêu để cập đến một phương diện hay một đạc trưng nào đó của câu dẫn Mặc dù
có nhiều định nghia khác nhau nhưng ở cả hai ngôn ngữ đều tổn tại ba dạng
chính có Hên quan đến câu dẫn là cẩu đân trực tiếp, cản dẫn gián tiếp, cau dan
4
Trang 8gián tiếp tự do Đối với những người mới học tiếng Pháp, khi chuyển câu, họ thường mới chỉ chú ý đến thái độ của người dẫn chứ chưa quan tâm đến những thay đổi ngữ pháp như cách lựa chọn từ dẫn, động từ dẫn, những thay đổi vẻ yếu
tố trực chỉ như đại từ nhân xưng, đại từ sở hữu, những biến đổi của thức, thời, thể
liên quan đến động từ, cha trang Ur chỉ thời gian, nơi chốn Luận văn của chứng
tôi sẽ trình bày và miêu tả chỉ tiết về đạc trưng của từng kiểu câu ở cả hai ngôn
ngữ, sau đó chúng tôi sẽ tiến hành so sánh những quy tắc ngữ pháp chuyển từ câu
dẫn trực tiếp sang câu dẫn gián tiếp, từ đó rút ra những điểm giống nhau và khác
nhau của cả hai ngôn ngữ ở những phương diện cố liên quan đến vấn để nầy
2.Mục đích và ý nghữa của luận văn
Qua việc phân tích, mô tả, so sánh và tổng hợp những đặc điểm ngữ pháp của từng kiểu loại câu dẫn và những quy lắc chuyển đổi lừ câu dẫn trực liếp
sang câu dẫn gián tiếp, luận văn đã rút ra được những điểm giống và khác nhau
khi chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn gián tiếp trong tiếng Pháp và tiếng
Việt, đồng thời luận văn cũng đưa ra một số gợi ý cho việc dịch các bài báo từ tiếng Việt sang tiếng Pháp có liên quan đến câu dẫn nhằm giúp các bạn học sinh, sinh viên có thêm tài liệu tham khảo để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tên gọi của để tài của chúng tôi “Sơ s
inh cách chuyển từ câu dẫn trực tiếp vang cân dẫn gián tiếp trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt” đã thể hiện
một cách hết sức khãi quái đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn Như cố thể
thấy qua tên gợi, chúng tôi muốn tiến hãnh nghiên cứu so sánh những đặc trưng
và đạc điểm ngữ pháp của câu dẫn, cấu dẫn trực tiếp, câu dẫn gián tiếp trong cả
hai ngỡn ngữ và những quy tắc ngữ pháp chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu
dẫn giần tiếp trong tiếng Pháp vã tiếng Việt
Chúng tôi có sử dụng những ví dụ được trích dẫn trong cá
ách nghiên cứu chuyên ngành ngôn ngữ, những ví dụ trong sác giáo trình ngữ pháp tiếng
Pháp và đặc biệt là tập hợp những ví dụ được trích trong một số tờ báo thông
dụng của Việt Nam để mình hoạ và dẫn giải cho những luận điểm của mình Trên
5
Trang 9cơ sở đó, chúng tôi cố gắng tăm ra được những nét tương đồng và khác biệt rong
câu dẫn của tiếng Pháp và tiếng Việt Những kết quả nghiên cứu như vậy sẽ đưa
đến những gợi mỡ, giúp cho việc học, việc dạy về câu dẫn có thể đạt hiệu quả cao
nat
4.Nhiém vụ nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện tốt và đạt hiệu quả cao cho luận văn, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu, tham khảo về các vấn để lý thuyết để làn sáng tẻ các khái niệm liên
quan đến câu dẫn như trực chỉ (gồm trực chỉ về ngôi, thời, không gian) và tọa độ trực chỉ, định nghĩa vé câu dẫn, vẻ câu dẫn trực tiếp, câu dẫn gián tiếp, câu dẫn
giản tiếp tự do trong tiếng Pháp và tiếng Việt Chúng tôi tìm hiểu quan điểm của
ấo nhà nghiên cứu ngữ pháp va cố gắng xác lập quan điển riêng của chúng tôi
vẻ vấn đề này Điều này cho phép chúng tôi giải quyết những vấn để lớn của quá
trình chuyển câu, nêu và phân tích sự giống nhau, khác nhau của câu din trong
tiếng Pháp và tiếng Việt thông qua các bảng mô tả, liệt kè, phân loại những yếu
tố, thành phần liên quan đến quá trình chuyển cau như động từ dẫn và các phạm
trù ngữ pháp liên quan đến động từ dẫn đó như ngôi, thời, thể, thức, những thay đổi về đại từ nhân xưng, đại từ sở hữu, trạng tỉr chỉ thời gian, nơi chốn Cuối
cùng, chúng tôi đưa ra một số gợi ý khi thực hiện thao tác dịch những câu dẫn
trung các bài báo lữ tiếng Việt sang tiếng Pháp Với mỗi vấn đề, chúng tôi đưa ra
những ví dụ mình hoạ cụ thể được trích từ các bài báo tiếng Việt và sau đó địch sang tiếng Pháp
5.Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong luận vàn này, chúng tôi đã sử dụng nhiều thủ pháp nghiên cứu khác
nhau, trong đó đặc biét quan trong là các thủ pháp:
- Thủ pháp mô tả và phân tích: chúng tôi sử dụng thủ pháp mô tả, phân tích
để trình bầy chỉ tiết đặc điểm của từng kiểu câu, đặc điển ngữ pháp và những quy tắc biến đổi của từng thành phần câu có lên quan khi chuyển câu, những thay đổi của toa độ trực chỉ về ngôi thời, thể.
Trang 10- Thủ pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng thủ pháp so sánh để nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt của cáu dẫn trong tiếng Pháp và tiếng Việt Chúng
tôi tiến hành lập các bảng so sánh để minh hoạ chỉ tiết cho từng vấn đề cụ thể
Đồng thời chúng lôi cũng vận dụng thủ pháp này trong việc trình bày các hệ
thống quan niệm của các tác giả về các vấn để có liên quan
- Một số thủ pháp ngôn ngữ học như cải biến, phân tích ngữ cảnh cũng được vận dụng linh hoạt, nhằm giúp phát hiện bản chất của các kiểu câu dẫn
trong tiếng Pháp và tiếng Việt
6.Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khâo, luận văn của chúng tôi bao gồm có 3 chương:
Chương 1: Ca sở Ìf luận
Chương 2- 5o sánh những quả tắc chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn
gián tiếp trong tiếng Pháp và trếng Việt
Chương 3: Một số gợi ý cho việc dịch các bài báo từ tiếng Việt sang tiếng
Pháp cả liên quan đến cích chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn gián tiếp
“Trong phạm vi để lãi này, dĩ nhiên chúng tôi không thể đẻ cập hết những
vấn dé có liên quan đến lối nói gián tiếp mà chỉ đi sân väo sơ sánh phần chuyển
từ lối nói trực tiếp sang lối nói gián tiếp Chúng tôi hi vọng kết quả dé tài sẽ trở
thành công cụ hữu ích cho các bạn Việt Nam học tiếng Pháp cũng như những
Việt-Pháp
người làm sông tác biên, phiên địch Pháp-Việ
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Tọa độ trực chỉ (deixis)
Khái niệm “Trực chỉ” đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan
tâm, để cập đến Mỗi tác gid déu có những quan điểm và khái niệm riêng của
mình Theo tác giả John Lyons trong cuốn “Wg# nghĩa học dẫn luận” thì thuật
ngữ “trực chỉ” bất nguồn từ khái niệm quy chiếu bằng chỉ trỏ (gestural
reference), cố nghĩa là người nói xác định chiếu vật bằng cach ding cif chi than thể não đó của minh Trực chỉ hay chỉ xuất "deixis” lä một thuật nạữ chuyên uuôn (gốc lữ Hy Lạp) dành cho một trong số nhiều những điều cơ bắn mà chúng
la Him khỉ lạo ra gác phát ngôn Nó có nghĩa là *chỉ ra”hay “cho thấy" thông qua
