Lịch sử nghiÊn cứu vấn đề Các đô thị ở Việt Nam nói chung, đô thị Thăng Long - I1ả Nội nói riêng có dặc diễm chung nhất, đễ nhận nhất dược cầu thành từ hai bệ phận dé va thi Hình dang v
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI -
TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN
NGUYEN HONG CHI
QUA TRINH ĐÔ THỊ HÓA CỦA HÀ NỘI THỜI
PHÁP THUỘC (1885-1945)
LUẬN VĂN THẠC SI LICH SU
Tả Nội - 2010
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI TỌC KIIOA TIỌC XÃ HỘI VA NILAN VAN
NGUYEN HONG CHI
QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA HÀ NỘI THỜI
Trang 3di trong, pham vi nghién ctu va mat sé khai mém
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
Dong gop cia luận văn
Câu trúc của luận văn
Chương 1: Khái quát về đô thị Thăng Long - Hà Nội
trước thời Pháp thuộc
Didu kiện địa 1ý tự nhiên, môi trường, sinh thái
Diện mạo Thăng Long - Hà Nội qua các giai đoạn lịch sử
trước thời thuộc Pháp
Dinh dé Thing Long va dign mao ban dầu Thăng Long đưới thời các triều đại Lý (1009-1225), Trần (1226-1400) và Hỗ (1400-1407)
Thăng Long đưới các triều đại Lê (1428-1527), Mạc (1527- 1592), Trinh (1593-1787) va Tay Sơn (1788-1802)
Thing Long - Ha Néi dudi thoi Nguyén (thé k¥ XIX)
Từ kinh đô đến trần thành
Từ trần thánh đến tỉnh thành
Diện mạo kinh tế - xã hội - văn hoá Thing Long - Ha Nội
Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp
Trang 4Những công trinh xây dựng đầu tiên (1875-1888)
Quá trình đô thị hoá Hà Nội từ 1888-1919
Chương 3: Quá trình đô thị hoá của Hà Nội thời Phán
thuộc, giai đoạn 1920 - 1945
Quy hoạch mở rộng đô thị -
Tác dộng của những nguyên tắc quy hoạch mới dén đô thị
hoá TH Nội
Nguyên tắc quy hoạch mới và sự đóng góp của E'c-ne-xtơ
Hé-bo-ra (Ernest Hesbrard)
Nguyên tắc quy hoạch mới và sự dòng góp cia Louis Georges
Pimeau
Ngưyên tắc quy hoạch mới và sự đóng góp của Xê-ruy-ti
Những cơ sở của dõ thị trên dường hiện đại hoá
Sự biển đễi của lỗi sống thị đân Hà Nội
Sự biến đổi thành phần dân cư đô thị
Biển chuyển chính về văn hoá xã hội của cư dân Hả Nội
Trang 5MỞ DẦU
1 Lý do chọn để tài
TIã Nội - thủ đô ngàn năm văn hiến, như cách gọi trong tiếng Việt là thành
thị hay dễ thị, được tạo thành từ hai yếu tố khởi nguồn chủ yếu Yếu tổ thứ nhất
là thành hoặc đô chỉ một toà thành, có nghĩa là nơi tập trung quyền lực, hệ thống
chỉnh trị vương triều, luôn khép kín trong bến bức tường thành kiên cễ Yếu tố thứ hai là ?ij có nghĩa là chợ Day là một yếu tế cơ bản để phát triển khu phố buôn bán bên ngoài những bức tường thành Đó chính là trung tâm kinh tế của
đô thị với các hoạt động thương mại, thủ công nghiệp và cư trú của cư dân
Đô thị hoá gắn liền với nếp sống đô thị hiện đại, gắn liên với bản sắc văn hoá đân tộc và Hà Nội Như là một nét rất đặc thù của thành phổ Thủ đô 1000
nam tuoi, dam nét bán
äc văn hoá Hà thành nói riêng cũng như dan te Viét
am nói chung Trải qua một quá trình đô thị hoá gần nghin năm, nhất là từ thế
kỷ XIX, XX trở lại đây, bản sắc văn hoá 1à Nội không những không bị mất đi
mà ngày cảng chứng tổ sự phát triển hiện đại, hoá nhập với những nét hấp dẫn
hơn Đó là hàng loạt các kiến trúc cổ, các đi tích lịch sử, văn hoá, các cảnh quan
xưa vẫn dược bảo tồn bên cạnh các công trình kiến trúc hiện đại, nhiều khu đô
thi mới, khu công nghiệp liền tục được xây dụng bến cạnh các làng nghề truyền
thông nỗi tiếng của Tà Nội
Có thể nói, đô thị hoá của Hà Nội luôn phần ánh sự tập trung tĩnh hoa trí
tuệ và văn hoá của cả nước, những diễn biến tích cực và tiêu cực của các vấn đề
văn hoá xã hội của các đô thị lớn củng tổn tại trong quá trình phát triển
Quá trình 46 thi hod 174 Nội thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã áp
dụng các biện pháp can thiệp về xây dưng và quy hoạch khác nhau trước hết
tạ
Trang 6phục vụ mục đích quân sự để cũng cố bộ máy chính quyền sau đỏ để có điều
kién khai thác nguồn lợi về kinh tế
Với hai mục tiêu đó, ngay ở giai đoạn đầu thực dân Pháp đã chiếm Hoàng,
thành Hà Nội, nhanh chóng phá huý toàn bộ hệ thông tường thành cùng các kiến
trúc truyền thông của một trung tâm hành chỉnh phong kiển Việt Nam ‘lrong khi
dé vin giữ nguyên khu vực 36 phố phường - một trung tâm buôn bán sam uất
dương thời để khai thắc nguồn lợi kinh tế qua hệ thống thud ding thời ủng hộ
việc xây dựng nhà thờ và các trường dòng Những loại công trình này phục vụ
dắc lực cho ý dỗ chính trị của thực đân
Các công trình xây đựng ở giai doan dầu được coi là những hạt nhân dễ phát triển ra xung quanh Hệ thắng dường phố rộng rãi dược quy hoạch theo
mạng ô cờ, có trang bị hệ thông kỹ thuật hạ tầng theo kiểu phương Tây, cùng với
việc dưa vào sử dụng những phương tiện giao thông cơ giới dầu tiên, là những
yếu tổ cơ bản thúc đầy quá trình phát triển, mở rộng thành phố Củng với thời
gian, lrong cầu trúc đô thị Hà Nội đã dần dần hình thánh những khu chức năng
riêng biệt Khu thương nghiệp, dịch vụ trung tâm trên trục đường ràng Tiền -
Hàng Khay, khu hành chỉnh, chính trị ở phía Đông hồ Hoàn Kiểm và trên khu
vực Hoảng thành Hà Nội, khu ở của người Pháp ớ phía Nam hỗ Hoàn Kiếm và
các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố Khu 36 phố phường vẫn
là khu thương mại, dịch vụ truyền thống
Người Pháp cũng đã lập các đồ án dịnh hướng quy hoạch cãi tạo và mở
rộng thành phố Hà Nội, áp dụng những nguyên lý quy hoạch hiện đại thịnh hành
ở Châu Âu đương thời.
Trang 7Lịch sử phát triển đồ thị Hà Nội gắn liên với quá trình đỗ thị hoá Hà Nội
trong hơn 10 thế kỷ Trong đó đô thị hoá không thể tách rời với quá trình phát
triển kinh tế xã hội Đó là một quá trình mang tính quy luật trong lịch sử phát
triển xã hội nói chung vả quá trình đô thị hoá nói riêng Quá trình đó cũng phản
ánh đầy đủ tất cá những thành công cũng như không thành công trong quá trình
phát triển cua nó Kinh tế xã hội phát triỂn, quá trình đồ thị hoá cũng phát triển,
hệ thống đô thị cùng phát triển Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vẫn đề “Quá trình
đô thị hoá của Hà Nội thời Pháp thuộc (1885-19453") làm để tải luận văn Thông qua vấn đề này tìm hiểu quá trình chuyển biển của đô thị Hà Nội từ đô thị
phương Đông truyền thống sang đô thị hiện đại kiểu phương Tây
2 Lịch sử nghiÊn cứu vấn đề
Các đô thị ở Việt Nam nói chung, đô thị Thăng Long - I1ả Nội nói riêng có
dặc diễm chung nhất, đễ nhận nhất dược cầu thành từ hai bệ phận dé va thi
Hình dang vật chất và vẻ ngoài cúa dô thị, quy hoạch và kiến trúc dô thị
cũng như các vấn để lịch sử và lý thuyết đô thị, đều được phần ánh qua mối quan
hệ biên chứng của hai yếu tổ đó
Đái với Thăng Long - Hà Nội - dỗ thị tiêu biểu vảo bậc nhất ở Việt Nam,
có vai trò là trung tâm chính trị và hành chính, trung tâm kinh tế va trang tâm
văn hoá Sự trường tổn uủa Thăng Long - Hà Nội gắn liễn với vị trí chính trị và địa lý của nó “Cá thể coi đó là một thành phổ thứ nhất hay duy nhất của Liệt Mam trước và sau khi chủ nghĩa tư bân Pháp xâm lược” [33,22 `
Quá trình hình thành và phát triển của đỗ thị Thăng Long - Hà Nội có vai
trò rất quan trọng trong phát triển chung của đô thị Việt Nam và đã là đối tượng nghiên cửu của rất nhiều ngành khoa học có liên quan như địa lý (bao gồm địa lý
in
Trang 8tự nhiên và địa lý kinh tẾ), lịch sử, xã hội học và đã có nhiều kết quả phong,
phú
Công trình nghiên cứu về đồ thị cổ Hả Nội có tính chất hệ thống là Luận
an Pho Liễn sĩ sử học của PGS.PTS Nguyễn Thừa Hỷ được bảo vệ năm 1983 về
Thăng Long - Ua Nội thể kỷ XVH-XVIII-XIX Dây là bản luận án tập trung nghiên cứu về kinh tế - xã hội của Thăng Long - Hà Nội trong khoảng thời gian
3 thế kỷ XVII, XVII, XTX trên phương diện nó là một thành thị trung đại No xét đến kết cầu kinh tế của thành thị, những thành phân kinh tế Nhà nước vả dân
