1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quá trình Đô thị hóa của hà nội thời pháp thuộc 1885 1945

137 0 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình Đô thị hóa của Hà Nội Thời Pháp Thuộc (1885-1945)
Tác giả Nguyen Hồng Chi
Người hướng dẫn PGS.TS Pham Xanh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử - Văn hóa
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiÊn cứu vấn đề Các đô thị ở Việt Nam nói chung, đô thị Thăng Long - I1ả Nội nói riêng có dặc diễm chung nhất, đễ nhận nhất dược cầu thành từ hai bệ phận dé va thi Hình dang v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI -

TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN

NGUYEN HONG CHI

QUA TRINH ĐÔ THỊ HÓA CỦA HÀ NỘI THỜI

PHÁP THUỘC (1885-1945)

LUẬN VĂN THẠC SI LICH SU

Tả Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI TỌC KIIOA TIỌC XÃ HỘI VA NILAN VAN

NGUYEN HONG CHI

QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA HÀ NỘI THỜI

Trang 3

di trong, pham vi nghién ctu va mat sé khai mém

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu

Dong gop cia luận văn

Câu trúc của luận văn

Chương 1: Khái quát về đô thị Thăng Long - Hà Nội

trước thời Pháp thuộc

Didu kiện địa 1ý tự nhiên, môi trường, sinh thái

Diện mạo Thăng Long - Hà Nội qua các giai đoạn lịch sử

trước thời thuộc Pháp

Dinh dé Thing Long va dign mao ban dầu Thăng Long đưới thời các triều đại Lý (1009-1225), Trần (1226-1400) và Hỗ (1400-1407)

Thăng Long đưới các triều đại Lê (1428-1527), Mạc (1527- 1592), Trinh (1593-1787) va Tay Sơn (1788-1802)

Thing Long - Ha Néi dudi thoi Nguyén (thé k¥ XIX)

Từ kinh đô đến trần thành

Từ trần thánh đến tỉnh thành

Diện mạo kinh tế - xã hội - văn hoá Thing Long - Ha Nội

Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp

Trang 4

Những công trinh xây dựng đầu tiên (1875-1888)

Quá trình đô thị hoá Hà Nội từ 1888-1919

Chương 3: Quá trình đô thị hoá của Hà Nội thời Phán

thuộc, giai đoạn 1920 - 1945

Quy hoạch mở rộng đô thị -

Tác dộng của những nguyên tắc quy hoạch mới dén đô thị

hoá TH Nội

Nguyên tắc quy hoạch mới và sự đóng góp của E'c-ne-xtơ

Hé-bo-ra (Ernest Hesbrard)

Nguyên tắc quy hoạch mới và sự dòng góp cia Louis Georges

Pimeau

Ngưyên tắc quy hoạch mới và sự đóng góp của Xê-ruy-ti

Những cơ sở của dõ thị trên dường hiện đại hoá

Sự biển đễi của lỗi sống thị đân Hà Nội

Sự biến đổi thành phần dân cư đô thị

Biển chuyển chính về văn hoá xã hội của cư dân Hả Nội

Trang 5

MỞ DẦU

1 Lý do chọn để tài

TIã Nội - thủ đô ngàn năm văn hiến, như cách gọi trong tiếng Việt là thành

thị hay dễ thị, được tạo thành từ hai yếu tố khởi nguồn chủ yếu Yếu tổ thứ nhất

là thành hoặc đô chỉ một toà thành, có nghĩa là nơi tập trung quyền lực, hệ thống

chỉnh trị vương triều, luôn khép kín trong bến bức tường thành kiên cễ Yếu tố thứ hai là ?ij có nghĩa là chợ Day là một yếu tế cơ bản để phát triển khu phố buôn bán bên ngoài những bức tường thành Đó chính là trung tâm kinh tế của

đô thị với các hoạt động thương mại, thủ công nghiệp và cư trú của cư dân

Đô thị hoá gắn liền với nếp sống đô thị hiện đại, gắn liên với bản sắc văn hoá đân tộc và Hà Nội Như là một nét rất đặc thù của thành phổ Thủ đô 1000

nam tuoi, dam nét bán

äc văn hoá Hà thành nói riêng cũng như dan te Viét

am nói chung Trải qua một quá trình đô thị hoá gần nghin năm, nhất là từ thế

kỷ XIX, XX trở lại đây, bản sắc văn hoá 1à Nội không những không bị mất đi

mà ngày cảng chứng tổ sự phát triển hiện đại, hoá nhập với những nét hấp dẫn

hơn Đó là hàng loạt các kiến trúc cổ, các đi tích lịch sử, văn hoá, các cảnh quan

xưa vẫn dược bảo tồn bên cạnh các công trình kiến trúc hiện đại, nhiều khu đô

thi mới, khu công nghiệp liền tục được xây dụng bến cạnh các làng nghề truyền

thông nỗi tiếng của Tà Nội

Có thể nói, đô thị hoá của Hà Nội luôn phần ánh sự tập trung tĩnh hoa trí

tuệ và văn hoá của cả nước, những diễn biến tích cực và tiêu cực của các vấn đề

văn hoá xã hội của các đô thị lớn củng tổn tại trong quá trình phát triển

Quá trình 46 thi hod 174 Nội thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã áp

dụng các biện pháp can thiệp về xây dưng và quy hoạch khác nhau trước hết

tạ

Trang 6

phục vụ mục đích quân sự để cũng cố bộ máy chính quyền sau đỏ để có điều

kién khai thác nguồn lợi về kinh tế

Với hai mục tiêu đó, ngay ở giai đoạn đầu thực dân Pháp đã chiếm Hoàng,

thành Hà Nội, nhanh chóng phá huý toàn bộ hệ thông tường thành cùng các kiến

trúc truyền thông của một trung tâm hành chỉnh phong kiển Việt Nam ‘lrong khi

dé vin giữ nguyên khu vực 36 phố phường - một trung tâm buôn bán sam uất

dương thời để khai thắc nguồn lợi kinh tế qua hệ thống thud ding thời ủng hộ

việc xây dựng nhà thờ và các trường dòng Những loại công trình này phục vụ

dắc lực cho ý dỗ chính trị của thực đân

Các công trình xây đựng ở giai doan dầu được coi là những hạt nhân dễ phát triển ra xung quanh Hệ thắng dường phố rộng rãi dược quy hoạch theo

mạng ô cờ, có trang bị hệ thông kỹ thuật hạ tầng theo kiểu phương Tây, cùng với

việc dưa vào sử dụng những phương tiện giao thông cơ giới dầu tiên, là những

yếu tổ cơ bản thúc đầy quá trình phát triển, mở rộng thành phố Củng với thời

gian, lrong cầu trúc đô thị Hà Nội đã dần dần hình thánh những khu chức năng

riêng biệt Khu thương nghiệp, dịch vụ trung tâm trên trục đường ràng Tiền -

Hàng Khay, khu hành chỉnh, chính trị ở phía Đông hồ Hoàn Kiểm và trên khu

vực Hoảng thành Hà Nội, khu ở của người Pháp ớ phía Nam hỗ Hoàn Kiếm và

các khu vực kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố Khu 36 phố phường vẫn

là khu thương mại, dịch vụ truyền thống

Người Pháp cũng đã lập các đồ án dịnh hướng quy hoạch cãi tạo và mở

rộng thành phố Hà Nội, áp dụng những nguyên lý quy hoạch hiện đại thịnh hành

ở Châu Âu đương thời.

Trang 7

Lịch sử phát triển đồ thị Hà Nội gắn liên với quá trình đỗ thị hoá Hà Nội

trong hơn 10 thế kỷ Trong đó đô thị hoá không thể tách rời với quá trình phát

triển kinh tế xã hội Đó là một quá trình mang tính quy luật trong lịch sử phát

triển xã hội nói chung vả quá trình đô thị hoá nói riêng Quá trình đó cũng phản

ánh đầy đủ tất cá những thành công cũng như không thành công trong quá trình

phát triển cua nó Kinh tế xã hội phát triỂn, quá trình đồ thị hoá cũng phát triển,

hệ thống đô thị cùng phát triển Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vẫn đề “Quá trình

đô thị hoá của Hà Nội thời Pháp thuộc (1885-19453") làm để tải luận văn Thông qua vấn đề này tìm hiểu quá trình chuyển biển của đô thị Hà Nội từ đô thị

phương Đông truyền thống sang đô thị hiện đại kiểu phương Tây

2 Lịch sử nghiÊn cứu vấn đề

Các đô thị ở Việt Nam nói chung, đô thị Thăng Long - I1ả Nội nói riêng có

dặc diễm chung nhất, đễ nhận nhất dược cầu thành từ hai bệ phận dé va thi

Hình dang vật chất và vẻ ngoài cúa dô thị, quy hoạch và kiến trúc dô thị

cũng như các vấn để lịch sử và lý thuyết đô thị, đều được phần ánh qua mối quan

hệ biên chứng của hai yếu tổ đó

Đái với Thăng Long - Hà Nội - dỗ thị tiêu biểu vảo bậc nhất ở Việt Nam,

có vai trò là trung tâm chính trị và hành chính, trung tâm kinh tế va trang tâm

văn hoá Sự trường tổn uủa Thăng Long - Hà Nội gắn liễn với vị trí chính trị và địa lý của nó “Cá thể coi đó là một thành phổ thứ nhất hay duy nhất của Liệt Mam trước và sau khi chủ nghĩa tư bân Pháp xâm lược” [33,22 `

Quá trình hình thành và phát triển của đỗ thị Thăng Long - Hà Nội có vai

trò rất quan trọng trong phát triển chung của đô thị Việt Nam và đã là đối tượng nghiên cửu của rất nhiều ngành khoa học có liên quan như địa lý (bao gồm địa lý

in

Trang 8

tự nhiên và địa lý kinh tẾ), lịch sử, xã hội học và đã có nhiều kết quả phong,

phú

Công trình nghiên cứu về đồ thị cổ Hả Nội có tính chất hệ thống là Luận

an Pho Liễn sĩ sử học của PGS.PTS Nguyễn Thừa Hỷ được bảo vệ năm 1983 về

Thăng Long - Ua Nội thể kỷ XVH-XVIII-XIX Dây là bản luận án tập trung nghiên cứu về kinh tế - xã hội của Thăng Long - Hà Nội trong khoảng thời gian