ngôn ngữ (Dăng tay hay ngón tay để chỉ là phương phấp xác định sự vật nhờ vào
động tác thân thể, vốn có thể có nguồn gốc tự nhiên, mang bản chất sinh vật và
dược thể chế haá nhắm vào chức năng trong nhiều nến văn hoá) Bất cứ một biểu
thức quy chiếu nào có cùng những đặc điển logic với động tae chi trỏ về bản
chất sự kiện đều là biéu tute truc chi (dcictic expression) hay cdc yéu t6 true chi (đeixis) Biểu thức trực chỉ đôi khi cũng được gọi là các chể hiệu (indexicals)-
biểu thị sự chỉ trổ bằng ngón tay Đi sử nhân xưng và đại từ trực chỉ là những
biểu thức ngôn ngữ học hiển nhiên nhất mang những đặc điểm như vậy và rõ
ràng là mang bản chất trực chỉ xét theo cách định nghĩa như trên [John Lyon,
Ngữ nghĩa học dan luận, 2U06:312-31]
Đỗ Hữu Châu thì cho rằng trực chỉ có rất nhiều hạn chế “Thư nhất, cái cắm
được chiếu vật thì nhiều mà cái cá thể trực chỉ được thì rất cổ hạn Thứ hai,
chúng ta chỉ có thể chỉ trẻ từng cá thể, không thể chỉ trỏ được loai sự vật, hiện
tượng, hoạt động, có nghĩa là không những không chỉ được cát tru tượng mà
cũng không chỉ dược cái khải quái Không phải lúc nào cũng cả thể chỉ trỏ
được cho nén chỉ trẻ gắn liên với giao riếp mặt đối mặt Vĩ cố rất nhiều hạn chế, hơn nữa tay không phải là yếu tổ của ngôn ngũ, cho nên nực chỉ không thể
đảm nhiệm được chúc năng chiếu vật của ngôn ngữ Trong ngôn ngữ không có
8
Trang 12phương thúc trực chỉ mà chỉ có phương thức chỉ xuất Dối vái phương thức chỉ xuất, trực chỉ chỉ là phương tiền kèm ngôn ngữ” [Đỗ Hữu Châu, Đã Hữu Cháu
4]
tuyển tập, 2005:33
Bar -Hillel trong tác phẩm “Pzagmaficx af Natural Language” thì cho
rằng tinh chỉ xuất là một đặc tính thuộc bản than và không thể trảnh né được của
các ngôn ngữ tự nhiên Theø ông đến 90% các câu trần thuyết (indicative) của các ngôn ngữ đều là những câu chỉ xuất do chỗ chúng ngầm có quan hệ chiếu vật
với người nói, người nghe, thời gian, không gian của sự phái triển [Đỗ liữu
Châu, Đồ Hữu Châu tuyển tập, 3005:334]
Từ điển “The Encyclopedia of Language and Linguitics” định nghĩa:
“Thuật ngữ “deixis” chỉ cách thức đặc thì theo đó sự thuyết giải một số biểu thức
ngôn ngữ (các deieties côn gọi là bulexical) phụ thuộc vào ngữ cảnh trong đó
chúng được tạo ra hay được thuyết giải Nếu mui chiếu vật là phuưng diện dâu
tiên của ngũ dụng học thì chỉ xuất là phương diện đầu tiên, ngữ dụng nhất của chiếu vật bồi tính gắn bé giữa chỉ xuất với ngữ cảnh là cao nhất Sự chi trổ chỉ diễn ra trong những cuộc giao tiếp mặt đối mặt cho nên chỉ xuất nhắc nhở chúng
1a rằng ngôn ngữ tự nhiên dai
dụng trước hết để phục vụ cho tướng tắc mặt
đãi mặt và được thiết kế sao cho có thể khai thác được một cách triệt để cái hoàn
cảnh xử dụng nó" [Đỗ Hữu Châu, Để Hữu Châu tuyển tập, 2005:334]
Chúng tối đồng ý với những quan điểm của George Yule về “trực chỉ” khi ông cho rằng “Mỗi ngôn ngữ trên thế giới đều có những yếu tố trực chỉ, chúng
nằm trong những hình thai ngôn ngữ đầu tiên được trẻ con nối ra và có thể được
dùng để chỉ con người thông qua yếu tố chế xuất nhân xưng (rồi, anh), hoặc để
định vị thêng qua yếu 16 chi xudt khéng gian (đây, kia), hoặc chỉ thời gian thông
qua yếu tố chỉ xuái thời gian (bây giờ, bấy giỏ) Để hiểu được chúng, thì phải
Trang 13muội bộ phận cơ hữu của ngữ cảnh phát ngôn Mọi hành động phát ngôn-tức ruọi hành động tạo lời- đều xuất hiện trong một ngữ cảnh không gian - thời gian mà
tâm của nó, điểm gốc (zero point), có thể nêu ra như là cái toạ độ ở đây và bây
giờ Ngữ cảnh trực chỉ sẽ xoay quanh cái toa độ ở đáy uà bây giờ của người nói;
nó mang tĩnh tự kÿ ung tâm (egocentric) Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “ï” trơng tiếng Ánh chỉ ra cái người nói thực tại, tức chỉ ra bất kỹ ai đang nói ở thời
điển đó Khi vai trò của người nóỉ- khái qual hon, vai Wd cla tie UHỂ t: ngôn- thay đổi từ người này sang người khác trong tiến trình hội thoại thì “điểm gốc”
của ngĩt cảnh trực chỉ cũng thay đổi qua lại, cùng với quy chiếu của “f” (tôi) và
“here ” (ở đây) Quy chiếu “now ” (bay giờ) thủ không thay đổi qua lại theo cùng cách như vậy, bởi vì người nối và người nghe thường thao tác với cùng một
khung thời gian quy chiếu và với những giả định chung về diễn tiến của thời gian
Song "nơw” (ở đây) luôn được xác định lại, rong khuôn khổ cái khung quy chiếu
thời gián được chia sé này, nhờ vào hành động phát ngôn
George giải thích, sự chỉ xuất là một đạng của sự quy chiếu liên quan chặt chẽ đến ngữ cảnh của người nói, với một sự khu biệt cơ bản nhất giữa biểu thức
chỉ xuất là ở “giần người núi” đối lại với ð “1 người nói” Trong tiếng Anh, tt
chỉ sự “gần người nói”, hay lä những từ chỉ tắm gần (proximal terms) là */¿x”
([eái] này), “here"([ð] đây), “how*(bảy gid) Xa người nồi, hay những từ chỉ tầm
xã (disral terms) Iä“rha? ([cái] kia),'there”([đằng kia]) “hen” (bấy giờ, lúc đố)
Những từ chỉ tầm gần được giải thích một cách rất tiêu biểu từ sự định vị của phía
người nói, hoặc tir fim chi xudt (deictic center), cho nén “wow™ (bây giờ) nhìn chung được hiểu như là sự quy chiếu để cập tới một điểm thời gian hay một
quãng thời gian mà tại đó thời gian của lời nói của người nị
tam [George Yule, Dung koc,1997: 29]
vao vị trí trung
Như vậy, phần lớn phát ngôn (có nghĩa lã các “phát ngôn thành phẩm”,
thuật ngữ của John Lyons, dùng để chỉ các phát ngôn cụ thể như là kết quả của giao tiếp.) trong tất cả các ngôn ngữ đều mang tính chỉ xuất hay trực chỉ ở chỗ
10
Trang 14cái chân trị của mệnh để ruà chúng biểu thị được xác định bởi các chiêu kích
không gian -thời gian của ngữ cảnh mang tính trực chỉ
Như đã nói một cách khái quát trên đây, các yếu tố trực chỉ có thể tập hợp
ấy, chị ấy, cái đó) Các đại từ ngôi thứ nhất được người nói dùng để chỉ mình với
tư cách là chủ thể của lời nói, các đại từ ngôi thứ hai được dùng để chỉ người
nghe và các đại từ ngôi thứ ba để chỉ những người và vật khác với người nói và người nghe Đại từ ngồi thứ ba phân biệt với đại từ ngôi thứ nhất và đại từ ngôi
thứ hai về các mặt sau:
Dai từ ngôi thứ nhất và đại từ ngôi thứ hai chỉ người nói và người nghe là
những đối tượng nhất định phải có ruật Irong tình huống phất ngôn, oòn đại Lừ
ngôi thứ ba chỉ những đối tượng không những có thể vắng mật trong những tỉnh huống phát ngôn mà cồn có thể không được nhận thức Các đại tứ ngôi thứ nhất
và thứ hai nhất thiết phải chỉ người Những trường hợp đùng đại từ ngôi thứ nhất
và ngôi thứ hai để chỉ động vật và đồ vật trong chuyện ngụ ngôn vã thần thoại chỉ
là những hiện tượng nhân cách hoá.Các đại từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai là