k
gian, đế u cư dân, cơ chế vả sự giao lưu dẳng cấp trong thành ngoài thị
Luận án có sơ sánh đổi chiếu cấu trúc và sự phát triển lịch sử của Thăng luong -
Tả Nội với một số thành thị khác trên thế giới, chủ yếu là với các thành thị trung
dai Tây Âu
"trong cuốn “Đồ /hị cỗ Liệt Nam” của Viên Sử học, Uỷ ban Khoa học xã
hội Việt Nam xuất bản 1989 là một chuyên khảo về đồ thị cổ Việt Nam Công
trỉnh nhằm khảo tả và giới thiệu 12 đồ thị số ra đời và phái triển từ thế kỹ thứ II đến thẻ ký thứ XLX về các mặt lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội Trong đó Hà Nội đại điện là đô thị Lồn tại và liên Lục phát triển cha đến ngày nay, trở thành đỗ thị
hiện dại Tuy nhiên, phần trình bảy mới tập trung vào sự phát triển của đô thị
Thăng Long - Hà Nội đến cuối thế ký XIX Phần chuyển biến quan trọng của
Thăng Long - Hà Nội tử cuối thế kỷ XIX sang dô thị hiện dại kiểu phương Tây
chưa được đi sâu nghiên cứu
Những thành tựu về nghiên cứu đô thị cổ Việt Nam chủ yếu là từ thế kỷ XVII- XIX trở về trước, trong đó các đô thị - cảng hình thành trong các thế kỷ
XVII - XVIIL lai dic biệt duce quan tim (Gi thảo quốc tế về dô thị cô Hội An,
Trang 91990 và Hội thảo quốc lễ về phô Hiến, 1992) Riềng giai đoạn đồ thị thể kỹ XIX
và mở rộng đô thị thời Nguyễn (1802-1945) lại chưa được chú ý du day là thời
kỳ chuyển liếp, thế kỷ chuyển giao giữa đồ thị số phương Đông sang đô thị hiện
đại kiểu phương lây Irong giai đoạn này có đồ thị đã mất vai trò lịch sử như phế IIiển, Thanh Hà có đô thị chuyển tiếp giữa hai thế kỷ tạo nên một sức sống
mãnh liệt Loại dô thị chuyển tiến giữa hai thể hệ dưới thời Nguyễn ở nước ta
không ít, trong đó Hả Nội là một điển hình Nội dung này được để cập đến trong cuỗn “Đô thị Piệt Nam đưới thời Nguyễn" của các nhà nghiên cứu PGS.PT8 Nguyễn Thừa Hỷ - PIS Đỗ Bang và Nguyễn Văn Đăng - Nhà xuất bản Thuận TIoá năm 2000 IIà Nội từ vị trí là kinh đê của cả nước đã từng tồn tại 8 thế kỷ
sang mB tính thành Hà Nội thế kỳ XIX đã có nhiều chuyển biến và trải qua
những thăng trầm Trước hết là sự giảm thiếu của phần thành, đối với khu thị
kinh té Gn được duy trì hoạt động sản xuất và
buôn bản nhộn nhịp và có phần thịnh vượng hơn trước Dưới thời Nguyễn, diện
mạo kinh tế xã hội d6 thi ITA Nội trước vả trong khi thực dân Pháp xâm lược tập
trung chủ yếu ở khu đân cư 36 phố phường Sau khi Pháp dặt ách đô hộ trên toàn
cõi Việt Nam (1884), Hà Nội vẫn thuộc quyền cai trị của triều đình Nguyễn Tuy
nhiên, 4 năm sau (1888) Pháp đã ép nhà Nguyễn nhường cho Pháp một phần của
hai huyện Tho Xương và Vĩnh Thuận, để thành lập “thành phố Hà Nội” đặt dưới
quyền cai trị trực tiếp của Pháp Nhà Nguyễn ở day chi can một cơ quan đại diện
hỉnh thức gọi la Nha Kinh lược Bắc kỷ, nhưng đến năm 1897, cư quan này cũng
đã bị bãi bỏ Cũng năm này, Pháp thành lập Liên bang Dông Dương Như vậy, ở
Hà Nội dã song song Lồn tại ba chính quyền với bá quan chức người Pháp: Toản quyền Đông [ương, Thống sử Bắc kỳ và Đốc lý thành phố Hà Nội Với vai trò
một trung tâm đầu não chính trị, tốc độ đô thị hoá của IIà Nội đưới thời thuộc
Trang 10Tháp đã chuyển biến có phần nhanh chóng hơn so với những thé kỷ trước: sự
chuyển biến về quy hoạch đô thị và diện mạo đô thị Công cuộc đô thị hoá của
Hà Nội trong thời Pháp thuộc còn đem lại những chuyển biển về kinh tế, hệ
thống giao thông đô thị, xã hội - văn hoá, giáo dục
Về vấn để đô thị hoá ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng cũng đã
được đề cập đến trong các công trình: Đồ thị cỗ ở Hiệt Nam, Viện Sử học - Uỷ ban Khoa học xã Hội, Hà Nội năm 1989, Thăng Long - Hà Nội mười thê kỷ đô
thị hoá - PGS Trần Hùng, KTS Nguyễn Quốc Thông, Nhà xuất bản Xây dựng,
1993, Hà Nội chu lợ của những dỗi thạy - Tập san nghiên sửu kiến trúo, dô thị
và xã hội, tập hợp gẦn 20 bài viết của các tác giả người Việt Nam và Pháp về sự
hình thành của thành phố, về quá trình phát triển của các kiểu nhà ở, về kiến trúc
vả những yếu tố cấu thành tự nhiên của Thành phố Hả Nội, xuất bản năm 2005
và đặc biệt là Dễ tài NGKH cấp Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và Uỷ
ban Nhân din Thành phố Hà Nội năm 2008 về Quá trình đồ thị hoá Thăng Long
- là Nội, kinh nghiệm lịch sử và định hướng quy hoạch phát triển đỗ thị trong thời lạ công nghiệp hoá - hiện đại hod dat nước
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quá trình đô thị hoá của Hà Nội thời Pháp
thuộc (1885-1945) vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là chưa sử dụng được hầu hết các
tài liệu lưu trữ của Pháp về các vấn đề quy hoạch mớ rộng thành phố thời kỳ nảy,
tố đô thị mới làm thay dỗi điện mạo
sự chuyển biến vỀ mặt kinh tế, những y
đô thi, hình thành một lối sống thị dân mới là những yếu tế quan trọng trong,
quá trinh đô thị hoá
Trang 113 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ một số vẫn đề về quá trình dỗ thị hoá Hả Nội thời
Pháp thuộc (1888-1945)
- Phân tích những bước chuyến biến quan trọng của một đô thị truyền
thống phương Đông sang đô thị hiện đại kiểu phương Tây với trường hợp cụ thể
lả Hà Nội
- Đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của chính sách cai trị
thành phố IIà Nội của chính quyền thực đân Pháp qua những thay đổi vẻ diện mạo của đô thị Hà Nội, sự chuyển biến về mặt kinh tế, hình thành một lỗi sống
thị đân mới
4 Dối tượng, phạm vi nghiên cứu và một số khái niệm
Dải tượng nghiên cứu
Luận văn lấy quá trỉnh đô thị hoá của Hà Nội làm đối tượng nghiên cứu
chính Trong đó quá Irình đô thị hoá tập Irung chủ yếu vào các nội dung: sự biến
đổi của không gian đỗ thị và các ảmh hướng quy hoạch thành phô của Hà Nội
dưới thời thuộc Pháp; cách ứng xử oủa chính quyền thực đần Pháp đối với một
đô thị cỗ trên các mặt kinh tế, văn hoá xã hôi, kiên trúc và những yếu tô đô thị
mới xuất hiện làm thay đổi điện mạo của đô thị Hà Nội thời gian này
Là một đô thị, Thăng Long - Hà Nội, từ trong lịch sử đến ngày nay, mang
những đặc trưng chung của đô thị ViệL Nam: củng tính chất của đô thị phương
Dông thời trung đại, cùng tính chất của đô thị chuyễn đổi sang mô hình phương
Tây thời cân đại Nhưng Thăng Long - Hà Nôi khác với nhiều đô thị Việt Nam,
mà diểm khác biệt lớn nhất, trở thành xuất phát diễm cho những khác biệt khác,
Trang 12là vai trò trung tâm chỉnh trị, hành chính quốc gia của đô thị này Đây chỉnh là
nét riêng biệt làm nên đặc tính của Thăng Long - Hà Nội với tư cách một không
gian địa lý - lịch sử - trung lâm chính trị - hành chính, kinh tế, xã hội và văn hóa
Phạm ví nghiên cửu
Giới hạn thời gian nghiên cứu
- Giới hạn trên: Cuối thé ky XIX, giai đoạn nảy gắn liền với quả trình đánh chiêm Hà Nôi của thực đân Pháp
- Giới hạn dưới: 1945 một mô hình đô thị hoàn chỉnh với các chức năng,
đây đủ của đô thị hiện đại kiểu phương Tây
Giới hạn không gian nghiên cứu
Ila Nội cuối thể kỷ XTX đến năm 1945 trên phạm vi toàn thành phế
Một số khái niệm
Tên gọi Hà Nội chính thức xuất hiện vào năm 1831 du cuộc cải cách hành
chính của vua Minh Miệnh, vả tiến tục được giữ nguyễn cho dến ngày nay
Đã thị là là khái niệm chỉ không gian cư trú và hoạt động của cộng đông
cư đân phi nông nghiệp, lả trung tâm của một vùng lãnh thể, của một đơn vị
hành chính - lãnh thổ hoặc của đất nước Ngày nay, khái niệm dâ thị được ding
ở nhiều cấp độ khác nhau, có thé 14 ving đô thị, don vi hành chính - lãnh thổ đô
thị hoặc chức năng đô thị Thuật ngữ đã thị được dùng phế biến của luận văn
dùng để chỉ một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội mới được quy hoạch
và xây dựng đưới ảnh hưởng của người Pháp
Đã thị hoá (Theo KTS PGS Trần ITùng): đô thị hoá là một hiện tượng
kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trên không gian rộng lớn mả người ta có thể
Trang 13biểu thị qua các yếu tố: 1- Sự lăng nhanh cũa tý lệ đân số đô thị trong lổng số
đân, 2- Sự tăng số lượng đô thị đồng thời với sự mở rộng không gian đồ thị, 3-
Sự chuyển hoá nủa lao đồng từ đơn giản sang phức lạp, từ công cụ thô sơ sang
tinh vi, 4- Sự chuyén hoá từ lỗi sống dàn trải (mật độ thấp) sang tập trung (mật
độ cao), từ điều kiện kỹ thuật hạ tầng đơn giản sang điều kiện hạ tầng kỹ thuật
phức tạp
Dé thi hoa theo dịnh nghĩa của PGS.TS Trương Quang Thao: Đồ thị hoá
là hiện tượng xã hội liên quan tới những địch chuyển kinh tế - xã hội - văn hoá -
không gian - môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến hộ khoa học kỹ thuật tạo
đà thúc đẩy sự phân công lao động, sự chuyển đổi nghề nghiệp và hình thành các
nghề nghiệp mới đồng thời tạo ra nhu cầu dich vụ vao các trung tâm đô thị, đây
mạnh sự phát triển kinh tế làm điểm tựa cho các thay dỗi trong dời sống xã hội
và văn hoá, nâng cao mức sống, biển đối lỗi sống và hình thức giao tiếp xã hội,
làm nền cho một sự phân bố dan cu hop lý nhằm đáp ứng những nhú cầu xã hội
ngày càng phong phú vả đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi trường xây
dựng, môi trường xã hội vả môi trường thiên nhiên
Quy hoạch xây dựng dé th: là việc (ỗ chức không gian kiến trúc và bố trí
công trình trên một khu vực lãnh thể trong từng thời kỳ, lâm cơ sở pháp lý cho
việc chuẩn bị đầu tư xây dung, quản lý xây đựng vả phát triển kinh tế xã hội
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khu vực học được sử đụng trong luận văn nhằm nghiên cứu
những đặc trưng mang tỉnh lổng thể của khu vực Khu vực nghiên cứu là sự tang
hợp của các yếu tỔ: địa lý, con người, không gian chính trị - văn hóa - lịch sử,
11
Trang 14nhận thức rõ rảng những đặc thủ có tỉnh chất khác biệUđặc biệt cúa Thăng Long
- Hà Nội trong lịch sử cũng như hiện nay
‘Tim hiệu Thăng Long - Hà Nội, một thành thị/đô thị tiêu biểu nhất thời
phong kiến và cận đại nên phương pháp nghiên cứu đồ thị được ứng dụng một
cách triệt để Đó là phương pháp phân tích cầu trúc đô thị, tổ chức không gian đô thị, thiết lập các trung tâm phát triển cửa Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử
Phương pháp phân tích, đấi chiếu tư liệu, so sánh
6 Nguồn tư liệu
Luận văn sử đụng các nguồn tư liệu chỉnh là bản đề, tư liệu lưu trữ thời
Pháp, các công trình nghiên cứu về để tài đô thị và đô thị hoá của Thăng luong -
Hả Nội của các nhà nghiên cúu trong và ngoài nước
7 Dóng góp của luận văn
Nghiên cứu, phân tích đánh giá quá trình đô thị hoá của IIà Nội thời Pháp
thuộc trên các mặt,
1 Sự chuyển biến về quy hoạch đỗ thị và diện mạo dô thị: Hà Nội trong
thời kỳ Pháp thuộc có những bước phát triển nhất định, quá trình quy hoạch cũng,
như xây dung thực tiễn của thành phổ dựa trên quan điểm xây dựng một thành
phế thuộc địa, với các phân khu chức năng đô thị thể hiện rõ sự phân biệt, nhằm
thực hiện mục tiêu khai thác mọi mặt thuộc địa người Pháp Hà Nội đã có sự
chuyển biển căn bản từ không gian nông thôn sang không gian dé thi do mal độ
xây dựng không ngừng tăng lên từ một số vị trí ban đầu Dưới sự cai trị của
người Pháp là sự xuất hiện của những yếu tổ đô thị mới làm thay đổi diện mạo
Trang 15của Hà Nội từ một đô thị phương Đông truyền thông sang đô thị hiện đại kiểu
phương Tây
2 Dễ biến Hà Nội thành “thủ đê của Liên bang Dông Dương”, trong quá
trình quy hoạch và xây dựng Hà Nội, Pháp cũng để lại cho Hà Nội một số công
trình mang đậm phong cách kiến trúc Châu Âu Các công trình nảy vừa là những
điểm mốc địa lý, vừa tổ chức không gian công cộng Chính kích thước hoành
tráng đã khiến những công trinh nảy trở thành những yếu tố dộc dáo của cảnh
quan đô thị Nó cững là hình ảnh tượng trưng thiết lập mỗi quan hệ về thời gian
giữa thời diễm xây dựng vá thời điểm hiện tại, như một ký ức chung tạo ra cho các công trình này một vị thế đặc biệt Các công trình lịch sử này góp phần vào
quá trình phát triển đô thị thích hop vi nhin chung, các yếu tổ độc đảo này có khả
năng thúc dây quả trình đỗ thị hoá thành phố
3 Trong quá trình quy hoạch và xây dựng Hà Nội, các kiến trúc sư người
Pháp đã để lại cho Hà Nội những công trình mang đậm phong cách kiến trúc
Châu Âu và những công Irinh kết hợp hài hỏa giữa phong cách kiến trúc Châu
Âu với phong cách kiến trúc Á Dông Những công trình kiến trúc đó ngày nay đã
trổ thành di sản và lả nót đặc trưng của riêng Hà Nội
4 Quá trình đô thị hoá của Hà Nội trong thời Pháp thuộc còn đem lại
những chuyển biến về mặt kinh tế: sự thành lập của một số nha may đầu tiên
phục vụ như cầu tiêu dùng cho giới tư bản Pháp và quân lính tại Hà Nội, một số
xí nghiệp phục vụ cho hệ thống giao thông đô thị, những chuyển biến mới về
giao thông cũng như các phương tiên giao thông đô tì
5 Trong quá trình đô thị hoá thời Pháp thuộc, một lỗi sống thị dân, thé hiện trong các lĩnh vực của đời sống văn hoá xã hội đã dần dần được hình thành
13
Trang 16trong các giới thượng lưu và trung lưu Hả Nội Lỗi sẽng này dung hợp truyền
thống kinh kì thanh lịch của Thăng Long - Hả Nội cũ với các thành tựu van minh
tư sản phương Tây
8 Cau trúc của luận văn
Ngoài phần Mỡ đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được
Trang 17CHUONG 1:
KHÁI QUÁT VẺ ĐÔ THỊ THĂNG LONG - HÀ NỘI TRƯỚC THỜI
PHÁP THUỘC
1 Diều kiện địa lý tự nhiên, môi trường, sinh thái
Hà Nội là thành phố có điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái đặc thủ
Vé Vi tri: TIA NOi co vị trí, địa thế rất đẹp và thuận lợi: nằm hai bên bờ sông Hỗng, giữa vùng đồng bằng Bắc Hộ trủ phủ
V2 dia kink: Dang địa hình chủ yếu của Hà Nội là đẳng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bẫi cao và các bậc thêm Phần lớn
diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao
trung bình từ lãm đến 20m so với mặt biển Còn lại chỉ có khu vực đổi núi ở
phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rỉa phía nam cúa đấy núi Tam
Dâo có độ cao từ 20m đến hơn 400m, đỉnh Chân Chim cao nhất là 462m Ngoài
Ta còn có các ving trững với các hỗ đầm (dầu vối của những đỏng sông cổ) Địa
hình Hà Nội thấp dần từ Đắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, Điều này được
thể hiện rất rõ ở hưởng dòng chảy của sông Hằng - con sông lớn cháy qua lòng
Hà Nội
Và khi hậu: Khi hậu Hà Nội là đặc trưng của khí hậu Việt Nam: Nhiệt đới
gid mia ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa động lạnh, mưa ít Có lượng bức
xạ mặt trời đồi dào và nhiệt độ cao do nằm trong vùng nhiệt đới Nhiệt độ thấp
nhất là 2,7ˆC (tháng 1/1955) Nhiệt độ cao nhất: 46°C (tháng 7/2010) Hà Nội có
độ 4m và lượng mưa khá lớn do chịu ảnh hưởng của biển: Trung bình hằng nim,
nhiệt độ không khi 23,6°C, độ ấm 79%, lượng mưa 1245 mm Mỗi năm có
Trang 18khoảng 114 ngày mưa Hà Nội có đủ bốn mùa xuân, hạ, [hu, đâng Sự luân
chuyển của các mùàa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, da đạng và có
những nét riêng
Ưà Thủy văn: Hà Nội là thành phố gắn hiển với những dòng sông, trong
đó sông Hồng là lớn nhất Sông Hồng bắt đầu từ dãy Nguy Sơn (Irung Quốc), ở
độ cao 1776m, chảy theo hưởng tây - bắc /đông - nam vào Việt Nam từ Lào Cai
và chảy ra vịnh Bắc Bộ Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dải khoảng 30 km
Ngoài sông Hồng, trong địa phận Hà Nội còn có sông Tê Lịch, sông Kim Ngưu,
sông Nhuệ và song CaS
1à Nội có một hệ thông ao hỗ dày đặc Đây là một đặc trưng quan trọng
tạo nên nét riêng hiệt của cảnh quan Hà Nội Những hề lớn trong khu vực là hà
Tây, hề Trúc Bạch, hỗ Bay Mau, hồ Đồng Đa, hồ Iloàn Kiếm, hỗ Thanh Nhản,