3 thế kỷ XVII, XVII, XTX trên phương diện nó là một thành thị trung đại No xét đến kết cầu kinh tế của thành thị, những thành phân kinh tế Nhà nước vả dân

k

gian, đế u cư dân, cơ chế vả sự giao lưu dẳng cấp trong thành ngoài thị

Luận án có sơ sánh đổi chiếu cấu trúc và sự phát triển lịch sử của Thăng luong -

Tả Nội với một số thành thị khác trên thế giới, chủ yếu là với các thành thị trung

dai Tây Âu

"trong cuốn “Đồ /hị cỗ Liệt Nam” của Viên Sử học, Uỷ ban Khoa học xã

hội Việt Nam xuất bản 1989 là một chuyên khảo về đồ thị cổ Việt Nam Công

trỉnh nhằm khảo tả và giới thiệu 12 đồ thị số ra đời và phái triển từ thế kỹ thứ II đến thẻ ký thứ XLX về các mặt lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội Trong đó Hà Nội đại điện là đô thị Lồn tại và liên Lục phát triển cha đến ngày nay, trở thành đỗ thị

hiện dại Tuy nhiên, phần trình bảy mới tập trung vào sự phát triển của đô thị

Thăng Long - Hà Nội đến cuối thế ký XIX Phần chuyển biến quan trọng của

Thăng Long - Hà Nội tử cuối thế kỷ XIX sang dô thị hiện dại kiểu phương Tây

chưa được đi sâu nghiên cứu

Những thành tựu về nghiên cứu đô thị cổ Việt Nam chủ yếu là từ thế kỷ XVII- XIX trở về trước, trong đó các đô thị - cảng hình thành trong các thế kỷ

XVII - XVIIL lai dic biệt duce quan tim (Gi thảo quốc tế về dô thị cô Hội An,

Trang 9

1990 và Hội thảo quốc lễ về phô Hiến, 1992) Riềng giai đoạn đồ thị thể kỹ XIX

và mở rộng đô thị thời Nguyễn (1802-1945) lại chưa được chú ý du day là thời

kỳ chuyển liếp, thế kỷ chuyển giao giữa đồ thị số phương Đông sang đô thị hiện

đại kiểu phương lây Irong giai đoạn này có đồ thị đã mất vai trò lịch sử như phế IIiển, Thanh Hà có đô thị chuyển tiếp giữa hai thế kỷ tạo nên một sức sống

mãnh liệt Loại dô thị chuyển tiến giữa hai thể hệ dưới thời Nguyễn ở nước ta

không ít, trong đó Hả Nội là một điển hình Nội dung này được để cập đến trong cuỗn “Đô thị Piệt Nam đưới thời Nguyễn" của các nhà nghiên cứu PGS.PT8 Nguyễn Thừa Hỷ - PIS Đỗ Bang và Nguyễn Văn Đăng - Nhà xuất bản Thuận TIoá năm 2000 IIà Nội từ vị trí là kinh đê của cả nước đã từng tồn tại 8 thế kỷ

sang mB tính thành Hà Nội thế kỳ XIX đã có nhiều chuyển biến và trải qua

những thăng trầm Trước hết là sự giảm thiếu của phần thành, đối với khu thị

kinh té Gn được duy trì hoạt động sản xuất và

buôn bản nhộn nhịp và có phần thịnh vượng hơn trước Dưới thời Nguyễn, diện

mạo kinh tế xã hội d6 thi ITA Nội trước vả trong khi thực dân Pháp xâm lược tập

trung chủ yếu ở khu đân cư 36 phố phường Sau khi Pháp dặt ách đô hộ trên toàn

cõi Việt Nam (1884), Hà Nội vẫn thuộc quyền cai trị của triều đình Nguyễn Tuy

nhiên, 4 năm sau (1888) Pháp đã ép nhà Nguyễn nhường cho Pháp một phần của

hai huyện Tho Xương và Vĩnh Thuận, để thành lập “thành phố Hà Nội” đặt dưới

quyền cai trị trực tiếp của Pháp Nhà Nguyễn ở day chi can một cơ quan đại diện

hỉnh thức gọi la Nha Kinh lược Bắc kỷ, nhưng đến năm 1897, cư quan này cũng

đã bị bãi bỏ Cũng năm này, Pháp thành lập Liên bang Dông Dương Như vậy, ở

Hà Nội dã song song Lồn tại ba chính quyền với bá quan chức người Pháp: Toản quyền Đông [ương, Thống sử Bắc kỳ và Đốc lý thành phố Hà Nội Với vai trò

một trung tâm đầu não chính trị, tốc độ đô thị hoá của IIà Nội đưới thời thuộc

Trang 10

Tháp đã chuyển biến có phần nhanh chóng hơn so với những thé kỷ trước: sự

chuyển biến về quy hoạch đô thị và diện mạo đô thị Công cuộc đô thị hoá của

Hà Nội trong thời Pháp thuộc còn đem lại những chuyển biển về kinh tế, hệ

thống giao thông đô thị, xã hội - văn hoá, giáo dục

Về vấn để đô thị hoá ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng cũng đã

được đề cập đến trong các công trình: Đồ thị cỗ ở Hiệt Nam, Viện Sử học - Uỷ ban Khoa học xã Hội, Hà Nội năm 1989, Thăng Long - Hà Nội mười thê kỷ đô

thị hoá - PGS Trần Hùng, KTS Nguyễn Quốc Thông, Nhà xuất bản Xây dựng,

1993, Hà Nội chu lợ của những dỗi thạy - Tập san nghiên sửu kiến trúo, dô thị

và xã hội, tập hợp gẦn 20 bài viết của các tác giả người Việt Nam và Pháp về sự

hình thành của thành phố, về quá trình phát triển của các kiểu nhà ở, về kiến trúc

vả những yếu tố cấu thành tự nhiên của Thành phố Hả Nội, xuất bản năm 2005

và đặc biệt là Dễ tài NGKH cấp Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ và Uỷ

ban Nhân din Thành phố Hà Nội năm 2008 về Quá trình đồ thị hoá Thăng Long

- là Nội, kinh nghiệm lịch sử và định hướng quy hoạch phát triển đỗ thị trong thời lạ công nghiệp hoá - hiện đại hod dat nước

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quá trình đô thị hoá của Hà Nội thời Pháp

thuộc (1885-1945) vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là chưa sử dụng được hầu hết các

tài liệu lưu trữ của Pháp về các vấn đề quy hoạch mớ rộng thành phố thời kỳ nảy,

tố đô thị mới làm thay dỗi điện mạo

sự chuyển biến vỀ mặt kinh tế, những y

đô thi, hình thành một lối sống thị dân mới là những yếu tế quan trọng trong,

quá trinh đô thị hoá

Trang 11

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu, làm rõ một số vẫn đề về quá trình dỗ thị hoá Hả Nội thời

Pháp thuộc (1888-1945)

- Phân tích những bước chuyến biến quan trọng của một đô thị truyền

thống phương Đông sang đô thị hiện đại kiểu phương Tây với trường hợp cụ thể

lả Hà Nội

- Đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của chính sách cai trị

thành phố IIà Nội của chính quyền thực đân Pháp qua những thay đổi vẻ diện mạo của đô thị Hà Nội, sự chuyển biến về mặt kinh tế, hình thành một lỗi sống

thị đân mới

4 Dối tượng, phạm vi nghiên cứu và một số khái niệm

Dải tượng nghiên cứu

Luận văn lấy quá trỉnh đô thị hoá của Hà Nội làm đối tượng nghiên cứu

chính Trong đó quá Irình đô thị hoá tập Irung chủ yếu vào các nội dung: sự biến

đổi của không gian đỗ thị và các ảmh hướng quy hoạch thành phô của Hà Nội

dưới thời thuộc Pháp; cách ứng xử oủa chính quyền thực đần Pháp đối với một

đô thị cỗ trên các mặt kinh tế, văn hoá xã hôi, kiên trúc và những yếu tô đô thị

mới xuất hiện làm thay đổi điện mạo của đô thị Hà Nội thời gian này

Là một đô thị, Thăng Long - Hà Nội, từ trong lịch sử đến ngày nay, mang

những đặc trưng chung của đô thị ViệL Nam: củng tính chất của đô thị phương

Dông thời trung đại, cùng tính chất của đô thị chuyễn đổi sang mô hình phương

Tây thời cân đại Nhưng Thăng Long - Hà Nôi khác với nhiều đô thị Việt Nam,

mà diểm khác biệt lớn nhất, trở thành xuất phát diễm cho những khác biệt khác,

Trang 12

là vai trò trung tâm chỉnh trị, hành chính quốc gia của đô thị này Đây chỉnh là

nét riêng biệt làm nên đặc tính của Thăng Long - Hà Nội với tư cách một không

gian địa lý - lịch sử - trung lâm chính trị - hành chính, kinh tế, xã hội và văn hóa

Phạm ví nghiên cửu

Giới hạn thời gian nghiên cứu

- Giới hạn trên: Cuối thé ky XIX, giai đoạn nảy gắn liền với quả trình đánh chiêm Hà Nôi của thực đân Pháp

- Giới hạn dưới: 1945 một mô hình đô thị hoàn chỉnh với các chức năng,

đây đủ của đô thị hiện đại kiểu phương Tây

Giới hạn không gian nghiên cứu

Ila Nội cuối thể kỷ XTX đến năm 1945 trên phạm vi toàn thành phế

Một số khái niệm

Tên gọi Hà Nội chính thức xuất hiện vào năm 1831 du cuộc cải cách hành

chính của vua Minh Miệnh, vả tiến tục được giữ nguyễn cho dến ngày nay

Đã thị là là khái niệm chỉ không gian cư trú và hoạt động của cộng đông

cư đân phi nông nghiệp, lả trung tâm của một vùng lãnh thể, của một đơn vị

hành chính - lãnh thổ hoặc của đất nước Ngày nay, khái niệm dâ thị được ding

ở nhiều cấp độ khác nhau, có thé 14 ving đô thị, don vi hành chính - lãnh thổ đô

thị hoặc chức năng đô thị Thuật ngữ đã thị được dùng phế biến của luận văn

dùng để chỉ một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội mới được quy hoạch

và xây dựng đưới ảnh hưởng của người Pháp

Đã thị hoá (Theo KTS PGS Trần ITùng): đô thị hoá là một hiện tượng

kinh tế - xã hội phức tạp diễn ra trên không gian rộng lớn mả người ta có thể

Trang 13

biểu thị qua các yếu tố: 1- Sự lăng nhanh cũa tý lệ đân số đô thị trong lổng số

đân, 2- Sự tăng số lượng đô thị đồng thời với sự mở rộng không gian đồ thị, 3-

Sự chuyển hoá nủa lao đồng từ đơn giản sang phức lạp, từ công cụ thô sơ sang

tinh vi, 4- Sự chuyén hoá từ lỗi sống dàn trải (mật độ thấp) sang tập trung (mật

độ cao), từ điều kiện kỹ thuật hạ tầng đơn giản sang điều kiện hạ tầng kỹ thuật

phức tạp

Dé thi hoa theo dịnh nghĩa của PGS.TS Trương Quang Thao: Đồ thị hoá

là hiện tượng xã hội liên quan tới những địch chuyển kinh tế - xã hội - văn hoá -