những từ xưng hô trong giao tiếp, còn đại từ ngôi thứ ba không phải là xưng hô vì
nổ không nhất thiết chỉ những người than gia vào tình huống giao tiếp
Phạm trù ngôi đã được nghiên cứu từ xa xưa, khi có ngữ pháp học trên thế
giới Đây là phạm trù ngữ dụng được ngữ pháp hoá điển hình nhất trong ngôn ngữ Benveniste trong cuén “Probléme de lingnistigue générale” timg chi ra
Tầng cần phải tách ngôi thứ ba khỏi ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai theo thế đối lập:
Ngôi thứ nhất / Ngôi thứ hai
Ngôi thứ ba
ll
Trang 15là vì ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai mới thực sự là ngôi xưng hồ, mới chiếu vật những người tham gia và sự trao đổi lời, mới được các đối ngôn dùng để xưng và
hô nhau Còn ngôi thứ ba chiếu vật những người hay sự vật không phải là đối
ngôn trong một lời nói [Đỗ IIữu Châu, Đồ 1iãu Châu tuyển tập, 2005:349]
Hệ thống đại từ chỉ ngôi của tiếng Việt khá phức tạp, tuy nhiên có thể
hình dung uuột cách khái quát nlưư sau
Ngôi thứ nhất Ngôi thứ hai Ngôi thứ ba
Số ít Số nhiều Sốít Số nhiều S6 ít Số nhiều tôi (tui | chúng tôi Mày — | chủng mày nó chúng nó tao (tau) | chúng tạo mi Chúng mì y Chúng
tiết hoá bằng những dâu hiệu về cương vị xã hội tương đối (chẳng hạn người
nhận có cương vị cao hơn đổi nghịch với người nhận có cương vị thấp hơn)
Những biểu thức chỉ ra cương cị cao hơn được miêu tả như là đấu hiệu đôn vinh
hay kính ngữ (honorifics).Cuộc thảo luận về những hoàn cảnh dẫn đến sự lựa
chọn một trong những hình thái này bơn là những hình khác đôi khi được miêu 1â như là yếu tễ chỉ xuất xã hội (soeial đeixis) Sự tương phân xã hội được ký
mã trong yếu tế chỉ xuất nhân xưng là sự phân biệt giữa các hình thái được đùng đổi với người quen thân đổi nghịch với những hình thái được dùng cho người
không quen thân trong một số ngôn ngữ Trong tiếng Pháp, sự khu biệt giữa Tu/Vous được thể hiện rất rõ: Tw (mày- thân quen) và Wows (ông/bà - không thân quen) Trong những hoàn cảnh xã hội mà các cá nhân thường đánh dẫu sự phân biệt về cương vị xã hội giữa người nói và người nhận thì người bễ trên,
12
Trang 16người nhiều tuổi hơn và người có quyền lực hơn sẽ có khuynh hưởng dùng kiểu
“Ty” (mày/cậu) đổi với người bề đưới, người trề hơn và người có quyền lực thập
hơn, còn người nhận thì đến lượt mình lại ding “Vous” (6ng/ ba)
Đổi với tiếng Việt, mặc dù có nhiều quan điểm về hệ thông đại tử nhân xưng và những từ có giá trị trực chỉ về ngôi nhưng có thể thấy được một điều
quan trọng rằng trong mỗi hoàn cảnh giao tiếp đêu cần có mặt những đồi tượng tham gia giao tiếp đó là người nói (ngôi thứ nhất) và người nghe (ngôi thử hai)
va vai tr, vị trí chỉ ngôi được luân chuyển trong cuộc hội thoại với khung ngữ
cảnh nhật định
1.12 Truc chỉ về thôi
Chỉ xuất thời gian là phương thức chiếu vật thời gian bằng cách định vị thời gian- nghĩa chiếu vật (heo quan hệ thời gian với một thời gian mốc (thời
gian trung tâm của chỉ xuất)
Thời gian có tính tuyến tính phân chia theo hai hướng tính từ một điểm toa
độ zero nào đó I lĩnh vẽ sau đây biểu thị đường tuyến thời gian cơ số:
Nối chỉ xuất thời gian là nói đến sự chỉ xuất bằng cách định vị một thời
gian nào đó so với thời điểm mốc (0) Những biểu thức nào không biểu thị sự đối
chiếu với thời điểm mốc thi không phải là biểu thức chỉ xuất thới gian Ÿí dụ như
“Nam anh ấy học đại học"; “thôi gian làm việc” không phải là biểu thức chỉ xuất thời gian
Những yếu tố chỉ xuất thời gian trong tiếng Pháp là *øwjourd' hui/ hier/
demain” ,~ prochaini dernier/ce/cette!l Lundi! semaine/ moisian”
Con các yếu tố dùng để định vị thời gian trong tiếng Việt bao gồm :
CHỉ từ chuyên dùng chỉ thời gian: zay, nấy
CHỉ từ không gian được ding chi thoi gia: nay, kia, dy, no, dé, ddu, cuối
Các giới từ không gian được dùng như chỉ từ chỉ thời gian: sau, trước
(tháng trước, tuần sau)
Trang 17Các giới từ không gian được dùng như giới từ chỉ thời gian : trong (rong năm), ngođf (ngoài na), xe (sau 1945), trước (rước cách ruạng tháng Tám)
Các từ hay tổ hợp từ chỉ các thời điểm: (tang) tắng sáng, đầu hôm, chấp choang, ngày nay, bây giỏ, thuổ xưa, thuổ trước, ngày trước, ngày sau
Các phó từ vừa chỉ thời gian, vừa biểu thị các ý nghĩa thể, thức, tình thái di
kèm với thời gian vấn, cũng, cứ, còn, đã, sẽ, đang, sắp
Nồi đến thời gian là nói đến quá trình, đến sự kiện Biểu thức chỉ xuất thời
gian có chức náng chỉ xuất thời gian xảy ra một sự kiện nào đố so với một thời điểm nào đó mà người nói, người nghe và những người tham gia hội thoại đã lựa
chọn làm điểm mốc Thời điểm nói được lấy làm thời điểm mốc cho chỉ xuất thời
gian chủ quan (tuyệt đối) là thời điểm được phó từ “zøw” tiéng Anh va “bay gid”
tiếng Việt biểu thi Dai thai gian bao chứa do “bay giở” biểu thị vừa trùng hợp
với thời gian nối đích thực - tức là "bây giở” luôn luôn có ngÌña hiện tại -vừa trần
về quá khứ vừa trần sang tương lai
Có thể biểu diễn nghĩa của “hay gid” bing hinh vé sau:
“Thời điểm nói đích thực
cách biểu diễn đường tuyến thời gian theo hệ đo lường Trong tiếng Vi
đối lập ba biểu thức biểu thị sự bao chứa thời điểm nói đích thực: “bây giờ”, biểu thức chỉ xuất với “zày” và biểu thức chỉ xuất với “»zy”
Chúng ta có sơ đổ chủ tiết biểu thị các biểu thức chỉ xuất với “nay, nảy”:
————S_————————>*
14
Trang 18Tuần qua “Tuần này Tuần sau
Năm ngoái
George Yule cho rang tất cả những diễn đạt chỉ xuất như "yesferday” (hôm
qua), “02dzy" (hôm nay), “tomorrow”" (ngầy mai), “fonigh" (Ii nay) “nest week”
(tuần tới), “is week” (ludn nay) đều lệ thuộc vào sự giải thích chúng trên cơ
SỞ biết được cái thời gian phát ngôn thích hợp với chúng [George Yule, Đụng học, 1997: 38] Chính vì thế mà đặc trưng của những từ trực chỉ thời gian như :
“hién nay, bây giờ, mãi, lúc này, năm ngoái ” trong tiếng Việt chỉ có thể giải thích thấu đáo trong ngữ cảnh riêng của chúng Không thể chỉ rõ "bây gid, sau
đó, ngày mai.” là lúc nào nếu không biết thời gian chính xác khi phát ngên
được nói ra
“Trong nhiều ngôn ngữ, phạm trù thời gian được ngữ pháp hoá trong hình
thái của động từ Tiếng Việt không có phạm trù thời như các ngôn ngữ châu Âu
Các đại từ chỉ dinh nhu “day, day, nay, kia, dy ” không chỉ định vị vị trí mà còn
định vị thời gian, Khoảng cách gần xa được xác định căn cứ vào thời điểm phát
ngôn của người nói "Ðđy” được dùng để chỉ thời điểm ở vào lúc đang nối, “đấy” được dùng để chỉ thời điểm không cồn ở lúc đang nói, "mây? được chỉ thời điểm vào lúc đang nói, "k‡z” được dùng để chỉ thời điểm não đõ không xác định,
nhưng coi như là có thể hành dung được cụ thể, “ne” được dùng để chỉ một thời điểm không xác định trong quá khử.