hỗ Thủ lệ, hỗ Thành Công, hề Văn Chương, hồ Linh Đàm, hŠ Yên Sở, hỗ
'huyền Quang v.v
Hệ thống nảy có nhiều ý nghĩa đối với sự bền vững: hỗ Hoàn Kiểm và hỗ
Tây có thể coi là biểu Lượng của thành phố, các hồ trong công viên, ác hỗ gắn
với các công trình tôn giáo vả tín nguỡng (đây là một đặc điểm trong tổ chức
không gian Iruyền thống của các ngôi đình)
Tuy nhiên, quá trình đồ thị hóa tại Hà Nội đã làm cho diện tích ao hồ ngày
cảng thu hẹp lại Trên 50% số ao hồ đã bị lấp để phục vụ cho việc xây dung nha
Trang 19Miễn đất Hà Nội đã có cư dẫn sinh sống Lừ thời đá mới Vị trí tại nơi hợp
lưu của sông Hồng và sông Tô Lịch, một phần đã bị lấp đi nhưng nay còn dâu
vết ở gần vườn hoa Bách Thảo (cũ) và bao quanh phía Tây thành phố Trước đây
vùng nảy là vịnh biển sau nước rút mà thành Vỉ thể, ngày nay ta thấy thành phố
có nhiều hồ nước và xung quanh Là Nội có nhiều địa điểm lả đi chỉ của thời kỳ
dễ đồng, dồ sắt Xưa kia, nơi dây đã từng có ngôi làng ven bở sông Hồng
Khu làng cổ đầu tiên của Hà Nội xa xưa có cái tên huyền thoại lả Long Đỗ
(Rến Rồng), vào thời Hùng Vương - An Dương Vương dựng nước trước công
nguyên, thuộc “bộ” (hay “bộ lạc” Tây Vu) Trong thời Đắc thuộc là dất huyện
‘Tay Vu va Phong Khê đời Hán (đầu Công nguyên), đất huyện Vũ vả Nam thịnh
đời Ngô (hé kỷ II) và đời Tân (thế kỷ IV)
Từ giữa thế kỷ V, khu làng gốc của IIà Nội cổ đã phát triển thành một
huyện, rỗi nâng cấn thành một quận, mang tên là Tống Bình vào thời nhả lưu
'ống và nhả Tuy
Diến giữa thể kỷ VỊ, lần đầu tiên, với phong trào khởi nghĩa Lý Bí chống
Bắc thuộc thành lập nước Vạn Xuân, miền trung tâm Hà Nội cỗ đóng vai trò
trung tâm đất nước (trung tâm phong trào đầu tranh) với môt toà thành cỗ, cũng,
lần đầu tiên được xây dựng tai day Sach Luong (hư chép: nắm 545, Lý Bí (Lý Nam Để) “dựng thành luỹ bing tre pỗ ở cửa sông Tô Lịch” (cửa sông Tô Lịch
thông ra sông Hồng, sau là đất phường Giang Khẩu (Hà Khẩu) nay là khu vực
phổ Hàng Buồm, Ngõ Gạch, Cho Gao)
Sang thể kỹ thử VII, Tống Bình trở thành trung tâm thông trị cả miền dỗng
băng Bắc Bộ của nhà Tuy Sau cuộc xâm lược vào năm 607, quân tướng nhà Tuỷỳ
đã chuyển dời trung tâm đô hộ từ Long Diên tới Tống Bình và đã xây vòng thành
Trang 20bão vệ được đất tên là La Thành Đó là bức tường thành bằng đất có chu vi hơn
6km, vào thể ký IX thành được mở rộng thêm và mang tên Dai La
'từ đó cho đến đầu thé ky X, trung tâm Hà Nội cỗ trở thành dinh luỹ chủ yếu của chính quyền đô hộ phương Đắc, với một vòng thành “Đại La” rộng bao
quanh để cho Đại La từ đó trở thành một tên riêng nữa của Hà Nội cỗ và trở thành nơi giành giật giữa các luc lượng khởi nghĩa (tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa
của Phùng Hưng, cuối thế kỷ VTIT), các cuộc binh biến (tiêu biểu là cuộc nổi dậy
của Dương Thanh, đầu thế kỷ TX) cùng bợn thống trị ngoại bang
Dau thé ký X, với sự kiện họ Khúc đây nghiệp, Dương Đỉnh Nghệ và cuộc
kháng chiến của Ngô Quyển, trung tâm Hà Nội trở thành dia bản dấu tranh rỗi là chiến trường quyết dịnh số phận thế lực xâm lược vả thống trị phương Hắc, kết
thúc thời đại nghìn năm Dắc thuộc
Tuy nhiên, các vị vua ở đầu thời kỳ đất nước độc lập từ giữa thể kỷ X đến
dầu thé ky XI đã chọn Hoa Lư ở cách Đại La 100km về phía Nam dễ đặt kinh
đô Iloa Lư nằm trong vùng núi ở phía Nam đồng bằng sông Iiỗng có vị trí hiểm
trở nhưng khó khăn về giao thương
Cuối năm 1009, tại [Joa Lu (Ninh Binh), Lý Công Uấn được đưa lên làm
vua, sảng lập nên vương triểu Lý Lý Công Uẫn quyết định đời kinh đồ từ Hoa
Lu vé Bai La vao nim 1010 Theo truyền thuyết, khi tới Đại La đã nhìn thấy
*rắng vàng bay lên”, vua cho là điểm tốt nên chọn đặt kinh đô tại đó và thủ đô
mới được nhà vua đặt tên là Thăng Long
Hoa Lu là kinh đô của nước Dại Việt duéi hai triều Dinh (968-980) và
Tiên Lê (980-1009) là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quần sự
của một chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mỗi đe đoa của
Trang 21
thù trong giặc ngoài Với địa thể lợi bại của Hoa Lư, triều đinh đã đánh bại các
thé luc cát cử địa phương, khôi phục và củng cổ nên thông nhất quốc gia, triều
Tiên Lê đã đánh tan quân xâm lược nhá Tổng bảo vệ vững chắc nền độc lập cúa
dân tộc
Những thành quả bảo về và củng cố dộc lập dan tộc pắn liền với thống,
nhất quốc gia thời Ngô, Dinh, Tiền Lê đã tạo điều kiện đưa đất nước vào thời kỳ
mới: thời kỳ xây dựng dất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện
của dân tộc va nén vin hoá dân tộc Hoa Lư với vị trí và dia thé núi non hiểm trở
dã không đáp ứng dược vai trò kinh đô ở thời kỷ phát triển mới
Lý Công Uấn tức Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận
thức sâu sắc thm quan trọng của kinh thảnh dối với vận mệnh của đất nước và
vương triều nên đã quyết định đời đô từ Iloa Lư ra Thăng Long Trước ngày xây
dựng kinh thành Thăng I.ong, miền đất này đã là nơi dân cư đông đúc, buôn bán
thịnh vượng Nhờ những điêu kiện phát triển kinh tế xã hội sẵn có ở đây nên khi
Ly Thái Tổ thiên đồ tới, chỉ phải lo xây đựng Hoàng thành, còn những khu vực
nhân dân ở không phải xây dựng gì mới Nhở đó việc xây dựng kinh đô chỉ trong
may tháng cuối năm 1010 và 1011 đã cơ bản thành hình hài
Sau khi dời đô về Thăng Long, công việc đầu tiên của triều Lý là kiền
thiết cung điện làm nơi ở, nơi làm việc của triểu đỉnh quý tộc, xây dựng thành
luỹ bảo vệ Mùa thu năm 1010, một cụm kiến trúc trung tâm gồm các cung điện
dã được dựng lên: Điện Can Nguyén (ch coi chau), Điện Tập Hiển, Điện Giảng
Võ, Diện Cao Minh, Diện Long An, Long Thưy, Diện Nhật Quang và Diện
Nguyệt Minh, phía sau là hai cung Thuý IIoa, Long Thuy làm chỗ ở cho cung
nữ
19
Trang 22Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long chia lam hai phần: Hoảng
thành và Kinh thành Hoàng thành nằm trong lòng Kinh thành là khu vực nhà
vua và triểu đỉnh làm việc Kinh thành là khu vực nhân đân va quan lại ở, bao bọc lấy Hoàng thành Irong thành còn ngắn ra một khu vực nữa, gọi là Cẩm
thành, có tường xây kiên cố, có quân lính canh gác nghiêm ngặt - là nơi vua và
các hoảng hậu cung tần mỹ nữ ở
Đây là khu vực thánh - chính trị hay thành - thị quân vương giữ vai trò dầu
não của nhà nước trung ương tập quyền tức là trung tâm chỉnh trị của cd nước
Phia ngoái là khu thi din bao gồm những xóm làng nông nghiệp, những phố phường công thương và một hệ thống bắn, chợ của kinh thảnh Một vòng thành
ngoài cùng bao bọc toàn bộ khu vực thành và thị gọi là thành Đại La hay La
‘Thanh tite ‘Thang I.ang ngoại thành Vòng thành nay dap bing dat voi chic ning
vừa phòng vệ, vừa là đê ngăn lữ lụt mà nhà Lý đã nhiều lần sửa chữa, tu bổ Mặt
Đông, thành chạy đọc thco hữu ngạn sông Hồng như đoạn để của sông nảy (từ
Bến Nứa cho đến Ô Dông Mác ngày nay), mặt bắc dựa theo sông Tô Lịch phía Nam IIŠ Tây cho đến Yên Thải (đường Iloàng Iloa Thám ngày nay), mặt Tây
theo tả ngạn sông Tô Tịch từ Yên Thái đến Ô Cầu Giấy và mặt Nam theo sông,
Kim Ngưu qua Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dễn nói với đê sông lồng Như
vậy trên đại thể, thành này được giới hạn bằng ba con sông: sông Iiồng, sông Tô
Lịch vả sông Kim Ngưu Irong quy hoạch tự nhiên đó, thành cũng là đê và sông, cũng là hảo
Thăng Long với kiến trúc 3 vòng thành bao bọc nhau (tam trùng thành
quách) và kết cầu trong thành ngoài thị, đã sớm dược hoạch dịnh Từ một trung,
tâm chính trị, Thăng Long đã phát triển thánh một thành thị với những đặc điểm
cầu trủc chưng của các thánh thị phương Đông thời Irung đại Thành thị ấy có
Trang 23thừa hưởng một số thành quả xây dựng trước đó, nhưng vỀ cơ bản được quy
hoạch, cải tạo và xây đựng trên quy mô lớn từ đời Lý với tư cách kinh thành của
nước Đại Việt độc lập và thống nhất