không gian - môi trường sâu sắc gắn liền với những tiến hộ khoa học kỹ thuật tạo

đà thúc đẩy sự phân công lao động, sự chuyển đổi nghề nghiệp và hình thành các

nghề nghiệp mới đồng thời tạo ra nhu cầu dich vụ vao các trung tâm đô thị, đây

mạnh sự phát triển kinh tế làm điểm tựa cho các thay dỗi trong dời sống xã hội

và văn hoá, nâng cao mức sống, biển đối lỗi sống và hình thức giao tiếp xã hội,

làm nền cho một sự phân bố dan cu hop lý nhằm đáp ứng những nhú cầu xã hội

ngày càng phong phú vả đa dạng để tạo thế cân bằng động giữa môi trường xây

dựng, môi trường xã hội vả môi trường thiên nhiên

Quy hoạch xây dựng dé th: là việc (ỗ chức không gian kiến trúc và bố trí

công trình trên một khu vực lãnh thể trong từng thời kỳ, lâm cơ sở pháp lý cho

việc chuẩn bị đầu tư xây dung, quản lý xây đựng vả phát triển kinh tế xã hội

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khu vực học được sử đụng trong luận văn nhằm nghiên cứu

những đặc trưng mang tỉnh lổng thể của khu vực Khu vực nghiên cứu là sự tang

hợp của các yếu tỔ: địa lý, con người, không gian chính trị - văn hóa - lịch sử,

11

Trang 14

nhận thức rõ rảng những đặc thủ có tỉnh chất khác biệUđặc biệt cúa Thăng Long

- Hà Nội trong lịch sử cũng như hiện nay

‘Tim hiệu Thăng Long - Hà Nội, một thành thị/đô thị tiêu biểu nhất thời

phong kiến và cận đại nên phương pháp nghiên cứu đồ thị được ứng dụng một

cách triệt để Đó là phương pháp phân tích cầu trúc đô thị, tổ chức không gian đô thị, thiết lập các trung tâm phát triển cửa Thăng Long - Hà Nội trong lịch sử

Phương pháp phân tích, đấi chiếu tư liệu, so sánh

6 Nguồn tư liệu

Luận văn sử đụng các nguồn tư liệu chỉnh là bản đề, tư liệu lưu trữ thời

Pháp, các công trình nghiên cứu về để tài đô thị và đô thị hoá của Thăng luong -

Hả Nội của các nhà nghiên cúu trong và ngoài nước

7 Dóng góp của luận văn

Nghiên cứu, phân tích đánh giá quá trình đô thị hoá của IIà Nội thời Pháp

thuộc trên các mặt,

1 Sự chuyển biến về quy hoạch đỗ thị và diện mạo dô thị: Hà Nội trong

thời kỳ Pháp thuộc có những bước phát triển nhất định, quá trình quy hoạch cũng,

như xây dung thực tiễn của thành phổ dựa trên quan điểm xây dựng một thành

phế thuộc địa, với các phân khu chức năng đô thị thể hiện rõ sự phân biệt, nhằm

thực hiện mục tiêu khai thác mọi mặt thuộc địa người Pháp Hà Nội đã có sự

chuyển biển căn bản từ không gian nông thôn sang không gian dé thi do mal độ

xây dựng không ngừng tăng lên từ một số vị trí ban đầu Dưới sự cai trị của

người Pháp là sự xuất hiện của những yếu tổ đô thị mới làm thay đổi diện mạo

Trang 15

của Hà Nội từ một đô thị phương Đông truyền thông sang đô thị hiện đại kiểu

phương Tây

2 Dễ biến Hà Nội thành “thủ đê của Liên bang Dông Dương”, trong quá

trình quy hoạch và xây dựng Hà Nội, Pháp cũng để lại cho Hà Nội một số công

trình mang đậm phong cách kiến trúc Châu Âu Các công trình nảy vừa là những

điểm mốc địa lý, vừa tổ chức không gian công cộng Chính kích thước hoành

tráng đã khiến những công trinh nảy trở thành những yếu tố dộc dáo của cảnh

quan đô thị Nó cững là hình ảnh tượng trưng thiết lập mỗi quan hệ về thời gian

giữa thời diễm xây dựng vá thời điểm hiện tại, như một ký ức chung tạo ra cho các công trình này một vị thế đặc biệt Các công trình lịch sử này góp phần vào

quá trình phát triển đô thị thích hop vi nhin chung, các yếu tổ độc đảo này có khả

năng thúc dây quả trình đỗ thị hoá thành phố

3 Trong quá trình quy hoạch và xây dựng Hà Nội, các kiến trúc sư người

Pháp đã để lại cho Hà Nội những công trình mang đậm phong cách kiến trúc

Châu Âu và những công Irinh kết hợp hài hỏa giữa phong cách kiến trúc Châu

Âu với phong cách kiến trúc Á Dông Những công trình kiến trúc đó ngày nay đã

trổ thành di sản và lả nót đặc trưng của riêng Hà Nội

4 Quá trình đô thị hoá của Hà Nội trong thời Pháp thuộc còn đem lại

những chuyển biến về mặt kinh tế: sự thành lập của một số nha may đầu tiên

phục vụ như cầu tiêu dùng cho giới tư bản Pháp và quân lính tại Hà Nội, một số

xí nghiệp phục vụ cho hệ thống giao thông đô thị, những chuyển biến mới về

giao thông cũng như các phương tiên giao thông đô tì

5 Trong quá trình đô thị hoá thời Pháp thuộc, một lỗi sống thị dân, thé hiện trong các lĩnh vực của đời sống văn hoá xã hội đã dần dần được hình thành

13

Trang 16

trong các giới thượng lưu và trung lưu Hả Nội Lỗi sẽng này dung hợp truyền

thống kinh kì thanh lịch của Thăng Long - Hả Nội cũ với các thành tựu van minh

tư sản phương Tây

8 Cau trúc của luận văn

Ngoài phần Mỡ đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được

Trang 17

CHUONG 1:

KHÁI QUÁT VẺ ĐÔ THỊ THĂNG LONG - HÀ NỘI TRƯỚC THỜI

PHÁP THUỘC

1 Diều kiện địa lý tự nhiên, môi trường, sinh thái

Hà Nội là thành phố có điều kiện địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái đặc thủ

Vé Vi tri: TIA NOi co vị trí, địa thế rất đẹp và thuận lợi: nằm hai bên bờ sông Hỗng, giữa vùng đồng bằng Bắc Hộ trủ phủ

V2 dia kink: Dang địa hình chủ yếu của Hà Nội là đẳng bằng được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi đại, bãi bẫi cao và các bậc thêm Phần lớn

diện tích Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng với độ cao

trung bình từ lãm đến 20m so với mặt biển Còn lại chỉ có khu vực đổi núi ở

phía bắc và phía tây bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rỉa phía nam cúa đấy núi Tam

Dâo có độ cao từ 20m đến hơn 400m, đỉnh Chân Chim cao nhất là 462m Ngoài

Ta còn có các ving trững với các hỗ đầm (dầu vối của những đỏng sông cổ) Địa

hình Hà Nội thấp dần từ Đắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, Điều này được

thể hiện rất rõ ở hưởng dòng chảy của sông Hằng - con sông lớn cháy qua lòng

Hà Nội

Và khi hậu: Khi hậu Hà Nội là đặc trưng của khí hậu Việt Nam: Nhiệt đới

gid mia ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa động lạnh, mưa ít Có lượng bức

xạ mặt trời đồi dào và nhiệt độ cao do nằm trong vùng nhiệt đới Nhiệt độ thấp

nhất là 2,7ˆC (tháng 1/1955) Nhiệt độ cao nhất: 46°C (tháng 7/2010) Hà Nội có

độ 4m và lượng mưa khá lớn do chịu ảnh hưởng của biển: Trung bình hằng nim,

nhiệt độ không khi 23,6°C, độ ấm 79%, lượng mưa 1245 mm Mỗi năm có

Trang 18

khoảng 114 ngày mưa Hà Nội có đủ bốn mùa xuân, hạ, [hu, đâng Sự luân

chuyển của các mùàa làm cho khí hậu Hà Nội thêm phong phú, da đạng và có

những nét riêng

Ưà Thủy văn: Hà Nội là thành phố gắn hiển với những dòng sông, trong

đó sông Hồng là lớn nhất Sông Hồng bắt đầu từ dãy Nguy Sơn (Irung Quốc), ở

độ cao 1776m, chảy theo hưởng tây - bắc /đông - nam vào Việt Nam từ Lào Cai

và chảy ra vịnh Bắc Bộ Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dải khoảng 30 km

Ngoài sông Hồng, trong địa phận Hà Nội còn có sông Tê Lịch, sông Kim Ngưu,

sông Nhuệ và song CaS

1à Nội có một hệ thông ao hỗ dày đặc Đây là một đặc trưng quan trọng

tạo nên nét riêng hiệt của cảnh quan Hà Nội Những hề lớn trong khu vực là hà

Tây, hề Trúc Bạch, hỗ Bay Mau, hồ Đồng Đa, hồ Iloàn Kiếm, hỗ Thanh Nhản,

hỗ Thủ lệ, hỗ Thành Công, hề Văn Chương, hồ Linh Đàm, hŠ Yên Sở, hỗ

'huyền Quang v.v

Hệ thống nảy có nhiều ý nghĩa đối với sự bền vững: hỗ Hoàn Kiểm và hỗ

Tây có thể coi là biểu Lượng của thành phố, các hồ trong công viên, ác hỗ gắn

với các công trình tôn giáo vả tín nguỡng (đây là một đặc điểm trong tổ chức

không gian Iruyền thống của các ngôi đình)