Trang 19Rechenbach để xuất mô hình logic cơ sở cẩn thiết để phân tích
bệ thống thời gian Theo tác giả, tất cả các thời gian đều được sản sinh ra từ sự tổ hợp theo một trật tự nào đó ba vị trí sau đây trén đường tuyến thời gian lý tưởng:
Diém adi (point of sneech) tức là thời gian chỉ xuất, điển sự kiện (puïnl of svenD tức là sự kiện được định vị, và điểm chiến vat (point of reference) Lite thei điểm xuốc Nếu như người nói lấy điểm nói, tức thời điểm mình thực hiện hành ví chỉ
xuất thời gian làm điểm chiếu vật thì ta có chỉ xuất thời gian chủ quan Nếu lấy
một sự kiện nào khác hoặc một thời điểm nào khác không phải thời điểm nói làm
điểm chiếu vật thì ta có chỉ xuất thời gian khách quan
Chúng ta xen xéi cấc ví dụ sau
Ví du Ls
"tiễn đã lấy vơ trước khi vào đại học”
'Trong câu này, không phải chỉ có Hai thời điểm, thời điểm sự kiện được chi
xuất (anh /z đã lấy vợ), thời điểm chiếu vật (thời điểm mốc) (ước khí vào đại
học) mã cồn có cả thời điểm nói ra câu nói đó của người nói Nếu phát triển câu
Bằng chỉ xuất thời gian, người nỏi, tức người thực hiện hành vi chỉ xuất
thời gian chỉ cho người tiếp thoại nhận biết được thời gian nào đang được nói Lời trong diễn ngôn cũa mình, lức là làm cho người tiếp thoại nhận biết được thời
gian được nói đến trong diễn ngôn của mình
1.1.3 Trực chỉ về không gian
Chỉ xuất không gian lã phương thức chiếu vật bằng cách định vị sự vật (sự vật được nói tới trong diễn ngôn) theo quan hệ không gian với vật mốc
16
Trang 20Trong tiếng Anh có các phương tiện chỉ xuất không giam nhụ sau: đi, thar
(these, those}, here, there, left, right, up, down, above, below, in front, behind, come, go, bring,take
Trong tiếng Việt, các đơn vị sau đây là các phương tiện chỉ xuất không
gian:
Các chỉ từ : Này, kia, ấy, nọ, đây, đấy (4ój
Các quan hệ từ Không gian (các giới từ không gian, có tác giả gọi là
phương vị từ): trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau, giữa, bên, cạnh, đổi diện, ở
phía bắc, phúa tây, bên phải, bên trái
Các động từ chỉ sự dời chỗ có hướng: đi, về, đến, lại, qua, sang, vào, ra,
lâm, xuống, tới, lui
định vị khác với người định vị Ở định vị chủ quan chỉ cồn người định vị và sự vật
được định vị, cơ sở của chỉ xuất chủ quan là trực chỉ
Sự định vị không gian được dùng để chỉ xuất và qua chỉ xuất mã thực hiện
hành vỉ chiếu vật khí sự vật - nghĩa chiến vật cũng là sự vật được định vị Như
vậy, khi chiếu vật bằng định vị thì người thực hiện hành vi chiếu vật cũng là
người định vị
Ñự chỉ xuất chủ quan được thực hiện khi người chiếu vật {người nói) lấy vị trí của mình đang có mặt khí chiếu vật làm mốc
Cé hai dạng chỉ xuất khách quan chính: chỉ xuất khách quan lấy người
tham giá giáo tiếp không phải người nổi làm mốc và chỉ xuất khách quan lấy một
sự vật hay người nào đố không phải người tham gia giao tiếp lầm ruốc,
17
Trang 21Xi du 4: “Dita bé sau xe”
“Trong câu này, đứa bé được chỉ xuất không gian Khách quan theo phương
vị (sau) vốn có của chiếc xe
Các phương tiện chuyên dùng để chỉ xuất không gian chủ quan của tiếng Việt là các chỉ từ Trong các biểu thức chỉ từ có hai tham tố, hiện diện trong biểu thức là sự vật được chỉ xuất và sự vật mốc, sự vật trung tâm chỉ xuất tức người
nói dựợc hiểu theo cách hàxn ẩn Sự vật được chỉ xuất có thể là địa điểm và có thể
là người, đồ vật, vật thể địa lý “24y" là chỉ từ chuyên dùng để chỉ xuất địa điểm “Dây” là địa điểm mà người chỉ xuất không gian chiếu giữ khú chỉ xuất (tức khả nói, khi thực hiện hành vi chiếu vậU Cũng giống như ở đại từ “2Ó”, ở chỉ
từ “đây” địa điểm mốc và địa điểm được định vị trùng làm một *п” dũng một mình cũng chỉ xuất địa điểm, dùng để chỉ bất cứ địa điểm nào miễn là địa điểm
đố không phải là “đáy” (gần người nói); “nay” dong dé chi xuất sự vật được
ngữ đó có sự chỉ xuất khách quan lấy người tiếp thoại làm mốc, còn tiếng Việt
không có các giới từ chỉ xuất khách quan như vậy Để chỉ xuất khách quan, tiếng
Việt dùng các giới ngữ trong đó danh từ ở sau giới từ biểu thị sự vật mốc khách
quan
Viduä: “ Cái bàn trước cải giường”
Chỉ xuất có nghĩa là làm cho người tiếp thoại biết sự vật nào là sự vật được định vị trong một quan hệ định vị Và bằng cách chỉ ra cho người tiếp thoại biết
sự vật được định vị là sự vật nào mà chỉ xuất làm cho người tiếp thoại biết rằng sự
vật đó là sự vật mà người nói nối tới trong điển ngôn của mình
1.2.Định nghĩa về câu đẫn ( Le discours rapporté - DR)
18
Trang 22Trong một câu chuyện, người ta thường phải dẫn lại những lời nối của một
hay nhiều nhân vật Việc chuyển lại những câu nói hay những ý nghĩ của những nhân vật này dược thể hiện dưới nhiều hình thức Ở Việt Nam cũng như ở Pháp,
các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiêù định nghĩa vẻ câu dần (le discours rapporté)
Mỗi định nghĩa đều để cập đến một phương điện hay một đặc trưng nào đó của
câu dẫn Trước khi đưa ra định nghĩa khái quát chung về câu dẫn, chúng ta hãy xem Xét ví dụ sau:
adresse?”