22 Thăng Long dưới thời các triểu đại: Lý (1000 - 1225), Trần (1226 -
1400) và 1ô (1400 - 1407)
Sau khi đã chuẩn bị đây đủ cả về tỉnh thân lẫn vật chất, vào mủa thu, tháng
7 năm Canh Tuất (1010) Lý Công Uẫn đích thân tổ chức việc đời đô Lừ thành
Hoa Lu ra kinh phú ở thành Đại La Khi thuyền vừa dến nơi, dang tạm dé dưới
thành thi bỗng có rỗng vàng hiện lên trên thuyền ngự Nhân đó Lý Công Uấn quyết định đổi tên thành gọi là thành Thăng Long|“/,Z41| Thành Thăng Long với biểu tượng Rồng bay vừa mang khí thế vươn lên mạnh mế của đân tộc,
vừa chứa dựng ý niệm thiêng liễng về cội nguồn Rằng Tiên và ước mơ về nguồn
ước, mưa thuận gió hoả của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lua nước
Ngay từ những năm đầu định đô Thăng Long, nhà Lý đã tập trung xây
dựng khu vực thành - chính trị (thành thị quân vương) gồm chính giữa là Đại
Nội - nơi vua sông - với một vòng Cắm thành (Long thành) và 10 vệ điện tiền
cắm quân canh phòng nghiêm ngặt, phía ngoài là Iloàng thành (Thăng Long thành), có dào hảo, mở 04 cửa - nơi đặt các cơ quan triểu đình, thông ra khu thị -
dân cư (kinh tế, phố phưởng) ở ngoài củng và có vòng thành thứ ba - Dại La
thành (Thăng Long ngoại thành) bảo vệ, đồng thời là đê ngăn lụL, là đường giao
thông mở nhiều cửa ra vào ở các mạn đồng tây, nam
Quy hoạch “tam trùng thành quách” (ba vỏng thành bao bọc lẫn nhau) và kết cầu “trong thành ngoài thị” là quy hoạch kiến thiết - xã hội của đô thị IIà Nội
cô, đã ra dời từ rất sđm vả còn được bão lưu mãi về sau Về quy hoạch tự nhiên
be fae
Trang 24thì đây là một thành phố sông - hồ mà lãnh thổ chủ yếu là một vùng đất bồi,
nương theo và thích ứng tôi đa các hình thể tự nhiên sông hỗ đó, với giới hạn là
sông Hồng ở phía đông, sông Tô Lịch và Kim Ngưu ở phía tây và phía nam
Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long chia làm bai phần: Hoàng
thành và kinh thành Các thời sau đều theo cách phân chia ấy Hoàng thành nằm trong lòng kinh thành, khu vực nhà vua ở và triều đình làm việc Trong Hoàng
thành còn ngăn ra một khu vực nữa, thường gọi là Cắm thành, có tường xây kiền
cố, có quân lính canh gác nghiêm mật Dó là nơi nhả vua và các hoàng hậu, cung
tần mỹ nữ ở Cấm thành thời Tý gọi là Tong thánh, thời Trần gọi là T.ong phụng thành Các kiến trúc tôn giáo nỗi tiếng về quy mô và kiến trúc độc đáo cũng nỗi
nhau mọc lên trên khắp đô thị: Chùa Diễn IIựu, tháp Bảo Thiên, đến Dạch Mã,
miễu Đẳng CỔ dặc biệt là Văn Miiễu (1070)
Kinh thành là khu vực nhân dân và quan ở, bao bọc lấy hoàng thành, có
quan lại, quân sĩ và nhân dân ở lrong thời đại Lý - rần cũng như các thời kỳ
sau, khu vực quan lại quân sĩ ở Irong kinh thành Thăng Long thường ở phia nam,
ngoài Hoàng thành l2o vậy, các quan lại đều qua cửa Dại Hưng ở phía Nam
Hoàng thành mà vào triều Thời Lý, các hoảng tử và thái tử con vua đến tudi
trưởng thành đều không ở trong hoảng thánh mà ra ở những cưng phổ riêng dung
tai khu vực này Các hoàng thái tử đều có đông quân đội để phục vụ riêng, cho
nên những cung, phủ, nơi ở của các hoàng tử dều rộng lớn Dinh thực của các quan lại, doanh trại của quân đội nhà nước đều tập trúng ở đây
Quy hoạch khu vực đân cư của đô thị Hà Nội cổ với vùng công - thương
nghiệp phía Đông và nông nghiệp phía Tây được hình thành từ đời Lý, được các
dời sau tiếp tục noi theo Đời Trần, với việc hoạch dịnh 61 phường cho đồ thị,
họ hà
Trang 25hiển nhiên đã mở mang thêm và quy hoạch chặt chế hơn khu vực nảy Phố xả
cũng đần dần được lập nên ngày cảng nhiều Khu dân cư tập trung ngồi Hồng
thành tuy khơng được sắp xếp bố Irí chặt chế, nhưng do điều kiện sinh sống cũng
dan dẫn hình thành một quy hoạch hợp lý và cĩ phần độc đáo Thăng Long cũng như các thành thị phương Đơng nĩi chung, tuy cĩ phân biệt với nơng thơn,
nhưng khơng tách rời và đối lập với nơng thơn Ngay bên trong Thing T.ong
cũng cĩ một bộ phận kinh tế nơng nghiệp gắn bĩ chặt chế với những làng xĩm
nơng nghiện xung quanh
Hoại động kinh lế ở Thăng Long trong thời kỷ này bao gầm đú mọi
ngành: thương nghiệp, thủ cơng nghiệp và nơng nghiệp Những hoạt động kinh
tế ấy khơng những cĩ tác dụng quyết dinh sự phát triển của kinh thành Thăng
Long, mà cịn phần ánh một phần nào tình hình kinh tế chung của cả nước từ thế
+ỷ XI cho tới đầu thé kv KV
Chợ búa và bên cảng là trung tâm giao dịch của đơ thị Chợ lớn nhất là chợ Đơng, năm ngay trước cửa Đơng của Hồng thánh, củng với các chợ ở cáo
cửa thành khác, hinh thành nơi trao để: trực tiếp giữa phần “đơ” và phần “thị”,
cũng là nơi tập trung các hoạt động buơn bán của đơ thị Trung tâm thương
nghiệp Thăng Long lấy cửa Đơng - sơng Tơ - sơng Hồng làm giới hạn, là vùng
sim uất nhất kinh thành Ở đây tập trung nhiều phố phường - chợ bến mà trung
tâm là phường Giang Khẩu (cửa sơng Tơ), chợ Đơng, bến căng sơng Tơ (Giang Khẩu), bến cảng 'Iriểu Đơng (dễc Hoẻ Nhạ)
Các nghề thủ cơng nằm rải rác ở nhiều phố phường, nhưng tập trung nhất vẫn là khu Đơng và khu Tây của thành Thăng Long Từ thế kỷ XI-XV, ở Thăng
Long đã cĩ một số nghề chính nổi tiếng như: nghề dét gắm vĩc tơ lụa, nghề làm
be w
Trang 26vật liệu xây dựng, nghề làm đồ sứ, nghề làm đồng, nghề làm đồ vàng bạc châu
bau, nghé in, nghề làm quạt, nghệ nau rượu
Bên cạnh các nghề thủ công dân gian là những xưởng thủ công của Nhà
nước như xướng đúc tiễn, đóng thuyền, làm vũ khí, xo kiệu của vua quan
Từ khi bắt đầu định đô cho tới đầu thế kỷ XV, trải qua 400 năm, kinh
thành Thăng Long đã không ngừng phát triển Những công trình xây dựng ở
trong Hoàng thành cũng như ở ngoài khu vực đân ở ngày cảng nhiều Những
cảnh trí thiên nhiên ở Thăng T.ong cũng ngày cảng được sửa sang bồi dip lam
tăng thêm vẻ đẹp của kinh đồ của một thời kỳ độc lập Những công trình xây
dựng và những cảnh trí thiên nhiên dược sức người tô diễm thêm, không những
đã nói lên dược một phần nảo tính chất văn vật của kinh đô ‘Thing Long ma con
phân ánh một chừng mực nhất định trình độ phát triển của xã hội Việt Nam trong
thời kỳ phát triển của chế dộ phong kiến Có thể nhận dịnh rằng, kinh thành
'thăng Long thời Lý - lrần - Hỗ đã được xây dụng với quy mô của một thành thị
rộng lớn, có nhiều mặt sinh hoạt phong phú và một nền nghệ thuật khả cao, khác
hẳn những thảnh thị và những thành luỹ quần sự có từ trước lrên quá trình xây
dựng từ thời Lý - Trần trở đi, kinh thành Thăng Long ngày cảng phát triển và thịnh vượng, làm thú dô lâu đải cho các dời sau
23 Thăng Long dưới các triểu dại Lê (1428-1527), Mạc (1527-1592), Trịnh (1593-1787) và Tây Sơn (1788-1802)
Kinh thành Thăng Long ở đầu thời Lê bao gồm đất đai phủ Phụng Thiên
và vẫn lả kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần - Hồ, rử những cung điện dền
đài ở trong Hoàng thành do bị giặc Minh phá huỷ đã được nhà Lê dần sửa chữa
và có thêm nhiều công trình mới Vào cuỗi thế kỷ XV, đời Lê Thánh Tông,
Trang 27tường Hoàng thành do xây đã lầu ngày nhiều chỗ bị đã nên đã phải sửa đắp lại
Dại La được kiên cỗ hơn, nhưng về cầu trúc thành luỹ thì thành Dông Kinh vẫn
dựa trên cơ sở thành Thăng Long thời Lý - Trần và vỏng thành ngoài vẫn mang
tên thành Dại La Vòng thành thứ hai được chính thức gợi là Hoảng thành Năm
1474 và 1500, nhà Lê cho sửa chữa, xây dựng lại tường thành phía Tây và phía
Đông của Hoàng thành Năm 1490, vòng thành trong cing (cén gọi là Cung
thành hay Phượng thành) được mở rộng Năm I516, Hoàng thành được mổ rộng
thêm về phía Đông,
Căn cứ vào bản đỗ Tầng Đức năm 1490 thì Iloàng thành thời Lê bao gồm
cả khu vực Hoàng thành Thăng Long thời Lý - 'rần và khu vực tỉnh thành Hà
Nội vào thời Nguyễn Nhưng những bản đỗ này được vẽ theo kiểu ước lệ nên các
vị trí chưa xác dịnh chính xác trên bản dễ thời nay Cũng theo các tư liệu cũ thì