Tuy nhiên, quá trình đồ thị hóa tại Hà Nội đã làm cho diện tích ao hồ ngày

cảng thu hẹp lại Trên 50% số ao hồ đã bị lấp để phục vụ cho việc xây dung nha

Trang 19

Miễn đất Hà Nội đã có cư dẫn sinh sống Lừ thời đá mới Vị trí tại nơi hợp

lưu của sông Hồng và sông Tô Lịch, một phần đã bị lấp đi nhưng nay còn dâu

vết ở gần vườn hoa Bách Thảo (cũ) và bao quanh phía Tây thành phố Trước đây

vùng nảy là vịnh biển sau nước rút mà thành Vỉ thể, ngày nay ta thấy thành phố

có nhiều hồ nước và xung quanh Là Nội có nhiều địa điểm lả đi chỉ của thời kỳ

dễ đồng, dồ sắt Xưa kia, nơi dây đã từng có ngôi làng ven bở sông Hồng

Khu làng cổ đầu tiên của Hà Nội xa xưa có cái tên huyền thoại lả Long Đỗ

(Rến Rồng), vào thời Hùng Vương - An Dương Vương dựng nước trước công

nguyên, thuộc “bộ” (hay “bộ lạc” Tây Vu) Trong thời Đắc thuộc là dất huyện

‘Tay Vu va Phong Khê đời Hán (đầu Công nguyên), đất huyện Vũ vả Nam thịnh

đời Ngô (hé kỷ II) và đời Tân (thế kỷ IV)

Từ giữa thế kỷ V, khu làng gốc của IIà Nội cổ đã phát triển thành một

huyện, rỗi nâng cấn thành một quận, mang tên là Tống Bình vào thời nhả lưu

'ống và nhả Tuy

Diến giữa thể kỷ VỊ, lần đầu tiên, với phong trào khởi nghĩa Lý Bí chống

Bắc thuộc thành lập nước Vạn Xuân, miền trung tâm Hà Nội cỗ đóng vai trò

trung tâm đất nước (trung tâm phong trào đầu tranh) với môt toà thành cỗ, cũng,

lần đầu tiên được xây dựng tai day Sach Luong (hư chép: nắm 545, Lý Bí (Lý Nam Để) “dựng thành luỹ bing tre pỗ ở cửa sông Tô Lịch” (cửa sông Tô Lịch

thông ra sông Hồng, sau là đất phường Giang Khẩu (Hà Khẩu) nay là khu vực

phổ Hàng Buồm, Ngõ Gạch, Cho Gao)

Sang thể kỹ thử VII, Tống Bình trở thành trung tâm thông trị cả miền dỗng

băng Bắc Bộ của nhà Tuy Sau cuộc xâm lược vào năm 607, quân tướng nhà Tuỷỳ

đã chuyển dời trung tâm đô hộ từ Long Diên tới Tống Bình và đã xây vòng thành

Trang 20

bão vệ được đất tên là La Thành Đó là bức tường thành bằng đất có chu vi hơn

6km, vào thể ký IX thành được mở rộng thêm và mang tên Dai La

'từ đó cho đến đầu thé ky X, trung tâm Hà Nội cỗ trở thành dinh luỹ chủ yếu của chính quyền đô hộ phương Đắc, với một vòng thành “Đại La” rộng bao

quanh để cho Đại La từ đó trở thành một tên riêng nữa của Hà Nội cỗ và trở thành nơi giành giật giữa các luc lượng khởi nghĩa (tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa

của Phùng Hưng, cuối thế kỷ VTIT), các cuộc binh biến (tiêu biểu là cuộc nổi dậy

của Dương Thanh, đầu thế kỷ TX) cùng bợn thống trị ngoại bang

Dau thé ký X, với sự kiện họ Khúc đây nghiệp, Dương Đỉnh Nghệ và cuộc

kháng chiến của Ngô Quyển, trung tâm Hà Nội trở thành dia bản dấu tranh rỗi là chiến trường quyết dịnh số phận thế lực xâm lược vả thống trị phương Hắc, kết

thúc thời đại nghìn năm Dắc thuộc

Tuy nhiên, các vị vua ở đầu thời kỳ đất nước độc lập từ giữa thể kỷ X đến

dầu thé ky XI đã chọn Hoa Lư ở cách Đại La 100km về phía Nam dễ đặt kinh

đô Iloa Lư nằm trong vùng núi ở phía Nam đồng bằng sông Iiỗng có vị trí hiểm

trở nhưng khó khăn về giao thương

Cuối năm 1009, tại [Joa Lu (Ninh Binh), Lý Công Uấn được đưa lên làm

vua, sảng lập nên vương triểu Lý Lý Công Uẫn quyết định đời kinh đồ từ Hoa

Lu vé Bai La vao nim 1010 Theo truyền thuyết, khi tới Đại La đã nhìn thấy

*rắng vàng bay lên”, vua cho là điểm tốt nên chọn đặt kinh đô tại đó và thủ đô

mới được nhà vua đặt tên là Thăng Long

Hoa Lu là kinh đô của nước Dại Việt duéi hai triều Dinh (968-980) và

Tiên Lê (980-1009) là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cầu quần sự

của một chính quyền độc lập non trẻ còn phải đối phó với nhiều mỗi đe đoa của

Trang 21

thù trong giặc ngoài Với địa thể lợi bại của Hoa Lư, triều đinh đã đánh bại các

thé luc cát cử địa phương, khôi phục và củng cổ nên thông nhất quốc gia, triều

Tiên Lê đã đánh tan quân xâm lược nhá Tổng bảo vệ vững chắc nền độc lập cúa

dân tộc

Những thành quả bảo về và củng cố dộc lập dan tộc pắn liền với thống,

nhất quốc gia thời Ngô, Dinh, Tiền Lê đã tạo điều kiện đưa đất nước vào thời kỳ

mới: thời kỳ xây dựng dất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện

của dân tộc va nén vin hoá dân tộc Hoa Lư với vị trí và dia thé núi non hiểm trở

dã không đáp ứng dược vai trò kinh đô ở thời kỷ phát triển mới

Lý Công Uấn tức Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận

thức sâu sắc thm quan trọng của kinh thảnh dối với vận mệnh của đất nước và

vương triều nên đã quyết định đời đô từ Iloa Lư ra Thăng Long Trước ngày xây

dựng kinh thành Thăng I.ong, miền đất này đã là nơi dân cư đông đúc, buôn bán

thịnh vượng Nhờ những điêu kiện phát triển kinh tế xã hội sẵn có ở đây nên khi

Ly Thái Tổ thiên đồ tới, chỉ phải lo xây đựng Hoàng thành, còn những khu vực

nhân dân ở không phải xây dựng gì mới Nhở đó việc xây dựng kinh đô chỉ trong

may tháng cuối năm 1010 và 1011 đã cơ bản thành hình hài

Sau khi dời đô về Thăng Long, công việc đầu tiên của triều Lý là kiền

thiết cung điện làm nơi ở, nơi làm việc của triểu đỉnh quý tộc, xây dựng thành

luỹ bảo vệ Mùa thu năm 1010, một cụm kiến trúc trung tâm gồm các cung điện

dã được dựng lên: Điện Can Nguyén (ch coi chau), Điện Tập Hiển, Điện Giảng

Võ, Diện Cao Minh, Diện Long An, Long Thưy, Diện Nhật Quang và Diện

Nguyệt Minh, phía sau là hai cung Thuý IIoa, Long Thuy làm chỗ ở cho cung

nữ

19

Trang 22

Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long chia lam hai phần: Hoảng

thành và Kinh thành Hoàng thành nằm trong lòng Kinh thành là khu vực nhà

vua và triểu đỉnh làm việc Kinh thành là khu vực nhân đân va quan lại ở, bao bọc lấy Hoàng thành Irong thành còn ngắn ra một khu vực nữa, gọi là Cẩm

thành, có tường xây kiên cố, có quân lính canh gác nghiêm ngặt - là nơi vua và

các hoảng hậu cung tần mỹ nữ ở

Đây là khu vực thánh - chính trị hay thành - thị quân vương giữ vai trò dầu

não của nhà nước trung ương tập quyền tức là trung tâm chỉnh trị của cd nước

Phia ngoái là khu thi din bao gồm những xóm làng nông nghiệp, những phố phường công thương và một hệ thống bắn, chợ của kinh thảnh Một vòng thành

ngoài cùng bao bọc toàn bộ khu vực thành và thị gọi là thành Đại La hay La

‘Thanh tite ‘Thang I.ang ngoại thành Vòng thành nay dap bing dat voi chic ning

vừa phòng vệ, vừa là đê ngăn lữ lụt mà nhà Lý đã nhiều lần sửa chữa, tu bổ Mặt

Đông, thành chạy đọc thco hữu ngạn sông Hồng như đoạn để của sông nảy (từ

Bến Nứa cho đến Ô Dông Mác ngày nay), mặt bắc dựa theo sông Tô Lịch phía Nam IIŠ Tây cho đến Yên Thải (đường Iloàng Iloa Thám ngày nay), mặt Tây

theo tả ngạn sông Tô Tịch từ Yên Thái đến Ô Cầu Giấy và mặt Nam theo sông,

Kim Ngưu qua Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dễn nói với đê sông lồng Như

vậy trên đại thể, thành này được giới hạn bằng ba con sông: sông Iiồng, sông Tô

Lịch vả sông Kim Ngưu Irong quy hoạch tự nhiên đó, thành cũng là đê và sông, cũng là hảo

Thăng Long với kiến trúc 3 vòng thành bao bọc nhau (tam trùng thành

quách) và kết cầu trong thành ngoài thị, đã sớm dược hoạch dịnh Từ một trung,

tâm chính trị, Thăng Long đã phát triển thánh một thành thị với những đặc điểm

cầu trủc chưng của các thánh thị phương Đông thời Irung đại Thành thị ấy có

Trang 23

thừa hưởng một số thành quả xây dựng trước đó, nhưng vỀ cơ bản được quy

hoạch, cải tạo và xây đựng trên quy mô lớn từ đời Lý với tư cách kinh thành của

nước Đại Việt độc lập và thống nhất

22 Thăng Long dưới thời các triểu đại: Lý (1000 - 1225), Trần (1226 -

1400) và 1ô (1400 - 1407)