(Người bảo vệ nói: “Ông có thể để lại cha tôi dia chi mới của ông được
Ví du 7:
La concierge me demande si je peux tui laisser ma nouvelle adresse
(Người bảo vệ hỏi tôi xem tôi có thể để lại cho ông ấy địa chỉ mới của tối)
[4 tr 122]
Cả hai vĩ dụ 6 và 7 đều là hai phát ngôn nói về cũng ruột nội dung thông
tin nhưng được trình bày lại ở hai dạng khác nhau Ở ví dụ 6 là phát ngôn được
trình bày lại một cách chính xác của chính người nói- le locuteur (người bảo vệ)
điểm đặc biệt hơn so với phát ngôn ở ví dụ 6 người phát ngôn đã chuyển lại nội
dung thông tín của một phát ngôn khác Hay nói một cách kháo bai ví dụ trên dược chuyển lại dưới hình thức của câu dẫn([.« discours rapporté- DR)
Như trên đã nói, có nhiều định nghĩa khác nhau về câu dẫn trong tiếng
Trang 23(thậm chỉ anh ta có tham gia cùng) Nhìn chìng, người dẫn lại phát ngôn đá phải
cùng cấp đủ thông tin cho một người thứ ba người đó hiện đang có một nhưng đã
không nghe được hoặc vắng mặt trong cuộc hội thoại và muốn biết rõ những gì
dỡ duayc nói”
(Sous sa forme la plus simple, le discours rapporté n'est que la simple reprise par un locuteur d'énoncé une conversation qwil vient d'entendre ou qwil a entendue (ou méme & laquelle il a participé) En général, le locuteur qui rapporte répond a une demande d'information d'une tierce personne: quelgw un qui ext présent mais qui n'a pas entendu au qui était absent mais qui voudrait bien savoir cequi 8 est di
[H Gauvenet et Sophie-Colette Moriant, Le discours rapporté, Le frangais
dans le monde, N° 102, 1997 :15]
Như vậy, mỗi câu dẫn đều gồm hai hành động phát ngôn khác nhau với hai
cặp người nói/ người tiếp thoại có thể khác nữau Nói uuột cách khác, câu dẫn là
sự chồng xếp lên nhau của ít nhất hai phát ngôn: phát ngôn của người nói đầu
tiên được chuyển lại qua người nói thứ hai, và điểu này có thể tiếp tục được
“Tất nhiên, nếu người ta chồng xếp
chuyển đến người nói cuối cùng, đó lã tác giả
quá nhiều phát ngôn người tiếp nhận sẻ không hiểu được gì ( Ví dụ: X nái rằng Ÿ
dữ nói rằng 2 đã nái rằng )
Những nhà ngữ pháp Việt Nam thì có cùng quan điển với khái niệm sau
về câu dẫn/ câu dẫn:
* Lai dân là lài người khác được dẫn lại trong câu nói ( viếtJ”
[Bùi Minh Toán- I.ê A- Đỗ Việt Hùng, 7/ấ:g Việt thực hành 200G: 164]
Mậu dù có nhiều quan điểm khác nhan về câu dẫn, nhưng trong tiếng Pháp
cũng như trong tiếng Việt đều tồn tại ba dạng câu có liên quan đến câu dẫn là:
câu dẫn trực tiếp (le discours diviect — PD|, câu dẫn gián tiếp (le discours
indirect — Di) va cdu dan gidn tiép tu do (le discours indirect libre- DIL)
1.3.Những kiểu câu dẫn trong tiếng Pháp và tiếng Việt
20
Trang 241.3.1.Cáu dẫn trực tiếp ( le điscowrs đữect — DD)
Câu dẫn trực tiếp là câu dẫn lại lời nói của người nào đó một cách nguyên
vẹn như nó đã được nói mà không HÊ có rnột sự thay đổi nào (Le narrateur les
rapporte censément telles quelles, sans les modifier C’est le discours direct)
[Maurice Grévisse, Le Bon Usage,1993: 675] Nói một cách khác, trong câu dẫn
trực tiếp, phất ngôn được trình bày lại một cách chính xác như những gï nó đã
được dùng trong lời nói hay trơng suy nghi mà không có bất kỳ sự thay đổi nào
Ví dụ 8:
Jai dit: ° Jeanne, je suis fatigue”
Các nhà ngữ pháp Việt Nam đã định nghia :" Lai dén trực tiếp (lời dẫn được dẫn lại nguyên văn không thêm bót được đặt sau dấu hai chấm và trang đấu ngoặc kán" [Bùi Minh Toán, lê A, Đỗ Việt Hùng, Tiếng Việt tuặc hành, 2006:
184]
Viduy
Thay noi: “Ngay mai ede em déh sém 10 phút”
Qua ví dụ 8 va 9 trên, chúng ta thấy rằng trong tiếng Pháp cũng như trong
tiếng Việt, cấu trúc củ pháp của câu dẫn trực tiếp được bị iện bằng các mệnh
để độc lập và trật tự từ hay ngữ điệu của chúng được chuyển lại nguyên vẹn như
trong ngôn ngữ nói Đó chính là những lời nói hay những suy nghĩ của người nói
ra chúng 'Trong câu dẫn trực tiếp, người nói và người chuyển lại lời nói đó có thể
là một, có thể khác nhau Như thế chúng la sẽ có các Irường hợp cụ thể như sau
+ Người nói và người chuyển lại phat ngôn là một Đó là trường hợp tất cả các sự kiện được kể bằng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất
Xí du 1U:
“Tôi rất sợ con chó giống Dức hung hãng ấy Sợ đến nỗi mỗi lân đến chơi,
không thấy anh 'loàng ra đứng tấn để giữ nó lại mà buén rau bảo cho tôi biết nó
Trang 25Xí du l1:
“Je me souviens d'avoir essayé alors de comprendre ce qu’ exprimait le visage de Nelly Bonnive Elle remetiait ses cheuveux en ordre, me regardait gravement ef ne disait pas an mat”
(Tài cần nhớ là lúc đồ tôi Äã cố tìm xem trên mặt Nenly Bonnive biểu lộ cấi gì
Bà vuốt lại tóc, nhin tôi một cách nghiêm wang va không nói một lời)
12m 13]
+ Người nối ra các phất ngôn được phân biệt với người chuyển lại các phat
ngôn đó
Ví du 12:
Anh thanh niên làng chỉ một cái cổng gạch nhỏ, quay lại bảo tôi: “Ngõ nãy
Để thực hiện một mục đích phát ngôn, người ta thường dùng một cấu trúc
cũ pháp đặc trưng với những phương tiện ngôn ngữ riêng biệt Và như vay, can cit
vào mục dích phất ngôn, câu dẫn trực tiếp trong tiếng Pháp và tiếng Việt gồm có bốn kiểu câu: câu trấn thuật câu nghỉ vấn, cầu cầu khiến và câu cảm thán [Diệp
Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt tập 22002 :224]
Vi du 13:
Câu "Tiếng Việt Tiếng Pháp
Trần |1 Quỳnh nói : "Bạn em la vua | 1", Idéclare : “Je t’aiderai”
thuật | tree edy chi a.” [6 tr 126] [5 tr 126]
Nghỉ |2 Ông hỏi giọng trâm hản|2' “Madame, quel est votre
xung: “Em mét qué phdi| „„
Cam | 3.- “Di mau lén PP tên cai ngục |3*.- “Restez @ la maison toute la
vấn
khiến | bợp gầy Lượm [6 tr 291] matinée du 14 et attendes mon
passage!”, lui demande le livreur
[4 tr 123]
Cảm |4 “Nhỏ nhối thế kia mà chủ ta | 4` Ta neige est bonne!” dit —
22
Trang 26
than |để phải chịu đựng những nổi [elle
khổ nhường ấy" [8 tr 311] l4 ưr 124]
Qua các vi du trên, chúng ta có thể nhận thấy những đặc trưng sau của câu
dẫn trực tiếp trong cả hai ngôn ngữ:
+ Người nối chuyển lại một cách khách quan va chính xác những lời nói
(hay những suy nghĩ) của các nhân vật tham gia giao tiếp Chính vì thế phát ngôn
ở câu dẫn trực tiếp bảo lưu được những “đấu hiệu” của ngôn ngữ nói được thể
hiện trên chữ viết nhữ dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu chấm lửng, các thần
Từ
+ Trong câu dẫn cõ một động từ được gọi là “động ? đẩn ` được dùng để dẫn lại những phát ngôn, chẳng hạn những động từ sau “nói”, “bảo”, “yên cẩu” Động từ dẫn này thường được đặt trước các phát ngôn và đấu hai chấm