cảch thức bê trí, xây dựng trong Hoảng thành buối đầu thời Lê có thể hình dung
như sau: chính giữa Hoảng Lhảnh là điện Kính Thiên xây dựng năm 1428 14 noi
nhả vua hội họp với triều thần để bàn những công việc lớn của Nhả nước Bên
phải điện Kinh Thiên là điện Chí Kính, phía sau về bên trái là điện Vạn Thọ cũng
xây dựng năm 1428 Đằng trước diễn Kính Thiên là cửa Đoan Môn, hai bên có
cửa Đông Tràng An và Tây Trảng An ăn thông ra hai phía Đông và Tây trong
Iloang thành Phía Đông [loang thành còn có khu Đông cung là nơi bố trí các
cung điện của Hoàng Thái tử, phía trước khu Đông cung là khu nhà Thái Miéu,
nơi thờ tổ tiên của nhà vua Khu phía Tây [loang thành có nhiều hẳ và núi có bố
trí các đài các, đền miễu và vườn Thượng lâm dùng lảm nơi giải trí thưởng
ngoạn của Hoảng gia
Ngoài một số cung điện chính nêu trên, Hoàng thành còn có hàng trăm
cung điện khác, vào đời vua nào cũng có thêm những công trình xây dựng mới
họ or
Trang 28Riêng nằm 1512, vua Lê Tương Dực cho Vũ Như Tỏ đứng ra trông nom xây
đựng 100 cung điện có gác vả khởi công làm Cửu Trùng đài, một cung điện nguy
nga tráng lệ nhưng không hoản thành được đo có các loạn tràn kéo dai bir nim
1516 đến năm 1527
Kinh thành là nơi nhân dân và quan lại ở thì từ sau cuộc chiến thắng quân
Minh ở đầu thế kỹ XV, ngày càng mở rộng và luôn luôn tu sửa thêm Năm 1749,
vua Tê chủa Trịnh đã tiến hành công cuộc sửa đắp đối với thành Đại 1a, thành
Dại La lúc ấy còn được gọi là Dại Dệ, mở tắm của thông ra ngoài, mỗi cửa đặt
hi õ tả và hữu có bình lính canh gác ngày đêm Một trong những cửa Đại La ấy
là cửa Thanh Hà vẫn còn di tích đến ngày nay Đại la đắp bằng đất không cao
lắm, bên cạnh tường nhỏ, trên mặt là đường xe ngựa đi, ở mé ngoài là hàng rào
che kín, đưới chân tường là hao sâu, trong hảo thả chồng rất kiên cố Thành có
ba vọng canh luôn có lĩnh canh gác
Sự bế trí trong kinh thành Thăng Long từ đầu thế kỷ XV đến cuối thể kỷ XVII không có gì khác với kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần Khu phía
Nam kinh thành vẫn là khu vực các quan lại vả quân sĩ ở Năm 1497, Lê Thánh
Tông cho xây viện Đãi Lậu ở ngoài cửa Đại Hưng gồm hai dãy nhà, mỗi đấy ba
gian làm mới để các quan nghỉ đợi piờ vào triểu Tại cửa Đại Hưng cũng dựng
đỉnh Quảng Văn làm nơi yết thị nhũng pháp lệnh của triều đình Nhân dân ở khu
vực các phường dân cư ngoài Hoàng thành không ngừng phát triển Năm 1466, vùng kinh sư đặt thành phủ ‘Irung 6 gdm 2 huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương
Năm 1469, phủ Trung Đô đổi tên làm phủ Phụng Thiên Khu dân cư của hai
huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường
Quy hoạch 36 phường của Thăng Long bắt đầu từ đó
họ a
Trang 29Phường là một đơn vị hành chính cơ sở, tương đương với xã ở nông thôn
cũng là nơi tập hợp những người cùng nghề Cư dân 36 phường bao gồm nông
dân, thợ thủ công và thương nhân, trong đó có những phố - chợ buôn bán Lập nap
và những phường thủ công nỗi tiếng Trong 22w địa chí của Nguyễn 'Hrãi có nhắc tới một số phường thủ công chuyên nghiệp như phường Tảng Kiếm (Ilàng
Trồng) làm kiệu, áo giáp, đồ đài mâm võng, gắm trửu, đủ lọng, phường Yên Thái
(Budi) chuyên làm giấy, phường Thuy Chương (Thuy Khê) và phường Nghỉ
Tam (làng Nghỉ Tàm bên 1Iồ Tây) dệt vải và lụa, phường Tà Tân (sau là Giang
'[ân, bờ sông Hồng) nung vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Iä Nhất
(An Nhất, cuối phố IIuế) làm quạt, phường Đường Nhân (Hàng Ngang) bán áo
diệp y, phường Thịnh Quang (ngoài Ô Chợ Dừa) làm long nhãn
Năm 1527, triều Mac (1527-1792) thay thể triều Lê Chính sách cai trị của
triều Mạc nói chung có nới rộng hơn so với triều Lẻ và trong thời gian đầu có tạo
ra được linh trạng xã hội Ổn định Để đề phòng những cuộc lan công của quân
'Irịnh, nha Mac lo tăng cường hệ thống thành luỹ phòng vệ quanh thành Thăng Long Nim 1588, nha Mac (Mac Ilau Ilgp) huy động quân bến trần vùng đồng
bằng dắp thêm 3 lần luỹ ngoai thanh Dai La Trén ban dé hién nay, thanh này bắt
đầu từ Nhật Tân, chạy theo phía TIŠ Tây qua Dưởi, 6 chu Gidy, theo đường
Giảng Võ, La Thành qua Ô Chợ Dừa, Kim Liên rồi theo đường Đại Cổ Việt,
'Irần Khát Chân qua Ô Câu Đễn, Õ Đống Mác ra tới để sông Hồng Như vậy,
thành Đại La được xây đắp thêm vào thài kỳ này, rộng hơn thánh Đại La thời kỳ
trước vì đã đưa toàn hộ khu vực Hồ Tây vào trong pham vi thành ‘Thing long,
Có thể coi công cuộc xây dụng của Mạc Miậu Hợp đã in định vị trí và điện mạo
của Hoàng thành Thắng Long từ cuối thể kỹ XVI đến thế kỷ XVIL
hở ~
Trang 30Nhung tử năm 1545, quyền bính lại nằm trong tay họ Trịnh Đây là khởi
đầu của chính quyên vua Lê - chúa Trịnh kéo dài đến năm 1786 Dông Kinh
được trở lại tên gọi Thăng Long - là đỗ thành của triều Mạc rồi của chính quyền
vua Lê - chủa ITịnh Mọi công việc tu tao, kiến thiết ở đây đều nhằm phục vụ
nhu cầu chính trị - quân sự của nhà nước phong kiến
Một nét mới trong quần thể kiến trúc cung đình của Thăng Long thời Lê -
Trinh là sự xuất hiện cụm kiến trúc Phủ Chúa Trong khu Hoàng thánh của vua
Lê ở thế ky XVII - XVIII bi thu hep lại và chỉ đuy tri trên một mức độ nhât định
vẻ bề thể đã có sẵn từ trước thì lúc nảy trung tâm của kinh đô đã chỉnh thức chuyển dịch ra phía ngoài Hoàng 'Thành với sự xuất hiện của quẦn thể nhủ Chúa
Trịnh
Luc đầu, phủ chúa Trịnh có thể là tạm đóng ở các thôn Thái Kiểu (khu vực ngõ chợ Khâm Thiên hiện nay) và bãi Thảo Tân (khu vực Nhà hát Lớn), sau đó
chính thức dời về phường Phúc Lâm, phía nam kih thành Lê Hữu Irác có ghi
lại là “Qua cửa Đại Hưng rỗi rẽ thco lỗi bên phải, đi chừng nửa dặm, tới dinh
quan Chánh đường (tức dinh Hoàng Dình Bảo ở cạnh phủ Chúa Irịnh}” Theo
Giao Châu dư địa đồ thì Vương phủ được vẽ ở phía tây - nam hỗ Tả Vọng Theo
băn để Trung Đô thời Hồng Đức, thi Vương phủ dược vẽ ớ phia nam tháp Báo
Thiên Căn cứ vào đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đoán định răng, phủ Chúa Trịnh
có thể ở quãng giữa phổ Tràng Thị, cạnh Nhà thờ Lớn, hoặc lui xuống nữa ở quãng giữa giữa phố Thợ Nhuôm (ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thuý)
hoặc ở trong tứ giác của các phố Lý Thường Kiệt - Bà Triệu - Nguyễn Du -
Quang rung ngày nay (ý kiến của nhà nghiên cửu Trần Huy Bá)
họ Es
Trang 31Như vậy, quần thể phủ Chúa Trịnh được xây trên một diện tích rất rõng,
lớn, trong đó, khu chính là ở phía tây - nam hề Hoàn Kiểm ngày nay Sau đó có
thêm nhiều cống trình kiến trúc khác, tiến din sang phía đông và đồng - nam, sắt
bờ sông Nhĩ (trải dải trên một trục tử viện Bảo tảng Lịch sử đến Bệnh viện Hữu
nghị ngảy nay)
Mặc đủ đã để tiền của công súc xây đựng to lớn lộng lay như vậy, nhưng
các chúa Trịnh vẫn chưa yên tâm cho ngôi vị của mình Kẻ từ chúa Trịnh Cương,
các Chúa Trịnh đã cho xây dụng phủ đệ mới ở Cễ Bi (Gia Lâm), đến đời chúa
Trinh Doanh tiếp tục cho xây đựng cung miễu ở Cổ Đi và có ý muốn thiên đô
sang Gia Lâm Nhưng các chứa Trịnh chưa kịp thực hiện ý đỗ đó thì năm 1786,
khi chú tưởng nông dân Tây Sơn Nguyễn Tuệ kéo quân vào Thăng Long lần thứ
nhất tiêu diệt nhà ‘Trinh, pho vua I.ê rồi nhanh chóng rút về Phú Xuân Trịnh
Bồng về phủ Chúa Trịnh hòng khôi phục lại địa vụ của nhà chúa Vua Lê Chiêu
Thong sau khi đã cầu cứu Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi Trịnh Bỗng ra khối phủ
Chúa, liền “sai người đốt cháy Phủ Chúa tiêu thổ trụi hết” Cả một quân thể
dinh cơ nguy nga đỗ sộ được xây dựng hàng trăm nấm chỉ côn những đồng tro
tan Điều đó dã khiến cho đỗ thị Hà Nội cỗ trong các thế kỹ XVII-XVTH có nhiều nét đặc biệt
hở sọ
Trang 32Dưới triểu lây Sơn Thăng Long không còn là kinh đồ của cả nước, nhưng
là thủ phủ của cả khu Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay) với vị trí đặc biệt quan trọng,