Sau khi đã chuẩn bị đây đủ cả về tỉnh thân lẫn vật chất, vào mủa thu, tháng

7 năm Canh Tuất (1010) Lý Công Uẫn đích thân tổ chức việc đời đô Lừ thành

Hoa Lu ra kinh phú ở thành Đại La Khi thuyền vừa dến nơi, dang tạm dé dưới

thành thi bỗng có rỗng vàng hiện lên trên thuyền ngự Nhân đó Lý Công Uấn quyết định đổi tên thành gọi là thành Thăng Long|“/,Z41| Thành Thăng Long với biểu tượng Rồng bay vừa mang khí thế vươn lên mạnh mế của đân tộc,

vừa chứa dựng ý niệm thiêng liễng về cội nguồn Rằng Tiên và ước mơ về nguồn

ước, mưa thuận gió hoả của cư dân văn minh nông nghiệp trồng lua nước

Ngay từ những năm đầu định đô Thăng Long, nhà Lý đã tập trung xây

dựng khu vực thành - chính trị (thành thị quân vương) gồm chính giữa là Đại

Nội - nơi vua sông - với một vòng Cắm thành (Long thành) và 10 vệ điện tiền

cắm quân canh phòng nghiêm ngặt, phía ngoài là Iloàng thành (Thăng Long thành), có dào hảo, mở 04 cửa - nơi đặt các cơ quan triểu đình, thông ra khu thị -

dân cư (kinh tế, phố phưởng) ở ngoài củng và có vòng thành thứ ba - Dại La

thành (Thăng Long ngoại thành) bảo vệ, đồng thời là đê ngăn lụL, là đường giao

thông mở nhiều cửa ra vào ở các mạn đồng tây, nam

Quy hoạch “tam trùng thành quách” (ba vỏng thành bao bọc lẫn nhau) và kết cầu “trong thành ngoài thị” là quy hoạch kiến thiết - xã hội của đô thị IIà Nội

cô, đã ra dời từ rất sđm vả còn được bão lưu mãi về sau Về quy hoạch tự nhiên

be fae

Trang 24

thì đây là một thành phố sông - hồ mà lãnh thổ chủ yếu là một vùng đất bồi,

nương theo và thích ứng tôi đa các hình thể tự nhiên sông hỗ đó, với giới hạn là

sông Hồng ở phía đông, sông Tô Lịch và Kim Ngưu ở phía tây và phía nam

Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long chia làm bai phần: Hoàng

thành và kinh thành Các thời sau đều theo cách phân chia ấy Hoàng thành nằm trong lòng kinh thành, khu vực nhà vua ở và triều đình làm việc Trong Hoàng

thành còn ngăn ra một khu vực nữa, thường gọi là Cắm thành, có tường xây kiền

cố, có quân lính canh gác nghiêm mật Dó là nơi nhả vua và các hoàng hậu, cung

tần mỹ nữ ở Cấm thành thời Tý gọi là Tong thánh, thời Trần gọi là T.ong phụng thành Các kiến trúc tôn giáo nỗi tiếng về quy mô và kiến trúc độc đáo cũng nỗi

nhau mọc lên trên khắp đô thị: Chùa Diễn IIựu, tháp Bảo Thiên, đến Dạch Mã,

miễu Đẳng CỔ dặc biệt là Văn Miiễu (1070)

Kinh thành là khu vực nhân dân và quan ở, bao bọc lấy hoàng thành, có

quan lại, quân sĩ và nhân dân ở lrong thời đại Lý - rần cũng như các thời kỳ

sau, khu vực quan lại quân sĩ ở Irong kinh thành Thăng Long thường ở phia nam,

ngoài Hoàng thành l2o vậy, các quan lại đều qua cửa Dại Hưng ở phía Nam

Hoàng thành mà vào triều Thời Lý, các hoảng tử và thái tử con vua đến tudi

trưởng thành đều không ở trong hoảng thánh mà ra ở những cưng phổ riêng dung

tai khu vực này Các hoàng thái tử đều có đông quân đội để phục vụ riêng, cho

nên những cung, phủ, nơi ở của các hoàng tử dều rộng lớn Dinh thực của các quan lại, doanh trại của quân đội nhà nước đều tập trúng ở đây

Quy hoạch khu vực đân cư của đô thị Hà Nội cổ với vùng công - thương

nghiệp phía Đông và nông nghiệp phía Tây được hình thành từ đời Lý, được các

dời sau tiếp tục noi theo Đời Trần, với việc hoạch dịnh 61 phường cho đồ thị,

họ hà

Trang 25

hiển nhiên đã mở mang thêm và quy hoạch chặt chế hơn khu vực nảy Phố xả

cũng đần dần được lập nên ngày cảng nhiều Khu dân cư tập trung ngồi Hồng

thành tuy khơng được sắp xếp bố Irí chặt chế, nhưng do điều kiện sinh sống cũng

dan dẫn hình thành một quy hoạch hợp lý và cĩ phần độc đáo Thăng Long cũng như các thành thị phương Đơng nĩi chung, tuy cĩ phân biệt với nơng thơn,

nhưng khơng tách rời và đối lập với nơng thơn Ngay bên trong Thing T.ong

cũng cĩ một bộ phận kinh tế nơng nghiệp gắn bĩ chặt chế với những làng xĩm

nơng nghiện xung quanh

Hoại động kinh lế ở Thăng Long trong thời kỷ này bao gầm đú mọi

ngành: thương nghiệp, thủ cơng nghiệp và nơng nghiệp Những hoạt động kinh

tế ấy khơng những cĩ tác dụng quyết dinh sự phát triển của kinh thành Thăng

Long, mà cịn phần ánh một phần nào tình hình kinh tế chung của cả nước từ thế

+ỷ XI cho tới đầu thé kv KV

Chợ búa và bên cảng là trung tâm giao dịch của đơ thị Chợ lớn nhất là chợ Đơng, năm ngay trước cửa Đơng của Hồng thánh, củng với các chợ ở cáo

cửa thành khác, hinh thành nơi trao để: trực tiếp giữa phần “đơ” và phần “thị”,

cũng là nơi tập trung các hoạt động buơn bán của đơ thị Trung tâm thương

nghiệp Thăng Long lấy cửa Đơng - sơng Tơ - sơng Hồng làm giới hạn, là vùng

sim uất nhất kinh thành Ở đây tập trung nhiều phố phường - chợ bến mà trung

tâm là phường Giang Khẩu (cửa sơng Tơ), chợ Đơng, bến căng sơng Tơ (Giang Khẩu), bến cảng 'Iriểu Đơng (dễc Hoẻ Nhạ)

Các nghề thủ cơng nằm rải rác ở nhiều phố phường, nhưng tập trung nhất vẫn là khu Đơng và khu Tây của thành Thăng Long Từ thế kỷ XI-XV, ở Thăng

Long đã cĩ một số nghề chính nổi tiếng như: nghề dét gắm vĩc tơ lụa, nghề làm

be w

Trang 26

vật liệu xây dựng, nghề làm đồ sứ, nghề làm đồng, nghề làm đồ vàng bạc châu

bau, nghé in, nghề làm quạt, nghệ nau rượu

Bên cạnh các nghề thủ công dân gian là những xưởng thủ công của Nhà

nước như xướng đúc tiễn, đóng thuyền, làm vũ khí, xo kiệu của vua quan

Từ khi bắt đầu định đô cho tới đầu thế kỷ XV, trải qua 400 năm, kinh

thành Thăng Long đã không ngừng phát triển Những công trình xây dựng ở

trong Hoàng thành cũng như ở ngoài khu vực đân ở ngày cảng nhiều Những

cảnh trí thiên nhiên ở Thăng T.ong cũng ngày cảng được sửa sang bồi dip lam

tăng thêm vẻ đẹp của kinh đồ của một thời kỳ độc lập Những công trình xây

dựng và những cảnh trí thiên nhiên dược sức người tô diễm thêm, không những

đã nói lên dược một phần nảo tính chất văn vật của kinh đô ‘Thing Long ma con

phân ánh một chừng mực nhất định trình độ phát triển của xã hội Việt Nam trong

thời kỳ phát triển của chế dộ phong kiến Có thể nhận dịnh rằng, kinh thành

'thăng Long thời Lý - lrần - Hỗ đã được xây dụng với quy mô của một thành thị

rộng lớn, có nhiều mặt sinh hoạt phong phú và một nền nghệ thuật khả cao, khác

hẳn những thảnh thị và những thành luỹ quần sự có từ trước lrên quá trình xây

dựng từ thời Lý - Trần trở đi, kinh thành Thăng Long ngày cảng phát triển và thịnh vượng, làm thú dô lâu đải cho các dời sau

23 Thăng Long dưới các triểu dại Lê (1428-1527), Mạc (1527-1592), Trịnh (1593-1787) và Tây Sơn (1788-1802)

Kinh thành Thăng Long ở đầu thời Lê bao gồm đất đai phủ Phụng Thiên

và vẫn lả kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần - Hồ, rử những cung điện dền