hoạc nó cũng cố thể đứng đan Xen trong các phát ngôn (ví đụ: ank #4 nó
rủ
) hoặc đứng ở cuối câu khi đó là một câu ngắn Một danh từ hay một đại
từ được dùng để chỉ người mà người kể đang dẫn lại những lời nói của người đó
sẽ là chủ ngữ của động từ dẫn Những động từ này luôn là một phần của mệnh để
chính trong câu.Trong nhiều trường hợp động từ dẫn có thể chứa đựng ít hay
Tistet Védène était déjà dans la cour, faisant mine de pleurer et de
sarracher les cheveux +
“Ah! grand Saint Pere, ce qu'il ya! lly a que votre mule est montée
dans le clochetan ”
23
Trang 27{(Tislet Vúđènc đã đứng dưới sân, giả tảng khúc khóc mếu mếu, bứt lóc bứt tai kêu trời :
“Ôi ! Trình đúc Cha chí rôn ! Chẳng là con Ía của Người Lạy chúa tôi †
Biết làm sao bây giờ ? Can la của Người đã leo lên tận gác chuông ” [Lư 62]
+ Câu dẫn trực tiếp không có sự thay đổi nào về trực chỉ như trực chỉ về
ngôi, về thời gian và về không gian
+ Câu dẫn trực tiếp được chuyển lại theo hai hình thức, nếu ở đạng nói thì
nó được đánh dấu bằng một điểm ngừng và lên giọng sau động từ dẫn, còn nếu ở
đạng viết thì được biểu hiện bằng dấu hai chấm, dấu gạch đầu dòng, dấu ngoặc kếp Dấu mử ngoặc kép đánh dấu điểm bắt đầu và dấu đóng ngoặc kếp đảnh dấu điểm kết thúc của câu dẫn Dấu gạch đầu dòng có thể báo hiệu sự bắt đầu các
lượt lời, các lời hội thoại trong một cuộc thoại Loại dấu câu nay thể hiện phần cú
pháp đ
dân.[Christian Baylon, Paul Fabre, Grarumaire swstớmatigue de la langue
francaise, 1997:214]
Hiện nay, nhiều nhà văn ở Pháp cũng như ở Việt Nam có thới quen đưa
của câu dẫn trực tiếp sơ với động từ dẫn khi câu chỉ có ruột động từ
những câu chêm xen rnà không hể có sự đánh dấu nào của câu dẫn trực tiếp trong
nển câu chuyện của họ
Ví dụ 15:
- —A Phá đâu? A Phả đánh chất nó địt Một người to lớn chạy vụt ra vùng tay
[8 tr 96]
nềm cơn quay rất to vào mật A S
Cách đùng này thường chỉ được đùng trong một số tác phẩm văn học chứ
Không được phổ biến đối với các văn bản khác
Ví du 16:
Alors, faisant de ses mains un pore-voix, il mugil de nouveau: "Méli-e-e-
e/" Au fond de la cour sa femme répondit:
- "Quiest —ce qu'il ya?" [2m 33]
24
Trang 28Tuy nhiên, đôi khi chúng ta không thể chuyển dược ruột cách tuyệt đối,
chính xác toần bộ các phát ngôn Chẳng hạn như chúng ta không thể chuyển lại được những lời do dự, lời nói ấp túng trong ngôn ngữ nói (ví dụ: ờA, Euh,zut ) Nhưng nếu chúng ta bd qua tất cả những thành phần này của câu trong khi
chuyển câu thì chúng †a sẽ tạo nên một câu chuyện hay một bộ phim rất dở (phần
hội thoại), hoặc một bãi báu đở (phần phóng vấn) Chúng ta có thể nói rằng tính
chính xác của câu dẫn trực tiếp chỉ liên quan đến nội dung của câu Để có thể chuyển và diễn giải đẩy đủ các thông tin và các phát ngôn của người khác, người
chuyển cần phải dùng đến câu dẫn gián tiếp
1.3.2.Cảu dân giản tiếp ( le discours tndirect — DÙ)
®Qâu dẫn giản tiến là câu dẫn lại lồi (tực tiếp) của một người nào đó
một cách gián tiếp qua lời dẫn của một người khác” [Maurice Grévisse, Le Ben
Usage 1993: 675]
Ví dụ 17:
Il déclare : “e f aideraf”
-> Il déclare quit Paides
Trang 29
lendemai
Nghỉ | N6 hỏi tôi “ Cấu có thé gitp tai [Tl mia demandé: “pouvez vous
->NÓ hỏi tôi điệu vải có thể giáp | ->TI mìa demandé si je pouvais
nó được không Paider
Câu | Anh ta bao téi: * Cau phdi vé sớm | IÌm”a ordonné: * rentrez tat!”
khiến | day!”
Cam =| - Cậu con trai rco lên: - Quelle chaleur!
than = | dep quá mẹ ơi!” -> Cậu con trai thích chí reo lèn -> Il déteste la chaleur
khi nhìn thấy chiếc cặp
Câu dẫn gián tiếp có những đặc điểm sau:
- Phát ngôn gốc mất đi cú pháp đội
Ip của mình: nỗ được chuyển thành mệnh đẻ phụ và được dẫn bằng một động từ chỉ sự giao tiếp hay chỉ suy nghĩ
"Trên chữ viết, sự mất đi tính độc lập cú pháp cũng thể hiện đồng thời với sự mất
đi của các đấu câu dẫn trực tiếp: đấu hai chấm, dấu ngoặc kép ,không có dấu
phảy để ngăn cách động từ của mệnh để phụ bởi vì mệnh để đó đã trở thành bổ
ngữ đối tượng trực tiếp (OOD) của động từ dẫn
- Kiểu cảu này thường được biểu hiện bằng cách dùng động từ dẫn như
“ndi” (dire), "trả fàï” (rẻpondre), “yêu cầu “{dernander) Nhưng người ta cũng nhận thấy những động từ dẫn mệnh để phụ thường không chính xác với những
động từ dẫn của câu dẫn trực tiếp,
26
- Các phãt ngôn trực tiếp được chuyển lại dưới đạng:
Trang 30+ Một mệnh để phụ được dẫn bằng “rằng”, “là” (rong tiếng Việt và
"que” (trong tiếng Pháp) nếu mệnh để phụ đó lã dạng khẳng định, phủ định
+ Một mệnh để phụ được dẫn bằng một đại từ hay trang tit nghi van “ei”,
“cái gì", “khí nào“, “bao nhiêu “ trong tiếng Việt và trong tiếng Pháp là “qui”,
"ce que”, “quand”, “combien” néu ménh dé phu 1a dạng nghi vấn bộ phận Đối với mệnh dê phụ nghỉ vấn toàn phần thì được đẫn bằng liên từ nghỉ vấn: “s¿”
(liệu )
+ Một động từ nguyên thể được dẫn bằng giới từ “dz” trơng câu tiếng
Pháp nếu động từ thỏng báo ở đạng mệnh lệnh như “proposer "(dé nghi),
“ordonner (ra lệnh), “đemander” (yêu cầu) Động từ nguyên thể này hoặc là
được người ta coi như là bổ ngữ đối tượng thường là gián tiếp đôi khi là trực tiếp của động từ chỉ mệnh lệnh “øvdosner ” (ra lệnh/ yêu câu), hoặc là được coi như
là mệnh đề phụ nguyên thể, trong đó chủ ngữ là “ie” (họ), đại từ nhân xưng
thường ở dạng gián tiếp
+ Mệnh để phụ cảm thần gián tiếp có cấu trúc đặc biệt và được chuyển lại
theo khả nâng sử dụng ngôn ngữ và điễn đạt của mỗi người chuyển Mạc dù
câu dẫn gián tiếp chuyển lại một cách trung thành nội dung câu dẫn trực tiếp,
nhưng điểu này chỉ đúng được về mặt nội dung logic của phát ngôn Bởi vì những trạng thái biểu cảm được thể hiện trong các phát ngôn trực tiếp của người nói như
những câu cảm thần, những thán từ, những từ để gọi, những từ chỉ cm xúc sẽ
không thể trình bày lại sang câu dẫn gián tiếp được Ngoài những khác biệt về
mặt trật tự văn phong, còn có những thay đổi về trật tự ngữ pháp và sẽ đánh dấu
sự thay đổi của phát ngôn: tlay đổi về ngôi, về thời của động từ, vẻ thức và
những trực chỉ về thời gian và không gian Trong tiếng Việt, việc chuyển đổi lời nói (lời đẫn) trực tiếp sang lời nối (lời dẫn) gián tiếp đồi hỏi phải chuyển đổi
ngôn nhân xưng một cách phù hợp và bổ các yếu tố tình thái (vốn gắn với những,
đánh giá trực tiếp) đi Vì thế, việc chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn gián
tiếp khá phức tạp và khó khăn Chúng la hãy xern những ví dụ sau trong tiếng
Pháp và tiếng Việt:
27
Trang 31Xí du 19:
-_ Tôi nói: “Châu di công tắc ạ!”