và luôn lưôn được Quang, Irung cũng như vương triều ‘Ty Son quan tâm Hơn thể nữa, bên cạnh tên gọi mới là Bắc Thành, tên Thăng Long vẫn được bảo tổn
và là một nơi đô hội, một trung tâm kinh tế, văn hoá có nhiều gắn bó với Tây
Sơn - Quang Trung
Tuy không còn là một trung tâm vẻ chính trị, Thăng Long lúc này vẫn là
một trung Lâm kinh tế lớn của đất nước, tiếp lục phát triển củng với đà phát triển nền kinh tế hàng hoả của dất nước ở các thể kỷ XVII - XVIH Cái tên “Kẻ Chợ”
phế biến trong dân gian thời kỳ này, xứng hợp với một thực chất của đô thị
Dưới các triều đại Lê (1428-1527), Mạc (1527-1592), Trịnh (1593-1787)
và Tây Sơn (1788-1802), về mặt kinh tế thành thị Thăng T.ong vẫn có những mặt
phát triển phồn vinh biểu hiện tập trung ở khu thi din eda kinh thành Trong thời
kỳ này, thương nghiệp là ngành kinh tế phát triển nhất ở Thăng Long do có nhiều
sông ngòi thuận tiên, việc liên hệ kinh tế giữa kinh thành ‘Thing, Long với các địa phương ngày càng chặt chẽ Vào thời hậu Lê, những thuyền buôn từ Thanh Nghệ
và các trấn & miền Nam ra kinh thành cũng như các thuyền buôn lừ mạn ngược
về kinh thành thường xuyên hoạt động Việc buôn bán trên sông Hồng lúc ấy rất
nhộn nhịp
Hoạt động thương nghiệp của Thăng Long phát triển mạnh mẽ nhất là qua
mạng lưới chợ, bến cảng, phế xá Các chợ thường tập trung nhiều nhất ở các cửa
ô, cửa thành và bờ sông là những nơi thuận tiện cho sự tiếp xúc, đi lại
Các nghề thủ công truyền thống của Thăng Long thời kỷ này đã có nhiều
phường chuyên nghiệp, trong đỏ bao gồm những người lắm nghề thủ công và
Trang 33phan lớn còn kết hợp cả buôn bán Đến cạnh những phường chuyên nghiên, củn
có nhiều quan xưởng (Cục Bách tác) và công binh xưởng (kho võ khô) Việc
buôn bán ở Thăng Long cảng thịnh vượng thi din số càng tăng, phố phường
cảng đông đúc
Từ dầu thế ký XVII, ở kinh thành Thăng Long bat dau cá người phương
Tay tới buôn bán, đông nhất là người Hà Lan, người Bổ Dào Nha, người Anh rỗi người Tây Ban Nha, người Pháp Những công ty thương mại của người Hà Lan
và người Anh đã lập cửa hiệu ở Thăng Long và các thương điếm ở bờ sông
Hồng Các nhà buôn Trung Quốc, Nhật Bản cũng có nhiều người buôn Lo ở
‘Thang Long ‘Tinh hinh buôn bán với các địa phương trong nước vả nước ngoài
phát triển như vậy nên các phường phố của Thăng Long cũng ngày cảng sâm uất
2.4 Thăng Long - Hà Nội đưới thời Nguyễn (thế ký XIX)\
2.4.1 Từ kinh đô đến trấn thành
Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại chính quyền Quang Toản, lập nên chế độ quân chủ của triều Nguyễn trên phạm vi cả nước Nhả Nguyễn đóng đô ở Phú
Xuân, và Thăng Long vẫn là thủ nhủ của Bắc Thành gồm 11 trấn
Gia Long chưa đám xoá bố tên Thăng Long nhưng đổi chữ “Long” là
“Rồng” thành chữ “Long” là “Thịnh”, lẫy cớ rồng là tượng trưng cho vua, chỉ có
thể dùng cho đất kinh sư má thôi Cũng với Linh thần đó, chữ Hoàng thành không
dược dùng nữa, tiến lên một bước, năm 1803, Gia Long ra lệnh phá bỏ Hoàng
Thành cũ và xây đựng một toà thành mới kiểu Vauban quy mô nhỏ hơn cho
tương xứng với vị trí của một trấn thành
‘Tran thành Thăng Long thời Nguyễn hình vuông, chu vi hơn 1285 trương (khoảng 5 km) Tường thành cao hơn 1 trượng (khoảng 4 m), đây 4 trượng
Trang 34(khoảng 16m), phía dưới xây bằng đá xanh, đá ong, phía trên bằng gạch hộp
Thành mở 5 cửa: bắc, đông, tây, đông nam và tây nam Các cửa nảy được xây
dựng vào năm 1805 Bên ngoài các cửa thành có Dương Mã thành là một loại
công sư bảo vệ gồm hai bức thành vuông góc nhô ra phía ngoài Mỗi Dương Mã thành có một cửa bên rộng 1 trượng (khoảng 4 m) gọi là Nhân Môn rồi mới đến
cửa chính Chung quanh thành có hào nước rộng chừng 4 trượng (16m)
Bên trong thành chính giữa có điện Kính Thiên vẫn ở vị trí cũ trên núi Nùng, chỉ mở cửa khi vua ngự giá bắc tuần
hoặc tiếp sử thần phương bắc Phía trước điện
Kính Thiên có cửa Đoan Môn cũng là di tích
của Hoảng thành cũ nhìn thẳng ra kỳ đải cao
60m xây dựng năm 1812 Hai bên đông tây là
công đường dinh thự, kho tàng và doanh trại
quân lính
Trong phần lớn thế kỷ XIX, thành Thăng Long - Hà Nội dù không cỏn giữ
vị trí là trung tâm đầu não đất nước song trong một chừng mực nào đó địa điểm này vẫn đóng một vai trò chính trị quan trọng Năm 1804, điện Kính Thiên, công
trình kiến trúc tiêu biểu và nổi tiếng thời Lê trở thành địa điểm chính đặt hành
cung của các vị vua của triều Nguyễn nghỉ ngơi mỗi khi tuần du ra khu vực phía
bắc bên cạnh một khu nhà 5 gian được xây dựng phía sau Công trình nảy chỉ
được sử dụng cho nhà vua và được coi là một trong những khu vực tôn nghiêm
nhất của toà thành Phần lớn những vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đều dùng
hành cung ở thành Hà Nội làm nơi ở, giải quyết và đưa ra nhiều quyết định quan trọng của quốc gia tại nơi này
Trang 35Nếu như giai đoạn 1802 - 1830, khi triều Nguyễn duy trí chế độ quan ly
đại điện theo khu vực thì khi đó, trung tâm chính trị Hà Nội có mệt vị trí quyết
định đối với không chỉ đối với cáo khu vực phụ cận mà là toản bộ vùng lãnh thỏ
rộng lớn ở miễn bắc Thành Hà Nội với vai trỏ là thủ phủ của trấn Bắc Thành cũng vi thể có một ở nghĩa không kém gì so với kinh thành Iluế Năm 1831,
Minh Mệnh tẾ chức quản lý nhá nước theo phạm vi của các tỉnh, toả thành nay
chỉ còn đóng vai trỏ là trị sở của tính Hà Nội), song những ảnh hưởng về kinh tế,
văn hoá của nó không vì thế mà suy giảm
Voi vi thé dé cho nên chẳng bao lâu sau ngày xây dựng thành, hệ thông dinh thự của các quan lại cũng nhanh chóng được mọc lên nhằm đảm bảo các chức năng hành chính - chính trị Những dấu tích kiến trúc còn lại và những
thông tin khá rõ tử các tài liệu của phương Tây da dan giúp người ta có thể hình
đung một cách khá cụ thể về một hệ thông kiển trúc quan phương
2.4.2.Từ trần thành đến tỉnh thành
Năm Tân Xião (1831), vua Minh Ménh tiến hành cuộc cải cách hành chính
nhằm lăng cường quyền lực của chính quyền trung ương và củng cố sự thẳng
nhất quốc gia Cấp tông trần Bắc Thành và Gia Dinh Thanh bị bãi bỏ Trong năm
1831-1832, sâ nước chia ra làm 30 tỉnh đặt dưới sự cai quan thông nhất của triều dinh trang ương,
Vùng trấn li của Bắc Thành được mở rộng và sắp xếp lại thành tỉnh Hà
Nội lập năm 1831 Từ một phủ Hoài Dức gồm hai huyện Thọ Xương và Vĩnh
Thuận, triều Nguyễn lấy thêm huyện Từ Liêm (thuộc Sơn Tây) vào phủ Hoải
Dức, rồi lại lấy 3 phủ Ứng Hoả, Lý Nhân và Thường Tín của Sơn Nam để đặt
thành tỉnh Tà Nội Như vậy tỉnh IIà Nội thời Minh Mệnh gồm 4 phủ là Hoài
Trang 36Đức, Thường Tin, Ung Hoa va Ly Nhân, 15 huyện là Thọ Xương, Vĩnh Thuận,
Tủ Liêm, Thượng Phúc, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Dức, Sơn Ainh, Hoài
An, Nam Xang, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng và Thanh Liêm
[19,219]
Về nguyên tắc, triều Nguyễn đặt chức tổng đốc Hà Ninh dé cai trị cá hai
tỉnh Tà Nội va Ninh Bình Nhưng riêng lĩnh Hả Nội, vì đây vốn là kinh đỗ xưa
và là trị sở của Bắc hành, lúc mới chia đất đặt quan, công việc nhiều hơn vả có tầm quan trọng hơn nơi khác, cho nên triều Nguyễn đặc cách đặt chức tuần phủ
Hà Nội Người dầu tiên giữ chức tuần phủ Hà Nội là Đặng Văn Thiêm
Như vậy, từ dịa vị là kinh đô của nước Đại Việt, dến thời Nguyễn, Thăng
Long trở thành trần lị của Bắc Thành tổng trấn, rồi từ năm 1831, chỉ còn lả tỉnh
thánh của tỉnh Hà Nội Tuy vậy, tình Hà Nội vẫn giữ vị tri hết sửc quan trọng về
mặt chính trị của triều Nguyễn, đặc biệt là về ngoại giao và vẫn là trung tâm kinh
tế, văn hoá lớn của đất nước
2.4.3 Diện mạo kinh tế - xã hội - văn hoá Thăng Long - 114 NGi
Từ một kinh đô trở thành trụ sở của trấn rồi của tỉnh, phần Thành - Chính
trị của Thăng Long - Hà Nội bị giảm sút rõ rột Thành ngoài của Thăng Tong -