đài ở trong Hoàng thành do bị giặc Minh phá huỷ đã được nhà Lê dần sửa chữa

và có thêm nhiều công trình mới Vào cuỗi thế kỷ XV, đời Lê Thánh Tông,

Trang 27

tường Hoàng thành do xây đã lầu ngày nhiều chỗ bị đã nên đã phải sửa đắp lại

Dại La được kiên cỗ hơn, nhưng về cầu trúc thành luỹ thì thành Dông Kinh vẫn

dựa trên cơ sở thành Thăng Long thời Lý - Trần và vỏng thành ngoài vẫn mang

tên thành Dại La Vòng thành thứ hai được chính thức gợi là Hoảng thành Năm

1474 và 1500, nhà Lê cho sửa chữa, xây dựng lại tường thành phía Tây và phía

Đông của Hoàng thành Năm 1490, vòng thành trong cing (cén gọi là Cung

thành hay Phượng thành) được mở rộng Năm I516, Hoàng thành được mổ rộng

thêm về phía Đông,

Căn cứ vào bản đỗ Tầng Đức năm 1490 thì Iloàng thành thời Lê bao gồm

cả khu vực Hoàng thành Thăng Long thời Lý - 'rần và khu vực tỉnh thành Hà

Nội vào thời Nguyễn Nhưng những bản đỗ này được vẽ theo kiểu ước lệ nên các

vị trí chưa xác dịnh chính xác trên bản dễ thời nay Cũng theo các tư liệu cũ thì

cảch thức bê trí, xây dựng trong Hoảng thành buối đầu thời Lê có thể hình dung

như sau: chính giữa Hoảng Lhảnh là điện Kính Thiên xây dựng năm 1428 14 noi

nhả vua hội họp với triều thần để bàn những công việc lớn của Nhả nước Bên

phải điện Kinh Thiên là điện Chí Kính, phía sau về bên trái là điện Vạn Thọ cũng

xây dựng năm 1428 Đằng trước diễn Kính Thiên là cửa Đoan Môn, hai bên có

cửa Đông Tràng An và Tây Trảng An ăn thông ra hai phía Đông và Tây trong

Iloang thành Phía Đông [loang thành còn có khu Đông cung là nơi bố trí các

cung điện của Hoàng Thái tử, phía trước khu Đông cung là khu nhà Thái Miéu,

nơi thờ tổ tiên của nhà vua Khu phía Tây [loang thành có nhiều hẳ và núi có bố

trí các đài các, đền miễu và vườn Thượng lâm dùng lảm nơi giải trí thưởng

ngoạn của Hoảng gia

Ngoài một số cung điện chính nêu trên, Hoàng thành còn có hàng trăm

cung điện khác, vào đời vua nào cũng có thêm những công trình xây dựng mới

họ or

Trang 28

Riêng nằm 1512, vua Lê Tương Dực cho Vũ Như Tỏ đứng ra trông nom xây

đựng 100 cung điện có gác vả khởi công làm Cửu Trùng đài, một cung điện nguy

nga tráng lệ nhưng không hoản thành được đo có các loạn tràn kéo dai bir nim

1516 đến năm 1527

Kinh thành là nơi nhân dân và quan lại ở thì từ sau cuộc chiến thắng quân

Minh ở đầu thế kỹ XV, ngày càng mở rộng và luôn luôn tu sửa thêm Năm 1749,

vua Tê chủa Trịnh đã tiến hành công cuộc sửa đắp đối với thành Đại 1a, thành

Dại La lúc ấy còn được gọi là Dại Dệ, mở tắm của thông ra ngoài, mỗi cửa đặt

hi õ tả và hữu có bình lính canh gác ngày đêm Một trong những cửa Đại La ấy

là cửa Thanh Hà vẫn còn di tích đến ngày nay Đại la đắp bằng đất không cao

lắm, bên cạnh tường nhỏ, trên mặt là đường xe ngựa đi, ở mé ngoài là hàng rào

che kín, đưới chân tường là hao sâu, trong hảo thả chồng rất kiên cố Thành có

ba vọng canh luôn có lĩnh canh gác

Sự bế trí trong kinh thành Thăng Long từ đầu thế kỷ XV đến cuối thể kỷ XVII không có gì khác với kinh thành Thăng Long thời Lý - Trần Khu phía

Nam kinh thành vẫn là khu vực các quan lại vả quân sĩ ở Năm 1497, Lê Thánh

Tông cho xây viện Đãi Lậu ở ngoài cửa Đại Hưng gồm hai dãy nhà, mỗi đấy ba

gian làm mới để các quan nghỉ đợi piờ vào triểu Tại cửa Đại Hưng cũng dựng

đỉnh Quảng Văn làm nơi yết thị nhũng pháp lệnh của triều đình Nhân dân ở khu

vực các phường dân cư ngoài Hoàng thành không ngừng phát triển Năm 1466, vùng kinh sư đặt thành phủ ‘Irung 6 gdm 2 huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương

Năm 1469, phủ Trung Đô đổi tên làm phủ Phụng Thiên Khu dân cư của hai

huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường

Quy hoạch 36 phường của Thăng Long bắt đầu từ đó

họ a

Trang 29

Phường là một đơn vị hành chính cơ sở, tương đương với xã ở nông thôn

cũng là nơi tập hợp những người cùng nghề Cư dân 36 phường bao gồm nông

dân, thợ thủ công và thương nhân, trong đó có những phố - chợ buôn bán Lập nap

và những phường thủ công nỗi tiếng Trong 22w địa chí của Nguyễn 'Hrãi có nhắc tới một số phường thủ công chuyên nghiệp như phường Tảng Kiếm (Ilàng

Trồng) làm kiệu, áo giáp, đồ đài mâm võng, gắm trửu, đủ lọng, phường Yên Thái

(Budi) chuyên làm giấy, phường Thuy Chương (Thuy Khê) và phường Nghỉ

Tam (làng Nghỉ Tàm bên 1Iồ Tây) dệt vải và lụa, phường Tà Tân (sau là Giang

'[ân, bờ sông Hồng) nung vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Iä Nhất

(An Nhất, cuối phố IIuế) làm quạt, phường Đường Nhân (Hàng Ngang) bán áo

diệp y, phường Thịnh Quang (ngoài Ô Chợ Dừa) làm long nhãn

Năm 1527, triều Mac (1527-1792) thay thể triều Lê Chính sách cai trị của

triều Mạc nói chung có nới rộng hơn so với triều Lẻ và trong thời gian đầu có tạo

ra được linh trạng xã hội Ổn định Để đề phòng những cuộc lan công của quân

'Irịnh, nha Mac lo tăng cường hệ thống thành luỹ phòng vệ quanh thành Thăng Long Nim 1588, nha Mac (Mac Ilau Ilgp) huy động quân bến trần vùng đồng

bằng dắp thêm 3 lần luỹ ngoai thanh Dai La Trén ban dé hién nay, thanh này bắt

đầu từ Nhật Tân, chạy theo phía TIŠ Tây qua Dưởi, 6 chu Gidy, theo đường

Giảng Võ, La Thành qua Ô Chợ Dừa, Kim Liên rồi theo đường Đại Cổ Việt,

'Irần Khát Chân qua Ô Câu Đễn, Õ Đống Mác ra tới để sông Hồng Như vậy,

thành Đại La được xây đắp thêm vào thài kỳ này, rộng hơn thánh Đại La thời kỳ

trước vì đã đưa toàn hộ khu vực Hồ Tây vào trong pham vi thành ‘Thing long,

Có thể coi công cuộc xây dụng của Mạc Miậu Hợp đã in định vị trí và điện mạo

của Hoàng thành Thắng Long từ cuối thể kỹ XVI đến thế kỷ XVIL

hở ~

Trang 30

Nhung tử năm 1545, quyền bính lại nằm trong tay họ Trịnh Đây là khởi

đầu của chính quyên vua Lê - chúa Trịnh kéo dài đến năm 1786 Dông Kinh

được trở lại tên gọi Thăng Long - là đỗ thành của triều Mạc rồi của chính quyền

vua Lê - chủa ITịnh Mọi công việc tu tao, kiến thiết ở đây đều nhằm phục vụ

nhu cầu chính trị - quân sự của nhà nước phong kiến

Một nét mới trong quần thể kiến trúc cung đình của Thăng Long thời Lê -

Trinh là sự xuất hiện cụm kiến trúc Phủ Chúa Trong khu Hoàng thánh của vua

Lê ở thế ky XVII - XVIII bi thu hep lại và chỉ đuy tri trên một mức độ nhât định

vẻ bề thể đã có sẵn từ trước thì lúc nảy trung tâm của kinh đô đã chỉnh thức chuyển dịch ra phía ngoài Hoàng 'Thành với sự xuất hiện của quẦn thể nhủ Chúa

Trịnh

Luc đầu, phủ chúa Trịnh có thể là tạm đóng ở các thôn Thái Kiểu (khu vực ngõ chợ Khâm Thiên hiện nay) và bãi Thảo Tân (khu vực Nhà hát Lớn), sau đó

chính thức dời về phường Phúc Lâm, phía nam kih thành Lê Hữu Irác có ghi

lại là “Qua cửa Đại Hưng rỗi rẽ thco lỗi bên phải, đi chừng nửa dặm, tới dinh

quan Chánh đường (tức dinh Hoàng Dình Bảo ở cạnh phủ Chúa Irịnh}” Theo

Giao Châu dư địa đồ thì Vương phủ được vẽ ở phía tây - nam hỗ Tả Vọng Theo

băn để Trung Đô thời Hồng Đức, thi Vương phủ dược vẽ ớ phia nam tháp Báo

Thiên Căn cứ vào đó, nhiều nhà nghiên cứu đã đoán định răng, phủ Chúa Trịnh

có thể ở quãng giữa phổ Tràng Thị, cạnh Nhà thờ Lớn, hoặc lui xuống nữa ở quãng giữa giữa phố Thợ Nhuôm (ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thuý)

hoặc ở trong tứ giác của các phố Lý Thường Kiệt - Bà Triệu - Nguyễn Du -

Quang rung ngày nay (ý kiến của nhà nghiên cửu Trần Huy Bá)

họ Es

Trang 31

Như vậy, quần thể phủ Chúa Trịnh được xây trên một diện tích rất rõng,

lớn, trong đó, khu chính là ở phía tây - nam hề Hoàn Kiểm ngày nay Sau đó có

thêm nhiều cống trình kiến trúc khác, tiến din sang phía đông và đồng - nam, sắt

bờ sông Nhĩ (trải dải trên một trục tử viện Bảo tảng Lịch sử đến Bệnh viện Hữu

nghị ngảy nay)

Mặc đủ đã để tiền của công súc xây đựng to lớn lộng lay như vậy, nhưng

các chúa Trịnh vẫn chưa yên tâm cho ngôi vị của mình Kẻ từ chúa Trịnh Cương,

các Chúa Trịnh đã cho xây dụng phủ đệ mới ở Cễ Bi (Gia Lâm), đến đời chúa

Trinh Doanh tiếp tục cho xây đựng cung miễu ở Cổ Đi và có ý muốn thiên đô

sang Gia Lâm Nhưng các chứa Trịnh chưa kịp thực hiện ý đỗ đó thì năm 1786,

khi chú tưởng nông dân Tây Sơn Nguyễn Tuệ kéo quân vào Thăng Long lần thứ

nhất tiêu diệt nhà ‘Trinh, pho vua I.ê rồi nhanh chóng rút về Phú Xuân Trịnh

Bồng về phủ Chúa Trịnh hòng khôi phục lại địa vụ của nhà chúa Vua Lê Chiêu

Thong sau khi đã cầu cứu Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi Trịnh Bỗng ra khối phủ