-> Tái thưa với bà
Nếu chúng ta muốn chuyển lại những thành phần câu hay những thuật ngữ
như trên thì chúng ta phải chuyển chúng thành những câu trần thuật mang tính
diễn giải Chẳng hạn ở ví dụ (19) trên đây, tiểu từ tình thái “z” biểu thị sự lễ phép
lrong cau dan trực tiếp được thay bằng từ diễn giải sự lễ phép “24” trong câu
dẫn gián tiếp
Đến đây chúng 1a có thể kết luận rằng câu dẫn gián tiếp không chuyển lại
một cách trung thành và đầy đủ nhất các yếu tố trong một phát ngôn của một ai
đó Câu dẫn gián tiếp có sự phân biệt với câu dẫn trực tiếp ở chỗ câu dẫn gián
tiếp nhiễu khi không chuyển lại đẩy đủ các yếu tố ảmu than, hô ngữ Câu dẫn
giấn tiếp không cớ điểm ngừng trong lời kể và nó chỉ truyền lại thông tín chứ
không trình bày lại nguyên vẹn, chính xác những lời nói được chuyển hay được
dẫn Điều này có nghĩa là, phát ngôn thường được dẫn bởi một mệnh đẻ thuộc
kiểu: "anh ẩy/chị ấy nóiyêu cầu rằngilà ” và sẽ chịu một số thay đổi
Như vậy, cả bốn kiểu câu của câu dẫn trực tiếp trên khi chuyển sang câu
dẫn gián tiếp đều được thể hiện dưới dạng hình thức của câu trấn thuật Việc sử
dụng câu dẫn gián tiếp cho phép người kế chuyện thể hiện cô đọng, súc tích
những phát ngôn, duy trì được giọng kể và không làm ngất quãng mach của câu
chuyện Tuy nhiên, câu dẫn gián tiếp có thể hoà trộn vào câu dẫn trực tiếp, vì đôi
28
Trang 32kii người kể chuyện muốn truyền lại miột phần hay một vài biểu hiện đạc biệt
của phát ngôn của người nói Khi đó sẽ xuất hiện câu dẫn gián tiếp tự đo
1.3.3.Câu dẫn gián tiếp tự do ( Le điscours indireet libre — DIL) Trong cả hai ngôn ngữ nhất là trong tiếng Pháp, có một cách thứ ba chuyển
lại những lời nói, những suy ngií của một người nào đó Đó chính là câu dẫn
gián tiếp tự do Đây là loại câu mà chúng ta thường gặp trong văn chương nhưng,
diễn đớ không có nghĩa là nó không được dùng trong giao tiếp hàng ngày
"Theo quan điển của ngôn ngữ học, câu dẫn gián tiếp tự do là một thể
loại của giao tiếp Theo quan điểm của phong cách học, đấy là một thuơ tắc cảa
lái kể chuyện mà tắc giả muấẩn nhường vai trò của người kế chuyện cho chính
các nhân vật” [Clristian Baylon, Paul Fabre, Crammaire swstémaiiqgue de ia
,1997: 215]
langue francais
Câu dẫn gián tiếp tự do thường không dễ dàng được nhận ra, bởi vì các tác
giả đã dùng loại cân này với dụng ý nhằm gây nên sự rối rắm giữa những lời nói,
suy nghĩ của một nhân vật và sự đan xen thêm của chính tác giả
“Trong tiếng Pháp loại câu này đã tồn tại và được sử dụng từ rất lâu, La
TRonlaine ở thế kỉ 17, Hoặc Rousseau, Marivaux và một vài lác giả khác ở thế kỉ
18 đã sử dụng loại câu này, nhưng nó thực sự phát triển trong các cuốn tiểu thuyết của thể kỉ 19, và đến cuối thế kỉ 19 nó đã bắt đầu được đặt ra để nghiên cứu Còn riêng ở Việt Nam thì vấn để này vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu
ập đến Mặc dữ vậy nhưng trong cde Lac phẩm văn học thì câu dẫn giấn liếp
tự do vẫn được các tác giả sử đụng nhằm làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho tác phẩm Câu dẫn gián tiếp tự do có những đặc trưng như sau :
+ Câu dẫn gián tiếp tự do chuyển những suy nghĩ của một nhân vật, những phát ngôn của một ai đó sang đại từ ngôi thứ ba nhưng không có sự phụ thuộc
về mặt ngữ pháp của những động từ dẫn như :“"nót”, "thông báo”, "yêu cdu” ma
dũng những động từ hành động sợi ý gián tiếp sự bát dầu lượt lời (và cũng cổ sự
thay đổi về thức và thời), hay các liên từ như "rằng”, "lở” (điều nảy đốt lập với câu dẫn trực tiếp và câu dẫn gián tIẾH)
29
Trang 33+ Các động lừ dẫn chỉ hành động phát ngôn thường dứng trước câu tioậc
đứng chém xen giữa các câu đó Đôi khi trong trường hợp không cẩn thiết, tác
giả có thể bổ qua không cần sử dụng động từ dẫn này Câu dẫn gián tiếp tự do
cũng mang đặc trưng của câu dẫn gián tiếp lã có sự diễn giải nhu : /a mouche se plainr qu elle agit seule
+ Câu dẫn gián tiếp tự do cho phép người kể chuyện tham gia vào các
phat ngôn trong câu chuyện và chúng ta có thể nghe thấy giợng của một nhân vat
nào đó hòa cùng với giọng kể của câu chuyện hay của tác giả Câu dẫn gián tiếp
tự do giữ được những đặc tính tự nhiên và tính xác thƒc của cấc câu dẫn trực tiển
mà không tạo nên sự ngắt quãng của câu chuyện
Ví du 21:
- Elle avait passé la revue de son linge et choisi avec amour cclui de soic
qu'elle n'avait jamais porté pendant sa longue solitude Quelle robe mettrait -
elle? Celle qu'il préfévait jis était une robe bleue et blanche a rayere
pékinée Non, elle mettrait une robe noire qu'elle _s’ était taillée elle-méme et
qu elle égaierait par un col et une ceinture de couleur
( Chị chọn wong sé những chiếc áo lót của mình, nâng niu lấy ra một chiếc
bằng lụa mà suốt trong thời gian đài sống một mình, chị khong hé mac $2 mic
áo đài nào đây? Chiếc Áo ngày xưa anh thích là chiếc màu xanh lơ và mắng có
sọc bóng và mờ xen kể nhau Thôi, chị đảnh mặc một chiếc áo mẫu đen tự lay
chị ruay lấy và để cho bút về buôn thâm, chị sẽ thêm một chiếc cổ và một chiết:
“Trong tiếng Việt cũng tốn tại cầu dẫn gián tiếp tự do Tuy nhiên, câu dẫn
gián liếp tự do của tiếng Việt đơn giản hơn của tiếng Pháp bởi vĩ nó không gồ sự
thay đổi của thức và thời Chúng ta hãy xem ví dụ sau trong truyện “Vợ cổng A
Phử'" của Tả Hoài:
Ví dụ 22:
30
Trang 34- Dã từ nãy, MỊ thấy phối phải trở lại, trong lòng đội nhiên vui sướng nhụ
những đêm Tết ngày trước Mỹ trẻ lầm MỊ vẫn còn trẻ Mị muốn đi choi Bao
nhiêu người có chẳng cũng đi chơi ngày Tếi Huống chỉ A Sit véi Mi, khong có lòng vái nhau mà vẫn pgluit ở với nhan! [8 tr 93}
Qua ví dụ trên ta thấy câu dẫn gián tiếp tự do được chuyển lại một phẩn theo câu dẫn trực tiếp, một phần theo câu dẫn gián tiến Trong đoạn trích trên
các câu đều là câu dẫn gián tiếp tự do thể hiện những suy nghĩ và diễn biển tam