TIả Nội thời Nguyễn cũng bị thu hẹp ở mặt Tây Mặc du vậy, phần thị - kinh tế
tuy có bị ảnh hưởng nhưng lại có mặt phát triển độc lập cũa nó vả nhở đó, giữ được bô mặt đô thị Thăng Long - Hà Nội
Khu vực nông nghiệp của đô thị vẫn được mở mang thêm, đồng thời với
sự phát triển của khu vực công thương, từ nơi tập trung ở phía đông, lan rộng
thêm về phía đông nam Từ kết quả phân tích dịa hạ huyện Thọ Xương thời
Nguyễn của một số nhà nghiên cứu cho thấy cu thé hon tổ chức hành chính của
Gr
Trang 37
Thăng Long - Hà Nội xưa và cơ cấu kinh Iế của đô thị này Đến pitta thé ki XIX,
phần thị trung tâm kinh tế của Hà Nội, vẫn phân chia theo don vị tổng rồi xuống,
đến phường, thôn trại Địa bạ đượo thành lập theo đơn vị phường thôn, trại và
dấu ân nông thốn còn khá đậm Về mặt chức dịch, cấp tổng có cai tống và phó tổng, cấp phường cũng như thôn, có lí trưởng, hương trưởng, hương mục, nghĩa
là tổ chức hành chỉnh vẫn như các làng xã nông thôn
Dưới thời Nguyễn, kinh tế xã hội đô thị Hà Nội trước và trong khi thực
dân Pháp xâm lược, tập trung chủ yếu ở khu đân cư “36 phố phường” Tuy
không dược quy hoạch, nhưng số đân và số
nhà ở ở khu vực nảy tăng lên, tạo thành mật độ dày đặc 'Theo các tai liệu của các thương gia phương Tây ước đoán
số dân đô thị Hà Nội ở những năm 70 của thế kỷ XIX vào khoảng từ 10-15 van
người 8ố nhà ngói, đặc biết trong các phd Hoa Kiểu (Hùng Ngạn, Hàng Buồm,
Mã Mây ) có tăng lên, chủ yêu là các kiểu nhà ống Hệ thống giao thông dựa
trên đỏng sông Tô Lịch và các trục phố dọc ngang kiểu bản cở Các phố được
ngăn cách và bảo vệ bởi hệ thống công phố thiết kế rât da dạng từ đơn giản đến kiên cố, trong đó, công phố Ilàng Ngang được xây bằng gach lả cổng phố lớn và
đẹp nhất Xen kế vào các nhà là nhiều dền chủa, trong đó có những ngôi đền the
vọng của thợ thủ công từ các làng quê phụ cận 5inh hoạt của dân thành thị
Thăng Long - Hà Nội thế ky XIX van còn mang những nét nông thôn như việc
sử dụng các giêng nước công công của các thôn, lảng
So với các thế kỷ trước, sự phát triển kinh tế của Thăng I.ong - Hà Nội
nửa đầu thế kỷ XIX không được đồng đều Phía tây, nơi khu vực quân sự hành
chính trước kia, có xu hướng nông thôn hoá chuyển về nông nghiệp hoặc kết hợp
với một số nghề thủ công cổ truyền Khu Giảng Võ và cả phần phía tây kinh
thành bị biến thành một tổng, gọi là tổng Nội gầm 11 thôn, trại nông nghiệp
Trang 38Độ mặt thành thị hầu như dồn về khu phía đông và mứ rộng về phía đông
nam Đại Nam nhất thông chỉ đã liệt kê ra 21 phô ở phía đông thuộc địa phận
huyện Thọ Xương gồm: phố Hà Khẩu (còn có lên 14 Hang Budm), Việt Đông,
Hảng Mã ( rùng Thanh), Hàng Mắm, Báo thiên, Nam Hoa (Hàng Bè), Hàng Bồ
Xuân Yên), [lang Bac, [ling Gidy, Ma May, Đồng Lạc, Thái Cực, Đồng L1ả,
Thúc Kiến, Phục Cổ, Hàng Lam, Đằng Xuân, Thanh Hà, Hàng Gai, Hàng Đấy,
Hàng Chẻ Có một số phố mà đơn vị hành chính đời Gia Long gọi là thôn mang,
tên các mặt hàng buôn ban hay sẵn xuất cô truyền của nhân dân kinh thành như
‘Tang Kiém, Hang [,ược, Hàng Chài, Hàng Cá, Hàng Dầu, Hàng Gạo Đến năm
Minh Mang thir 2 (1821), các tên nôm này được đổi thành tên chữ như [lang
Chai dỗi thành Ngư Võng, Hàng Cá đổi thành Gia Ngư Như vậy các tên nôm
của các thôn phường mang tên các mặt hàng cỗ truyền không được đùng trong
các đơn vị hành chính nữa, nhưng nó vẫn tổn tại để gọi các đường phố của Hà
Nội
Các phố ở Hà Nội thế ký XIX, sau nhiều thế kỹ tồn tại, dã tập hợp dược
nhiều nghề thủ công công và người sản xuất có tay nghề chuyên môn cao Các
phổ phường dã chuyên môn hoả về sản xuất cũng như tiểu thụ sản phẩm Hoạt
động buên bán của Hà Nội thông quá mạng lưới chợ khá dây đặc Có thể nói,
khu buôn bản và thủ công phía đông phát triển hơn trước về quy mô và dân cư,
trở thành bô phân tiêu biểu cho bộ mặt đô thị Thăng Long - Hà Nội Qua những, phiên chợ và những hoạt động của thương nhân buôn bán đường dai, Thing
Long - Hà Nội vẫn giữ vai trò một trung tâm kinh tế lớn, có quan hệ rộng rãi với
thị trường trong nước và một phân với nước ngoài
Hả Nội vẫn tổn tại và phát triển các cụm làng chuyên ven đô tương ứng
các bán thành phẩm hoặc thành phẩm cho các cửa hiệu, trước khi đến tay người
Trang 39tiêu dùng Đó lá cụm các làng đệt ở ven Hồ Tây như Trích Sải, Nghĩ Tâm vả các
làng La, cụm các làng làm giấy ở vùng Bưởi như Yên Hoa, Nghĩa Dô, Hồ EK.hẫu,
xỏm đúc đằng ở Ngũ Xã, Trúc Bạch Đối với cáo thị trường xa như ving Thanh
Nghệ, đồng bằng ven biển, thượng du, phố phường đô thị Hả Nội giao tiếp qua
hệ thống bến cảng - sông Hỗng, Tô Lịch Xiột số lớn các phẩm vật, đặc sản từ
các địa phương đã ngược xuôi về tích tụ vả tái phân phối tại Hà Nội
Với một truyền thống văn học nghệ thuật, nếp sống thanh lịch hảo hoa lâu
đời, Hà Nội thời Nguyễn vẫn tiếp tục toả sáng ảnh hưởng của mình như một
trung tâm văn hoá lớn nhất của cả nước Không gian văn hoá dô thị truyền thống
của Thăng I.ong - Hà Nội vẫn được duy trì qua các hoạt đông giáo dục khoa cử,
tôn giáo, tín ngưỡng củng như văn hoá nghệ thuật
2.4.4 Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp
Sau khi đã chiếm xong 6 tỉnh Nam Kỷ (tháng 6/1867), thực dân Pháp tính
dến việc dánh ra miễn Bắc, chiếm Hà Nội Tuy nhiên, phái tới cuối năm 1872,
sau khi đã chiếm xong 6 tinh Nam Ky
chúng mới quyết định đánh ra Đắc
và củng cố thuộc địa Nam Kỳ vững vàng,
Quân Pháp đáng chiếm Tà Nội lần thứ nhất ngày 10/11/1873 Cuộc chiến
đấu ngoan cường của quân đân Hả thành, đặc biệt là trân thẳng oanh liệt ở Câu
Giấy giết chết viên chỉ huy Phăng-xi Gác-ni-ê, đã buộc thực dan Phap phải điều đình và ký Hoà ước 1Ñ74 Theo Hoà ước Giáp Tuất với 22 điều khoản (ngây
15/3/1874) triểu dinh Hué công nhận sự thông trị của Pháp trên miễn Lục tỉnh,
quyền đi lại, buôn bán, truyền đạo trên đất nước ta và đặc biệt cho phép người
Pháp được quyền cư trủ và đặt lãnh sự quán ở Hà Nội, Hải Phòng vả Quy Nhơn Trong Thương ước ngày 31/8/1874 có nhắc lại nội đụng Hiệp ước trên và nói rõ
a
Trang 40thêm là triểu đình Huế phải nhượng cho chính phủ Pháp một khu đất rộng 5 mẫu
(khoảng 2,Sha) để xây đựng nhà cửa cho viên lãnh sự và những người tuỳ tùng,
Từ tháng 1/1875 mới xác định vùng đất nhượng là khu Đồn Thuỷ Đến tháng
5/1875, một thoả ước giữa Tổng đốc Hà Nội lrần Dinh Lúc với phía Pháp mở rộng khu vực Đồn Thuỷ lên I8 ha chạy đọc theo séng Iléng từ Viên Bảo tảng
Lich sit Viét Nam dến Bệnh viên Hữu nghị hiện nay
Tiểu kết ng 1:
Vào thế kỷ XI, Hà Nội đã hinh thánh những cơ sở của một dé thi voi một
khu thương nghiệp ở phía Dông (phường Giang Khẩu - cửa sông Tô Lịch thông
với sông Hồng), lương dương với vùng Hàng Buồm, Chợ Gạo ngày nay, mot khu thủ công nghiệp chuyên lâm giấy và dệt vải ở phía Bắc - vùng kẻ Bưởi, sau
này là bến phường 1iễ Khẩu, Trích Sài, Yên Thái, Nghĩa Đô, thuộc mạn ven TIề
‘Vay bay giờ Hai khu vực này nối với nhau bằng dường sông Tô Lịch, với những,
lang lam ruộng và đánh cá rải rác ven bờ làm thành một khư vục thứ ba: khu
nông nghiệp Nhà Lý xây dựng một Loả kinh thành ỡ giữa vùng ấy, hình thánh
nên một khu vực thứ tư: khu hành chính - chính trị, cho tron vẹn là "một chỗn
muôn vật rất thịnh và phỗn vinh” như Chiếu đời đô đã ghi nhận Từ những cơ sở
ban dẫu Ấy, sau khi đãi La Thành dược hoàn thiện thì trong lòng nó đã có một đỗ
thi dat quy mô gần tương đương với khu nội thành Hà Nội sau này, với những
phổ phường, thôn trại, chợ búa, bến 6, thanh quách và sả ruộng đẳng, ao hồ, chủa tháp, đền đài
Có thể nhận dịnh rằng, ở Hà Nội, quá trình dô thị hoá là cả một quả trình
chin thé kỷ phát triển, những yếu tố đô thị song song với sự tiếp nhận những tác
động của các làng xã nông thôn xa gần vào thành phó, đỏ là một quá trình đô thị