Chúa, liền “sai người đốt cháy Phủ Chúa tiêu thổ trụi hết” Cả một quân thể

dinh cơ nguy nga đỗ sộ được xây dựng hàng trăm nấm chỉ côn những đồng tro

tan Điều đó dã khiến cho đỗ thị Hà Nội cỗ trong các thế kỹ XVII-XVTH có nhiều nét đặc biệt

hở sọ

Trang 32

Dưới triểu lây Sơn Thăng Long không còn là kinh đồ của cả nước, nhưng

là thủ phủ của cả khu Bắc Thành (Bắc Bộ ngày nay) với vị trí đặc biệt quan trọng,

và luôn lưôn được Quang, Irung cũng như vương triều ‘Ty Son quan tâm Hơn thể nữa, bên cạnh tên gọi mới là Bắc Thành, tên Thăng Long vẫn được bảo tổn

và là một nơi đô hội, một trung tâm kinh tế, văn hoá có nhiều gắn bó với Tây

Sơn - Quang Trung

Tuy không còn là một trung tâm vẻ chính trị, Thăng Long lúc này vẫn là

một trung Lâm kinh tế lớn của đất nước, tiếp lục phát triển củng với đà phát triển nền kinh tế hàng hoả của dất nước ở các thể kỷ XVII - XVIH Cái tên “Kẻ Chợ”

phế biến trong dân gian thời kỳ này, xứng hợp với một thực chất của đô thị

Dưới các triều đại Lê (1428-1527), Mạc (1527-1592), Trịnh (1593-1787)

và Tây Sơn (1788-1802), về mặt kinh tế thành thị Thăng T.ong vẫn có những mặt

phát triển phồn vinh biểu hiện tập trung ở khu thi din eda kinh thành Trong thời

kỳ này, thương nghiệp là ngành kinh tế phát triển nhất ở Thăng Long do có nhiều

sông ngòi thuận tiên, việc liên hệ kinh tế giữa kinh thành ‘Thing, Long với các địa phương ngày càng chặt chẽ Vào thời hậu Lê, những thuyền buôn từ Thanh Nghệ

và các trấn & miền Nam ra kinh thành cũng như các thuyền buôn lừ mạn ngược

về kinh thành thường xuyên hoạt động Việc buôn bán trên sông Hồng lúc ấy rất

nhộn nhịp

Hoạt động thương nghiệp của Thăng Long phát triển mạnh mẽ nhất là qua

mạng lưới chợ, bến cảng, phế xá Các chợ thường tập trung nhiều nhất ở các cửa

ô, cửa thành và bờ sông là những nơi thuận tiện cho sự tiếp xúc, đi lại

Các nghề thủ công truyền thống của Thăng Long thời kỷ này đã có nhiều

phường chuyên nghiệp, trong đỏ bao gồm những người lắm nghề thủ công và

Trang 33

phan lớn còn kết hợp cả buôn bán Đến cạnh những phường chuyên nghiên, củn

có nhiều quan xưởng (Cục Bách tác) và công binh xưởng (kho võ khô) Việc

buôn bán ở Thăng Long cảng thịnh vượng thi din số càng tăng, phố phường

cảng đông đúc

Từ dầu thế ký XVII, ở kinh thành Thăng Long bat dau cá người phương

Tay tới buôn bán, đông nhất là người Hà Lan, người Bổ Dào Nha, người Anh rỗi người Tây Ban Nha, người Pháp Những công ty thương mại của người Hà Lan

và người Anh đã lập cửa hiệu ở Thăng Long và các thương điếm ở bờ sông

Hồng Các nhà buôn Trung Quốc, Nhật Bản cũng có nhiều người buôn Lo ở

‘Thang Long ‘Tinh hinh buôn bán với các địa phương trong nước vả nước ngoài

phát triển như vậy nên các phường phố của Thăng Long cũng ngày cảng sâm uất

2.4 Thăng Long - Hà Nội đưới thời Nguyễn (thế ký XIX)\

2.4.1 Từ kinh đô đến trấn thành

Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại chính quyền Quang Toản, lập nên chế độ quân chủ của triều Nguyễn trên phạm vi cả nước Nhả Nguyễn đóng đô ở Phú

Xuân, và Thăng Long vẫn là thủ nhủ của Bắc Thành gồm 11 trấn

Gia Long chưa đám xoá bố tên Thăng Long nhưng đổi chữ “Long” là

“Rồng” thành chữ “Long” là “Thịnh”, lẫy cớ rồng là tượng trưng cho vua, chỉ có

thể dùng cho đất kinh sư má thôi Cũng với Linh thần đó, chữ Hoàng thành không

dược dùng nữa, tiến lên một bước, năm 1803, Gia Long ra lệnh phá bỏ Hoàng

Thành cũ và xây đựng một toà thành mới kiểu Vauban quy mô nhỏ hơn cho

tương xứng với vị trí của một trấn thành

‘Tran thành Thăng Long thời Nguyễn hình vuông, chu vi hơn 1285 trương (khoảng 5 km) Tường thành cao hơn 1 trượng (khoảng 4 m), đây 4 trượng

Trang 34

(khoảng 16m), phía dưới xây bằng đá xanh, đá ong, phía trên bằng gạch hộp

Thành mở 5 cửa: bắc, đông, tây, đông nam và tây nam Các cửa nảy được xây

dựng vào năm 1805 Bên ngoài các cửa thành có Dương Mã thành là một loại

công sư bảo vệ gồm hai bức thành vuông góc nhô ra phía ngoài Mỗi Dương Mã thành có một cửa bên rộng 1 trượng (khoảng 4 m) gọi là Nhân Môn rồi mới đến

cửa chính Chung quanh thành có hào nước rộng chừng 4 trượng (16m)

Bên trong thành chính giữa có điện Kính Thiên vẫn ở vị trí cũ trên núi Nùng, chỉ mở cửa khi vua ngự giá bắc tuần

hoặc tiếp sử thần phương bắc Phía trước điện

Kính Thiên có cửa Đoan Môn cũng là di tích

của Hoảng thành cũ nhìn thẳng ra kỳ đải cao

60m xây dựng năm 1812 Hai bên đông tây là

công đường dinh thự, kho tàng và doanh trại

quân lính

Trong phần lớn thế kỷ XIX, thành Thăng Long - Hà Nội dù không cỏn giữ

vị trí là trung tâm đầu não đất nước song trong một chừng mực nào đó địa điểm này vẫn đóng một vai trò chính trị quan trọng Năm 1804, điện Kính Thiên, công

trình kiến trúc tiêu biểu và nổi tiếng thời Lê trở thành địa điểm chính đặt hành

cung của các vị vua của triều Nguyễn nghỉ ngơi mỗi khi tuần du ra khu vực phía

bắc bên cạnh một khu nhà 5 gian được xây dựng phía sau Công trình nảy chỉ

được sử dụng cho nhà vua và được coi là một trong những khu vực tôn nghiêm

nhất của toà thành Phần lớn những vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đều dùng

hành cung ở thành Hà Nội làm nơi ở, giải quyết và đưa ra nhiều quyết định quan trọng của quốc gia tại nơi này

Trang 35

Nếu như giai đoạn 1802 - 1830, khi triều Nguyễn duy trí chế độ quan ly

đại điện theo khu vực thì khi đó, trung tâm chính trị Hà Nội có mệt vị trí quyết

định đối với không chỉ đối với cáo khu vực phụ cận mà là toản bộ vùng lãnh thỏ

rộng lớn ở miễn bắc Thành Hà Nội với vai trỏ là thủ phủ của trấn Bắc Thành cũng vi thể có một ở nghĩa không kém gì so với kinh thành Iluế Năm 1831,

Minh Mệnh tẾ chức quản lý nhá nước theo phạm vi của các tỉnh, toả thành nay

chỉ còn đóng vai trỏ là trị sở của tính Hà Nội), song những ảnh hưởng về kinh tế,

văn hoá của nó không vì thế mà suy giảm

Voi vi thé dé cho nên chẳng bao lâu sau ngày xây dựng thành, hệ thông dinh thự của các quan lại cũng nhanh chóng được mọc lên nhằm đảm bảo các chức năng hành chính - chính trị Những dấu tích kiến trúc còn lại và những

thông tin khá rõ tử các tài liệu của phương Tây da dan giúp người ta có thể hình

đung một cách khá cụ thể về một hệ thông kiển trúc quan phương

2.4.2.Từ trần thành đến tỉnh thành

Năm Tân Xião (1831), vua Minh Ménh tiến hành cuộc cải cách hành chính

nhằm lăng cường quyền lực của chính quyền trung ương và củng cố sự thẳng

nhất quốc gia Cấp tông trần Bắc Thành và Gia Dinh Thanh bị bãi bỏ Trong năm

1831-1832, sâ nước chia ra làm 30 tỉnh đặt dưới sự cai quan thông nhất của triều dinh trang ương,

Vùng trấn li của Bắc Thành được mở rộng và sắp xếp lại thành tỉnh Hà

Nội lập năm 1831 Từ một phủ Hoài Dức gồm hai huyện Thọ Xương và Vĩnh

Thuận, triều Nguyễn lấy thêm huyện Từ Liêm (thuộc Sơn Tây) vào phủ Hoải

Dức, rồi lại lấy 3 phủ Ứng Hoả, Lý Nhân và Thường Tín của Sơn Nam để đặt

thành tỉnh Tà Nội Như vậy tỉnh IIà Nội thời Minh Mệnh gồm 4 phủ là Hoài

Trang 36

Đức, Thường Tin, Ung Hoa va Ly Nhân, 15 huyện là Thọ Xương, Vĩnh Thuận,

Tủ Liêm, Thượng Phúc, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Dức, Sơn Ainh, Hoài

An, Nam Xang, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng và Thanh Liêm

[19,219]

Về nguyên tắc, triều Nguyễn đặt chức tổng đốc Hà Ninh dé cai trị cá hai

tỉnh Tà Nội va Ninh Bình Nhưng riêng lĩnh Hả Nội, vì đây vốn là kinh đỗ xưa

và là trị sở của Bắc hành, lúc mới chia đất đặt quan, công việc nhiều hơn vả có tầm quan trọng hơn nơi khác, cho nên triều Nguyễn đặc cách đặt chức tuần phủ

Hà Nội Người dầu tiên giữ chức tuần phủ Hà Nội là Đặng Văn Thiêm

Như vậy, từ dịa vị là kinh đô của nước Đại Việt, dến thời Nguyễn, Thăng

Long trở thành trần lị của Bắc Thành tổng trấn, rồi từ năm 1831, chỉ còn lả tỉnh

thánh của tỉnh Hà Nội Tuy vậy, tình Hà Nội vẫn giữ vị tri hết sửc quan trọng về

mặt chính trị của triều Nguyễn, đặc biệt là về ngoại giao và vẫn là trung tâm kinh

tế, văn hoá lớn của đất nước

2.4.3 Diện mạo kinh tế - xã hội - văn hoá Thăng Long - 114 NGi

Từ một kinh đô trở thành trụ sở của trấn rồi của tỉnh, phần Thành - Chính

trị của Thăng Long - Hà Nội bị giảm sút rõ rột Thành ngoài của Thăng Tong -

TIả Nội thời Nguyễn cũng bị thu hẹp ở mặt Tây Mặc du vậy, phần thị - kinh tế

tuy có bị ảnh hưởng nhưng lại có mặt phát triển độc lập cũa nó vả nhở đó, giữ được bô mặt đô thị Thăng Long - Hà Nội