trạng, những khát khao, nong muốn của chính nhân vật (Mj) chứ không phải là
lời kể của tác giả nữa
+ Câu dẫn gián tiếp tự do được dùng gần giống với câu dẫn gián tiếp
theo những quy tắc của cách dùng thời động từ (người ta dùng thời tương đối, nếu
như câu dẫn gián tiếp là một phần của một văn bãn được dùng ở thời quá khứ),
những yếu tố chỉ xuất khác dé chi thời gian và nơi chốn, và gần giống với cau
dẫn trực tiếp theo cách dùng của những đại từ nhân xưng và tính từ sở hữu
+Trong nhiều trường hợp, câu dẫn gián tiếp tự do còn được biểu hiện dưới
dạng những mệnh để cẩm thần, nghi vấn, những hô ngữ hay thán ngữ và những 1uệnh để nghỉ vấn thường giữ nguyên trật tự cú pháp của câu dẫn trực tiếp Người
ta còn thấy rằng trong câu dẫn gián tiếp tự đo cồn có ngữ điệu của câu dẫn trực
tiếp, những biểu hiện của ngôn ngữ nói, những yếu tố, thành phẩn câu vụng về
hay những cấu trúc câu chưa hoần thănh
Xi du 23
Si notre chévre était heureuse | Plus de corde, plus de pieu rien qui Pempéchat de gambader, de brouter a sux guise Crest la qu'il y en avait de Therbe ! jusque pardessus les cornes, mon cher ! Et quelle herbe ! Savoureuse, fine, dentelée, faite de mille plantes
( Dé ta hoan hi biét chamg nao! Chd còn cái thing, céi cec nita cha còn ai cần được dê đi lại tùng tăng gdm có trà thích Mà có ở đây sao mà nhiều
đến thế, cứ là ngập lát xăng Và cổ mới tuyệt chữ ! Nào ngọt này, non sốt này, có
răng cưa này, đủ mùi, đủ vị của muân loài cây cả ) [Itr311
31
Trang 35Tóm lại, khi chúng ta muốn chuyển lại bất kỳ một câu chuyện hay một phát ngôn nào thì chúng ta đều phải sử dụng đến một trong ba loại câu dẫn trên
Mỗi loại câu dẫn đều có những đặc trưng ưu việt riêng để góp phần tạo nên sự
thänh công cho mỗi tác phẩm Chúng ta sẽ tiếp lục đi sâu nghiên cứu những quy
tắc khi chuyển từ câu dẫn trực tiếp sang câu dẫn gián tiếp trong cả hai ngôn ngữ
ở chương tiép theo.
Trang 36CHƯƠNG 2 : SO SÁNH NHỮNG QUY TẮC CHUYỂN TỪ CÂU DẪN
TRỤỰC TIẾP SANG CÂU DẪN GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG PHÁP VÀ
TIENG VIET
Như chúng tôi đã giới thiệu ở phần Chương 1, trong tiếng Phấp cũng như
tiếng Việt đều tổn tại ba kiểu câu dẫn là câu dẫn trực tiếp, câu dẫn gián tiếp và câu đẳn gián tiếp tự do Trong khuôn khổ để tài nghiên cứu này, chúng tôi không
cổ tham vọng để cập đẩy đủ đến cả ba kiểu câu đó (câu dẫn gián tiếp tự do chỉ
được dùng nhiễu trong văn học) Chúng tôi chỉ chọn phần so sánh những quy
tác chuyển từ câu đẫn trực tiếp sang câu đẫn gián tiếp trong tiếng Pháp và tiếng Việt vì đây là một nội dung rất quan trọng đối với những sinh viên học tiếng Pháp Trong phẩn này, chúng tôi sẽ trình bày cách chọn những động từ
dẫn, những thay đổi về trực chỉ như các đại từ nhân xưng, các từ sở hữu, thức,
thời cũng như trạng từ chỉ thời gian, nơi chốn của câu dẫn
2.1 Những động từ dẫn
Động từ dẫn thường đứng ở vị trí đầu hay cuối của câu dẫn Những động
từ này thường được dùng để truyền đạt thông tin, thể hiện ý định, thái độ của
người nói (le locuteur) Vì thế, chúng thường lä những động từ thể hiện lời nói,
suy nghĩ, tưởng tượng hay chỉ ra bản chất hành động ngôn từ được thể hiện rong
sự giao tiếp Việc lựa chọn động từ dân rất quan trọng bởi vĩ nó thể hiện sắc thai
riếng của câu dẫn
Xí du l:
Il a_dit qu'il en auadl asse¿ (dire (nói): động từ trần thuật đơn giản,
giếng trung)
2)H a erié qu'il en avait assez (erier (kéu lén): sic thai gian dữ, động từ
thể hiện trạng thất tính thần của người chuyển) Hới]
Tiếng Pháp cũng như tiếng Việt đêu có điểm chung giống nhau trơng v
lựa chọn động từ dẫn ở bốn kiểu câu sau: câu trần thuật, câu nghỉ vấn câu mệnh lệnh và câu cảm thần
33
Trang 372.1.1 Những động từ dẫn đăng cho cảu trấn thuật
Câu trần thuật được dùng để kế, xác nhận (là có hay không cớ), mô tả một vật với các đặc trưng (hoat động, trạng thái tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một
sự kiện với các chỉ tiết nào đó.[Diệp Quang Ban, Weữ pháp tiếng Việt tắp 2/2003 :225] Động từ thường dược dùng để dân câu là động tir
“nói”/“bảo (dire) Nhưng ngoài ra còn có nhiều động từ khác nữa cũng được
dùng để diễn đạt, thể hiện điều mà người ta muốn nói
a) Nếu muốn dẫn lại một điều khẳng định, chúng ta có thể dùng các động
Trang 38phủ nhận
phan đối
chối
bác bỏ phan bác
phản đổi
từ chốt cất lại
lấy chiếc đẳng hô
2 Nó cối lai bế mẹ : "Can nhất
định sẽ cưới có ấy làm vợ”,
-> Nó cất lai hố mẹ rằng nỗ nhất
định sẽ lấy cô ta làm vợ
(nier) (objecter)
(démentir }
( rejeter, repousser) ( réfiter, répliquer}
2 I s'est opposé à ses parenrs - "le
dois me marier avec elle”,
-> Il s'est _opposé a sex parents quil devait se marier avec elle
Trang 39
Tiếng Việt "Tiếng Pháp [4 tr 126]
1 Tai đã húa với lã rẻ: "Bổ sẽ đưa
các con đi thâm vườn bách thá”"
-> Tái đã hứa với lã trẻ là tôi sẽ
dầu: chúng Ai thăm vườn bách tui
‘Anh
2 Lần thể nguyên với có gấi
muốn cưới em”
-> Hẳn thê nguyên với cô gâi rằng
hắn muốn: cưới cô la
1 Fai_promis aux enfants “Te vous aménerai au zoo”
-> J'ak promis aux enfants de les
( déconseilleri dissuader} ,
i Théy gido khuyén hec sinh -
“Céc em nén chép bai chita vaa
trong vở”,
-> Thầy giáo khuyên học sinh chép
bài chữa vào trong về
3 Hẳn gơi ý: "Chúng mình nghỉ tay
đi uống cà phê đi ”,
Tiếng Pháp [4 tr 12%
i'’Le pofeseœ conseille aux
cahiers"
-> Le professeur conseille aux énudiants d'écrire la correction de
Pesercice sur lears cahiers
2° 1 gugôrg : “Il nous faut jouer
Ja carte”
36
Trang 40
-> Han got ý nghỉ việc để Äi uống > Hf sugegere qwil nous faut jouer
LOng hiéu truéng dénh gid -“Cau\ 1’ le directeur g jgế - - “Cet
étudiant est trés excéllent”
-» Le directeur a_jugé que cet étudiant était trés excéllent
2' A ava _fécilité: “Vous avex
học sinh này rãi xuất sắc”
->Ông hiệu trưởng đánh giá rằng
cậu học si này rất xuất sắc
3 Anh ta chúc mừng tỏi : "Anh để