Khu vực nông nghiệp của đô thị vẫn được mở mang thêm, đồng thời với

sự phát triển của khu vực công thương, từ nơi tập trung ở phía đông, lan rộng

thêm về phía đông nam Từ kết quả phân tích dịa hạ huyện Thọ Xương thời

Nguyễn của một số nhà nghiên cứu cho thấy cu thé hon tổ chức hành chính của

Gr

Trang 37

Thăng Long - Hà Nội xưa và cơ cấu kinh Iế của đô thị này Đến pitta thé ki XIX,

phần thị trung tâm kinh tế của Hà Nội, vẫn phân chia theo don vị tổng rồi xuống,

đến phường, thôn trại Địa bạ đượo thành lập theo đơn vị phường thôn, trại và

dấu ân nông thốn còn khá đậm Về mặt chức dịch, cấp tổng có cai tống và phó tổng, cấp phường cũng như thôn, có lí trưởng, hương trưởng, hương mục, nghĩa

là tổ chức hành chỉnh vẫn như các làng xã nông thôn

Dưới thời Nguyễn, kinh tế xã hội đô thị Hà Nội trước và trong khi thực

dân Pháp xâm lược, tập trung chủ yếu ở khu đân cư “36 phố phường” Tuy

không dược quy hoạch, nhưng số đân và số

nhà ở ở khu vực nảy tăng lên, tạo thành mật độ dày đặc 'Theo các tai liệu của các thương gia phương Tây ước đoán

số dân đô thị Hà Nội ở những năm 70 của thế kỷ XIX vào khoảng từ 10-15 van

người 8ố nhà ngói, đặc biết trong các phd Hoa Kiểu (Hùng Ngạn, Hàng Buồm,

Mã Mây ) có tăng lên, chủ yêu là các kiểu nhà ống Hệ thống giao thông dựa

trên đỏng sông Tô Lịch và các trục phố dọc ngang kiểu bản cở Các phố được

ngăn cách và bảo vệ bởi hệ thống công phố thiết kế rât da dạng từ đơn giản đến kiên cố, trong đó, công phố Ilàng Ngang được xây bằng gach lả cổng phố lớn và

đẹp nhất Xen kế vào các nhà là nhiều dền chủa, trong đó có những ngôi đền the

vọng của thợ thủ công từ các làng quê phụ cận 5inh hoạt của dân thành thị

Thăng Long - Hà Nội thế ky XIX van còn mang những nét nông thôn như việc

sử dụng các giêng nước công công của các thôn, lảng

So với các thế kỷ trước, sự phát triển kinh tế của Thăng I.ong - Hà Nội

nửa đầu thế kỷ XIX không được đồng đều Phía tây, nơi khu vực quân sự hành

chính trước kia, có xu hướng nông thôn hoá chuyển về nông nghiệp hoặc kết hợp

với một số nghề thủ công cổ truyền Khu Giảng Võ và cả phần phía tây kinh

thành bị biến thành một tổng, gọi là tổng Nội gầm 11 thôn, trại nông nghiệp

Trang 38

Độ mặt thành thị hầu như dồn về khu phía đông và mứ rộng về phía đông

nam Đại Nam nhất thông chỉ đã liệt kê ra 21 phô ở phía đông thuộc địa phận

huyện Thọ Xương gồm: phố Hà Khẩu (còn có lên 14 Hang Budm), Việt Đông,

Hảng Mã ( rùng Thanh), Hàng Mắm, Báo thiên, Nam Hoa (Hàng Bè), Hàng Bồ

Xuân Yên), [lang Bac, [ling Gidy, Ma May, Đồng Lạc, Thái Cực, Đồng L1ả,

Thúc Kiến, Phục Cổ, Hàng Lam, Đằng Xuân, Thanh Hà, Hàng Gai, Hàng Đấy,

Hàng Chẻ Có một số phố mà đơn vị hành chính đời Gia Long gọi là thôn mang,

tên các mặt hàng buôn ban hay sẵn xuất cô truyền của nhân dân kinh thành như

‘Tang Kiém, Hang [,ược, Hàng Chài, Hàng Cá, Hàng Dầu, Hàng Gạo Đến năm

Minh Mang thir 2 (1821), các tên nôm này được đổi thành tên chữ như [lang

Chai dỗi thành Ngư Võng, Hàng Cá đổi thành Gia Ngư Như vậy các tên nôm

của các thôn phường mang tên các mặt hàng cỗ truyền không được đùng trong

các đơn vị hành chính nữa, nhưng nó vẫn tổn tại để gọi các đường phố của Hà

Nội

Các phố ở Hà Nội thế ký XIX, sau nhiều thế kỹ tồn tại, dã tập hợp dược

nhiều nghề thủ công công và người sản xuất có tay nghề chuyên môn cao Các

phổ phường dã chuyên môn hoả về sản xuất cũng như tiểu thụ sản phẩm Hoạt

động buên bán của Hà Nội thông quá mạng lưới chợ khá dây đặc Có thể nói,

khu buôn bản và thủ công phía đông phát triển hơn trước về quy mô và dân cư,

trở thành bô phân tiêu biểu cho bộ mặt đô thị Thăng Long - Hà Nội Qua những, phiên chợ và những hoạt động của thương nhân buôn bán đường dai, Thing

Long - Hà Nội vẫn giữ vai trò một trung tâm kinh tế lớn, có quan hệ rộng rãi với

thị trường trong nước và một phân với nước ngoài

Hả Nội vẫn tổn tại và phát triển các cụm làng chuyên ven đô tương ứng

các bán thành phẩm hoặc thành phẩm cho các cửa hiệu, trước khi đến tay người

Trang 39

tiêu dùng Đó lá cụm các làng đệt ở ven Hồ Tây như Trích Sải, Nghĩ Tâm vả các

làng La, cụm các làng làm giấy ở vùng Bưởi như Yên Hoa, Nghĩa Dô, Hồ EK.hẫu,

xỏm đúc đằng ở Ngũ Xã, Trúc Bạch Đối với cáo thị trường xa như ving Thanh

Nghệ, đồng bằng ven biển, thượng du, phố phường đô thị Hả Nội giao tiếp qua

hệ thống bến cảng - sông Hỗng, Tô Lịch Xiột số lớn các phẩm vật, đặc sản từ

các địa phương đã ngược xuôi về tích tụ vả tái phân phối tại Hà Nội

Với một truyền thống văn học nghệ thuật, nếp sống thanh lịch hảo hoa lâu

đời, Hà Nội thời Nguyễn vẫn tiếp tục toả sáng ảnh hưởng của mình như một

trung tâm văn hoá lớn nhất của cả nước Không gian văn hoá dô thị truyền thống

của Thăng I.ong - Hà Nội vẫn được duy trì qua các hoạt đông giáo dục khoa cử,

tôn giáo, tín ngưỡng củng như văn hoá nghệ thuật

2.4.4 Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp

Sau khi đã chiếm xong 6 tỉnh Nam Kỷ (tháng 6/1867), thực dân Pháp tính

dến việc dánh ra miễn Bắc, chiếm Hà Nội Tuy nhiên, phái tới cuối năm 1872,

sau khi đã chiếm xong 6 tinh Nam Ky

chúng mới quyết định đánh ra Đắc

và củng cố thuộc địa Nam Kỳ vững vàng,

Quân Pháp đáng chiếm Tà Nội lần thứ nhất ngày 10/11/1873 Cuộc chiến

đấu ngoan cường của quân đân Hả thành, đặc biệt là trân thẳng oanh liệt ở Câu

Giấy giết chết viên chỉ huy Phăng-xi Gác-ni-ê, đã buộc thực dan Phap phải điều đình và ký Hoà ước 1Ñ74 Theo Hoà ước Giáp Tuất với 22 điều khoản (ngây

15/3/1874) triểu dinh Hué công nhận sự thông trị của Pháp trên miễn Lục tỉnh,

quyền đi lại, buôn bán, truyền đạo trên đất nước ta và đặc biệt cho phép người

Pháp được quyền cư trủ và đặt lãnh sự quán ở Hà Nội, Hải Phòng vả Quy Nhơn Trong Thương ước ngày 31/8/1874 có nhắc lại nội đụng Hiệp ước trên và nói rõ

a

Trang 40

thêm là triểu đình Huế phải nhượng cho chính phủ Pháp một khu đất rộng 5 mẫu

(khoảng 2,Sha) để xây đựng nhà cửa cho viên lãnh sự và những người tuỳ tùng,

Từ tháng 1/1875 mới xác định vùng đất nhượng là khu Đồn Thuỷ Đến tháng

5/1875, một thoả ước giữa Tổng đốc Hà Nội lrần Dinh Lúc với phía Pháp mở rộng khu vực Đồn Thuỷ lên I8 ha chạy đọc theo séng Iléng từ Viên Bảo tảng

Lich sit Viét Nam dến Bệnh viên Hữu nghị hiện nay

Tiểu kết ng 1:

Vào thế kỷ XI, Hà Nội đã hinh thánh những cơ sở của một dé thi voi một

khu thương nghiệp ở phía Dông (phường Giang Khẩu - cửa sông Tô Lịch thông

với sông Hồng), lương dương với vùng Hàng Buồm, Chợ Gạo ngày nay, mot khu thủ công nghiệp chuyên lâm giấy và dệt vải ở phía Bắc - vùng kẻ Bưởi, sau

này là bến phường 1iễ Khẩu, Trích Sài, Yên Thái, Nghĩa Đô, thuộc mạn ven TIề

‘Vay bay giờ Hai khu vực này nối với nhau bằng dường sông Tô Lịch, với những,

lang lam ruộng và đánh cá rải rác ven bờ làm thành một khư vục thứ ba: khu

nông nghiệp Nhà Lý xây dựng một Loả kinh thành ỡ giữa vùng ấy, hình thánh

nên một khu vực thứ tư: khu hành chính - chính trị, cho tron vẹn là "một chỗn

muôn vật rất thịnh và phỗn vinh” như Chiếu đời đô đã ghi nhận Từ những cơ sở

ban dẫu Ấy, sau khi đãi La Thành dược hoàn thiện thì trong lòng nó đã có một đỗ

thi dat quy mô gần tương đương với khu nội thành Hà Nội sau này, với những

phổ phường, thôn trại, chợ búa, bến 6, thanh quách và sả ruộng đẳng, ao hồ, chủa tháp, đền đài

Có thể nhận dịnh rằng, ở Hà Nội, quá trình dô thị hoá là cả một quả trình

chin thé kỷ phát triển, những yếu tố đô thị song song với sự tiếp nhận những tác

động của các làng xã nông thôn xa gần vào thành phó, đỏ là một quá trình đô thị

Ngày đăng: 17/05/2025, 20:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  21:  Bản  đồ  PLAN  DE  LA  VILLE  DE  HANOI  1898 - Luận văn quá trình Đô thị hóa của hà nội thời pháp thuộc 1885 1945
nh 21: Bản đồ PLAN DE LA VILLE DE HANOI 1898 (Trang 121)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w